ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH PHẠM HỒNG PHONG NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN CÁC ĐẶC TRƯNG MÙA LŨ ĐẦU NGUỒN SÔNG CỬU LONG, VÙNG ĐỒNG THÁ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
PHẠM HỒNG PHONG
NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN CÁC ĐẶC TRƯNG MÙA LŨ ĐẦU NGUỒN SÔNG CỬU LONG,
VÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI-TỨ GIÁC LONG XUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Hà Nội - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
PHẠM HỒNG PHONG
NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN CÁC ĐẶC TRƯNG MÙA LŨ ĐẦU NGUỒN SÔNG CỬU LONG, VÙNG
ĐỒNG THÁP MƯỜI-TỨ GIÁC LONG XUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn khoa học:
1 TS Hoàng Anh Huy
2 PGS TS Trần Hồng Thái
Hà Nội – 2017
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Hoàng Anh Huy và PGS.TS Trần Hồng Thái, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác
Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng quy cách
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản luận văn của mình
Tác giả
Phạm Hồng Phong
Trang 4Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Hoàng Anh Huy và PGS.TS Trần Hồng Thái, những người Thầy đã tận tình chỉ bảo, định hướng nghiên cứu và các phương pháp luận cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu
Sau cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp và gia đình, đã giúp
đỡ, động viên tôi học tập và nghiên cứu
Trong Luận văn không thể tránh khỏi thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý quý báu của các Quý Thầy Cô, bạn bè và đồng nghiệp những người quan tâm đến nghiên cứu của tôi
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Tác giả
Phạm Hồng Phong
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5
1.1 Tổng quan về sông Mê Công và vùng đầu nguồn sông Cửu Long 5
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên lưu vực sông Mê Công 5
1.1.2 Đặc điểm thủy văn sông Mê Công 7
1.2 Tổng quan Vùng đầu nguồn sông Cửu Long 8
1.2.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên vùng đầu nguồn sông Cửu Long 8
1.2.2 Đặc điểm địa hình 9
1.2.3 Đặc điểm khí hậu 10
1.2.4 Đặc điểm thủy văn 11
1.3 Tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mê Công 16
1.4 Các nghiên cứu về lũ đồng bằng sông Cửu Long 18
1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới 18
1.4.2 Các nghiên cứu trong nước về đồng bằng sông Cửu Long 19
1.5 Nhận xét cuối chương 21
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ SỐ LIỆU 22
2.1 Phương pháp nghiên cứu 22
2.1.1 Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp tài liệu 27
2.1.2 Phương pháp mô hình 27
2.2 Số liệu phục vụ nghiên cứu 31
2.2.1 Số liệu sơ cấp 31
2.2.2 Các số liệu thứ cấp 33
Trang 6iv
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 343.1 Xu thế biến đổi của nhiệt độ trung bình năm các trạm vùng đầu nguồn sông Cửu Long 343.2 Xu thế biến đổi của lượng mưa các trạm vùng đầu nguồn sông Cửu Long 343.3 Xu thế biến đổi của mực nước đỉnh lũ cao nhất năm vùng đầu nguồn sông Cửu Long 373.4 Đánh giá sự biến đổi của các đặc trưng lũ vùng đầu nguồn sông Cửu Long theo các kịch bản Biến đổi khí hậu và nước biển dâng 403.4.1 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến dòng chảy vùng đầu nguồn sông Cửu Long 40
3.4.2 Tác động của BĐKH đến diễn biến ngập lụt các tỉnh vùng đầu nguồn sông Cửu Long……… ………46KẾT LUẬN 75
Trang 7v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AR5 Báo cáo lần thứ 5
Assessment Report 5 BĐKH Biến đổi khí hậu
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
GCM Mô hình khí hậu toàn cầu
Global Climate Model IMHEN Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu
Vietnam Institute of Meteorolog, Hdrology and climate change IPCC Ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu
Intergovernmental Panel on Climate Change ISIS Mô hình thuỷ động lực ISIS được phát triển bởi Tập đoàn
halcrow (Anh) và HR Wallingford (Mỹ) KTTV Khí tượng Thủy văn
MONRE Bộ Tài nguyên và Môi trường
Ministry Of Natural Resources and Environment PRECIS Mô hình khí hậu khu vực của Trung tâm Khí tượng Hadley
- Vương quốc Anh Providing Regional Climates for Impacts Studies RCP Đường nồng độ khí nhà kính
Representative Concentration Pathways UHSMCQT Ủy hội sông Mê Công Quốc tế
TGLX Tứ giác Long Xuyên
VĐNSCL Vùng đầu nguồn sông Cửu Long
Trang 8vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Danh sách trạm khí tượng VĐNSCL 32
Bảng 3.1 Nhiệt độ không khí trung bình các trạm khí tượng VĐNSCL 34
Bảng 3.2 Xu thế thay đổi lượng mưa tại các trạm (mm/năm) 36
Bảng 3.3 Biến động mực nước đỉnh lũ 39
Bảng 3.4 Thay đổi đặc trưng dòng chảy tại trạm Tân Châu (m3/s)-Kịch bản RCP8.5 40
Bảng 3.5 Thay đổi đặc trưng dòng chảy trạm Tân Châu (%)-Kịch bản RCP8.5 40
Bảng 3.6 Thay đổi đặc trưng dòng chảy tại trạm Tân Châu (m3/s)-Kịch bản RCP4.5 40
Bảng 3.7 Thay đổi đặc trưng dòng chảy trạm Tân Châu (%)-Kịch bản RCP4.5 40
Bảng 3.8 Đặc trưng dòng chảy tại trạm Châu Đốc(m3/s)-Kịch bản RCP8.5 43 Bảng 3.9 Thay đổi đặc trưng dòng chảy trạm Châu Đốc (%)-Kịch bản RCP8.5 43
Bảng 3.10 Đặc trưng dòng chảy tại trạm Châu Đốc (m3/s) - Kịch bản RCP4.5 44
Bảng 3.11 Thay đổi đặc trưng dòng chảy trạm Châu Đốc (%)- Kịch bản RCP4.5 44
Bảng 3.12 Diễn biến độ ngập-kịch bản RCP8.5 tỉnh Đồng Tháp 47
Bảng 3.13 Diễn biến độ ngập-kịch bản RCP4.5 tỉnh Đồng Tháp 48
Bảng 3.14 Diễn biến độ ngập-kịch bản RCP8.5 tỉnh Long An 51
Bảng 3.15 Diễn biến độ ngập-kịch bản RCP4.5 tỉnh Long An 52
Bảng 3.16 Diễn biến độ ngập-kịch bản RCP8.5 tỉnh An giang 55
Bảng 3.17 Diễn biến độ ngập-kịch bản RCP4.5 tỉnh An Giang 56
Bảng 3.18 Diễn biến độ ngập-kịch bản RCP8.5-tỉnh Kiên Giang 58
Bảng 3.19 Diễn biến độ ngập-kịch bản RCP4.5 tỉnh Kiên Giang 59
Bảng 3.20 Diễn biến độ ngập-kịch bản RCP8.5 thành phố Cần Thơ 62
Bảng 3.21 Diễn biến độ ngập-kịch bản RCP4.5 thành phố Cần Thơ 62
Trang 9vii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Bản đồ lưu vực sông Mê Công [4] 6
Hình 1.2 Bản đồ vùng Đồng bằng sông Cửu Long [3] 9
Hình 1.3 Bản đồ mạng lưới sông ngòi VĐBSCL [4] 13
Hình 1.4 Vùng đánh giá các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mê Công 17
Hình 2.1 Sơ đồ thủy lực mạng sông Mê Công 30
Hình 2.2 Bản đồ lưới trạm khí tượngVĐNSCL [4] 32
Hình 2.3 Bản đồ lưới trạm thủy văn vùng Đồng bằng sông Cửu Long [4] 32
Hình 0.1 Diễn biến đặc trưng mực nước đỉnh lũ trạm Tân Châu 37
Hình 0.2 Diễn biến đặc trưng mực nước đỉnh lũ trạm Châu Đốc 37
Hình 0.3 Diễn biến đặc trưng mực nước đỉnh lũ trạm Xuân Tô 38
Hình 0.4 Diễn biến đặc trưng mực nước đỉnh lũ trạm Tri Tôn 38
Hình 0.5 Diễn biến đặc trưng mực nước đỉnh lũ trạm Mộc Hóa 39
Hình 0.6 Thay đổi đặc trưng dòng chảy trạm Tân Châu-Kịch bản RCP8.5 41
Hình 0.7 Thay đổi đặc trưng dòng chảy trạm Tân Châu-Kịch bản RCP8.5 41
Hình 0.8 Thay đổi đặc trưng dòng chảy trạm Tân Châu-Kịch bản RCP4.5 42
Hình 0.9 Thay đổi đặc trưng dòng chảy trạm Tân Châu-Kịch bản RCP4.5 43
Hình 0.10 Thay đổi đặc trưng dòng chảy trạm Châu Đốc-Kịch bản RCP8.5 45
Hình 0.11 Thay đổi đặc trưng dòng chảy trạm Châu Đốc-Kịch bản RCP8.5 45
Hình 0.12 Thay đổi đặc trưng dòng chảy trạm Châu Đốc-Kịch bản RCP4.5 46
Hình 0.13 Thay đổi đặc trưng dòng chảy trạm Châu Đốc-Kịch bản RCP4.5……… 46
Hình 0.14 Diễn biến ngập ứng kịch bản RCP8.5-tỉnh Đồng Tháp 48
Bảng 0.1 Diễn biến độ ngập-kịch bản RCP4.5 tỉnh Đồng Tháp 49
Hình 0.16 Diễn biến ngập ứng kịch bản RCP8.5-tỉnh Long An 52
Hình 0.17 Diễn biến ngập ứng kịch bản RCP4.5-tỉnh Long An 53
Hình 0.18 Diễn biến ngập ứng kịch bản RCP8.5-tỉnh An Giang 55
Bảng 0.2 Diễn biến độ ngập-kịch bản RCP4.5 tỉnh An Giang 56
Hình 0.20 Diễn biến ngập ứng kịch bản RCP8.5-tỉnh Kiên Giang 59
Hình 0.21 Diễn biến ngập ứng kịch bản RCP4.5-tỉnh Kiên Giang 60
Hình 0.22 Diễn biến ngập ứng kịch bản RCP8.5-thành phố Cần Thơ 63
Hình 0.23 Diễn biến ngập ứng kịch bản RCP4.5-thành phố Cần Thơ 63
Hình 0.24 Bản đồ ngập thời kỳ nền-ứng với năm 2000 66
Hình 0.25 Bản đồ ngập kịch bản RCP8.5- Giai đoạn 2017-2020 67
Hình 0.26 Bản đồ ngập kịch bản RCP8.5- Giai đoạn 2017-2020 68
Hình 0.27 Bản đồ ngập kịch bản RCP8.5-Giai đoạn 2031-2040 69
Hình 0.28 Bản đồ ngập kịch bản RCP8.5- Giai đoạn 2017-2020 70
Hình 0.29 Bản đồ ngập kịch bản RCP4.5- Giai đoạn 2017-2020 71
Hình 0.30 Bản đồ ngập kịch bản RCP4.5-Giai đoạn 2031-2040 72
Trang 10viii
Hình 0.31 Bản đồ ngập kịch bản RCP4.5-Giai đoạn 2041-2040 73 Hình0.31 Bản đồ ngập kịch bản RCP4.5-Giai đoạn 2041-2050 74
Trang 111
MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng châu thổ phì nhiêu lớn nhất nước ta, được hình thành bởi bồi đắp phù sa của sông Mê Công trong hàng triệu năm ĐBSCL là vùng đất có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế cả về nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản và du lịch sinh thái ĐBSCL bao gồm phần đất thuộc 13 tỉnh, thành phố: Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, An Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang và thành phố Cần Thơ Theo kết quả thống kê năm 2015, ĐBSCL có diện tích đất tự nhiên khoảng 3.757.600 ha Dân số khoảng 17,590 triệu người, mật độ dân số khoảng 494 người/km2 [6] ĐBSCL, được cung cấp nước ngọt, nuôi dưỡng, phát triển bởi phù sa của sông Mê Công bồi đắp và tiến ra biển hàng chục cm mỗi năm
Sông Mê Công khi về đến PhnomPenh (Campuchia) được chia thành hai nhánh: Bên phải là sông Bassac (vào Việt Nam gọi là Hậu Giang hay sông Hậu)
và bên trái là Mê Công (vào Việt Nam gọi là Tiền Giang hay sông Tiền), cả hai đều chảy vào khu vực đồng bằng châu thổ rộng lớn Nam Bộ Việt Nam mà trước hết là khu vực Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên và khu vực giữa hai sông, được người dân Nam Bộ gọi là VĐNSCL Lưu lượng hai sông này rất lớn, khoảng 6.000m³/s về mùa khô, lên đến 120.000m³/s vào mùa mưa và chuyên chở rất nhiều phù sa (ước chừng 160-165 triệu tấn/năm) [4] bồi đắp đồng bằng Nam
Bộ
Hàng năm, từ tháng 6 đến tháng 11 là những tháng mùa lũ trên sông Mê Công, khi lũ truyền về đến VĐNSCL bao gồm các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Long An, Kiên Giang và một phần thành phố Cần Thơ là các tháng
từ tháng 7 đến tháng 12 Vào thời kỳ cao điểm của mùa lũ, VĐNSCL có từ 1,5 triệu ha đất nông nghiệp bị ngập nước từ 0,5m trở lên; vùng ngập nặng nhất (tới 3m) là vùng ĐTM Thời gian ngập nước có thể lên tới trên 3 tháng Trong trận lũ năm 2000, VĐNSCL có tới 1.543.299ha bị ngập (chiếm 71,21% diện tích đất tự nhiên toàn VĐNSCL), trong đó diện tích bị ngập trên 1,5m trở lên là 635.517ha (chiếm 29,32% diện tích đất tự nhiên toàn vùng) Lũ về mang theo nhiều lợi ích cho VĐNSCL như: Cung cấp nguồn nước ngọt phục vụ tự nhiên và đời sống, sản suất của cư dân trong vùng, là nguồn dự trữ nước ngọt quan trọng cho mùa khô; bồi đắp phù sa, làm tăng độ phì nhiêu của đất đai; diệt chuột, bọ,
Trang 121,3-2
sâu bệnh cho đồng ruộng và tăng đáng kể nguồn lợi thủy sản do lượng lớn các loại thuỷ sản theo nước lũ sông Mê Công đổ về Tuy nhiên, lũ lớn lại làm ngập hơn 71% diện tích tự nhiên bị ngập cũng gây nhiều thiệt hại về sản xuất, hạ tầng kinh tế và sinh mạng của người dân VĐNSCL Trường hợp không có lũ (hoặc lũ nhỏ) cũng gây thiệt hại lớn đến khu vực này, cụ thể là: Thiếu nước ngọt trong mùa khô; xâm nhập mặn gia tăng ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản; không có lũ sẽ suy giảm lượng phù sa và khả năng tự làm "sạch" đồng ruộng và môi trường; gia tăng hiện tượng xói lở bờ sông
Biến đổi khí hậu, mà trước hết là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng, là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21 Thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan khác đang gia tăng ở hầu hết các nơi trên thế giới, nhiệt độ và mực nước biển toàn cầu tiếp tục tăng nhanh đang là mối lo ngại của các quốc gia Là quốc gia có chiều dài bờ biển tới trên 3.200km, Việt Nam được dự đoán là một trong những nước bị tác động nghiêm trọng do BĐKH, trước nhất là sẽ ảnh hưởng đến phân bố dân cư, ngành nông nghiệp và nuôi trồng, đánh bắt thủy sản do một diện tích lớn đất nông nghiệp mầu mỡ sẽ bị ngập, đặc biệt ở khu vực ĐBSCL
Trong những năm gần đây lượng mưa và lượng dòng chảy vào VĐNSCL giảm đi rõ rệt (tổng dòng chảy từ thượng lưu vào VĐNSCL qua sông Tiền tại Tân Châu và sông Hậu tại Châu Đốc thời kỳ tháng 3 năm 2004 là 2.400m3/s, chỉ bằng 60% cùng thời kỳ năm 2001 và gần 70% so với năm 2002) [4] Theo báo cáo của Đài KTTV khu vực Nam Bộ, “trong giai đoạn 2008-2016, tổng lượng chất lơ lửng trung bình hàng năm từ sông Mê Công chảy về ĐBSCL là 44,6 triệu tấn với xu thế giảm mỗi năm là 5,4%”
Trước tình hình đó, nhận thấy trong vấn đề nghiên cứu BĐKH, nổi bật lên bài toán đánh giá sự biến đổi các đặc trưng về lũ VĐNSCL do sự nóng lên toàn cầu, thay đổi lượng mưa và mực nước biển dâng Vì vậy tôi chọn đề tài luận văn
“Nghiên cứu, đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến các đặc trưng mùa lũ đầu nguồn sông Cửu Long, vùng Đồng Tháp Mười-Tứ giác Long Xuyên” nhằm
nghiên cứu, phân tích và đánh giá mức độ biến đổi của một số đặc trưng lũ VĐNSCL thời kỳ quá khứ trong bối cảnh BĐKH thông qua tập số liệu cập nhật đến năm 2015 của các Trạm Thuỷ văn Tân Châu, Châu Đốc, Xuân Tô, Tri Tôn, Mộc Hoá; nhận định xu thế, dự tính cho tương lai về các đặc trưng lũ theo Kịch bản BĐKH mới nhất do Chính phủ Việt Nam công bố năm 2016
Trang 133
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích, đánh giá được mức độ biến đổi của mực nước đỉnh lũ VĐNSCL thời kỳ quá khứ trong bối cảnh BĐKH
- Nhận định xu thế, dự tính được các đặc trưng lũ theo Kịch bản BĐKH
và nước biển dâng của Việt Nam do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố năm
2016
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu trong luận văn này là
mực nước đỉnh lũ, lưu lượng nước lũ, diện tích ngập lụt do lũ
3.2 Phạm vi nghiên cứu: Được lựa chọn là VĐNSCL bao gồm ĐTM,
TGLX và vùng giữa sông Tiền, sông Hậu
Về phạm vi thời gian, số liệu trong quá khứ giai đoạn từ năm 1971 đến năm 2015; trong tương lai là trung bình các giai đoạn 2017-2020, 2021-2030, 2031-2040 và 2041-2050
4 Vấn đề nghiên cứu
- Sự biến đổi các đặc trưng lũ VĐNSCL trong bối cảnh BĐKH?
- Sự biến đổi các đặc trưng lũ VĐNSCL trong tương lai theo Kịch bản BĐKH?
5 Nội dung nghiên cứu
- Thu thập số liệu về KTTV vùng nghiên cứu từ năm 1984 đến năm 2015
- Thu thập, tổng hợp số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội vùng nghiên cứu trong những năm gần đây
- Phân tích kết quả đánh giá tác động BĐKH đến các yếu tố KTTV vùng nghiên cứu trong thời kỳ quá khứ
- Phân tích kết quả tính toán mưa, nhiệt độ các trạm VĐNSCL trong tương lai từ mô hình PRECIS; phân tích kết quả tính toán dòng chảy 1 tháng lớn nhất, trung bình mùa lũ, trung bình năm và dự tính ngập lụt VĐNSCL từ mô hình ISIS trong tương lai theo các giai đoạn 2017-2020, 2021-2030, 2031-2040
và 2041-2050, các giai đoạn này sẽ được so sánh với trung bình giai đoạn cơ sở
từ năm 1986-2005, thông qua việc so sánh này, chúng ta sẽ thấy rõ được xu thế tăng, giảm của hiện tượng các đặc trưng mùa lũ VĐNSCL trong tương lai
Trang 144
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo luận văn được
bố cục làm 3 chương sau đây:
Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu, chương này đề cập những nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến BĐKH và các đặc trưng mùa lũ ở đầu nguồn sông Cửu Long, vùng Đồng Tháp Mười-Tứ giác Long Xuyên
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và số liệu, chương này trình bày phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn, chi tiết về số liệu dùng
để tính toán, nghiên cứu
Chương 3: Kết quả và thảo luận, chương này đưa ra kết quả nghiên cứu về
xu thế biến đổi của một số đặc trưng mùa lũ ở đầu nguồn sông Cửu Long, vùng Đồng Tháp Mười-Tứ giác Long Xuyên trong quá khứ và các tác động tiềm tàng của BĐKH đến các đặc trưng mùa lũ ở đầu nguồn sông Cửu Long, vùng Đồng Tháp Mười-Tứ giác Long Xuyên trong tương lai
Trang 155
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về sông Mê Công và vùng đầu nguồn sông Cửu Long
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên lưu vực sông Mê Công
Sông Mê Công chảy qua 6 nước (Trung Quốc, Mianma, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam), đứng hàng thứ 10 Thế giới về tổng lượng dòng chảy (475 tỷ m3), hàng thứ 12 thế giới về diện tích lưu vực (795.000 km2), bắt nguồn
từ cao nguyên Tây Tạng, qua các vùng đồi núi của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc)
và Myanmar, rồi đi vào vùng trung, hạ lưu thuộc Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam rồi đổ ra biển Đông (hình 1.1) Sông Mê Công chảy chủ yếu theo hướng Bắc-Nam, qua nhiều vùng địa hình phức tạp Độ dốc lòng sông trung bình 1,10/0000 Dòng chính được bổ sung nguồn nước từ nhiều nhánh sông, suối lớn, nhỏ, có diện tích lưu vực từ vài trăm đến vài chục nghìn km2, phân bố khá đều hai bên bờ, như Nậm Ngủm, Nậm Thà, Sêbang Hiêng, Sêbang Phai, Sê San, SrePock ở bên trái và Nậm Songkhran, Nậm Mun, Nậm Chi ở bên phải
Thượng lưu Mê Công có chiều dài gần 1.800 km, diện tích gần 200.000
km2, địa hình núi cao hiểm trở, lòng sông nhiều thác ghềnh Vùng trung lưu được tính từ Chiang Saen xuống tới Kratie (Campuchia) chiếm 57% diện tích lưu vực (453.150 km2) Có 20 sông nhánh cấp I, trong đó 13 sông nằm ở tả ngạn
và 7 sông nằm hữu ngạn sông Mê Công Hạ lưu sông Mê Công được tính từ Kratie và kéo dài tới biển Đông, với diện tích 198.800 km2, chiếm 24% diện tích lưu vực Ngay sau ngã ba hợp lưu với sông Tonle Sap (sông nối dòng chính với Biển Hồ tại Phnom Penh, Biển Hồ là một hồ chứa nước tự nhiên có lưu vực 85.000 km2, dung tích khoảng 85 tỷ m3, diện tích mặt nước biến đổi từ 3.000
km2 đến 14.000 km2, hàng năm nhận từ sông Mê Công khoảng 49 tỷ m3 nước vào mùa lũ và cùng với dòng chảy do chính lưu vực sinh ra, bổ sung trung bình khoảng 80 tỷ m3 nước cho hạ lưu từ sau đỉnh lũ cho đến đầu mùa mưa năm sau),
Mê Công chia thành hai nhánh chảy vào Việt Nam là sông Tiền (Mê Công) và sông Hậu (Bassac) Sông Tiền chảy qua Tân Châu, Sa Đéc, Mỹ Thuận rồi đổ ra biển Đông bằng 6 cửa là Cửa Tiểu, Cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu Sông Hậu chảy qua Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ và đổ ra biển Đông bằng 2 cửa là Định An và Trần Đề (cửa thứ 9 là Bát Thát, đã bị bồi lấp khoảng 100 năm trước) Vì vậy, sông Mê Công khi chảy vào Việt Nam được gọi
Trang 177
Tỷ lệ diện tích của các nước đóng góp vào lưu vực sông Mê Công như sau: Trung Quốc 120.00km2 (chiếm 15,6% diện tích lưu vực); Myanmar 59.030 km2 (7,4)%; Lào 202.400km2 (26,1%); Thái Lan 184.240 km2 (23,2%); Campuchia 154.700 km2 (19,5%); Việt Nam 65.170 km2 ( 8,2%) [4]
1.1.2 Đặc điểm thủy văn sông Mê Công
Tỷ lệ đóng góp dòng chảy sông Mê Công giữa thượng-hạ lưu là 18%/82%, trong khi tỷ lệ diện tích là 25%/75% Tuyết tan vào Xuân-Hè là nguồn cung cấp đáng kể và khá ổn định cho dòng chảy cạn ở phần thượng lưu Dòng chảy ở Trung và hạ lưu sông Mê Công được hình thành bởi nước mưa Mưa biến đổi lớn theo năm và mùa, do vậy, dòng chảy hạ lưu có sự biến động nhiều hơn Hàng năm, sông Mê Công tải qua mặt cắt Kratie khoảng 380 tỷ m3nước, với lưu lượng trung bình khoảng 12.143m3/s
Dòng chảy trên sông đoạn trước Kratie được phân thành hai mùa tương phản khá sâu sắc: Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 11, chiếm đến 90% tổng lượng nước hàng năm, với tháng 8 và tháng 9 lớn hơn cả; mùa kiệt từ tháng 12 năm trước đến tháng 5 năm sau, chiếm 10% tổng lượng nước còn lại, trong đó tháng
3 và tháng 4 có lượng dòng chảy thấp nhất Dọc theo dòng chính, tỷ lệ trung bình tháng cao nhất so với tháng thấp nhất là khoảng 10-20 lần và trung bình 3 tháng cao nhất và 3 tháng thấp nhất là 7-15 lần Lũ sông Mê Công thường nhiều đỉnh, với đỉnh lớn nhất trong năm rơi vào khoảng từ tháng 7 đến tháng 9 Lũ ở thượng lưu và trung lưu sông Mê Công mang tính chất lũ miền núi với biên độ lớn, lên xuống nhanh, được truyền về hạ lưu với tốc độ khá cao ở đoạn Chiang Sean-Pakse (8-10km/h), chậm dần ở đoạn Kratie-Phnom Penh (2-4km/h)
Từ dưới Kratie, sông Mê Công chảy trong vùng đất thấp, có địa hình bằng phẳng, đôi khi hơi gợn sóng, với đa số độ dốc đều nhỏ hơn 2%, đối với vùng này thì địa hình ven sông thấp và hình thành các bãi tràn thoát lũ rộng Vào tháng 6, khi sông Mê Công bắt đầu có lũ thì nước từ sông chính theo sông Tonle Sap chảy ngược vào Biển Hồ Thời gian chảy ngược duy trì cho đến tháng 9, tháng
10, khi lũ trên sông chính vượt qua đỉnh cao nhất trong năm Từ tháng 10, tháng
11, nước từ Biển Hồ bắt đầu chảy ra sông, bổ sung cho dòng chảy vào đồng bằng từ khi qua đỉnh lũ cho đến cuối mùa lũ và gần suốt cả mùa kiệt
Sông Mê Công từ Phnom Penh ra biển có chế độ thủy văn khác hẳn phần thượng lưu do tác động của thủy triều biển Đông với biên độ cao Trong mùa
Trang 181.2 Tổng quan Vùng đầu nguồn sông Cửu Long
1.2.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên VĐNSCL
ĐBSCL là đồng bằng lớn nhất của Việt Nam nằm ở hạ lưu lưu vực sông
Mê Công, chiếm 79% diện tích toàn bộ các châu thổ và bằng khoảng 5% diện tích toàn lưu vực sông Mê Công ĐBSCL là đồng bằng quan trọng nhất nước ta, với diện tích đất tự nhiên khoảng 4.057,6 triệu ha ĐBSCL bao gồm 13 tỉnh/thành, dân số khoảng 17,590 triệu người, mật độ 494 người/km2, trong đó
có khoảng 1,3 triệu người dân tộc Khmer sống tập trung ở các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Vĩnh Long, An Giang và Kiên Giang
VĐNSCL nằm ở phía Bắc ĐBSCL, bao gồm vùng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên và vùng giữa sông Tiền, sông Hậu, về mặt hành chính bao gồm các tỉnh: An Giang, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Kiên Giang và thành phố Cần Thơ Tổng diện tích đất tự nhiên toàn vùng là 2.167,7 triệu ha (chiếm 53,42% diện tích ĐBSCL) , trong đó đất nông nghiệp 1.603,9 triệu ha (73,99% diện tích đất tự nhiên), đất lâm nghiệp 154,1 triệu ha (7,11%), đất chuyên dùng 154,6 triệu ha (7,13%), đất ở 85,2 triệu ha (5,5%); dân số 10.065.000 người, chiếm 57,22% dân số vùng ĐBSCL, mật độ dân số là 464 người /km2 [2]
Trang 19- Vùng TGLX có diện tích tự nhiên là 500.596ha, bao gồm: An Giang (7 huyện/thị) 245.085ha, Kiên Giang (6 huyện/thị) 240.333ha và Cần Thơ (huyện Vĩnh Thạnh) 15.178ha Vùng này khá bằng phẳng, địa hình dạng lòng chảo
- Vùng giữa hai Sông bao gồm các tiểu vùng: Bắc Kênh Vĩnh An 35.474ha, Bắc Vàm Nao 54.014ha, Chợ Mới 36.962ha, Bắc Mang Thít 171.563ha
1.2.2 Đặc điểm địa hình
VĐNSCL có địa hình bằng phẳng, phần lớn có cao độ trung bình từ 1,2m, ngoại trừ một số đồi núi cao ở phía Bắc thuộc tỉnh An Giang Dọc theo
Trang 20a) Đặc điểm nhiệt độ không khí
VĐNSCL có chế độ nhiệt độ cao và ổn định Nhiệt độ không khí khá cao, trung bình ngày trong cả năm từ 26,6-27,60C Biên độ nhiệt độ trung bình năm ở khu vực dao động trong khoảng 2-30C; biên độ nhiệt độ trung bình của tháng có trị số lớn nhất so với tháng có trị số thấp nhất chỉ lệch nhau có 3,40C
Nhiệt độ không khí cao nhất trung bình tháng phổ biến từ 28-340C Tháng
4 là tháng có nhiệt độ cao nhất trung bình và nhiệt độ cao nhất tuyệt đối cao nhất trong năm; tháng 12 có nhiệt độ cao nhất trung bình và nhiệt độ cao nhất tuyệt đối thấp nhất trong năm Nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối tháng phổ biến
từ 31-380C; nhiệt độ không khí thấp nhất trung bình tháng phổ biến từ 22-260C Tháng 01 là tháng có nhiệt độ thấp nhất trung bình nhỏ nhất trong năm, tháng 5
có nhiệt độ thấp nhất trung bình cao nhất năm Biên độ dao động nhiệt độ trong ngày trung bình từ 6-100C
Bảng 1.1 Nhiệt độ không khí trung bình (oC)
b) Đặc điểm mưa
Mưa là yếu tố khí hậu có sự biến động nhiều nhất theo thời gian và không gian ở VĐNSCL Hàng năm, có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau Theo không gian vùng, lượng mưa trung bình năm biến đổi khá rõ, từ 1.300-2.200
mm Tỉnh Kiên Giang có lượng mưa lớn nhất so với toàn vùng (2.173mm),
Trang 2111
giảm dần vào vùng trung tâm và phía Bắc (1.300-1.450 mm) Lượng mưa trung bình mùa mưa chiếm khoảng 90-92% tổng lượng mưa năm, còn lượng mưa trung bình mùa khô chỉ có 8-10%
- Sông Tiền và sông Hậu:
Sông Tiền đóng vai trò khá quan trọng, ngay sau khi phân lưu từ dòng chính Mê Công tại Phnom Penh, nhờ lòng sông rộng hơn nên chuyển tải một lượng nước lớn hơn sông Hậu (86%/14%) Sau khi sông Tiền chia bớt nước sang sông Hậu qua sông Vàm Nao, hai sông mới tạo lập được thế cân bằng (49%/51%) Sau Mỹ Thuận, sông Tiền lần lượt có các phân lưu lớn kế tiếp nhau
là sông Cổ Chiên, sông Hàm Luông, sông Ba Lai, sông Cửa Đại và Cửa Tiểu Sông Hậu chảy thành một đường thẳng tắp và chỉ chia 2 trước khi đổ ra biển chừng 30 km qua cửa Định An và Trần Đề Từ Phnom Penh đến Vàm Nao lòng sông Hậu hẹp; sau Vàm Nao, sông Hậu mới được mở rộng tương ứng với sông Tiền, cả sông Tiền, sông Hậu đều rộng và sâu, độ rộng trung bình khoảng 1.000-1.500 m, với độ sâu trung bình từ 10-20 m, có nơi sâu trên 40 m, bởi vậy có khả năng chuyển tải lưu lượng rất lớn Tuy nhiên, khi đến các cửa biển, lòng sông được mở rộng và đáy sông được nâng lên Cả sông Tiền, sông Hậu đều hình thành nhiều cù lao, nhiều đoạn sông cong, nhiều phân-nhập dòng quá trình xói
lở bờ và bồi lắng lòng sông diễn biến rất phức tạp, tạo sự mất ổn định lòng dẫn
- Hệ thống sông Vàm Cỏ:
Tháng 01 02 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao Lãnh 12,8 6,5 21,9 65,7 145,1 158,8 176,3 180,3 244,2 275,6 135,9 37,5 1.461 Mộc Hóa 14 6,7 14,5 58,5 175,3 172,1 186,1 177,7 251,8 313,.9 154,8 43,4 1.568,9 Châu Đốc 8,0 3,8 17,5 81,9 157,2 114,1 136,4 166,7 165,7 263,8 145,1 43,3 1.303 Rạch Giá 12 9,9 35,4 89,5 245,9 279,3 325,4 357 305,8 296,7 172,6 44,3 2.173,6 Cần Thơ 9,0 2,0 15,1 41,3 172,2 204,9 225,5 227,7 243,9 301,5 154,2 38,4 1.636
Trang 2212
Hệ thống sông Vàm Cỏ bao gồm 2 nhánh Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây, đều bắt nguồn từ Campuchia, chảy qua phía Đông VĐNSCL, đến Cầu Nổi thì nhập lại để cùng chảy ra hạ lưu sông Đồng Nai trước khi ra biển qua cửa Cần Giờ Sông Vàm Cỏ Đông và sông Vàm Cỏ Tây không rộng, gấp khúc nhiều nên hạn chế khả năng chuyển nước Sông Vàm Cỏ Đông gắn liền với miền Đông Nam Bộ qua hệ thống thủy lợi Dầu Tiếng-Phước Hòa; Vàm Cỏ Tây gắn với VĐNSCL qua vùng ĐTM khi nhận nước từ sông Mê Công chảy tràn từ Campuchia sang
- Dọc theo sông Tiền và sông Hậu còn có rất nhiều kênh, rạch lớn, nhỏ nối với nội đồng, như kênh Hồng Ngự, rạch Cần Lố, rạch Ruộng… (vùng tả sông Tiền), rạch Cả Nai, sông Măng Thít, rạch Cần Chông… (giữa sông Tiền-sông Hậu), sông Ô Môn, sông Cần Thơ… (hữu sông Hậu) Đặc điểm các sông, rạch này là có cửa vào lớn, sâu nhưng thu hẹp rất nhanh khi chảy qua nội đồng
- Hệ thống kênh đào ở VĐNSCL được phát triển chủ yếu trong vòng hơn
1 thế kỷ nay, với mục đích chính là phát triển nông nghiệp và giao thông thủy Đến nay, hệ thống kênh đào đã được đan dày ở cả 3 cấp là kênh trục/kênh cấp 1, kênh cấp 2 và kênh cấp 3/nội đồng Hệ thống kênh trục phát triển nối sông Hậu với biển Tây, sông Tiền với sông Vàm Cỏ Tây và sông Tiền với sông Hậu, đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn nước trực tiếp từ sông chính vào đồng Hệ thống kênh cấp 2 được mở rộng trên nhiều vùng ở VĐNSCL, đặc biệt là các vùng thâm canh lúa dọc sông Tiền và Hậu, nối các kênh trục với nhau, có nhiệm
vụ phân phối nước tưới và tiêu nước thừa cho từng khu vực trong nội đồng Kênh cấp 3 (hay còn gọi là kênh nội đồng) có vị trí rất quan trọng, vì đây là hệ thống kênh trực tiếp dẫn nước tưới đến và tiêu nước thừa đi cho từng thửa ruộng
Trang 237 và kết thúc vào tháng 11, tháng 12, chậm hơn so với thượng lưu một tháng và mùa mưa tại ĐBSCL khoảng 2 tháng; tiếp đến là mùa kiệt, thời gian mỗi mùa khoảng 6 tháng Từ Phnom Penh ra biển, sông Mê Công đi vào ĐBSCL theo hai nhánh là sông Tiền và sông Hậu, có chế độ thủy văn khác hẳn phần thượng lưu,
do tác động của thủy triều từ biển Nhờ điều tiết của Biển Hồ, dòng chảy vào ĐBSCL điều hòa hơn so với tại Kratie, với mùa lũ có lưu lượng trung bình vào Việt Nam khoảng 28.000-30.000m3/s (tháng lớn nhất 32.000-34.000m3/s) và mùa kiệt từ 3.000-5.000m3/s (tháng kiệt nhất từ 2.200-2.500m3/s) Tài liệu thực
đo lưu lượng tại Tân Châu, Châu Đốc từ 1996-2015 cho kết quả như bảng 1.3
Bảng 1.3 Lưu lượng trung bình tại các trạm vùng ĐBSCL (m3/s)
Trang 24vụ tiếp nước cho sông Hậu, phân phối lại dòng chảy giữa 2 sông Tiền và Hậu Sau Vàm Nao, tỷ lệ phân phối giữa hai nhánh sông Mê Công là 51% cho sông Tiền và 49% cho sông Hậu
VĐNSCL lũ lên, xuống chậm, khá hiền hoà, cường suất lũ trung bình 15cm/ngày, cao nhất cũng chỉ đạt 20cm/ngày, biên độ toàn trận lũ chỉ từ 3-4m Tốc độ truyền lũ chậm, từ Phnom Penh đến Tân Châu mất 3 ngày (200km), từ Long Xuyên, Chợ Mới ra biển, nếu gặp triều cường, tốc độ truyền lũ lại càng chậm hơn Biến động về thời gian và đỉnh lũ giữa các năm không lớn, tuy nhiên
10-do đồng bằng bằng phẳng nên chỉ cần lũ lớn hơn bình thường là đã gây nên ngập
lũ rộng và kéo dài Lũ ở VĐNSCL bình thường chỉ có 1 đỉnh, xuất hiện vào cuối tháng 9, đầu tháng 10, song loại 2 đỉnh cũng xuất hiện ở 1 số năm (1978, 2000 ), thường xảy ra vào năm lũ lớn
Lũ sông Mê Công chảy vào VĐNSCL theo dòng chính và từ các vùng ngập lụt Campuchia tràn xuống Lưu lượng đỉnh lũ trung bình khoảng 38.000
m3/s (ứng với mức nước Tân Châu 4,40m và Châu Đốc 3,88m), những năm lũ lớn có thể đạt 40.000-45.000m3/s, trong đó qua dòng chính khoảng 32.000-34.000m3/s (chiếm 75-80%), tràn biên giới từ 8.000-12.000m3/s (chiếm 20-
Trang 2515
25%), trong đó vào TGLX từ 2.000-4.000m3/s và vào ĐTM từ 9.000m3/s Trên dòng chính, lưu lượng qua Tân Châu từ 24.000-26.000m3/s (chiếm 82.86%) và qua Châu Đốc từ 7.000-9.000m3/s (chiếm 14-18%) Tổng lượng lũ vào ĐBSCL khoảng 350-400 tỷ m3, trong đó theo dòng chính 80-85%, tràn qua biên giới 15-20%
6.000-Lũ ở VĐNSCL có thể chia làm 3 thời kỳ Thời kỳ đầu mùa lũ (tháng 7, tháng 8), nước lũ trên sông chính lên nhanh và theo các sông rạch chảy vào đồng
để chứa đầy trong các ô ruộng Trong thời kỳ này nước lũ mang nhiều phù sa, là nguồn bồi đắp chính cho nội đồng trong mùa lũ Thời kỳ thứ 2 là khi nước lũ đã lên cao (Tân Châu vượt quá 4,0m, Châu Đốc vượt quá 3,8m), lũ vào theo 2 hướng là từ sông chính xuống và từ biên giới Việt Nam-Campuchia sang Dòng chảy tràn biên giới sau khi làm ngập và lắng đọng phần lớn phù sa ở các vùng ngập lụt Campuchia, bắt đầu tràn mạnh vào ĐTM, TGLX, lấn át dòng nước lũ giàu phù sa hơn từ sông Tiền, sông Hậu vào đồng, làm giảm khả năng nhận thêm phù sa, tăng phì nhiêu cho các vùng này Thời kỳ thứ 3 là thời kỳ lũ rút, thường bắt đầu từ hạ tuần tháng 10, khi dòng chảy tràn Campuchia đã giảm, mực nước lũ xuống dần cho đến tháng 12 thì đại bộ phận diện tích ở VĐNSCL gần như hết ngập lụt
Theo phân cấp lũ của Trung tâm KTTV quốc gia, với mực nước tại Tân Châu dưới 4,0m là lũ nhỏ, 4,0-4,5m là lũ trung bình và trên 4,5m là lũ lớn, tương ứng với tần số xuất hiện lũ nhỏ 13,2%, lũ trung bình 46,2% và lũ lớn 40,6% Tài liệu thống kê cho thấy trong 60 năm qua, trung bình cứ 2 năm thì có
1 năm lũ vượt báo động cấp III (mực nước Tân Châu vượt 4,2m) Trong khoảng thời gian 16 năm từ năm 1937-1952, mực nước các năm đều bằng hoặc vượt báo động cấp III Đã có những thời kỳ xuất hiện 4 năm liên tục xẩy ra lũ lớn như các năm 1937-1940, mực nước đỉnh lũ tại Tân Châu đều vượt 4,85m; các năm 1946-
1949, 1994-1996 mực nước đỉnh lũ tại Tân Châu cũng đều vượt 4,60m; từ năm 2000-2002, mực nước đỉnh lũ tại Tân Châu vượt qua mức 4,75m Tuy nhiên từ năm 2012.2016, mực nước đỉnh lũ tại Tân châu đều nhỏ hơn 4,0m
Bảng 1.4 Mực nước, lưu lượng lớn nhất trong một số năm lũ lớn
H (cm) Ngày Q (m 3 /s) Ngày H (cm) Ngày Q (m 3 /s) Ngày
1978 449 13/X 7.160 03/IX 494 09/IX 25.900 23/VIII
1991 427 16/X 7.590 13/IX 464 13/IX 24.300 10/IX
1994 423 03/X 7.097 03/X 450 04/X 23.243 14/IX
1996 454 06/X 8.150 04/X 487 05/X 23.600 01/X
Trang 2616
H (cm) Ngày Q (m 3 /s) Ngày H (cm) Ngày Q (m 3 /s) Ngày
2000 490 23/IX 7.660 22/IX 506 23/IX 25.500 25/VII
2001 448 23/IX 7.160 19/IX 478 20/IX 23.800 19/IX
2002 442 01/X 6.730 30/VIII 482 30/IX 24.700 27/VIII
2003 350 29/IX 5.270 27/IX 406 28/IX 18.600 25/IX
2004 401 30/ IX 6.750 28/IX 440 29/IX 20.250 27/IX
2005 390 21/IX 6.560 18/IX 435 20/IX 21.990 17/IX
2011 427 12/X 8.370 29/IX 486 29/IX 26.100 29/IX
1.3 Tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mê Công
Ngoài 06 công trình thủy điện đã đưa vào hoạt động và 02 công trình đang xây dựng ở thượng lưu sông Mê Công do Trung Quốc xây dựng, các quốc gia ha ̣ lưu sông Mê Công thời gian gần đây đã đề xuất xây dựng 12 dự án thủy điện trên dòng chính sông Mê Công đoạn chảy qua Thái Lan, Lào và Campuchia, gồm:
1 Pak Beng nằm tại vị trí thượng lưu của thị xã Pak Beng (Lào)
2 Luang Prabang nằm trên thị xã Luang Prabang (Lào)
3 Xayaburi nằm phía dưới thị xã Luang Prabang (Lào) 150km
4 Pak Lay nằm ngay phía trên huyện Pak Lay (Lào)
5 Pak Chom nằm phía trên thượng lưu thủ đô Viêng Chăn (Lào) 100km
6 Ban Koum nằm cách hợp lưu sông Mun/Chi với sông Mê Công 10km (Lào)
7 Sanakham nằm ngay phía thượng lưu của biên giới Lào-Thái Lan, giữa tỉnh Loei và Viêng Chăn (Lào)
8 Lat Sua nằm cách hạ lưu Pakse (Lào) 10km
9 Don Sahong nằm trên nhánh sông Hou Sahong, một trong hơn mười nhánh chảy vào thác Khone phía Nam Siphandone (Thái Lan)
10 Thakho (Thái Lan)
11 Stung Treng (Campuchia)
12 Sambor nằm gần làng Sambor (Campuchia)
Trang 2717
Hình 1.4 Vùng đánh giá các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mê Công Năm 2016, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã công bố kết quả Dự án Nghiên cứu tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mê Công Kết quả thực hiện Dự án đã chỉ ra rằng: Khi các nhà máy thủy điện trên sông Mê Công được đưa vào vận hành sẽ làm cho mùa lũ ở ĐBSCL đến muộn
Trang 2818
hơn Các kịch bản đánh giá tác động đến Việt Nam như sau:
- Tác động lên chế độ dòng chảy: Sụt giảm tổng lượng cho thời đoạn 10 ngày: Chế độ vận hành của các đập thủy điện sẽ gây sụt giảm tổng lượng 1,06-1,18 tỷ m3 (tương đương 40-44%) tại Tân Châu-Châu Đốc Biến động mực nước cho thời đoạn 10 ngày: Các đập thủy điện cũng sẽ làm gây sụt giảm mực nước trung bình tới 0,13-0,15m tại Tân Châu-Châu Đốc Chế độ vận hành phủ đỉnh hàng ngày cũng gây dao động mực nước nhẹ ở hạ du khoảng 0,03m ở Tân Châu-Châu Đốc
- Tác động lên phù sa bùn cát: Các công trình thủy điện dòng chính sẽ lưu giữ phù sa bùn cát trong các hồ chứa và gây sụt giảm hàm lượng phù sa bùn cát
về phía hạ du Tổng lượng phù sa hàng năm sẽ bị sụt giảm từ 27-29 triệu tấn (tương đương 64-67%) tại Tân Châu-Châu Đốc
- Xâm nhập mặn: Sụt giảm tổng lượng trong mùa khô sẽ gây tác động tới mức độ xâm nhập mặn ở ĐBSCL Chiều sâu xâm nhập mặn (so với điều kiện nền) trên hai nhánh sông Tiền và sông Hậu sẽ tăng 10-20km (sông Tiền) và 9-10km (sông Hậu)
Báo cáo của Đài KTTV khu vực Nam Bộ trình bày tại Hội thảo khoa học
“Đánh giá nguy cơ lũ sớm và lũ lớn năm 2017 ở Đồng bằng sông Cửu Long” tổ chức tại thành phố Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp ngày 31/6/2017 đã nêu:
- Trong giai đoạn 2008-2016, tổng lượng chất lơ lửng trung bình hàng năm từ sông Mê Công chảy về ĐBSCL là 44,6 triệu tấn với xu thế giảm mỗi năm là 5,4%
- Trong giai đoạn 1997-2016, tổng lượng chất lơ lửng trung bình trong mùa lũ (tháng 9 và 10) từ sông Mê Công chảy về ĐBSCL là 24,3 triệu tấn với
xu thế giảm mỗi năm là 2,3%
1.4 Các nghiên cứu về lũ đồng bằng sông Cửu Long
1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới
- Ủy hội sông Mê Công đã nghiên cứu đánh ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu đến chế độ dòng chảy và tính toán các kịch bản phát triển lưu vực [8, 9, 10] Nghiên cứu đã đánh giá được tác động các kịch bản đến thay đổi chế độ dòng chảy sông Mê Công, tác động đến giao thông thủy, thủy sản, đến lũ và xâm nhập
Trang 2919
mặn ở hạ lưu Các mô hình thủy văn, thủy lực để đánh giá tác động của khai thác sử dụng nước, điều kiện khí tượng thủy văn đến chế độ dòng chảy trên lưu vực sông Mê Công Mô hình SWAT được dùng để mô phỏng dòng chảy đến các tiểu lưu vực không có số liệu và đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố mặt đệm, đặc điểm khí tượng thủy văn đến ché độ dòng chảy Mô hình IQQM và Mike Basin được ứng dụng để đánh giá thay đổi dòng chảy dưới các phương án khai thác sử dụng nước khác nhau Mô hình ISIS, Mike 11 được ứng dụng để tính toán thay đổi mực nước, lưu lượng và ngập lụt ứng với các phương án tính toán của mô hình thủy văn
1.4.2 Các nghiên cứu trong nước về ĐBSCL
Các nghiên cứu chính được phân tích, liệt kê như sau:
- Đề tài độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ xây dựng hệ thống đê bao, bờ bao nhằm phát triển bền vững vùng ngập lũ Đồng bằng sông Cửu Long” (GS Trần Như Hối làm chủ nhiệm, 2003-2006) Nội dung chính của đề tài bao gồm: Thu thập số liệu phục vụ
nghiên cứu; nghiên cứu các vấn đề liên quan đến lũ vùng ĐBSCL đặc biệt là vùng ngập lũ… Từ đó, nghiên cứu đề xuất các cơ sở cho việc lập quy hoạch chi tiết
đê bao, bờ bao cho các vùng ngập lũ ĐBSCL (vùng ngập lụt nằm ở phía Bắc ĐBSCL, có diện tích gần 2 triệu ha, bao gầm đất đai các tỉnh Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang, An Giang và Kiên Giang)
- Đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu nhận dạng toàn diện về lũ, dự báo, kiểm soát và thoát lũ phục vụ yêu cầu chung sống với lũ ở đồng bằng sông cửu Long” (TS Tô văn Trường làm chủ nhiệm-2005), đề tài đã tập trung nghiên cứu
các vấn đề liên quan đến lũ vùng ĐBSCL: Đặc điểm lũ sông Mê Công và ở ĐBSCL, hoàn nguyên lũ và nghiên cứu, nhận diện toàn diện về lũ, các mặt lợi hại của nó… đưa ra các giải pháp kiểm soát lũ ĐBSCL; công nghệ dự báo lũ và các bản đồ nguy cơ ngập lũ ĐBSCL ứng với các tần suất khác nhau
- Nghiên cứu của Viện Chiến lược chính sách Tài nguyên Môi trường
cũng đã đưa ra một số kịch bản về tài nguyên nước cho đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2070 Theo đó, vào năm 2070, tại lưu vực sông Mê Kông, dòng
Trang 3020
chảy năm sẽ biến đổi trong khoảng từ (+4,2%) đến (-14,5%), dòng chảy mùa cạn biến đổi từ (-2,0%) đến (-24,0%) và dòng chảy lũ biến đổi trong khoảng (+12,0%) đến (-5,0%)
- Năm 2010, dưới sự tài trợ của Đan Mạch, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường đã thực hiện Dự án Đánh giá tác động của BĐKH lên
tài nguyên nước và các biện pháp thích ứng Mục tiêu lâu dài của dự án là tăng cường năng lực của các ban ngành, tổ chức và của người dân Việt Nam trong việc thích nghi với tác động của BĐKH đến TNN, giảm thiểu đến mức thấp nhất các tác động xấu cũng như thiệt hại do BĐKH gây ra; khôi phục có hiệu quả các tác động này hoặc tận dụng các tác động tích cực của BĐKH; đánh giá tác động của BĐKH đến tài nguyên nước mặt tại 7 lưu vực sông của Việt Nam, trong đó
có sông Cửu Long; Đề xuất các giải pháp thích ứng với sự thay đổi TNN do BĐKH gây ra Trong công trình nghiên cứu này, đã tiến hành xây dựng các kịch bản dựa trên cơ sở kịch bản BĐKH (A2, B2) đến năm 2050 kết hợp với các kịch bản phát triển lưu vực sông Mê Công Theo các kịch bản về BĐKH, dòng chảy năm trên sông Mê Công vào ĐBSCL, trung bình thời kỳ 2010-2050 tăng khoảng 4-6% so với thời kỳ 1985-2000, dòng chảy mùa lũ thời kỳ 2010-2050 chỉ tăng khoảng 5-7% trong khi đó dòng chảy mùa cạn tăng khoảng 10%
- Năm 2014, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Trần Hồng Thái và cộng sự tại công trình nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Nhà nước “Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sự biến đổi tài nguyên nước Đồng bằng sông Cửu Long” đã xác định được các thách thức, ảnh hưởng của BĐKH đến vùng
ĐBSCL, đề xuất các giải pháp khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên nước, bảo đảm nguồn nước phục vụ phát triển bền vững ở ĐBSCL:
+ Thách thức về thiếu hụt dòng chảy vào ĐBSCL: Dòng chảy trung bình một tháng nhỏ nhất tổng cộng vào ĐBSCL có thể giảm tới 3,5 tỷ m3 nước; dòng chảy trung bình ba tháng nhỏ nhất tổng cộng vào ĐBSCL có thể giảm tới 13 tỷ m3 nước Dòng chảy trung bình mùa cạn tổng cộng vào ĐBSCL có thể giảm tới 30 tỷ m3 nước
+ BĐKH có thể làm khắc nghiệt hơn các thiên tai về nước, dòng chảy cạn suy giảm, dòng chảy lũ gia tăng: Dòng chảy trung bình một tháng lớn nhất tổng
Trang 3121
cộng vào ĐBSCL có thể tăng tới 3,6 tỷ m3; dòng chảy trung bình mùa lũ tổng cộng vào ĐBSCL có thể tăng tới 40 tỷ m3; dòng chảy mùa lũ gia tăng dẫn đến diện ngập lụt gia tăng, ảnh hưởng đến các sử dụng đất của các ngành kinh tế
Kết quả của đề tài này là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, các nhà khoa học trong công tác nghiên cứu tài nguyên nước, quản lý nhà nước về tài nguyên nước ở ĐBSCL
Thành tựu cơ bản của các kết quả nghiên cứu khoa học nêu trên đối với ĐBSCL là đã đánh giá được tiềm năng về tài nguyên tự nhiên, đưa ra được chiến lược chung sống với lũ và phát triển thủy lợi phục vụ phát triển kinh tế xã hội ĐBSCL trong thời gian qua Các nghiên cứu nêu trên là những bước đi có ý nghĩa khoa học và thực tế cao, đặt nền móng về cơ sở dữ liệu và phương pháp luận để đánh giá sự biến đổi về các đặc trưng lũ ĐBSCL trong bối cảnh BĐKH
Tuy nhiên các nghiên cứu trên đều chưa đánh giá một cách sâu sắc ảnh hưởng của BĐKH đến đặc trưng lũ VĐNSCL, số liệu dùng trong tính toán mới chỉ có được từ những năm 2010 trở về trước và cũng mới chỉ sử dụng Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam công bố năm 2012 cho các dự tính trong tương lai Vì vậy, tác giả thấy rằng việc nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của BĐKH đến các đặc trưng lũ VĐNSCL là hết sức cần thiết, trong đó các phân tích đánh giá cần sử dụng số liệu cập nhật đến năm 2015 và dụng Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam công bố năm 2016
1.5 Nhận xét cuối chương
Chương I là chương nêu tổng quan về đặc điểm của vùng nghiên cứu, những nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về tác động của BĐKH đến lũ ĐBSCL và đặc biệt là các đặc trưng lũ VĐNSCL Những nghiên cứu mà tác giả tổng hợp đều
có mối quan hệ chặt chẽ được sử dụng để tham khảo, làm nền tảng, định hướng cho nghiên cứu này
Trang 3222
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ SỐ LIỆU 2.1 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này sơ đồ nghiên cứu được thể hiện như sau:
* Đánh giá tác động của BĐKH đến đặc trưng đỉnh lũ cao nhất năm trong quá khứ:
* Dự tính sự biến đổi của đặc trưng tổng lượng lũ và diện tích ngập lụt trong tương lai dưới tác động của BĐKH và nước biển dâng theo Kịch bản BĐKH
và nước biển dâng cho Việt Nam công bố năm 2016:
Số liệu mực nước, lưu lượng Trạm Thuỷ văn Kratie; số liệu KTTV tại 22 trạm quan trắc vùng ĐBSCL; số liệu trích xuất từ
mô hình khí hậu khu vực PRECIS được tính toán theo các kịch bản BĐKH; mực nước biển theo các kịch bản nước biển dâng
Đánh giá ảnh hưởng của BĐKH đến đặc trưng mực nước đỉnh lũ hàng năm VĐNSCL
Sử dụng phương pháp thống kê toán học
Số liệu nhiệt độ, lượng mưa, mực nước đỉnh lũ trong quá khứ tại các trạm quan trắc VĐNSCL
Trang 3323
Mô hình thuỷ lực ISIS
Dự tính đặc trưng dòng chảy các trạm thuỷ văn và tình hình ngập lụt các tỉnh VĐNSCL theo các giai đoạn trong tương lai theo kịch bản BĐKH năm 2016
Trang 3427
2.1.1 Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp tài liệu
Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở kế thừa, phân tích và tổng hợp các nguồn tài liệu và số liệu thông tin có liên quan một cách có chọn lọc, từ đó, đánh giá chúng theo yêu cầu và mục đích nghiên cứu Cụ thể:
- Thống kê mạng lưới trạm KTTV; thu thập, phân tích chuỗi số liệu KTTV trên địa bàn các tỉnh khu vực đầu nguồn sông Cửu Long thời kỳ quá khứ (số liệu khí tượng từ năm 1984 đến năm 2015; số liệu thuỷ văn từ năm 1990 đến năm 2015)
- Tổng hợp các tài liệu, số liệu về hiện trạng kinh tế, xã hội của các tỉnh VĐNSCL thời kỳ quá khứ
- Thống kê các số liệu KTTV là sản phẩm của mô hình, kịch bản BĐKH Bằng phương pháp thống kê, phân tích số liệu nhiệt độ, lượng mưa và mực nước đỉnh lũ cao nhất năm của các trạm KTTV vùng nghiên cứu, luận văn
sẽ làm rõ biểu hiện của BĐKH đến VĐNSCL và tác động của BĐKH đến đặc trưng mực nước đỉnh lũ cao nhất năm của VĐNSCL
2.1.2 Phương pháp mô hình
Phương pháp mô hình được sử dụng để tiến tính toán, dự tính sự biến đổi của các đặc trưng dòng chảy và ngập lụt vùng nghiên cứu Trong Luận văn này ứng dụng bộ mô hình thuỷ động lực ISIS được phát triển bởi Tập đoàn halcrow (Anh) và HR Wallingford (MỸ) để mô phỏng thủy lực trong hệ thống sông Mê Công từ Kratie đến cửa sông (bao gồm cả hồ Tonle Sap và hệ thống sông Vàm Cỏ)
Mô hình ISIS có nhiều mô đun tính toán khác nhau: Thủy lực, chất lượng nước, bùn cát , trong đó, modun iSIS flow là modun thủy lực mô phỏng dòng chảy ổn định, dòng chảy không ổn định một chiều biến đổi chậm trong lòng dẫn
hở, dòng chảy qua công trình thuỷ lực, chảy qua hồ chứa, chảy tràn bờ, chảy trên những vùng ngập lũ, mô phỏng quy trình hoạt động của các cống, mô phỏng các biên thuỷ văn bằng mô hình mưa-dòng chảy Thuật toán của mô hình được thiết lập trên cơ sở giải hệ phương trình Saint Venant theo phương pháp sai phân hữu hạn bằng sơ đồ ẩn 4 điểm
Hệ phương trình Saint Venant gồm hai phương trình:
Trang 3528
Phương trình liên tục: q
t
A x
Q AQ g x
H gA A
Q x t Q
Trong đó :
Q : Lưu lượng dòng chảy trong sông (m3/s)
K : Mô đun lưu lượng K = 2 3
4 2
n
R A
q : Lưu lượng gia nhập trên 1 m chiều dài đoạn sông (m3/s)
x : Toạ độ dài đoạn sông (m) t : Toạ độ thời gian (giờ)
mô tả quá trình thay đổi dòng chảy dọc sông, qua từng mặt cắt và qua công trình
Mô hình ISIS đã được ứng dụng thành công ở nhiều mạng sông lớn trên thế giới, cũng như cho vùng hạ lưu sông Mê Công và đã được chuyển giao cho bốn quốc gia: Việt Nam, Lào, CamPuchia, Thái Lan năm 2004 trong chương trình “Sử dụng nước-WUP” Mô hình ISIS mô phỏng thủy lực trong hệ thống sông Mê Công từ Kratie đến cửa sông bao gồm cả hồ Tonle Sap và hệ thống sông Vàm Cỏ Mô hình mô tả chi tiết sự tương tác phức tạp gây ra giữa thủy triều, ảnh hưởng dòng chảy ngược từ sông Tonle Sap và tràn bờ trong mùa lũ
Mạng tính toán thuỷ lực ISIS vùng đồng bằng sông Mê Công có trong Khung hỗ trợ ra quyết định-DSF đã được các chuyên gia quốc tế tại UHSMCQT đánh giá là một công cụ tốt để tiến hành phân tích dòng chảy trong sông cũng như vùng ngập lụt hạ lưu sông Mê Công
Trang 3629
Mạng tính toán lấy biên trên trên dòng chính tại Kratie, các biên trên các dòng nhánh là các lưu vực bộ phận của khu vực Biển Hồ Các biên dưới là mực nước triều tại các cửa biển (thuộc lãnh thổ Việt Nam, biên giữa là lượng mưa, lượng lấy nước khu giữa Mạng thuỷ lực này bao gồm khoảng hơn 10.000 nút tính toán mô tả chi tiết hệ thống sông/kênh, gần 500 vùng ngập (ô ruộng), khoảng 500 mặt cắt ngang sông, kênh và các công trình cống… trên sông của Campuchia và Việt nam
Dữ liệu đầu vào phục vụ mô phỏng thuỷ lực bao gồm:
- Số liệu địa hình về sông, kênh, cống, đường giao thông được cập nhật đến năm 2006
- Mực nước và biên mặn tại 10 trạm chính (Long Xuyên, Đại Ngãi, Mỹ Thanh, Gành Hào, Ông Đốc, Xẻo Rô, Rạch Giá )
- Số liệu mưa trên 22 trạm chính (Long Xuyên, Tân Hiệp, Cần Thơ, Rạch Giá, Vị Thanh, Phụng Hiệp, Đại Ngãi, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau ) Mưa được gắn vào các đoạn và ô ruộng tương ứng
- Chế độ vận hành cống theo lịch đóng mở hàng năm của các địa phương Kết quả của mô hình là: Mực nước, mặn, lưu lượng tại từng nút có thể xuất qua GIS để thể hiện qua dạng bản đồ UHSMCQT đã thiết lập mô hình, hiệu chỉnh và kiểm định mô hình cho lũ, cạn, mặn và đã chuyển giao cho các cơ quan của các nước trong Ủy hộ sông Mê Công sử dụng Tại Việt Nam, mô hình ISIS đang được sử dụng nghiệp vụ tại UHSMCQT, Viện Khoa học KTTV và Biến đổi khí hậu, Trung tâm Dự báo KTTV Trung ương và Đài KTTV khu vực Nam Bộ
Sau khi nhận mô hình ISIS do UHSMC chuyển giao, Viện Khoa học KTTV và BĐKH, trong quá trình tiếp quản, sử dụng đã thường xuyên cập nhật thông tin, dữ liệu KTTV, bổ sung thêm các mặt cắt trên sông; tiến hành kiểm nghiệm mô hình, cập nhật, điều chỉnh các thông số của mô hình để có kết quả tính toán đáp ứng yêu cầu về chất lượng dự báo trong quá trình tác nghiệp hàng ngày
Trong khuôn khổ luận văn, ngoài việc sử dụng các số liệu KTTV trong quá khứ, tác giả đã được các đồng nghiệp thuộc Viện Khoa học KTTV và
Trang 3730
BĐKH cung cấp số liệu mưa của 22 trạm khí tượng vùng ĐBSCL được tính toán, triết xuất từ mô hình khí hậu khu vực PRECIS được tính toán theo các kịch bản BĐKH năm 2016 và mực nước biển theo các kịch bản nước biển dâng để làm số liệu đầu vào cho mô hình ISIS trong các tính toán về đặc trưng dòng chảy
và diện ngập lụt trong tương lai VĐNSCL theo Kịch bản BĐKH và nước biển dâng năm 2016 Việc vận hành mô hình ISIS do các đồng nghiệp thuộc Viện Khoa học KTTV và BĐKH thực hiện, tác giả thừa hưởng các kết quả tính toán
từ mô hình để tiến hành phân tích và luận giải theo mục tiêu đã đề ra
Hình 2.1 Sơ đồ thủy lực mạng sông Mê Công
Trang 38- Số liệu về nhiệt độ: Bao gồm số liệu về nhiệt độ trung bình ngày được tính bằng trung bình cộng của nhiệt độ không khí quan trắc được ở các Obs quan trác 01, 7, 13 và 19 giờ giờ Hà Nội (ứng với 00Z, 06Z, 12Z, 18Z giờ quố tế) của các trạm khí tượng: Cao Lãnh (tỉnh Đồng Tháp), Mộc Hóa (tỉnh Long An), Châu Đốc (tỉnh An Giang), Rạch Giá (tỉnh Kiên Giang), Cần Thơ (thành phố Cần Thơ) từ năm 1984 đến năm 2015
- Số liệu về lượng mưa: Bao gồm số liệu về tổng lượng mưa ngày được tính bằng tổng của lượng mưa quan trắc được của các Obs quan trắc 01, 7, 13 và
19 giờ giờ Hà Nội của các trạm khí tượng: Cao Lãnh (tỉnh Đồng Tháp) từ năm
1962 đến năm 2015 (không có số liệu năm 1975), Mộc Hóa (tỉnh Long An) từ năm 1959 đến năm 2015 (không có số liệu năm 1975), Châu Đốc (tỉnh An Giang) từ năm 1958 đến năm 2015 (không có số liệu năm 1975), Rạch Giá (tỉnh Kiên Giang) từ năm 1957 đến năm 2015 (không có số liệu năm 1975), Cần Thơ (thành phố Cần Thơ) từ năm 1955 đến năm 2015 (không có số liệu năm 1975)
- Số liệu mực nước đỉnh lũ: Bao gồm số liệu về mực nước lũ lớn nhất năm quan trắc được tại các trạm thủy văn: Tân Châu (tỉnh An Giang), Châu Đốc (tỉnh
Trang 4033
2.2.2 Các số liệu thứ cấp
- Số liệu mô phỏng thời kỳ cơ sở 1986-2005 và dự tính khí hậu giai đoạn
2016 đến 2050 bằng mô hình PRECIS độ phân giải 25km x 25km, bao gồm số liệu về nhiệt độ và lượng mưa của 22 trạm khí tượng vùng ĐBSCL Các số liệu này là số liệu đầu vào dùng trong mô hình thủy lực ISIS để dự tính các đặc trưng
lũ VĐNSCL trong tương lai
- Số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội vùng ĐBSCL nói chung và VĐNSCL nói riêng năm 2015 được trích dẫn và sử dụng từ Niên giám thống kê
2016 do Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và đầu tư phát hành
- Các bản đồ sử dụng trong Luận văn là tài liệu thứ cấp được trích dẫn từ: + Báo cáo tổng kết dự án “Nghiên cứu tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mê Công” Bộ Tài nguyên và Môi trường (2016)
+ Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Nhà nước “Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sự biến đổi tài nguyên nước Đồng bằng sông Cửu Long” Trần Hồng Thái, Viện Khoa học KTTV và BĐKH (2013)