1. Trang chủ
  2. » Vật lý

Chất lượng cuộc sống ở người bệnh lupus ban đỏ hệ thống điều trị ngoại trú tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Bạch Mai năm 2018 và một số yếu tố liên quan.

108 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về điểm chất lượng cuộc sống của người bệnh LBĐHT Trong các nghiên cứu đã được công bố trước đây của các tác giả nước ngoài, điểm CLCS được đánh giá bằng công cụ Lupus-PRO có khoảng dao[r]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG -

NGUYỄN THỊ HIỀN

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG

Ở NGƯỜI BỆNH LUPUS BAN ĐỎ HỆ THỐNG ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI KHOA KHÁM BỆNH, BỆNH VIỆN BẠCH MAI NĂM 2018 VÀ MỘT SỐ

YẾU TỐ LIÊN QUAN

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG -

NGUYỄN THỊ HIỀN-C00680

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG

Ở NGƯỜI BỆNH LUPUS BAN ĐỎ HỆ THỐNG ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI KHOA KHÁM BỆNH, BỆNH VIỆN BẠCH MAI NĂM 2018 VÀ MỘT SỐ

YẾU TỐ LIÊN QUAN

CHUYÊN NGÀNH: Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ: 8720701

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

Người hướng dẫn khoa học:

1 GS.TS Trương Việt Dũng

2 TS Nguyễn Hữu Trường

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc



LỜI CAM ĐOAN

Kính gửi:

Phòng Đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Thăng Long

Bộ môn Y tế công cộng - Trường Đại học Thăng Long

Hội đồng chấm luận văn Thạc sỹ

Tôi xin cam đoan đã thực hiện quá trình thu thập số liệu, viết Luận văn một cách nghiêm túc Các số liệu, xử lý và phân tích số liệu là hoàn toàn trung thực, chính xác và khách quan

Hà Nội, ngày tháng 09 năm 2018

Học viên

NGUYỄN THỊ HIỀN

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị, các em và các bạn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lới cảm ơn chân thành tới: Ban giám hiệu, Phòng đào tạo đại học, Bộ môn Y tế công cộng trường Đại học Thăng Long đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành Luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn GS.TS Trương Việt Dũng và TS Nguyễn Hữu Trường cùng các thầy, cô giáo giảng dạy, hết lòng giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp

Xin cảm ơn toàn thể các bác sĩ, điều dưỡng tại khoa Khám bệnh - Bệnh viện Bạch Mai đã hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình làm việc, học tập và thu thập số liệu tại khoa để tôi có thể hoàn thành được Luận văn

Xin cảm ơn những người bệnh và gia đình đã hợp tác và cho tôi những thông tin quý giá trong quá trình nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn bố mẹ, anh chị em, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn ở bên cạnh động viên và giúp đỡ tôi học tập, làm việc và hoàn thành Luận văn

Hà Nội, ngày tháng 09 năm 2018

Học viên

NGUYỄN THỊ HIỀN

Trang 6

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Các từ viết tắt iii

Mục lục iv

Danh mục các bảng vii

Danh mục các biểu đồ ix

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 TỔNG QUAN VỀ BỆNH LUPUS BAN ĐỎ HỆ THỐNG 3

1.1.1 Dịch tễ học bệnh lupus ban đỏ hệ thống 3

1.1.2 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng 4

1.1.3 Mức độ hoạt tính của lupus ban đỏ hệ thống 10

1.1.4 Điều trị 12

1.2 CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở NGƯỜI BỆNH LBĐHT VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ CÓ LIÊN QUAN 14

1.2.1 Định nghĩa chung về chất lượng cuộc sống 14

1.2.2 Các công cụ đo lường chất lượng cuộc sống trong LBĐHT 14

1.2.3 Tình hình nghiên cứu về đặc điểm của chất lượng cuộc sống ở người bệnh LBĐHT 18

1.2.4 Tình hình nghiên cứu về các yếu tố liên quan với chất lượng cuộc sống ở người bệnh LBĐHT 21

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 25

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 25

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 25

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 26

2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 26

2.3 CÁC BIẾN SỐ VÀ CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU 26

2.4 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN 28

Trang 7

2.4.1 Công cụ nghiên cứu 28

2.4.2 Qui trình nghiên cứu 32

2.4.3 Kỹ thuật thu thập thông tin 33

2.5 PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU 33

2.6 SAI SỐ VÀ KIỂM SOÁT SAI SỐ 34

2.7 ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU 34

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 35

3.1.1 Đặc điểm về tuổi và giới 35

3.1.2 Nghề nghiệp 36

3.1.3 Trình độ học vấn 36

3.1.4 Khu vực sinh sống 37

3.1.5 Tình trạng hôn nhân 37

3.1.6 Tình trạng kinh tế 38

3.1.7 Thời gian mắc bệnh 38

3.1.8 Tuổi khởi phát bệnh 39

3.1.9 Một số tổn thương cơ quan thường gặp 39

3.1.10 Mức độ hoạt tính của bệnh đánh giá bằng chỉ số SLEDAI 40

3.2 CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở NGƯỜI BỆNH LBĐHT 40

3.2.1 Điểm qui đổi của 12 tiểu mục đánh giá 40

3.2.2 Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe 41

3.2.3 Chất lượng cuộc sống không liên quan đến sức khỏe 41

3.2.4 Chất lượng cuộc sống nói chung 41

3.2.5 Mối tương quan giữa các điểm chất lượng cuộc sống 42

3.2.6 So sánh điểm CLCS liên quan đến sức khỏe và điểm CLCS không liên quan đến sức khỏe 43

3.3 LIÊN QUAN GIỮA CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VỚI MỘT SỐ YẾU TỐ 44

3.3.1 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống và tuổi người bệnh 44

3.3.2 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống và giới tính 46

3.3.3 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống và khu vực sinh sống 46

3.3.4 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống và tình trạng kinh tế 47

3.3.5 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống và tình trạng hôn nhân 48

Trang 8

3.3.6 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống và trình độ học vấn 49

3.3.7 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống và thời gian mắc bệnh 49

3.3.8 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống và tuổi khởi phát bệnh 51

3.3.9 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống và các tổn thương cơ quan 53

3.3.10 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống và mức độ hoạt tính của bệnh 53

3.3.11 Một số yếu tố nguy cơ làm giảm CLCS ở người bệnh LBĐHT54 Chương 4: BÀN LUẬN 56

4.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 56

4.1.1 Phân bố tuổi và giới 56

4.1.2 Về tuổi khởi phát bệnh và thời gian mắc bệnh 57

4.1.3 Về khu vực sinh sống, nghề nghiệp và trình độ học vấn 58

4.1.4 Về tình trạng hôn nhân 59

4.1.5 Về một số tổn thương cơ quan thường gặp ở người bệnh LBĐHT 60

4.2 VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH LBĐHT 61

4.2.1 Về điểm qui đổi 12 tiểu mục của công cụ Lupus-PRO 61

4.2.2 Về điểm chất lượng cuộc sống của người bệnh LBĐHT 65

4.3 LIÊN QUAN GIỮA CLCS CỦA NGƯỜI BỆNH LBĐHT VỚI MỘT SỐ YẾU TỐ 69

4.3.1 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống với tuổi của người bệnh 71

4.3.2 Liên quan giữa CLCS với thời gian mắc bệnh LBĐHT 73

4.3.3 Liên quan giữa CLCS với tuổi khởi phát bệnh 74

4.3.4 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống với mức độ hoạt tính của LBĐHT 75

4.3.5 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống với các biểu hiện lâm sàng của bệnh 78

4.3.6 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống với tình trạng thu nhập của người bệnh 79

4.3.7 Liên quan giữa chất lượng cuộc sống với trình độ học vấn của người bệnh 79

KẾT LUẬN 81

KHUYẾN NGHỊ 83 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Một số công cụ đánh chất lượng cuộc sống ở người bệnh LBĐHT 16

Bảng 2.1 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 26

Bảng 2.2 Bảng điểm SLEDAI đánh giá mức độ hoạt tính của LBĐHT 30

Bảng 2.3 Các mục đánh giá trong bộ câu hỏi LUPUS-PRO 31

Bảng 3.1 Đặc điểm về tuổi và giới của các đối tượng nghiên cứu 35

Bảng 3.2 Thời gian mắc bệnh của các đối tượng nghiên cứu 38

Bảng 3.3 Tuổi khởi phát bệnh của các đối tượng nghiên cứu 39

Bảng 3.4 Một số tổn thương cơ quan thường gặp 39

Bảng 3.5 Mức độ hoạt tính bệnh đánh giá bằng chỉ số SLEDAI 40

Bảng 3.6 Điểm qui đổi của các tiểu mục đánh giá 40

Bảng 3.7 Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe 41

Bảng 3.8 Chất lượng cuộc sống không liên quan đến sức khỏe 41

Bảng 3.9 Chất lượng cuộc sống nói chung 41

Bảng 3.10 So sánh điểm CLCS liên quan và không liên quan đến sức khỏe 43

Bảng 3.11 Liên quan giữa các điểm tiểu mục Lupus-PRO và tuổi người bệnh 44 Bảng 3.12 Liên quan giữa điểm CLCS và tuổi người bệnh 45

Bảng 3.13 Liên quan giữa CLCS và giới tính 46

Bảng 3.14 Liên quan giữa các điểm tiểu mục Lupus-PRO và khu vực sống 46

Bảng 3.15 Liên quan giữa CLCS và khu vực sinh sống 47

Bảng 3.16 Liên quan giữa các điểm tiểu mục Lupus-PRO và tình trạng kinh tế 47

Bảng 3.17 Liên quan giữa CLCS và tình trạng kinh tế 48

Bảng 3.18 Liên quan giữa CLCS và tình trạng hôn nhân 48

Bảng 3.19 Liên quan giữa CLCS và trình độ học vấn 49

Bảng 3.20 Liên quan giữa các điểm tiểu mục Lupus-PRO và thời gian mắc bệnh 49

Bảng 3.21 Liên quan giữa CLCS và thời gian mắc bệnh 50

Bảng 3.22 Liên quan giữa các điểm tiểu mục Lupus-PRO và tuổi khởi phát bệnh 51

Bảng 3.23 Liên quan giữa CLCS và tuổi khởi phát bệnh 52

Bảng 3.24 Liên quan giữa CLCS và các tổn thương cơ quan 53

Bảng 3.25 Liên quan giữa CLCS và mức độ hoạt tính của bệnh 53

Trang 10

Bảng 3.26 Một số yếu tố liên quan đến nguy cơ giảm CLCS ở người bệnh LBĐHT 54 Bảng 4.1 Một số kết quả nghiên cứu về các biểu hiện lâm sàng của LBĐHT 60 Bảng 4.2 Một số kết quả nghiên cứu về điểm các tiểu mục của công cụ

Lupus-PRO 63 Bảng 4.3 Một số kết quả nghiên cứu về điểm CLCS bằng công cụ Lupus-PRO 66 Bảng 4.4 Một số kết quả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến CLCS

trong LBĐHT 70

Trang 11

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Đặc điểm nghề nghiệp của các đối tượng nghiên cứu 36

Biểu đồ 3.2 Trình độ học vấn của các đối tượng nghiên cứu 36

Biểu đồ 3.3 Khu vực sinh sống của các đối tượng nghiên cứu 37

Biểu đồ 3.4 Tình trạng hôn nhân của các đối tượng nghiên cứu 37

Biểu đồ 3.5 Tình trạng kinh tế của các đối tượng nghiên cứu 38

Biểu đồ 3.6 Tương quan giữa điểm CLCS liên quan và không liên quan sức khỏe 42

Biểu đồ 3.7 Tương quan giữa điểm CLCS liên quan sức khỏe và Lupus-PRO 42 Biểu đồ 3.8 Tương quan giữa điểm CLCS không liên quan sức khỏe và Lupus-PRO 43

Biểu đồ 3.9 Tương quan giữa điểm CLCS và tuổi của người bệnh 45

Biểu đồ 3.10 Tương quan giữa điểm CLCS và thời gian mắc bệnh 50

Biểu đồ 3.11 Tương quan giữa điểm CLCS và tuổi khởi phát bệnh 52

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Lupus ban đỏ hệ thống là một trong những bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất trong nhóm các bệnh tạo keo, thường gặp nhất ở nữ giới trong độ tuổi sinh đẻ Bệnh có thể gây ảnh hưởng đến hầu hết các hệ cơ quan trong cơ thể, không có khả năng điều trị khỏi, có thể gây tàn phế, tử vong và làm giảm sút nghiêm trọng chất lượng cuộc sống của người bệnh [8]

Trong một vài thập kỷ qua, việc điều trị Lupus ban đỏ hệ thống đã đạt được những tiến bộ đáng kể, góp phần kéo dài thời gian sống cho người bệnh

và làm giảm tỷ lệ tử vong do bệnh, từ mức 50% sau 5 năm vào năm 1955 xuống 15% sau 10 năm và 25% sau 20 năm theo những nghiên cứu gần đây [9] Tuy nhiên, bất chấp những thành tựu đã đạt được trong điều trị cũng như những hiểu biết về cơ chế sinh bệnh học của Lupus ban đỏ hệ thống, chất lượng cuộc sống của người bệnh Lupus ban đỏ hệ thống vẫn không được cải thiện rõ rệt, không chỉ thấp hơn so với mức chung trong cộng đồng mà còn thấp hơn so với nhiều bệnh mạn tính khác [40] Tầm quan trọng của việc đo lường chất lượng cuộc sống trong Lupus ban đỏ hệ thống đang ngày càng được nhận thấy rõ bởi cả các thày thuốc, người bệnh và các nhà nghiên cứu Hiện nay, việc đánh giá hiệu quả và lợi ích của các phương pháp điều trị Lupus ban đỏ hệ thống không chỉ căn cứ vào khả năng kiểm soát bệnh mà còn dựa vào cả sự cải thiện chất lượng cuộc sống sau điều trị [19] Việc đánh giá,

đo lường mức độ hoạt tính và tổn thương của Lupus ban đỏ hệ thống là nền tảng trong các phác đồ điều trị bệnh nhưng lại thường không phản ánh được chất lượng cuộc sống của người bệnh Nhiều triệu chứng làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh Lupus ban đỏ hệ thống nhưng không phản ánh sự hoạt tính mạnh của bệnh, như các biểu hiện ở

cơ xương khớp, ngoài da…[36] Một số nghiên cứu theo dõi dọc còn cho thấy, chất lượng cuộc sống là một yếu tố tiên lượng khá tốt nguy cơ tử vong

do bệnh ở người bệnh Lupus ban đỏ hệ thống [31] Như vậy, chất lượng cuộc

Trang 13

sống là một thông số độc lập với các chỉ số đánh giá khác trong Lupus ban đỏ

hệ thống [19]

Sự hiểu biết đầy đủ về tầm quan trọng và những tiến bộ trong việc đo lường chất lượng cuộc sống của người bệnh Lupus ban đỏ hệ thống sẽ giúp ích rất nhiều cho cả người bệnh và các thày thuốc trong việc đưa ra các quyết định điều trị Trên thế giới, số lượng các nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng tìm hiểu về chất lượng cuộc sống của người bệnh Lupus ban đỏ hệ thống đã tăng đáng kể trong những năm gần đây, với rất nhiều công cụ đánh giá đã được đề xuất Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện có rất ít các nghiên cứu đánh giá về vấn đề này, đặc biệt là các nghiên cứu sử dụng những bộ câu hỏi đánh giá chất lượng cuộc sống chuyên biệt cho bệnh Lupus ban đỏ hệ thống Do đó, đề

tài: “Chất lượng cuộc sống ở người bệnh lupus ban đỏ hệ thống điều trị

ngoại trú tại khoa Khám bệnh, Bệnh viện Bạch Mai năm 2018 và một số yếu tố liên quan” đã được tiến hành với hai mục tiêu sau:

1 Mô tả chất lượng cuộc sống của người bệnh lupus ban đỏ hệ thống được điều trị ngoại trú tại khoa Khám bệnh Bệnh viện Bạch Mai, năm

2018

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của các đối tượng nghiên cứu

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 TỔNG QUAN VỀ BỆNH LUPUS BAN ĐỎ HỆ THỐNG

1.1.1 Dịch tễ học bệnh lupus ban đỏ hệ thống

Lupus ban đỏ hệ thống (LBĐHT) là một trong những bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất trong nhóm các bệnh tự miễn dịch hệ thống Độ lưu hành của bệnh ước tính trong khoảng 20 - 150 ca/100.000 dân, riêng ở nữ giới là khoảng

164 - 406 ca/100.000 dân Bệnh LBĐHT phần lớn xuất hiện ở tuổi trưởng thành và chỉ khoảng 20% số người bệnh được chẩn đoán trước 15 tuổi Trong

độ tuổi sinh sản, tỷ lệ người bệnh LBĐHT nữ/nam là khoảng 9 -12/1 Tỷ lệ mắc bệnh tương đối thấp ở trẻ em và người già nói lên vai trò của các hormon sinh dục trong cơ chế bệnh sinh của bệnh [24]

Lupus ban đỏ hệ thống có thể xuất hiện ở mọi nơi trên thế giới, tuy nhiên, tỷ lệ mắc bệnh dao động khá lớn giữa các quốc gia, chủng tộc và giới tính, tỷ lệ mắc bệnh tại mỗi khu vực cũng có thể thay đổi theo thời gian Độ lưu hành của bệnh được báo cáo trong 25 năm gần đây ở Bắc Mỹ là khoảng 2-

7 ca/100.000 dân, trong khi ở Nam Phi, vùng Caribê, bán đảo Tây-Bồ và Châu Á, tỷ lệ này cao hơn xấp xỉ 3 lần Riêng ở Mỹ, tỷ lệ mắc bệnh trong khoảng từ 50-80 ca/100.000 dân, tức là có khoảng 160.000 người bệnh LBĐHT tại Mỹ Biểu hiện lâm sàng của bệnh cũng biến đổi theo chủng tộc, thường nặng hơn ở người châu Á và người châu Phi [9],[24]

Số lượng người bệnh LBĐHT mắc mới hàng năm khó xác định do tính chất phức tạp và khó khăn trong chẩn đoán bệnh Theo một số nghiên cứu dịch tễ học ở Mỹ và bán đảo Scandinavie trong giai đoạn 1975-1995, mỗi năm có khoảng 1 - 10 ca mắc mới LBĐHT trong 100.000 dân, con số này tăng lên hàng năm từ 15,1 đến 51 ca/100.000 dân Điều này có thể giải thích

là do bệnh được phát hiện sớm và điều trị tốt nên bệnh diễn biến kéo dài và được theo dõi trong nhiều năm, làm tăng tỷ lệ lưu hành chung của bệnh [24]

Trang 15

Bệnh LBĐHT có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng nhiều nhất là trong nhóm tuổi 10 - 40 Tất cả các nghiên cứu đều cho thấy nữ giới mắc bệnh nhiều hơn nam giới, tỷ lệ nữ/nam trung bình là 8-9 / 1-2 Những nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ người bệnh nam đang tăng dần cùng với sự tăng cao của tuổi mắc bệnh [8][24] Các nghiên cứu về dịch tễ học ở Mỹ cũng chỉ ra rằng tỷ lệ mắc bệnh LBĐHT ở phụ nữ châu Á và người da đen cao hơn so với các chủng tộc khác, khoảng 24,1 /100.000 ở người Trung Quốc, 19,9 / 100.000 ở người Phillipins, 20,4 /100.000 ở người Hawaii và 18,2 / 100.000 ở người Capca Cũng như vậy, tỷ lệ nữ từ 15 - 44 tuổi mắc bệnh cũng khác nhau tuỳ theo màu da: 90,9/100.000 dân da đen so với 27,6/100.000 dân da trắng ở New York; 408,16/100.000 dân da đen so với 142,85/100.000 dân da trắng ở San Phrancisco [24]

Ở Việt Nam, hiện chưa có các số liệu thống kê chính thức về tình hình dịch tễ học của các bệnh tự miễn dịch nói chung và LBĐHT nói riêng Tuy nhiên, theo số liệu thống kê của Phòng Kế hoạch tổng hợp, Bệnh viện Bạch Mai, số lượt người bệnh LBĐHT vào điều trị tại các khoa lâm sàng của bệnh viện đang liên tục tăng lên trong những năm gần đây, từ 992 lượt điều trị năm

2008 lên 1014 lượt năm 2009, 1125 lượt năm 2010, 1329 lượt năm 2011 và

1429 lượt năm 2012 Cùng với sự gia tăng số người bệnh điều trị nội trú, số lượng người bệnh được quản lý ngoại trú tại Phòng Quản lý bệnh Lupus ban

đỏ hệ thống của Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Bạch Mai cũng không ngừng tăng lên và hiện đã có hơn 400 người bệnh được quản lý điều trị tại đây

1.1.2 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

1.1.2.1 Đặc điểm lâm sàng

Người bệnh LBĐHT có biểu hiện lâm sàng và các tổn thương nội tạng rất đa dạng Đa số người bệnh có những đợt tiến triển cấp tính xen kẽ với những giai đoạn tương đối ổn định

a Biểu hiện toàn thân

− Sốt: là triệu chứng thường gặp nhất (50-80%), sốt thường kéo dài và không liên quan với nhiễm vi khuẩn hoặc virus Sốt hay có trước các đợt tiến

Trang 16

triển nội tạng của bệnh, thường sốt nhẹ 37o5C - 38oC nhưng cũng có trường hợp sốt cao tới 39 - 40oC

− Các biểu hiện khác: thường gặp là mệt mỏi, chán ăn, mất ngủ, gày sút cân, rối loạn kinh nguyệt [2]

b Biểu hiện ở da và niêm mạc

Khoảng 30% người bệnh LBĐHT có các biểu hiện ở da và niêm mạc

− Ban đỏ hình cánh bướm ở mặt: Các ban này không đau, không ngứa,

hơi gờ lên so với mặt da, giai đoạn đầu thường phù nề và bề mặt mịn, giai đoạn sau có bong vảy nhỏ Vị trí ban thường khu trú ở hai cánh mũi, gò má, trán, tai và dưới cằm, bắc cầu qua sống mũi

− Ban dạng đĩa : ban hình vòng tròn với viền hơi nhô lên, màu đỏ thẫm

có vảy xạm, ở giữa bị teo lõm da Ban thường có ở mặt, tai, da đầu, thân

− Da nhạy cảm ánh sáng: các vùng da tiếp xúc với ánh nắng bị đỏ bừng,

nóng rát, nổi ban đỏ Các ban này vẫn tồn tại sau khi ngừng tiếp xúc với ánh nắng

− Loét niêm mạc miệng, họng : các vết loét hoại tử vô khuẩn ở vùng mũi,

vòm miệng họng Lúc mới nổi thường không đau, khi có bội nhiễm sẽ gây đau rát nhiều

− Rụng tóc: thường rụng lan tỏa kiểu rừng thưa, giảm khi bệnh ổn định

Tóc có thể mọc lại trên các tổn thương da đầu của người LBĐHT

− Hội chứng Raynaud: co thắt các mạch máu nhỏ ở đầu ngón tay, ngón

chân, gây biểu hiện trắng nhợt (do co thắt các tiểu động mạch) hoặc xanh tím (do co thắt các tiểu tĩnh mạch) ở đầu ngón tay, ngón chân Nếu tình trạng co mạch kéo dài có thể gây hoại tử đầu ngón [3],[4]

c Biểu hiện ở cơ, xương, khớp

− Đau khớp đơn thuần: đau mỏi các khớp nhỏ và nhỡ, đối xứng hai bên

thường là dấu hiệu khởi phát đợt cấp của bệnh

− Viêm khớp: viêm một hay nhiều khớp, vị trí cũng thường ở các khớp

nhỡ và nhỏ Người bệnh thường không có cứng khớp buổi sáng, không sưng nóng đỏ rõ rệt, không biến dạng và hủy hoại xương khớp, không có hình ảnh bào mòn khớp trên X-quang

Trang 17

− Hoại tử xương vô khuẩn: thường gặp ở đầu trên xương đùi, lồi cầu trên

xương đùi, thân xương chày hoặc đầu xương cánh tay Nguyên nhân có thể do bệnh hoặc do dùng corticoid kéo dài

− Viêm cơ, loạn dưỡng cơ: Viêm cơ có thể dẫn đến đau cơ và hạn chế

vận động cơ Xét nghiệm thường có tăng men creatine kinase trong huyết thanh, sinh thiết cơ có thể thấy xâm nhập bạch cầu

− Các tổn thương khác: Viêm gân-bao hoạt dịch (hay gặp ở dải cơ gấp

gây hội chứng đường hầm cổ tay), đứt gân (gân cơ tứ đầu, gân Achille) [8]

d Tổn thương thận - tiết niệu

− Tổn thương thận là một trong những nguyên nhân thường gặp, gây tử vong ở người bệnh LBĐHT Tổn thương thận thường xuất hiện sớm hơn so với các tổn thương nội tạng khác, biểu hiện chủ yếu là viêm cầu thận và thường không có sự tương quan giữa tổn thương giải phẫu bệnh với bệnh cảnh lâm sàng

− Phân loại viêm thận lupus theo Hội thận học quốc tế 2004:

+ Typ1: Viêm cầu thận gian mạch tối thiểu

+ Typ 2: Viêm thận gian mạch tăng sinh

+ Typ 3: Viêm cầu thận ổ <50% cầu thận

+ Typ 4: Viêm cầu thận lan tỏa >50% cầu thận

+ Typ 5: Viêm cầu thận màng

+ Typ 6: Viêm cầu thận lupus xơ hóa lan tỏa

− Người bệnh LBĐHT bị viêm cầu thận tăng sinh type III và IV thường hay có hồng cậu niệu vi thể, protein niệu (>500mg/24h) và tăng huyết áp

− Trên lâm sàng, tổn thương thận của LBĐHT thường gặp các hội chứng sau:

+ Hội chứng thận hư: với biểu hiện phù to toàn thân, protein niệu

>3,5g/24h, protein máu < 60g/l, trong đó, albumin máu <30g/l, tăng lipid máu (triglycerid, cholesterol), có hạt mỡ lưỡng chiết quang trong nước tiểu

+ Hội chứng viêm cầu thận cấp: Biểu hiện tăng huyết áp, đái máu đại

thể hoặc vi thể, thiểu niệu hoặc vô niệu, urê và creatinin máu có thể tăng nhanh trong thời gian ngắn Nếu không xử trí kịp thời, tình trạng suy thận cấp

có thể dẫn đến tử vong nhanh chóng

Trang 18

+ Suy thận mạn: Biểu hiện huyết áp tăng cao, thiếu máu, phù, urê và

creatinin máu tăng cao tùy theo mức độ suy thận

− Tổn thương bàng quang: Là một tổn thương rất hiếm gặp trong LBĐHT,

với biểu hiện chủ yếu là viêm bàng quang (thành bàng quang dày lên) [9]

e Biểu hiện tim mạch

Viêm màng ngoài tim thường gặp nhất (30%), tiếp đến là viêm cơ tim (10%),

viêm nội tâm mạc hiếm gặp Chủ yếu xảy ra ở van hai lá và van động mạch chủ

− Tổn thương tim:

+ Viêm màng ngoài tim: Tràn dịch màng ngoài tim là biểu hiện hay gặp

nhất, tiên lượng xấu ở người bệnh có biểu hiện ép tim Hội chứng Pick (Viêm màng ngoài tim co thắt) rất hiếm gặp

+ Viêm cơ tim: biểu hiện suy tim, rối loạn nhịp, block dẫn truyền

+ Viêm nội tâm mạc: Có thể nghe thấy tiếng thổi ở ổ van hai lá hoặc ổ

van động mạch chủ

− Tổn thương mạch:

+ Tổn thương mạch vành: suy vành, nhồi máu cơ tim có thể gặp

+ Huyết khối tĩnh mạch: hay gặp ở vùng tĩnh mạch chi, tĩnh mạch tạng,

tĩnh mạch chủ Đặc biệt hay gặp trong các trường hợp có hội chứng kháng phospholipid

f Biểu hiện hô hấp

− Viêm màng phổi, tràn dịch màng phổi: tổn thương một hoặc hai bên,

rất thường gặp trong LBĐHT Biểu hiện lâm sàng thường gặp là đau ngực, đau tăng khi ho, thở sâu và thay đổi tư thế , khó thở khi nằm

− Tổn thương nhu mô: có thể gặp chảy máu phế nang, viêm phổi kẽ lan tỏa

− Tăng áp động mạch phổi [9]

g Biểu hiện tâm thần kinh

− Tổn thương thần kinh: Biểu hiện đa dạng, thường gặp là cơn co giật

toàn thể, đau đầu, rối loạn ý thức Đôi khi có tổn thương thần kinh sọ não, thần kinh ngoại biên, liệt do viêm tủy cắt ngang

− Tổn thương tâm thần: Hay gặp nhất là hoang tưởng, ảo giác

Trang 19

h Biểu hiện tiêu hóa

− Các triệu chứng hay gặp là chán ăn, nôn, buồn nôn, tiêu chảy, đau bụng

− Ngoài ra, có thể gặp hội chứng giả tắc ruột, viêm mạch ruột, viêm tụy cấp Tăng men gan có thể gặp kể cả khi không có tổn thương gan rõ rệt và trở lại bình thường sau điều trị [4],[9]

i Biểu hiện huyết học

− Thiếu máu mạn tính: Thiếu máu huyết tán có test Coombs (+) hoặc

thiếu máu do viêm

− Giảm bạch cầu: có thể giảm bạch cầu hạt hoặc tế bào lympho, làm

tăng khả năng nhiễm trùng, thường đáp ứng tốt với điều trị và hay gặp trong đợt tiến triển bệnh

− Giảm tiểu cầu: có thể do nguyên nhân miễn dịch hoặc kết hợp với hội

chứng kháng phospholipid

− Rối loạn đông máu: thường gặp trong hội chứng kháng phospholipid

với các biểu hiện như: huyết khối động mạch, huyết khối tĩnh mạch, sẩy thai liên tiếp, viêm van tim

− Hạch to: thường gặp trong đợt tiến triển của bệnh Lách to ít gặp [9]

− Công thức máu: có thể gặp một số bất thường sau:

+ Thiếu máu: là biểu hiện rất thường gặp ở người bệnh LBĐHT, do nguyên nhân ngoài tủy, không có giảm sinh tủy

+ Giảm bạch cầu

+ Giảm tiểu cầu

− Tốc độ máu lắng: thường tăng cao

− Điện di protein huyết thanh: tăng gamma globin, tỷ lệ A/G đảo ngược

Trang 20

− Men gan có thể tăng nhẹ mà không có các bệnh lý ở gan

− Amylase tăng cao khi người bệnh có viêm tuyến nước bọt, viêm tụy cấp

− Các biểu hiện rối loạn chức năng thận: urê, creatinin máu tăng, albumin máu giảm, rối loạn điện giải

− Xét nghiệm (XN) nước tiểu có protein, hồng cầu và trụ niệu [9]

− Kháng thể kháng nhân: dương tính ở 95 - 98% số người bệnh LBĐHT,

là 1 trong số các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh nhưng độ đặc hiệu không cao vì

có thể dương tính trong nhiều bệnh lý khác như viêm khớp dạng thấp, viêm

da cơ, nhiễm virus, tuổi già… Kết quả dương tính của xét nghiệm này chỉ có vai trò hỗ trợ cho chẩn đoán LBĐHT nhưng kết quả âm tính của nó cho phép loại trừ bệnh đến 95%

− Một số tự kháng thể khác: kháng thể anti-Sm rất đặc hiệu trong LBĐHT nhưng tỷ lệ gặp khá thấp, chỉ khoảng 15 - 40% Các kháng thể anti SS-A (Ro) và anti SS-B (La) gặp chủ yếu trong các trường hợp có hội chứng Sjögren Kháng thể anti- RNP chủ yếu gặp trong bệnh mô liên kết hỗn hợp Kháng thể kháng histon dương tính là biểu hiện rất đặc hiệu cho lupus do thuốc Kháng thể kháng phospholipid cũng là một trong những tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh Các xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán giang mai (RPR, VDRL) có thể cho kết quả dương tính giả do sự xuất hiện của kháng thể kháng phospholipid [7]

− Bổ thể: giảm C3, C4, CH50 thường gặp trong đợt cấp LBĐHT, đặc biệt là các trường hợp có tổn thương thận

− Tế bào Hargraves (tế bào LE) hiện ít được sử dụng vì độ nhạy không cao

Trang 21

− Sinh thiết da thấy globulin miễn dịch và bổ thể lắng đọng giữa lớp trung bì và thượng bì

− Xét nghiệm huyết học: thiếu máu bình sắc hồng cầu bình thường, tan máu (nghiệm pháp Coombs dương tính), giảm số lượng bạch cầu, bạch cầu lympho, tiểu cầu Tốc độ máu lắng tăng cao đặc biệt trong đợt cấp của bệnh

− Xét nghiệm sinh hoá máu: tăng urê, creatinin nếu có suy thận, tăng nồng độ 2, ,  globulin

− Xét nghiệm nước tiểu: có thể có protein niệu, hồng cầu niệu, trụ hạt trong trường hợp có tổn thương thận [2],[3]

1.1.3 Mức độ hoạt tính của lupus ban đỏ hệ thống

Mức độ hoạt tính của LBĐHT được định nghĩa là những bất thường về lâm sàng, cận lâm sàng (CLS) mới xuất hiện và có thể đảo ngược, phản ánh tình trạng viêm và rối loạn miễn dịch ở các cơ quan liên quan tại một thời điểm trong quá trình diễn biến bệnh Sự hoạt tính của bệnh gây phá hủy các

cơ quan, nếu kéo dài có thể dẫn đến suy giảm chức năng các cơ quan và làm tăng nguy cơ tử vong Có 3 kiểu hoạt tính của LBĐHT được xác định là đợt bùng phát khi đang trong giai đoạn ổn định, bệnh hoạt tính liên tục hoặc ổn định kéo dài [47] Việc lượng hóa và phân độ hoạt tính của LBĐHT có vai trò rất quan trọng trong thực hành điều trị và các thử nghiệm lâm sàng nhưng lại luôn là một thách thức không nhỏ đối với các thày thuốc, do phần lớn các triệu chứng báo hiệu đợt cấp của bệnh như sốt, mệt mỏi, đau khớp là không đặc hiệu, dễ bị nhầm lẫn với biểu hiện của các bệnh lý kết hợp thường gặp trong LBĐHT như tiểu đường, trầm cảm, nhiễm trùng … Một số tổn thương nội tạng như viêm cầu thận, tổn thương thần kinh trung ương có thể xảy ra đơn lẻ, không đi kèm với các dấu hiệu khác của bệnh Ngoài ra, LBĐHT cũng là một bệnh lý hết sức phức tạp với tổn thương ở nhiều hệ cơ quan khác nhau, do đó, rất khó để tìm được một yếu tố chỉ điểm đơn lẻ có thể đánh giá chính xác mức độ hoạt tính của bệnh [47] Trong thực hành lâm sàng, việc đánh giá hoạt tính chung của LBĐHT hoặc hoạt tính bệnh ở từng

Trang 22

hệ cơ quan thường được căn cứ vào các đánh giá lâm sàng, thăm dò CLS hoặc sử dụng những chỉ số tổng hợp đánh giá phối hợp nhiều yếu tố cả về lâm sàng và xét nghiệm Cho đến nay đã có >60 chỉ số đánh giá mức độ hoạt tính của LBĐHT được đề xuất như SLEDAI (Systemic Lupus Erythematosus Disease Activity Index), BILAG (British Isles Lupus Assessment Group), SLAM (Systemic Lupus Activity Measure), ECLAM (European Consensus Lupus Activity Measurement), LAI (Lupus Activity Index)… [52] Mỗi chỉ số đều có những ưu điểm nổi bật và những hạn chế riêng nên hiện chưa có công cụ nào được cho là tối ưu để đánh giá và theo dõi mức độ hoạt tính của LBĐHT

Nghiên cứu này sử dụng chỉ số SLEDAI Chỉ số SLEDAI được sử dụng

trong nghiên cứu này có phiên bản đầu tiên do Trường đại học Toronto đưa

ra vào năm 1992, đánh giá 24 đặc điểm của các hệ thống cơ quan khác nhau dựa vào sự có mặt hoặc không có mặt của các triệu chứng tại thời điểm đánh giá hoặc trong vòng 10 ngày trước đó, tổng điểm trong khoảng từ 0 đến 105 Sau phiên bản đầu tiên, đã có nhiều phiên bản cải biến của SLEDAI được đề xuất như MEX-SLEDAI, SELENA-SLEDAI và SLEDAI-2K Chỉ số SLEDAI có ưu điểm nổi bật là tương đối đơn giản, dễ khảo sát, cách thực hiện không phức tạp, khách quan trong việc tính điểm, có thể dễ dàng huấn luyện cách thực hành tính điểm cho các điều tra viên, áp dụng tiện lợi cả trong thực hành lâm sàng và các nghiên cứu, phản ánh được tổng thể tình trạng hoạt tính bệnh, bao gồm cả các dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng Một số nghiên cứu đã khẳng định SLEDAI là một công cụ có giá trị và độ nhạy cao trong việc đánh giá mức độ hoạt tính của LBĐHT, kể cả ở trẻ em Tuy nhiên, công cụ này cũng có những hạn chế như không phân biệt mức độ nặng của các triệu chứng khi cho điểm, đánh giá quá mức vai trò của tổn thương thần kinh trung ương ít gặp nhưng lại bỏ qua các triệu chứng nguy hiểm, đe dọa tính mạng của LBĐHT như xuất huyết phế nang, huyết khối, viêm cơ tim [26]

Trang 23

1.1.4 Điều trị

1.1.4.1 Nguyên tắc điều trị

− Quyết định điều trị phải dựa trên đánh giá các tổn thương, mức độ bệnh

và các bệnh lý đi kèm Điều trị cấp cứu trong các trường hợp bệnh nặng

− Quá trình điều trị bao gồm: điều trị các đợt cấp và điều trị dự phòng để ngăn ngừa tái phát Áp dụng điều trị cụ thể với từng cá thể Lưu ý đánh giá tác dụng phụ của thuốc (nhiễm khuẩn, tăng huyết áp, loãng xương…) [8]

1.1.4.2 Chăm sóc người bệnh LBĐHT

− Sống lành mạnh, năng vận động, ít sang chấn tâm lý

− Chế độ nghỉ ngơi hợp lí khi có đợt cấp của bệnh, tránh lao động nặng

− Tránh ánh nắng mặt trời vì tia tử ngoại trong ánh nắng mặt trời thường khởi phát hoặc làm nặng các đợt cấp của bệnh

− Tránh dùng bia rượu, chất kích thích

− Thăm khám định kỳ 1- 2 tháng một lần tùy theo mức độ nặng của bệnh

− Dùng thuốc đều đặn, không tự ý ngưng thuốc vì bất kỳ lý do nào [9]

1.1.4.3 Điều trị bằng thuốc

− Các thuốc chống viêm non-steroidal (aspirin, diclofenac, naproxen…): được dùng khởi đầu cho những người bệnh không có các tổn thương nội tạng nặng, đe doạ tính mạng, triệu chứng chủ yếu là đau cơ, đau khớp, sốt, viêm thanh mạc nhẹ Cần lưu ý các độc tính của NSAID như tăng men gan, nhiễm độc thận, viêm loét dạ dày tá tràng để phát hiện sớm [8]

− Các thuốc chống sốt rét (chloroquine, hydroxychloroquine…): dùng cho điều trị các triệu chứng ở da, khớp và mệt mỏi trong LBĐHT Liều 400 mg hydroxychloroquine hàng ngày có thể cải thiện triệu chứng da và niêm mạc sau vài tuần Các tác dụng phụ của thuốc bao gồm tổn thương võng mạc, viêm cơ, nổi ban đỏ Cần khám mắt định kỳ hàng tháng trong thời gian dùng thuốc [8]

− Glucocorticoid đường toàn thân: nên được dùng cho những trường hợp

có tổn thương nội tạng hoặc không đáp ứng với những điều trị trên Người bệnh nên được chỉ định glucocorticoid liều cao ngay từ đầu (prednison,

Trang 24

prednisolon hoặc methylprednisolon 1 to 2 mg/kg/24h) Trong đợt cấp của bệnh, glucocorticoid nên được dùng chia 2-3 lần/ ngày Sau khi bệnh được kiểm soát, cần giảm chậm liều thuốc và sử dụng một lần duy nhất vào buổi sáng sau bữa ăn Khi tình trạng bệnh cho phép, nên chuyển sang dùng liều cách nhật vào buổi sáng để giảm thiểu tác dụng phụ của thuốc Những tổn thương nội tạng nặng như viêm cầu thận tăng sinh lan toả, xuất huyết giảm tiểu cầu kháng điều trị thông thường, viêm cơ tim…có thể được kiểm soát với liều rất cao của glucocorticoid như 250 - 1000 mg methylprednisolon/ ngày truyền tĩnh mạch trong 3 – 5 ngày Các tác dụng phụ thường gặp khi sử dụng glucocorticoid kéo dài là biểu hiện giả cushing, tăng cân, tăng huyết áp, bầm tím, trứng cá, loãng xương, hoại tử vô khuẩn đầu xương, đục thuỷ tinh thể, tăng nhãn áp, tiểu đường, teo cơ, hạ kali máu, rối loạn tâm thần, suy giảm sức

đề kháng, rối loạn kinh nguyệt Để giảm nguy cơ loãng xương, nên bổ xung calci (1000 mg hàng ngày) kết hợp với vitamin D 50,000 đơn vị 2-3 lần/ tuần Cần bổ xung estrogen ở những người bệnh tiền mãn kinh [9]

− Các thuốc gây độc tế bào (azathioprine, chlorambucil, cyclophosphamide, cyclosporin A, methotrexate, mycophenolate mofetil): có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát và dự phòng các đợt cấp, điều trị các tổn thương nội tạng nặng không đáp ứng với glucocorticoid và giảm bớt nhu cầu sử dụng glucocorticoid Các tác dụng phụ thường gặp của nhóm thuốc này bao gồm:

ức chế tuỷ xương, tăng nguy cơ nhiễm trùng cơ hội, suy chức năng buồng trứng không hồi phục, nhiễm độc gan (với azathioprine, methotrexate, and mycophenolate), viêm bàng quang, rụng tóc, nguy cơ gây ung thư (với cyclophosphamide), ỉa chảy, rối loạn tiêu hoá với mycophenolate, suy thận, tăng huyết áp với cyclosporin A [9]

1.1.4.4 Điều trị một số biến chứng nội tạng

a Suy tim, tăng hưyết áp

− Dùng thuốc hạ huyết áp

− Lợi tiểu

− Điều chỉnh nhịp tim

Trang 25

b Tràn dịch màng ngoài tim

− Nếu tràn dịch số lượng vừa và ít điều trị corticoid

− Nếu tràn dịch nhiều có dấu hiệu ép tim cấp phải chọc tháo màng tim, phối hợp với corticoid liều cao

c Hội chứng thận hư, suy thận

− Duy trì chế độ ăn nhạt 2-3g muối / ngày, hạn chế đạm 0,6- 0,7g / kg cân nặng cơ thể

− Corticoid liều cao đường tĩnh mạch (Pulse therapy) hoặc cyclophosphamide đường tĩnh mạch 1 lần/tháng trong 6 tháng đầu 1lần/3 tháng trong 6 tháng tiếp theo Chống chỉ định cho những trường hợp suy thận nặng độ 3, độ 4

− Dùng thuốc hạ huyết áp khi có tăng huyết áp

− Dùng thuốc lợi tiểu duy trì thể tích nước tiểu 24 giờ khoảng 1500ml (chú ý bù đủ kali), truyền albumin khi cần

− Dùng thuốc kích thích sản sinh hồng cầu erythropoietin (epokin, eprex)

− Chạy thận nhân tạo khi có chỉ định [9]

1.2 CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở NGƯỜI BỆNH LBĐHT VÀ MỘT

SỐ YẾU TỐ CÓ LIÊN QUAN

1.2.1 Định nghĩa chung về chất lượng cuộc sống

− Theo Tổ chức y tế thế giới: “Chất lượng cuộc sống là sự nhận thức cá nhân về vị trí của họ trong cuộc sống phù hợp với văn hóa và giá trị mang tính chất hệ thống ở nơi mà họ sinh sống và phù hợp với mối quan hệ, với mục đích, sự kì vọng, trình độ và mối quan tâm của họ” [26]

− Chất lượng cuộc sống (CLCS) liên quan tới sức khỏe: Bao gồm tất cả những lĩnh vực của cuộc sống bị ảnh hưởng trực tiếp bởi những thay đổi của

sức khỏe [19],[26]

1.2.2 Các công cụ đo lường chất lượng cuộc sống trong LBĐHT

Tương tự với nhiều bệnh mạn tính khác, việc đánh giá CLCS trong LBĐHT cũng được thực hiện thông qua 2 loại bộ câu hỏi là các bộ câu hỏi

Trang 26

chung và bộ câu hỏi đặc hiệu với bệnh Các bộ câu hỏi khảo sát CLCS đặc hiệu với LBĐHT mới chỉ được phát triển trong một vài thập kỷ gần đây nên còn chưa được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu lâm sàng [63]

Để lựa chọn một công cụ đo lường CLCS liên quan đến sức khỏe cho người bệnh LBĐHT, một số vấn đề cần được cân nhắc Trước tiên, công cụ

đó có đánh giá được những lĩnh vực CLCS quan trọng đối với người bệnh LBĐHT không? Thứ hai, công cụ đó có được người bệnh LBĐHT chấp nhận không? Số lượng và thuộc tính của các câu hỏi ảnh hưởng đến khả năng được chấp nhận của công cụ đối với người bệnh Thứ ba, tính chất đo lường tâm lý của công cụ có phù hợp đối với người bệnh LBĐHT hay không? Những tính chất này bao gồm tính hằng định nội tại, mức độ tin cậy test - trước test, tính hợp lệ về cấu trúc và sự nhạy cảm với các thay đổi Thứ tư, công cụ đó có thực sự đánh giá được các lĩnh vực CLCS mà nó muốn đo lường? Thứ năm, công cụ đó có sẵn với nhiều ngôn ngữ không và đã được chuẩn hóa với các

ngôn ngữ này chưa? [26]

1.2.2.1 Các công cụ chung

Hiện nay, bộ câu hỏi chung đánh giá CLCS được sử dụng thường xuyên nhất là SF-36 Bộ câu hỏi này được xây dựng bởi Ware và cs (1992), có 36 mục tự đánh giá và có thể sử dụng được với nhiều bệnh lý, nhiều cộng đồng

và tình huống khác nhau SF-36 đánh giá 8 nhóm vấn đề: chức năng thể chất, chức năng xã hội, sự hạn chế vai trò do các vấn đề thể chất, sự hạn chế vai trò

do các vấn đề cảm xúc, sức khỏe tinh thần, nghị lực sống, sự đau đớn và cảm nhận chung về tình hình sức khỏe, trong đó, điểm được chia thành 2 nhóm chính: điểm tóm tắt của thành phần thể chất và điểm tóm tắt của thành phần tinh thần SF-36 được chứng minh là một công cụ phù hợp với LBĐHT và đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu đánh giá CLCS của người bệnh LBĐHT Với công cụ này, một số nghiên cứu đã khẳng định rằng người bệnh

có CLCS thấp hơn rõ rệt so với một số bệnh mạn tính khác [19]

Trang 27

Bảng 1.1 Một số công cụ đánh chất lượng cuộc sống ở người bệnh LBĐHT [5],[26]

Bộ câu hỏi

Phạm vi đánh giá Số câu

hỏi đánh giá

Thực hiện

Tác động về thể chất/chức năng

Tác động về xã hội/ tinh thần

Một số công cụ khác đánh giá chung CLCS cũng đã được sử dụng và chứng minh tính hợp lệ trong LBĐHT, bao gồm bộ câu hỏi European QoL (EQ-5D) và bộ câu hỏi đánh giá CLCS của Tổ chức Y tế Thế giới (WHOQOL-Bref) Bộ câu hỏi EQ-5D khá đơn giản, đánh giá 5 vấn đề của tình trạng sức khỏe: khả năng di chuyển, tự chăm sóc, các hoạt tính thông thường, đau/khó chịu và trầm cảm/lo lắng Một số nghiên cứu chứng minh rằng thang điểm này có giá trị đánh giá CLCS trong nhiều bệnh tự miễn dịch khác nhau, bao gồm LBĐHT Thang điểm WHOQOL-Bref bao gồm 26 câu hỏi, đánh giá 4 vấn đề của tình trạng sức khỏe bao gồm thể chất, tâm lý, xã hội và môi trường Một vài nghiên cứu sử dụng thang điểm này đã chứng minh rằng các chức năng về thể chất và tinh thần đã giảm sút rõ rệt ở người bệnh LBĐHT trong giai đoạn bệnh hoạt tính [5]

1.2.2.2 Các công cụ chuyên biệt cho Lupus ban đó hệ thống

Hiện nay, có 4 bộ câu hỏi đánh giá CLCS chuyên biệt cho LBĐHT đã được chuẩn hóa và sử dụng trong các nghiên cứu [54] Leong và cs (2005) đã

Trang 28

phát triển và chuẩn hóa bộ công cụ SLEQoL (Systemic Lupus specific Quality-of-Life), bộ công cụ này bao gồm 40 câu hỏi đánh giá đặc hiệu với CLCS của người bệnh LBĐHT Các câu hỏi được chia làm 6 phần: chức năng thể chất, hoạt tính, triệu chứng bệnh, điều trị, cảm xúc và tự nhận thức về bản thân Trong một nghiên cứu trên 275 người bệnh LBĐHT, so với công cụ SF-36, SLEQoL được chứng minh là nhạy cảm hơn với những sự thay đổi [70] Ngoài ra, công cụ này cũng chứng minh được tính hợp lệ, sự hằng định nội tại và độ tin cậy kiểm chứng trước – sau trong đánh giá CLCS ở Người bệnh LBĐHT Cho đến nay, SLEQoL là bộ công cụ chuyên biệt cho LBĐHT duy nhất được phát triển ở nước châu Á và đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác nhau [54]

Erythematosus-Bộ công cụ LupusQoL do Teh và cs đưa ra năm 2005 cũng được sử dụng rất rộng rãi để đánh giá đặc hiệu CLCS trong LBĐHT Bộ câu hỏi này bao gồm 34 câu hỏi, đánh giá 8 nhóm vấn đề bao gồm: chức năng thể chất, sự đau đớn, chức năng cảm xúc, sự mệt mỏi, hình ảnh bản thân, hoạt tính tình dục, khả năng lập kế hoạch và các gánh nặng khác [70] Theo Touma Z và cs (2011), bộ câu hỏi LupusQoL có tính hằng định nội tại, độ tin cậy kiểm chứng trước – sau và giá trị tiêu chuẩn đồng hành tương đương so với công cụ SF-36 [66] Nghiên cứu của Garcisa-Carrasco M và cs (2012) còn cho thấy mối tương quan rất chặt chẽ giữa điểm SF-36 và điểm LupusQoL, cả hai công cụ đều có giá trị trong đánh giá CLCS ở người bệnh LBĐHT [33]

Lupus-PRO (Lupus Patient-Reported Outcome) là một công cụ đo lường CLCS chuyên biệt cho LBĐHT mới được phát triển và chuẩn hóa gần đây tại

Mỹ bởi Jolly và cs (2012) [41] Lupus-PRO bao gồm 43 câu hỏi với tổng điểm qui đổi từ 0-100, đánh giá 8 vấn đề liên quan đến sức khỏe (triệu chứng bệnh, thuốc điều trị, sức khoẻ thể chất, sức khoẻ tinh thần, sự đau đớn, nghị lực sống, sự sinh sản, nhận thức và hình ảnh bản thân) và 4 vấn đề không liên quan đến sức khỏe (mong muốn - mục đích, cách đối mặt với bệnh tật, sự hỗ trợ từ xã hội và sự hài lòng với hệ thống chăm sóc y tế) Công cụ này có giá trị và độ tin cậy cao trong đánh giá CLCS ở người bệnh LBĐHT, đáp ứng tốt

Trang 29

và khá nhạy với các thay đổi của tình trạng sức khoẻ [41] Bên cạnh đó, bộ câu hỏi này cũng có thời gian trả lời tương đối ngắn, phù hợp với các nghiên cứu được thực hiện tại những cơ sở y tế có số lượng người bệnh đông quá tải như khoa Khám bệnh của bệnh viện Bạch Mai [54] Đây cũng là lý do quan trọng để chúng tôi lựa chọn công cụ Lupus-PRO cho nghiên cứu này

Các bản hướng dẫn đánh giá hiện nay nói chung vẫn ưu tiên sử dụng các

bộ câu hỏi chung, chỉ bổ sung bằng các câu hỏi chuyên biệt khi có thể

1.2.3 Tình hình nghiên cứu về đặc điểm của chất lượng cuộc sống ở người bệnh LBĐHT

1.2.3.1 Sự thay đổi chất lượng cuộc sống ở người bệnh LBĐHT

Trên thế giới, có khá nhiều nghiên cứu đánh giá CLCS ở người bệnh LBĐHT đã được công bố, trong đó, phần lớn sử dụng một bộ công cụ đơn lẻ, chỉ có một vài nghiên cứu dùng phối hợp đồng thời nhiều công cụ Các nghiên cứu này không chỉ mô tả đặc điểm CLCS trong LBĐHT mà còn tìm hiểu mối tương quan giữa CLCS với các đặc điểm khác của bệnh như mức độ hoạt tính, tổn thương và tiên lượng bệnh [19],[28],[31]

Với mọi công cụ đánh giá được sử dụng, các nghiên cứu đều cho thấy sự giảm sút CLCS ở người bệnh LBĐHT khi so sánh với cộng đồng chung hoặc với những người mắc các bệnh mạn tính khác [40] Phần lớn nghiên cứu trước đây sử dụng các công cụ SF-20 hoặc SF-36 Với những công cụ này, nhiều nghiên cứu đã cho thấy CLCS của người bệnh LBĐHT giảm rõ rệt ở cả 2 phân vùng thể chất và tinh thần [54] Khi điểm các thành phần cấu thành của SF-36 được tính toán, người bệnh LBĐHT có giảm cả điểm thể chất và tinh thần, xếp vào bách vị phân thứ 10 cho điểm thành phần thể chất và bách vị phân thứ 25 cho điểm thành phần tâm thần khi so với cộng đồng khỏe mạnh [40] Mặc dù các nghiên cứu được mô tả ở trên sử dụng những công cụ đánh giá CLCS khác nhau, chủng tộc và số lượng người bệnh trong nghiên cứu cũng khác nhau, nhưng nhìn chung CLCS ở người bệnh LBĐHT đều bị giảm sút so với cộng đồng chung và nhóm chứng Hầu hết các nghiên cứu này được thực hiện ở những người bệnh điều trị ngoại trú, mức độ bệnh không nặng nhưng CLCS vẫn giảm rõ rệt

Trang 30

Sự thay đổi CLCS trong quá trình diễn biến bệnh ở những người bệnh LBĐHT có sự khác biệt giữa các giai đoạn phát triển khác nhau của bệnh Nghiên cứu của Kuriya B và cs ở những người bệnh LBĐHT giai đoạn muộn cho thấy, điểm sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần không thay đổi sau 8 năm ở >80% số người bệnh, tỷ lệ người bệnh có cải thiện CLCS chỉ đạt <5% [45] Trong khi đó, nghiên cứu của Urowitz M (2014) trên 495 người mắc bệnh LBĐHT giai đoạn sớm lại tìm thấy sự cải thiện CLCS ở phần lớn trường hợp trong vòng 2 năm đầu theo dõi [68]

Cho đến nay, SF-36 là công cụ chủ yếu được sử dụng để đo lường CLCS trong các nghiên cứu, điều này cho phép so sánh CLCS giữa các bệnh mạn tính Báo cáo của Schmeding A và cs (2013) tổng hợp số liệu từ 24 nghiên cứu khác nhau sử dụng bộ câu hỏi SF-36 để đánh giá CLCS của những người bệnh LBĐHT cho thấy, sự giảm sút CLCS trong LBĐHT là tương đương với nhiều bệnh mạn tính nguy hiểm như HIV/AIDS, hội chứng Sjogren’s và viêm khớp dạng thấp, nhưng nặng nề hơn so với u hạt Wegener [61] Điểm chức năng thể chất và cảm giác đau ở người bệnh viêm khớp dạng thấp giảm

rõ rệt hơn so với LBĐHT theo nghiên cứu của Wolfe F (2010), nguyên nhân

có thể do bệnh lý này tổn thương chủ yếu ở hệ cơ xương khớp [69] Trong một số nghiên cứu sử dụng các bộ câu hỏi QOLS-S và AIMS, người bệnh LBĐHT tỏ ra quan tâm đến tình trạng bệnh của mình nhiều hơn so với các người mắc bệnh viêm khớp dạng thấp Mặc dù tính tổng thể cả 2 nhóm người bệnh đều hài lòng với CLCS của họ nhưng giữa 2 nhóm vẫn có những điểm khác biệt về những điều không hài lòng với tình trạng sức khỏe của mình [40] Một số tác giả cũng đã tiến hành so sánh CLCS của người bệnh LBĐHT

và u hạt Wegener, kết quả cho thấy, mặc dù u hạt Wegener là một bệnh viêm mạch hệ thống nguy hiểm nhưng mức độ ảnh hưởng của bệnh đến các hoạt tính thường ngày và nguy cơ mất việc của người bệnh vẫn thấp hơn so với các bệnh LBĐHT Người bệnh LBĐHT thường có biểu hiện mệt mỏi mạn tính, mất khả năng lên kế hoạch cho tương lai do không dự báo được diễn biến của bệnh và phải đối mặt với sự thiếu hiểu biết về bệnh của các đồng nghiệp và

Trang 31

người quản lý Tuy nhiên, ở khía cạnh tích cực, người bệnh LBĐHT thường cho rằng bệnh tật giúp cải thiện mối quan hệ của họ với bạn bè và đưa gia đình họ đến gần nhau hơn [40] Chứng xơ đau cơ với các biểu hiện chính là mệt mỏi và đau cơ cũng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến CLCS Những người mắc chứng bệnh này, dù tiên phát hay thứ phát, đều có CLCS thấp hơn

so với LBĐHT [69]

Ở Việt Nam, đã có khá nhiều nghiên cứu được thực hiện để đánh giá CLCS trong các bệnh mạn tính như vảy nến, tăng huyết áp, Alzheimer…, tuy nhiên, có ít nghiên cứu về CLCS ở người bệnh LBĐHT được công bố [11]

1.2.3.2 Các lĩnh vực chất lượng cuộc sống bị ảnh hưởng ở người bệnh LBĐHT

Các lĩnh vực của CLCS bị ảnh hưởng có thể khác nhau giữa các bệnh lý

do mỗi bệnh sẽ có những ảnh hưởng khác nhau đối với cuộc sống của người bệnh Điều này được khẳng định bởi kết quả của một số nghiên cứu trên những nhóm bệnh tự miễn khác nhau, trong đó, người bệnh viêm khớp dạng thấp gặp nhiều khó khăn với các hoạt tính hàng ngày hơn so với người bệnh LBĐHT Trong khi đó, những người bệnh với chứng xơ đau cơ có điểm đánh giá tổng thể tình trạng chức năng tồi nhất [69] Để có thể đánh giá được những tác động của LBĐHT đối với CLCS, cần xác định được những lĩnh vực của CLCS bị ảnh hưởng bởi bệnh và lựa chọn công cụ để đánh giá những lĩnh vực này Phần lớn các lĩnh vực quan trọng của CLCS bị ảnh hưởng ở người bệnh LBĐHT đều liên quan đến đặc trưng của LBĐHT là một bệnh mạn tính có diễn biến dao động từng đợt, có thể ảnh hưởng đến nhiều hệ thống cơ quan và liên quan rõ rệt với nguy cơ tàn phế và tử vong Các lĩnh vực của CLCS liên quan đến sức khỏe bị ảnh hưởng bởi LBĐHT có thể khác nhau giữa các hoàn cảnh văn hóa xã hội do CLCS liên quan đến sức khỏe bị ảnh hưởng bởi yếu tố văn hóa Các nghiên cứu đánh giá những lĩnh vực quan trọng của CLCS liên quan đến sức khỏe ở người bệnh LBĐHT cho đến nay đều được thực hiện ở các nước có nền văn hóa phương tây, điều đó đặt ra yêu cầu phải có thêm những nghiên cứu trong các điều kiện văn hóa

xã hội khác [19],[54]

Trang 32

1.2.4 Tình hình nghiên cứu về các yếu tố liên quan với chất lượng cuộc sống ở người bệnh LBĐHT

Mặc dù CLCS bị giảm sút ở hầu hết người bệnh LBĐHT, nhưng có sự khác biệt quan trọng giữa các nhóm chủng tộc Phần lớn các nghiên cứu trước đây được thực hiện trên những nhóm người bệnh LBĐHT thuộc nhiều chủng tộc khác nhau, chỉ một số ít nghiên cứu có so sánh sự thay đổi CLCS giữa các chủng tộc Barnado A và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu trên 3 nhóm chủng tộc (người da trắng, da đen và da vàng), trong đó sử dụng phối hợp nhiều bộ câu như Health Assessment Questionnaire (HAQ), Illness Intrusiveness Ratings Scale (IIRS), Affect Balance Scale (ABS), Center for Epidemiologic Studies Depression (CES-D) và Rheumatology Attitudes Index (RAI) Kết quả cho thấy, ở các vấn đề tâm lý, xã hội, người da trắng có CLCS tốt nhất và người da đen có CLCS tồi nhất Trong nghiên cứu LUMINA (Lupus in Minority Populations, Nature versus Nurture) sử dụng bộ câu hỏi SF-36, những người bệnh LBĐHT thuộc 3 nhóm chủng tộc (Tây - Bồ,

Mỹ Phi và da trắng) với số lượng tương đương đã được đưa vào nghiên cứu Kết quả cho thấy, sức khỏe thể chất là tương đương nhau giữa 3 nhóm chủng tộc, nhưng sức khỏe tinh thần ở người da trắng là tốt hơn so với 2 nhóm còn lại [17] Thumboo và cs cũng tiến hành nghiên cứu với công cụ SF-36 trên 3 nhóm người bệnh LBĐHT người Trung hoa, Malays và Ấn Độ, kết quả cho thấy không có sự khác biệt về CLCS giữa các nhóm chủng tộc này Các tác giả cho rằng, trên thực tế CLCS có liên quan với các yếu tố kinh tế - xã hội, những người bệnh tham gia nghiên cứu có điều kiện kinh tế xã hội tương đương nhau, tiếp cận một dịch vụ chăm sóc sức khỏe giống nhau, do đó, CLCS cũng không có sự khác biệt [65] Như vậy, CLCS của người bệnh LBĐHT bị giảm sút nhiều ở một số nhóm chủng tộc có thể là do ảnh hưởng của điều kiện kinh tế xã hội Tuy nhiên, một số nghiên cứu cũng cho thấy mối liên quan phức tạp giữa yếu tố chủng tộc và tình trạng kinh tế xã hội Trong một nghiên cứu tiến cứu của Alarcon và cộng sự, người bệnh LBĐHT thuộc chủng tộc Mỹ - Phi chỉ bị giảm sút CLCS ở một số mục đánh giá theo thang

Trang 33

điểm SF-36 Tuy nhiên, nghèo đói và chăm sóc xã hội kém có liên quan mạnh

mẽ với sự giảm sút CLCS một cách toàn diện ở mọi chủng tộc [12]

Bên cạnh yếu tố chủng tộc và điều kiện kinh tế xã hội, nhiều biến số khác cũng có ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau đến CLCS của người bệnh LBĐHT, được khẳng định rõ rệt nhất là tình trạng mệt mỏi, các hỗ trợ

và vai trò xã hội, khả năng ứng phó, tình trạng giáo dục, tuổi và thời gian mắc bệnh [27],[28],[60],[64]

Mệt mỏi: là biểu hiện rất thường gặp ở người bệnh LBĐHT, mặc dù không đặc hiệu nhưng có tác động không nhỏ đến CLCS Trong khá nhiều nghiên cứu, người bệnh LBĐHT thường cho rằng mệt mỏi là biểu hiện chính làm suy yếu khả năng hoạt tính của họ Một khó khăn lớn khi đánh giá biểu hiện mệt mỏi người bệnh LBĐHT là việc các nghiên cứu đã sử dụng quá nhiều công cụ đánh giá khác nhau trong các nghiên cứu nên khó so sánh và không thể đưa ra được kết luận cuối cùng Ngoài một số bộ câu hỏi đánh giá chuyên biệt về mệt mỏi như Fatigue Severity Score (FSS), Chalder Fatigue Scale (CFS), Piper Fatigue Scale (PFS), Multidimensional Fatigue Inventory (MFI) và Vanderbilt Fatigue Scale (VFS), một số công cụ đánh giá chung về CLCS cũng bao gồm các câu hỏi về mệt mỏi như SF-20, SF-36 Kết quả từ những nghiên cứu sử dụng các bộ câu hỏi chuyên biệt về mệt mỏi cho thấy, người bệnh LBĐHT có mức độ mệt mỏi cao hơn so với nhóm chứng không mắc bệnh và biểu hiện này cũng có tác động đến tất cả các thành tố của CLCS được đánh giá trong các bộ câu hỏi SF-20 và SF-36 [54]

Sự hỗ trợ xã hội: một số nghiên cứu cho thấy, mức độ hỗ trợ xã hội cao liên quan với CLCS tốt hơn ngoại trừ vấn đề thể chất Sự hài lòng của người bệnh đối với hệ thống chăm sóc y tế càng cao thì CLCS liên quan đến sức khỏe cũng càng tốt [60]

Vai trò xã hội: nghiên cứu của Thumboo J ghi nhận rằng bệnh LBĐHT

có thể ảnh hưởng tiêu cực đến trạng thái tâm lý của người bệnh bằng cách gây

ra tình trạng trầm cảm và mất tinh thần do ảnh hưởng lớn đến vai trò xã hội của họ hoặc đặt họ vào những vị trí xã hội mà họ không mong muốn [65]

Trang 34

Khả năng ứng phó: một số nghiên cứu cắt ngang các tác giả nước ngoài

đã cho thấy đặc điểm về khả năng ứng phó trong các biến số đánh giá CLCS

là một yếu tố có thể dự báo cả khía cạnh thực thể và tinh thần của CLCS khi đánh giá bằng công cụ SF-36 [61]

Tuổi người bệnh và thời gian mắc bệnh: rất nhiều nghiên cứu với những công cụ đánh giá khác nhau đã khảo sát các tác động của tuổi đối với CLCS ở người bệnh LBĐHT Tương tự với nhiều bệnh lý khác, CLCS của người bệnh LBĐHT cũng có mối tương quan không hằng định với tuổi Phần lớn các nghiên cứu này cho thấy mối tương quan nghịch giữa tuổi và sức khỏe thể chất, chỉ có một nghiên cứu tìm thấy mối tương quan nghịch giữa tuổi và sức khỏe tinh thần Nghiên cứu của Shen B và cs (2014) tại Trung Quốc không tìm thấy mối tương quan giữa điểm CLCS được đánh giá bằng công cụ SF-36

và tuổi của người bệnh LBĐHT [62] Trong khi đó, một số tác giả khác lại chỉ tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa tuổi của người bệnh LBĐHT với điểm sức khỏe thể chất mà không có liên quan với điểm sức khỏe tinh thần [13],[64] Trái với các kết quả này, một số nghiên cứu lại cho thấy mối tương quan có ý nghĩa thống kê của cả điểm sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần được đánh giá bằng nhiều công cụ khác nhau với tuổi của người bệnh LBĐHT [12],[25],[39],[60]

Mối liên quan giữa thời gian mắc bệnh và CLCS ở người bệnh LBĐHT cũng đã được khảo sát qua hàng chục nghiên cứu với những kết quả khá mâu thuẫn Một số tác giả nhận thấy, thời gian mắc bệnh càng kéo dài thì sức khỏe thực thể, tâm lý và trạng thái cảm xúc càng tốt Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại không tìm thấy mối liên quan giữa các yếu tố này Các nghiên cứu của Yilmaz-Oner S và cộng sự (2015) tại Thổ Nhĩ Kỳ sử dụng công cụ đánh giá CLCS LupusQoL [62] và nghiên cứu của Panopalis P (2005) [55] tại 3 quốc gia Mỹ, Canada và Anh sử dụng công cụ SF-36 đều không tìm thấy mối liên quan giữa thời gian mắc bệnh và CLCS của người bệnh Trái với những kết quả trên, các nghiên cứu của Almehed K (2010) tại Thụy Điển [13] và Tamayo T (2010) tại Đức [64] lại ghi nhận mối tương quan nghịch có ý nghĩa thống kê giữa điểm CLCS với thời gian mắc bệnh LBĐHT

Trang 35

Về mối liên quan với mức độ hoạt tính của bệnh, CLCS là một thông số

độc lập với các chỉ số đánh giá bệnh khác trong LBĐHT như mức độ hoạt tính hoặc hủy hoại của bệnh [19] Mối liên quan giữa CLCS với các chỉ số đánh giá độ hoạt tính của LBĐHT là vấn đề được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu nhưng cũng còn nhiều tranh cãi do có những bằng chứng trái ngược nhau Một số nghiên cứu đã cho thấy mối tương quan nghịch có ý nghĩa thống kê giữa mức độ hoạt tính của bệnh với điểm sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần được đánh giá bằng nhiều công cụ khác nhau như giữa điểm SLEDAI và điểm WHOQOL-Bref [44], điểm SF-36 và điểm SLAQ (Systemic Lupus Activity Questionnaire) [64], điểm SF-36 và điểm SLEDAI [62] Tuy nhiên, mối liên quan giữa CLCS với mức độ hoạt tính của bệnh LBĐHT là không thống nhất giữa các nghiên cứu Nghiên cứu của Chenchen

W (2001) với 54 người bệnh LBĐHT được khảo sát CLCS bằng các công cụ SF-36 và EQ-5D cho thấy, điểm EQ-5D tương quan nghịch có ý nghĩa thống

kê với điểm SLEDAI nhưng điểm sức khỏe thể chất và điểm sức khỏe tinh thần được đánh giá bằng công cụ SF-36 lại không có tương quan với cả điểm SLEDAI và SLAM-R [22] Tương tự, Yilmaz-Oner S (2015) cũng không tìm thấy mối tương quan giữa chỉ số SLEDAI với điểm CLCS được đánh giá bằng các công cụ LupusQoL và điểm SF-36 [62] Một số tác giả khác sử dụng công cụ SF-36 cũng không tìm thấy mối liên quan giữa điểm sức khỏe tinh thần với mức độ hoạt tính của bệnh được đánh giá bằng chỉ số SLEDAI [11],[13],[72]

Cho đến nay, phần lớn các nghiên cứu về đặc điểm CLCS ở người bệnh LBĐHT và các yếu tố có liên quan đều sử dụng công cụ đánh giá CLCS chung, không chuyên biệt cho bệnh như SF-36, EQ-5D, SF-12… Các công cụ này thường tương đối ngắn gọn, cho phép so sánh giữa nhiều bệnh lý khác nhau, tuy nhiên, chúng cũng có chứa những mục đánh giá không phù hợp và

bỏ sót một số vấn đề quan trọng của LBĐHT

Trang 36

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là người bệnh LBĐHT được quản lý và theo dõi

điều trị tại Phòng Quản lý bệnh Lupus ban đỏ hệ thống, Bệnh viện Bạch Mai

từ 03/2018 đến 04/2018

* Tiêu chuẩn lựa chọn

- Người bệnh đã được chẩn đoán lupus ban đỏ hệ thống theo tiêu chuẩn SLICC 2012 (Phụ lục 1) [56]

- Đồng ý tham gia trả lời phỏng vấn

* Tiêu chuẩn loại trừ

- Không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Rối loạn tâm thần, không hợp tác nghiên cứu

- Đang mang thai

- Mắc kèm các bệnh mạn tính có thể gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống như đái tháo đường, xơ cứng bì hệ thống, viêm khớp dạng thấp, hen phế quản…

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

- Nghiên cứu được thực hiện tại Phòng Quản lý bệnh Lupus và phòng khám chuyên khoa Dị ứng - Miễn dịch Lâm sàng, khoa Khám Bệnh bệnh viện Bạch Mai

- Các xét nghiệm cận lâm sàng được thực hiện tại các khoa phòng tương ứng của bệnh viện Bạch Mai: khoa Sinh hóa, khoa Huyết học, khoa Chẩn đoán hình ảnh, khoa Thăm dò chức năng, Trung tâm Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng…

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ 04/2018 đến 08/2018

Trang 37

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

- Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

- Cỡ mẫu: sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu mô tả, ước tính một tỷ lệ trong quần thể:

2 (1 / 2) 2

+ n là cỡ mẫu cần nghiên cứu

+ p là tỷ lệ người bệnh dự kiến có CLCS kém (p = 36% theo Phạm Thị Xuân năm 2015 [11])

+ d là khoảng sai lệch mong muốn giữa mẫu và quần thể, d = 5%

+  là mức ý nghĩa thống kê = 0,05; với độ tin cậy 95%, Z(1-/2) = 1,96 Với công thức trên, tính được cỡ mẫu n = 354, làm tròn bằng 360

- Cách chọn mẫu: các đối tượng nghiên cứu được chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện Tất cả những người bệnh đủ tiêu chuẩn lựa chọn trên vào viện từ 1/4/2018 đến 31/4/2018 đều được chọn vào mẫu nghiên cứu, không phân biệt tuổi, giới và mức độ bệnh

2.3 CÁC BIẾN SỐ VÀ CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU

Bảng 2.1 Các biến số và chỉ số nghiên cứu

Phương pháp thu thập

Trang 38

- Tỷ lệ % theo hôn nhân

- Thời gian mắc trung bình

- Tuổi khởi phát trung bình

- Điểm SLEDAI trung bình

- Tỷ lệ tổn thương theo cơ quan

+ Thuốc điều trị LBĐHT + Sức khỏe sinh sản + Sức khoẻ thể chất + Sức khoẻ tinh thần + Sự đau đớn

+ Hình ảnh bản thân + Mong muốn - mục đích + Sự hỗ trợ từ xã hội + Cách đối mặt với bệnh tật + Sự hài lòng với hệ thống chăm sóc y tế và hỗ trợ của điều dưỡng

+ Điểm CLCS liên quan đến sức khỏe

+ Điểm CLCS không liên quan đến sức khỏe

+ Điểm CLCS chung

- Tỷ lệ % người bệnh có CLCS tốt, trung bình, kém

- Thu thập thông tin từ bệnh án

- Người bệnh

tự đánh giá và điền vào bộ câu hỏi tự điền

Trang 39

và biến phụ thuộc

2.4 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN

2.4.1 Công cụ nghiên cứu

a Bộ câu hỏi khảo sát: được xây dựng dựa theo bộ công cụ đánh giá chất

lượng cuộc sống Lupus-PRO phiên bản 1.7 (Theo Dua và cs năm 2013 [26]), bao gồm 3 phần chính:

A Phần 1: Các thông tin chung:

Trang 40

+ Viêm cầu thận lupus

+ Rối loạn tâm thần kinh: đau đầu lupus, co giật, múa vờn, trầm cảm, mất ngủ…

+ Rối loạn thị giác: đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp, viêm thần kinh thị giác… + Rụng tóc

+ Biểu hiện cơ xương khớp: viêm khớp, đau khớp, viêm cơ, đau cơ, loãng xương…

+ Tổn thương da, niêm mạc: ban cánh bướm, ban dạng đĩa, viêm loét miệng… + Tăng huyết áp

+ Biểu hiện tiêu hóa: viêm loét dạ dày tá tràng, trào ngược dạ dày, viêm ruột…

- Mức độ hoạt tính của LBĐHT: được đánh giá bằng bộ câu hỏi SLEDAI, bao gồm 8 tiểu mục đánh giá với số điểm cho từng tiểu mục được trình bày trong bảng 2.2 Điểm SLEDAI được tính bằng tổng điểm của từng tiểu mục được đánh giá trong khoảng thời gian 10 ngày trước và sau thời

Ngày đăng: 10/03/2021, 23:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Công Chính (2012). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của người bệnh lupus ban đỏ hệ thống điều trị tại khoa Da Liễu bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên. Tạp chí Y học thực hành 851(11), 36 – 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Phạm Công Chính
Năm: 2012
2. Nguyễn Văn Đoàn, Nguyễn Thị Thanh Hà (2012). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng người bệnh nam lupus ban đỏ hệ thống điều trị tại Trung tâm Dị ứng-MDLS Bệnh viện Bạch Mai. Y học thực hành 6, 825, 123-125 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y học thực hành
Tác giả: Nguyễn Văn Đoàn, Nguyễn Thị Thanh Hà
Năm: 2012
3. Phan Quang Đoàn (2002). Tìm hiểu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh SLE. Tạp chí y học thực hành 5(423) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí y học thực hành
Tác giả: Phan Quang Đoàn
Năm: 2002
4. Bùi Thị Hà (2011). Nhận xét đặc điểm lâm sàng ở người bệnh lupus ban đỏ điều trị tại bệnh viện Việt Tiệp - Hải Phòng. Tạp chí Y học thực hành 762(4), 60 – 63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Bùi Thị Hà
Năm: 2011
5. Trần Thúy Hạnh, Nguyễn Hữu Trường (2015). Đánh giá chất lượng cuộc sống trong bệnh lupus ban đỏ hệ thống. Tạp chí Y học Lâm sàng số 90, tr. 15- 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học Lâm sàng
Tác giả: Trần Thúy Hạnh, Nguyễn Hữu Trường
Năm: 2015
6. Đặng Thu Hương, Nguyễn Tất Thắng (2013). Tỉ lệ kháng thể kháng nucleosome trong bệnh lupus ban đỏ hệ thống-Mối tương quan giữa kháng thể kháng nucleosome với ANA, anti-dsDNA và độ hoạt tính của bênh. Tạp chí Y Học TP. Hồ Chí Minh, 17, Phụ bản của Số 1, 294-300 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y "Học TP. Hồ Chí Minh
Tác giả: Đặng Thu Hương, Nguyễn Tất Thắng
Năm: 2013
7. Huỳnh Phan Phúc Linh, Lê Anh Thư (2014). Nghiên cứu một số kháng thể trên người bệnh lupus ban đỏ hệ thống và một số yếu tố liên quan. Tạp chí Y Học TP. Hồ Chí Minh Tập 18, Phụ bản Số 2, 148-154 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y "Học TP. Hồ Chí Minh
Tác giả: Huỳnh Phan Phúc Linh, Lê Anh Thư
Năm: 2014
8. Nguyễn Vĩnh Ngọc (2012). Lupus ban đỏ hệ thống. Bệnh học nội khoa tập 2, Trường Đại học Y Hà Nội, NXB Y học, 121-132 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học nội khoa
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Ngọc
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2012
9. Phạm Huy Thông (2013). Lupus ban đỏ hệ thống. Dị ứng - Miễn dịch Lâm sàng Cơ bản, NXB Y học, Hà Nội, 211 - 225 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dị ứng - Miễn dịch Lâm "sàng Cơ bản
Tác giả: Phạm Huy Thông
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2013
11. Phạm Thị Xuân (2015). Chất lượng cuộc sống của các bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống tại phòng Quản lí bệnh Lupus bệnh viện Bạch mai năm 2015.Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân điều dưỡng, Đại học Thăng Long, tr. 18-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân điều dưỡng
Tác giả: Phạm Thị Xuân
Năm: 2015
12. Alarcon GS, McGwin Jr G, Uribe A, Friedman AW, Roseman JM, Fessler BJ, et al (2004). Systemic lupus erythematosus in a multiethnic lupus cohort (LUMINA). XVII. Predictors of self-reported health-related quality of life early in the disease course. Arthritis &amp; Rheumatism 51, 465–74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Arthritis & Rheumatism
Tác giả: Alarcon GS, McGwin Jr G, Uribe A, Friedman AW, Roseman JM, Fessler BJ, et al
Năm: 2004
13. Almehed K, Carlsten H, Forsblad-d’Elia H (2010). Health-related quality of life in systemic lupus erythematosus and its association with disease and work disability. Scand J Rheumatol 39, 58- 62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scand J Rheumatol
Tác giả: Almehed K, Carlsten H, Forsblad-d’Elia H
Năm: 2010
14. Amezcua-Guerra L, Higuera-Ortiz V, Arteaga-García U, et al (2015). Performance of the 2012 Systemic Lupus International Collaborating Clinics and the 1997 American College of Rheumatology Classification Criteria for Systemic Lupus Erythematosus in a Real-Life Scenario. Arthritis Care &amp;Research 67, 3, 437–441 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Arthritis Care & "Research
Tác giả: Amezcua-Guerra L, Higuera-Ortiz V, Arteaga-García U, et al
Năm: 2015
15. Appenzeller S, Clarke AE, Panopalis P, et al (2009). The relationship between renal activity and quality of life in systemic lupus erythematosus. J Rheumatol. 36(5), 947-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J "Rheumatol
Tác giả: Appenzeller S, Clarke AE, Panopalis P, et al
Năm: 2009
16. Azizoddin DR, Olmstead R, Cost C (2017). A multi-group confirmatory factor analyses of the LupusPRO between southern California and Filipino samples of patients with systemic lupus erythematosus. Lupus 26(9), 967-974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lupus
Tác giả: Azizoddin DR, Olmstead R, Cost C
Năm: 2017
17. Barnado A, Wheless L, Meyer A.K, Gilkeson G.S, Kamen D.L (2012). Quality of life in patients with systemic lupus erythematosus (SLE) compared with related controls within a unique African American population. Lupus 21, 563–569 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lupus
Tác giả: Barnado A, Wheless L, Meyer A.K, Gilkeson G.S, Kamen D.L
Năm: 2012
18. Bourré-Tessier J, Clarke AE, Mikolaitis-Preuss RA (2013). Cross-cultural validation of a disease-specific patient-reported outcome measure for systemic lupus erythematosus in Canada. J Rheumatol. 40(8), 1327-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Rheumatol
Tác giả: Bourré-Tessier J, Clarke AE, Mikolaitis-Preuss RA
Năm: 2013
19. Castrejón I, Tani C, Jolly M, Huang A, Mosca M (2014). Indices to assess patients with systemic lupus erythematosus in clinical trials, long-term observational studies, and clinical care. Clin Exp Rheumatol. 32(5 Suppl 85), S-85-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clin Exp Rheumatol
Tác giả: Castrejón I, Tani C, Jolly M, Huang A, Mosca M
Năm: 2014
20. Cervera R, Khamashta MA, Hughes GRV (2009). The Euro-lupus project: epidemiology of systemic lupus erythematosus in Europe. Lupus 18, 869–874 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lupus
Tác giả: Cervera R, Khamashta MA, Hughes GRV
Năm: 2009
21. Chaigne B, Chizzolini C, Perneger T (2017). Impact of disease activity on health-related quality of life in systemic lupus erythematosus - a cross- sectional analysis of the Swiss Systemic Lupus Erythematosus Cohort Study (SSCS). BMC Immunol. 28;18(1), 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BMC Immunol
Tác giả: Chaigne B, Chizzolini C, Perneger T
Năm: 2017

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w