Trước thực trạng trên, việc nghiên cứu đánh giá diễn biến hiện trạng chất lượng môi trường do hoạt động của các đơn vị khai thác đá vôi trên địa bàn huyện nhằm đưa ra giải pháp quản lý m
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Lê Phương Thu
NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC ĐÁ VÔI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN THANH LIÊM, HÀ NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội – Năm 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Lê Phương Thu
NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC ĐÁ VÔI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN THANH LIÊM, HÀ NAM
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60440301
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HOÀNG ANH LÊ
Hà Nội – Năm 2016
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 4
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1.KHÁI QUÁT VỀ TỈNH HÀ NAM 4
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 4
1.1.2 Tài nguyên khoáng sản 8
1.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 9
1.2.GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 11
1.2.1 Đặc điểm khoáng sản 11
1.2.2 Việc cấp phép khai thác 11
1.2.3 Công nghệ, phương pháp khai thác 13
1.2.4 Hoạt động của các mỏ đang khai thác 18
1.2.5 Công tác bảo vệ môi trường tại các mỏ đá 19
1.3.TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG 21
1.3.1 Khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc của quản lý môi trường 21
1.3.2 Nội dung công tác quản lý môi trường 22
1.3.3 Công cụ quản lý môi trường 23
1.3.4 Quản lý môi trường tại cơ sở 24
1.4.CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN 24
1.4.1 Các văn bản pháp luật về quản lý hoạt động khai thác khoáng sản 24
1.4.2 Các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản 26
1.4.3 Các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam có liên quan 28
CHƯƠNG 2 30
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 30
2.2.PHẠM VI NGHIÊN CỨU 31
Trang 42.3.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 32
2.3.2 Phương pháp khảo sát thực địa 33
2.3.3 Phương pháp thống kê, xử lý và so sánh số liệu 33
2.3.4 Phương pháp phân tích tổng hợp 34
CHƯƠNG 3 35
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1.THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC ĐÁ VÔI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH LIÊM 35
3.1.1 Đặc điểm trữ lượng, phân bố, mật độ các mỏ khai thác 35
3.1.2 Công nghệ khai thác và dòng thải 36
3.1.3 Công nghệ chế biến đá kèm dòng thải 39
3.2.ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC ĐÁ VÔI ĐẾN MÔI TRƯỜNG 41
3.2.1 Hiện trạng môi trường tại một số mỏ đá đang hoạt động 41
Nhận xét chung: 50
3.2.2 Nguồn gây ô nhiễm liên quan đến chất thải 51
3.2.3 Nguồn gây ô nhiễm không liên quan đến chất thải 57
3.2.4 Tác động của các nguồn gây ô nhiễm đến môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội 59
3.2.5 Tác động cộng hưởng do mật độ tập trung các mỏ đá 63
3.3.MỘT SỐ BẤT CẬP VỀ MẶT CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN LĨNH VỰC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN 65
3.3.1 Về vấn đề hồ sơ xin cấp phép khai thác 65
3.3.2 Về vấn đề quản lý vật liệu nổ công nghiệp 66
3.3.3 Về vấn đề thanh tra, kiểm tra 67
3.3.4 Về vấn đề thực hiện các cam kết trong Báo cáo đánh giá tác động môi trường và Đề án cải tạo, phục hồi môi trường sau khai thác đã được phê duyệt 67
3.3.5 Về vấn đề năng lực quản lý nhà nước 69
3.3.6 Về vấn đề ý thức thực hiện pháp luật của chủ doanh nghiệp 69
3.4.BIỆN PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC MỎ KHAI THÁC ĐÁ VÔI 71
3.4.1 Các biện pháp bảo vệ môi trường đang áp dụng và đánh giá hiệu quả thực hiện 71
3.4.2 Những khó khăn và vướng mắc trong quá trình thực hiện 76
Trang 53.5.ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG 80
3.5.1 Giải pháp quản lý 81
3.5.2 Giải pháp công nghệ 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89
KẾT LUẬN 89
K IẾN NGHỊ 90
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Bản đồ hành chính tỉnh Hà Nam [13] 4
Hình 2 Sơ đồ quy trình công nghệ khai thác lớp xiên và dòng thải [11] 36
Hình 3 Sơ đồ quy trình khai thác lớp bằng và dòng thải [11] 37
Hình 4 Sơ đồ hệ thống chế biến đá kèm theo dòng thải [11] 39
Hình 5 Mô tả sự phát tán bụi, khí thải của một mỏ [11] 64
Hình 6 Mô tả sự phát tán bụi, khí thải cộng hưởng của 2 mỏ cạnh nhau [11] 64
Hình 7 Hệ thống phun nước tại trạm nghiền sàng 72
Hình 8 Xe chở nước tưới đường 73
Hình 9 Cấu tạo bể tự hoại 3 ngăn 76
Hình 10 Thiết bị bảo hộ lao động chống tiếng ồn 79
Hình 11 Cây xanh trồng quanh mỏ giai đoạn xây dựng cơ bản 80
DANH MỤC BẢNG Bảng 1 Kết quả phân tích mẫu không khí khu vực sản xuất (quan trắc năm 2015, 2016) 44
Bảng 2 Kết quả phân tích mẫu không khí khu vực xung quanh (quan trắc năm 2015, 2016) 46
Bảng 3 Kết quả phân tích mẫu nước thải sinh hoạt (quan trắc năm 2015, 2016) 48
Bảng 4 Đặc trưng nguồn gây ô nhiễm không khí tại các mỏ khai thác đá vôi 51
Bảng 5 Nguồn phát sinh khí, bụi trong giai đoạn khai thác 52
Bảng 6 Hệ số tải lượng khí thải do các xe, máy hoạt động khai thác 53
Bảng 7 Nguồn phát sinh nước thải trong giai đoạn khai thác 54
Bảng 8 Hệ số chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt chưa xử lý 55
Bảng 9 Mức độ rung động của một số máy móc xây dựng điển hình 58
Trang 7ĐTM: Đánh giá tác động môi trường
EITI: Sáng kiến minh bạch trong ngành công nghiệp khai khoáng QCVN: Quy chuẩn Việt Nam
TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
UBND: Ủy ban nhân dân
WHO: Tổ chức Y tế thế giới
Trang 81
MỞ ĐẦU
Hà Nam là tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, nhiều chủng loại, được phân bố tập trung ở phía Tây sông Đáy thuộc hai huyện Thanh Liêm, Kim Bảng Đặc biệt dồi dào là đá vôi làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng thông thường, bột nhẹ Trong những năm gần đây, kinh tế tỉnh Hà Nam phát triển mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực trong đó tập trung phát triển công nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng điều đó kéo theo nhu cầu một khối lượng lớn vật liệu xây dựng Do đó, trên địa bàn tỉnh Hà Nam nói chung và huyện Thanh Liêm nói riêng đã có khá nhiều đơn vị đầu tư thiết bị để khai thác và chế biến đá vôi đáp ứng nhu cầu của thị trường
Tuy nhiên, ngoài nguồn lợi kinh tế thu được từ hoạt động khai thác đá vôi thì không thể không kể đến rất nhiều tác hại tới môi trường xung quanh như: làm biến dạng địa mạo và cảnh quan khu vực; chiếm dụng diện tích trồng trọt và cây xanh để
mở khai trường và đổ đất đá thải; làm ô nhiễm nguồn nước và đất đai quanh mỏ; thay đổi môi trường văn hóa, xã hội cả tích cực lẫn tiêu cực Sau quá trình khai thác
mỏ thường để lại các dạng địa hình có tiềm năng gây sạt lở cao, làm ô nhiễm môi trường, gây nguy hiểm cho con người, súc vật, động vật hoang dã trong khu vực sau khai thác
Trước thực trạng trên, việc nghiên cứu đánh giá diễn biến hiện trạng chất lượng môi trường do hoạt động của các đơn vị khai thác đá vôi trên địa bàn huyện nhằm đưa ra giải pháp quản lý môi trường có tính khả thi là việc làm cần thiết, đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường Nguyên nhân gây ra các vấn đề môi trường có từ hai phía: khách quan và chủ quan Nguyên nhân chủ quan đến từ hành vi ứng xử với môi trường của các chủ doanh nghiệp Nguyên nhân khách quan được nhìn nhận dưới góc độ tính pháp lý, quy định liên quan đến hoạt động quản lý môi trường đối với hoạt động khai thác đá vôi Kết quả nghiên cứu nhằm chỉ ra một số giải pháp quản lý môi trường đối với các đơn vị khai thác đá vôi trên địa bàn huyện Thanh Liêm, đồng thời góp phần giảm thiểu tác động môi trường
Trang 92
từ hoạt động này trên địa bàn tỉnh Hà Nam và còn có thể áp dụng cho các mỏ khai thác đá vôi ở một số địa phương tương tự trên cả nước
Xuất phát từ góc nhìn đó, tôi đã tiến hành thực hiện luận văn tốt nghiệp với đề
tài: “Nghiên cứu, đề xuất giải pháp quản lý môi trường đối với hoạt động khai thác
đá vôi trên địa bàn huyện Thanh Liêm, Hà Nam”
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn bao gồm:
- Nghiên cứu, đánh giá được thực trạng hoạt động khai thác đá vôi trên địa bàn huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam
- Đánh giá được hiện trạng chất lượng môi trường do hoạt động khai thác đá vôi trên địa bàn huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam
- Đề xuất được các giải pháp quản lý môi trường có tính khả thi nhằm từng bước cải thiện chất lượng môi trường do hoạt động khai thác đá vôi trên địa bàn huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam
Để hoàn thành được các mục tiêu ưu tiên nghiên cứu nên trên các nội dung nghiên cứu của luận văn cần phải đạt được:
- Nghiên cứu tổng quan về tài nguyên khoáng sản và hoạt động khai thác khoáng sản tại tỉnh Hà Nam nói chung, tập trung tổng quan địa bàn nghiên cứu tại huyện Thanh Liêm
- Thu thập tài liệu, số liệu về thực trạng hoạt động khai thác đá vôi tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam
- Nghiên cứu các văn bản pháp luật quy định về quản lý hoạt động khai thác khoáng sản và bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản
- Nhận diện những ảnh hưởng của hoạt động khai thác đá vôi đến môi trường
tự nhiên - kinh tế - xã hội
- Xem xét biện pháp bảo vệ môi trường đang áp dụng tại các cơ sở khai thác
đá vôi và đánh giá hiệu quả của công tác bảo vệ môi trường
Trang 10ô nhiễm do hoạt động khai thác đá vôi trên địa bàn toàn tỉnh
Cấu trúc của luận văn như sau:
Luận văn bao gồm: phần mở đầu, 3 chương và phần kết luận
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Kết luận và Kiến nghị
Trang 114
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Khái quát về tỉnh Hà Nam
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Hà Nam là một trong những tỉnh nằm ở trung tâm Đồng bằng Châu thổ Sông Hồng, có tọa độ địa lý 20o21’- 21045 vĩ độ Bắc, 105o45’-106010 kinh độ Đông Hà Nam được bao quanh bởi thành phố Hà Nội ở phía Bắc và Tây Bắc, tỉnh Hòa Bình
ở phía Tây, tỉnh Nam Định ở phía Nam, tỉnh Thái Bình ở phía Đông và tỉnh Hưng Yên ở phía Đông Bắc Tỉnh Hà Nam có 1 thành phố và 5 huyện, bao gồm thành phố Phủ Lý, các huyện Duy Tiên, Lý Nhân, Bình Lục Thanh Liêm và Kim Bảng [13]
Hình 1 Bản đồ hành chính tỉnh Hà Nam [13]
Hà Nam án ngữ những tuyến giao thông đường bộ, đường sắt huyết mạch nối thủ đô Hà Nội với các tỉnh phía Nam như Quốc lộ 1A, đường cao tốc phía Đông, đường sắt Bắc - Nam; các trục đường ngang nối các tỉnh nằm ở phía Tây và các tỉnh
Trang 121.1.1.2 Địa hình
Hà Nam có diện tích tự nhiên là 859,5km2, đứng thứ 62/63 tỉnh thành Địa hình Hà Nam dốc theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và có sự tương phản rõ ràng, bao gồm các dạng: dạng địa hình núi đá vôi vách đứng, dạng địa hình đồng bằng có nhiều ô trũng và dạng đồi thấp xâm thực, đỉnh tròn nằm xen kẽ tại vùng chuyển tiếp của 2 dạng địa hình trên [13]
* Địa hình núi đá vôi:
Chiếm khoảng 8%÷12% diện tích tự nhiên toàn tỉnh; phân bố chủ yếu ở phía Tây và Tây Nam của 2 huyện Thanh Liêm và Kim Bảng là 2 huyện nằm ở phía Tây
và Tây Nam của tỉnh Các núi đá vôi tập trung thành dải, bị phân cắt mạnh, sườn dốc đứng, nhiều đỉnh nhọn, độ cao tuyệt đối lớn nhất +419m Đây là vùng có nhiều tiềm năng để phát triển công nghiệp khai khoáng làm vật liệu xây dựng và sản xuất
xi măng
* Địa hình đồi thấp:
Chiếm khoảng 2%÷3% diện tích tự nhiên toàn tỉnh; bao gồm các dải đồi xâm thực, bóc mòn, dạng bát úp nằm xen kẽ hoặc ven rìa địa hình núi đá vôi; phân bố thảnh một dải (tại khu vực các xã Thanh Lưu, xã Liêm Sơn – huyện Thanh Liêm) hoặc đứng độc lập (tại các xã Thanh Bình, Thanh Lưu – huyện Thanh Liêm, xã Đọi Sơn – huyện Duy Tiên) Dạng địa hình đồi thấp có một đặc điểm chung là đỉnh tròn, sườn thoải khoảng 10o÷15o, bị bóc mòn Đây là vùng thuận lợi cho phát triển các cây công nghiệp
Trang 136
* Địa hình đồng bằng:
Chiếm khoảng 85%÷12% diện tích tự nhiên toàn tỉnh; phân bố trên một diện tích rộng lớn ở các huyện Duy Tiên, Bình Lục, Lý Nhân, thành phố Phủ Lý và một phần thuộc các huyện Kim Bảng, Thanh Liêm Đây là vùng tập trung và phát triển các cụm dân cư nông thôn xen kẽ các vùng sản xuất nông nghiệp kiểu làng xã điển hình của vùng nông thôn Đồng bằng Sông Hồng
Địa hình khá bằng phẳng, có cao độ tuyệt đối +4m ở nơi cao nhất và +1 ở vùng trũng nhất Bề mặt địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi khá dày đặc, hầu hết đều bắt nguồn từ các tỉnh khác, thuận lợi cho canh tác nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản…, nhưng nhạy cảm với lũ lụt, ngập úng về mùa mưa và nhạy cảm với chất thải từ hoạt động công nghiệp, khai khoáng
1.1.1.3 Khí hậu
Khí hậu Hà Nam tiêu biểu cho vùng Đồng bằng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng, ẩm biến tính; mùa Hè nóng, mưa nhiều và mùa Đông lạnh, ít mưa [2]
Về lượng mưa: Hà Nam thuộc khu vực có lượng mưa trung bình khá Lượng
mưa trung bình trong những năm gần đây dao động từ 1.246 đến 1.890 mm/năm, chia ra hai mùa rõ rệt mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm khoảng 80% lượng mưa cả năm, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Về nhiệt độ: Nhiệt độ không khí trung bình năm vào những năm gần đây dao
động trong khoảng 23,0 -25,00 C Các tháng nóng nhất trong năm là tháng 6, 7, 8, 9, tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất trong năm thường là tháng 12, 1, 2
Nhiệt độ trung bình năm cao nhất là 25,00C (năm 2015), nhiệt độ trung bình năm thấp nhất là 23,00C (năm 2011) Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 12,70C (tháng 1/2011), nhiệt độ trung bình tháng cao nhất lên đến 31,00C (tháng 6/2015)
Về nắng và bức xạ: Tổng số giờ nắng trong năm tại Hà Nam thấp nhất năm
2011 là 1.132,3 giờ và cao nhất trong năm 2015 là 1478 giờ nắng, mùa hè chiếm khoảng 82% số giờ nắng cả năm, các tháng có giờ nắng cao là tháng 5đến tháng 10
Trang 147
Bức xạ mặt trời là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ nhiệt trong vùng, ảnh hưởng đến quá trình phát tán cũng như biến đổi các chất ô nhiễm Tầng bức xạ trung bình hàng ngày ở Hà Nam là 100-120 kcal/cm2 Các tháng có bức xạ cao nhất là các tháng mùa hè và thấp nhất là các tháng mùa Đông
Về độ ẩm: Nhìn chung độ ẩm không khí trung bình hàng năm khu vực Hà
Nam tương đối lớn, dao động từ 81 – 84% Diễn biến độ ẩm phụ thuộc vào lượng mưa nên trong 1 năm thường có 2 thời kỳ, một thời kỳ độ ẩm cao và một thời kỳ độ
ẩm thấp
Về gió: Tại khu vực Hà Nam, trong năm có 2 hướng gió chính Mùa đông có
gió hướng bắc và đông bắc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Mùa hè có gió Nam và Đông Nam từ tháng 4 đến tháng 8
Khu vực tỉnh Hà Nam chịu ảnh hưởng của bão tương tự như vùng đồng bằng Bắc Bộ Trong những năm gần đây số lượng cơn bão ảnh hưởng đến tỉnh không nhiều, tuy nhiên đang có chiều hướng tăng lên do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trên trái đất Tốc độ gió trung bình trong năm khoảng 2,5 m/s
1.1.1.4 Điều kiện thủy văn
Dòng chảy nước mặt từ Sông Hồng, Sông Đáy, Sông Nhuệ hàng năm đưa vào tỉnh Hà Nam khoảng 87,6 tỷ m3 nước Dòng chảy ngầm chuyển qua địa bàn cũng giúp cho Hà Nam luôn luôn được bổ sung nước ngầm từ các vùng khác
Riêng khu vực huyện Thanh Liêm có sông Đáy chảy qua, diện tích lưu vực sông Đáy khoảng 5.800km2, chiều dài dòng sông là 240 km trong đó chiều dài chảy trong địa phận tỉnh Hà Nam là 47km Theo báo cáo của Trạm khí tượng thuỷ văn
Hà Nam, mực nước sông Đáy tại trạm Phủ Lý như sau [13]:
Mực nước kiệt nhất: - 0,14m
Mực nước lũ lịch sử: + 4,72m (năm 1985)
Mực nước báo động: BĐ1: +2,9m; BĐ2: +3,5m; BĐ3: +4,1m (Theo Quyết định QĐ 632/QĐTTg ngày 10 tháng 5 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ tại Trạm thủy văn Phủ Lý)
Trang 158
Lưu lượng nước sông Đáy vào mùa khô khoảng 105m3/s và vào mùa mưa khoảng 400m3/s
1.1.2 Tài nguyên khoáng sản
Hà Nam nằm tiếp giáp giữa vùng đồng bằng sông Hồng và dải đá trầm tích ở phía Tây nên có địa hình đa dạng, vừa có đồng bằng, vừa có vùng bán sơn địa và vùng núi Vùng đồi núi chiếm khoảng 25,7% diện tích toàn tỉnh, vùng đồng bằng chiếm 74,3% diện tích [15]
Hà Nam là tỉnh có nguồn tài nguyên tương đối phong phú, nhiều chủng loại, được phân bố tập trung ở phía Tây sông Ðáy thuộc hai huyện Thanh Liêm, Kim Bảng Ðặc biệt nguồn đá vôi làm nguyên liệu cho công nghiệp xi măng, bột nhẹ, đá xây dựng, gạch siêu nhẹ… có trữ lượng khá lớn
Tài nguyên khoáng sản của Hà Nam chủ yếu là đá carbonate Nguồn đá này cung cấp cho sản xuất xi măng, xây dựng, bột mịn cho xây trát, bột nhẹ thương phẩm Đá bán quý (đá vân hồng tím nhạt ở huyện Thanh Liêm, Kim Bảng, có vỉa cao 60m, dài 30 – 40m, song cũng có vỉa dài tới gần 200m Đá vân mây da báo ở Thanh Liêm Đá đen tập trung ở khu vực Bút Sơn Đất sét với tổng trữ lượng 393,1 triệu tấn (trong đó, đất sét làm nguyên liệu sản xuất xi măng 331 triệu tấn; đất sét làm gạch ngói 62 triệu tấn) Than bùn có trữ lượng trên 11 triệu m³ tại vùng hồ Tam Chúc xã Ba Sao, hồ Trứng xã Thanh Sơn, huyện Kim Bảng (nguyên liệu này có thể làm phân vi sinh và một số chất phụ gia khác) Cát xây dựng ở Hà Nam khá dồi dào, đặc biệt là nguồn cát đen ở bãi ven sông Hồng kéo dài hàng chục km; bãi sông Đáy, sông Châu, sông Nhuệ hàng năm có khả năng cung cấp hàng triệu m³ cho địa bàn tỉnh và các tỉnh lân cận để san lấp và xây dựng
Theo “Báo cáo Quy hoạch khoáng sản chủ yếu đến năm 2020” trên địa bàn tỉnh Hà Nam do Viện Khoa học Địa chất – Khoáng sản đánh giá năm 2012, trữ lượng và chất lượng khoáng sản của tỉnh như sau:
Có 26 mỏ đá xi măng ( huyện Kim Bảng 16 mỏ, Thanh Liêm 10 mỏ) với trữ lượng đá vôi xi măng là 3.657,759 triệu tấn (1.463,104 triệu m3); 01 mỏ đá vôi hoá chất, trữ lượng là 32,866 triệu tấn (13,146 triệu m3)
Trang 169
Có 22 mỏ sét xi măng (huyện Kim Bảng 4 mỏ, Thanh Liêm 18 mỏ), trữ lượng sét xi măng là 539,640 triệu tấn (359,760 triệu m3) Sét xi măng có quy mô, trữ lượng nhỏ hơn nhiều so với đá vôi xi măng Hầu hết các mỏ sét xi măng có công suất trên 50.000 m3/năm (chiếm 88,72% tổng tài nguyên trữ lượng sét xi măng toàn tỉnh), chất lượng tốt lại nằm trong khu vực quản lý của quốc phòng Đây là vấn đề cần đặc biệt chú ý trong quản lý, cấp phép khai thác sử dụng hợp lý các loại khoáng sản này, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững công nghiệp sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh Hà Nam
Có 02 mỏ dolomit tại huyện Kim Bảng Trữ lượng dolomit là 53,040 triệu m3(132,600 triệu tấn)
Có 45 mỏ đá vôi xây dựng (huyện Kim Bảng 20 mỏ, Thanh Liêm 25 mỏ), trữ lượng đá vôi xây dựng là 1.666, 212 triệu m3 (4.165,53 triệu tấn)
Có 11 mỏ đất đá san lấp (huyện Kim Bảng 5 mỏ, Thanh Liêm 6 mỏ), trữ lượng đất đá san lấp là 0,276 triệu m3 (0,415 triệu tấn) [15]
1.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.1.3.1 Dân cư
Hà Nam là một tỉnh rất nhỏ, diện tích tự nhiên xếp thứ 62/63 tỉnh thành nhưng dân số đông nên mật độ dân cư ở mức cao Theo thống kê sơ bộ mới nhất dân số Hà Nam là 802.705 người, diện tích toàn tỉnh là 861,9km2, mật độ dân số trung bình là 931 người/km2 Cơ cấu dân số năm 2015 là 49,4% nam và 50,6% nữ với 84,5% dân số tập trung ở khu vực nông thôn và 15,5 dân số tập trung ở khu vực thành thị Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 473.650 người trong đó có 464.180 lao động đang làm việc [2]
Trong những năm gần đây, trình độ kinh tế, dân trí và trình độ văn hóa xã hội của dân cư phát triển khá, thu nhập và đời sống của đa số dân cư đã được cải thiện
và nâng cao Đặc điểm nổi trội của cư dân và nguồn lực con người Hà Nam là truyền thống lao động cần cù, vượt lên khó khăn để phát triển sản xuất, là truyền thống hiếu học, ham hiểu biết và giàu sức sáng tạo trong phát triển kinh tế, mở
Trang 171.1.3.3 Hệ thống giao thông nội tỉnh
Ngoài mạng lưới giao thông thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội với bên ngoài, mạng lưới giao thông nội tỉnh và giao thông nông thôn cũng phát triển, đến nay đã hình thành mạng lưới khép kín Trong số 167 km đường cấp tỉnh quản lý đã có 112 km (67,1%) được rải nhựa, chất lượng tốt, trong đó có 42 cầu đường với tổng chiều dài hơn 1.000 m 72,1% số đường cấp huyện cũng đã được rải nhựa Hàng nghìn km đường cấp xã quản lý và đường giao thông trong thôn xóm đã được bê tông hóa hoặc rải nền cứng Các phương tiện giao thông cơ giới có thể đi lại thuận tiện dễ dàng đến hầu hết các xã, thôn trong tỉnh [13]
1.1.3.4 Phát triển công nghiệp
Đến nay, tỉnh Hà Nam có 08 khu công nghiệp tập trung được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, với diện tích 1.773 ha, trong đó có 04 khu công nghiệp đã đi vào khai thác và hoạt động ổn định là khu công nghiệp Đồng Văn I, Đồng Văn II, Hòa Mạc (huyện Duy Tiên), Châu Sơn (thành phố Phủ Lý) và một số cụm công nghiệp nằm rải rác tại tất cả các huyện Hạ tầng các khu công nghiệp này đã cơ bản được đầu tư xây dựng đồng bộ, thu hút được 163 dự án (FDI là 74 dự án, trong nước là 89 dự án), vốn đầu tư đăng ký là 681 triệu USD và 8.709 tỷ đồng tuy nhiên
hạ tầng tại các cụm công nghiệp còn chưa được đầu tư hoàn chỉnh, nhất là các hạng mục bảo vệ môi trường [13]
Trang 18* Đá vôi làm vật liệu xây dựng thông thường
Đá vôi thuộc hai huyện Thanh Liêm, Kim Bảng được khai thác làm vật liệu xây dựng, rải đường, nung vôi đã nhiều năm nay Các mỏ đá hiện đang khai thác làm vật liệu xây dựng thông thường là đá vôi thuộc hệ tầng Đồng Giao (T2ađg)
* Đá vôi làm nguyên liệu sản xuất xi măng
Đá vôi nguyên liệu xi măng ngoài diện tích thăm dò đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam quy hoạch là vùng nguyên liệu xi măng và hiện nay có một số nhà máy xi măng đang khai thác làm nguyên liệu sản xuất xi măng, như các nhà máy xi măng Bút Sơn, Vissai, Hoà Phát
* Đá dolomit làm nguyên liệu cho luyện kim, gốm sứ
Trong tỉnh cũng xuất hiện đá dolomit làm nguyên liệu sản xuất thép, gốm sứ như núi Con Trắm ở xã Tân Sơn, mỏ dolomit Bút Sơn đều nằm trên địa bàn huyện Kim Bảng
1.2.2 Việc cấp phép khai thác
Theo quy định của pháp luật về hoạt động khoáng sản, các tổ chức cá nhân đăng ký kinh doanh ngành nghề thăm dò khoáng sản được thăm dò khoáng sản bao gồm: Doanh nghiệp được thành lập theo Luật doanh nghiệp; Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập theo Luật hợp tác xã; Doanh nghiệp nước ngoài có văn phòng đại diện hoặc chi nhánh tại Việt Nam Hộ kinh doanh đăng ký kinh doanh ngành nghề thăm dò khoáng sản được thăm dò khoáng sản làm vật liệu xây dựng
thông thường.[10]
Các tổ chức, cá nhân đăng ký kinh doanh ngành nghề khai thác khoáng sản được khai thác khoáng sản bao gồm: Doanh nghiệp được thành lập theo Luật doanh nghiệp; Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập theo Luật hợp tác xã Hộ
Trang 1912
kinh doanh đăng ký kinh doanh ngành nghề khai thác khoáng sản được khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, khai thác tận thu khoáng sản Thẩm quyền cấp Giấy phép thăm dò khoáng sản, Giấy phép khai thác khoáng sản theo quy định của Luật Khoáng sản là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp Giấy phép thăm dò khoáng sản, Giấy phép khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn, khoáng sản tại các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường khoanh định và công bố; Giấy phép khai thác tận thu khoáng sản.[10]
Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy phép thăm dò khoáng sản, Giấy phép khai thác khoáng sản không thuộc các trường hợp thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nêu trên Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy phép thăm dò khoáng sản, Giấy phép khai thác khoáng sản, Giấy phép khai thác tận thu khoáng sản nào thì có quyền gia hạn, thu hồi, chấp thuận trả lại loại giấy phép đó; chấp thuận trả lại một phần diện tích khu vực thăm dò, khai thác khoáng sản; chấp thuận chuyển nhượng quyền thăm dò khoáng sản, quyền khai thác khoáng sản Trong những năm qua, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam đã cấp nhiều giấy phép khai thác khoáng sản (bao gồm chủ yếu là đá vôi, một số ít vật liệu san lấp, sét làm gạch ngói và sét làm xi măng) cho các tổ chức, cá nhân đủ điều kiện hoạt động khoáng sản Đến thời điểm cuối năm 2015 đã cấp 115 giấy phép khai thác các loại cấp tỉnh và 6 giấy phép cấp Bộ còn thời hạn khai thác Trong tổng số 115 mỏ, điểm
mỏ đã được cấp phép có 50 điểm mỏ được cấp phép ngắn hạn, 65 điểm mỏ được cấp phép khai thác dài hạn Đa số các điểm mỏ dài hạn vẫn đang hoạt động còn lại một số ít điểm mỏ chưa tiến hành khai thác do đang làm nốt các thủ tục khác theo quy định trước khi tiến hành khai thác hoặc đang san lấp mặt bằng… Tuy nhiên, hầu hết các điểm mỏ ngắn hạn đã hết thời hạn khai thác theo giấy phép được cấp Các điểm mỏ này hiện đang làm các thủ tục xin gia hạn khai thác hoặc nâng công suất thiết kế hoặc đã hết trữ lượng mỏ [10]
Để được cấp phép khai thác, các tổ chức, cá nhân lập hồ sơ xin cấp phép theo quy định gồm: Báo cáo kết quả thăm dò địa chất được phê duyệt; Dự án đầu tư,
Trang 20vị xin cấp phép khai thác
Thường các mỏ đá được cấp phép nằm tại các rìa của dải đá vôi lớn, đặc biệt
có vị trí phải đi sâu vào mặt sau của dãy núi phía ngoài nhìn ra sông Đáy ở khu vực
xã Thanh Nghị và xã Thanh Tân, huyện Thanh Liêm
Xuất phát từ điều kiện tự nhiên của địa hình mỏ, diện tích mỏ nói chung và hệ thống khai thác của mỏ, các hình thức mở vỉa thường là:
- Sử dụng hệ thống đường giao thông hiện có hoặc thiết kế, thi công tuyến đường tạm với chất lượng thấp, không tuân thủ theo các quy chuẩn, quy phạm
- Khối lượng công tác mở vỉa nhỏ, không đảm bảo duy trì được các thông số
kỹ thuật và an toàn
- Phương pháp mở vỉa thường là làm đường lên núi theo kiểu hào bán hoàn chỉnh, độ dốc lớn, mục đích để di chuyển thiết bị khoan lên tầng Một số mỏ chỉ làm các đường công vụ lên núi theo hình thức kè đá tạo thành các bậc để người đi lại, mang vác các dụng cụ khai thác lên núi như búa khoan tay, choòng khoan Một số
mỏ được thiết kế đường hào mở vỉa để đưa các thiết bị khai thác lên tầng phục vụ khai thác nhưng trong thực tế không thi công theo đúng thiết kế mở vỉa được phê duyệt
- Về tầng công tác đầu tiên và xén chân tuyến cải tạo sườn núi, các mỏ đều thiết kế tầng công tác đầu tiên theo hệ thống khai thác lớp xiên cắt tầng nhỏ và chân
Trang 21cơ chế chính sách cũng như việc phối hợp giữa các ngành còn yếu
- Mặt khác, xung quanh biên giới được phép khai thác cũng là tài nguyên đá, khi mở hào chung cho mỏ thì cũng phải mở trên vùng có tài nguyên vì vậy càng khó khăn cho công tác quản lý nhà nước
- Ngoài ra nhiều vị trí điểm mỏ nằm trong khu vực có mật độ mỏ cao, các mỏ
có biên giới liền kề nhau nên khó có không gian để thiết kế hay thi công tuyến đường hào mở mỏ hoàn chỉnh mà không chồng lấn lên diện tích của mỏ liền kề Mâu thuẫn giữa những đơn vị khai thác đá liền kề cũng do đó mà có thể nảy sinh dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết vấn đề
- Các đơn vị được phép khai thác là các thành phần kinh tế khác nhau, được thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp, đăng ký hành nghề khai thác chế biến khoáng sản Trong số các tổ chức cá nhân được cấp phép khai thác một số ít là doanh nghiệp lớn còn lại chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ, năng lực tài chính hạn chế, vốn đầu tư cho mỏ không tập trung mà công tác mở vỉa mỏ là giai đoạn cần huy động nguồn vốn lớn nhất, trong thời gian ngắn để hoàn thiện xây dựng cơ bản mỏ
Vì thiếu vốn, khả năng tài chính không đáp ứng cũng là lý do dẫn đến công tác mở vỉa thực hiện không tốt
Từ những lý do đó các mỏ thường lựa chọn hình thức mở vỉa bằng đường hào chỉ nằm trong biên giới mỏ Đồng nghĩa với việc diện tích đường hào chật hẹp,
Trang 2215
không thực hiện đúng thiết kế làm đường và hệ thống khai thác đã được cơ quan chức năng phê duyệt.[10]
1.2.3.2 Về hệ thống khai thác
Ngoài các mỏ có công suất khai thác nhỏ hơn 50.000 m3/năm không phải lập
hồ sơ thiết kế thì theo hồ sơ thiết kế của các mỏ công suất khai thác lớn hơn 50.000
m3/năm đang hoạt động, hệ thống khai thác thường được lựa chọn là hệ thống khai thác hỗn hợp Đây là hệ thống khai thác phù hợp với tất cả các mỏ khai thác đá trên địa bàn toàn tỉnh, gồm 2 giai đoạn khác nhau
Giai đoạn đầu của mỏ do độ cao khai thác lớn, diện tích tầng công tác nhỏ, hệ thống hào mở vỉa dốc thì áp dụng hệ thống khai thác khấu theo lớp đứng Ở giai đoạn sau, khi mỏ được hạ thấp về cao độ khai thác, diện tích mặt tầng đã lớn hơn,
hệ thống hào mở vỉa có thể cải tạo để giảm độ dốc, mở rộng nền hào, có thể cho phép các máy khoan, máy xúc, ô tô lên mặt tầng thực hiện khai thác Hệ thống khai thác áp dụng ở giai đoạn sau là hệ thống khai thác chia lớp bằng xúc chuyển hoặc gạt chuyển
Về mặt lý thuyết việc áp dụng hệ thống khai thác theo từng giai đoạn trên (hệ thống khai thác hỗn hợp theo thời gian) là hợp lý nhưng các điều kiện để thực hiện
hệ thống khai thác hỗn hợp của các mỏ hiện nay không thực hiện được
Qua nghiên cứu thực tế tại địa phương, các mỏ hầu hết đều thực hiện khấu tự
do, trên diện tích mỏ phân chia làm nhiều khu vực khai thác, sử dụng búa khoan con khoan trực tiếp vào các sườn núi, đá sau khi nổ mìn tự rơi theo trọng lực xuống dưới chân núi Một số mỏ cắt được các tầng nhỏ với chiều cao tầng 2m đến 2,5m,
bề rộng mặt tầng 1,5m đến 2m chuyển đá xuống chân núi bằng năng lượng nổ mìn nhưng chiều dài tuyến công tác ngắn, độ dốc sườn tầng không được duy trì ổn định dẫn đến chập tầng, không duy trì được hệ thống khai thác Việc khai thác tự do hệ thống khai thác bị phá vỡ xẩy ra ở hầu hết các mỏ trong phạm vi từ chân núi lên đến đỉnh núi, vì vậy không thể áp dụng được hệ thống khai thác lớp bằng ở giai đoạn sau.[10]
Trang 2316
Nguyên nhân của việc các mỏ khấu theo hình thức tự do, không tuân thủ một
hệ thống khai thác cơ bản nào ở các mỏ đá trên địa bàn Hà Nam là:
- Công tác mở vỉa, đầu tư xây dựng cơ bản của các mỏ không được quan tâm thực hiện bài bản theo đúng thiết kế từ ban đầu như đã phân tích
- Do đặc điểm của mỏ đá vật liệu xây dựng thường có độ cứng lớn, địa hình phức tạp, sau khi thực hiện công đoạn nổ mìn là tạo được sản phẩm dưới dạng thô
vì vậy các đơn vị khai thác tập trung chạy đua theo năng suất sản phẩm, chạy đua theo lợi ích kinh tế, ít chú trọng đến công tác cải tạo tầng công tác một cách thường xuyên vì vậy các thông số của hệ thống khai thác bị phá vỡ Tầng bị chập; khi sửa chữa cải tạo trả lại tầng công tác cũ thì chi phí cải tạo tăng
- Do quan điểm của các doanh nghiệp khai thác mỏ thường chỉ chú trọng về năng suất và lợi nhuận, ít quan tâm đến các lĩnh vực về kỹ thuật khai thác, không tổ chức khai thác mỏ một cách khoa học
- Do đa số đơn vị có giấy phép khai thác công suất trên 50.000 m3/năm được nâng cấp từ công suất nhỏ hơn 50.000 m3/năm trước đây nên trong quá trình triển khai thực hiện thi công xây dựng mỏ theo thiết kế đã được phê duyệt vẫn theo hướng thi công hệ thống khai thác dốc đứng từ trước
- Trình độ chuyên môn Giám đốc điều hành mỏ của các đơn vị khai thác mỏ hiện nay còn yếu, chưa có kinh nghiệm
- Do công tác quản lý Nhà nước về hoạt động khai thác khoáng sản còn yếu kém Với các điểm mỏ khai thác đá trên địa bàn tỉnh Hà Nam cho thấy số lượng các điểm mỏ trên địa bàn quá nhiều, mật độ dầy đặc ở mỗi khu vực tập trung nhưng các khu vực lại nằm phân tán rải rác ở khắp hai huyện gây khó khăn cho công tác quản
lý của địa phương
Trang 2417
chuyển bằng bánh xích bốc xúc lên các phương tiện vận tải vận chuyển về nơi chế biến Ở một số ít mỏ ngắn hạn nhỏ lẻ thì vẫn sử dụng lao động thủ công để bốc lên phương tiện
Với công nghệ khai thác bán thủ công nêu trên có nhiều bất cập, năng suất lao động thấp, nguy cơ mất an toàn lao động cao, phát sinh nhiều yếu tố gây ô nhiễm môi trường
Tính toán đồng bộ thiết bị chưa căn cứ vào những cơ sở khoa học, các yếu tố
tự nhiên, yếu tố khoáng sản hiện trạng của mỏ, quy mô sản lượng, khoảng cách vận tải… Những luận cứ chọn đồng bộ thiết bị thiếu tính thuyết phục mà thường mang tính áp đặt theo kinh nghiệm hoặc điều kiện của những mỏ tương tự Lựa chọn đồng
bộ thiết bị có những mỏ không phù hợp với hình thức mở vỉa và hệ thống khai thác Trong thực tế thiết bị sử dụng tại nhiều mỏ đá là những thiết bị thế hệ cũ, lạc hậu, thiết bị khoan sử dụng loại có đường kính mũi khá nhỏ (76mm, 42mm, 36mm…) Hiện nay, đã có nhiều hơn các doanh nghiệp sử dụng loại khoan điện đường kính mũi 105mm nhưng máy không có bộ phận di chuyển, bộ phận hút và lọc bụi Vì sử dụng những máy khoan này các thao tác như thay hoặc nối dài choòng khoan, di chuyển trên bãi mìn đều thực hiện thủ công, năng suất khoan thấp
từ đó để chạy theo năng suất phải bố trí mạng khoan thưa, không phù hợp làm ảnh hưởng đến chất lượng nổ mìn, tăng tỷ lệ đá quá cỡ; mặt tầng sau khi nổ mìn không bằng phẳng, độ dốc sườn tầng không duy trì… từ đó mất nhiều thời gian cho công tác cải tạo sườn tầng, phá mô chân tầng
Thiết bị bốc xúc chủ yếu sử dụng máy xúc thủy lực gầu ngược di chuyển bằng xích, dung tích gầu xúc từ 0,5m3 đến 1,25m3 Thực hiện xúc tại chân núi nơi tiếp nhận đá từ tầng khai thác
Thiết bị vận tải sử dụng các loại xe ô tô tự đổ tải trọng từ 5 đến 15 tấn
Ngoài ra còn sử dụng một số thiết bị phụ trợ như máy gạt, máy ủi, máy nén khí và máy phát điện.[10]
Trang 2518
1.2.4 Hoạt động của các mỏ đang khai thác
Hiện nay trên cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Hà Nam nói riêng công tác khai thác đá làm vật liệu xây dựng thông thường, làm nguyên liệu sản xuất xi măng… đang được tiến hành phổ biến với quy mô sản lượng từ nhỏ đến lớn Đặc điểm dãy núi đá vôi phía Tây và Tây Nam địa bàn tỉnh Hà Nam nằm trải dài dọc theo hướng Bắc - Nam trên địa bàn huyện Kim Bảng và huyện Thanh Liêm do vậy các mỏ khai thác đá trên địa bàn tỉnh nằm tập trung ở địa bàn hai huyện này
Trên địa bàn tỉnh Hà Nam hiện nay ngoài một số mỏ đá có sản lượng lớn phục
vụ làm nguyên liệu để sản xuất xi măng có công nghệ khai thác hiện đại, áp dụng đúng hệ thống khai thác đã lựa chọn phù hợp, các mỏ có quy mô sản lượng vừa đang tiến tới dần dần áp dụng hệ thống khai thác kết hợp, công nghệ khai thác tương đối hiện đại Còn lại là các mỏ có quy mô sản lượng nhỏ thì công nghệ khai thác lạc hậu, chủ yếu vẫn áp dụng phương pháp khai thác thủ công, bán cơ giới, khấu tự do Đây chính là điểm gây khó khăn trong quá trình quản lý về công tác an toàn và môi trường trên địa bàn, tạo nhiều vấn đề bất cập, gây nhiều bức xúc trong nhân dân đặc biệt các khu vực dân cư gần khu vực khai thác đá trên địa bàn huyện Kim Bảng và huyện Thanh Liêm
Tóm lại, các mỏ khai thác đá trên địa bàn tỉnh Hà Nam có những đặc điểm đặc trưng như sau:
- Hoạt động khai thác các mỏ đá do các thành phần kinh tế khác nhau đảm nhiệm Một số khu vực khai thác có mật độ điểm mỏ dầy đặc, các vị trí khai thác nối tiếp nhau, biên giới mỏ liền kề nhau
- Những mỏ ngắn hạn thường có công suất dưới 50.000 m3/năm, sử dụng công nghệ, thiết bị lạc hậu, mức độ cơ giới hóa thấp, chủ yếu sử dụng lao động thủ công
- Nhiều điểm mỏ công suất trên 50.000 m3/năm hiện nay được nâng cấp lên từ công suất dưới 50.000 m3/năm trước đây, chủ doanh nghiệp vẫn mang tư tưởng theo hướng khai thác cũ nhỏ lẻ
Trang 2619
- Việc chấp hành pháp luật của Nhà nước trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản, trong việc sử dụng lao động và an toàn lao động, trong công tác bảo vệ môi trường… của đa số mỏ chưa được quan tâm đúng mức
- Hầu hết thiếu hoặc không có cán bộ chuyên ngành khai thác mỏ và môi trường được đào tạo bài bản mà chủ yếu làm theo kinh nghiệm
- Có nhiều bất cập trong việc tuân thủ, chấp hành các quy trình kỹ thuật, an toàn trong hoạt động khai thác đá vôi
Từ các đặc điểm đặc trưng nêu trên dẫn đến những tình trạng đáng quan ngại sau đây:
- Năng suất lao động vẫn còn thấp, giá thành sản phẩm cao; tỷ lệ tổn thất tài nguyên lớn; hiệu quả kinh tế chưa cao
- Môi trường sinh thái tại khu vực khai thác mỏ bị ô nhiễm, ảnh hưởng chung đến môi trường cộng đồng khu dân cư
- Nguy cơ mất an toàn trong lao động cao, chế độ chính sách của người lao động không đảm bảo
1.2.5 Công tác bảo vệ môi trường tại các mỏ đá
1.2.5.1 Tình hình hoạt động bảo vệ môi trường tại các mỏ
Theo quy định tại Điều 38, Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014, công tác bảo
vệ môi trường trong hoạt động thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản bao gồm các nội dung sau:
- Tổ chức, cá nhân khi tiến hành thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản phải có biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường và thực hiện các yêu cầu
về bảo vệ, cải tạo và phục hồi môi trường như sau:
+ Thu gom và xử lý nước thải theo quy định của pháp luật;
+ Thu gom, xử lý chất thải rắn theo quy định về quản lý chất thải rắn;
+ Có biện pháp ngăn ngừa, hạn chế việc phát tán bụi, khí thải độc hại và tác động xấu khác đến môi trường xung quanh;
Trang 2720
+ Phải có kế hoạch cải tạo, phục hồi môi trường cho toàn bộ quá trình thăm
dò, khai thác, chế biến khoáng sản và tiến hành cải tạo, phục hồi môi trường trong quá trình thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản;
+ Ký quỹ phục hồi môi trường theo quy định của pháp luật
- Khoáng sản có tính chất độc hại phải được lưu giữ, vận chuyển bằng thiết
bị chuyên dụng, được che chắn tránh phát tán ra môi trường
- Việc sử dụng máy móc, thiết bị có tác động xấu đến môi trường, hóa chất độc hại trong thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản phải chịu sự kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường
- Việc thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến dầu khí, khoáng sản khác có chứa nguyên tố phóng xạ, chất độc hại, chất nổ phải thực hiện quy định của Luật này (Luật Bảo vệ Môi trường) và pháp luật về an toàn hóa chất, an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân
Hiện nay tại các mỏ đang khai thác khoáng sản do các công ty khai thác khoáng sản của Nhà nước quản lý đã thực hiện một số biện pháp bảo vệ môi trường khá tốt (theo như đề xuất và cam kết trong Báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt) Các doanh nghiệp đã chú ý đến việc giảm thiểu ô nhiễm do bụi tại khai trường và trạm nghiền sàng nhằm giảm thiểu tác động đến công nhân vận hành máy móc
Tuy nhiên, nhiều mỏ khai thác khoáng sản do tư nhân quản lý chưa chú trọng biện pháp bảo vệ môi trường trước, trong và sau khai thác, chế biến Vì tập trung vào lợi ích kinh tế trước mắt và ý thức chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường chưa cao nên việc đầu tư, duy trì hệ thống giảm thiểu ô nhiễm thường không được chú ý thường xuyên Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm do bụi, khí thải, nước thải, tiếng ồn… được áp dụng thường mang tính chất đối phó, vào những thời điểm có sự kiểm tra giám sát của cơ quan chức năng hoặc lúc quan trắc môi trường định kỳ Riêng đối với các mỏ khai thác trên địa bàn huyện Thanh Liêm sẽ được nghiên cứu
và phân tích kỹ tại chương 3 của luận văn
Trang 2821
1.2.5.2 Những bất cập trong công tác bảo vệ môi trường tại các mỏ
- Chưa có sự giám sát, quản lý chặt chẽ và thống nhất của các cơ quan chức năng trong công tác bảo vệ môi trường tại các mỏ
- Chưa có quy hoạch tổng thể việc khai thác khoáng sản và bảo vệ môi trường nhằm bảo đảm phát triển bền vững công nghiệp khai khoáng
- Công tác bảo vệ môi trường tại các mỏ còn chưa thực hiện triệt để, chỉ mang tính chất đối phó với các cơ quan chức năng; chưa nghiêm túc thực hiện phương án cải tạo, phục hồi môi trường sau khai thác
- Công tác bảo vệ môi trường chủ yếu là công tác khắc phục và giảm thiểu các
sự cố đã xảy ra, chưa thực hiện nghiêm túc việc đầu tư xây dựng và vận hành hệ thống giảm thiểu chất ô nhiễm ngay từ lúc bắt đầu đi vào hoạt động
1.3 Tổng quan về công tác quản lý môi trường
1.3.1 Khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc của quản lý môi trường
Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế,
kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia.[6]
Các mục tiêu chủ yếu của công tác quản lý nhà nước về môi trường bao gồm:
- Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong hoạt động sống của con người
- Phát triển bền vững kinh tế và xã hội quốc gia theo 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững do hội nghị Rio-92 đề xuất Các khía cạnh của phát triển bền vững bao gồm: Phát triển bền vững kinh tế, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, không tạo ra ô nhiễm và suy thoái chất luợng môi trường sống, nâng cao sự văn minh và công bằng xã hội
- Xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lý môi trường quốc gia và các vùng lãnh thổ Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địa phương và cộng đồng dân cư
Các nguyên tắc chủ yếu của công tác quản lý môi trường bao gồm:[6]
Trang 2922
- Hướng công tác quản lý môi trường tới mục tiêu phát triển bền vững kinh tế
xã hội đất nước, giữ cân bằng giữa phát triển và bảo vệ môi trường
- Kết hợp các mục tiêu quốc tế - quốc gia - vùng lãnh thổ và cộng đồng dân cư trong việc quản lý môi trường
- Quản lý môi trường cần được thực hiện bằng nhiều biện pháp và công cụ tổng hợp thích hợp
- Phòng chống, ngăn ngừa tai biến và suy thoái môi trường cần được ưu tiên hơn việc phải xử lý, hồi phục môi trường nếu để gây ra ô nhiễm môi trường
- Người gây ô nhiễm phải trả tiền cho các tổn thất do ô nhiễm môi trường gây
ra và các chi phí xử lý, hồi phục môi trường bị ô nhiễm Người sử dụng các thành phần môi trường phải trả tiền cho việc sử dụng gây ra ô nhiễm đó
1.3.2 Nội dung công tác quản lý môi trường
Nội dung công tác quản lý nhà nước về môi trường của Việt Nam được thể hiện trong Điều 37, Luật Bảo vệ Môi trường, gồm các điểm:
Ban hành và tổ chức việc thực hiện các văn bản pháp quy về bảo vệ môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường
Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường, kế hoạch phòng chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường
Xây dựng, quản lý các công trình bảo vệ môi trường, các công trình có liên quan đến bảo vệ môi trường
Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc, định kỳ đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo diễn biến môi trường
Thẩm định các báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án và các cơ
sở sản xuất kinh doanh
Cấp và thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường
Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường, giải quyết các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về bảo vệ môi trường, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
Trang 3023
Đào tạo cán bộ về khoa học và quản lý môi trường
Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Thiết lập quan hệ quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.[6]
1.3.3 Công cụ quản lý môi trường
Công cụ quản lý môi trường là các biện pháp hành động thực hiện công tác quản lý môi trường của nhà nước, các tổ chức khoa học và sản xuất Mỗi một công
cụ có một chức năng và phạm vi tác động nhất định, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau Công cụ quản lý môi trường có thể phân loại theo chức năng gồm: công cụ điều chỉnh vĩ mô, công cụ hành động và công cụ hỗ trợ
- Công cụ điều chỉnh vĩ mô là luật pháp và chính sách
- Công cụ hành động là các công cụ có tác động trực tiếp tới hoạt động kinh tế
- xã hội, như các quy định hành chính, quy định xử phạt… và công cụ kinh tế Công
cụ hành động là vũ khí quan trọng nhất của các tổ chức môi trường trong công tác bảo vệ môi trường Thuộc về loại này có các công cụ kỹ thuật như GIS, mô hình hoá, đánh giá môi trường, kiểm toán môi trường, quan trắc môi trường
Công cụ quản lý môi trường cũng có thể phân loại theo bản chất thành các loại
cơ bản sau:
- Công cụ luật pháp chính sách bao gồm các văn bản về luật quốc tế, luật quốc gia, các văn bản khác dưới luật, các kế hoạch và chính sách môi trường quốc gia, các ngành kinh tế, các địa phương
- Các công cụ kinh tế gồm các loại thuế, phí đánh vào thu nhập bằng tiền của hoạt động sản xuất kinh doanh Các công cụ này chỉ áp dụng có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường
- Các công cụ kỹ thuật quản lý thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát nhà nước về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bố chất ô nhiễm trong môi trường Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể gồm các đánh giá môi trường, monitoring môi trường, xử lý chất thải, tái chế và tái sử dụng chất thải Các
Trang 3124
công cụ kỹ thuật quản lý có thể được thực hiện thành công trong bất kỳ nền kinh tế nào.[6]
1.3.4 Quản lý môi trường tại cơ sở
Theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường, công tác quản lý môi trường phải đi kèm với hoạt động giám sát môi trường Chương trình quản lý môi trường được thiếp lập trên cơ sở các hoạt động thực tế của cơ sở, các tác động đến môi trường và các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường tương ứng với các tác động
kể trên Ngoài ra còn phải xác định rõ trách nhiệm tổ chức thực hiện của đội ngũ quản lý doanh nghiệp, trách nhiệm giám sát nội bộ và từ cơ quan quản lý nhà nước địa phương
Đối với một cơ sở hoạt động khai thác và chế biến đá vôi thì các giai đoạn trước, trong và sau khai thác đều phải được tiến hành quản lý và giám sát môi trường định kỳ Điều này giúp các doanh nghiệp thực hiện đầy đủ các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm, tự đánh giá kết quả thực hiện và điều chỉnh các biện pháp này nhằm mang lại hiệu quả bảo vệ môi trường cao nhất Nó cũng giúp các nhà quản lý
dễ dàng nắm bắt hoạt động của doanh nghiệp và sự đầu tư cho các hệ thống xử lý và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.[6]
1.4 Các văn bản pháp luật về quản lý hoạt động khai thác khoáng sản và bảo
vệ môi trường trong khai thác khoáng sản
1.4.1 Các văn bản pháp luật về quản lý hoạt động khai thác khoáng sản
1.4.1.1 Văn bản cấp Trung ương
Luật Khoáng sản số 60/2010/QH12 do Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 17/11/2010
Nghị định số 15/2012/NĐ-CP ngày 09 tháng 03 năm 2012 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật khoáng sản số 60/2010/QH12
Nghị định 203/2013/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đến các doanh nghiệp hoạt động khoáng sản
Trang 3225
Thông tư số 16/2012/TT-BTNMT ngày 29 tháng 11 năm 2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về đề án thăm dò khoáng sản, đóng cửa mỏ khoáng sản và mẫu báo cáo kết quả hoạt động khoáng sản, mẫu văn bản trong hồ sơ cấp phép hoạt động khoáng sản, hồ sơ phê duyệt trữ lượng khoáng sản, hồ sơ đóng cửa
mỏ khoáng sản
Thông tư số 51/2015/TT-BTNMT ngày 26 tháng 11 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn một số nội dung thanh tra chuyên ngành khoáng sản
Và một số văn bản khác có liên quan
Trong các văn bản đã liệt kê thì Luật Khoáng sản năm 2010 có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, là cơ sở để triển khai các văn bản dưới luật có liên quan đến lĩnh vực quản lý hoạt động khai thác khoáng sản nói chung và đá vôi nói riêng
1.4.1.2 Văn bản cấp địa phương
Quyết định số 948/QĐ-UBND ngày 11 tháng 09 năm 2014 của UBND tỉnh Hà Nam về việc phê duyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Hà Nam
Quyết định số 19/2010/QĐ-UBND ngày 06 tháng 7 năm 2010 của UBND tỉnh
Hà Nam về việc ban hành Quy chế hoạt động vật liệu nổ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam
Quyết định số 34/2013/QĐ-UBND ngày 16 tháng 7 năm 2013 của UBND tỉnh
Hà Nam về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của “Quy chế hoạt động vật liệu nổ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam” ban hành kèm theo Quyết định số
19/2010/QĐ-UBND ngày 06/7/2010 của UBND tỉnh Hà Nam
Quyết định 40/2014/QĐ-UBND ngày 29 tháng 9 năm 2014 của UBND tỉnh
Hà Nam về việc ban hành quy định một số nội dung quản lý nhà nước về khoáng sản và hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Hà Nam
Ủy ban nhân dân tỉnh căn cứ vào các quy định của Luật Khoáng sản và tình hình thực tế tại địa phương để ban hành văn bản cụ thể hóa các quy định áp dụng
Trang 3326
thực hiện trên địa bàn tỉnh Chủ yếu là các quy định về quản lý và sử dụng vật liệu
nổ công nghiệp, về cấp quyền khai thác khoáng sản bao gồm hồ sơ, biểu mẫu đăng
ký, thời gian thực hiện, trách nhiệm của đơn vị đầu tư và cơ quan quản lý…
1.4.2 Các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản
1.4.2.1 Văn bản cấp Trung ương
Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 23 tháng 06 năm 2014
Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2014 của Chính phủ quy định về Quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường
Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường
Nghị định số 127/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định điều kiện của tổ chức hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường
Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 04 năm 2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn
Nghị định số 12/2016/NĐ-CP ngày 19 tháng 2 năm 2016 của Chính Phủ về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản
Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 04 năm 2015 của Chính phủ về Quản lý chất thải và phế liệu
Nghị định số 25/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2013 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày 29 tháng 05 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường
Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/06/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại
Trang 3427
Thông tư số 38/2015/TT-BTNMT ngày 30/06/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, về việc cải tạo phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Và một số văn bản khác có liên quan
Đối với văn bản cấp Trung ương, quan trọng nhất chính là quy định các thủ tục hành chính về môi trường đối với các dự án đầu tư khai thác và chế biến khoáng sản Trước khi làm hồ sơ xin cấp giấy phép khai thác khoáng sản, chủ dự án phải thực hiện đầy đủ các quy trình: thăm dò chất lượng và trữ lượng mỏ, làm báo cáo khả thi, thiết kế cơ sở mỏ, báo cáo đánh giá tác động môi trường, đề án cải tạo, phục hồi môi trường trình các cấp có thẩm quyền (liên quan đến Sở Công thương, Sở Tài nguyên và Môi trường) xem xét, phê duyệt Ngoài ra còn các thủ tục về lĩnh vực thuế, phí (liên quan đến Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài chính) và lĩnh vực xây dựng công trình (liên quan đến Sở Xây dựng)
Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày 29/05/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường và Thông tư số 38/2015/TT-BTNMT ngày 30/06/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, về việc cải tạo phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản là hai văn bản được áp dụng nhiều nhất đối với cơ quan quản lý hoạt động bảo vệ môi trường Đối với hoạt động khai thác khoáng sản nói chung có những quy định cụ thể về thủ tục danh mục hồ sơ, thời gian nộp hồ sơ, thời gian xử lý, yêu cầu cụ thể về nội dung và cách trình bày của từng văn bản Mặc dù các quy định tương đối chi tiết tuy nhiên vẫn còn mang nặng tính hình thức, các đề xuất bảo vệ môi trường khó thực hiện trên thực tế Những vấn
đề này sẽ được phân tích cụ thể tại Chương 3 của Luận văn
1.4.2.2 Văn bản cấp địa phương
Quyết định số 33/2009/QĐ-UBND ngày 4/12/2009 của UBND tỉnh Hà Nam
về việc ban hành Quy định quản lý chất thải rắn và nước thải trên địa bàn tỉnh Quyết định số 33/2015/QĐ-UBND ngày 25/12/2015 của UBND tỉnh Hà Nam
về việc ban hành quy định bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Hà Nam
Trang 3528
Ủy ban nhân dân tỉnh đã có một số thay đổi nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản thực hiện các quy định bảo vệ môi trường cho phù hợp với tình hình hoạt động thực tế Ví dụ giảm tần suất quan trắc
cố định theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường từ 06 lần/năm xuống còn
03 lần/năm, đồng nghĩa với việc giảm chi phí cho doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế khó khăn hiện nay
1.4.3 Các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam có liên quan
QCVN 08:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt
QCVN 09:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm
QCVN 14:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt
QCVN 07:2009/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại
QCVN 26:2010/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn
QCVN 27:2010/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về rung động
QCVN 05:2013/BTNMT - Chất lượng không khí - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh
Quyết định số 3733/2002/BYT, ngày 10/10/2002 của Bộ Y tế về việc ban hành 21 tiêu chuẩn vệ sinh lao động, 05 nguyên tắc và 07 thông số vệ sinh lao động Quy chuẩn 02:2009/BYT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt
QCVN 05:2012/BLĐTBXH - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động trong khai thác và chế biến đá
TCVN 5326:2008 – Kỹ thuật khai thác mỏ lộ thiên
QCVN 02:2008/BCT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong bảo quản, vận chuyển, sử dụng và tiêu huỷ vật liệu nổ công nghiệp
Trang 36khai thác, chế biến khoáng sản trong quá trình hoạt động
Trang 3730
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tỉnh Hà Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản tương đối dồi dào về trữ lượng và phong phú về chủng loại, trong đó chủ yếu là đá vôi Tùy vào chất lượng
đá vôi (được thể hiện ở thành phần đá trong báo cáo thăm dò khoáng sản của doanh nghiệp), đá vôi sau khai thác có thể phục vụ cho mục đích sản xuất xi măng hoặc làm vật liệu xây dựng thông thường
Theo quy định tại khoản 1 Điều 64 Luật Khoáng sản năm 2010, khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường bao gồm:
- Cát các loại (trừ cát trắng silic) có hàm lượng SiO2 nhỏ hơn 85%, không có hoặc có các khoáng vật casiterit, volframit, monazit, zircon, ilmenit, vàng đi kèm nhưng không đạt chỉ tiêu tính trữ lượng theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường
- Đất sét làm gạch, ngói theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam, các loại sét (trừ sét bentonit, sét kaolin) không đủ tiêu chuẩn sản xuất gốm xây dựng, vật liệu chịu lửa samot, xi măng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam
- Đá cát kết, đá quarzit có hàm lượng SiO2 nhỏ hơn 85%, không chứa hoặc
có chứa các khoáng vật kim loại, kim loại tự sinh, nguyên tố xạ, hiếm nhưng không đạt chỉ tiêu tính trữ lượng theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc không đủ tiêu chuẩn làm đá ốp lát, đá mỹ nghệ theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam
- Đá trầm tích các loại (trừ diatomit, bentonit, đá chứa keramzit), đá magma (trừ đá syenit nephelin, bazan dạng cột hoặc dạng bọt), đá biến chất (trừ đá phiến mica giàu vermiculit) không chứa hoặc có chứa các khoáng vật kim loại, kim loại tự sinh, đá quý, đá bán quý và các nguyên tố xạ, hiếm nhưng không đạt chỉ tiêu tính trữ lượng theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường, không đủ tiêu chuẩn làm
Trang 38- Đá vôi, sét vôi, đá hoa (trừ nhũ đá vôi, đá vôi trắng và đá hoa trắng) không
đủ tiêu chuẩn làm nguyên liệu sản xuất xi măng pooc lăng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam hoặc không đủ tiêu chuẩn làm nguyên liệu sản xuất đá ốp lát, đá mỹ nghệ theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam
- Đá dolomit có hàm lượng MgO nhỏ hơn 15%, đá dolomit không đủ tiêu chuẩn sản xuất thủy tinh xây dựng, làm nguyên liệu sản xuất đá ốp lát, đá mỹ nghệ theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam
Luận văn tập trung nghiên cứu vào đối tượng là hoạt động khai thác đá vôi làm vật liệu xây dựng thông thường, không đủ tiêu chuẩn làm nguyên liệu sản xuất
xi măng hoặc nguyên liệu sản xuất đá ốp lát, đá mỹ nghệ
Trên thực tế, hoạt động khai thác đá vôi luôn luôn phải đi kèm với hoạt động nghiền sàng để tạo ra những sản phẩm ở cỡ đá nhỏ hơn, phù hợp với mọi nhu cầu xây dựng của khách hàng Hai hoạt động này đều tạo ra những nguồn gây ô nhiễm
và cần phải được kiểm soát, quản lý về mặt môi trường, do đó những nội dung của luận văn cũng mô tả đầy đủ cả hai hoạt động này
2.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi không gian:
Hoạt động khai thác, chế biến đá vôi diễn ra tập trung ở hai huyện có núi đá vôi trên địa bàn tỉnh là huyện Thanh Liêm và huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Do công nghệ khai thác và chế biến đá vôi của các doanh nghiệp trên địa bàn hai huyện
là tương đồng nhau, các biện pháp bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp cũng
Trang 39* Phạm vi thời gian:
Số liệu về hiện trạng chất lượng môi trường của một số doanh nghiệp trên địa bàn huyện Thanh Liêm được thu thập trong giai đoạn 2015-2016
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thiện nội dung nghiên cứu, luận văn tốt nghiệp đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản như sau:
2.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Để phục vụ viết và hoàn thiện luận văn, tác giả luận văn đã tiến hành thu thập các tài liệu, số liệu, báo cáo, văn bản có liên quan đến nội dung và khu vực nghiên cứu như sau:
- Thông tin chung về tỉnh Hà Nam (diện tích, dân số, vị trí địa lý, điều kiện kinh tế - xã hội, hệ thống giao thông, hệ thống thủy văn…), tài nguyên khoáng sản của cả tỉnh Hà Nam và trên địa bàn huyện Thanh Liêm (chủng loại, trữ lượng)
- Thực trạng hoạt động khai thác khoáng sản tại tỉnh Hà Nam, huyện Thanh Liêm (số lượng cơ sở khai thác đá vôi theo giấy phép, thực tế việc cấp phép, hệ thống khai thác đang áp dụng )
- Một số văn bản pháp luật về quản lý hoạt động khai thác khoáng sản và bảo
vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản (các văn bản hiện hành đang áp dụng trên thực tế tại cơ quan quản lý các cấp)
- Một số báo cáo về công tác quản lý môi trường của Sở Tài nguyên và Môi trường, Uỷ ban nhân dân huyện Thanh Liêm và công tác quản lý vật liệu nổ công nghiệp của Sở Công thương (các báo cáo định kỳ của cơ quan quản lý trực tiếp hoạt
Trang 402.3.2 Phương pháp khảo sát thực địa
Tiến hành đi khảo sát thực tế thông qua việc quan sát, chụp ảnh về hoạt động khai thác và chế biến đá vôi tại các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Thanh Liêm để
so sánh, đối chiếu với những thông tin thu thập được trong các tài liệu thứ cấp có liên quan (nhằm kiểm chứng một cách đột xuất việc thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường tại cơ sở, đánh giá sơ bộ hiện trạng khu vực nghiên cứu)
Ngoài ra, việc khảo sát thực địa còn kèm theo thu thập một số ý kiến (không tiến hành phỏng vấn và điều tra bằng bảng hỏi) của đối tượng là người dân sống dọc đường vận chuyển và công nhân vận hành tại mỏ về mức độ ô nhiễm do bụi phát sinh từ hoạt động khai thác, chế biến đá Vì nhiều lý do khác nhau nên những ý kiến này chỉ được thể hiện lồng ghép trong phần đánh giá hiệu quả của các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường đang thực hiện tại cơ sở
2.3.3 Phương pháp thống kê, xử lý và so sánh số liệu
Thống kê và so sánh số liệu hiện trạng chất lượng môi trường thu thập được từ các báo cáo kết quả quan trắc môi trường định kỳ với các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường hiện hành (về chất lượng không khí và tiếng ồn trong môi trường lao động, về chất lượng không khí xung quanh, về chất lượng nước thải sinh hoạt) Kết quả thu được sẽ là một trong những tiêu chí đánh giá hiệu quả của công tác bảo
vệ môi trường tại cơ sở