1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng quy trình quản lý các công trình cấp nước tập trung nông thôn áp dụng tại huyện bình lục tỉnh hà nam

92 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

[4] Công trình cấp nước tập trung nông thôn ngày càng được mở rộng nhờ kiểm soát tốt hơn cả về số lượng, chất lượng nước và thuận lợi cho người sử dụng.. không bền vững, quy trình quản l

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Nguyễn Thị Hương

XÂY DỰNG QUY TRÌNH QUẢN LÝ CÁC CÔNG TRÌNH

CẤP NƯỚC TẬP TRUNG NÔNG THÔN

ÁP DỤNG TẠI HUYỆN BÌNH LỤC, TỈNH HÀ NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Hà Nội - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Nguyễn Thị Hương

XÂY DỰNG QUY TRÌNH QUẢN LÝ CÁC CÔNG TRÌNH

CẤP NƯỚC TẬP TRUNG NÔNG THÔN

ÁP DỤNG TẠI HUYỆN BÌNH LỤC, TỈNH HÀ NAM

Chuyên ngành: Khoa học Môi trường

Mã số: 608502

Cán bộ hướng dẫn: Tiến sỹ Huỳnh Phú

Hà Nội - 2013

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN: 1

MỤC LỤC: 2

DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH: 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT: 6

MỞ ĐẦU: 7

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH CẤP NƯỚC SẠCH NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU: 9

1.1 Khái niệm về nước sạch : 9

1.2 Tổng quan tình hình cấp nước sạch nông thôn ở Việt Nam: 11

1.2.1 Đánh giá điều kiện nguồn nước ảnh hưởng đến việc cấp nước sạch: 11

1.2.2 Điều kiện KTXH tác động đến việc cấp nước sạch: 16

1.2.3 Kết quả thực hiện về cấp nước sạch ở Việt Nam: 19

1.2.4 Những vấn đề đặt ra đối với cấp nước sạch nông thôn: 29

1.2.5 Cơ sở lý luận đánh giá công trình CNTTNT theo hướng PTBV: 30

1.2.6 Phương pháp đánh giá công trình CNTTNT theo hướng PTBV: 38

1.3 Tổng quan điều kiện tự nhiên, KTXH tác động đến cấp nước sạch nông thôn tại khu vực nghiên cứu: 40

1.3.1 Điều kiện tự nhiên: 40

1.3.2 Điều kiện KTXH: 43

1.3.3 Đánh giá khả năng cấp nước cho sinh hoạt: 43

CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU : 45 2.1 Đối tượng nghiên cứu: 45

2.2 Phạm vi nghiên cứu: 45

2.3 Phương pháp nghiên cứu: 47

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN: 51

3.1 Đánh giá kết quả thực hiện cấp nước nông thôn tại khu vực nghiên cứu: 51

3.1.1 Hiện trạng sử dụng nước sinh hoạt của người dân trước năm 1990: 51

3.1.2 Kết quả thực hiện chương trình cấp nước sinh hoạt của Chính phủ từ năm 1990

Trang 4

3.2.1 Bền vững về nguồn nước: 52

3.2.2 Bền vững về quản lý, vận hành: 52

3.2.3 Bền vững khi có sự tham gia của cộng đồng: 55

3.2.4 Bền vững về tài chính: 55

3.2.5 Bền vững về công nghệ : 57

3.2.6 Bền vững về tổ chức: 58

3.2.7 Đánh giá chung sự PTBV của các công trình CNTTNT theo phương pháp trọng số: 58

3.2.8 Đánh giá tồn tại trong công tác quản lý, vận hành các công trình CNTTNT tỉnh huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam : 60

3.3 Đánh giá hiệu quả môi trường từ công trình CNTTNT: 64

3.3.1 Bảo vệ nguồn tài nguyên nước ngầm và loại bỏ ô nhiễm Asen: 64

3.3.2 Nước sạch và sức khoẻ của người hưởng lợi: 64

3.3.4 Tác dụng tích cực đến hệ thống giáo dục tại địa phương: 64

3.4 Tác động tích luỹ từ hệ thống công trình CNTTNT đến hệ thống môi trường xã hội và tài nguyên nước tại khu vực nghiên cứu: 65

3.5 Đề xuất quy trình quản lý công trình CNTTNT theo hướng PTBV áp dụng tại huyện Bình lục tỉnh Hà Nam: 68

3.5.1 Quản lý tài nguyên nước và môi trường lưu vực: 68

3.5.2 Thực hiện quy trình quản lý vận hành bền vững: 69

3.5.3 Quản lý tài chính: 70

3.5.4 Cộng đồng tham qia quản lý công trình CNTTNT: 72

3.5.5 Quản lý công nghệ trong cấp nước và bảo vệ môi trường lưu vực: 73

3.5.6 Tổ chức quản lý, vận hành công trình CNTTNT: 74

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ: 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO: 80 PHỤ LỤC

Trang 5

4 Bảng 04 Kết quả thực hiện Chương trình MTQG về Nước sạch từ 2005-2012: 20

5 Bảng 05 Điểm tổng hợp theo từng tiêu chí có gắn trọng số: 40

6 Bảng 06 Kết quả phân tích chất lượng nước tại các công trình CNTTNT khu vực nghiên cứu: 54

7 Bảng 07 Mô hình quản lý, vận hành các công trình CNTTNT tại khu vực nghiên cứu: 58

8 Bảng 08 Bảng tổng hợp kết quả đánh giá PTBV công trình theo phương pháp trọng số: 60

Trang 6

II Danh mục hình

1 Hình 01 Sơ đồ hệ thống cấp nước tập trung sử dụng nước ngầm: 24

2 Hình 02 Sơ đồ hệ thống cấp nước tập trung sử dụng nước mặt: 25

3 Hình 03 Biểu đồ phân loại các mô hình quản lý công trình CNTTNT: 26

4 Hình 04 Tiếp cận khái niệm kinh tế, xã hội, sinh thái trong PTBV: 33

5 Hình 05 Mô hình công nghệ áp dụng trước năm 2005: 57

6 Hình 6 Mô hình công nghệ áp dụng sau năm 2005: 57

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng Phát triển Châu á

AusAID Cơ quan phát triển Quốc tế Úc

CNTTNT Cấp nước tập trung nông thôn

CNH-HĐH Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá

DANIDA Cơ quan hỗ trợ phát triển Quốc tế Đan mạch

LienAID Tổ chức phát triển Singapore

UNDP Cơ quan phát triển Liên hợp quốc

UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc

VSMTNT Vệ sinh môi trường nông thôn

Trang 8

MỞ ĐẦU

Cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn đã trở thành một bộ phận quan

trọng trong chính sách phát triển nông thôn và bảo vệ môi trường trong thời kỳ công

nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay Nước sạch là nhu cầu cơ bản, có tính chất sống

còn, có tác động đến mọi lĩnh vực đời sống và sự phát triển KTXH Nâng cao số

người được sử dụng nước sạch đã được cộng đồng quốc tế quan tâm và xác định là

một trong những mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ

Ở nước ta, vấn đề cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn luôn được Đảng

và Nhà nước quan tâm, hoạch định và thực thi những chính sách phù hợp với từng

giai đoạn phát triển Điều đó được thể hiện rõ trong nhiều văn bản về chiến lược,

chính sách, kế hoạch phát triển KTXH và đã trở thành cam kết của Việt Nam với

cộng đồng quốc tế

Đến hết năm 2012, theo kết quả Chương trình MTQG Nước sạch và

VSMTNT, cả nước đã có 81% dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh,

trong đó có 42% sử dụng nước đạt QCVN 02:2009/BYT Cùng với các công trình

cấp nước nhỏ lẻ hộ gia đình, các công trình cấp nước tập trung nông thôn không

ngừng được quan tâm phát triển [4]

Công trình cấp nước tập trung nông thôn ngày càng được mở rộng nhờ kiểm

soát tốt hơn cả về số lượng, chất lượng nước và thuận lợi cho người sử dụng Nhất

là trong tình hình nguồn nước ngày càng cạn kiệt và suy thoái, công trình cấp nước

tập trung càng phát huy các ưu điểm vượt trội

Huyện Bình lục, tỉnh Hà Nam nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, có địa

hình trũng, vào trước những năm 1960, cuộc sống của người dân nông thôn ở đây

còn khó khăn Nước sinh hoạt của người dân được lấy từ 3 nguồn nước là nước

mưa, nước ao hồ, sông lạch tự nhiên, nước giếng làng (từ nước ngầm tầng nông)

Từ năm 2000 đến nay, nhờ sự hỗ trợ của Chính phủ, các nhà tài trợ và sự ưu tiên

trong chính sách đầu tư của địa phương mà nhiều công trình cấp nước tập trung đã

và đang được xây dựng nhằm phục vụ tốt hơn cuộc sống của người dân Tuy nhiên,

hiện nay, một số công trình được xây dựng đã xuống cấp, các mô hình quản lý

Formatted: Indent: Left: 0 cm, Right:

0 cm, Space After: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines

Formatted: Normal, Line spacing: 1,5

lines, Tab stops: Not at 1,27 cm

Formatted: Space After: 0 pt, Line

spacing: 1,5 lines

Trang 9

không bền vững, quy trình quản lý công trình cấp nước tập trung chưa tuân thủ các quy trình của sản xuất cung ứng nước sạch, cân đối thu chi không bảo đảm, duy tu bảo dưỡng không thường xuyên, công tác tuyên truyền vận động nhân dân hưởng ứng sử dụng nước sạch đảm bảo vệ sinh chưa thường xuyên, chất lượng nguồn nước cấp sinh hoạt cho người dân chưa đảm bảo, không phát huy hết hiệu quả sau đầu tư Đặc biệt vấn đề bảo vệ đầu nguồn, hầu hết các công trình cấp nước sử dụng nguồn nước sông tưới tiêu nông nghiệp, thiếu công tác bảo vệ khu vực đầu nguồn, làm tăng thời gian lắng lọc, tăng hóa chất xử lý, làm tăng giá thành nước sạch

Trước thực trạng đó, cần thiết thực hiện đề tài “Xây dựng quy trình quản lý

các công trình cấp nước tập trung áp dụng tại huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam”, góp

phần tạo cơ sở khoa học nâng cao chất lượng nước cấp và đề xuất những giải pháp bảo vệ nguồn tài nguyên môi trường khu vực và hướng tới phát triển phát triển bền vững Đề tài hướng tới mục tiêu nghiên cứu như sau:

- Đánh giá tổng quan tình hình sử dụng nguồn nước cho sinh hoạt của người dân trong khu vực nghiên cứu từ trước những năm 1990 và kết quả thực hiện Chương trình cấp nước sạch của địa phương từ những năm 1990 đến nay;

- Đánh giá hiệu quả hoạt động các công trình công trình CNTTNT tại khu vực nghiên cứu theo hướng PTBV;

- Xây dựng quy trình quản lý các công trình CNTTNT tại khu vực nghiên cứu theo hướng PTBV

Trang 10

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH CẤP NƯỚC SẠCH NÔNG THÔN Ở VIỆT

NAM VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm về nước sạch

- Nước sạch vừa là nhu cầu vừa là điều kiện tối cần thiết cho đời sống con người Không có nước thì không có cuộc sống trên trái đất Con người cần đến nước

từ khi mới trào đời cho đến khi mất đi Với khả năng phi thường của con người, người ta có thể nhịn ăn được 1 tháng song lại không thể chịu khát quá 1 tuần

- Nước có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống con người nhưng đó phải là nguồn nước sạch Ngược lại nếu nguồn nước bị ô nhiễm sẽ có tác hại rất lớn đối với sức khỏe của cộng đồng Nguồn nước sông ngòi, ao hồ bị ô nhiễm chủ yếu do chất thải của con người và động vật Việc ô nhiễm có lúc trở thành nguồn truyền bệnh rất nguy hiểm, lan truyền gây tử vong cho nhiều người Theo số liệu thống kê của tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì nước bẩn dùng cho sinh hoạt là nguyên nhân gây nên hơn 80% các loại bệnh tật của con người

- Theo quan niệm của WHO, nước sạch là nước không mùi, không màu, không vị và không chứa các chất tan, các vi khuẩn không nhiều quá mức cho phép

và tuyệt đối không có vi sinh vật gây bệnh Tiêu chuẩn Quốc tế là tiêu chuẩn của WHO ban hành năm 1984 về 4 mặt là: chất vô cơ tan, vi sinh vật, chất hữu cơ và vật lý

- Nước sạch của Việt Nam được định nghĩa tại Điều 3 của Luật Tài nguyên Nước được Quốc hội thông qua năm 2012 " Nước sạch là nước có chất lượng đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về nước sạch của Việt Nam"

- Bộ Y tế đã ban hành hai Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia mới là: Quy chuẩn

kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước ăn uống (QCVN 01:2009/BYT) và Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt (QCVN 02:2009/BYT), kèm theo Thông tư số 05/2009/TT-BYT ngày 17/9/2009 với 14 chỉ tiêu chất lượng (Bảng 01 dưới đây ) [7]

Trang 11

Bảng 01 Các chỉ tiêu giám sát cấp độ A theo QCVN 02:2009/BYT

Giới hạn tối đa cho phép

Phương pháp thử

Mức độ giám sát

Trang 12

1.2 Tổng quan tình hình cung cấp nước sạch nông thôn ở Việt Nam

1.2.1 Đánh giá điều kiện nguồn nước ảnh hưởng đến việc cấp nước sạch

Việt Nam có tổng diện tích 331.000 km2 trên đất liền và 1 triệu km2 diện tích lãnh hải nằm ở vĩ độ 23022 đến 8030 Bắc và kinh độ 102010 đến 109021 Đông, nằm ở Đông Nam Á với chiều dài biên giới đất liền hơn 6780km và 3260km bờ biển cùng hàng trăm đảo lớn nhỏ thuộc quần đảo Trường sa, Hoàng sa, Bạch Long vĩ với các mạng lưới Sông lớn như như sông Hồng, Sông Mê Công, Sông Mã, Sông Cả [2]

Nhận xét: Với vị trí đặc biệt đó, nguồn nước tương đối phong phú để phục vụ cho cấp nước sạch Nguồn nước chủ yếu được dùng để cấp nước sinh hoạt bao gồm nguồn nước mưa, nước mặt và nước ngầm

a Nước mưa

- Lượng mưa hàng năm của Việt Nam tương đối lớn, trung bình từ 1.800mm đến 20.000 mm song phân bố không đều cả về không gian và thời gian và tạo nên những vùng có lượng mưa lớn xen kẽ các vùng có lượng mưa nhỏ trong phạm vi toàn lãnh thổ

- Theo các tài liệu khí tượng thì nhìn chung, lượng mưa năm trung bình năm

ở Việt Nam biến đổi trong phạm vi khá lớn, từ 600  800mm ở vùng ven biển miền Trung (Bình Thuận, Ninh Thuận) đến trên 4.000  5.000mm ở các vùng Bắc Quang, Nam Châu lãnh, Trà Mi - Ba Tơ Phần lớn lãnh thổ Bắc Bộ, Tây Nguyên

và Nam Bộ có lượng mưa năm trong khoảng 1.600mm  2.400mm, trong đó: + Đồng bằng Bắc Bộ: 1.600  1.800mm

+ Đồng bằng Nam Bộ: 1.400  2.800mm [2]

- Một đặc điểm của mưa là sự phân bố không đều theo thời gian trong năm, chia 2 mùa rõ rệt phụ thuộc vào 2 mùa gió chính, đó là mùa mưa và mùa khô (mùa mưa ít) Hai mùa này khác nhau về lượng mưa, thời gian xuất hiện và kết thúc mưa, thời gian mưa và độ ổn định tương đối của mưa

Trang 13

- Mưa trong mùa khô chủ yếu là mưa phùn, lượng mưa không đáng kể vì vậy không có ý nghĩa với cung cấp nước Mưa lớn thường xuyên có khả năng xảy ra trong mùa mưa với cường độ mạnh

Nhận xét: Mùa mưa kéo dài khoảng 4  6 tháng ở Bắc Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ Ở phía đông Trường Sơn, mùa mưa rất ngắn, chỉ kéo dài khoảng 3 tháng

Vì vậy, việc sử dụng nguồn nước mưa để cấp nước cho ăn uống là có thể được nhưng để mục đích sinh hoạt khác thì không thể thỏa mãn đặc biệt trong mùa khô

Do vậy cần có các nguồn nước khác sử dụng kết hợp, bổ sung [2]

- Về chất lượng nước mặt, nhìn chung không đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng nước phục vụ cho ăn uống về khía cạnh độ trong, hàm lượng hữu cơ và vi sinh Vì vậy trước khi sử dụng cần có phương pháp xử lý nước Ở vùng cửa sông, nước biển theo thuỷ triều xâm nhập vào sông làm cho nước sông bị nhiễm mặn Vùng này không sử dụng nước mặt cho mục đích ăn uống và sinh hoạt được [12]

Nhận xét: Từ những kết quả trên cho thấy, nguồn tài nguyên nước mặt tương đối phong phú nếu được xử lý tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng nguồn nước tại chỗ cho các mục đích nói chung và ăn uống sinh hoạt nói riêng

Trang 14

phun trào xâm nhập cacbonat, biến chất và hỗn hợp) có tuổi già nhất (Ackeozoi) đến tuổi trẻ nhất (Đệ tứ)

- Theo các tác giả của Tiểu ban soạn thảo kế hoạch tổng thể cấp nước sinh hoạt nông thôn đến năm 2000, tổng trữ lượng động thiên nhiên của nước ngầm trên toàn Việt Nam là 1.513,5 m3/s (không kể phần hải đảo) và phân bố trên miền địa chất thủy văn theo (Bảng 02 dưới đây)

Bảng 02 Trữ lượng động thiên nhiên nước ngầm

Miền địa chất, thủy văn Trữ lượng động

thiên nhiên (m 3

/s)

Tỷ lệ so với trữ lượng thiên nhiên toàn lãnh thổ

(Nguồn: Cục Quản lý Tài nguyên Nước)

Với từng loại đất đá có đặc điểm thành tạo và điều kiện cung cấp nên mức độ giàu nước và khả năng khai thác cũng khác nhau Đặc trưng này được thể hiện qua

mô đun dòng chảy ngầm ( Bảng 03)

Trang 15

2,5 4.690

2  20 3.147

2  20 20.753

2  20 6.182

2  10 12.382

2  10 3.300

2  20 18.665

2  10 3.360

2  20 5.290

2  20 14.200

2  10 7.420

Nam Trung Bộ 2 10

15.340

2  10 19.875

2  7 19.725

2  20 8.300

2  20 22.165

Đồng bằng

Nam Bộ 0,05 0,005

54.000

(Nguồn: Cục quản lý Tài nguyên Nước)

- Về chất lượng nước với những công trình khai thác nước với chiều sâu tương đối lớn có thể sử dụng trực tiếp cho sinh hoạt không cần phải xử lý Trừ những vùng nước ngầm bị nhiễm mặn không đáp ứng nhu cầu cho mục đích ăn uống, còn lại các thành phần hóa học khác phần lớn tương đối phù hợp với cơ thể con người Nhiều nơi trong nước ngầm, hàm lượng sắt thường lớn hơn giới hạn cho phép (Fe > 0,5 mg/1) nên cần xử lý nước trước khi sử dụng

d Đánh giá về ảnh hưởng của nguồn nước đến việc cấp nước sạch

- Lượng mưa hàng năm của Việt Nam thuộc loại tương đối lớn (1.800mm - 2.000mm) với chất lượng nước tốt để phục vụ cho cấp nước sinh hoạt Song do phân bố không đều theo không gian và thời gian Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 11 chiếm từ 70% đến 80%, mùa kiệt từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau lượng mưa chỉ

Trang 16

chiếm khoảng 20% - 30% Do vậy, cần có các giải pháp thu hứng nước mưa, xây dựng các công trình thủy lợi (Hồ chức, đập dâng ) để kết hợp việc thu giữ nước cấp nước sinh hoạt kết hợp tưới tiêu vào mùa khô

- Lượng mưa cao tạo thuận lợi cho mạng sông suối phát triển với mật độ cao (thay đổi từ 0,15km/km2

đến hơn 2km/km2) với tổng lưu lượng dòng chảy rất lớn Chỉ tính 10 con sông lớn nhất đã có lưu lượng dòng chảy của sông có thể cung cấp khoảng 12m3/người-ngày so với nhu cầu sử dụng nước cho mục đích sinh hoạt trung bình cao là 0,1 m3/người/ngày [9]

- Chất lượng nước mặt nhìn chung biến đổi mạnh, dễ bị ô nhiễm nên sử dụng cho mục đích ăn uống và sinh hoạt cần thiết phải có biện pháp xử lý nước và không kinh tế Ở nhiều vùng nguồn nước mặt bị xâm nhập mặn (khoảng 100 km ở đồng bằng sông Cửu Long và 40 km ở đồng bằng sông Hồng), bị nhiễm hóa chất, chất thải công nghiệp và sinh hoạt nặng nề không sử dụng được để cấp nước Ngoài ra lũ lụt gây nhiều khó khăn cho việc khai thác nước mặt ở vùng trũng đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long và ven biển Bắc trung bộ

- Trên toàn lãnh thổ, khoảng 75% là vùng núi và trung du được cấu thành từ các loại đá cứng và 25% là vùng đồng bằng, ven biển được thành tạo từ các loại bồi tích bở rời của sông và biển

- Nước ngầm tồn tại trong các trầm tích bở rời là nguồn nước chủ yếu, phân

bố khá đồng đều và dễ khai thác Nước ngầm trong các loại đá cứng có trữ lượng hạn chế hơn, phân bố rất không đồng đều theo không gian và khó khăn trong khai thác

- Chất lượng nước ngầm tương đối tốt và phù hợp với nhu cầu sinh hoạt của con người trừ một số vấn đề sau đây ở những phạm vi nhất định:

+ Nhiễm mặn chủ yếu ở phần ven biển đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long

+ Hàm lượng sắt và mangan cao nên cần phải xử lý trước khi sử dụng Hiện tượng này phổ biến ở hầu hết 2 đồng bằng (sông Hồng và sông Cửu Long) tuy nhiên các công nghệ xử lý tương đối đơn giản, không quá tốn kém

Trang 17

+ Ảnh hưởng của việc sử dụng ngày càng gia tăng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu

Kết luận chung: Tài nguyên nước của Việt Nam có khả năng thỏa mãn nhu cầu ăn uống và sinh hoạt của người dân nông thôn nói riêng và toàn quốc nói chung nếu được xử lý tốt Tuy nhiên do sự phân bố không đồng đều theo không gian và thời gian cũng như những vấn đề về chất lượng nước nên cần phải khai thác sử dụng một cách hợp lý để đạt hiệu quả về kinh tế - kỹ thuật và không làm suy kiệt và

- Bắt đầu từ năm 1982, chương trình do UNICEF tài trợ triển khai có tính thử nghiệm về mô hình cấp nước đối với hộ dân ở một số vùng kinh tế mới tại 3 tỉnh Minh Hải (Bạc Liêu và Cà Mau), Kiên Giang và Long An Sau đó, dự án phát triển dần và mở rộng trên phạm vi cả nước vào năm 1987 Từ đó cho đến năm 1994, Chương trình nước sạch nông thôn chủ yếu làm nhiệm vụ tiếp nhận viện trợ của UNICEF để xây dựng các công trình cấp nước với mục tiêu là giúp đỡ người nghèo, phụ nữ và trẻ em ở các vùng sâu, vùng xa và vùng miền núi khó khăn Các loại hình công trình cấp nước giai đoạn này nhìn chung có qui mô nhỏ, kỹ thuật công nghệ đơn giản, giá thành thấp Việc quản lý vận hành bảo dưỡng các công trình cũng đơn giản nhất là đối với các công trình cấp nước tự chảy

- Cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế và quá trình đô thị hóa - hiện đại hóa nông thôn Việt Nam, nhiều cụm dân cư tập trung, nhiều thị trấn thị tứ mới được hình thành làm tăng nhanh nhu cầu cung cấp nước sinh hoạt Do đó phương thức

Trang 18

cung cấp nước sinh hoạt cũng đòi hỏi phải có sự thay đổi cho phù hợp với thời kỳ CNH - HĐH đất nước

- Để đáp ứng yêu cầu trên Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị 200/TTg ngày 29/4/1994 về đảm bảo nước sạch cho người dân và phê duyệt Chương trình MTQG tại Quyết định số 237/1998/QĐ-TTg ngày 03/12/1998 và Chiến lược Quốc gia Nước sạch Việt Nam đến năm 2020 tại Quyết định số 104/2000/QĐ-TTg ngày 20/8/2000 Từ đó đến nay, Chương trình thực sự có sự biến đối cả về lượng và chất Việc thực hiện mục tiêu của Chương trình cũng là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện vấn đề xóa đói giảm nghèo đang được Chính phủ coi là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước Chính phủ đã xây dựng và phê duyệt Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo tại Quyết định số 2685/VPCP-QHQT ngày 21/5/2000 với mục tiêu đến 2005 có 60% dân nông thôn có nước sạch và đến năm 2010 đảm bảo 80% dân số nông thôn được

sử dụng nước hợp vệ sinh Chương trình MTQG cấp Nước sạch và VSMTNT còn đóng vai trò quan trọng và góp phần thực hiện công cuộc CNH-HĐH nông thôn Việt Nam

b Điều kiện KTXH vùng nông thôn ảnh hưởng đến cấp nước sạch

- Trong 13 năm trở lại đây, tình hình kinh tế xã hội Việt Nam mặc dù phải đối mặt với những khó khăn thách thức to lớn nhưng nhờ thực hiện các chính sách

và giải pháp phù hợp, phát huy nội lực kết hợp với sự hỗ trợ có hiệu quả của cộng đồng Quốc tế nên nền kinh tế Việt Nam đã phát triển khá Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong 10 năm qua là 7,5%/năm Đối với nông nghiệp được duy trì và phát triển khá cao, tác động có tính quyết định cho công cuộc xóa đói giảm nghèo thông qua an ninh lương thực, tạo việc làm và tăng thu nhập cho dân cư nông thôn Sản xuất nông nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng khá và toàn diện, bình quân 1991 - 2000 đạt 5,6% Lương thực có hạt bình quân đầu người từ 303kg năm 1990 lên 440 vào năm 2000 Kinh tế nông thôn phát triển đa dạng hơn, nhiều vùng sản xuất nông sản hàng hóa qui mô lớn gắn với công nghiệp chế biến; các làng nghề dần được khôi phục và phát triển; sản xuất trang trại phát triển nhanh Đời sống của người dân

Trang 19

nông thôn đã được cải thiện do kết quả của một số Chương trình dự án lớn được triển khai Trong đó có Chương trình MTQG cấp Nước sạch và VSMTNT

- Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam phát triển chưa vững chắc Năm 2001, tăng 6,8% chưa đạt được mức tăng trưởng của những năm giữa thập kỷ 90 vì những yếu tố không thuận lợi do thiên tai gây ra Trong nông nghiệp chuyển đổi cơ cấu kinh tế còn chậm, lao động thiếu việc làm và không có tay nghề cao, năng suất lao động thấp, một số sản phẩm tiêu thụ còn khó khăn Môi trường bị xuống cấp, tài nguyên bị khai thác quá mức và cạn kiệt; điều kiện vệ sinh môi trường nông thôn, vùng miền núi còn thấp kém Phần lớn thu nhập của người dân vùng nông thôn thấp

do điều kiện nguồn lực hạn chế (đất đai, lao động, vốn ) nhất là vùng thường xuyên bị thiên tai, vùng miền núi vùng sâu vùng xa còn nhiều khó khăn Tỷ lệ đói nghèo còn cao (năm 2000 là 17,2% số hộ trên toàn quốc)

- Thiếu các cơ chế chính sách nhằm thu hút được sự đầu tư từ các thành phần kinh tế đặc biệt là khu vực tư nhân [2]

c Đánh giá điều kiện KTXH vùng nông thôn ảnh hưởng đến nhiệm vụ giải quyết nước sạch [16]

- Giải quyết nước sạch và ở vùng nông thôn Việt Nam có vị trí đặc biệt quan trọng vì đây là nhu cầu cơ bản thiết yếu của mọi người của tất cả các quốc gia trên thế giới Đặc biệt đối với Việt Nam nó trở thành công cụ quan trọng để thực hiện Chiến lược về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo đồng thời góp phần quan trọng vào công cuộc CNH- HĐH nông thôn Việt Nam Điều này đã được thể hiện tại các quyết định của Chính phủ và chính sách ưu tiên đầu tư

- Mặc dù là nhu cầu thiết yếu cơ bản của cuộc sống song do hạn chế về nguồn lực (vốn, lao động, đất đai ) cũng như nhận thức của người dân nông thôn nên để đẩy nhanh tốc độ cung cấp nước sinh hoạt cho người dân nông thôn bên cạnh việc hình thành một hệ thống chính sách nhất là chính sách đầu tư để tạo hành lang pháp lý nhằm thu hút sự đầu tư của mọi thành phần kinh tế còn cần phải thực hiện tốt việc nâng cao hiệu quả đầu tư Trong đó bao gồm cả quan tâm đến vấn đề PTBV của các công trình đã được xây dựng, kết hợp với tuyên truyền giáo dục nâng

Trang 20

cao nhận thức của cộng đồng để họ từ chỗ thụ động trông chờ vào nhà nước trở nên

tự giác tham gia tích cực vào Chương trình cấp nước

1.2.3 Kết quả thực hiện cấp nước sạch nông thôn ở Việt Nam

- Chiến lược Quốc gia về cấp nước và vệ sinh nông thôn Việt Nam đến năm

2020 được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 104/2000/TTg ngày 20/8/2000 với các mục tiêu:

+ Đến năm 2010 đảm bảo 80% dân nông thôn được cấp nước sạch sinh họat với tiêu chuẩn 60l/người/ngày

+ Đến năm 2020 đảm bảo hầu hết người dân nông thôn được đảm bảo việc cung cấp nước sạch đạt Quy chuẩn Quốc gia

- Đến nay, Chương trình đã thực hiện được gần 13 năm và đã đạt được một

số kết quả đáng kể, góp phần cải thiện điều kiện sống của người dân và làm thay đổi

bộ mặt của vùng nông thôn Việt Nam [4]

Trang 21

Bảng 04 Kết quả thực hiện mục tiêu Chương trình MTQG về Nước sạch

(2005 - 2012)

Dân số nông thôn đến năm

(Nguồn: Chương trình MTQG nước sạch và VSMTNT)

Nhận xét: Nhờ có chủ trương ưu tiên đầu tư của Chính phủ đã làm tăng nhanh tốc độ giải quyết nước sinh hoạt cho các vùng trọng điểm như vùng Miền núi phía bắc và Đồng bằng sông Cửu long đã có mức tăng trưởng cao nhất (46% so với bình quân 45% của cả nước) Trong đó, các địa phương có tỷ lệ người được cấp nước sinh hoạt cao như: tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (96%); Bình Dương (97%); Hà Nam (75%); Hải Phòng (93%)

- Qua thời gian triển khai Chương trình, cho thấy nguồn vốn ngân sách và Quốc tế chỉ đáp ứng được 60% so với nhu cầu để đạt được mục tiêu của Chương trình Do vậy tốc độ tăng trưởng tỷ lệ người được cấp nước sinh hoạt không chỉ phụ thuộc vào khả năng hỗ trợ ngân sách của nhà nước mà còn phụ thuộc vào thu nhập, mức sống của người dân, tính hiệu quả của đầu tư, tính bền vững của công trình sau xây dựng, trình độ nhận thức của dân

Trang 22

1.2.3.2 Kết quả về huy động nguồn lực

- Từ trước những năm 1993, nguồn vốn đầu tư cho Chương trình chủ yếu là vốn viện trợ của UNICEF và một phần vốn đối ứng của Chính phủ Tuy nhiên, ở mức độ rất hạn chế so với nhu cầu; Chương trình MTQG Nước sạch VSMTNT; Chiến lược Quốc gia đã được Chính phủ phê duyệt, bên cạnh nguồn vốn ngân sách của nhà nước tăng đều mỗi năm (từ 120% - 130%), nguồn vốn Quốc tế cũng tăng đáng kể Từ chỗ chỉ có nguồn viện trợ của UNICEF là chủ yếu, đến nay Chương trình đã nhận được sự viện trợ của các tổ chức như DANIDA, JICA, ADB, WB, CEDIF, AusAID và các tổ chức phi chính phủ khác Thông qua các hoạt động tuyên truyền giáo dục, nhận thức của người dân cũng được tăng lên rõ rệt Từ chỗ chỉ trông chờ vào nhà nước, đến nay ở nhiều vùng người dân đã tự giác tham gia và đóng góp kinh phí công sức của mình để cải thiện điều kiện về cấp nước và vệ sinh cho gia đình

- Kết quả về huy động nguồn lực sau 13 năm thực hiện theo Chương trình MTQG như sau: [3], [4]

+ Tổng mức đầu tư khoảng: 52.500 tỷ đồng trong đó:

+ Ngân sách Trung ương hỗ trợ: 16.000 tỷ đồng (chiếm 31%)

+ Ngân sách địa phương: 5.200 tỷ đồng (chiếm 10%)

+ Quốc tế tài trợ: 10.000 tỷ đồng (chiếm 19%)

+ Quỹ tín dụng ưu đãi : 15.300 tỷ đồng (chiếm 29%)

+ Tín đóng góp và dân tự làm: 6.000 tỷ đồng (chiếm 11%)

- Tuy nhiên, để thực hiện được MTQG đã được Chính phủ phê duyệt, với nguồn lực trên mới chỉ đáp ứng được 60% trong đó nguồn vốn ngân sách mới đáp ứng được khoảng 31% so với nhu cầu Vì vậy, Chương trình MTQG đang nghiên cứu xây dựng để trình Chính phủ Nghị định xã hội hóa Chương trình cấp nước sạch Trong đó, việc xây dựng cơ chế tín dụng ưu đãi nhằm huy động nguồn lực từ các thành phần kinh tế bao gồm cả khu vực tư nhân và người sử dụng để đầu tư cho Chương trình [3], [4]

Trang 23

1.2.3.3 Kỹ thuật công nghệ áp dụng [17]

Trong những năm qua, nhiều loại hình công nghệ đã được áp dụng theo hướng đa dạng hóa, phù hợp với điều kiện, phong tục tập quán và khả năng tài chính của từng vùng Bên cạnh việc áp dụng công nghệ mới để góp phần CNH-HĐH nông thôn còn tập trung vào nâng cao và cải tiến các công nghệ truyền thống Các mô hình công nghệ cấp nước được áp dụng tại nông thôn, bao gồm:

a Công trình cấp nước nhỏ lẻ

Giếng khoan nhỏ bơm tay, bơm điện; giếng khơi và giếng đào; giếng mạch

lộ, lu và bể chứa nước mưa Loại hình công trình cấp nước nhỏ lẻ chỉ phù hợp với vùng dân cư phân tán, trình độ khoa học kỹ thuật thấp

b Công trình cấp nước tập trung

Đây là giải pháp cấp nước hoàn chỉnh tương tự cấp nước tại các thành phố Trong điều kiện nông thôn Việt Nam giải pháp này đã được sử dụng và phát triển Theo kết quả Chương trình MTQG Nước sạch và VSMTNT, đến hết năm 2012, tổng cả nước có khoảng 10.782 công trình cấp nước tập trung đang hoạt động Các

mô hình cấp nước tập trung bao gồm:

- Hệ thống cấp nước tự chảy:

+ Từ nguồn nước ngầm (mạch lộ) hoặc nước mặt (khe, suối ) ở trên các vị trí cao sau khi được tập trung và xử lý nước ở các công trình đầu mối được dẫn xuống các khu vực dân cư ở phía dưới bằng trọng lực theo các đường ống dẫn kín bằng nhựa HDPE hoặc ống sắt tráng kẽm (GI) Các điểm dùng nước được cấu tạo bằng các cụm vòi hoặc các bể nhỏ tại các cụm dân cư hoặc đến từng hộ gia đình + Tuỳ thuộc vào lưu lượng nguồn nước, chênh lệch độ cao và khoảng cách đến điểm dân cư và mật độ dân cư mà quy mô của hệ thống dẫn nước tự chảy thay đổi từ nhỏ đến lớn và có thể cung cấp cho vài chục, vài trăm người tới hàng ngàn người Tuy nhiên do hệ thống dẫn nước tự chảy thích hợp với vùng núi phía Bắc và Tây Nguyên, nơi mật độ phân bố dân cư không lớn vì vậy thường có quy mô từ nhỏ đến trung bình

Trang 24

+ Những ưu điểm nổi bật của cung cấp nước bằng tự chảy gồm: Chi phí xây

dựng thường thấp, nước cung cấp thường xuyên trong cả ngày và đêm; Chi phí vận

hành và bảo dưỡng rất thấp, thậm chí nhiều trường hợp rất thấp do không cần điện

năng, nước chảy theo trọng lực và cấu thành hệ thống tự chảy đơn giản và phù hợp

với phong tục tập quán sử dụng nước của đồng bào dân tộc ít người Điểm chủ yếu

cần phải chú trọng khi xây dựng các hệ thống dẫn nước tự chảy là sự ổn định lưu

lượng và chất lượng nguồn nước Nguồn nước cấp cho các hệ thống dẫn nước tự

chảy thường bị ảnh hưởng của các yếu tố thời tiết và thay đổi tương đối lớn, mặt

khác do các hoạt động của con người như phá rừng, đốt rừng trồng nương rẫy

- Hệ thống bơm dẫn:

+ Đây là các hệ thống cấp nước tập trung có nguồn nước là các giếng khoan

đường kính lớn hoặc sông, hồ, suối Nước có thể phải xử lý hoặc không Sau đó

được đẩy vào hệ thống ống dẫn bằng các máy bơm áp lực Nước theo ống dẫn tới

các điểm dùng tập trung hoặc các hộ gia đình

+ Loại hình công nghệ cấp nước này rất phù hợp với vùng tập trung cư dân

như thị xã, thị trấn, huyện lỵ và trung tâm các xã, mặt khác giảm được nguy cơ ô

nhiễm môi trường và nâng cao mức độ phục vụ Với những ưu điểm trên số lượng

các hệ thống bơm dẫn nước ngày càng phát triển mạnh mẽ trên khắp các vùng nông

thôn và càng được hiện đại hoá bởi các thiết bị và công nghệ xử lý nước có khả

năng cung cấp nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế như hệ thống cấp nước

huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An (thiết bị của hãng Vector Venture - Mỹ)

- Công trình cấp nước tập trung nông thôn:

Là công trình hạ tầng cung cấp nước, có hệ thống phân phối nước đến khách

hàng dùng nước khu vực nông thôn nhằm phục vụ nhu cầu nước để sinh hoạt, bao

gồm công trình sử dụng nước ngầm và nước mặt

* Hệ thống cấp nước tập trung sử dụng nước ngầm

+ Là hệ thống cấp nước cho nhiều hộ gia đình; nước bơm từ giếng khoan

(nguồn nước ngầm), sau xử lý (nếu cần) được dẫn đến các hộ sử dụng bằng bơm

điện và hệ thống đường ống dẫn nước

Formatted: Right: -0 cm, Space

Before: 0 pt, After: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines

Trang 25

Hình 01 Sơ đồ hệ thống cấp nước tập trung sử dụng nước ngầm

(Nguồn: Trung tâm Quốc gia Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn)

+ Nguyên lý hoạt động

Nước được bơm từ giếng khoan khai thác lên công trình xử lý Nước sau xử

lý được đưa về bể chứa nước sạch bằng hệ thống đường ống kỹ thuật Sau đó, nước được cung cấp tới các hộ tiêu thụ bằng hệ thống đường ống có đài nước hoặc không

có đài nước

Trường hợp có đài nước: nước từ bể chừa được bơm lên đài, đài nước sẽ làm nhiệm vụ điều hoà áp lực và phân phối lưu lượng Trong trường hợp này bơm làm việc theo một chế độ, dùng để bơm nước lên đài khi cần thiết

Trường hợp không có đài nước: nước từ bể chứa được bơm trực tiếp vào mạng lưới ống phân phối, cung cấp nước cho các hộ sử dụng Trong trường hợp này, bơm làm việc theo nhiều chế độ khác nhau tuỳ thuộc vào nhu cầu sử dụng nước

* Hệ thống cấp nước tập trung sử dụng nước mặt

+ Là hệ thống cấp nước cho nhiều hộ gia đình; nước được bơm từ sông, hồ sau khi xử lý được dẫn đến các hộ sử dụng bằng bơm điện và hệ thống đường ống dẫn nước

Giếng

khoan

Trạm bơm cấp I

Dàn mưa (Tháp làm thoáng)

Bể lắng (Lọc nổi)

Bể lọc nhanh

Điểm

tiêu thụ

nước

Mạng lưới đường

Trạm bơm cấp

II

Đài nước

khử trùng

Bể chứa nước sạch

Trang 26

Hình 02 Sơ đồ hệ thống cấp nước tập trung sử dụng nước mặt

(Nguồn: Trung tâm Quốc gia Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn)

+ Nguyên lý hoạt động:

Nước được bơm từ nguồn (sông, suối, hồ) về hồ sơ lắng sau đó được bơm

lên công trình xử lý Nước sau xử lý được đưa về bể chứa nước sạch bằng hệ thống

đường ống kỹ thuật Sau đó, nước được cung cấp tới các hộ tiêu thụ bằng hệ thống

đường ống có đài nước hoặc không có đài nước

Trường hợp có đài nước: nước từ bể chừa được bơm lên đài, đài nước sẽ làm

nhiệm vụ điều hoà áp lực và phân phối lưu lượng Trong trường hợp này bơm làm

việc theo một chế độ, dùng để bơm nước lên đài khi cần thiết

Trường hợp không có đài nước: nước từ bể chứa được bơm trực tiếp vào

mạng lưới ống phân phối, cung cấp nước cho các hộ sử dụng Trong trường hợp

này, bơm làm việc theo nhiều chế độ khác nhau tuỳ thuộc vào nhu cầu sử dụng

nước

1.2.3.4 Các mô hình quản lý vận hành công trình cấp nước tập trung [17]

Trạm bơm cấp

I

Bể phản ứng

Bể lắng (Lọc nổi) Bể lọc

Trạm bơm cấp

II

Đài nước

khử trùng

Bể chứa nước sạch

Formatted: Level 4, Space Before: 0

pt, After: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines

Trang 27

- Mô hình quản lý công trình cấp nước tập trung: Là các tổ chức, cá nhân

được giao quản lý, khai thác, sử dụng công trình cấp nước tập trung nông thôn và

thực hiện việc bán nước sinh hoạt trực tiếp đến khách hàng sử dụng nước

- Theo phân cấp quản lý, công trình CNTTNT đang được quản lý, vận hành

theo nhiều mô hình tổ chức, ngay một tỉnh cũng có những mô hình tổ chức quản lý

khác nhau Những mô hình hiện hành: (i) Cá nhân; (ii) Hợp tác xã, (iii) Uỷ ban

nhân dân xã, (iv) Cộng đồng; (v) Đơn vị sự nghiệp công lập, bao gồm: Trung tâm

nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, Ban quản lý công trình hạ tầng huyện,

(vi) Doanh nghiệp, bao gồm: Công ty cổ phần, trách nhiệm hữu hạn, trách nhiệm

hữu hạn nhà nước một thành viên, quản lý khai thác công trình thủy lợi…[17]

- Theo số liệu thu thập và điều tra phân tích các công trình CNTTNT, tỷ lệ

các loại mô hình quản lý như sau: Cộng đồng chiếm 40%, HTX chiếm 4% , UBND

xã chiếm 22%, cá nhân chiếm 7%, đơn vị sự nghiệp 21% và doanh nghiệp 6% [17]

Hình 03 Biểu đồ phân loại mô hình quản lý công trình CNTTNT

(Nguồn: Trung tâm Quốc gia Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn)

a Cá nhân quản lý, vận hành

Mô hình cá nhân quản lý là mô hình công trình CNTTNT được cá nhân đầu

tư và quản lý vận hành hoặc do nhà nước đầu tư sau đó giao cá nhân quản lý vận

hành theo phương thức đấu thầu, đặt hàng hoặc giao trực tiếp nhưng không (hoặc

Formatted: Space After: 0 pt, Line

spacing: 1,5 lines, Pattern: Clear (White)

Formatted: Normal, Space Before: 6

pt, Line spacing: 1,5 lines

Formatted: Normal, Justified, Indent:

First line: 1,27 cm, Line spacing: 1,5 lines, Tab stops: 0 cm, Left

Trang 28

chưa) thành lập doanh nghiệp Mô hình cá nhân quản lý thích hợp với các hệ thống

CNTT có quy mô nhỏ, công nghệ đơn giản Công suất khai thác khá triệt để, tiền

nước thu theo quy định cũng ít thất thoát, công tác vận hành bảo dưỡng được quan

tâm, thái độ phục vụ và quan hệ khách hàng tốt Hiện mô hình này bị hạn chế do cơ

chế tài chính chưa đảm bảo, cụ thể là giá nước chưa được tính đúng tính đủ các chi

phí hợp lý, trong khi chính sách cấp bù theo quy định lại không được thực hiện

b Hợp tác xã quản lý, vận hành

Mô hình Hợp tác xã quản lý vận hành công trình CNTTNT là mô hình của

những người cùng có nhiệm vụ và lợi ích trong hệ thống cấp nước thành lập với sự

hỗ trợ của chính quyền xã, hoạt động theo Luật Hợp tác xã Mô hình này khá phổ

biến ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng, miền Trung, các khu vực khác không nhiều

Mô hình HTX phù hợp với công trình cấp nước quy mô nhỏ, HTX có thể thực hiện

nhiều hoạt động kinh tế khác nhau như điện, thủy lợi, nước sinh hoạt, thu gom rác

thải, vệ sinh, kinh doanh vật tư, nông sản, hàng hóa để có thể hỗ trợ nhau trong

các hoạt động

c Uỷ ban nhân dân xã quản lý, vận hành

Mô hình này được hình thành trên cơ sở quyết định của UBND tỉnh giao

công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn đã đầu tư cho địa phương quản lý, vận

hành Theo đó, UBND xã thành lập ban quản lý công trình CNTTNT giúp UBND

xã quản lý trực tiếp các CTCNTT trong xã Mô hình UBND xã quản lý đang tồn tại

ở khắp các vùng trên cả nước Các công trình do mô hình UBND xã quản lý trực

tiếp khảo sát đều rơi vào tình trạng yếu kém cần phải củng cố, có nguy cơ không

hoạt động trong khi nhu cầu dùng nước của người dân rất cao

d Cộng đồng quản lý, vận hành

Mô hình này được hình thành trên cơ sở quyết định của UBND tỉnh giao

công trình cấp nước nông thôn đã hoàn thành đầu tư cho cộng đồng địa phương tự

quản lý, vận hành Theo quyết định của tỉnh, các thôn, bản họp bàn và bầu ra tổ, ban

quản lý Trưởng ban quản lý thường được gắn với trưởng hoặc phó thôn, bản Một

vài cán bộ không chuyên trách cũng được hội nghị thôn bản cử ra để quản lý Mô

Formatted: Indent: First line: 1,27

cm, Space Before: 0 pt, After: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines

Formatted: Normal, Justified, Line

spacing: 1,5 lines

Formatted: Indent: First line: 1,27

cm, Space Before: 0 pt, After: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines

Formatted: Normal, Justified, Line

spacing: 1,5 lines

Formatted: Indent: First line: 1,27

cm, Space Before: 0 pt, After: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines

Trang 29

hình cộng đồng quản lý đang được áp dụng ở các công trình cấp nước sinh hoạt

nông thôn quy mô nhỏ phục vụ hộ, nhóm hộ với công nghệ hết sức đơn giản, chi

phí quản lý vận hành không lớn Hầu hết các công trình CNTTNT tự chảy khu vực

các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, miền núi ở các tỉnh miền Trung đang áp

dụng mô hình cộng đồng quản lý

e Đơn vị sự nghiệp có thu quản lý, vận hành

Mô hình đơn vị sự nghiệp có thu quản lý vận hành công trình CNTTNT đang

được áp dụng ở nhiều tỉnh với 2 kiểu tổ chức chính: Trung tâm Nước sạch và

VSMTNT tỉnh và Ban quản lý công trình hạ tầng huyện, hoạt động theo Nghị định

số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ

Mô hình đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động có hiêu quả khi quản lý các công

trình CNTT quy mô vừa và lớn, có kỹ thuật phức tạp trong phạm vi cả tỉnh hoặc

trong nhiều huyện thuộc tỉnh Nhờ có bộ máy quản lý đồng bộ nên tính chuyên

nghiệp cao, có điều kiện áp dụng những tiến bộ khoa học, công nghệ vào quản lý,

có cơ chế tài chính được quản lý chặt chẽ theo quy định của pháp luật, có sự hỗ trợ

nhất định từ ngân sách nhà nước với mức độ khác nhau Mô hình này nhìn chung

được sự quan tâm của chính quyền địa phương trong các hoạt động Chất lượng

nước được kiểm tra từ khâu sản xuất và bởi cơ quan quản lý nhà nước có thẩm

quyền Quan hệ với khách hàng bắt đầu chuyển sang phương thức dịch vụ và nhờ

đó chất lượng dịch vụ như thời gian cấp nước, áp lực nước, chất lượng nước, công

tác duy tu sửa chữa…đều được nâng lên

f Doanh nghiệp quản lý, vận hành

Mô hình doanh nghiệp quản lý công trình CNTTNT hiện nay khá phong phú

về chủng loại, quy mô và cơ chế quản lý Đó là công ty tư nhân (bao gồm công ty tư

nhân bỏ vốn đầu tư và quản lý vận hành, công ty tư nhân nhận quản lý vận hành

công trình có vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước), công ty TNHH một thành viên,

công ty nhà nước, công ty cổ phần

Formatted: Normal, Justified, Line

spacing: 1,5 lines

Formatted: Indent: First line: 1,27

cm, Space Before: 0 pt, After: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines

Formatted: Normal, Justified, Line

spacing: 1,5 lines

Formatted: Indent: First line: 1,27

cm, Space Before: 0 pt, After: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines

Trang 30

Mô hình doanh nghiệp là mô hình có tính chuyên nghiệp cao, phù hợp với chủ trương xã hội hoá hoạt động cấp nước, có phương thức hoạt động mang tính dịch vụ hàng hoá, tạo sự bình đẳng đối với đơn vị dịch vụ và khách hàng

1.2.3.5 Công tác quản lý quy hoạch

Công tác quy hoạch được xác định là một khâu quan trọng và là căn cứ để giúp cho các nhà hoạch định chính sách đồng thời là công cụ quan trọng trong công tác lập kế hoạch 5 năm và hàng năm

Công tác quy hoạch cung cấp nước sạch nông thôn chỉ thực sự được chú trọng và đẩy mạnh từ năm 1998 đến nay, sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 32/1998/CT-TTg ngày 23/9/1998 về công tác quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ đến năm 2010 và phê duyệt Chương trình MTQG Nước sạch và VSMTNT đến năm 2005

Nhận xét: Mặc dù công tác quy hoạch đã được lập hầu hết ở các tỉnh nhưng hạn chế ở một số điểm sau:

- Những quy hoạch được duyệt, song trong công tác kế hoạch hóa của ngành chưa hoàn toàn tuân thủ theo qui hoạch Tính khả thi và các điều kiện thực hiện quy hoạch ở một số không nhỏ các bản quy hoạch chưa được chỉ rõ Vì vậy, tác dụng của qui hoạch trong việc chỉ đạo và làm căn cứ cho việc xây dựng kế hoạch còn nhiều hạn chế

- Quy hoạch cung cấp nước sạch là một nội dung mới và khó khăn Mặt khác các bản quy hoạch được soạn thảo trong điều kiện chưa có những văn bản quy định

có hiệu lực hướng dẫn chi tiết nội dung và phương pháp lập quy hoạch; chưa có tài liệu về phương pháp luận lập quy hoạch nên không tránh khỏi sự thiếu thống nhất, thiếu đồng nhất, thiếu nhất quán

1.2.4 Những vấn đề đặt ra đối với cấp nước sạch nông thôn ở Việt Nam

- Sau 13 năm thực hiện Chương trình nước sạch , tỷ lệ người dân nông thôn được cung cấp nước sạch cho sinh hoạt tăng lên rõ rệt cả về số lượng và chất lượng, điều kiện về vệ sinh ở vùng nông thôn đã được cải thiện, đặc biệt là nhận thức của người dân, các cấp, các ngành đã chuyển biến rõ rệt Nhiều địa phương đã đưa mục

Trang 31

tiêu người dân được cấp nước sạch thành mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh

và đưa vào nghị quyết của Hội đồng nhân dân Một số tỉnh và địa phương đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn và các qui định cụ thể để các thành phần kinh tế có thể tham gia đầu tư cho chương trình Nhiều mô hình về quản lý, khai thác, huy động vốn đã được hình thành và triển khai tốt ở một số địa phương Những kết quả trên đã tạo nên việc đổi mới bộ mặt nông thôn góp phần thực hiện công cuộc CNH-HĐH nông thôn Việt Nam

- Tuy nhiên, hoạt động của Chương trình cũng còn thể hiện một số yếu kém cần phải được nghiên cứu xem xét: công tác kế hoạch còn chưa thực sự gắn kết với Qui hoạch của ngành và của vùng; công tác giám sát đánh giá về số lượng và chất lượng nước còn yếu và thiếu; các cơ chế chính sách nhất là cơ chế đầu tư còn thiếu

và chưa đồng bộ Vấn đề phổ biến và áp dụng các kỹ thuật công nghệ thích hợp đến với người dân còn chậm [3]

- Đặc biệt, công tác quản lý vận hành bảo dưỡng công trình sau xây dựng chưa thực sự được quan tâm theo hướng khai thác bền vững nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư góp phần tăng khả năng phục vụ của các công trình Điều này càng có ý nghĩa quan trọng trong tình hình hạn hẹp về vốn đầu tư như hiện nay và chủ trương

Xã hội hóa việc cấp nước sạch thông qua việc hình thành "thị trường nước và

VSMTNT" Việc tổ chức quản lý, điều hành chưa được quan tâm đúng mức; các quy

định giá bán nước, phí thu dọn vệ sinh chưa xuất phát từ giá thành nên không khuyến khích được người bán và người mua Tất cả các yếu tố trên đều là những nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến sự PTBV của các công trình CNTTNT Đây chính là nội dung mà Luận văn muốn tập trung xem xét nghiên cứu

1.2.5 Cơ sở lý luận của phương pháp đánh giá công trình cấp nước sạch theo hướng PTBV

1.2.5.1 Phát triển bền vững

a Khái niệm

- Phát triển bền vững (PTBV) là một khái niệm mới xuất hiện trong vài thập niên gần đây của thế kỷ XX Có thể nói đây là một khái niệm đang ngày càng được

Trang 32

quan tâm và được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực tự nhiên, kinh tế xã hội ở nhiều nước trên thế giới

- Năm 1972, Hội nghị Quốc tế về môi trường và con người được tổ chức ở Stockhonlm - Thụy Điển Hội nghị đã đạt được sự thống nhất có tính toàn cầu về tầm quan trọng của việc nhận thức và giải quyết tốt các vấn đề môi trường Sau Hội nghị, thuật ngữ về "PTBV” đã được sử dụng trong văn bản Chiến lược Bảo tồn thế giới (WCS) Và năm 1980 tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Thế giới (IUCN) đã chính thức sử dụng rộng rãi thuật ngữ này

- Năm 1987, Uỷ ban thế giới về môi trường và phát triển (WCED) đã công

bố bản báo cáo "Tương lai chung của chúng ta", trong đó nhiều quốc gia đã công nhận khái niệm PTBV Mục đích của bản báo cáo là nêu lên mối liên kết chặt chẽ giữa môi trường và sự phát triển trên phạm vi toàn cầu PTBV được hiểu là sự phát

triển nhằm "đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả

năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ mai sau".[5]

Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất 1992 về môi trường và phát triển đã được tiến hành ở Rio de Janero (Braxin) Tại Hội nghị này, khái niệm về PTBV được đưa ra thảo luận và đi đến một thống nhất chung Nguyên tắc 4 của Tuyên bố Rio đã chỉ rõ

"Để đạt được sự PTBV thì nội dung bảo vệ môi trường cần phải được coi là bộ phận cấu thành của quá trình phát triển, không được coi đây là 2 hoạt động tách rời và độc lập với nhau"

Khái niệm về PTBV có 3 đặc điểm chung nhất là:

- Các điều kiện vật chất mà con người muốn hướng tới: một xã hội mà trong

đó con người muốn duy trì các điều kiện vật chất vì nó đáp ứng được các nhu cầu của họ- Hệ sinh thái được cân bằng: một hệ sinh thái duy trì được sự sống;

- Bình đẳng sự chia sẻ công bằng các lợi ích và gánh nặng giữa thế hệ hiện tại và tương lai và giữa các thế hệ với nhau

b Nguyên tắc PTBV

- Nguyên tắc 1: Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng

- Nguyên tắc 2: Nâng cao chất lượng cuộc sống của con người

Trang 33

- Nguyên tắc 3: Bảo vệ sự sống và tính đa dạng sinh học của trái đất Sự phát triển phải thận trọng, đảm bảo được tính đa dạng của các hệ sinh thái

- Nguyên tắc 4: Hạn chế đến mức thấp nhất việc làm suy giảm các nguồn tài nguyên không tái tạo đựợc Trong khi loài người chưa tìm ra được các nguyên liệu thay thế cần phải sử dụng tài nguyên không tái tạo được một cách hợp lý và tiết kiệm

- Nguyên tắc 5: Giữ vững trong khả năng chịu đựng đuợc của trái đất Trong quá trình sử dụng khai thác của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình, nếu không dựa trên qui luật phát triển nội tại của tự nhiên thì thường phải trả giá đắt cho

sự suy thoái Vì vậy, chúng ta phải đảm bảo một mức độ an toàn nhất định mà trái đất có thể chịu đựng được

- Nguyên tắc 6: Thay đổi thái độ và hành vi của con người Hiện nay, nhiều người còn chưa ý thức được hành động của mình, phá hoại thiên nhiên gây tác động xấu đến môi trường

- Nguyên tắc 7: Để cho cộng đồng tự quản lý môi trường của mình Khi nào mỗi con người biết được cách tổ chức cuộc sống bền vững trong cộng đồng của mình sẽ tạo ra sức sống mạnh mẽ và họ tự ý thức được việc bảo vệ môi trường sống của mình

- Nguyên tắc 8: Xây dựng một khuôn mẫu quốc gia thống nhất thuận lợi cho

sự phát triển và an toàn Chính quyền trung ương và địa phương phải có cơ chế thống nhất về quản lý môi trường, bảo vệ các dạng tài nguyên Phải có một hệ thống pháp luật để bảo vệ môi trường một cách toàn diện

- Nguyên tắc 9: Xây dựng một khối liên minh toàn cầu trong việc bảo vệ môi trường Muốn bảo vệ môi trường bến vững không thể từng quốc gia riêng lẻ làm tốt

mà phải có sự liên kết giữa các nước Cần phải có các hiệp ước quốc tế để quản lý các tài nguyên chủ yếu

Từ những khái niệm và nguyên tắc trên, có thể thấy rõ PTBV đòi hỏi sử

dụng tài nguyên nguồn lực một cách hợp lý để vừa đảm bảo được mục tiêu phát triển kinh tế, vừa đảm bảo mục tiêu phát triển xã hội và bảo toàn được các nhân

Trang 34

tố của môi trường sinh thái Thực chất việc phát triển phải coi trọng vấn đề bảo vệ

môi trường sinh thái, có nghĩa phải đảm bảo việc sử dụng tài nguyên đúng với khả năng tái tạo của nó, không làm phá vỡ cân bằng sinh thái mà vẫn mang lại lợi ích tối

đa

Hình 04 Tiếp cận khái niệm kinh tế, xã hội, sinh thái trong PTBV [5]

Sự bền vững cần phải đảm bảo đồng thời 3 mặt: (i) bền vững về kinh tế; (ii) bền vững về xã hội và (iii) bền vững về môi trường

- Sự bền vững về kinh tế: Phụ thuộc vào mối quan hệ giữa lợi nhuận và chi phí Yêu cầu đặt ra là lợi nhuận phải luôn luôn lớn hơn hoặc bằng chi phí Một dự

án phải luôn đem lại lợi nhuận, vốn đầu tư luôn đem lại lợi ích kinh tế và chóng được thu hồi Sự PTBV về kinh tế còn thể hiện sự tăng trưởng và phát triển lành mạnh của nền kinh tế

- Bền vững về xã hội: Thể hiện mối quan hệ giữa phát triển với những quan niệm, chuẩn mực của xã hội Nói một cách khác, sự bền vững về mặt xã hội biểu hiện ở sự phù hợp với những tiêu chuẩn xã hội như tôn giáo, truyền thống, phong

Hiệu quả kinh tế

Bảo vệ

môi trường

Xã hội chấp nhận

Kinh tế

Trang 35

tục tập quán Chúng phải được thực hiện phù hợp với các quan hệ đạo lý, hệ thống giá trị, ngôn ngữ, giáo dục, gia đình

- Bền vững về môi trường: Các hoạt động phát triển không gây ra tác động ngược làm phá vỡ cân bằng sinh thái của môi trường xung quanh Nói một cách khác dưới tác động của các hoạt động phát triển, môi trường sinh thái vẫn được duy trì và có khả năng tự tái tạo được

c Đánh giá sự phát triển bền vững với một dự án:

- Các nhóm mục tiêu của dự án có tính thiết thực phục vụ cho chính cuộc sống của người dân nghĩa là dự án phải có tính định hướng;

1.2.5.2 Các tiêu chí đánh giá về PTBV đối với công trình CNTTNT

Áp dụng khái niệm về PTBV trong việc xem xét tính bền vững của các công trình CNTTNT theo các tiêu chí: (i) Bền vững về nguồn nước; (ii) Bền vững về công trình; (iii) Bền vững về tài chính; (iv) bền vững khi có sự tham gia của cộng đồng; (v) Bền vững về công nghệ; (vi) Bền vững về tổ chức, cụ thể như sau:

a Bền vững về nguồn nước

Nguồn nước không bị khai thác quá mức và được bổ sung một cách tự nhiên

thể hiện ở 02 nội dung: Quản lý tài nguyên nước một cách hợp lý để tránh những

xung đột xảy ra giữa các nhóm sử dụng nước và đảm bảo tính bền vững về môi trường của nguồn nước

- Do tình trạng khan hiếm nước và có nhiều nhu cầu dùng nước (như nước sinh hoạt, nông nghiệp tưới tiêu, công viên vui chơi, giao thông ) nên xuất hiện mâu thuẫn giữa các đối tượng dùng nước, bao gồm các mâu thuẫn: mâu thuẫn cùng loại đối tượng sử dụng nước ở trong một địa phương; giữa các loại đối tượng sử

Trang 36

dụng nước khác nhau ở cùng một địa phương; giữa các địa phương (sử dụng ở thượng lưu và hạ lưu); giữa đô thị và nông thôn

- Trong quản lý tài nguyên nước cần có sự tham gia của tất cả các thành phần liên quan, bao gồm những người dùng nước, người lập quy hoạch và người xây dựng chính sách ở tất cả các cấp

- Môi trường là vấn đề cần được ưu tiên nhất trong sự phát triển hệ thống

cấp nước và vệ sinh Việc dùng nước luôn đảm bảo không khai thác quá mức nguồn nước mà ngược lại cần phải bồi hoàn nó một cách tự nhiên (Thí dụ khai thác quá mức nguồn nước ngầm dẫn đến làm cạn kiệt dần các vùng lân cận và làm giảm mực nước ngầm) Thứ hai là nước thải từ hệ thống thoát nước có thể gây nên vấn đề môi trường như xói mòn khu vực hay làm ô nhiễm nguồn nước Vì vậy trong giai đoạn nghiên cứu cần chú ý đến các điểm khai thác nước hợp lý

- Một nhân tố quan trọng khác ảnh hưởng tới tính bền vững của hệ thống cấp nước là vấn đề bảo vệ đầu nguồn, tránh bị ô nhiễm và tàn phá rừng Nguồn nước bị

ô nhiễm gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của những người dùng nước và việc chặt phá rừng dần dần làm xói mòn thượng lưu và từ đó từng bước làm giảm trữ lượng nước Việc khuyến khích người dùng nước bảo vệ môi trường trở thành một ý thức sâu rộng sẽ đảm bảo sự ổn định lâu dài của hệ thống

Trang 37

- Tiêu chí đánh giá về quản lý vận hành tốt được đánh giá theo Quy chuẩn của Bộ Y tế Để giám sát chất lượng nước trong quá trình vận hành bảo dưỡng phải

có qui định về kiểm tra chất lượng nước Có 2 loại kiểm tra: kiểm tra định kỳ (Được qui định trong tiêu chuẩn chất lượng nước ở các cấp độ A, B, C qui định về số chỉ tiêu cần giám sát) và kiểm tra bất thường khi có những phát hiện bất ổn nào đó về chất lượng nước bằng cảm quan

Nhận xét: Quản lý, vận hành, bảo dưỡng được coi là cách để đạt được sự PTBV các công trình cấp nước nông thôn

và các chi phí về xử lý ô nhiễm và bảo vệ chất lượng nước.Các chi phí này được ghi trong giá thành tiêu thụ nước sạch (là giá được tính đúng, tính đủ)

d Bền vững khi có sự tham gia của cộng đồng

- Khái niệm về cộng đồng: Cộng đồng được hiểu là một đơn vị gồm những

nhóm người sinh sống trên một địa bàn cụ thể có cùng chung một số quyền lợi và khó khăn hoặc những nhóm được xây dựng trên cơ sở nghề nghiệp, dòng tộc, giới, tôn giáo, giàu nghèo Nhiều nhóm thì có nhiều ý kiến khác nhau và có thể mâu thuẫn quyền lợi dẫn đến tranh chấp Khi công trình cấp nước được xây dựng trong một vùng có nhiều cộng đồng thì có thể xảy ra tranh chấp, vì nước là một tài

nguyên mà trước đây người ta không nghĩ đến việc chia sẻ và quản lý nó

- Đối với công trình cấp nước có 9 nguyên nhân thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng:

1 Với sự tham gia của cộng đồng nhiều công việc được hoàn thành

Trang 38

2 Với sự tham gia của cộng đồng, các dịch vụ được phân phối rẻ hơn

3 Sự tham gia này có lợi ích thiết thực cho người tham gia

4 Sự tham gia này là một chất xúc tác cho sự phát triển mạnh mẽ

5 Sự tham gia này thúc đẩy ý thức trách nhiệm

6 Sự tham gia này giúp ta nhận thức đúng có nhu cầu hay không

7 Sự tham gia này đảm bảo mọi công việc đều được thực hiện

8 Sự tham gia này giải phóng con người khỏi sự phụ thuộc vào người khác

9 Sự tham gia này làm con người hiểu rõ hơn về những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo và họ phải làm thế nào để chống lại đói nghèo

e Bền vững về mặt công nghệ

- Công nghệ lựa chọn phù hợp với trình độ dịch vụ và với truyền thống văn hóa

- Sự bền vững về kỹ thuật là không để xảy ra các sai sót kỹ thuật trong thiết

kế và xây dựng các công trình khai thác sử dụng nguồn nước, duy trì được cân bằng nước trong khai thác sử dụng Sự yếu kém về kỹ thuật thường dẫn tới việc ra đời những công trình khai thác sử dụng nguồn nước thiếu bền vững, hoạt động kém

hiệu quả

- Công nghệ mang tính bền vững đòi hỏi phải thích hợp và được áp dụng phù hợp với trình độ của cộng đồng hơn là công nghệ đó được nhập khẩu từ quốc gia đã phát triển Công nghệ yêu cầu phải đơn giản nhưng có khả năng cung cấp đủ nước cho cộng đồng và phù hợp với trình độ tay nghề vận hành bảo dưỡng công nghệ hiện có trong cộng đồng Phụ tùng thay thế cũng phải sẵn có được cung cấp tự do tại địa phương, phù hợp với quy định tiêu chuẩn hóa của địa phương và vùng

- Những tồn tại trong quá trình lựa chọn công nghệ: Không đầy đủ hoặc không xem xét tới tình trạng, điều kiện và đặc trưng hiện tại; không xây dựng theo kinh nghiệm của những dự án cấp nước hiện hành; áp dụng công nghệ mới mà không phù hợp với điều kiện phổ biến chung; không nghiên cứu cẩn thận về nhu cầu và thị hiếu của người sử dụng trong tương lai; không nắm rõ khả năng lực kinh

Trang 39

tế và tài chính của xã; không biết chi phí vận hành bảo dưỡng ngắn hạn và dài hạn

và quá lạc quan rằng chi phí vận hành bảo dưỡng sẽ được nhà nước bao cấp

f Bền vững về mặt tổ chức

- Vai trò của cá nhân hay tổ chức trong việc quản lý công trình cấp nước là chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá PTBV Đối với bất kỳ hệ thống cấp nước nào muốn bền vững thì các tổ chức liên quan cần đóng vai trò tích cực trong hoạt động vận hành bảo dưỡng và các hoạt động truyền thông để nâng cao nhận thức Tổ chức

đó có thể ở tầm quốc gia hay vùng lãnh thổ, cũng có thể là một Ban quản lý giải quyết tốt vấn để nước sạch hoặc người vận hành tư nhân hay tổ chức phi Chính phủ

- Mô hình quản lý vận hành bảo dưỡng mỗi chương trình có mô hình quản lý vận hành bảo dưỡng của chính nó tuỳ theo tình trạng cụ thể Hiệu quả của một mô hình riêng biệt sẽ phụ thuộc vào vai trò tích cực của tất cả mọi thành phần tham gia Cấp cơ sở là tổ chức làng xã Cấp thứ hai sẽ là các cơ quan vùng lãnh thổ hoặc địa phương Còn cấp thứ ba là cơ quan quản lý cấp trung ương Các mô hình quản lý công trình CNTTNT được tổng kết mục 1.3.3.4 của chương I

Kết luận: Để đánh giá về PTBV của các công trình cấp nước cần phải xem xét và đánh giá trên các tiêu chí nêu trên Tuy nhiên không phải bất kỳ công trình cấp nước nào cũng đảm bảo đạt được ở mức cao nhât các chỉ tiêu trên Do vậy việc đánh giá về PTBV của các công trình cần đo đếm được bằng phương pháp cho điểm

và mức độ bền vững của các công trình sẽ được thể hiện qua các mức điểm đạt được của từng công trình

1.2.6 Phương pháp đánh giá về PTBV

(Phương pháp đánh giá công trình CNTTNT theo hướng PTBV dựa theo tài liệu Nước sạch và VSMTNT trong PTBV của Hội Nước sạch và VSMTNT ban hành năm

2002 và tài liệu hướng dẫn công tác theo dõi, đánh giá nước sạch và VSMTNT của

Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành năm 2012)

- Phương pháp này là cho điểm từng tiêu chí để đánh giá mức độ bền vững

của công trình Trước khi cộng điểm của các tiêu chí phải nhân số điểm với các hệ

số thể hiện mức độ quan trọng của từng tiêu chí đối với PTBV của công trình

Trang 40

- Trên cơ sở đánh giá bền vững của từng tiêu chí, để đánh giá PTBV của một công trình cần phải đánh giá tổng hợp 6 tiêu chí và phân tích được tất cả các yếu tố ảnh hưởng của từng tiêu chí đến mức độ bền vững của công trình

- Điểm tổng hợp của từng công trình thể hiện mức độ PTBV của công trình

đó

- Trong 06 tiêu chí ảnh hưởng đến mức độ PTBV của các công trình cấp nước SHNT, tiêu chí nào cũng quan trọng và có ảnh hưởng trực tiếp đến sự bền vững của công trình Tuy nhiên, có 4 tiêu chí có mức độ quan trọng hơn đó là: Bền vững về nguồn nước; bền vững về công trình (quản lý, vận hành); bền vững kinh tế tài chính; bền vững có sự tham gia của cộng đồng (Các chỉ tiêu quan trọng này được xác định hệ sô 2 của hệ số tỷ trọng) [10]

Ngày đăng: 10/03/2021, 22:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2012), Tạp chí Nước sạch và VSMTNT, số 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nước sạch và VSMTNT
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và PTNT
Năm: 2012
9. Cục Bảo vệ môi trường (2005), Hồ sơ Tài nguyên Nước Quốc gia, Văn phòng Hội đồng Quốc gia về Tài nguyên nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ Tài nguyên Nước Quốc gia
Tác giả: Cục Bảo vệ môi trường
Năm: 2005
11. Huỳnh Phú (2008), Bài giảng Kỹ thuật xử lý nước cấp, NXB Trường Đại học Công nghiệp TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Kỹ thuật xử lý nước cấp
Tác giả: Huỳnh Phú
Nhà XB: NXB Trường Đại học Công nghiệp TP HCM
Năm: 2008
12. Huỳnh Phú (2008), Cấp nước nông thôn, NXB Trường Đại học Công Nghiệp TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấp nước nông thôn
Tác giả: Huỳnh Phú
Nhà XB: NXB Trường Đại học Công Nghiệp TP HCM
Năm: 2008
13. Lê Trình (2000), Đánh giá tác động môi trường phương pháp và ứng dụng, NXB Khoa học kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động môi trường phương pháp và ứng dụng
Tác giả: Lê Trình
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
Năm: 2000
14. Lưu Đức Hải (2003), Cơ sở Khoa học Môi trường, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở Khoa học Môi trường
Tác giả: Lưu Đức Hải
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
15. Lưu Đức Hải (2003), Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững
Tác giả: Lưu Đức Hải
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
19. Trung tâm Nước sạch và VSMTNT tỉnh Hà Nam (2010), Kết luận của Đoàn kiểm tra liên ngành các cơ sở cấp nước sạch trên địa bàn tỉnh Hà Nam.II. TÀI LIỆU TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận của Đoàn kiểm tra liên ngành các cơ sở cấp nước sạch trên địa bàn tỉnh Hà Nam
Tác giả: Trung tâm Nước sạch và VSMTNT tỉnh Hà Nam
Năm: 2010
1. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2012), Bộ chỉ số Theo dõi và Đánh giá hệ thống cấp nước sạch và VSMTNT Khác
2. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2010), Đánh giá môi trường chiến lược Cấp nước sạch và VSMTNT giai đoạn 2006-2010 Khác
3. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2011), Kết quả thực hiện Chương trình MTQG Nước sạch và VSMTNT giai đoạn 2006-2010 Khác
4. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2012), Kết quả thực hiện Chương trình MTQG Nước sạch và VSMTNT năm 2012 Khác
5. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2010), Hệ thống văn bản Quy phạm pháp luật trong cấp nước và VSMTNT Khác
7. Bộ Y tế (2009) Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt Khác
8. Cổng thông tin điện tử huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, Điều kiện tự nhiên, KTXH huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam Khác
10. Hội Nước sạch và vệ sinh môi trường Việt nam (2002), Nước sạch và Vệ sinh môi trường Việt Nam trong Phát triển bền vững Khác
17. Trung tâm Quốc gia Nước sạch và VSMTNT (2008), Mô hình quản lý công trình cấp nước tập trung nông thôn Khác
18. Trung tâm Nước sạch và VSMTNT tỉnh Hà Nam (2008), Đánh giá hiện trạng các công trình cấp nước tập trung nông thôn tỉnh Hà Nam Khác
20. International Water and Sanitation Center (1998), Management for sustainability in Water supply and Sanitation Programmes Khác
21. World Bank (5/2012), Economic Assessment of water and sanitaion interventions in Vietnam Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w