Do đó, vấn đề bảo vệ và sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp là rất cần thiết, đề tài “Nghiên cứu sự biến động đất nông nghiệp do ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa huyện
Trang 1Dương Thị Thơm
NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỘNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
DO ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA
VÀ ĐÔ THỊ HÓA HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – Năm 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NÔI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN HÀ NỘI
Dương Thị Thơm
NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỘNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
DO ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA
VÀ ĐÔ THỊ HÓA HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
Mã số : 60 85 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Cán bộ hướng dẫn: PGS.TSKH Nguyễn Xuân Hải
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Một số khái niệm 3
1.2 Khái quát tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 4
1.2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới 4
1.2.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam 6
1.3 Một số đặc điểm của CNH – ĐTH ở Việt Nam hiện nay 10
1.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình CNH - ĐTH đến đất nông nghiệp 12
1.4.1 Trên thế giới 12
1.4.2 Trong nước 15
1.5 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Sóc Sơn 21
1.5.1 Điều kiện tự nhiên 21
1.5.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 28
Chương 2 MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 32
2.2 Đối tượng nghiên cứu 32
2.3 Nội dung nghiên cứu 32
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 32
2.3.2 Nghiên cứu tình hình sử dụng đất nông nghiệp và quá trình CNH – ĐTH của huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 32
2.3.3 Nghiên cứu sự biến động đất nông nghiệp do ảnh hưởng của quá trình CNH - ĐTH khu vực nghiên cứu 33
2.3.4 Dự báo sự biến động diện tích đất nông nghiệp sẽ phải chuyển mục đích sử dụng cho CNH – ĐTH đến 2020 33
2.3.5 Đề xuất giải pháp bảo vệ và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất nông nghiệp 33
Trang 42.4 Phương pháp nghiên cứu 33
2.4.1 Phương pháp tổng hợp, phân tích, kế thừa tài liệu 33
2.4.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa 34
2.4.3 Phương pháp điều tra có sự tham gia của cộng đồng (PRA): 35
2.4.4 Phương pháp nghiên cứu so sánh và phương pháp logic 35
2.4.6 Phương pháp chuyên gia 35
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp và quá trình phát triển CNH – ĐTH của huyện Sóc Sơn 37
3.1.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp 37
3.1.2 Quá trình công nghiệp hóa – đô thị hóa của huyện 39
3.2 Sự biến động đất nông nghiệp do ảnh hưởng của quá trình CNH - ĐTH 48
3.2.1 Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế - xã hội tác động đến việc sử dụng đất đai 48
3.2.2 Sự biến động về diện tích đất nông nghiệp 49
3.2.3 Sự biến động về chất lượng đất nông nghiệp 57
3.3 Dự báo sự biến động diện tích đất nông nghiệp đến năm 2020 63
3.3 Đề xuất các giải pháp 67
3.3.1 Giải pháp quy hoạch sử dụng đất 67
3.3.2 Giải pháp về chính sách nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 68
3.3.3 Giải pháp về khoa học công nghệ 69
3.3.4 Giải pháp về hạn chế ô nhiễm môi trường đất do CNH – ĐTH 70
KẾT LUẬN 72
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Biến động diện tích đất nông nghiệp của cả nước 8
Bảng 1.2 Cơ cấu diện tích đất tại huyện Sóc Sơn 25
Bảng 1.3 Cơ cấu kinh tế huyện Sóc Sơn qua các năm từ 1991 – 2011 28
Bảng 1.4 Lao động trên địa bàn huyện Sóc Sơn (tính đến 31/12/2011) 29
Bảng 2.1 Các chỉ tiêu phân tích đất 34
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất tại huyện Sóc Sơn năm 2012 38
Bảng 3.2 Tổng giá trị xản suất trên địa bàn huyện qua các năm 43
Bảng 3.3 Số lượng Doanh nghiệp và lao động trong doanh nghiệp qua các năm.44 Bảng 3.4 Biến động diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2000 - 2005 50
Bảng 3.5 Biến động diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2005 - 2010 51
Bảng 3.6 Biến động diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2010 - 2012 55
Bảng 3.7 Chất lượng đất nông nghiệp tại huyện Sóc Sơn……… …… 57
Bảng 3.8 Kết quả phân tích mẫu đất huyện Sóc Sơn ……… … 59
Bảng 3.9 So sánh lượng bón phân thực tế với tiêu chuẩn bón phân hợp lý … 61
Bảng 3.10 So sánh tình hình sử dụng thuốc BVTV thực tế và khuyến cáo 62
Bảng 3.11 Dự báo sự biến động DT đất trên địa bàn Sóc Sơn đến năm 2020 65
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Bản đồ quy hoạch và sử dụng đất huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội ……….36
Biểu đồ 3.1 Cơ cấu đất đai năm 2012 của huyện Sóc Sơn 37 Biểu đồ 3.2 So sánh cơ cấu kinh tế huyện Sóc Sơn qua các năm (1991-2011) 41 Biểu đồ 3.3 Hàm lượng kim loại nặng trong đất tại huyện Sóc Sơn và so sánh với một số điểm quan trắc khác tại miền Bắc giai đoạn 2004 - 2008 57
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NN&PTNT Nông nghiệp & Phát triển nông thôn
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
Bắt đầu từ nửa sau thế kỉ 20, quá trình phát triển của nhân loại đã chuyển biến theo hướng mới, tạo cơ hội cho các quốc gia đang phát triển, nhất là các quốc gia châu Á đã có những bước phát triển mang tính nhảy vọt Quá trình hiện đại hóa trên cơ sở công nghiệp hóa đã làm cho quá trình đô thị hóa trở thành một xu hướng nổi bật của các quốc gia đang phát triển vào thập kỉ 50 - 60
Là một nước đang phát triển, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó Quá trình công nghiệp hóa - đô thị hóa (CNH - ĐTH) đang diễn ra sôi động trên khắp cả nước, đặc biệt ở các vùng ngoại thành và ven đô Hà Nội, quá trình này diễn
ra mạnh mẽ gây ra áp lực ngày càng lớn đối với tài nguyên đất nông nghiệp
Quá trình chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất đô thị, đất sử dụng cho các hoạt động công nghiệp đã tác động đến một bộ phận dân cư cũng như ảnh hưởng đến chất lượng đất Nói đến quá trình CNH - ĐTH người ta thường nghĩ ngay đến mặt lợi nhiều hơn là mặt hại, trước tiên quá trình công nghiệp hóa, phát triển các đô thị lớn sẽ cung cấp nhiều cơ hội việc làm, lương bổng, dịch vụ xã hội, năng suất lao động cao hơn Nó góp phần chuyển hướng phát triển kinh tế và là động lực dịch chuyển cơ cấu kinh tế ở cả khu vực đô thị và nông thôn Quá trình này giúp cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ lạc hậu sang tiến bộ hơn Hay nói cách khác, chuyển một nước nông nghiệp lạc hậu sang công nghiệp Tuy nhiên, hiện nay trong quá trình chuyển đổi ban đầu, mặt trái của các quá trình này tác động rất mạnh mẽ
Theo thống kê sơ bộ của Bộ Tài nguyên & Môi trường, trong 7 năm qua (năm 2001-2007), tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi chuyển sang đất phi nông nghiệp trên 500.000 ha (chiếm hơn 5% đất nông nghiệp đang sử dụng) Đặc biệt, việc đất nông nghiệp bị thu hồi và chuyển sang mục đích đô thị hóa và công nghiệp hóa năm sau luôn tăng hơn năm trước Chỉ tính riêng trong năm 2007, diện tích đất trồng lúa cả nước đã giảm 125.000 ha Một con số không nhỏ chút nào khi
mà đất đai đang ngày càng bị suy giảm cả về chất lượng và số lượng
Trang 9Từ khi bắt đầu thực hiện chính sách khuyến khích đầu tư (năm 1991) đến cuối tháng 12/2010, đã có 261 khu công nghiệp được thành lập, chiếm 71.394 ha đất, trong đó 45.854 ha có thể sử dụng làm mặt bằng sản xuất, đã đưa 21.095 ha vào
sử dụng với tỷ lệ lấp đầy mới chỉ đạt 46% Điều đáng nói là rất nhiều diện tích các khu công nghiệp này đều là đất nông nghiệp, trong khi đất được lấy bị bỏ hoang vì chưa thể lấp đầy thì cùng với đó có biết bao người nông dân phải rơi vào cảnh thiếu đất sản xuất
Diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, các dự án phát triển đến đâu hộ nông dân mất đất đến đó, không còn đất làm ruộng phần lớn người dân không có trình độ phải lên thành phố kiếm sống, điều này làm gia tăng dân số cũng như các tệ nạn xã hội ở đô thị Riêng Hà Nội dự kiến tỉ lệ đô thị hoá đạt 55-62,5% trong năm 2020 và dân số đô thị đến năm 2020 là 7,9-8,5 triệu người Do vậy, đất đai sử dụng để xây nhà ở và các cơ sở hạ tầng là rất thiếu thốn Theo kế hoạch sử dụng đất của Sở Quy hoạch Kiến trúc thành phố Hà Nội, từ năm 2008 - 2010, Hà Nội sẽ thực hiện thu hồi, chuyển hơn 5.200 ha đất nông nghiệp để phục vụ nhu cầu phát triển đô thị
Sóc Sơn là một huyện thuộc ngoại thành Hà Nội, là một trong những vùng chịu ảnh hưởng rất lớn của quá trình CNH - ĐTH Diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, chất lượng đất bị suy giảm Theo quy hoạch phát triển đến năm
2020 thì huyện Sóc Sơn cùng với các huyện khác thuộc ngoại thành Hà Nội sẽ là vùng sản xuất rau an toàn, hoa quả sạch phục vụ cho các đô thị, các khu công nghiệp, đảm bảo môi trường sinh thái của đô thị Do đó, vấn đề bảo vệ và sử dụng
hiệu quả đất nông nghiệp là rất cần thiết, đề tài “Nghiên cứu sự biến động đất
nông nghiệp do ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội” được tiến hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của quá
trình CNH – ĐTH đến quỹ đất nông nghiệp và đề xuất một số giải pháp cho phát
triển bền vững của huyện Sóc Sơn
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Một số khái niệm
Theo quy định của Luật đất đai năm 2003, có thể hiểu “đất nông nghiệp” là
tổng thể các loại đất có đặc tính sử dụng giống nhau, với tư cách là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, khoanh nuôi tu bổ bảo vệ rừng, nghiên cứu thí nghiệp về nông nghiệp, lâm nghiệp Nhóm đất nông nghiệp gồm các loại đất như sau:
- Đất trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm;
- Đất rừng sản xuất; rừng phòng hộ, rừng đặc dụng;
- Đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối;
- Đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ
Nông nghiệp đô thị là một ngành sản xuất, chế biến và buôn bán thực phẩm,
chất đốt (thể hiện tính cơ giới hóa cao) dựa trên các vùng đất và mặt nước nằm xen
kẽ, rải rác trong các đô thị và vùng ngoại ô Theo cách hiểu truyền thống thì “nông
nghiệp đô thị” là nông nghiệp trong các vùng cận thành phố hoặc đang trong quá
trình đô thị hoá Người ta còn hay gọi với tên gọi khác là nông nghiệp tiền đô thị hay nông nghiệp ven đô [12]
Có thể hiểu công nghiệp hoá là quá trình biến đổi xã hội đặc trưng bởi kinh
tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp Nói đơn giản, công nghiệp hoá là quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ sang cơ cấu kinh tế công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ Quá trình công nghiệp hoá ở cấp độ vi
mô thể hiện việc biến đổi lao động từ lao động thủ công bằng sức người và sức súc vật sang lao động cơ khí, lao động dựa vào máy móc Ngày nay là lao động dựa vào các công nghệ - tin học Chỉ báo dễ nhận thấy nhất của công nghiệp hoá là cơ cấu lao động theo ngành kinh tế nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ thay đổi theo hướng tăng dần tỉ lệ lao động công nghiệp và giảm dần tỉ lệ lao động nông nghiệp
Trang 11Một chỉ báo quan trọng khác là các ngành nghề công nghiệp liên tục xuất hiện Một chỉ báo nữa là sự gia tăng tỉ trọng sản lượng công nghiệp trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội [16]
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là quá trình
chuyển khu vực nông thôn từ nông nghiệp cổ truyền thành khu vực có nền kinh tế thị trường phát triển với hệ thống phân công lao động đạt trình độ cao, dựa trên nền tảng kỹ thuật - công nghệ hiện đại và hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu trong khuôn khổ quá trình CNH - hiện đại hóa toàn bộ nền kinh tế Đây cũng là quá trình đô thị hóa, cải biến xã hội nông thôn lên một trình độ văn minh cao hơn, bảo đảm cho mọi người dân có đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được nâng cao [13]
Đô thị hoá là hiện tượng kinh tế - xã hội liên quan đến các dịch chuyển về
mặt kinh tế - xã hội, văn hoá, không gian, môi trường sâu sắc gắn liền với những tiến bộ KHKT, tạo đà thúc đẩy sự phân công lao động, chuyển đổi nghề nghiệp, hình thành các nghề nghiệp mới; thúc đẩy sự dịch cư vào trung tâm các đô thị và thúc đẩy phát triển kinh tế làm thay đổi đời sống xã hội và văn hoá, nâng cao mức sống người dân và làm thay đổi cả lối sống và hình thức giao tiếp xã hội… [12]
1.2 Khái quát tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới tổng diện tích đất tự nhiên là 148 triệu km2 Những loại đất tốt thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 12,6% Những loại đất quá xấu chiếm tới 40,5% Diện tích đất trồng trọt chỉ chiếm khoảng 10% tổng diện tích
tự nhiên Đất đai thế giới phân bố không đều giữa các châu lục và các nước (châu
Mỹ chiếm 35%, châu Á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, Châu Đại Dương chiếm 6%) [28] Bước vào thế kỷ XXI với những thách thức về an ninh lương thực, dân số, môi trường sinh thái thì nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất lương thực, thực phẩm cơ bản đối với loài người [13] Nhu cầu của con người ngày càng tăng đã gây sức ép nặng nề lên đất, đặc biệt là đất nông nghiệp Đất nông nghiệp bị suy thoái, biến chất và ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng nông sản
Trang 12Ngày nay, thoái hoá đất và hoang mạc hoá là một trong những vấn đề môi trường và tài nguyên thiên nhiên mà nhiều quốc gia đang phải đối mặt và giải quyết nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực Đất khô cằn có ở mọi khu vực, chiếm hơn 40% bề mặt Trái đất Theo ước tính, có khoảng 10 - 20% diện tích đất khô cằn đã bị thoái hoá [36] Điều này đã gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp trên đất
Thật sự khi đất nông nghiệp bị thoái hoá đã đe dọa cuộc sống của con người Theo tổ chức Nông lương Liên Hiệp quốc (FAO) cho biết, tình trạng thoái hoá đất gia tăng đã khiến năng suất cây trồng giảm và có thể đe doạ tới tình hình an ninh lương thực đối với khoảng ¼ dân số trên thế giới Năng suất cây trồng giảm, giá lương thực tăng cao, nguồn dự trữ thấp Trong khi đó nhu cầu tiêu dùng tăng và thiên tai đang là nguyên nhân gây nên tình trạng thiếu đói cho hàng triệu người ở các nước đang phát triển Theo ước tính của FAO, khoảng 1,5 tỷ người tương đương ¼ dân số thế giới sống phụ thuộc trực tiếp vào đất, vốn đang bị thoái hoá mạnh Trong thời gian dài, thoái hóa đất đang mở rộng trên phạm vi toàn thế giới và tác động tới hơn 20% diện tích đất nông nghiệp, 30% đất lâm nghiệp và 10% đất đồng cỏ Sự xói mòn đất dẫn tới việc giảm năng suất đất đây cũng là nguy cơ mất
an ninh lương thực, phá hoại các nguồn tài nguyên và sinh thái làm mất đa dạng sinh học và các nguy cơ khác[18]
Việc con người khai thác và sử dụng bừa bãi không có khoa học làm cho đất nông nghiệp giảm về cả số lượng Nhiều vùng đất trên thế giới đã trở thành sa mạc không thể canh tác được, các hệ sinh thái đất khô cằn rất nhạy cảm với việc khai thác quá mức và sử dụng đất không hợp lý Nghèo đói, mất ổn định chính trị, phá rừng, chăn thả quá mức và các hoạt động tưới tiêu nghèo nàn đều đóng góp vào sa mạc hóa Tại Châu Phi, phía nam Sahara, với 66% đất đai là sa mạc khô cằn đây là vùng đất đang gặp rất nhiều nguy cơ Khoảng 1,2 tỷ người của hơn 110 nước đang
bị đe dọa bởi vấn đề này[40]
Trang 13Hàng năm gần 12 triệu ha rừng nhiệt đới bị tàn phá, nhiều nhất ở vùng Châu
Mỹ Latinh và Châu Á Braxin hàng năm mất 1,7 triệu ha rừng, Ấn Độ 1,5 triệu ha rừng, Inđônêxia 900.000 ha và Thái Lan gần 400.000 ha Đối với các nước có dân
số đông như Trung Quốc, Ấn Độ sự suy thoái hóa đất ở, đất rừng đã tác động đáng kể tới nông nghiệp Đối với các nước như Campuchia, Lào nạn phá rừng làm củi đun, làm nương rẫy, xuất khẩu gỗ, chế biến các sản phẩm từ gỗ phục vụ cho cuộc sống của cư dân đã làm cạn kiệt nguồn tài nguyên rừng vốn phong phú [39]
Việc tàn phá rừng kéo theo sự hủy diệt của nhiều loài động vật, thực vật và làm mất tính đa dạng sinh học tự nhiên Cân bằng sinh thái bị phá vỡ làm hàng triệu
ha đất bị hoang mạc hóa[22]
Việc chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp không bền vững sẽ làm trầm trọng vòng luẩn quẩn: suy thoái đất - mất đa dạng sinh học - biến đổi khí hậu Suy thoái hóa đất làm nghèo dinh dưỡng, phá hủy cân bằng chu trình nước và góp phần làm mất an ninh lương thực, tỷ lệ nghèo đói gia tăng, cùng với mức tăng dân số và hàng loạt các nhu cầu của con người về các sản phẩm nông nghiệp ngày càng tăng thì cách tiếp cận quản lý đất đai không bền vững rõ ràng là đã thất bại
1.2.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam
Diện tích đất tự nhiên nước ta có 33.121,2 nghìn ha (theo số liệu kiểm kê năm 2005), trong đó có 24.822 nghìn ha là đất nông nghiệp, 3.335 nghìn ha là đất phi nông nghiệp, 5.016 nghìn ha là đất chưa sử dụng Diện tích đất của nước ta đứng hàng thứ 58 trên thế giới nhưng do dân số đông nên bình quân đất nông nghiệp là vào loại thấp, là một trong 40 nước có diện tích đất đai theo đầu người thấp nhất trên thế giới hiện nay (1/1/2007) [33] Đặc biệt là trong tổng số đất đó có tới hơn hai phần ba diện tích là đất đồi núi dốc, còn lại gần một phần ba là đồng bằng [26]
Theo điều 13 Luật đất đai Việt Nam năm 2003 thì tổng diện tích đất tự nhiên được chia thành 3 nhóm lớn là: Nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp, nhóm đất chưa sử dụng [19]
Trang 14Nhóm đất nông nghiệp bao gồm: Đất sản xuất nông nghiệp (đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm), đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp nước ta là 9.415.568 ha chiếm 37,93% tổng diện tích đất nông nghiệp Diện tích đất lâm nghiệp là 14.677.409 ha chiếm 59,13% tổng diện tích đất nông nghiệp Diện tích đất nuôi trồng thủy sản là 700.061
ha chiếm 2,82% tổng diện tích đất nông nghiệp, còn lại 29,522 ha là đất làm muối
và đất nông nghiệp khác [29]
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp tại Tây Nguyên là lớn nhất với 4060,4 nghìn ha, vùng có diện tích đất sản xuất nông nghiệp nhỏ nhất là Tây Bắc là 501,6 nghìn ha Trong cả nước, tỉnh có diện tích đất nông nghiệp lớn nhất là Gia Lai với 49,5 nghìn ha [32]
Trong đất sản xuất nông nghiệp được sử dụng chủ yếu và các mục đích như trồng cây hàng năm và cây lâu năm Tính tới ngày 1/1/2007 thì đất trồng cây hàng năm có diện tích là 13.495,2 nghìn ha, trong đó: đất trồng cây lương thực có hạt là 10.862,7 nghìn ha với sản lượng 39.976,6 nghìn tấn, cây công nghiệp hàng năm là 8.270,2 nghìn ha Diện tích đất trồng cây lâu năm là 2.632,5 nghìn ha, trong đó diện tích cây ăn quả là 1.796,6 nghìn ha [32]
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người ở nước ta thuộc loại thấp khoảng 0,11 ha/người Tại đồng bằng sông Hồng quân đạt 0,04 ha/người, tại đồng bằng sông Cửu Long là khoảng 0,15 ha/người [33]
Trải qua hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, nông nghiệp Việt Nam
đi qua chặng đường dài phát triển đã có những thành tựu nổi bật, nhưng cũng đã có những sự thay đổi về số lượng cũng như chất lượng đất nông nghiệp
Thực tế mấy năm trở lại đây, cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp lại Dễ nhận thấy một điều là diện tích đất trồng lúa ngày càng bị thu hẹp do quá trình thu hồi đất nông nghiệp để chuyển sang xây dựng đô thị và các khu công nghiệp
Trang 15Tổng diện tích nhóm đất nông nghiệp năm 2010 của cả nước so với năm
2005 tăng 1.277.600 ha, trong đó tăng chủ yếu ở loại đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, tình hình tăng giảm các loại đất nông nghiệp cụ thể như sau:
Bảng 1.1 Biến động đất nông nghiệp của cả nước ST
(Nguồn: Báo cáo Kết quả kiểm kê đất đai năm 2010 của Bộ TN&MT)
Như vậy diện tích đất trồng lúa của nước ta năm 2010 là 4.127.731 ha, so với năm 2005 đã giảm 37.546 nghìn ha; trong đó, giảm nhiều nhất ở đồng bằng sông Hồng, chiếm 4,4% tổng diện tích đất nông nghiệp, tỷ lệ này ở Đông Nam Bộ là 2,1%, ở nhiều vùng khác dưới 0,5% Điều đáng nói là phần lớn các sân golf ở Việt Nam đều nằm trên những khu đất trước kia vốn là đất canh tác nông nghiệp Một nguyên nhân nữa làm đất nông nghiệp bị thu hẹp là do các quyết định thu hồi đất nhằm mục đích khác như xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, công viên nghĩa trang … cũng đáng báo động khi triển khai các dự án này chiếm dụng đất nông nghiệp rất lớn Đồng thời các thảm hoạ thiên cũng là một trong những nguyên nhân làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp ở nước ta hiện nay
Trang 16Thoái hóa đất đang là xu thế phổ biến đối với nhiều vùng rộng lớn ở nước ta, đặc biệt là ở vùng miền núi, nơi tập trung ¾ quỹ đất Các dạng thoái hoá đất chủ yếu là: xói mòn, rửa trôi, đất có độ phì nhiêu thấp và mất cân bằng dinh dưỡng, đất chua hoá mặn hoá, phèn hoá bạc màu, khô hạn và sa mạc hoá, đất ngập úng, lũ quét, đất trượt và sạt lở, ô nhiễm đất
Trên 50% diện tích đất (3,2 triệu ha) ở vùng đồng bằng và trên 60% diện tích đất (13 triệu ha) ở vùng miền núi có những vấn đề liên quan tới quá trình suy thoái hóa đất Ở miền núi, nguyên nhân suy thoái hóa đất có nhiều, song chủ yếu do phương thức canh tác nương rẫy còn thô sơ, lạc hậu của các dân tộc thiểu số, tình trạng chặt phá, đốt rừng bừa bãi, khai thác tài nguyên khoáng sản không hợp lý, lạm dụng các chất hữu cơ trong sản xuất, việc triển khai các công trình giao thông,… Sự suy thoái môi trường đất kéo theo sự suy thoái các quần thể động, thực vật và chiều hướng giảm diện tích đất nông nghiệp trên đầu người đã tới mức báo động [11]
Việt Nam hiện nay có khoảng 9,3 triệu ha đất liên quan tới sa mạc hoá, chiếm 28% tổng diện tích đất trên toàn quốc Trong đó trên 5 triệu ha đất chưa sử dụng, khoảng 2 triệu ha đất đang được sử dụng nhưng đã bị thoái hoá nặng và 2 triệu ha đang có nguy cơ thoái hóa cao Nước ta đã xuất hiện hiện tượng sa mạc hoá cục bộ tại các giải đất hẹp dọc bờ biển miền Trung [38]
Bên cạnh đó vấn đề ô nhiễm môi trường đất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay đang là một trong những vấn đề nghiêm trọng Các nguyên nhân ô nhiễm đất nông nghiệp hiện nay gồm những nguyên nhân chủ yếu sau: ô nhiễm đất vì nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, ô nhiễm đất vì chất phế thải bởi các nguồn chất thải rắn, ô nhiễm đất do sử dụng phân bón hoá học và nông dược trong canh tác sản xuất nông nghiệp Thuốc trừ sâu đồng thời với việc diệt các côn trùng gây hại, còn dẫn đến ngộ độc đất đai ảnh hưởng đến môi trường đất của nước ta hiện nay
Một ví dụ cụ thể, hai thành phố lớn nhất của nước ta là Hà Nội và Hồ Chí Minh, nơi có dân cư đông đúc và nhiều các khu công nghiệp lớn thì hầu hết sông ngòi đều bị ô nhiễm, chất lượng môi trường không khí suy giảm Phần lớn lượng
Trang 17nước thải sinh hoạt (khoảng 600.000 m3
/ngày, với khoảng 250 tấn rác được thải ra các sông ở khu vực Hà Nội) và công nghiệp (khoảng 260.000 m3
và chỉ có 10% được xử lý) đều không được xử lý mà đổ thẳng vào các ao hồ, sau đó chảy ra các con sông lớn tại vùng đồng bằng sông Hồng và sông Mê Kông [6], nơi mà được coi
là nguồn cung cấp nước chính cho sản xuất nông nghiệp ở nước ta Do đó, chất lượng đất nông nghiệp của nước ta hiện nay đang có nguy cơ bị ô nhiễm
Đây thực sự là những vấn đề đáng lo ngại và là thách thức lớn với một nước nông nghiệp như nước ta hiện nay, việc sử dụng đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa thiếu thận trọng vào bất cứ việc gì cũng đều lãng phí và gây ra những hậu quả khó lường
1.3 Một số đặc điểm của CNH – ĐTH ở Việt Nam hiện nay
Ở Việt Nam, quá trình CNH được thực hiện từ những năm 1960, kể từ sau đổi mới, nền kinh tế càng phát triển thì quá trình CNH - ĐTH diễn ra càng nhanh Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến hết tháng 7 năm 2007 số dân cư đô thị đã chiếm tới 28% tổng dân cư toàn quốc với khoảng 700 trung tâm đô thị lớn nhỏ; cả nước đã
có 150 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 32,3 ngàn ha Việc xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế -
xã hội có vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa và có tác động rõ đến phát triển nông nghiệp và nông thôn như: tạo ra thị trường tiêu thụ nông sản, thúc đẩy nhanh sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, tạo cơ hội cho việc ứng dụng các thành tựu trong chọn tạo giống, kỹ thuật canh tác, hình thành các khu nông nghiệp công nghệ cao để tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa đáng kể góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Đồng thời, góp phần chuyển đổi nền nông nghiệp truyền thống, thúc đẩy phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng nông nghiệp hàng hóa mạnh,
có sức cạnh tranh cao trên thị trường nội địa và xuất khẩu [26]
CNH - ĐTH đang diễn ra mạnh mẽ ở Việt Nam trong thời gian vừa qua Tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP tăng lên trong khi tỷ trọng nông nghiệp giảm Trong cơ cấu GDP của Việt Nam, tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 38,1% năm
Trang 181990 xuống còn 20,6% năm 2008, tỷ trọng công nghiệp tăng từ 22,7% lên 41,6% và
tỷ trọng dịch vụ tương đối ổn định từ 38,6% đến 38,7% trong cùng thời kỳ này[16]
CNH thể hiện rõ ở sự biến đổi cơ cấu lao động đang làm việc trong các thành phần và ngành kinh tế từ năm 2000 đến năm 2008 (Phụ lục 1) Qua bảng số liệu này
có thể thấy được sự dịch chuyển cơ cấu lao động qua các năm từ 2000 đến 2008 có
sự tăng lên ở các ngành nghề thuộc các lĩnh vực kinh tế, công nghiệp, dịch vụ và sự giảm xuống của ngành kinh tế nông - lâm nghiệp Một phần nguyên nhân là do xu thế CNH - ĐTH diễn ra mạnh mẽ, đòi hỏi cần có một diện tích đất rất lớn để xây dựng KCN, khu đô thị, cụm làng nghề Khi đó, diện tích đất nông nghiệp bị chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp với số lượng lớn đã làm giảm đáng kể diện tích đất nông nghiệp, do đó số lượng lao động trong nông nghiệp sẽ giảm dần
Tính đến giữa năm 2008, trên phạm vi cả nước đã có gần 200 khu công nghiệp, phân bố trên địa bàn 52 tỉnh, thành phố với trên 6.000 dự án đầu tư trong, ngoài nước, thu hút hơn 1.000.000 lao động Phần lớn diện tích các khu công nghiệp, khu chế xuất là đất nông nghiệp và lực lượng chủ yếu bổ sung vào đội ngũ lao động công nghiệp là nông dân [24]
Những năm qua, hệ thống đô thị Việt Nam đang trong quá trình phát triển Đến cuối năm 2007, cả nước có trên 700 điểm cư dân đô thị, tăng hơn 40% so với năm 1995 Bên cạnh những đô thị có bề dày lịch sử tiếp tục được mở mang, nâng cấp, đáng chú ý là sự xuất hiện ngày càng nhiều các khu đô thị mới tập trung, trong
đó hệ thống các thị trấn, thị tứ ngày càng toả rộng, tạo thành những nét mới ở nông thôn [24]
Quá trình đô thị hóa dẫn đến tỉ lệ dân cư thành thị tăng liên tục từ 20% năm
1990 lên gần 30% vào năm 2009 trong khi dân cư nông thôn giảm từ 80% xuống còn hơn 70% trong cùng thời kỳ này Tuy nhiên, tốc độ ĐTH diễn ra không đồng đều: vùng Đông Nam Bộ đạt mức đô thị hóa cao nhất với dân số thành thị chiếm 57,1%, xếp vị trí thứ hai là vùng Đồng bằng Sông Hồng có mức đô thị hóa tương đối cao với 29,2% Hiện nay, Việt Nam có 5 thành phố lớn trực thuộc Trung ương
Trang 19là: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ; đồng thời Việt Nam có hàng chục thành phố thuộc tỉnh Điều này chứng tỏ tốc độ CNH – ĐTH ở Việt Nam đang có xu hướng tăng nhanh[16]
Đô thị hóa diễn ra nhanh chóng kéo theo sự tích tụ dân cư ở thành thị và giảm diện tích đất ở bình quân đầu người ở thành thị Thành thị tuy chật chội, đông đúc nhưng luôn là trung tâm thu hút trí thức đến sinh sống và làm việc Kết quả tổng kiểm kê đất đai từ 2001 - 2005 cho thấy, cả nước có 598.428 ha đất ở chiếm 18,51% tổng diện tích đất phi nông nghiệp, chiếm 1,81% tổng diện tích đất tự nhiên
cả nước, tăng 155.250 ha so với năm 2000[12]
Theo Vụ Đăng ký Thống kê đất đai (Bộ Tài nguyên & Môi trường), diện tích đất ở bình quân đầu người của cả nước hiện nay là 71,99 m2
/người Trong đó vùng Tây Bắc là 127 m2/người; vùng duyên hải Nam Trung Bộ là 91 m2/người; vùng Bắc Trung bộ là 91m2/người; vùng Đông Bắc là 85 m2/người; vùng Tây Nguyên là 87
m2/người; vùng Đồng Bằng Bắc bộ là 64 m2/người; vùng Đồng bằng sông Cửu Long là 62m2/người; vùng Đông Nam bộ là 45m2/người Trong đó đất ở tại nông thôn đạt bình quân đầu người là 59,1 m2
/người Còn đất ở tại đô thị bình quân đầu người đạt 12 m2/người[12]
Nhìn chung, quá trình CNH - ĐTH ở Việt Nam hiện nay đang có những bước tiến mạnh mẽ để có thể đưa Việt Nam sánh ngang với nhiều quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực mà quá trình này đem lại thì nó còn gây ra không ít những tác động tiêu cực về mặt môi trường cũng như sự biến động lớn về chất lượng và số lượng đất nông nghiệp hiện nay
1.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình CNH - ĐTH đến đất nông nghiệp
1.4.1 Trên thế giới
1.4.1.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của CNH – ĐTH đến số lượng đất nông nghiệp
Kinh nghiệm của các nước châu Á vốn lấy cây lúa nước là cây lương thực chính cho thấy: qua mấy chục năm tiến hành CNH - ĐTH thì tỷ lệ mất đất canh tác
Trang 20từ 0,2 - 2%/năm Tỷ lệ mất đất canh tác trong thập niên 1980 - 1990 của Trung Quốc là 0,5%/năm, Hàn quốc 1,4%/năm, Đài Loan 2%/năm, Nhật Bản 1,6%/năm Diện tích đất canh tác bị mất chủ yếu là đất lúa đã đe doạ đến an ninh lương thực Để tăng sản lượng nhiều nước đã tăng năng suất bằng cách sử dụng phân bón hóa học với liều lượng cao và kết quả là làm cho môi trường đất bị ô nhiễm[23]
- Trung Quốc: trong những năm 1990, thời kỳ đầu của quá trình cải cách,
mở cửa, tốc độ đô thị hóa của Trung Quốc diễn ra rất nhanh chóng Diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, ước tính diện tích đất canh tác bị mất hàng năm trên
1 triệu ha, trong khi dân số của Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng Theo dự báo đến năm 2010, dân số Trung Quốc đạt 1,4 tỷ người Để giải quyết vấn đề này chính phủ Trung Quốc đã xây dựng các mô hình xí nghiệp hương trấn (tên gọi chung của các xí nghiệp hoạt động ở nông thôn) hoạt động như các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhằm chuyển giao các thành tựu của công nghệ sinh học (lai tạo giống lúa, cây trồng và vật nuôi), thủy lợi hóa, cơ giới hóa và hóa học hóa nông nghiệp tại các vùng nông nghiệp ven đô để tạo ra sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao phục vụ cho dân cư đô thị và xuất khẩu
- Nhật Bản: quá trình công nghiệp hóa cũng bắt đầu bằng thời gian dài tăng trưởng trong nông nghiệp Nhật Bản là nước luôn bị giới hạn bởi tài nguyên đất đai ít và dân số đông Diện tích đất canh tác bình quân của 1 hộ nông dân khoảng 0,8 ha Trong 2 thập kỷ từ 1979 - 1999 quá trình đô thị hóa đã làm đất nông nghiệp của Nhật Bản bình quân mỗi năm giảm 1% (48,7 nghìn ha/năm) và diện tích đất nông nghiệp đã giảm từ 5,4 triệu ha xuống còn 4,9 triệu ha Để đảm bảo thu nhập cho nông dân bị mất đất nông nghiệp chính phủ Nhật đã đưa ra đường lối phát triển nông nghiệp để củng cố sản xuất nông nghiệp trong nước và xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp ra nước ngoài Đó là tập trung sản xuất một số loại nông sản có giá trị kinh tế cao, sử dụng ít đất và lao động, thực hiện nông nghiệp sinh thái để tăng thu nhập cho nông dân Cải cách phương thức sản xuất lúa gạo theo hướng hình thành trang trại quy mô lớn, sử dụng khoa học hiện đại để
Trang 21giảm giá thành sản phẩm và áp dụng hệ thống cơ khí nhỏ phù hợp với canh tác lúa
và hộ nông dân quy mô nhỏ Tổ chức các mạng lưới xí nghiệp công nghiệp ở nông thôn để tận dụng nguồn lao động dư thừa
- Hàn Quốc: tổng diện tích đất canh tác của Hàn Quốc là 2,1 triệu ha, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đã làm diện tích đất nông nghiệp của Hàn Quốc mất hàng năm khoảng 1,4%/năm (28,8 nghìn ha/năm) cho phát triển công nghiệp, du lịch và các hoạt động ngoài nông nghiệp Để sản xuất nông nghiệp trong điều kiện đất canh tác vùng ven đô ít, giá công lao động cao, từ đầu những năm 1990 nông nghiệp Hàn Quốc chuyển sang nông nghiệp công nghệ cao nhờ ứng dụng thành tựu của công nghệ sinh học, hóa học và điện tử vào nông nghiệp
- Đài Loan: diện tích đất canh tác của Đài Loan rất nhỏ chỉ khoảng 851,5 nghìn ha và có tới 72% hộ nông dân có dưới 1 ha đất canh tác Do ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, diện tích đất canh tác nông nghiệp hàng năm bị mất khoảng 17,03 nghìn ha Do diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp và dân số lao động nông nghiệp ngày càng giảm nên nông nghiệp chủ yếu áp dụng ở quy mô sản xuất nhỏ có tính chất gia đình với các biện pháp thâm canh và thực hiện cơ khí hóa Diện tích đất trồng lúa giảm để chuyển sang trồng rau, quả phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu [23]
1.4.1.2 Nghiên cứu về ảnh hưởng của công nghiệp hóa đến chất lượng đất
Theo kết quả nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp Mỹ, trong một thập kỷ từ
1970 - 1980 do ảnh hưởng của công nghiệp hóa, những vùng đất thấp màu mỡ thích hợp cho canh tác nông nghiệp bị lấy đi, sản xuất lương thực bị đẩy lên các vùng đất cao, đã xuất hiện tai họa về xói mòn đất rất nghiêm trọng Hàng năm nước Mỹ bị mất khoảng 3 tỷ tấn đất mặt màu mỡ Để khắc phục tình trạng này chính phủ Mỹ phải chi tới 2 tỷ USD để đền bù cho khoảng 16 triệu ha đất canh tác lương thực bị xói mòn nghiêm trọng chuyển sang trồng cỏ và trồng rừng Kết quả
là đến giai đoạn 1991 - 1995 mới đảm bảo về cơ bản diện tích này được che phủ Việc sử dụng khối lượng lớn thuốc trừ sâu, trừ cỏ, phân bón trong nông nghiệp đã
Trang 22làm tăng năng suất và tăng sản lượng nông nghiệp trong một thời gian dài Nhưng hậu quả là ô nhiễm đất đai và nguồn nước, để lại dư lượng chất độc hại trong thực phẩm và gây hại đối với sức khỏe con người Theo tính toán, đất đai bị ô nhiễm đã gây thiệt hại cho nông nghiệp Mỹ tới 1,2 tỷ USD/năm [23]
Đô thị hóa và công nghiệp hóa cũng là nguyên nhân gây suy thoái môi trường đất nông nghiệp ở Trung Quốc: diện tích rừng chỉ còn 16,6% so với tỷ lệ bình quân của thế giới là 27%, tình trạng xói mòn, sa mạc hóa, kiềm hóa, mặn hóa
và úng ngập đất canh tác ngày càng gia tăng Hiện tượng khô hạn thượng lưu sông Hoàng Hà và nạn hồng thủy 1998 là một ví dụ Cho đến nay, diện tích đất bị xâm thực chiếm tới 38% diện tích đất đai của Trung Quốc, còn diện tích bị sa mạc hóa ngày càng tăng, trung bình khoảng 2.460 km2
/năm [23]
Lắng đọng axít thường xảy ra ở các khu vực có mức độ công nghiệp hóa cao Hiện nay ở châu Á, các nước như: Trung Quốc, Nhật bản, Ấn Độ, Thái Lan và Hàn Quốc là các quốc gia có lượng phát thải SO2 và NO2 đáng kể Theo thời gian, đất và nước mặt dần bị axit hóa làm cho Al3+
và Mn2+ tăng nhanh gây độc cho các loại cây trồng, đặc biệt là cây họ đậu và cây ngũ cốc rất mẫn cảm với hàm lượng
Al3+ trong đất Một nghiên cứu năm 1990 đã đánh giá thiệt hại do lắng đọng axit đối với sản xuất nông nghiệp ở châu Âu khoảng 30 tỷ USD/năm
700 trung tâm đô thị lớn nhỏ Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến hết tháng 7 năm
2007 cả nước đã có 150 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 32,3 ngàn ha Việc xây dựng các KCN, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội có vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa và có tác động rõ đến
Trang 23phát triển nông nghiệp và nông thôn như: tạo ra thị trường tiêu thụ nông sản, thúc đẩy nhanh sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, tạo cơ hội cho việc ứng dụng các thành tựu trong chọn tạo giống, kỹ thuật canh tác, hình thành các khu nông nghiệp công nghệ cao để tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa đáng kể góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Đồng thời, góp phần chuyển đổi nền nông nghiệp truyền thống, thúc đẩy phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng nông nghiệp hàng hóa mạnh, có sức cạnh tranh cao trên thị trường nội địa và xuất khẩu [25]
1.4.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của công nghiệp hóa, đô thị hóa đến số lượng, chất lượng đất và sản xuất nông nghiệp
Theo quy hoạch sử dụng đất đến 2010 của BTNMT, diện tích đất nông nghiệp sẽ tăng từ 8.973.783 ha (năm 2000) lên 9.363.063 ha (năm 2010) Tuy nhiên, dân số nước ta từ hơn 77,6 triệu của năm 2000 sẽ tăng lên khoảng 86,5 triệu vào năm 2010 Như vậy, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người của cả nước sẽ giảm từ 0,113 ha (năm 2000) xuống còn 0,108 ha (năm 2010) và trong vòng 10 năm, bình quân đất nông nghiệp trên đầu người đã giảm 50m², trung bình
mỗi năm giảm 5m² Theo PGS.TS Lê Thái Bạt - Hội Khoa học đất Việt Nam cho
rằng con số này rất đáng lo ngại, vì hiện nay khoảng 75% dân số nước ta vẫn sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp [20]
Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2005 đã được Chính phủ phê duyệt vào tháng 2 - 2007, thì diện tích đất trồng lúa của cả nước là 4.165.277 ha và 60% của
số đó thuộc 24 tỉnh của 2 vùng đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng Bắc bộ Tuy nhiên, một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu định canh (thuộc Liên hiệp các Hội KH - KT Việt Nam) cho thấy, từ năm 2000 đến hết 2006, với việc mở rộng của các khu công nghiệp và khu đô thị mới, diện tích đất trồng lúa của cả nước đã
mất đi 318.400 ha [20]
Cách đây 10 năm, ở miền Bắc có 3 tỉnh có diện tích đất nông nghiệp lớn, đồng bãi phì nhiêu, được coi là tỉnh “thuần nông” đó là Vĩnh Phúc, Hải Dương và Hưng Yên Tuy nhiên, tốc độ CNH - ĐTH diễn ra mạnh mẽ, việc quy hoạch và phát
Trang 24triển các dự án khu công nghiệp, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đã đưa các tỉnh này trở thành tỉnh có thu nhập lên đến 1000 tỷ/năm nhưng diện tích đất nông nghiệp lại bị thu hẹp đáng kể
Theo Sở NN&PTNT tỉnh Vĩnh Phúc, trong vòng 10 năm qua, tỉnh đã thu hồi trên 4.000 ha đất nông nghiệp để bàn giao cho 650 dự án xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị và kết cấu hạ tầng Tại Hưng Yên, ở 4 vùng chuyên canh lúa là Phù Cừ, Tiên Lễ, Kim Động và thị xã Hưng Yên, trong năm 2007 đã thu hồi 500 ha đất lúa cho việc xây dựng 4 khu công nghiệp Tỉnh Bắc Ninh, năm 2000, có tổng diện tích đất nông nghiệp hơn 49.000 ha; nhưng bước sang đầu 2008, diện tích đất trồng trọt giảm chỉ còn hơn 42.000 ha Chỉ tính năm 2005, Bắc Ninh có hơn 2.500
ha đất nông nghiệp bị thu hồi để xây dựng, phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị, khiến 9% số hộ mất 80-100% đất sản xuất, 20% số hộ mất 50-80%
Theo Quy hoạch và Kế hoạch phát triển đất các KCN tập trung ở vùng kinh
tế trọng điểm Bắc bộ do BTNMT lập đầu năm 2007 Trong giai đoạn 5 năm (2006
- 2010), quỹ đất phát triển các khu công nghiệp ở một số tỉnh là: Hà Tây từ 2.243
ha lên 17.000 ha (cắt thêm 14.757 ha đất cho khu công nghiệp); Bắc Ninh 1.062 ha lên 7.000 ha; Hưng Yên từ 102 ha lên 4.080 ha; Hải Dương từ 975 ha lên 6.000 ha Việc mở rộng chừng đó đất công nghiệp là mất đi chừng đó đất nông nghiệp [20]
Nghiên cứu cơ sở khoa học và các giải pháp kinh tế kỹ thuật nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn ven đô thành phố Hà Nội, Lê Quốc Doanh cho rằng quá trình đô thị hoá vừa tạo ra những ảnh hưởng tích cực cho nông nghiệp vừa có những ảnh hưởng tiêu cực Tích cực là vì nó tạo ra thị trường tiêu thụ sản phẩm, thu hút lao động dư thừa từ nông nghiệp Tiêu cực là gia tăng ô nhiễm, ngập úng, mất đất nông nghiệp, không gian nông thôn bị phá vỡ Lợi thế của nông nghiệp đô thị so với những vùng nông nghiệp khác không chỉ là điều kiện tự nhiên, đất đai, khí hậu mà là khoảng cách với thị trường Khai thác lợi thế này, nông nghiệp Hà Nội đang hướng đến việc sản xuất các sản phẩm tươi sống và có khối lượng lớn Nông nghiệp đô thị Hà Nội đang phát triển hình thành các vành đai nông nghiệp
Trang 25khác nhau, được phân biệt bởi các mức độ đa dạng, khả năng thâm canh, khả năng thích ứng với những điều kiện mới của quá trình đô thị hoá ở mỗi vùng [12]
Theo Phạm Ngọc Đăng, việc mở rộng không gian đô thị và các khu công nghiệp sẽ dẫn đến chiếm dụng đất nông nghiệp, ảnh hưởng đến vấn đề an toàn lương thực quốc gia nói chung và ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân ngoại thành nói riêng như: mất đất, mất kế sinh nhai, các ảnh hưởng này có tính lâu dài
và phức tạp Đô thị hóa dẫn đến tài nguyên đất bị khai thác triệt để, tỷ lệ diện tích cây xanh và mặt nước trong đô thị bị giảm, gây nên ngập úng cục bộ ở nội thành cũng như ngoại thành Sản xuất công nghiệp tăng trưởng, phát sinh nhiều chất thải gây ô nhiễm môi trường nước, đất, không khí và chất thải rắn ngày càng tăng thêm Đô thị hóa cũng làm tăng dòng người di dân từ nông thôn ra thành thị làm tăng sức ép về nhà ở và vệ sinh môi trường đô thị [8]
Tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, do ảnh hưởng của chính sách thu hút đầu tư và mở cửa nền kinh tế, vấn đề đô thị hóa và công nghiệp hóa phát triển mạnh mẽ từ những năm đầu thập kỷ 90, khi mà lần đầu tiên có sự đầu tư của nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp với quy mô lớn tại TPHCM, đó là sự ra đời của khu chế xuất Tân Thuận (1991) và khu chế xuất Linh Trung (1993), sau đó bắt đầu tăng tốc khoảng năm 1996 với sự hình thành hàng loạt các KCN ở TPHCM và
mở rộng ra các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và Bà Rịa Vũng Tàu Đến năm 2000 vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đã có 33 khu công nghiệp và khu chế xuất được cấp phép thành lập với tổng diện tích 7.106 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp gần 4.800 ha Ngoài ra, còn hàng trăm cơ sở sản xuất được cấp phép đầu tư mới, nằm phân bố rải rác trong vùng Điều này đã làm trầm trọng thêm những vấn đề hết sức nan giải trước đó về tình trạng đông dân, ô nhiễm nước và không khí, chất thải rắn, ùn tắc giao thông và nhiều vấn đề xã hội khác Đất đai bị thu hẹp, tài nguyên bị khai thác triệt để hơn và không tránh khỏi nguy cơ bị cạn kiệt [35]
Để bảo vệ môi trường trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tại thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận, Lâm Minh Triết đã đề xuất nhóm các giải pháp
Trang 26tổng thể, trong đó tập trung vào 7 vấn đề lớn là (1) Quy hoạch và bố trí hợp lý các KCN, kết hợp di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm, (2) Tiến hành đánh giá tác động môi trường cho các dự án phát triển kinh tế - xã hội, (3) Thành lập ủy ban quản lý nguồn nước sông Sài Gòn, Đồng Nai; (4) Xây dựng tiêu chuẩn nước thải riêng cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (5); Xây dựng quy chế bảo vệ môi trường cho các khu công nghiệp, khu chế xuất; (6) Xây dựng quy chế bảo vệ môi trường cho các khu dân cư đô thị, nông thôn và (7) Xây dựng hệ thống thông tin môi trường trong toàn vùng [31]
Nghiên cứu về hiện trạng môi trường các làng nghề Việt Nam, Đặng Kim Chi [5] cho rằng 100% làng nghề chế biến nông sản thực phẩm bị ô nhiễm nặng, các làng nghề gia công kim loại có kim loại nặng vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2,5 -
9 lần, các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ gây ô nhiễm không khí nặng Nguyên nhân là do các làng nghề có quy mô nhỏ hộ gia đình, công nghệ lạc hậu, thủ công, thiếu đồng bộ do hạn chế về vốn đầu tư và trình độ kỹ thuật
Các kết quả nghiên cứu của Lê Đức, Lê Văn Khoa cho thấy: trong 21 mẫu đất phân tích ở khoảng cách dưới 30m của làng nghề tái chế chì xã Chỉ Đạo huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên đều có hàm lượng chì lớn hơn 100ppm, vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 3 - 48 lần Hàm lượng đồng 24 mẫu phân tích ở khoảng cách dưới 300m của làng nghề tái chế đồng xã Đại Đồng huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên đều vượt quá tiêu chuẩn từ 1,6 - 6,2 lần Môi trường đất, nước, không khí bị
ô nhiễm đã ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng dân cư, tác động xấu đến cây trồng vật nuôi, làm tăng sự tích lũy các kim loại nặng trong sản phẩm, ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng [10]
Các nghiên cứu của Phạm Bình Quyền, Nguyễn Xuân Thành và bộ môn Thổ nhưỡng - Môi trường đất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN cũng cho thấy đất đai xung quanh các khu công nghiệp Văn Điển, Hanel - Sài Đồng, hóa chất Đức Giang… bị ô nhiễm kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn cho phép do ảnh hưởng của các chất thải công nghiệp, đô thị Việc ô nhiễm môi trường
Trang 27đất gây ra do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá mức tại các vùng nông nghiệp thâm canh cao cũng đã trở thành vấn đề được quan tâm [27]
Trong quá trình nghiên cứu biến động môi trường do thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, các biện pháp kiểm soát bảo đảm phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Hồng, Phan Huy Chi cho rằng trong thời gian qua ở vùng đồng bằng sông Hồng ô nhiễm kim loại nặng trong đất chỉ diễn ra cục bộ ở xung quanh các khu công nghiệp cũ, các làng nghề tái chế kim loại, ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật xảy ra ở các vùng trồng rau thâm canh cao ngoại thành Hà Nội Dự báo đến năm 2010, ô nhiễm NO3 chỉ xuất hiện cục bộ ở vùng thâm canh, chuyên canh nông nghiệp, không đến mức đe dọa cả vùng, ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật có xu hướng giảm, ô nhiễm kim loại nặng phụ thuộc nhiều vào mức độ đầu tư đổi mới công nghệ, khắc phục ô nhiễm của các cơ sở sản xuất [4]
Thành phố Hà Nội đã phối hợp với Viện Thổ nhưỡng Nông hoá nghiên cứu đưa vào sử dụng phế thải hữu cơ cho sản xuất nông nghiệp đô thị và thử nghiệm cho lúa, bắp cải, cam Canh và thuốc lá để tăng hiệu quả sử dụng đất, đồng thời sử dụng nguồn rác thải của thành phố góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Nguyễn Tuấn Anh, Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, Bộ NN&PTNT đã tiến hành nghiên cứu tác động của CNH, ĐTH đến số lượng và chất lượng đất nông nghiệp vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, trong đó tập trung vào nội dung quy hoạch sử dụng đất đai, tính phù hợp của cây trồng nông nghiệp đối với loại đất, xây dựng các bản đồ biến động diện tích đất phục vụ sản xuất nông nghiệp hiệu quả và bền vững cho vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Việt Nam [1]
Những nghiên cứu trên đây cho thấy rõ ràng sự tồn tại, hoạt động và xả chất thải có chứa KLN từ các KCN, đô thị đã làm gia tăng đáng kể hàm lượng của các nguyên tố này trong môi trường đất khu vực lân cận, gây thoái hóa đất, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và sức khỏe của người dân trong vùng
Tóm lại, các kết quả nghiên cứu ở trong và ngoài nước cho thấy quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa là xu hướng tất yếu trong phát triển kinh tế xã hội của
Trang 28mỗi quốc gia Bên cạnh những tác động tích cực do quá trình này mang lại, các nghiên cứu cũng đã xác định được những tác động tiêu cực nảy sinh như: vấn đề giải quyết việc làm cho những người dân bị mất đất sản xuất nói chung và đất sản xuất nông nghiệp nói riêng, vấn đề suy thoái, xói mòn, ngập úng và ô nhiễm môi trường đất xung quanh các khu công nghiệp, khu đô thị và các làng nghề, vấn đề
sử dụng có hiệu quả đất nông nghiệp ven các đô thị, đang là những vấn đề bức xúc cần phải giải quyết
1.5 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Sóc Sơn
1.5.1 Điều kiện tự nhiên
1.5.1.1 Vị trí Địa lý
Sóc Sơn là huyện ngoại thành Thành phố Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô
Hà Nội 40 km về phía Bắc, có tổng diện tích tự nhiên 30.651,30 ha, bao gồm 26 đơn vị hành chính: 25 xã và 01 thị trấn Có vị trí địa lý:
- Phía Bắc giáp huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên;
- Phía Nam giáp huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội;
- Phía Đông giáp tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh;
- Phía Tây giáp huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội
Huyện có vị trí cửa ngõ của Thủ đô Hà Nội: cửa ngõ phía Bắc theo Quốc lộ
3, cửa ngõ phía Tây theo Quốc lộ 2, cửa ngõ phía đông theo Quốc lộ 18 Đây là địa bàn có vị trí thuận lợi với hệ thống giao thông đối ngoại phát triển, đặc biệt là cảng hàng không quốc tế Nội Bài, các trục quốc lộ Hà Nội - Thái Nguyên, Bắc Ninh -
Hà Nội - Việt Trì, vì vậy có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nhanh nền kinh
tế - xã hội
1.5.1.2 Địa hình, địa chất
Sóc Sơn là vùng bán sơn địa với 3 loại địa hình chính: vùng đồi gò, vùng chuyển tiếp và vùng đồng bằng ven sông
Trang 29a/ Vùng đồi gò của Sóc Sơn là hệ thống núi thấp và đồi gò, là một phần kéo dài về phía đông của dãy núi Tam Đảo, có độ cao trung bình 200-300 m so với mặt nước biển Đỉnh núi cao nhất là núi Hàm Lợn cao 485m, Cánh Tay với đỉnh 332m, núi đền Sóc với đỉnh 308m, điểm thấp nhất của vùng này là 20m Địa hình của vùng đồi gò thấp dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, địa hình ở đây chia cắt tương đối mạnh, sườn dốc lưu vực ngắn; độ dốc trung bình từ 20-250
Theo kết quả điều tra phục vụ điều chỉnh quy hoạch rừng Sóc Sơn đối với khoảng 5.830 ha đất đồi gò cho thấy:
Nếu phân theo độ cao: ở độ cao từ (100-200) m có khoảng 1.100 ha, độ cao
từ (200-300) m có khoảng 670 ha, độ cao trên 300 m có khoảng 500 ha, còn lại ở
độ cao dưới 100 m (khoảng 3.560 ha) Có thể nhận thấy là đất đồi gò ở Sóc Sơn tập trung chủ yếu ở độ cao dưới 200 m
Phân theo cấp độ dốc: ở độ dốc dưới 70 có diện tích 2.030 ha, từ 8-150 có diện tích 1.310 ha, từ 16-250 có diện tích 1.360 ha, từ 26-350 có diện tích 770ha, độ dốc trên 350 có diện tích 360 ha
b/ Vùng chuyển tiếp nằm trải dài từ phía Bắc đến vùng giữa huyện Sóc Sơn với diện tích khoảng 9.300 ha nằm trên địa bàn 9 xã, địa hình của vùng chủ yếu là ruộng bậc thang, độ cao trung bình từ 20 - 40m
c/ Vùng đồng bằng ven sông nằm trải dài bao quanh huyện từ phía Đông Bắc, phía Đông đến Đông Nam qua địa bàn 12 xã với diện tích khoảng 88.510 ha Địa hình của vùng khá bằng phẳng, độ cao trung bình từ 10 - 20 m, trong đó có khoảng 1.000 ha đất thường xuyên bị ngập úng
1.5.1.3 Điều kiện đất đai
Theo tài liệu nghiên cứu của Viện Nông hoá Thổ Nhưỡng phục vụ cho Quy hoạch sử dụng đất chung huyện Sóc Sơn đã được UBND Thành phố Hà Nội phê
duyệt năm 2010 có chia tài nguyên đất của huyện có 03 nhóm đất chính, đó là:
a/ Đất phù sa có diện tích phân bố ở hầu khắp trên địa bàn huyện, nhưng tập
Trang 30trung nhiều ở các xã phía Nam huyện Tổng diện tích khoảng 5.061 ha, bao gồm:
- Đất phù sa được bồi hàng năm thường chua (Pb.c), với tổng diện tích 385
ha, phân bố ở khu vực ngoài đê sông Cầu thuộc các xã phía đông của huyện như:
Tân Hưng, Việt Long, Đức Hoà, Xuân Thu, Kim Lũ
- Đất phù sa ít được bồi trung tính kiềm yếu với tổng diện tích 419 ha, phân
bố rải rác khu vực cao ven đê và trong đê các xã phía Đông
- Đất phù sa không được bồi không gley hoặc gley yếu (Pb), có tổng diện tích 664 ha, phân bố hoàn toàn trong đê, thuộc khu vực các cánh đồng đã có hệ
thống tưới tiêu ổn định
- Đất phù sa không được bồi có gley trung bình hoặc mạnh (Ps), với tổng
diện tích 542 ha, chủ yếu ở các xã vùng trũng phía Đông Nam huyện
- Đất phù sa không được bồi không gley hoặc gley yếu thường chua (Pc), với
tổng diện tích 680 ha
- Đất phù sa không được bồi gley mạnh úng nước mưa mùa hè (Pj), phân bố
ở các xã như Đông Xuân, Kim Lũ, Bắc Phú,… với tổng diện tích 990 ha
- Đất phù sa ngòi suối (Py), đây là loại đất chỉ có ở ven các suối đầu
nguồn của Sóc Sơn, với tổng diện tích 172 ha
- Đất phù sa không được bồi dưới có sản phẩm feralitic (Pf), với tổng diện tích 1.209 ha, đây cũng là sản phẩm đặc trưng của các khu vực tiếp giáp giữa đồng bằng với vùng đồi gò Đất phù sa được hình thành do quá trình bồi lắng phù sa của các con sông, đã có sự phân hoá theo thời gian, không gian
Nhìn chung các vùng đất phù sa tương đối bằng phẳng thành phần cơ giới đất từ thịt trung bình đến thịt nặng; thành phần dinh dưỡng khá, hàm lượng mùn đạt
2 - 3%, đạm 0,15 - 0,20% Nhóm đất này thích hợp với nhiều loại cây trồng
b/ Đất bạc màu bao gồm 2 loại:
- Đất bạc màu phát triển trên phù sa cũ có sản phẩm feralitic (Ba), đây là loại
Trang 31đất phổ biến nhất với tổng diện tích 10.655 ha, chiếm 1/3 tổng diện tích tự nhiên
của huyện Phân bố ở các xã vùng đồi gò như: Minh Trí, Minh Phú, Nam Sơn, Bắc
Sơn, Phù Linh, Hồng Kỳ, Quang Tiến,…
- Đất dốc tụ xen đồi núi bạc màu không có sản phẩm feralitic (D), là loại đất
chỉ có ở Sóc Sơn, nằm xen kẽ các thung lũng hẹp, với diện tích 1.846 ha
Nhìn chung, các loại đất bạc màu có hàm lượng mùn và các chất dinh dưỡng thấp Địa hình phần lớn đồi núi thấp và ruộng bậc thang với tầng canh tác mỏng
c/ Nhóm đất feralitic: là nhóm đất đặc trưng của vùng đồi gò Sóc Sơn với 5
loại đất sau:
- Đất feralitic trên núi (Fe), với tổng diện tích 1091 ha, chỉ có ở các xã vùng đồi cao như Bắc Sơn, Nam Sơn, Minh Trí, Minh Phú
- Đất feralitic vàng đỏ hoặc vàng phát triển trên đá sa thạch quăczit, cuội kết
và dăm kết (Fs), chiếm diện tích khá lớn với 5845 ha, trên 50% tổng diện tích của vùng đồi gò
- Đất feralitic vàng hoặc đỏ vàng phát triển trên phiến thạch sét aglit, silic, hoặc gnai xen lẫn fecmatit (Fa), với tổng diện tích 376 ha
- Đất feralitic nâu vàng phát triển trên phù sa cổ (Fp), có diện tích 879 ha
- Đất feralitic biến đổi do trồng lúa nước (Fl), đây là các khu vực thuộc các cánh đồng lúa nằm xen kẽ trong vùng đồi gò, có tổng diện tích 1.542 ha
d/ Diện tích còn lại là các loại đất khác với 3.356 ha chiếm khoảng 11%
diện tích tự nhiên của huyện
Tổng hợp các loại đất trên địa bàn huyện được thể hiện cụ thể tại bảng 3.1
Trang 32Bảng 1.2 Cơ cấu diện tích đất tại huyện Sóc Sơn
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường – UBND huyện Sóc Sơn)
1.5.1.4 Khí hậu
Sóc Sơn nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều, với 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 5
năm sau
Lượng mưa trung bình năm 1.600 - 1.700 mm (1.670 mm), lượng mưa năm
ít nhất là 1.000 mm, lượng mưa năm nhiều nhất là 2.630 mm Song lượng mưa phân bố không đều trong năm, mùa mưa tập trung vào các tháng 7,8,9 với lượng
4 Đất phù sa không được bồi có gley trung bình hoặc mạnh Ps 542 1,77
5 Đất phù sa không được bồi không glay hoặc glay yếu
thường chua
8 Đất phù sa không được bồi dưới có sản phẩm ferelitic Pf 1.209 3,94
9 Đất bạc màu phát triển trên phù sa cũ có sản phẩm
feralitic
10 Đất dốc xen đồi núi bạc màu không có sản phẩm feralitic D 1.846 6,02
12 Đất feralitic vàng đỏ hoặc vàng phát triển trên đá sa thạch
quawczit, cuội kết và dăm kết
13 Đất feralitic vàng hoặc đỏ vàng phát triển trên phiến thạch
sét aglit, silit hoặc gnai xen lẫn fecmatic
Trang 33mưa chiếm 80-85% lượng mưa của cả năm, mùa này thường có những trận mưa kéo dài, kèm theo gió xoáy và bão Lượng bốc hơi trung bình năm đạt 650 mm, độ
Nhìn chung, khí hậu Sóc Sơn có lợi thế phát triển đa dạng các loại cây trồng, vật nuôi Hạn chế của khí hậu là lượng mưa lớn tập trung vào khoảng thời gian ngắn dễ gây lũ lụt, đất đai bị xói mòn, rửa trôi làm cho đất bị nghèo kiệt, nhất
là đối với những diện tích đất không có thảm thực vật che phủ, độ dốc lớn
Hệ thống sông không chỉ là nguồn cung cấp nước tưới và nước sinh hoạt
mà còn là nơi tiếp nhận nguồn nước thải và tiêu nước khi mùa mưa lũ đến Đối với vùng đồi gò Sóc Sơn là một phần của nguồn sinh thuỷ, với mạng lưới suối và kênh mương khá dày từ 1,2-1,5 km/km2
, bao gồm: suối Cầu Chiền, suối Cầu Lai, suối Thanh Hoa, suối Lương Phú, suối đồng Quang, ngòi Nội Bài, chảy ra 3 sông bao quanh huyện là: sông Công (phía Bắc), sông Cầu (phía đông) và sông Cà Lồ (phía Nam)
a/ Sông Cầu: là con sông lớn của miền Bắc nước ta, có diện tích lưu vực
6.030 km2, bắt nguồn từ độ cao 1.175 m của núi Van On tỉnh Bắc Kạn, có tổng chiều dài 288,5 km, đoạn chảy qua huyện có chiều dài khoảng 15 km, với mật độ
Trang 34lưới sông 0,95 km/km2
Sông Cầu có rất nhiều sông nhánh và suối nhỏ chảy vào tạo nên mạng lưới sông suối dày đặc, trong đó có sông Công, sông Cà Lồ và suối Lương Phúc
b/ Sông Công: là một chi lưu của sông Cầu bắt nguồn ở độ cao 275 m
thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đổ ra sông Cầu tại thôn An Lạc, xã Trung Giã Sông Công có chiều 96 km, đoạn chảy qua huyện Sóc Sơn dài 9 km
c/ Sông Cà Lồ: là một chi lưu của sông Cầu được chia làm hai đoạn bắt
nguồn từ độ cao 1.000 m trên dãy núi Tam Đảo, nhưng có dòng chính từ Đầm Vạc thuộc thành phố Vĩnh Yên đổ ra sông Cầu Đoạn chảy qua huyện có chiều dài 7,5 km, đây là đoạn chảy từ Hương Canh đến nga ba sông Cầu
d/ Suối Lương Phúc: bắt nguồn từ đầm Cầu Cốn chảy giữa lưu vực qua các
khu đất bậc thang đổ ra sông Cầu qua cống Lương Phúc, đây là trục tiêu tự chảy quan trọng khu vực đông Bắc của huyện
đ/ Suối Đồng Đò: bắt nguồn từ núi Cánh Tay cao 332 m chạy dọc theo
biên giới phía Tây huyện, dài 10, 5 km đổ ra sông Cà Lồ tại cầu Khả Do Đây là trục tiêu tự chảy cho khu Tây Nam của huyện
e/ Suối Ngòi Soi: bắt nguồn từ núi Hàm Lợn, núi Chân Chim cao 469 m
chảy qua sông Cầu Ngăm, hồ Cầu Dọc, kênh Anh Hùng, chảy theo hướng Tây Nam, dài 12,8 km và đổ ra sông Cà Lồ tại đập Cầu Soi
Ngoài ra còn có các ngòi, suối như: suối Cầu Trắng, suối Bến Tre, suối Cống Cái, suối Cầu Nai, suối Đa Hội, ngòi tiêu Cầu Đen, ngòi tiêu Xuân Kỳ,… Chế độ thuỷ văn của các sông, suối chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ mưa hàng năm Vào mùa mưa nước từ các sông đổ về uy hiếp hệ thống đê điều của huyện Theo số liệu tại trạm Phúc Lộc Phương đo chế độ thuỷ văn trên sông Cầu cho thấy: mực nước lũ lịch sử lớn nhất vào tháng 8 năm 1971 là Hmax= 9,37m ứng với lưu lượng Qmax= 3490 m3/s Mùa khô nước các sông cạn kiệt gây khó khăn cho việc cung cấp nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp
Trang 351.5.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Thực hiện Nghị quyết 16-NQ/TƯ và Kế hoạch 61/KH-UB của UBND thành phố Hà Nội về thực hiện một số chủ trương, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội huyện Sóc Sơn giai đoạn 2004 - 2010, trong những năm qua kinh tế trên địa bàn huyện có những bước tăng trưởng nhanh, liên tục
1.5.2.1 Về cơ cấu kinh tế
Về cơ cấu kinh tế: Thực tế trong những năm qua, quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế của huyện đã đi đúng hướng, từng bước giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ Tuy nhiên, chuyển dịch còn chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra
Sau 20 năm từ năm 1991 đến 2011 cơ cấu kinh tế chuyển biến rõ rệt theo hướng: tăng tỷ trọng của khối ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp Số liệu chi tiết được thể hiện ở bảng 3.2
Bảng 1.3 Cơ cấu kinh tế huyện Sóc Sơn qua các năm từ 1991 - 2011 Năm (%)
(Nguồn: phòng Thống kê - UBND huyện Sóc Sơn) 1.5.2.2 Dân số và lao động
Năm 2011 dân số huyện có 298.125 người, trong đó: dân số đô thị 4.448 người, chiếm 1,49%, dân số nông thôn 293.677 người chiếm 98,51% Dân cư của huyện phân bố không đều, có sự chênh lệch lớn về mật độ dân cư giữa các xã, thị trấn Mật độ dân số toàn huyện bình quân 972 người/km2 Ngoài ra còn có hàng chục nghìn bộ đội, công nhân, học sinh và sinh viên hiện đang công tác và học tập trên địa bàn huyện Mật độ dân số phân bố không đều, mật độ dân số cao ở thị trấn
Trang 36và các xã ven quốc lộ 3, quốc lộ 2, đường 131, trong đó cao nhất ở thị trấn Sóc Sơn (5.424 người/km2
), Phù Lỗ (2.321 người/ km2), mật độ dân số thấp ở các vùng đồi núi như Nam Sơn (284 người/km2
), Bắc Sơn (408 người/km2)
Tính đến 31/12/2011 toàn huyện có 173.014 lao động chiếm 58,03% dân số (bảng 3.3) Trong đó lao động nông nghiệp chiếm khoảng 102.775 người, chiếm 59,40% tổng số lao động, lao động trong lĩnh vực phi nông nghiệp và trong các cơ quan hành chính chiếm khoảng 40,60% Huyện còn khoảng 31.142 lao động thời
vụ hoặc thiếu việc làm (chiếm 29% tổng số lao động), theo ước tính hiện nay lao động khu vực nông nghiệp mới sử dụng khoảng 60-70% số ngày công trong năm,
còn lại là thời gian nông nhàn
Bảng 1.4 Lao động trên địa bàn huyện Sóc Sơn (tính đến 31/12/2011)
Bình quân diện tích đất canh tác/
lao động nông nghiệp
(Nguồn: Phòng Thống kê – UBND huyện Sóc Sơn)
Bảng số liệu 3.3 thể hiện cơ cấu dân số đang có sự chuyển dịch tích cực, tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ 80,06% dân số năm 2006 xuống còn 59,40% năm
2011 Có thể nói, nguồn lao động nông nghiệp của huyện khá dồi dào, tuy nhiên lao động chủ yếu là phổ thông, phần lớn lao động việc làm trong các lĩnh vực nông lâm thuỷ sản chưa qua đào tạo, nên thu nhập thường không cao Đây là khó khăn lớn của huyện trong việc quy hoạch nguồn nhân lực phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung và ngành công nghiệp nói riêng
1.5.2.3 Thu nhập, đời sống của dân cư và chính sách xã hội
Trang 37Trong những năm gần đây do sản xuất phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao Thu nhập bình quân đầu người năm
2006 là: 8,5 triệu đồng, đến năm 2011 đạt 22 triệu đồng Tuy nhiên, còn có sự chênh lệch lớn giữa khu vực đô thị, các xã ven thị trấn và các xã xa vùng trung tâm huyện; các xã vùng đồng bằng và các xã vùng núi
Công tác xoá đói giảm nghèo đạt kết quả tốt: trong 5 năm trợ giúp 13.292 lượt hộ thoát nghèo, thực hiện làm mới, sửa chữa nhà ở cho 846 hộ nghèo, 115 nhà
hộ chính sách
1.5.2.4 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp
Cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp phải kể đến hệ thống thuỷ lợi và đê điều, năm 2011 toàn huyện hiện có 27 công trình hồ chứa nước, 119 công trình tiểu thuỷ nông, 119 trạm bơm và khoảng 73.810 km kênh mương, hệ thống
đê, kè các tuyến sông được gia cố, cơ bản đáp ứng yêu cầu phòng chống lũ lụt hàng năm
Về giao thông nông thôn: Trên địa bàn huyện đã xây dựng được hệ thống giao thông khá thuận lợi không chỉ phục vụ đầy đủ nhu cầu cho sản xuất nông nghiệp mà cả các lĩnh vực kinh tế khác Hiện tại huyện có các tuyến quốc lộ, tỉnh
lộ chạy qua với chất lượng khá tốt, ngoài ra còn có khoảng 30 tuyến đường liên xã, đường đô thị với tổng chiều dài khoảng 170 km, nền rộng 5 - 6m
Hệ thống giao thông của huyện giai đoạn vừa qua được quan tâm đầu từ kịp thời, chất lượng và số lượng các trục đường giao thông khá tốt là điều kiện thuận lợi cho giao lưu kinh tế nói chung và lưu thông nông sản hàng hoá nói riêng Tuy nhiên chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá, đô thị hoá; vì vậy trong những năm tới đòi hỏi phải có sự quan tâm đầu tư từ Thành phố
Về hệ thống điện: Nguồn năng lượng quan trọng của huyện và khu vực là điện năng, được cung cấp bởi Trạm 220kV Chèm bằng các tuyến đường dây 110kV Chèm- Đông Anh, Đông Anh- Thái Nguyên và Đông Anh- Gò Gầm Các trạm cấp nguồn cho huyện
Trang 38Hiện trên địa bàn huyện 100% các xã đã có mạng lưới điện ổn định phục
vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày và sản xuất nông nghiệp của các hộ dân Trong giai đoạn 2006 - 2011, công tác chuyển giao đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất được chú trọng tăng cường
Chuyển đổi cơ cấu mùa vụ và tăng vụ đối với sản xuất lúa có sự chuyển biến rõ rệt Các chương trình khuyến nông, ứng dụng khoa học kỹ thuật đưa vào sản xuất có hiệu quả như: chương trình giống lúa lai đạt trên 117 ha/năm với năng suất là 50 tạ/ha, các giống lúa thuần (Khang dân, Q5, thuần thơm, thuần khác) đạt trên 17 nghìn ha/năm với năng suất trung bình 41,3 tạ/ha Tăng cường đầu tư
cơ sở vật chất kỹ thuật cho công tác khảo nghiệm và ứng dụng các giống cây trồng năng suất cao để đưa vào sản xuất đại trà
Trang 39Chương 2 MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được tình hình sử dụng đất và quá trình phát triển CNH – ĐTH cũng như sự biến động đất nông nghiệp trong quá trình phát triển CNH - ĐTH khu vực nghiên cứu
- Đề xuất một số giải pháp bảo vệ và sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp
2.2 Đối tượng nghiên cứu
- Đất nông nghiệp trong khu vực nghiên cứu
- Các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp, làng nghề … trong khu vực nghiên cứu
- Các khu đô thị
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
- Đánh giá điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý, đất đai, địa hình, khí hậu …
- Đánh giá điều kiện kinh tế - xã hội: cơ cấu kinh tế, tình hình dân số, lao động, dịch vụ và cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp
2.3.2 Nghiên cứu tình hình sử dụng đất nông nghiệp và quá trình CNH – ĐTH của huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
- Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện: cơ cấu diện tích các loại đất,
cơ cấu sử dụng đất, hiện trạng sử dụng đất…
- Tình hình phát triển CNH – ĐTH của huyện: sự hình thành các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề, các khu đô thị mới, quá trình xây dựng cơ sở
hạ tầng…
Trang 402.3.3 Nghiên cứu sự biến động đất nông nghiệp do ảnh hưởng của quá trình CNH - ĐTH khu vực nghiên cứu
- Sự biến động về diện tích đất nông nghiệp: Điều tra, đánh giá hiện trạng diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi do chuyển đổi mục đích sử dụng cho xây dựng
mở rộng đô thị, các khu, cụm công nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng trong khu vực nghiên cứu (xác định rõ diện tích đất lúa, cây lâu năm, đất rừng, đất nuôi trồng thủy sản bị thu hồi)
- Sự biến động về chất lượng đất nông nghiệp: Điều tra, đánh giá chất lượng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện, xác định nguyên nhân gây biến động về chất lượng đất nông nghiệp
2.3.4 Dự báo sự biến động diện tích đất nông nghiệp sẽ phải chuyển mục đích sử dụng cho CNH – ĐTH đến 2020
Dựa trên dự báo về phát triển kinh tế xã hội và các phương án quy hoạch sử
dụng đất
2.3.5 Đề xuất giải pháp bảo vệ và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất nông nghiệp
Trên cơ sở những biến động diện tích đất nông nghiệp và ảnh hưởng đến tính chất đất nông nghiệp, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên đất nông nghiệp
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Với các nội dung nghiên cứu chính như đã trình bày ở mục 2.3, luận văn sử dụng tổng hợp một hệ thống các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
2.4.1 Phương pháp tổng hợp, phân tích, kế thừa tài liệu
Luận văn sẽ tiến hành phân tích, tổng hợp các công trình nghiên cứu có liên quan về ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đến chất lượng, số lượng đất nông nghiệp trong thời gian gần đây Trên cơ sở đó, luận văn rút ra một
số vấn đề có tính lý luận và thực tiễn liên quan đến nội dung nghiên cứu