1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

sáng kiến kinh nghiệm toán 8 hay p1

10 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 29,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ. G.Polya (18871985) – Nhà toán học và là nhà sư phạm Mỹ gốc Hunggary đã khuyên rằng: “Ngay khi lời giải mà ta tìm được là tốt rồi thì tìm được một lời giải khác vẫn có lợi. Thật là sung sướng khi thấy rằng kết quả tìm ra được xác nhận nhờ hai lí luận khác nhau. Có được một chứng cớ rồi, chúng ta lại muốn tìm thêm một chứng cớ nữa, cũng như chúng ta muốn sờ vào một vật mà ta đã trông thấy.” Và riêng bản thân tôi cũng vậy, từ khi còn là học sinh, với bất kì một bài toán nào, khi tìm ra được lời giải rồi tôi cảm thấy vui lắm, nhưng khi tìm thêm được một lời giải khác cho bài toán đó nữa thì cảm giác rất khó tả, tôi sung sướng vô cùng. Chính vì thế mà khi trở thành một giáo viên tôi luôn nuôi nấng hoài bão làm thế nào để học sinh của mình chẳng những biết vận dụng những lí thuyết đã học để giải được bài tập, mà còn có niềm đam mê khi học toán. Từ đó khơi dậy trong các em thói quen khi giải được bài tập rồi cố tìm thêm cách khác nữa để giải bài tập đó, để cuối cùng sẽ chọn được cách giải ngắn gọn, dễ hiểu nhất. Tôi đồng ý với lời khuyên của nhà toán học G.Polya. Cái lợi thu được khi ta tìm thêm những lời giải khác nhau của một bài toán có thể là: Nó là dịp để ta nhớ lại, hoặc xem lại những kiến thức cũ. Qua đó giúp ta nắm vững kiến thức hơn. Nó giúp ta rèn luyện kỹ năng tìm lời giải, kỹ năng trình bày lời giải cũng như kỹ năng vận dụng những kiến thức đã học vào việc giải toán. Nó giúp ta có kinh nghiệm trong việc lựa chọn phương án tối ưu khi giải một bài toán. Dần dần nó sẽ tạo niềm đam mê, hứng thú trong việc học môn hình học, môn học mà không ít học sinh cảm thấy sợ. Và đó cũng là lý do tôi chọn đề tài: “Dạy học sinh giải một số bài tập chương I – Hình học 8 bằng nhiều cách”.

Trang 1

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ.

G.Polya (1887-1985) – Nhà toán học và là nhà sư phạm Mỹ gốc

Hunggary đã khuyên rằng: “Ngay khi lời giải mà ta tìm được là tốt rồi thì tìm được một lời giải khác vẫn có lợi Thật là sung sướng khi thấy rằng kết quả tìm

ra được xác nhận nhờ hai lí luận khác nhau Có được một chứng cớ rồi, chúng ta lại muốn tìm thêm một chứng cớ nữa, cũng như chúng ta muốn sờ vào một vật mà

ta đã trông thấy.”

Và riêng bản thân tôi cũng vậy, từ khi còn là học sinh, với bất kì một bài toán nào, khi tìm ra được lời giải rồi tôi cảm thấy vui lắm, nhưng khi tìm thêm được một lời giải khác cho bài toán đó nữa thì cảm giác rất khó tả, tôi sung sướng

vô cùng Chính vì thế mà khi trở thành một giáo viên tôi luôn nuôi nấng hoài bão làm thế nào để học sinh của mình chẳng những biết vận dụng những lí thuyết đã học để giải được bài tập, mà còn có niềm đam mê khi học toán Từ đó khơi dậy trong các em thói quen khi giải được bài tập rồi cố tìm thêm cách khác nữa để giải bài tập đó, để cuối cùng sẽ chọn được cách giải ngắn gọn, dễ hiểu nhất

Tôi đồng ý với lời khuyên của nhà toán học G.Polya Cái lợi thu được khi ta tìm thêm những lời giải khác nhau của một bài toán có thể là:

- Nó là dịp để ta nhớ lại, hoặc xem lại những kiến thức cũ Qua đó giúp ta nắm vững kiến thức hơn

- Nó giúp ta rèn luyện kỹ năng tìm lời giải, kỹ năng trình bày lời giải cũng như kỹ năng vận dụng những kiến thức đã học vào việc giải toán

- Nó giúp ta có kinh nghiệm trong việc lựa chọn phương án tối ưu khi giải một bài toán

- Dần dần nó sẽ tạo niềm đam mê, hứng thú trong việc học môn hình học, môn học mà không ít học sinh cảm thấy sợ

Và đó cũng là lý do tôi chọn đề tài: “Dạy học sinh giải một số bài tập chương I – Hình học 8 bằng nhiều cách”.

PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.

I CƠ SỞ LÍ LUẬN.

Trang 2

Để học tốt môn hình học đòi hỏi học sinh phải:

Nắm vững tất cả các kiến thức cơ bản về hình học từ lớp dưới Dù không phải nhớ nhiều nhưng trước hết chúng ta phải nhớ các định nghĩa, các tính chất, các định lí và các hệ quả Để nhớ và hiểu sâu sắc các định nghĩa và các định lý, chúng ta phải làm nhiều bài tập

Nắm vững các phương pháp chứng minh hình học

Có kĩ năng tìm lời giải và kĩ năng trình bày lời giải

Trong chuyên đề này, tôi không có tham vọng chỉ ra cho học sinh cách để trở thành học sinh giỏi hình học Tôi chỉ nêu lên những kinh nghiệm của mình, về việc dạy học sinh giải một số bài toán trong chương I - Hình học 8 bằng nhiều cách Nhằm giúp học sinh thu được cái lợi như đã nói ở trên

Đối với chương I - Hình học 8, rất nhiều bài tập có thể giải bằng nhiều cách, ví như:

II.THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI.

1.Thuận lợi.

Trường THCS Nghi Thái có cơ sở vật chất khang trang, sạch đẹp Đội ngũ giáo viên có chuyên môn vững vàng, nhiệt tình, luôn gần gũi với học sinh, tạo cho các em mối thiện cảm từ tinh thần đến việc học

Được sự quan tâm giúp đỡ của Ban Giám hiệu nhà trường, các tổ chuyên môn và các đồng nghiệp

Nhiều học sinh được phụ huynh quan tâm đến việc học tập và có điều kiện học tập tốt

Trang 3

2 Khó khăn.

Một số học sinh có hoàn cảnh hết sức khó khăn về kinh tế, ảnh hưởng rất nhiều đến việc học tập của các em

Một số em chưa có ý thức học tập, còn ỷ lại, không chịu học bài và làm

bài trước khi đến lớp, không nắm được những kiến thức cơ bản

Trang thiết bị còn thiếu thốn

3 Điều tra.

Đầu năm học 2011 – 2012, tôi đã điều tra tình hình học toán của học sinh

3 lớp 8 với tổng số 114 học sinh, thì trong đó có:

III BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

Sau khi đọc một số tài liệu liên quan đến đề tài, sách hướng dẫn và giải các bài tập ở SGK cùng một ít kinh nghiệm trong giảng dạy tôi xin trình bày một

số kinh nghiệm nhỏ để “Dạy học sinh giải một số bài tập chương I – Hình Học 8 bằng nhiều cách” như sau:

1 Dần dần tích luỹ cho học sinh các phương pháp chứng minh hình học.

Một khi học sinh nắm được nhiều phương pháp chứng minh thì sẽ rất thuận lợi trong việc tìm nhiều cách giải cho một bài toán

Tôi qui định: mỗi học sinh phải có thêm một quyển vở (vở các phương pháp chứng minh hình học) dùng để ghi tất các phương pháp chứng minh Mỗi trang sẽ ghi các phương pháp chứng minh về một “Chủ đề” nào đó Sau mỗi bài học, nếu có thể rút ra được phương pháp chứng minh về một chủ đề nào là tôi cho học sinh viết ngay phương pháp ấy vào trang ứng với chủ đề đó

Ví dụ: Sau khi đọc xong bài HÌNH THANG CÂN ta có thể rút ra thêm các

phương pháp chứng minh sau:

Để chứng minh hai đoạn thẳng bằng nhau ta có thể sử dụng tính chất của hình thang cân:

Trong một hình thang cân:

Trang 4

- Hai cạnh bên bằng nhau.

- Hai đường chéo bằng nhau

Để chứng minh hai góc bằng nhau ta có thể sử dụng tính chất của hình thang cân:

- Trong một hình thang cân hai góc kề một đáy bằng nhau

Để chứng minh một tứ giác là hình thang cân ta có thể chứng minh tứ giác đó là:

- Hình thang có hai góc kề một đáy bằng nhau;

- Hình thang có hai đường chéo bằng nhau

Khi học hết chương I – Hình học 8 thì học sinh sẽ tích luỹ được trong vở các phương pháp chứng minh hình học của mình như sau:

* CHỨNG MINH CÁC ĐOẠN THẲNG BẰNG NHAU

Phương pháp 1:

Sử dụng tính chất của hai tam giác bằng nhau:

Trong hai tam giác bằng nhau thì các cạnh tương ứng bằng nhau, các đường trung tuyến, các đường cao, các đường phân giác tương ứng cũng bằng nhau

Phương pháp 2:

Sử dụng tính chất của tam giác cân.

- Trong một tam giác cân, hai cạnh bên bằng nhau

- Trong một tam giác cân, đường cao (hoặc phân giác) xuất phát từ đỉnh thì cũng là đường trung tuyến của tam giác đó

Phương pháp 3:

Sử dụng tính chất của đường trung bình và tính chất đường trung tuyến của tam giác vuông.

Trong một tam giác:

- Đường trung bình ứng với một cạnh thì bằng một nửa cạnh ấy

- Đường thẳng đi qua trung điểm của một cạnh và song song với cạnh thứ hai thì đi qua trung điểm cạnh thứ ba

- Trong tam giác vuông, đường trung tuyến ứng với cạnh huyền thì bằng một nửa cạnh huyền

Phương pháp 4:

Sử dụng tính chất của tứ giác đặc biệt:

* Trong một hình thang cân:

- Hai cạnh bên bằng nhau

Trang 5

- Hai đường chéo bằng nhau.

* Trong một hình bình hành:

- Các cạnh đối diện bằng nhau

- Các đường chéo cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường

* Trong một hình chữ nhật:

- Các cạnh đối bằng nhau

- Các đường chéo bằng nhau và cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường

* Trong một hình thoi:

- Các cạnh bằng nhau

- Các đường chéo cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường

* Trong một hinh vuông:

- Các cạnh bằng nhau

- Các đường chéo bằng nhau và cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường

Phương pháp 5:

Sử dụng các tính chất của tia phân giác:

Một điểm nằm trên tia phân giác của một góc thì cách đều hai cạnh của góc

CHỨNG MINH CÁC GÓC BẰNG NHAU Phương pháp 1:

Sử dụng tính chất của hai tam giác bằng nhau:

- Trong hai tam giác bằng nhau thì các góc tương ứng bằng nhau

Phương pháp 2:

Sử dụng tính chất của tam giác cân:

- Trong một tam giác cân, hai góc ở đáy bằng nhau

- Trong một tam giác cân, đường cao (hoặc trung tuyến) kẻ từ đỉnh, đồng thời là đường phân giác của góc ở đỉnh

Phương pháp 3:

Sử dụng tính chất của hai góc có cạnh tương ứng song song (hoặc vuông góc) với nhau:

- Hai góc có cạnh tương ứng song song hoặc vuông góc thì bằng nhau nếu cùng nhọn hoặc cùng tù

Phương pháp 4:

- Sử dụng tính chất của hai góc phụ nhau, bù nhau:

Trang 6

- Hai góc cùng bằng, cùng bù hoặc cùng phụ với một góc thì bằng nhau.

Phương pháp 5:

Sử dung tính chất của các đường thẳng song song:

- Hai đường thẳng song song tạo với một đường thẳng bất kì:

+ Các góc so le trong bằng nhau và các so le ngoài bằng nhau + Các góc đồng vị bằng nhau

Phương pháp 6:

Sử dụng tính chất của tứ giác đặc biệt:

- Trong hình thang cân, hai góc kề một đáy thì bằng nhau

- Trong hình bình hành các góc đối bằng nhau

CHỨNG MINH CÁC ĐƯỜNG THẲNG SONG SONG

Phương pháp 1:

Sử dụng định lí về sự nhận biết hai đường thẳng song song:

- Nếu hai đường thẳng tạo với một một đường thẳng thứ ba:

+ Các góc so le trong (so le ngoài) bằng nhau, hoặc

+ Các góc đồng vị bằng nhau, hoặc

+ Các góc trong (hoặc ngoài) cùng phía bù nhau

thì chúng song song với nhau

Phương pháp 2:

Sử dụng hệ quả của định lí về đường thẳng song song:

- Hai đường thẳng cùng vuông góc với một đường thẳng thứ ba thì song song với nhau

Phương pháp 3:

Sử dụng tính chất của đường trung bình và hệ quả của tiên đề Ơclit:

- Trong một tam giác, đường thẳng đi qua trung điểm của hai cạnh thì song song với cạnh thứ ba

- Hai đường thẳng song song với một đường thẳng thứ ba thì song song với nhau

Phương pháp 4:

Sử dụng tính chất của các tứ giác đặc biệt:

- Trong các hình bình hành, hình chữ nhật, hình vuông,hình thoi thì các cạnh đối song song với nhau

CHỨNG MINH CÁC ĐƯỜNG THẲNG VUÔNG GÓC VỚI NHAU

Trang 7

Phương pháp 1:

Sử dụng định lí về các đường phân giác của các góc kề bù nhau:

Đường phân giác của hai góc kề và bù nhau thì vuông góc với nhau

Phương pháp 2:

Sử dụng sự liên hệ giữa hai đường thẳng song song và đường thẳng vuông góc với chúng: Cho hai đường thẳng song song với nhau, một đường

thẳng vuông góc với đường này thì cũng vuông góc với đường kia

Phương pháp 3:

Sử dụng định nghĩa của tam giác vuông:

Tam giác vuông là tam giác có một góc vuông, tức là có một cặp cạnh vuông góc với nhau.Tam giác ABC vuông tại A(AB ⊥AC)

Chú ý: Để chứng minh một tam giác là tam giác vuông, ta có thể:

- Chỉ ra nó có hai góc phụ nhau

- Chỉ rõ trong tam giác ấy, đường trung tuyến thuộc một cạnh bằng nửa cạnh ấy

- Chỉ rõ tam giác ấy thỏa định lý Pitago hoặc các hệ quả của định lý ấy

Phương pháp 4:

Sử dụng tính chất của tam giác cân :

- Trong một tam giác cân, đường phân giác (hoặc đường trung tuyến) kẻ từ đỉnh đồng thời cũng là đường cao

Phương pháp 5:

Sử dụng tính chất của trực tâm trong tam giác:

- Trong một tam giác, ba đường cao đồng quy tại một điểm gọi là trực tâm như vậy đường thẳng nối trực tâm với một đỉnh thì vuông góc với cạnh đối diện

Phương pháp 6:

Sử dụng tính chất các đường chéo cùa hình vuông, hình thoi:

- Trong một hình vuông hoặc hình thoi, hai đường chéo vuông với nhau

CHỨNG MINH CÁC ĐIỂM THẲNG HÀNG Phương pháp 1:

Để chứng minh ba điểm A, O, B thẳng hàng ta chứng minh: AOB 180· = 0’

Phương pháp 2:

Trang 8

Để chứng minh ba điểm A, B, C thẳng hàng, ta chứng minh các đường thẳng AB và BC (hoặc AB, AC; hoặc AC, BC ) cùng song song với một đường thẳng

Phương pháp 3:

Cho một đường thẳng d nếu AH //d và BH //d thì AH ≡ BH hay ba điểm

A, B, H thẳng hàng

Phương pháp 4:

Nếu AOx BOx· =·

và AO, BO nằm cùng phía đối với Ox thì OA ≡OB hay

ba điểm A, B, O thẳng hàng

Phương pháp 5:

Sử dụng một số tính chất của các đường trong tam giác, tứ giác:

- Trong hình bình hành ABCD, các đỉnh đối diện A,C và trung điểm I của đường chéo BD là ba điểm thẳng hàng

- Trong một tam giác: một đỉnh bất kì, trọng tâm của tam giác và trung điểm của cạnh đối diện là ba điểm thẳng hàng

- Trong một tam giác: một đỉnh bất kì, chân của đường cao thuộc cạnh đối diện và trực tâm là ba điểm thẳng hàng

- Những điểm cách đều hai đầu mút của một đoạn thẳng thì nằm trên đường trung trực của đoạn thẳng ấy tức là thẳng hàng

CHỨNG MINH CÁC ĐƯỞNG THẲNG ĐỒNG QUY

Phương pháp 1:

Sử dụng các phương pháp ba điểm thẳng hàng

Gọi giao điểm của hai trong ba đường thẳng ấy là I Để chứng minh đường thứ ba đi qua hai điểm A, B cũng đi qua I, ta chứng minh ba điểm A, B, I thẳng hàng

Phương pháp 2:.

Sử dụng đồng quy của các đường thẳng trong tam giác:

- Các đường cao đồng quy tại một điểm

- Các đường trung tuyến đồng quy tại một điểm

- Các đường phân giác đồng quy tại một điểm

- Các đường trung trực của các cạnh đồng quy tại một điểm

- Sử dụng cách chứng minh gián tiếp

CHỨNG MINH TIA PHÂN GIÁC

Trang 9

Phương pháp sử dụng định nghĩa của tia phân giác:

- Tia phân giác là tia nằm giữa hai cạnh của một góc và hợp với hai cạnh ấy những góc bằng nhau

CHỨNG MINH ĐƯỜNG TRUNG TUYẾN

Phương pháp sử dụng định nghĩa của đường trung tuyến:

- Đường trung tuyến của tam giác là đoạn thẳng có một đầu là một đỉnh của một tam giác, còn đầu kia là trung điểm của cạnh đối diện

CHỨNG MINH TAM GIÁC CÂN Phương pháp 1: Sử dụng định nghĩa của tam giác cân

- Tam giác cân là tam giác có hai cạnh bằng nhau

Phương pháp 2: Sử dụng tính chất của tam giác cân

- Một tam giác cân có hai góc bằng nhau và ngược lại, một tam giác có hai góc bằng nhau là tam giác cân

- Trong một tam giác cân, đường cao, đường trung tuyến, đường phân giác kẻ từ đỉnh trùng nhau và ngược lại, một tam giác có đường cao vừa là đường phân giác hoặc là đường trung tuyến là tam giác cân

CHỨNG MINH TAM GIÁC ĐỀU Phương pháp: Sử dụng định nghĩa của tam giác đều.

- Tam giác đều là tam giác có ba cạnh bằng nhau

Phương pháp 2: Sử dụng tính chất của tam giác đều.

- Một tam giác đều có 3 góc bằng nhau, mỗi góc bằng 600

- Do vậy, một tam giác cân có một góc bằng 600 là một tam giác đều

CHỨNG MINH TỨ GIÁC LÀ HÌNH THANG Phương pháp 1: Sử dụng định nghĩa của hình thang

- Hình thang là tứ giác có hai cạnh song song

- Hình thang cân

+ Hình thang cân là hình thang có hai góc kề một đáy bằng nhau + Nếu một hình thang có hai đường chéo bằng nhau thì nó là hình thang cân

CHỨNG MINH TỨ GIÁC LÀ HÌNH BÌNH HÀNH Phương pháp 1: Sử dụng định nghĩa của hình bình hành.

- Hình bình hành là tứ giác có hai cạnh đối song song

Phương pháp 2: Sử dụng dấu hiệu để nhận biết một tứ giác là hình bình hành:

Trang 10

- Tứ giác có hai cạnh đối bằng nhau (hay hai cặp góc đối bằng nhau) là hình bình hành

- Tứ giác có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường là hình bình hành

- Tứ giác có một cặp cạnh đối song song và bằng nhau là hình bình hành

CHỨNG MINH TỨ GIÁC LÀ HÌNH CHỮ NHẬT Phương pháp 1: Sử dụng định nghĩa của hình chữ nhật:

- chữ nhật là hình bình hành có một góc vuông

Chú ý: Hình chữ nhật có tất cả các góc đều vuông.

Phương pháp 2: Sử dụng tính chất của hình chữ nhật.

- Trong một hình chữ nhật, tất cả các góc đều vuông Do vậy để chứng minh một tứ giác là hình chữ nhật, ta chỉ cần chứng minh nó có 3 góc vuông

- - Nếu hình bình hành có hai đường chéo bằng nhau thì nó là hình chữ nhật

Ngày đăng: 10/03/2021, 21:35

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w