Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Hoạt động cho vay là một vấn đề được nhiều tác giả quan tâm, trong lĩnh vực này ngoài các sách chuyên khảo, đề tài nghiên cứu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
BÙI KIM LIÊN
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI QUỸ HỖ TRỢ NÔNG
DÂN THUỘC HỘI NÔNG DÂN VIẾT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN INH TẾ
HÀ NỘI - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
BÙI KIM LIÊN
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI QUỸ HỖ TRỢ NÔNG
DÂN THUỘC HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN INH TẾ
Mã số: 16 00 96
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Nguyễn Đại Thắng
HÀ NỘI - 2018
Trang 3MỤC LỤC
Mục lục i
ời cam đoan iv
ời cảm ơn v
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ UẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC QUỸ TÍN DỤNG 5
1.1 Tín dụng và các hình thức tổ chức tín dụng 5
1.1.1 Khái niệm tín dụng 5
1.1.2 Đặc trưng của tín dụng 6
1.1.3 Hoạt động tín dụng 7
1.1.4 Các hình thức tổ chức tín dụng 8
1.1.5 Đặc thù Quỹ tín dụng của các tổ chức chuyên ngành 9
1.2 Hoạt động cho vay của các quỹ tín dụng 10
1.2.1 Khái niệm và bản chất hoạt động cho vay 10
1.2.2 Đặc trưng và chức năng của cho vay 11
1.2.3 Các hình thức cho vay 13
1.2.4 Quy trình cho vay 14
1.2.5 Các tiêu chí đánh giá hoạt động cho vay 19
1.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay 20
1.2.7 Sự cần thiết phải nâng cao hoạt động cho vay của các quỹ tín dụng………24
Tóm tắt chương 1 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA QUỸ HỖ TRỢ NÔNG DÂN THUỘC HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM 26
2.1 Giới thiệu tổng quan về Quỹ Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân Việt Nam 26
Trang 42.1.1 Sự hình thành và phát triển của Quỹ hỗ trợ nông dân 26
2.1.2.Chức năng, nhiệm vụ của Quỹ Hỗ trợ nông dân 26
2.1.3 Bản chất và đặc điểm của Quỹ Hỗ trợ nông dân 28
2.1.4 Hệ thống tổ chức của Quỹ Hỗ trợ nông dân 29
2.1.5 Các hoạt động cơ bản của Quỹ Hỗ trợ nông dân 35
2.2 Thực trang kết quả hoạt động cho vay của Quỹ Hỗ trợ nông dân .38
2.2.1 Quy trình cho vay của Quỹ Hỗ trợ nông dân 39
2.2.2 Kết quả hoạt động cho vay của Quỹ Hỗ trợ nông dân 43
2.2.3 Đánh giá chung kết quả cho vay của Quỹ Hỗ trợ nông dân 58
2.3 Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động cho vay của Quỹ Hỗ trợ nông dân 58
2.3.1 Công tác phân bổ kế hoạch vốn cho các địa phương 58
2.3.2 Công tác tìm kiếm đối tượng khách hàng 61
2.3.3 Công tác lập, thẩm định và phê duyệt dự án cho vay 62
2.3.4 Công tác giải ngân 63
2.3.5 Công tác thu hồi vốn và giải quyết nợ quá hạn 63
Tóm tắt chương 2 65
Chương 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI QUỸ HỖ TRỢ NÔNG DÂN 66
3.1 Định hướng chiến lược về phát triển hoạt động cho vay của Quỹ Hỗ trợ nông dân giai đoạn 2018-2022 66
3.1.1 Mục tiêu chung 66
3.1.2 Mục tiêu cụ thể 66
3.2 Các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động cho vay tạiQuỹ hỗ trợ nông dân .67
3.2.1 Hoàn thiện công tác phân bổ vốn và tạo nguồn vốn của Quỹ Hỗ trợ nông dân 67
3.2.2 Nâng cao năng lực phát triển khách hàng của Quỹ 69
3.2.3 Nâng cao chất lượng thẩm định hoạt động cho vay của Quỹ 72
3.2.4 Nâng cao năng lực quản lý của Quỹ………74
Trang 53.3 Một số kiến nghị 79
3.3.1 Kiến nghị đối với Đảng, Chính phủ 79
3.3.2 Kiến nghị với các Bộ ngành liên quan 80
Tóm tắt chương 3 80
KẾT LUẬN 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 83
Trang 6ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu tham khảo nêu ở phần tài liệu tham khảo của luận văn Qua số liệu thu thập thực tế, tổng hợp tại Quỹ Hỗ trợ Nông dân của Hội Nông dân Việt Nam,không sao chép bất kỳ luận văn nào trước đó và dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Đại Thắng - Giảng viên chính Viện Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Trong suốt quá trình thực hiện tôi đã tìm hiểu và nghiên cứu thông qua một số giáo trình chuyên ngành, tài liệu ở thư viện, tài liệu số liệu thực tế Các dữ liệu được thu thập từ những nguồn hợp pháp; nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một luận văn nào khác Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do chính bản thân tôi thực hiện
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của luận văn
Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2018
Tác giả
Bùi Kim Liên
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian hai năm học tập, nghiên cứu tại Viện Kinh tế và Quản lý Trường đại học Bách khoa Hà Nội, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo đến nay tôi đã hoàn thành khóa học thạc sỹ Quản lý inh tế Với lòng
biết ơn của mình, lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn Thầy giáo TS Nguyễn Đại
Thắng - người đã hướng dẫn tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đến lúc hoàn thành
luận văn này
Đồng thời tôi xin được gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy giáo, cô giáo Viện Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích trong suốt thời gian học tập tại trường và luôn tạo điều kiện để tôi hoàn thành khóa học cùng bài luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Quỹ Hỗ trợ nông dân Hội Nông dân Việt Namcùng các bạn bè, đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong công tác thu thập số liệu cần thiết để hoàn thành luận văn của mình
Xin chân thành cảm ơn và xin kính chúc các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt
Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2018
Người thực hiện
Bùi Kim Liên
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1 Bảng 2.1 Cơ cấu nguồn vốn của Quỹ HTND giai đoạn
2014-2017
36
2
Bảng 2.2 Tổng hợp số hộ, dự án cho vay và mức vay
bình quân hộ của Quỹ HTND giai đoạn
2014-2017
44
3 Bảng 2.3 Tốc độ tăng trưởng liên hoàn số hộ, dự án cho
vay Quỹ HTND giai đoạn 2014-2017
46
4 Bảng 2.4 Số hộ cho vay theo ngành nghề kinh doanh
Quỹ HTND giai đoạn 2014-2017
7 Bảng 2.7 Tổng hợp tình hình thu phí cho vay cho vay
Quỹ HTND giai đoạn 2014-2017
Trang 107 Hình 2.4 Quy trình cho vay vốn của Quỹ HTND 39
8 Hình 2.5 Biểu đồ tăng trưởng các hộ được vay của
Quỹ HTND giai đoạn 2014-2017
47
9 Hình 2.6 Biểu đồ tăng trưởng dư nợ cho vay của
Quỹ HTND giai đoạn 2014-2017
50
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta hiện nay có vị trí, vai trò quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng Chủ nghĩa Xã hội Phát triển nông nghiệp, nông thôn, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân là nhiệm vụ chiến lược và là cơ sở đảm bảo
ổn định kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước Sau 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, kinh tế nông nghiệp, nông thôn nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, làm tiền đề vững chắc để tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tham gia vào thị trường tài chính tín dụng nông thôn, bên cạnh các định chế tài chính chính thức như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ngân hàng Chính sách xã hội, Quỹ tín dụng nhân dân…, còn có các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội tự nguyện, các tổ chức phi chính phủ thông qua hệ thống ngân hàng hoặc qua các hiệp hội cũng đã tham gia rất hiệu quả vào quá trình cung ứng vốn, chuyển tải vốn tín dụng nhanh chóng, thuận lợi cho nông dân, đóng góp đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống nông dân Tuy nhiên, hiện nay vốn đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn vẫn còn hạn chế, mới đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu về vốn vay cho các doanh nghiệp
và hộ nông dân trên địa bàn nông thôn.Vốn vay từ các tổ chức tín dụng chỉ đảm bảo được phần nào nhu cầu vay vốn phát triển sản xuất của nông dân
Quỹ Hỗ trợ nông dân được hình thành nhằm tăng cường nguồn lực tài chính, tạo điều kiện để Hội Nông dân Việt Nam chủ động hỗ trợ nông dân xây dựng các
mô hình phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói giảm nghèo và vươn lên làm giàu Quỹ
Hỗ trợ nông dân được thành lập để tăng cường nguồn lực tài chính, hỗ trợ trực tiếp nông dân đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, góp phần tích cực vào tái cơ cấu nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo định hướng phát triển nông nghiệp sạch, liên kết theo chuỗi giá trị, bảo đảm chất lượng cao với kỹ thuật và công nghệ hiện đại
Qua quá trình làm việc liên quan đến thực tiễn hoạt động cho vay, tôi chọn
vấn đề: "Phân tích và đề xuất giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay tại Quỹ hỗ trợ
Trang 12nông dân thuộc Hội Nông dân Việt Nam” làm đề tài luận văn cao học chuyên
ngành Quản lý kinh tế vừa có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Hoạt động cho vay là một vấn đề được nhiều tác giả quan tâm, trong lĩnh vực này ngoài các sách chuyên khảo, đề tài nghiên cứu các cấp và nhiều luận án tiến sĩ, luận văn cao học đã thực hiện như:
- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Ngô Anh Đức - năm 2016: “Giải pháp nâng
cao chất lượng hoạt động tín dụng cho vay tại Quỹ hỗ trợ nông dân tỉnh Nam Định” Luận văn đã trình bày thực trạng hoạt động tín dụng của Quỹ Hỗ trợ nông
dân tỉnh Nam Định, chỉ ra các điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân của thực trạng này và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của Quỹ Hỗ trợ nông dân tỉnh Nam Định
- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Phan Anh Tuấn - năm 2017: "Phân tích và đề
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động cho vay của Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam" Đề tài tập trung nghiên cứu một số cơ sở lý luận cơ bản về hoạt
động cho vay của các quỹ tín dụng Vận dụng những cơ sở lý luận đó để phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp để phát triển hoạt động cho vay của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam
- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Cẩm Vân- năm 2012: “Phân tích và đề xuất
một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển chi nhánh Bắc Hà Nội" Luận văn đã nghiên cứu tổng hợp cơ sở lý luận và phân
tích, đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng để đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại ngân hàng Đầu tư và phát triển chi
nhánh Bắc Hà Nội
Còn nhiều công trình nghiên cứu khác, tuy nhiên đến thời điểm này, chưa có
luận văn, luận án nào nghiên cứu về"Phân tích và đề xuất giải pháp đẩy mạnh hoạt
động cho vay tại Quỹ hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân Việt Nam”do vậy đề tài
không trùng lắp với các nghiên cứu khác
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động cho vay của Quỹ Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân Việt Nam, đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu và nguyên
Trang 13nhân của những hạn chế; từ đó đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay góp phần vào sự phát triển của Quỹ Hỗ trợ nông dân
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài xác định những nhiệm vụ sau đây:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động cho vay của các quỹ tín dụng
- Đánh giá thực trạng hoạt động cho vay tại Quỹ Hỗ trợ nông dân, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân Việt Nam
- Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động cho vay của Quỹ Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân Việt Nam trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:Hoạt động cho vay tại các Quỹ tín dụng
- Phạm vi nghiên cứu:Hoạt động cho vay tại Quỹ Hỗ trợ nông dân thuộc Hội
Nông dân Việt Nam; các số liệu, tài liệu có liên quan đến hoạt động cho vay tại Quỹ Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân Việt Nam giai đoạn 2014 đến 2017 và
định hướng phát triển đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, đề tài sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn: để thu thập số liệu sơ cấp phục vụ cho việc phân tích thực trạng;
- Phương pháp phân tích so sánh: để đánh giá những mặt mạnh, hạn chế về hoạt động cho vay của Quỹ;
- Phương pháp phân tích tổng hợp: để xác định nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động cho vay của Quỹ
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chủ yếu của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động cho vay của các quỹ tín
dụng
Chương 2:Thực trạng hoạt động cho vay của Quỹ Hỗ trợ nông dân thuộc
Hội Nông dân Việt Nam
Trang 14Chương 3:Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động cho vay của
Quỹ Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân Việt Nam
Trang 15Có nhiều định nghĩa khác nhau về tín dụng:
- Nếu xét trên góc độ chuyển dịch quỹ: Tín dụng là sự chuyển dịch quỹ từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm
- Nếu xét trên góc độ sử dụng vốn: Tín dụng là quan hệ chuyển nhưởng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định
- Nếu xét trên quan hệ tài chính: Tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ
sở có hoàn trả của chủ thể
Song khái quát có thể hiểu tín dụng theo định nghĩa cơ bản sau:
“Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận phải cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thỏa thuận”
Trang 16trong một thời gian nhất định Người vay không được quyền sở hữu số vốn đó nên phải hoàn trả người cho vay khi đến thời hạn đã thỏa thuận Sự hoàn trả này không chỉ là sự bảo tồn về mặt giá trị mà vốn tín dụng còn được tăng thêm dưới hình thức lợi tức Ở đây, quá trình vận động mang tính chất hoàn trả của tín dụng là biểu hiện đặc trưng chỉ rõ được sự khác biệt giữa quan hệ tín dụng và các mối quan hệ kinh tế khác
1.1.2 Đặc trưng của tín dụng
Có thể nói trong hoạt động kinh doanh, đặc trưng của tín dụng đều dựa trên
3 đặc tính chủ yếu là: lòng tin, tính thời hạn và tính hoàn trả
a) Yếu tố lòng tin
Bản thân từ tín dụng xuất phát từ tiếng la tinh “credittum” có nghĩa là “sự giao phó” hay “sự tín nhiệm” Nghiên cứu khái niệm tín dụng cũng cho ta thấy tín dụng là sự cho vay có hứa hẹn thời gian hoàn trả Sự hứa hẹn biểu hiện “mức tín nhiệm” hay “lòng tin” của người cho vay vào người đi vay Yếu tố lòng tin tuy vô hình nhưng không thể thiếu trong quan hệ tín dụng, đây là yếu tố bao trùm trong hoạt động tín dụng, là điều kiện cần cho quan hệ tín dụng phát sinh
Lòng tin trong quan hệ tín dụng được biểu hiện chủ yếu từ phía người cho vay đối với người đi vay bởi lẽ người cho vay là người giao phó tiền bạc hoặc tài sản của họ cho người khác sử dụng
b) Tính thời hạn
Khác với các quan hệ mua bán thông thường khác (sau khi trả tiền người mua trở thành chủ sở hữu của vật mua hay còn gọi là “mua đứt bán đoạn”), quan hệ tín dụng chỉ trao đổi quyền sử dụng giá trị khoản vay chứ không trao đổi quyền sở hữu khoản vay Người cho vay giao giá trị khoản vay dưới dạng hàng hóa hay tiền
tệ cho người kia sử dụng trong một thời gian nhất định Sau khi khai thác giá trị sử dụng của khoản vay, người đi vay phải trả đầy đủ giá trị của khoản vay đó cộng thêm khoản lợi tức hợp lí kèm theo như cam kết đã giao ước với người cho vay
Trang 17vẫn giữ nguyên giá trị của nó, phần lợi tức theo thỏa thuận nếu có là “giá bán” quyền sử dụng khoản vay trong thời gian nhất định Như vậy, khối lượng hàng hóa hay hàng hóa tiền tệ (phần gốc) cho vay ban đầu chỉ là vật chuyên chở giá trị sử dụng của chúng, nó được phát ra qua các thời gian nhất định rồi sẽ thu về chứ không bán đứt
1.1.3 Hoạt động tín dụng
Theo Khoản 8, Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 thì hoạt động
tín dụng là: việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để
cấp tín dụng
Và cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản
tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác [8]
Như vậy, theo định nghĩa trên có thể thấy trong hoạt động tín dụng bao gồm các nghiệp vụ sau:
- Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi[8]
- Chiết khấu: là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán [8]
- Cho thuê tài chính: là hoạt động tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là tổ chức tín dụng với khách hàng thuê Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng có thể mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê Trong thời hạn thuê, các bên không được đơn phương hủy bỏ hợp đồng [7]
- Bao thanh toán: là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ [8]
- Bảo lãnh: là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho
Trang 18khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ
đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận [8]
1.1.4 Các hình thức tổ chức tín dụng
Theo quy định của pháp luật hiện hành, các tổ chức thực hiện hoạt động cho vay là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân
Hình 1.2: Sơ đồhệ thống các tổ chức tín dụng[4]
Trang 19a) Ngân hàng
Là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng
và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán
c) Tổ chức tài chính vi mô
Là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ
d) Quỹ tín dụng nhân dân
Là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống
1.1.5 Đặc thù Quỹ tín dụng của các tổ chức chuyên ngành
Quỹ tín dụng của các tổ chức chuyên ngành là một tổ chức tài chính đặc biệt, là một loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng được thực hiện một hoặc một
số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng Quỹ tín dụng của các tổ chức chuyên ngành có những đặc thù sau:
Trang 20- Quỹ tín dụng của các tổ chứcchuyên ngành thực hiện các mục tiêu của Quỹ
là thu hút tập hợp hội viên tham gia tổ chức của các chuyên ngành đó
- Hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuận nhằm hỗ trợ vay vốn với mức phí ưu đãi, thủ tục thuận tiện, không cần đảm bảo tài sản cho các hội viên
- Có thu phí mà không thu lãi (phí thu chỉ để bù đắp một phần chi phí trong hoạt động quản lý Quỹ, lương cán bộ và cơ sở vật chất và điều kiện phương tiện hoạt động đều do Ngân sách Nhà nước chi trả)
- Về cơ bản chức năng của các Quỹ tín dụng chuyên ngành khác với các ngân hàng thương mại là chỉ có chức năng cho vay và không thực hiện huy động vốn Nguồn vốn được ngân sách nhà nước cấp hàng năm và vận động tài trợ ủng hộ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.Việc bảo toàn được nguồn vốn cũng
là một mục tiêu quan trọng của Quỹ
Cho vay là một trong những hoạt động chủ yếu của các quỹ tín dụng vì vậy
đi sâu nghiên cứu hoạt động cho vay của các quỹ tín dụng
1.2 Hoạt động cho vay của các quỹ tín dụng
1.2.1 Khái niệm và bản chất hoạt động cho vay
Hoạt động cho vay là một loại quan hệ phát sinh từ nhu cầu thực tế của con người, với một người đang có một lượng vốn tạm thời nhàn rỗi thì nhu cầu nảy sinh
sẽ là phải làm cho lượng vốn nhàn rỗi đó đem lại một lợi ích nào đó cho bản thân, còn đối với những người đang tạm thời thiếu vốn, họ sẵn sàng bỏ ra một khoản chi phí phụ thêm để có được lượng vốn cần thiết phục vụ cho các nhu cầu của mình Khi hai nhu cầu này gặp nhau thì cho vay tự nhiên hình thành, vì vậy có thể nói hoạt động cho vay là một hiện tượng kinh tế khách quan
Sự hình thành và phát triển của hoạt động cho vay do vậy cũng đã có từ rất sớm Những trường hợp đầu tiên người ta ghi nhận về cho vay là sự ra đời của những tiệm cho vay nặng lãi dưới thời kỳ phong kiến Nhưng do đặc điểm của thời
kỳ này là lãi suất quá cao, nên hoạt động cho vay không thể phát triển, nó chỉ tồn tại như một sự bổ sung cho quan hệ sản xuất phong kiến thống trị thời kỳ đó Nhưng khi nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ra đời, cho vay đã có một sự thay đổi cơ bản về chất
Đó là sự thoái trào của hiện tượng cho vay nặng lãi và sự phát triển của một loại hình cho vay mới với mức lãi suất vừa phải Với một mức lãi suất có thể chấp
Trang 21nhận được, con người mong muốn vay mượn hơn, do đó hoạt động cho vay phát triển thành một hệ thống rộng rãi trong toàn xã hội Và cho đến ngày nay, cho vay vẫn là một ngành kinh tế có tính hiệu quả cao và đem lại nhiều lợi ích cho xã hội
Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu kinh tế: Cho vay là quan hệ sử
dụng vốn lẫn nhau giữa những người đi vay và những người cho vay và dựa trên nguyên tắc hoàn trả nhằm thoả mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống
Theo tài liệu Tiền tệ, tín dụng và ngân hàng: cho vay tiền là hợp đồng qua
đó người cho vay cam kết giao cho người vay một khoản tiền và người vay tiền cam kết hoàn trả người cho vay khoản tiền tương ứng với số tiền đã vay (vốn)[6]
Do vậy, có thể hiểu cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi [8]
Từ định nghĩa trên có thể thấy ngay rằng hoạt động cho vay cũng là quan hệ tài chính cơ bản, với đặc trưng của loại quan hệ này là tính chất có hoàn trả trong phân phối Sự hoàn trả của quan hệ phân phối trong hoạt động cho vay là bắt buột
và không kèm theo bất cứ một điều kiện nào, vì vậy còn có thể gọi quan hệ phải phối trong hoạt động cho vay là quan hệ phân phối hoàn trả không điều kiện Quan
hệ này được thực hiện giữa hai nhóm chủ thể cơ bản trong nền kinh tế, đó là giữa những người đang tạm thời có vốn nhàn rỗi sang những người đang tạm thời thiếu vốn và ngược lại Những người có vốn để cho vay được gọi là người cho vay, còn những người được cấp vốn thì gọi là người đi vay Tuy nhiên trong thực tế đời sống kinh tế ngày nay, chỉ có một tỷ lệ nhỏ các quan hệ cho vay là diễn ra trực tiếp giữa hai chủ thể này, còn phần lớn các quan hệ cho vay được thực hiện thông qua chủ thể thứ ba, đó là các trung gian tài chính thực hiện chức năng kinh doanh, trong đó chủ yếu là các Ngân hàng và các công ty tài chính
1.2.2 Đặc trưng và chức năng của cho vay
1.2.2.1 Đặc trưng của cho vay
Bất kỳ mối quan hệ cho vay nào cũng có bốn đặc trưng cơ bản : Lòng tin, tính hoàn trả, tính thời hạn và ẩn chứa nhiều khả năng rủi ro
Trang 22- Một là, quan hệ cho vay dựa trên cơ sở lòng tin Người ta chỉ cho vay khi người ta tin tưởng người đi vay có ý muốn trả nợ và có khả năng trả nợ Đồng thời người cho vay tin rằng người đi vay sử dụng lượng giá trị đó sẽ thu được lượng giá trị cao hơn, đạt hiệu quả sau một thời gian nhất định và có ý muốn trả nợ thì quan
hệ tín dụng mới xảy ra Như vậy có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín dụng
- Hai là, tính hoàn trả Đối với quan hệ tín dụng thì đây là đặc trưng cơ bản nhất và sự hoàn trả là tiêu chuẩn phân biệt quan hệ tín dụng với các quan hệ tài chính khác Trong tính hoàn trả thì lượng vốn được chuyển nhượng phải được hoàn trả đúng hạn về cả thời gian và về giá trị bao gồm hai bộ phận : Gốc và lãi Phần lãi phải đảm bảo cho lượng giá trị hoàn trả lớn hơn lượng giá trị ban đầu Sự chênh lệch này là giá trả cho quyền sử dụng vốn tạm thời Nói cách khác, nó là giá trị thời gian vốn hiện tại của người sở hữu, vì thế nó phải đủ hấp dẫn để người sở hữu có thể sẵn sàng hy sinh quyền sử dụng nó Mặt khác nếu không có sự hoàn trả thì đó là quan hệ tín dụng không hoàn hảo
- Ba là, tính thời hạn Xuất phát từ bản chất của tín dụng là sự tín nhiệm, người cho vay tin tưởng người đi vay sẽ hoàn trả vào một ngày trong tương lai Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời gian sử dụng theo thỏa thuận, người đi vay hoàn trả cho người cho vay
- Bốn là, tín dụng ẩn chứa nhiều khả năng rủi ro Do sự không cân xứng về thông tin và người cho vay không hiểu rõ hết về người đi vay Một mối quan hệ tín dụng được gọi là hoàn hảo nếu người đi vay hoàn trả được đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn
Tuy nhiên trong thực tế không phải mọi việc lúc nào cũng diễn ra một cách trôi chảy, không hiếm trường hợp người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ của mình đối với chủ nợ do các nguyên nhân khách quan hay chủ quan gây ra Đó là trường hợp khi đến hạn hoàn trả vốn vay, người đi vay không thể thực hiện được việc trả nợ cho người cho vay dẫn đến các khoản nợ bị quá hạn Nợ xấu là biểu hiện không lành mạnh của quá trình hoạt động tín dụng, là sự báo hiệu của rủi ro
1.2.2.2 Chức năng của cho vay
Trong nền kinh tế thị trường, cho vay thực hiện ba chức năng cơ bản:
Trang 23- Một là góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn Cho vay thu hút đại bộ phận tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế và phân phối lại vốn đó nhờ đó điều hòa vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn Sự điều hòa mang tính chất tạm thời và phải trả lãi
Việc phân phối lại vốn tiền tệ dưới hình thức cho vay được thực hiện bằng hai cách: Phân phối trực tiếp và phân phối gián tiếp
+ Phân phối trực tiếp là việc phân phối vốn từ chủ thể có vốn tạm thời chưa
sử dụng sang chủ thể trực tiếp sử dụng vốn đó cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng Phương pháp phân phối này được thực hiện trong quan hệ tín dụng thương mại và việc phát hành trái phiếu của các công ty
+ Phân phối gián tiếp là việc phân phối vốn được thực hiện thông qua các tổ chức tài chính trung gian như ngân hàng, công ty tài chính
- Hai là tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội: hoạt động cho vay trước hết tạo điều kiện cho sự ra đời các công cụ lưu thông như: thương phiếu,
kỳ phiếu, thẻ tín dụng, thẻ thanh toán nhờ hoạt động tín dụng mà các nguồn vốn đang nằm trong xã hội được huy động để sử dụng cho các nhu cầu của sản xuất và lưu thông hàng hóa sẽ có tác dụng tăng tốc độ chu chuyển vốn trong phạm vi toàn
xã hội
- Ba là phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế: sự vận động vốn của tín dụng phần lớn là sự vận động gắn liền với sự vận động của vật tư, hàng hóa, chi phí trong các xí nghiệp của tổ chức kinh tế Vì vậy, tín dụng không những phản ánh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà còn thực hiện việc kiểm soát các hoạt động ấy nhằm ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực lãng phí, vi phạm pháp luật, trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
1.2.3 Các hình thức cho vay
Trong nền kinh tế thị trường hoạt động cho vay của TCTD rất đa dạng và phong phú với nhiều loại hình cho vay khác nhau.Việc áp dụng hình thức cho vay nào là tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế của đối tượng sử dụng vốn tín dụng nhằm sử dụng và quản lý vốn tín dụng có hiệu quả và phù hợp với sự vận động cũng như đặc điểm kinh tế khác nhau của đối tượng tín dụng Trên thực tế việc phân loại cho vay theo các tiêu chí sau:
a) Phân theo mục đích sử dụng vốn
Trang 24- Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh;
- Cho vay tiêu dùng cá nhân;
- Cho vay mua bán bất động sản;
- Cho vay sản xuất nông nghiệp;
- Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu;
b) Phân theo thời hạn cho vay
- Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn dưới 1 năm Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động
- Cho vay trung dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 1 năm Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định, đầu tư vào các dự án đầu tư
c) Phân loại theo mức độ tín nhiệm của khách hàng
- Cho vay không có bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm
cố, hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay
- Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác
d) Phân loại theo phương thức cho vay
- Cho vay từng lần
- Cho vay theo hạn mức tín dụng
e) Phân loại theo phương thức hoàn trả nợ vay
- Cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn
- Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ, cho vay trả góp
- Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn trả nợ cụ thể mà tùy theo khả năng của khách hàng để trả nợ bất cứ lúc nào
1.2.4 Quy trình cho vay
Quy trình cho vay là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của TCTD trong việc cho vay Quy trình này bao gồm nhiều bước theo một trật tự nhất định Có thể khái quát quy trình cho vay theo sơ đồ sau:
Trang 25Hình1.3: Sơ đồ quy trình cho vay [4]
a)Hướng dẫn khách hàng và tiếp nhận hồ sơ
Lập hồ sơ tín dụng là bước căn bản đầu tiên của quy trình tín dụng, nó được thực hiện ngay sau khi cán bộ tín dụng tiếp xúc với khách hàng có nhu cầu vay vốn
Lập hồ sơ là bước quan trọng vì nó là bước thu thập thông tin làm cơ sở để thực hiện các bước sau, đặc biệt là bước phân tích và ra quyết định cho vay
Trang 26Tùy theo quan hệ giữa khách hàng và TCTD, loại tín dụng yêu cầu và quy
mô tín dụng, cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ với những thông tin, yêu cầu khác nhau Nhìn chung một bộ hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cần thu thập từ khách hàng những thông tin sau:
- Thông tin về năng lực pháp lý và năng lực hành vi của khách hàng
- Thông tin về khả năng sử dụng và hoàn trả vốn của khách hàng
- Thông tin về bảo đảm tín dụng
Để thu thập được những thông tin căn bản như trên, TCTD thường yêu cầu khách hàng phải lập và nộp cho TCTD các loại giấy tờ sau:
- Hồ sơ về phương án sản xuất kinh doanh và phương án trả nợ
- Hồ sơ về tài sản đảm bảo: các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm
- Thông tin sử dụng trong công tác thẩm định:
+ Thông tin do khách hàng cung cấp
+ Thông tin đã được lưu trữ tại TCTD
+ Thông tin từ các đối tượng khác cung cấp
Trang 27+ Phân tích hiệu quả kinh tế
+ Đánh giá khả năng tài trợ
- Thẩm định tài sản đảm bảo nợ vay
+ Kiểm tra tính hợp lệ của tài sản đảm bảo
+ Xác định giá trị còn lại của tài sản đảm bảo
- Lập tờ trình
Tờ trình thẩm định là báo cáo kết quả công tác thẩm định và ý kiến đề xuất của nhân viên thẩm định
c)Quyết định cho vay
Quyết định tín dụng là quyết định cho vay hoặc từ chối đối với một hồ sơ vay của khách hàng Đây là bước cực kỳ quan trọng trong quy trình tín dụng vì nó ảnh hưởng rất lớn đến các bước sau và ảnh hưởng đến uy tín và hiệu quả hoạt động tín dụng của TCTD
Đây là bước quan trọng và cũng là bước dễ phạm phải sai lầm nhất Có hai loại sai lầm cơ bản thường xảy ra trong bước này:
- Quyết định chấp thuận cho vay đối với một khách hàng không tốt
- Từ chối cho vay đối với một khách hàng tốt
Cả hai loại sai lầm này đều dẫn đến thiệt hại đáng kể cho TCTD Loại sai lầm thứ nhất dễ dẫn đến thiệt hại do nợ quá hạn hoặc nợ không thể thu hồi, tức là thiệt hại về tài chính Loại sai lầm thứ hai dễ dẫn đến thiệt hại về uy tín và mất cơ hội cho vay
Nhằm hạn chế sai lầm, trong bước quyết định tín dụng, TCTD thường chú trọng hai vấn đề:
- Thu thập thông tin và xử lý thông tin một cách đầy đủ và chính xác làm cơ
d) Ký hợp đồng
Trang 28Sau khi ra quyết định tín dụng, kết quả có thể là chấp thuận hoặc từ chối cho vay, tùy vào kết quả phân tích và thẩm định ở bước trước Nếu chấp thuận cho vay, cán bộ tín dụng sẽ hướng dẫn khách hàng ký kết hợp đồng tín dụng và làm tiếp các bước tiếp theo (ký kết các hợp đồng liên quan khác như hợp đồng thế chấp, hơp đồng cầm cố…, thực hiện thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm và quản lý tài sản đảm bảo nợ vay) Nếu từ chối vay, TCTD sẽ có văn bản trả lời và giải thích lý do cho khách hàng được rõ
e) Giải ngân
Giải ngân là bước tiếp theo sau khi hợp đồng tín dụng đã được ký kết Giải ngân là phát tiền vay cho khách hàng trên cơ sở mức tín dụng đã cam kết trong hợp đồng Tuy là bước tiếp theo sau của quyết định tín dụng, nhưng giải ngân cũng là bước quan trọng vì nó có thể góp phần phát hiện và chấn chỉnh kịp thời nếu có sai sót ở các bước trước Ngoài ra, cách thức giải ngân còn góp phần kiểm tra và kiểm soát xem vốn tín dụng có được sử dụng đúng mục đích cam kết hay không Nguyên tắc giải ngân là luôn luôn gắn liền hoạt động tiền tệ với hoạt động hàng hóa hoặc dịch vụ đối ứng nhằm đảm bảo khả năng thu hồi nợ sau này Tuy vậy, giải ngân cũng phải tuân thủ nguyên tắc đảm bảo thuận lợi, tránh gây khó khăn và phiền hà cho khách hàng
f) Tổ chức giám sát và thu hồi nợ
Sau khi đã giải ngân, TCTD cần phải làm các bước: Kiểm tra theo dõi tình hình sử dụng vốn của khách hàng, tình hình tài chính, và công nợ của khách hàng; kiểm tra, đánh giá lại tài sản bảo đảm nợ vay; thu nợ
g) Tất toán khoản vay
Hồ sơ vay chỉ tất toán khi bên vay thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho TCTD hi đó, TCTD cần phải ký thanh lý hợp đồng tín dụng, hoàn trả tài sản đảm bảo nợ vay cho khách hàng và lưu trữ hồ sơ vay
h) Xử lý nợ vay
Nếu đến hạn trả nợ, bên đi vay không trả được nợ cho TCTD và không được đồng ý gia hạn/ điều chỉnh kỳ hạn nợ thì TCTD tiến hành xem xét chuyển nợ quá hạn, tiếp tục theo dõi để thu hồi nợ
Trang 291.2.5 Các tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động cho vay
Đối với bất kỳ một hoạt động nào, người ta đều có thể đánh giá trên nhiều góc độ và cách nhìn Cũng như vậy, hoạt động cho vay có thể đánh giá dưới góc độ
là khách hàng hoặc góc độ của người quản lý Với khách hàng, đánh giá chất lượng cho vay chỉ có thể đánh giá theo các chỉ tiêu định tính như: thái độ của CBTD, khoảng thời gian chờ đợi quyết định cho vay, thủ tục và yêu cầu cho vay… Các nhà quản lý TCTD đánh giá chất lượng hoạt động cho vay có thể sử dụng các chỉ tiêu định lượng như tổng dư dợ, chỉ số nợ xấu… Nhìn chung, để đánh giá hoạt động cho vay ta có thể sử dụng một số tiêu chí như sau:
a) Số lượng khách hàng vay và số tiền vay đối với mỗi khách hàng
Đối với các quỹ tín dụng chuyên ngànhthực hiện các mục tiêu của Quỹ là thu hút tập hợp hội viên tham gia tổ chức của các chuyên ngành đó, vì vậy số lượng khách hàng được vay và số tiền được vay của mỗi khách là một chỉ tiêu quan trọng nhằm đánh giá tốc độ tăng trưởng mức độ cho vay có phù hợp với mục đích yêu cầu của chuyên ngành
b) Dư nợ cho vay
Dư nợ cho vay là số tiền mà khách hàng vay đang còn nợ chưa trả tại một thời điểm, nói cách khác, nó là chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền mà TCTD cấp cho nền kinh tế tại một thời điểm nhất định Tổng dư nợ thấp chứng tỏ TCTD không có khả năng mở rộng được mạng lưới khách hàng, hoạt động cho vay yếu kém, khả năng tiếp thị khách hàng chưa tốt Tuy nhiên, không phải chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng cho vay càng tốt bởi lẽ khi TCTD cho vay vượt quá mức giới hạn cũng
là lúc bắt đầu chấp nhận rủi ro về cho vay Chỉ tiêu tổng dư nợ phản ánh quy mô cho vay đồng thời cũng phản ánh uy tín của TCTD
c) Lãi (phí) cho vay
Lãi (số phí) cho vay là tổng số tiền mà một TCTD thu được khi cho các khách hàng vay trong một thời kỳ nhất định; lãi cho vay được tính bằng số tiền cho vay nhân với lãi suất vay trong một thời đoạn nhất định (đối với một số tổ chức phi lợi nhuận thì lãi suất cho vay được thay bằng phí cho vay trong một thời đoạn)
d) Nợ quá hạn
Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được hoặc chưa trả được khi đã đến hạn thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay Khi một món nợ không trả
Trang 30được vào kỳ hạn trả nợ, toàn bộ nợ gốc của Hợp đồng sẽ được chuyển thành nợ quá hạn
1.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động cho vay
Hoạt động cho vay là kết quả của cả một quá trình tính từ khi tiến hành cho vay được TCTD xét duyệt, phát ra cho đến khi được thu hồi Trong quá trình đó có rất nhiều những tác động gây rủi ro dẫn đến việc TCTD không thu hồi được vốn và phải chịu thua thiệt Để quản lý chất lượng cho vay đòi hỏi phải hiểu rõ về các nhân
tố gây ảnh hưởng tới nó
1.2.6.1 Các nhân tố chủ quan ( nhóm nhân tố thuộc TCTD)
- Chính sách cho vay: chính sách cho vay phản ánh định hướng cơ bản cho hoạt động cho vay, nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của TCTD Để đảm bảo và nâng cao chất lượng cho vay, TCTD cần phải có chính sách cho vay phù hợp với đường lối phát triển kinh tế, đồng thời kết hợp được lợi ích của người gửi tiền, của TCTD và người vay tiền
- Quy trình cho vay: quy trình cho vay là trình tự tổ chức thực hiện các bước
kỹ thuật nghiệp vụ cơ bản, chỉ rõ cách làm, trình tự các bước từ khi bắt đầu đến khi kết thúc một giao dịch thuộc chức năng, nhiệm vụ của cán bộ tín dụng và lãnh đạo TCTD có liên quan Quy trình cho vay là yếu tố quan trọng, nếu nó được tổ chức khoa học, hợp lý sẽ cho phép bảo đảm thực hiện các khoản vay có chất lượng
- Thủ tục cho vay: Thủ tục làm việc, yêu cầu về giấy tờ đơn giản; Thời gian làm việc nhanh chóng, không gây phiền hà sẽ tạo cho khách hàng tâm lý thoải mái, tạo niềm tin và hình ảnh tốt đối với TCTD
- Quy chế cho vay: Phục vụ tốt nhất cho khách hàng nhưng phải đảm bảo tuân thủ đúng quy chế cho vay vốn tín dụng Thực hiện tuần tự, chuẩn xác trong công tác thẩm định về dự án, khả năng tài chính, năng lực pháp lý của khách hàng,
về tài sản đảm bảo… nhằm đưa ra được quyết định hợp lý nhất vừa phục vụ tốt khách hàng vừa phòng ngừa rủi ro tín dụng cho TCTD
- Cơ sở vật chất, khả năng ứng dụng công nghệ, kỹ thuật hiện đại trong quá trình cho vay nhằm rút ngắn thời gian phục vụ nhưng vẫn đảm bảo thu thập, lưu trữ đầy đủ thông tin để giúp TCTD có thể khai thác, phát hiện và ngăn ngừa rủi ro
- Kiểm soát nội bộ: đây là hoạt động mang tính thường xuyên và cần thiết đối với mọi TCTD Công tác kiểm tra nội bộ hoạt động kinh doanh của TCTD càng
Trang 31thường xuyên, chặt chẽ sẽ càng làm cho hoạt động cho vay đúng hướng, thực hiện đúng các nguyên tắc, yêu cầu thể lệ trong qui chế cho vay cũng như qui trình cho vay Kiểm soát nội bộ là biện pháp mang tính chất ngăn ngừa, hạn chế những sai sót của cán bộ tín dụng, giúp cho hoạt động cho vay kịp thời sửa chữa, tạo điều kiện thuận lợi nâng cao chất lượng cho vay
- Tổ chức nhân sự: con người luôn là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong mọi hoạt động kinh doanh nói chung và tất nhiên nó cũng không loại trừ khỏi hoạt động của một TCTD Muốn nâng cao được hiệu quả trong kinh doanh, chất lượng trong hoạt động cho vay, TCTD cần phải có một đội ngũ cán bộ tín dụng giỏi, được đào tạo có hệ thống, am hiểu và có kiến thức phong phú về thị trường đặc biệt trong lĩnh vực tham gia đầu tư vốn, nắm vững những văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động cho vay Trong bố trí sử dụng, người cán bộ tín dụng cần phải được sàng lọc kỹ càng và phải có kế hoạch thường xuyên bồi dưỡng những kiến thức cần thiết để bắt kịp với nhịp độ phát triển và biến đổi của nền kinh tế thị trường Ngoài ra, họ còn phải có tiêu chuẩn về đạo đức và sự liêm khiết, bởi lẽ nếu người cán bộ tín dụng thiếu trách nhiệm hay cố tình vi phạm có thể sẽ gây tổn thất rất lớn cho TCTD
- Thông tin tín dụng: hoạt động cho vay muốn đạt được hiệu quả cao, an toàn cần phải có hệ thống thông tin hữu hiệu phục vụ cho công tác này Vai trò và yêu cầu thông tin phục vụ công tác cho vay và kinh doanh TCTD là hết sức quan trọng Muốn nâng cao chất lượng cho vay, TCTD cần xây dựng được hệ thống thông tin đầy đủ và linh hoạt, nhờ đó cung cấp các thông tin chính xác, kịp thời, tăng cường khả năng phòng ngừa rủi ro cho vay
1.2.6.2 Các yếu tố khách quan
- Nhóm nhân tố từ phía khách hàng
+ Uy tín, đạo đức của người vay: Trong quy trình cho vay các TCTD thường chỉ đưa ra quyết định cho vay sau khi đã phân tích cẩn thận các yếu tố có liên quan đến uy tín và khả năng trả nợ của người vay nhằm hạn chế thấp nhất các rủi ro do chủ quan của người vay có thể gây nên
Đạo đức của người vay là một yếu tố quan trọng của qui trình thẩm định, tính cách của người vay không chỉ được đánh giá bằng phẩm chất đạo đức chung
mà còn phải kiểm nghiệm qua những kết quả hoạt động trong quá khứ, hiện tại và
Trang 32chiến lược phát triển trong tương lai Thực tế kinh doanh đã cho thấy, tính chân thật
và khả năng chi trả của người vay có thể thay đổi sau khi món vay được thực hiện Khách hàng có thể lừa đảo TCTD thông qua việc gian lận về số liệu, giấy tờ, quyền
sở hữu tài sản, sử dụng vốn vay không đúng mục đích, không đúng đối tượng kinh doanh, phương án kinh doanh,…Việc khách hàng gian lận tất yếu sẽ dẫn đến những rủi ro cho TCTD
Uy tín của khách hàng cũng là một yếu tố đáng quan tâm, uy tín của khách hàng là tiêu chí để đánh giá sự sẵn sàng trả nợ và kiên quyết thực hiện các nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng từ phía khách hàng Uy tín của khách hàng được thể hiện dưới nhiều khía cạnh đa dạng như: chất lượng, giá cả hàng hoá, dịch vụ, sản phẩm, mức độ chiếm lĩnh thị trường, chu kỳ sống của sản phẩm, các quan hệ kinh tế tài chính, vay vốn, trả nợ với khách hàng, bạn hàng và TCTD Uy tín được khẳng định
và kiểm nghiệm bằng kết quả thực tế trên thị trường qua thời gian càng dài càng chính xác Do đó, TCTD cần phân tích các số liệu và tình hình trong suốt quá trình phát triển của khách hàng với những thời gian khác nhau mới có kết luận chính xác
+ Năng lực, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của khách hàng: Chất lượng cho vay phụ thuộc rất lớn vào năng lực tổ chức, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của người vay Đây chính là tiền đề tạo ra khả năng kinh doanh có hiệu quả của khách hàng, là cơ sở cho khách hàng thực hiện cam kết hoàn trả đúng hạn nợ TCTD cả gốc lẫn lãi Nếu trình độ của người quản lý còn bị hạn chế về nhiều mặt như học vấn, kinh nghiệm thực tế,…thì doanh nghiệp rất dễ bị thua lỗ, dẫn đến khả năng trả nợ kém, ảnh hưởng xấu đến chất lượng cho vay của TCTD
- Nhóm nhân tố thuộc môi trường vĩ mô
+ Môi trường kinh tế: Tính ổn định hay bất ổn định về kinh tế và chính sách kinh tế của mỗi quốc gia luôn có tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường Tính ổn định về kinh tế mà trước hết và chủ yếu là ổn định về tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, khống chế lạm phát là những điều mà các doanh nghiệp kinh doanh rất quan tâm và ái ngại vì
nó liên quan trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Nền kinh tế ổn định sẽ là điều kiện, môi trường thuận lợi để các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh và thu được lợi nhuận cao, từ đó góp phần tạo nên sự thành công trong kinh doanh của TCTD Trong trường hợp ngược lại, sự bất ổn tất nhiên cũng bao
Trang 33chùm đến các hoạt động của TCTD, làm ảnh hưởng tới chất lượng cho vay, gây tổn thất cho TCTD
+ Môi trường chính trị: Môi trường chính trị đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong kinh doanh, đặc biệt đối với các hoạt động kinh doanh TCTD Tính ổn định về chính trị trong nước sẽ là một trong những nhân tố thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả Nếu xẩy ra các diễn biến gây bất ổn chính trị như: chiến tranh, xung đột đảng phái, cấm vận, bạo động, biểu tình, bãi công,…có thể dẫn đến những thiệt hại cho doanh nghiệp và cả nền kinh tế nói chung (làm tê liệt sản xuất, lưu thông hàng hoá đình trệ,…) Và như vậy, những món tiền doanh nghiệp vay TCTD sẽ khó được hoàn trả đầy đủ và đúng hạn, ảnh hưởng xấu đến chất lượng cho vay
+ Môi trường pháp lý: Một trong những bộ phận của môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và NHTM nói riêng là hệ thống pháp luật Với một môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh, thiếu tính đồng bộ, thống nhất giữa các luật, văn bản dưới luật, đồng thời với nó là sự sắc nhiễu của các có quan hành chính có liên quan sẽ khiến cho doanh nghiệp gặp phải những khó khăn, thiếu đi tính linh hoạt cần thiết, vốn đưa vào kinh doanh dễ bị rủi
ro Do đó, xây dựng môi trường pháp lý lành mạnh sẽ tạo thuận lợi trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong đó có các NHTM
+ Môi trường cạnh tranh: Có thể nói đây là yếu tố tác động mạnh mẽ đến chất lượng cho vay nói riêng và hoạt động kinh doanh chung của NHTM Sự tác động đó diễn ra theo hai chiều hướng: thứ nhất, để chiếm ưu thế trong cạnh tranh TCTD luôn phải quan tâm tới đầu tư trang thiết bị tốt, tăng cường đội ngũ nhân viên có trình độ, củng cố và khuyếch trương uy tín và thế mạnh của TCTD Hướng tác động này đã tạo điều kiện nâng cao chất lượng cho vay Tuy nhiên, ở hướng thứ hai, dưới áp lực của cạnh tranh gay gắt các TCTD có thể bỏ qua những điều kiện cho vay cần thiết khiến cho độ rủi ro tăng lên, làm giảm chất lượng cho vay
+ Môi trường tự nhiên: Các yếu tố rủi ro do thiên nhiên gây ra như lũ lụt, hoả hoạn, động đất, dịch bệnh,… có thể gây ra những thiệt hại không lường trước được cho cả người vay và TCTD Mặc dù những rủi ro này là khó dự đoán nhưng
bù lại nó chiếm tỷ lệ không lớn, mặt khác TCTD thường được chia sẻ thiệt hại với các Công ty Bảo hiểm hoặc được Nhà nước hỗ trợ
Trang 341.2.7 Sự cần thiết phải nâng cao hoạt động cho vay của các quỹ tín dụng
a) Đối với các quỹ tín dụng
Hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu của các quỹ tín dụng, nó chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản có Chất lượng cho vay tốt giúp các quỹ tín dụng
có được những khách hàng trung thành và những khoản lợi nhuận để bổ sung vốn đầu tư, qua đó lại làm tăng khả năng sinh lời của các sản phẩm, dịch vụ do giảm được sự chậm trễ, giảm chi phí nghiệp vụ, chi phí quản lý, các chi phí thiệt hại do không thu hồi được vốn cho vay đồng thời cải thiện được tình hình tài chính của các quỹ tín dụng Thu nhập từ tiền cho vay được thể hiện dưới hình thức tiền lãi cho vay và phụ thuộc vào thời gian cho vay, thời gian càng dài thì lãi tiền vay càng lớn nhưng nếu thời gian càng dài thì rủi ro và mất an toàn càng cao, đặc biệt là trong nền kinh tế ngày nay luôn chứa đựng những biến động lớn không thể lường trước được
Ngày nay, hội nhập kinh tế làm xuất hiện hàng loạt các loại hình tổ chức tín dụng giúp gia tăng mức độ cạnh tranh giữa các quỹ tín dụng Các tổ chức tín dụng
có hiệu quả kinh doanh chưa cao, năng lực tài chính còn yếu, quy mô hoạt động nhỏ, trình độ quản lý, điều hành còn kém, công nghệ còn lạc hậu, rủi ro tiềm tàng lớn sẽ gặp phải những khó khăn trong hoạt động Do đó, việc nâng cao chất lượng cho vay là một giải pháp hữu hiệu giúp cho các quỹ tín dụng đảm bảo được sự an toàn trong hoạt động, tăng lợi nhuận và khẳng định được vị thế của các quỹ tín dụng trên thị trường
b) Đối với người đi vay
Nâng cao chất lượng hoạt động cho vay tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh.Việc nâng cao chất lượng cho vay góp phần lành mạnh hoá các quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng và doanh nghiệp Khi tổ chức tín dụng cấp tín đụng cho doanh nghiệp thì họ thoả mãn được nhu cầu về vốn để duy trì và mở rộng sản xuất kinh doanh, đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn
Trang 35được chi phí và đem lại lợi nhuận cao nhất, đảm bảo trả được vốn và lãi đúng hạn cho tổ chức tín dụng Điều này cũng giúp cho doanh nghiệp không những tạo được
uy tín đối với các tổ chức tín dụng cho vay mà còn có chỗ đứng vững chắc trên thị trường
c) Đối với nền kinh tế
Nền kinh tế hội nhập đã tạo ra không ít những cơ hội cũng như thách thức đối với các lĩnh vực nói chung và các tổ chức tín dụng nói riêng Sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất, lưu thông hàng hoá cũng đã thúc đẩy hoạt động cho vay không ngừng phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu về vốn trong nền kinh tế Do đó, chất lượng cho vay càng được quan tâm hơn bao giờ Chất lượng hoạt động cho vay tạo điều kiện cho Ngân hàng làm tốt chức năng thanh toán và chức năng trung gian tín dụng trong nền kinh tế Hoạt động cho vay là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu
tư, góp phần điều hoà vốn, giải quyết cung cầu về vốn, tăng cường việc thanh toán qua Ngân hàng, từ đó tiết kiệm được chi phí lưu thông, kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, chất lượng hoạt động cho vay góp phần lành mạnh quan hệ cho vay, hoạt động cho vay được mở rộng với các thủ tục đơn giản, thuận tiện hơn, nhưng vẫn tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc trong cho vay, giảm thiểu và đi đến xoá bỏ nạn cho vay nặng lãi ở các vùng nông thôn và những nơi xa xôi, hẻo lánh
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 đã trình bày tổng quan về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng: Trình bày khái niệm về tín dụng và các hình thức tổ chức tín dụng, các hình thức cho vay, quy trình hoạt động cho vay của các Quỹ tín dụng, đưa ra các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động cho vay cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến các chỉ tiêu đó, đồng thời nêu lên sự cần thiết phải nâng cao hoạt động cho vay của các Quỹ tín dụng; làm cơ sở để phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kết quả hoạt động cho vay của Quỹ Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân Việt Nam
ở các chương sau
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA QUỸ HỖ TRỢ NÔNG
DÂN THUỘC HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM
2.1 Giới thiệu tổng quan Quỹ hỗ trợ nông dân thuộc Hội nông dân Việt Nam
2.1.1 Sự hình thành và phát triển của Quỹ hỗ trợ nông dân
Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ II (tháng 3/1993) về đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Hội, Ban Thường vụ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam (khóa II) đã xây dựng Đề án thành lập Quỹ HTND thuộc Hội Nông dân Việt Nam nhằm tạo thêm nguồn lực hỗ trợ nông dân nhất là nông dân nghèo có vốn phát triển sản xuất, đồng thời xây dựng Quỹ HTND cũng là điều kiện để thu hút hội viên, củng cố tổ chức Hội Nông dân Việt Nam ngày càng vững mạnh
Quỹ HTND TW được thành lập ngày 2/3/1996 trên cơ sở văn bản 4035/KTTH ngày 26/7/1995 của Chính phủ về việc tán thành chủ trương thành lập Quỹ Hỗ trợ nông dân theo đề nghị của Hội Nông dân Việt Nam tại tờ trình số 121- CV/HND ngày 25/3/1995
Được sự quan tâm của Chính phủ, sự hỗ trợ tạo điều kiện của các bộ, ngành
TW, cấp uỷ, chính quyền các địa phương, sau hơn 20 năm thành lập và hoạt động, Quỹ Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân Việt Nam đã được xây dựng, hình thành
ở 3 cấp, bao gồm: Quỹ HTND TW; Quỹ cấp tỉnh và Quỹ cấp huyện Từ nguồn vốn ban đầu chỉ có 40 tỷ đồng do ngân sách Nhà nước cấp, thông qua các hình thức vận động sự ủng hộ, đóng góp của hội viên nông dân, các tổ chức, cá nhân trong cộng đồng, sự hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước…đến nay, nguồn vốn Quỹ HTND trong toàn hệ thống Hội đã đạt gần 3.000 tỷ đồng, đang hỗ trợ cho trên 100 ngàn hộ nông dân xây dựng các mô hình trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, chế biến nông sản, dịch vụ, khôi phục nghề truyền thống… với hàng ngàn dự án vay vốn ở 63 tỉnh, thành Hội
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Quỹ hỗ trợ nông dân Trung ương
a) Chức năng
Trang 37Tham mưu cho Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam về công tác xây dựng, quản lý, phát triển Quỹ Hỗ trợ nông dân; tổ chức hỗ trợ vốn cho hội viên nông dân; thực hiện chương trình liên tịch, phối hợp với các Ngân hàng, tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế giúp nông dân tạo vốn phát triển sản xuất, kinh doanh, ổn định cuộc sống trong hệ thống Hội Nông dân Việt Nam
Quản lý, hướng dẫn, điều hành hoạt động Quỹ Hỗ trợ nông dân Trung ương, hướng dẫn Hội Nông dân các cấp xây dựng và quản lý Quỹ Hỗ trợ nông dân theo đúng các quy định của Nhà nước, Điều lệ tổ chức và hoạt dộng của Quỹ Hỗ trợ nông dân và các quy định của Ban Thường vụ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam
- Tiếp nhận, quản lý nguồn vốn do Ngân sách cấp; nguồn vốn do các tổ chức, cá nhân tài trợ, viện trợ và huy động vốn đóng góp tự nguyện của các tổ chức
và cá nhân trong và ngoài nước để phục vụ cho các hoạt động xây dựng và nhân rộng các mô hình hỗ trợ nông dân phát triển kinh tế, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, ổn định cuộc sống
- Thực hiện hỗ trợ vốn giúp nông dân xây dựng các mô hình thông qua dự án với hình thức cho vay trợ giúp có hoàn trả (có hạn mức, có kỳ hạn, có thu phí) từ nguồn vốn thuộc quyền quản lý của Quỹ Hỗ trợ nông dân Trung ương
- Quản lý vốn và tài sản của Quỹ theo quy định của pháp luật
- Tổ chức các hoạt động tập huấn, chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, tham quan trao đổi kinh nghiệm sản xuất, xúc tiến thương mại trong và ngoài nước giúp nông dân sử dụng vốn đúng mục đích, đạt hiệu quả cao
Trang 38- Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý, điều hành cho đội ngũ cán bộ tham gia công tác quản lý, điều hành Quỹ
- Kiểm tra, giám sát hoạt động Quỹ Hỗ trợ nông dân ở các cấp theo đúng quy định; kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn của các hộ vay
- Phối hợp với các cơ quan thông tấn, báo chí, các ban, đơn vị thuộc Trung ương Hội tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về hoạt động tín dụng, Ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn; về tổ chức, hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân; về thủ tục quy trình cho vay vốn đến đông đảo cán bộ, hội viên và nông dân Xây dựng và kịp thời cổ vũ, động viên những điển hình tiên tiến trong công tác tạo vốn, quản lý và sử dụng vốn,…
- Thực hiện các nhiệm vụ khác khi được Ban Thường vụ, Thường trực Trung ương Hội giao
2.1.3 Bản chất và đặc điểm của Quỹ hỗ trợ nông dân
a) Bản chất
Quỹ HTND thuộc Hội Nông dân Việt Nam, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Thường vụ Trung ương Hội Quỹ HTND Việt Nam là một tổ chức tài chính đặc biệt, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, nhằm hỗ trợ, giúp đỡ hội viên nông dân xây dựng và nhân rộng các mô hình phát triển kinh tế nhằm xóa đói giảm nghèo; nâng cao quy mô sản xuất và sản xuất hàng hóa, phát triển ngành nghề; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển các hình thức kinh tế tập thể ở nông thôn; tạo việc làm, thúc đẩy việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp, khai thác tiềm năng, thế mạnh của từng vùng để tạo ra các loại nông sản hàng hóa, dịch vụ đạt chất lượng, hiệu quả cao; tạo điều kiện để Hội Nông dân Việt Nam đẩy mạnh hoạt động, tuyên truyền, tập hợp nông dân, thực hiện thắng lợi các chương trình phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước đối với phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân và xây dựng Hội vững mạnh
b) Đặc điểm
- Quỹ HTND có tư cách pháp nhân, có con dấu, có bảng cân đối kế toán riêng, được mở tài khoản tại kho bạc Nhà nước, các ngân hàng trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật
Trang 39- Quỹ HTND có tên giao dịch tiếng Anh là: Supporting Fund for Famers, tên viết tắt là SFF
- Trụ sở của Quỹ HTND Việt Nam đặt tại cơ quan Trung ương Hội Nông dân Việt Nam ở thủ đô Hà Nội Trụ sở của Quỹ HTND cấp tỉnh và cấp huyện đặt tại trụ sở cơ quan Hội Nông dân cùng cấp
- Vốn hoạt động của Quỹ HTND được hình thành từ các nguồn theo quy định của Chính phủ, Quỹ không được huy động vốn và vay vốn dưới hình thức tiền gửi tiết kiệm, phát hành kỳ phiếu, tín phiếu, vay thương mại như các tổ chức tín dụng kinh doanh tiền tệ
- Tự chịu trách nhiệm về hoạt động của Quỹ trước Pháp luật, tự chủ về tài chính, bảo toàn vốn và không phải nộp thuế cho Ngân sách Nhà nước
- Hoạt động thu, chi tài chính của Quỹ HTND đặt dưới sự chỉ đạo, quản lý của Ban Thường vụ TW Hội Nông dân Việt Nam
Thực hiện thu, chi, hạch toán và quyết toán thu chi tài chính theo chế độ tài chính chung của Nhà nước và Bộ tài chính quy định
Năm tài chính của Quỹ được tính từ 01/01 đến 31/12 hàng năm
2.1.4 Hệ thống tổ chức của Quỹ hỗ trợ nông dân Việt Nam
Cơ cấu tổ chức của Quỹ HTND được chia thành 3 cấp trong hệ thống tổ chức của Hội Nông dân Việt Nam là:
- Quỹ HTND Trung ương, trực thuộc Trung ương Hội Nông dân Việt Nam
- Quỹ HTND cấp tỉnh, trực thuộc Hội Nông dân cấp tỉnh
- Quỹ HTND cấp huyện, trực thuộc Hội Nông dân cấp huyện
Cấp xã không thành lập Quỹ HTND, Hội Nông dân cấp xã chịu trách nhiệm vận động tạo nguồn vốn; trực tiếp tổ chức các hoạt động hỗ trợ vốn, các hoạt động dịch vụ trợ giúp nông dân khác theo sự chỉ đạo của Hội Nông dân cấp trên và theo Hợp đồng đã ký với các tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế khác
Trang 40Ghi chú: - Lãnh đạo trực tiếp:
- Chỉ đạo nghiệp vụ:
Hình 2.1: Mô hình hệ thống tổ chức Quỹ HTND
a) Cơ quan chỉ đạo và quản lý
- Ban Thường vụ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam thống nhất việc chỉ đạo và quản lý Quỹ Hỗ trợ nông dân trong toàn hệ thống Hội
- Ban Thường vụ Hội Nông dân các cấp có trách nhiệm chỉ đạo và quản lý Quỹ Hỗ trợ nông dân cùng cấp và cấp dưới trực tiếp
Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban Thường vụ Hội Nông dân các cấp
- Ban Thường vụ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam:
+ Phê duyệt, sửa đổi, bổ sung Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân Việt Nam; Ban hành các văn bản quy định, hướng dẫn hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân theo quy định tại Điều lệ này
+ Ban hành quy chế về hoạt động kiểm tra, kiểm soát hoạt động Quỹ Hỗ trợ nông dân theo quy định của pháp luật và cơ quan có thẩm quyền; kiểm tra việc chỉ đạo xây dựng và quản lý Quỹ Hỗ trợ nông dân của Ban Thường vụ Hội Nông dân
Ban Thường vụ TƯ Hội Nông dân Việt Nam
Quỹ Hỗ trợ nông
dân Trung ương
Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh
Quỹ Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh
Ban Thường vụ Hội Nông dân cấp huyện
Quỹ Hỗ trợ nông dân cấp huyện
Ban Thường vụ Hội Nông dân cấp xã