1. Trang chủ
  2. » Toán

Biến chứng tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan ở người bệnh tăng huyết áp tại trung tâm y tế thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam năm 2019.

24 29 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 518,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với mối liên quan giữa tiền sử THA và tình trạng gặp các biến chứng mắt ở các đối tượng tham gia nghiên cứu, kết quả cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tình trạng gặp [r]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

NGUYỄN MINH PHƯƠNG

BIẾN CHỨNG TĂNG HUYẾT ÁP VÀ MỘT SỐ

YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP TẠI TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ PHỦ LÝ

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

=========

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Anh Tuấn

Luận văn sẽ được bảo vệ tại Hội đồng đánh giá luận văn cấp … tổ chức tại Đại Học Y Hà Nội vào hồi giờ … ngày… tháng … năm 20…

Có thể tìm hiểu luận văn tại:

1 Thư viện Trường Đại học Thăng Long

2 Thư viện

Trang 3

STT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

2 CI: Khoảng tin cậy (Confidence Interval)

4 HATr: Huyết áp tâm trương

Trang 4

GIỚI THIỆU LUẬN VĂN

1 Đặt vấn đề

Tỷ lệ người mắc tăng huyết áp (THA) ngày càng tăng và tuổi bị mắc mới cũng ngày một trẻ hóa [1] Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 2013 toàn thế giới có tới 972 triệu người bị tăng huyết

áp và con số này được ước tính vào khoảng 15,6 tỷ người vào năm

2025 [41] Các biến chứng của THA là rất nặng nề, ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh, gây tàn phế thậm chí là tử vong và trở thành gánh nặng về tinh thần cũng như vật chất cho gia đình người bệnh cũng như toàn xã hội Trung tâm Y tế thành phố Phủ Lý với chức năng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, trong đó có THA Qua khám và điều trị thì phát hiện nhiều người bệnh tăng huyết áp đang điều trị tại đây đã bị biến chứng của tăng huyết áp như: suy tim, tai biến mạch máu não, suy thận, rối loạn lipit mỡ máu [1] Từ trước đến nay, mặc

dù số liệu quản lý người bệnh tăng huyết áp vẫn được thu thập định

kỳ, tuy nhiên chưa có nghiên cứu được thực hiện đánh giá thực trạng mức biến chứng của người bệnh tăng huyết áp như thế nào và một số

yếu tố liên quan Bởi vậy chúng tôi đề xuất nghiên cứu: “Biến chứng tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan ở người bệnh tăng huyết

áp tại Trung tâm Y tế thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam năm 2019” với các mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng biến chứng tăng huyết áp ở người bệnh điều trị tăng huyết áp tại Trung tâm Y tế thành phố Phủ Lý- tỉnh Hà Nam năm 2019

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến biến chứng tăng huyết

áp của đối tượng nghiên cứu

2 Những đóng góp mới của luận văn

Kết quả nghiên cứu đã mô tả được thực trạng THA và một số biến chứng của THA tại thành phố Phủ Lý, Hà Nam Điều này cho thấy việc kiểm soát biến chứng và điều trị còn chưa hiệu quả Do vậy, đánh giá này có ý nghĩa rất quan trọng trong điều trị và nâng cao chất lượng điều trị cho người bệnh THA Nghiên cứu cũng đưa ra được các yếu tố liên quan tới biến chứng THA gồm: tuổi, thời gian mắc bệnh, hành vi uống rượu bia, hút thuốc, ăn mặn và cách điều trị…

Trang 5

3 Bố cục của luận văn

Luận văn có 69 trang, gồm Đặt vấn đề (2 trang) 4 chương: Chương 1: Tổng Quan (13 trang), Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (9 trang), Chương 3: Kết quả nghiên cứu (32 trang), Chương 4: Bàn luận (13 trang), Kết luận (1 trang), Kiến nghị (1 trang) Ngoài ra còn có: phần tài liệu tham khảo, 3 phụ lục, bảng, biểu đồ và hình ảnh minh chứng

Chương 1: TỔNG QUAN 1.1 Đại cương về tăng huyết áp

Tăng huyết áp là một bệnh mạn tính trong đó áp lực máu hệ thống động mạch tăng cao, bệnh được phân loại thành các giai đoạn theo từng mức tăng huyết áp tâm thu (HATT) và huyết áp tâm trương (HATTr) Hội tăng huyết áp Thế giới (ISH) cùng với Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã quy định huyết áp từ 140/90 mmHg trở lên được gọi là tăng huyết áp (Huyết áp tâm thu ≥ 140 hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg) [42] Tại Việt Nam, năm 2010, Bộ Y tế cũng quyết định áp dụng tiêu chuẩn này để đánh giá tăng huyết áp [5], [9]

1.2 Thực trạng biến chứng tăng huyết áp

1.2.1 Biến chứng não

Biến chứng não là những biến chứng rất thường gặp và thường nặng nề với các người bệnh tăng huyết áp Tai biến mạch máu não bao gồm cả xuất huyết não và nhồi máu não với các triệu chứng thần kinh khu trú không quá 24 giờ hoặc bệnh não do tăng huyết áp với lú lẫn, hôn mê kèm theo co giật, nôn mửa, nhức đầu dữ dội [37] Đây là biến chứng có thể xảy ra đột ngột vào bất cứ thời gian nào trong ngày nhưng chủ yếu vào ban đêm hoặc khi thời tiết thay đổi, mùa đông kéo dài Chính vì vậy kiểm soát tốt huyết áp nhằm tránh các cơn tăng huyết áp kịch phát là ưu tin hàng đầu để giảm thiểu các biến chứng này [1], [8]

Theo thống kê WHO (2013), trong các ca tử vong do biến chứng của tăng huyết áp thì chiếm tới 51% ca tử vong là do đột quỵ [40] Nghiên cứu phân tích tổng hợp do Ogah (2012) tiến hành đã báo cáo thực trạng biến chứng não ở các người bệnh tăng huyết áp tại Nigerial là 9,4% [33]

Tại Việt Nam, nghiên cứu về các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của người bệnh tăng huyết áp do Lê Thanh Bình tiến hành năm 2014

đã chỉ ra tỷ lệ biến chứng não ở người bệnh tăng huyết áp là 6,5% [11]

Trang 6

1.2.2 Biến chứng tim mạch

Các biến chứng tim mạch bao gồm: suy tim, đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, bệnh mạch vành, xơ vữa động mạch, phình động mạch chủ, bệnh mạch máu khác Trong đó suy tim và bệnh mạch vành là hai biến chứng chính và là nguyên nhân gây tử vong cao nhất của tăng huyết áp, tăng huyết áp là tăng gánh nặng cho tim và hệ thống động mạch [7], [8], [16], [21]

Nghiên cứu của Kolo (2012) về thực trạng tăng huyết áp tại Bệnh viện Bauchi (Tây Bắc Nigeria) ghi nhận kết quả của 3.108 người bệnh tăng huyết áp Kết quả cho thấy đột quỵ là biến chứng phổ biến nhất, chiếm 44,4%, với tỷ lệ tử vong lên tới 39,3% [30]

Nghiên cứu của Price RS (2014) cũng đưa ra báo cáo rằng 47% các trường hợp thiếu máu cơ tim cục bộ là biến chứng của tăng huyết áp gây

ra [36]

Năm 2019, nghiên cứu do Huỳnh Ngọc Diệp tiến hành tại Bệnh viện

Đa khoa khu vực Tháp Mười rà soát trên người bệnh tăng huyết áp cho thấy tỷ lệ biến chứng tim mạch nói chung là 27,69% (với 12,55% là đột quỵ, hội chứng mạch vành là 9,36%, 5,78% suy tim) [10]

1.2.3 Biến chứng mắt

Biến chứng về mắt tiến triển theo giai đoạn có thể dẫn đến mù lòa Khi soi đáy mắt có thể thấy tổn thương đáy mắt Biến chứng này tuy

ít gặp nhưng dễ nhầm lẫn với các bệnh về mắt hoặc biến chứng mắt

do đái tháo đường [2] [38]

Một nghiên cứu về biến chứng mắt do tăng huyết áp trong một cuộc điều tra cộng đồng quy mô lớn với 15.792 người tham gia từ 44-66 tuổi, trong đó có 2.907 người mắc tăng huyết áp (18,4%) Báo cáo của Ong YT (2013) đã đưa các biến chứng mắt thường gặp nhất trong số người mắc tăng huyết áp là hẹp động mạch khu trú (22,3%), xuất tiết (17,5%) và các dấu hiệu bệnh võng mạc khác (5,1%) [34]

1.3 Các yếu tố liên quan biến chứng tăng huyết áp

1.3.1 Yếu tố về phía người bệnh

Chế độ ăn: Nhiều người bệnh THA ở mức độ nhẹ chỉ cần thực

hiện chế độ ăn giảm bớt chất muối thì có thể điều trị được bệnh Chế

độ ăn giảm bớt chất muối, đủ năng lượng là một biện pháp quan trọng

để điều trị cũng như phòng bệnh THA [15] Nhiều nghiên cứu đã chứng minh nếu thực hiện chế độ ăn nhạt dưới 6 gam muối mỗi ngày

có thể làm giảm được huyết áp trung bình từ 4 đến 8 mm Hg [14]

Trang 7

Hút thuốc: Trong thuốc lá, thuốc lào có nhiều chất kích thích, đặc

biệt có chất nicotin kích thích hệ thần kinh giao cảm làm co mạch và gây tăng huyết áp [19] Nhiều nghiên cứu ghi nhận một người hút một điếu thuốc lá có thể làm tăng huyết áp tối đa lên tới 11 mm Hg và huyết

áp tối thiểu lên tới 9 mm Hg và kéo dài trong khoảng thời gian từ 20 đến 30 phút [14]

Uống rượu, bia: Người uống nhiều bia, rượu quá mức cũng là

yếu tố nguy cơ gây bệnh tim mạch nói chung và bệnh tăng huyết áp nói riêng Đối với những người phải dùng thuốc để điều trị tăng huyết áp, việc uống bia, rượu quá mức sẽ làm mất tác dụng của thuốc

hạ huyết áp; như vậy làm cho bệnh tăng huyết áp càng nặng hơn [26]

1.3.2 Yếu tố điều trị tăng huyết áp

Các nghiên cứu đều cho kết quả những người bệnh có thời thời gian phát hiện THA sớm, đồng thời sớm tiến hành điều trị và duy trì điều trị THA đều có khả năng cải thiện tình trạng THA và giảm thiểu các biến chứng có thể xảy ra [14] Nghiên cứu của Erden về mức độ nghiêm trọng và thời gian tăng huyết áp tỷ lệ thuận với tỷ lệ mắc bệnh võng mạc tăng huyết áp [24]

Trong quá trình điều trị, việc bổ sung các chất cần thiết cũng như thay đổi lối sống cũng có thể cải thiện tình trạng biến chứng của THA Việc bổ sung axit béo omega-3 và curcumin trong chế độ ăn uống, cũng như tập thể dục thường xuyên, có thể làm cho não chống lại tổn thương nhiều hơn [25]

1.4 Một số thông tin về địa bàn nghiên cứu

Phủ Lý là thành phố trực thuộc tỉnh Hà Nam Đây là Trung tâm văn hóa, chính trị và kinh tế và là đô thị loại II của tỉnh Hà Nam Thành phố này nằm ở vị trí cửa ngõ phía nam Hà Nội và cũng là thành phố ngã ba sông hợp lưu lại là sông Đáy, sông Châu Giang và sông Nhuệ Diện tích là 8.787,30 ha diện tích tự nhiên Dân

số thành phố Phủ Lý 136.654 nhân khẩu Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là: 0,8% có 21 đơn vị phường, xã [3], [13]

Hiện nay, Trung tâm Y tế thành phố Phủ Lý (TTYT Tp Phủ Lý)

là TTYT thực hiện hai chức năng Chức năng phòng bệnh và chức năng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế Đến tháng 3 năm 2019 , trung tâm đang quản lý trên 500 người mắc bệnh tăng huyết áp [17] : Người bệnh sau khi được khám sàng lọc và chẩn đoán xác định đều được lập sổ khám đặc biệt những người bệnh được chuẩn đoán các bệnh mạn tính như tăng huyết áp, tiểu đường, rối loạn mỡ máu…đều

Trang 8

có bệnh án để theo dõi hàng tháng có ghi chép đầy đủ các thông tin

về khám chữa bệnh, địa chỉ cũng như mã số của người bệnh lưu lại tại trung tâm Hàng tháng người bệnh đi khám lại đều được các bác

sĩ, điều dưỡng đo huyết áp, ghi nhận xét tình trạng bệnh hiện tại đầy

đủ và các chỉ định hướng dẫn vào bệnh án ngoại trú

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Đối tượng và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại Trung tâm Y tế Thành phố Phổ Lý

từ tháng 4 – 11/2019, với đối tượng là người bệnh THA đang điều trị ngoại trú tại cơ sở này

1.2 Phương pháp nghiên cứu

1.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và hồi cứu số liệu trong bệnh án

1.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Cỡ mẫu được tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong nghiên cứu mô tả cắt ngang:

n: cỡ mẫu tối thiểu;

Z(1-α/2): hệ số tin cậy ở mức 95%, tương ứng = 1,96;

p: Tỷ lệ người bệnh THA có xuất hiện biến chứng, theo nghiên cứu của Nguyễn Phan Thạch năm 2015 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định p = 0,82 [14]

Ɛ: sai số tương đối, chọn Ɛ = 0,06

Cỡ mẫu tính được là 235; dự phòng từ chối tham gia và làm tròn, nghiên cứu đã tiếp cận, cỡ mẫu cuối cùng được đưa vào phân tích là

250 người bệnh

Tại thời điểm nghiên cứu, tổng số người bệnh tăng huyết áp đang được quản lý tại TTYT thành phố Phủ Lý là 504 người

Trang 9

Bước 1: Được sự chấp thuận tiến hành nghiên cứu tại cơ sở, lựa chọn điều tra viên, tập huấn điều tra viên về quy trình nghiên cứu, phương pháp phỏng vấn, thu thập số liệu bệnh án

Bước 2: Lập danh sách toàn bộ người bệnh tại cơ sở nghiên cứu,

rà soát các thông tin sàng lọc tiêu chuẩn người bệnh để xác định số người bệnh đủ tiêu chuẩn Các kết nối giữa mã số của người bệnh ở danh sách và mã số người bệnh ở bệnh án đã được kiểm tra kỹ càng Bước 3: 250 người bệnh được chọn ngẫu nhiên trong tổng số người bệnh đủ tiêu chuẩn bằng cách dùng phần mềm chọn ngẫu nhiên đơn trong

số 406 người bệnh đáp ứng đủ tiêu chí lựa chọn đối tượng nghiên cứu Bước 4: Lập kế hoạch, mời cán bộ mời, sắp xếp người bệnh, cán

bộ phỏng vấn, cán bộ thu thập số liệu bệnh án

Bước 5: Triển khai phỏng vấn tại phòng khám của trung tâm và trích lục thông tin bệnh án tại phòng nghiệp vụ của trung tâm theo đúng kế hoạch

1.3 Phương pháp thu thập thông tin

1.3.1 Công cụ thu thập số liệu

Các thông tin định lượng được thu thập bộ câu hỏi phỏng vấn người bệnh được xây dựng sẵn về tiền sử, lối sống, hành vi, điều trị Kết hợp với hồi cứu số liệu thứ cấp từ bệnh án qua bảng kiểm

về các thông tin về điều trị, chẩn đoán…

1.3.2 Quy trình thu thập số liệu

Lập danh sách người bệnh đã được chọn vào mẫu nghiên cứu

- Tuyển chọn và tập huấn điều tra viên: là các cán bộ y tế được chọn và đã được tập huấn kỹ lưỡng, chi tiết, thống nhất về nội dung điều tra, yêu cầu thu thập, chọn đúng thời gian để điều tra

- Nghiên cứu thử để chỉnh sửa bộ câu hỏi: Bộ câu hỏi phỏng vấn

đã được thử nghiệm trên 10 người bệnh THA được điều trị nội trú tại TTYT Tp Phủ Lý Sau đó, thảo luận, tiếp nhận các thông tin phản hồi

về bộ câu hỏi Trên kết quả thu được, nghiên cứu viên đã chỉnh sửa

và bổ sung để hoàn thiện bộ câu hỏi

- Tiến hành thu thập thông tin tại thực địa theo kế hoạch

1.4 Xử lý số liệu

- Phiếu phỏng vấn, trích lục bệnh án sau khi hoàn thành đã được kiểm tra, làm sạch, đảm bảo kết nối mã số giữa 2 phiếu này của 1 người bệnh Số liệu đã được nhập bằng phần mềm EpiData 3.0 và phân tích kết quả bằng phần mềm SPSS 20.0

Trang 10

- Áp dụng thống kê mô tả, sử dụng tần số, tỷ lệ phần trăm, phân

bố, X2 … để mô tả thực trạng của quần thể nghiên cứu Tỷ số chênh

OR, khoảng tin cậy 95% (mức ý nghĩa thống kê p) được tính toán để phân tích mối liên quan giữa các yếu tố và biến chứng tăng huyết áp của người bệnh

1.5 Đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện với sự đồng ý của lãnh đạo địa phương; TTYT Thành phố Phủ Lý; và được hội đồng đạo đức trường Đại học Thăng Long thông qua

Các đối tượng tham gia nghiên cứu đều tự nguyện, trả lời một cách trung thực, khách quan Các thông tin thu thập được đều được giữ bí mật, đảm bảo không tiết lộ

2.8 Hạn chế của đề tài

Nghiên cứu còn có những hạn chế của mô tả cắt ngang, đó là tất

cả các yếu tố nghiên cứu được xác định ở cùng một thời điểm, khó xác định được yếu tố căn nguyên

Nghiên cứu chưa thể bao gồm các đối tượng THA độ III mà mới chỉ thu thập thông tin của các người bệnh THA độ I và độ II Đây là

do nghiên cứu được thực hiện trên các đối tượng là người bệnh THA tại cộng đồng, là những người đã được điều trị THA và có mức THA

ổn định hơn những người bệnh điều trị tại bệnh viện

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thực trạng biến chứng tăng huyết áp

Nghiên cứu thực hiện trên 250 đối tượng mắc bệnh tăng huyết áp, trong đó có tới 156 đối tượng ≥60 tuổi chiếm 62,4%, 62,8% là nữ giới, 72% có trình độ THPT trở lên Tỷ lệ sử dụng BHYT người bệnh

Trang 11

Biểu đồ 3.1 Các biến chứng người bệnh gặp phải

Kết quả cho thấy, có 20,8% số người mắc phải các biến chứng về tim, tiếp theo là chứng liên quan đến mắt với tỷ lệ là 14,8%, chỉ có 9,6% số người tham gia nghiên cứu gặp các biến chứng về não Không có ghi nhận bất cứ trường hợp biến chứng thận nào (0%) Kết quả nghiên cứu cho thấy, tại thời điểm nghiên cứu, theo các chỉ số huyết áp đo được, có 66,8% số người tham gia nghiên cứu hiện đang trong tình trạng THA, chỉ có 33,2% số người có chỉ số huyết áp được đánh giá ở mức bình thường

Khi được hỏi về cách thức điều trị, có 36,8% số người cho biết họ điều trị bằng cách chỉ thực hiện thay đổi lối sống, 21,6% số người điều trị bằng cách chỉ sử dụng các loại thuốc được chỉ định, chỉ có 23,6% số người vừa kết hợp điều trị bằng thuốc và thay đổi lối sống Đặc biệt, có 18% số người cho biết họ không thực hiện các biện pháp điều trị nào

Có tới 50,8% số người bệnh chỉ sử dụng thuốc khi thấy huyết áp tăng, 25,6% số người sử dụng thuốc đều đặn hàng ngày theo đúng chỉ định và vẫn có tới 23,6% số người sử dụng thuốc điều trị THA theo cách khi nào nhớ ra thì mới sử dụng

3.2 Một số yếu tố liên quan đến biến chứng tăng huyết áp

3.2.1 Một số yếu tố liên quan đến biến chứng tim mạch

Những người ≥60 tuổi có khả năng gặp các biến chúng về tim cao gấp 3,09 lần so với những người <60 tuổi (OR=3,09; 95%CI=1,50-6,51) Những người có thời gian mắc bệnh từ 5 năm trở lên có khả năng gặp các biến chứng về tim mạch cao gấp 3,03 lần so với những người có thời gian mắc THA <1 năm (OR=3,03; 95%CI=1,11-8,28)

20.8%

9.6%

14.8%

0.0% 0%

Trang 12

Bảng 3.1 Mối liên quan giữa các yếu tố tới biến chứng tim

sử dụng thuốc và thay đổi lối sống (OR=2,55; 95%CI=1,02-6,36)

Bảng 3.2 Mối liên quan của hành vi lối sống với biến chứng tim

Ngày đăng: 10/03/2021, 23:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Mối liên quan giữa các yếu tố tới biến chứng tim - Biến chứng tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan ở người bệnh tăng huyết áp tại trung tâm y tế thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam năm 2019.
Bảng 3.1. Mối liên quan giữa các yếu tố tới biến chứng tim (Trang 12)
Bảng 3.2. Mối liên quan của hành vi lối sống với biến chứng tim - Biến chứng tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan ở người bệnh tăng huyết áp tại trung tâm y tế thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam năm 2019.
Bảng 3.2. Mối liên quan của hành vi lối sống với biến chứng tim (Trang 12)
Bảng 3.3. Mối liên quan giữa các yếu tố tới biến chứng tim - Biến chứng tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan ở người bệnh tăng huyết áp tại trung tâm y tế thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam năm 2019.
Bảng 3.3. Mối liên quan giữa các yếu tố tới biến chứng tim (Trang 13)
Bảng 3.4. Mối liên quan của hành vi lối sống với biến chứng não - Biến chứng tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan ở người bệnh tăng huyết áp tại trung tâm y tế thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam năm 2019.
Bảng 3.4. Mối liên quan của hành vi lối sống với biến chứng não (Trang 14)
Bảng 3.5. Mối liên quan giữa các yếu tố tới biến chứng mắt - Biến chứng tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan ở người bệnh tăng huyết áp tại trung tâm y tế thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam năm 2019.
Bảng 3.5. Mối liên quan giữa các yếu tố tới biến chứng mắt (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w