1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tổng hợp tổn thương ven biển quận hải an thành phố hải phòng nhằm định hướng quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên

73 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 3,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MĐTT tài nguyên và môi trường biển được đánh giá dựa vào hệ cơ sở dữ liệu bao gồm: cường độ, mật độ, tần suất và hậu quả của các yếu tố gây tổn thương điển hình là các tai biến; đặc điểm

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

HOÀNG VĂN TUẤN

ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP TỔN THƯƠNG VEN BIỂN QUẬN HẢI AN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG NHẰM ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN

THIÊN NHIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Trang 2

-

HOÀNG VĂN TUẤN

ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP TỔN THƯƠNG VEN BIỂN QUẬN HẢI AN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG NHẰM ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN

THIÊN NHIÊN

Chuyên ngành: Khoa học Môi trường

Mã số: 608502

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS Mai Trọng Nhuận

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2

1.1 Một số khái niệm 2

1.2 Lịch sử nghiên cứu 3

1.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội quận Hải An 10

1.3.1 Điều kiện tự nhiên 10

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 14

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 23

2.2 Phương pháp nghiên cứu 23

2.2.1 Phương pháp kế thừa 23

2.2.2 Phương pháp khảo sát thực địa 24

2.2.3 Phương pháp viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS) 24

2.2.4 Phương pháp đánh giá tổng hợp mức độ tổn thương tài nguyên, môi trường 25

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28

3.1 Đánh giá các yếu tố gây tổn thương ven biển khu vực quận Hải An 28

3.1.1 Nhận định các yếu tố gây tổn thương 28

3.1.2 Các yếu tố cường hóa tai biến 34

3.1.3 Phân vùng mức độ nguy hiểm do các tai biến 35

3.2 Đánh giá mật độ đối tượng bị tổn thương ven biển khu vực quận Hải An 38

3.2.1 Nhận định các đối tượng bị tổn thương 38

3.2.2 Phân vùng mật độ các đối tượng bị tổn thương 42

3.3 Đánh giá khả năng ứng phó ven biển khu vực quận Hải An 44

3.3.1 Nhận định các khả năng ứng phó 44

3.3.2 Phân vùng khả năng ứng phó 47

3.4 Đánh giá mức độ tổn thương tài nguyên, môi trường ven biển khu vực quận Hải An 50 3.5 Định hướng quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên 52

3.5.1 Định hướng sử dụng tài nguyên thiên nhiên 52

3.5.2 Các giải pháp thực hiện định hướng quy hoạch, sử dụng tài nguyên 55

3.5.2.1 Tăng cường hiệu lực của luật pháp, chính sách 55

3.5.2.2 Giải pháp tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức 56

3.5.2.3 Giải pháp công trình giảm thiểu thiệt hại do tai biến 58

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Các đặc trưng cơ bản của một số sông chính ở Hải Phòng 13

Bảng 1.2 Diện tích, dân số, mật độ dân số các quận thành phố Hải Phòng 14

Bảng 1.3 Sản lượng thủy sản khai thác phân theo quận thành phố Hải Phòng (đơn vị: tấn) 16

Bảng 1.4 Sản lượng nuôi trồng thủy sản theo các quận thành phố Hải Phòng (đơn vị: tấn) 17

Bảng 1.5 Diện tích đất nông nghiệp phân theo quận của thành phố Hải Phòng (đơn vị: ha) 19

Bảng 3.1 Mực nước biển dâng theo các kịch bản phát thải thấp, trung bình và cao (cm) 28 Bảng 3.2 Khối lượng nạo vét luồng và cảng Hải Phòng (đơn vị: triệu m3) 31

Bảng 3.3 Trọng số các tai biến trong đánh giá mức độ nguy hiểm 36

Bảng 3.4 Bảng thống kê các kiểu đất ngập nước ven biển quận Hải An 39

Bảng 3.5 Trọng số các đối đượng bị tổn thương 42

Bảng 3.6 Trọng số các đối tượng có khả năng ứng phó 47

DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Sơ đồ khu vực nghiên cứu 11

Hình 1.2 Đầm nuôi trồng thủy sản bên cạnh sông Bạch Đằng, 2012 17

Hình 1.3 Nuôi thủy sản hai bên bờ đê Tràng Cát, 2012 18

Hình 1.4 Khu công nghiệp Đình Vũ, 2012 20

Hình 1.5 Cảng Đình Vũ, 2012 21

Hình 1.6 Tuyến đường ra vào cảng Đình Vũ, 2012 22

Hình 1.7 Phà Đình Vũ đi Cát Hải, 2012 22

Hình 2.1 Các bước lập bản đồ MĐTT ven biển khu vực quận Hải An 27

Hình 3.1 Bản đồ nguy cơ ngập lụt vùng Hải Phòng theo kịch bản nước biển dang 1 m 29

Hình 3.2 Bão gây đổ cột điện trên đường Ngô Gia Tự, quận Hải An năm 2012 33

Hình 3.3 Một số cây ngập mặn còn sót lại bên đường ra phà Đình Vũ, 2012 34

Hình 3.4 Cây ngập mặn tại bến phà Đình Vũ, 2012 35

Hình 3.5 Quy trình đánh giá mức độ nguy hiểm của các tai biến môi trường 35

Hình 3.6 Bãi triều tại phà Đình Vũ, 2012 39

Hình 3.7 Đầm nuôi trồng thủy sản trong đê Tràng Cát, 2012 40

Hình 3.8 Thi công đường bao Tràng Cát, 2012 41

Hình 3.9 Xây dựng tuyến đường bao ra cảng Đỉnh Vũ, 2012 41

Hình 3.10 Quy trình đánh giá mật độ đối tượng bị tổn thương 42

Hình 3.11 Quy trình đánh giá khả năng ứng phó ven biển khu vực quận Hải An 48

Bảng 3.12 Định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường khu vực nghiên cứu dựa theo kết quả đánh giá MĐTT 53

Trang 6

MỞ ĐẦU

Hải Phòng có vị trí quan trọng về kinh tế, xã hội và an ninh, quốc phòng của vùng Bắc Bộ và cả nước, thuộc tam giác kinh tế trọng điểm phía bắc và vành đai hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc

Nằm ở vùng ven biển thành phố Hải Phòng, quận Hải An có các đầu mối giao thông quan trọng của thành phố, bao gồm các tuyến đường bộ (điển hình là Quốc lộ 5 nối liền Hà Nội với Hải Phòng), đường thuỷ (với mật độ cảng lớn như cảng Chùa Vẽ, cảng Cửa Cấm, cảng Quân sự và một số cảng chuyên dùng khác), đường sắt (từ ga Lạc Viên đến cảng Chùa Vẽ) và đường hàng không (sân bay Cát Bi) Bên cạnh đó, khu vực còn có một số tài nguyên như khoáng sản và đất ngập nước (ĐNN) Các đặc điểm trên là lợi thế quan trọng phục vụ phát triển kinh tế, xã hội (điển hình là các hoạt động phát triển cảng biển, khu công nghiệp ven biển, đô thị ) của quận Hải An nói riêng và thành phố Hải Phòng nói chung

Bên cạnh các điều kiện thuận lợi nêu trên, khu vực quận Hải An phải chịu tác động từ các tai biến thiên nhiên như bão, lũ lụt, dâng cao mực nước biển và các hoạt động phát triển kinh tế, xã hội như giao thông thuỷ, xây dựng khu công nghiệp,

đô thị hoá Các yếu tố này đã và đang làm gia tăng mức độ tổn thương (MĐTT) tài nguyên, môi trường khu vực quận Hải An, điển hình là khu vực ven biển Dựa vào đánh giá MĐTT tài nguyên, môi trường sẽ xác định được mức độ tổn thương cho các khu vực khác nhau và là tiền đề nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên, môi trường

Do đó, đề tài “Đánh giá tổng hợp tổn thương ven biển quận Hải An - thành phố Hải

Phòng nhằm định hướng quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên” được

lựa chọn nghiên cứu nhằm đánh giá tổng hợp tổn thương ven biển quận Hải An và trên cơ sở đó sẽ đề xuất định hướng sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên

Trang 7

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm

Khái niệm về khả năng bị tổn thương hay tính dễ bị tổn thương đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đề xuất từ những năm 1970 Tính tổn thương là một khái niệm khá trừu tượng , đươ ̣c đưa ra trong rất nhiều tài liệu và chưa có tính thống nhất Một số định nghĩa tổn thương điển hình có thể kể đến như:

- Uỷ ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (The Intergovernmental Panel

on Climate Change - IPCC, 1997): tính tổn thương là sự nhạy cảm của hệ thống tự nhiên hay xã hội do những thiệt hại lâu dài từ biến đổi khí hậu

- Uỷ ban Địa học ứng dụng Nam Thái Bình Dương (The South Pacific Applied Geo-science Commission - SOPAC, 1999): tính tổn thương là khả năng ứng phó và phục hồi của hệ thống đối với các tác động của tai biến

- Cơ quan Quản lý Đại dương và Khí quyển Quốc gia Mỹ (National Oceanic and Atmospheric Administration - NOAA, 1999): tính tổn thương là khả năng mẫn cảm của tài nguyên (tài nguyên tự nhiên, tài nguyên xã hội) trước những tác động tiêu cực của tai biến

- Tính tổn thương là nguy cơ mất mát của con người hoặc hệ thống tự nhiên -

xã hội do tác động của tai biến thiên nhiên (Cutter, 2000)

- Tính tổn thương là khả năng bị tổn thương của hệ thống tự nhiên - xã hội,

là những đặc tính của hệ thống cho phép nó cảm nhận, ứng phó, chống đỡ và phục hồi từ những thay đổi bên ngoài tác động vào hệ thống (Kasperson, 2001)

- Cục Bảo vệ Môi trường Hoa kỳ (USEPA, 2006): tính tổn thương của một

hệ thống là mức độ tổn thất của hệ thống đó dưới tác động của một áp lực nào đó từ bên ngoài hay bên trong hệ thống

- Mai Trọng Nhuận và cộng sự (2007) đã đưa ra khái niệm MĐTT tài nguyên, môi trường và các hệ sinh thái biển, được hiểu là mức độ ứng phó, chống

Trang 8

đỡ, tổn thất và phục hồi của tài nguyên, môi trường biển và các hệ sinh thái trước các tác động từ bên ngoài (tai biến, các quá trình tự nhiên và hoạt động nhân sinh)

Như vậy, theo các định nghĩa đã có trước, thì tổn thương tài nguyên, môi trường biển sẽ gồm 2 yếu tố: 1) mức độ tổn thất, suy thoái của hệ thống và 2) mức

độ chống chịu (Resistance), phục hồi (Resilience), ứng phó (Coping capacity) của tài nguyên, môi trường trước các tác động; hay có thể định nghĩa: MĐTT tài nguyên, môi trường biển là mức độ tổn thất, suy thoái về tài nguyên, mức độ chống chịu, phục hồi, ứng phó trước các tác động từ bên ngoài (tai biến và các hoạt động nhân sinh) (Kasperson, 2001, Mai Trọng Nhuận, 2007) MĐTT tài nguyên và môi trường biển được đánh giá dựa vào hệ cơ sở dữ liệu bao gồm: cường độ, mật độ, tần suất và hậu quả của các yếu tố gây tổn thương (điển hình là các tai biến); đặc điểm các yếu tố ảnh hưởng (tự nhiên, xã hội); mật độ, giá trị và khả năng ứng phó của tài

nguyên, môi trường

1.2 Lịch sử nghiên cứu

a Trên thế giới

Khả năng bị tổn thương/tính tổn thương (Vulnerability) được nghiên cứu ở các qui mô khác nhau: vùng/khu vực, hệ thống tự nhiên, hệ thống xã hội, hệ thống kinh tế (Adger, 2001; Birkmann, 2006; Cutter, 1996, 2000; FAO, 2004; IPCC, 2007; NOAA, 1999, 2001; SOPAC, 1999) Ngoài ra, hầu hết các nghiên cứu về tính

dễ bị tổn thương được thực hiện trong những hoàn cảnh đa dạng như: biến đổi khí hậu, tai biến môi trường, sự biến động giá cả hàng hoá trên thị trường, sự khan hiếm lương thực, sự thay đổi tổ chức và thể chế, khủng bố, chiến tranh (Adger, 2001; FAO, 2004; IPCC, 2007; NOAA, 1999, 2001)

Cuối thế kỷ XX, các mô hình và phương pháp đánh giá tổn thương dựa trên các thông số được định lượng hoá một cách có hệ thống đã được xây dựng như qui trình và công cụ đánh giá khả năng tổn thương của NOAA (1999, 2001); phương pháp nghiên cứu khả năng bị tổn thương của Cutter (1996, 2000); phương pháp nghiên cứu khả năng bị tổn thương do biến đổi khí hậu và dâng cao mực nước biển của IPCC (2001, 2007) Các công trình này tập trung vào nghiên cứu xây dựng các

Trang 9

bản đồ về phân vùng mức độ nguy hiểm do tai biến và mật độ các đối tượng dễ bị tổn thương để từ đó thành lập bản đồ đánh giá MĐTT Đồng thời, kết quả của các công trình này đã thể hiện được tính ưu việt trong việc dự báo MĐTT do tai biến cũng như đề xuất các biện pháp giảm thiểu thiệt hại, là cơ sở quan trọng trong hoạch định chính sách quản lý và phát triển

Đặc biệt, các nghiên cứu của NOAA (1999) đã xây dựng qui trình đánh giá khả năng bị tổn thương (gồm các bước: nhận định các tai biến, phân tích tai biến, cơ

sở hạ tầng, tài nguyên, kinh tế, xã hội và phân tích cơ hội giảm thiểu thiệt hại) và những ứng dụng của việc đánh giá này (qui hoạch sử dụng đất, bảo vệ tài nguyên và tăng khả năng giảm thiểu, tái phát triển và sửa chữa lại các công trình bị hư hỏng, đưa ra các chính sách đầu tư và phát triển cần được ưu tiên…) Bên cạnh đó, mô hình đánh giá khả năng bị tổn thương của Cutter (1996) được xây dựng áp dụng cho đánh giá MĐTT của hệ thống tài nguyên, môi trường Trong đó, khả năng bị tổn thương của hệ thống tài nguyên, môi trường có thể thay đổi theo thời gian do sự biến động của các yếu tố tai biến gây tổn thương, sự thay đổi năng lực của cộng đồng đối phó với tai biến Mức độ thiệt hại do tai biến không chỉ phụ thuộc vào bản thân các tai biến (cường độ, qui mô, tần suất…) mà còn phụ thuộc vào đặc tính và khả năng bị tổn thương của đối tượng chịu tác động của tai biến Mô hình này có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở cho việc phòng tránh tai biến và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế, xã hội theo cách tiếp cận “tiên đoán và ngăn chặn” những tác động tiêu cực của tai biến Đến năm 2000, Cutter đã nghiên cứu và đánh giá khả năng bị tổn thương xã hội do tai biến Trong đó, các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng

bị tổn thương xã hội gồm: cơ sở hạ tầng, đường thoát hiểm, khả năng ứng phó với tai biến thấp, tín ngưỡng và phong tục tập quán, thiếu thông tin, trí thức, thiếu quyền tiếp cận tài nguyên

Trong các nghiên cứu của SOPAC (2004), bộ chỉ số (gồm 50 chỉ số) về tổn thương môi trường (EVI - Environmental Vulnerability Index) đã được xây dựng tập trung vào các khía cạnh: khí hậu thay đổi, đa dạng sinh học, nước, nông nghiệp

và thủy sản, sức khỏe cộng đồng, các tai biến (động đất, sóng thần,…) và hiện

Trang 10

tượng thiên nhiên (bão, lốc, cháy rừng, ) Đối với từng yếu tố gây tổn thương cho môi trường đều được định lượng và đề xuất biện pháp giảm thiểu tổn thương Đây

là công trình nghiên cứu có ý nghĩa lớn cho các nước đang phát triển, đồng thời là

dữ liệu quan trọng phục vụ phát triển kinh tế bền vững tại đây Bên cạnh đó, nghiên cứu của USGS (Mỹ) đã đánh giá khả năng tổn thương cho cả đới ven biển do dâng cao mực nước biển, trong đó đã xây dựng được chỉ số tổn thương của đới bờ (CVI - Coastal Vulnerability Index) và dựa trên đó đã thiết lập được bản đồ tổn thương cho từng khu vực

Tiếp theo đó có rất nhiều công trình nghiên cứu các khía cạnh liên quan tới khả năng bị tổn thương như khả năng phục hồi, khả năng thích ứng (Adaptation) và tính nhạy cảm (Sensitivity) Trong đó, khả năng phục hồi là khả năng của một hệ thống cho phép nó hấp thụ và tận dụng hay thậm chí thu lợi từ những biến đổi và thay đổi tác động đến hệ thống và do đó làm cho hệ thống tồn tại mà không làm thay đổi về chất trong cấu trúc hệ thống (Hooling, 1973); là khả năng của thực thể (con người, loại tài nguyên, HST, dải ven biển, ) để chống lại, phản ứng và phục hồi lại từ những tác động của tự nhiên (SOPAC, 2004); là khả năng thích nghi với các hoàn cảnh đang thay đổi và do vậy đảm bảo tính an toàn của các phương thức sống (Luttrell, 2001)

Hầu hết các nghiên cứu về tổn thương có xu hướng tập trung vào từng tác nhân riêng lẻ như dâng cao mực nước biển (USGS, 2005), lũ lụt (Harvey, 2008), xói

lở bờ biển (Boruff và nnk, 2005) Trong những năm gần đây, nghiên cứu MĐTT do biến đổi khí hậu được đặc biệt quan tâm, điển hình là các công trình nghiên cứu của IPCC (2001, 2007) Tuy nhiên, hướng nghiên cứu về tổn thương theo tiếp cận tổng hợp các tác nhân và đối tượng tổn thương còn ít được thực hiện (Cutter, 1996, NOAA, 1999, 2001; SOPAC, 2004) Cùng với phương pháp viễn thám và GIS đã được các nhà nghiên cứu MĐTT áp dụng để xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về các chỉ tiêu đánh giá MĐTT, chỉ tiêu đánh giá mức độ nguy hiểm do tai biến, chỉ tiêu đánh giá mật độ đối tượng bị tổn thương, chỉ tiêu đánh giá khả năng ứng phó

Trang 11

Hiện nay, hướng nghiên cứu về dự báo mức độ tổn thương ngày càng thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học Kết quả phân vùng dự báo mức độ tổn thương tài nguyên, môi trường là cơ sở khoa học quan trọng giúp các nhà hoạch định chính sách có được một bức tranh tổng thể về ảnh hưởng của các hoạt động tự nhiên, nhân sinh và các qui hoạch phát triển kinh tế, xã hội đến tài nguyên, môi trường trong tương lai, từ đó đưa ra các giải pháp thích ứng và qui hoạch sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường (Steinitz và nnk, 2003) Các nghiên cứu về dự báo mức độ tổn thương chủ yếu tập trung vào tai biến môi trường

và biến đổi khí hậu (DCCEE, 2011; Dixon, 2004; EPA, 2004; Jain và nnk, 2007) và

dự báo trong khoảng thời gian dưới 60 năm (DCCEE, 2011)

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về MĐTT được xây dựng dựa vào hệ

cơ sở dữ liệu bao gồm: các yếu tố gây tổn thương (các tai biến, các yếu tố ảnh hưởng tới đặc điểm tự nhiên, xã hội); đối tượng bị tổn thương (tài nguyên, môi trường, cơ sở hạ tầng, cộng đồng người…) và khả năng ứng phó/phục hồi của hệ thống Các nghiên cứu về tổn thương và dự báo mức độ tổn thương đã và đang đóng góp đáng kể trong việc quản lý tổng hợp, khai thác bền vững tài nguyên, hình thành các chương trình ưu tiên và bảo tồn, hoạch định chính sách, định hướng qui hoạch phát triển kinh tế, xã hội làm cơ sở cho đánh giá môi trường chiến lược và qui hoạch cơ sở hạ tầng… tiếp cận gần với mục tiêu sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên

Trang 12

phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Huế, Đà Nẵng Kết quả nghiên cứu này đã chỉ ra được: khả năng rủi ro cao cho con người (khoảng 17 triệu người trong đó có 14 triệu người thuộc đồng bằng sông Cửu Long chịu tác động của lũ lụt hàng năm); tài nguyên (khoảng 1.700 km2

đất ngập nước), trong đó khoảng 60 % là đất ngập nước (ĐNN) ven biển bị ảnh hưởng bởi dâng cao mực nước biển); vốn đầu tư cho xây dựng để bảo vệ sinh cảnh ở các vùng châu thổ thấp ven biển (đê, kè,…) khi nước biển dâng cao 1m mất khoảng 24 tỷ USD/năm

Thêm vào đó là các công trình nghiên cứu, đánh giá MĐTT do lũ lụt mà tập trung vào đánh giá sự mất mát trong nông nghiệp (FAO, 2004); đánh giá MĐTT xã hội và khả năng phục hồi ở Việt Nam khi môi trường thay đổi (Adger và nnk, 2000) Nghiên cứu về khả năng bị tổn thương xã hội ở huyện ven biển miền Bắc Việt Nam (huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định) do sự hợp tác của Trung tâm Nghiên cứu, Giáo dục và Phát triển Môi trường của Việt Nam và Quỹ hỗ trợ Nghiên cứu Nhiệt đới của Hà Lan Kết quả nghiên cứu cho thấy, do sự đổi mới về kinh tế bắt đầu từ giữa thập kỷ 80 đã làm tăng tính bất công bằng trong thu nhập và phúc lợi địa phương gây ảnh hưởng tới năng lực thích nghi của người dân địa phương khi phải đối mặt với cả sự thay đổi tổ chức và những ảnh hưởng của sự thay đổi khí hậu Nghiên cứu “Giảm thiểu tổn thương do lũ lụt và bão ở tỉnh Quảng Ngãi” và

“Khả năng phục hồi của cộng đồng dân cư ở Đồng bằng sông Cửu Long do tai biến thiên nhiên” được chính phủ Úc tài trợ và thực hiện trong giai đoạn 2004 - 2009

Năm 2005, trong luận án tiến sỹ, Lê Thị Thu Hiền đã thành lập bản đồ MĐTT đới ven biển Hải Phòng Các yếu tố ảnh hưởng tới MĐTT đới ven biển Hải Phòng được nêu ra bao gồm: 1) mức độ tai biến được tích hợp từ các dạng tai biến bão lụt, xói lở và bồi tụ ven bờ, trượt lở đất, động đất, tai biến địa hoá đối với tầng nước ngầm, đối với tầng nước mặt và các HST ven biển; 2) mật độ và phân bố các đối tượng chịu tổn thương như con người, tài sản, tài nguyên và các HST; 3) khả năng ứng phó với tai biến của một số yếu tố tự nhiên, kinh tế và xã hội Trong công trình này, khu vực có MĐTT cao tập trung ở khu vực khu nội thành cũ, khu vực nuôi trồng thuỷ hải sản, rừng phòng hộ ven biển và khu bảo tồn san hô MĐTT

Trang 13

trung bình thuộc vùng đất còn lại và MĐTT thấp thường ở vùng biển nông Bản đồ MĐTT được xây dựng bằng phương pháp đánh giá đa chỉ tiêu trong không gian bằng hệ thông tin địa lý và cơ sở dữ liệu, cho phép tích hợp thông tin, gán trọng số cho các lớp thông tin chỉ tiêu, cho phép quá trình tính toán nhanh chóng, chính xác

và cùng một lúc tích hợp được nhiều lớp thông tin với nhau Công trình nghiên cứu này góp phần quản lý tổng hơ ̣p và sử dụng hợp lý tài nguyên đới ven biển Hải Phòng

Nghiên cứu tổn thương là một trong những hướng nghiên cứu chính đã được Mai Trọng Nhuận triển khai từ những năm đầu của thế kỷ XX đến nay với các công trình nghiên cứu điển hình như:

Trong giai đoạn 2001 - 2005, các nghiên cứu MĐTT của hệ thống tài nguyên, môi trường đới ven biển miền Trung và Nam Trung Bộ được Mai Tro ̣ng Nhuâ ̣n đề cập trong các đề tài và chuyên đề địa chất môi trường và địa chất tai biến

Cụ thể trong đề tài “Nghiên cứu, đánh giá MĐTT của đới duyên hải Nam Trung Bộ làm cơ sở khoa học để giảm nhẹ tai biến, qui hoạch sử dụng đất bền vững” được thực hiện trong giai đoạn 2001-2002 Trong công trình này, lần đầu tiên Mai Trọng Nhuận và cộng sự đã xây dựng được phương pháp luận, phương pháp và qui trình đánh giá MĐTT áp dụng cho đới duyên hải Qua đó, bước đầu thiết lập được qui trình công nghệ thành lập bản đồ MĐTT của tài nguyên, môi trường đới duyên hải Nam Trung Bộ Nhận định, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới MĐTT, đánh giá hiện trạng MĐTT và phân vùng MĐTT đới duyên hải Nam Trung Bộ dựa trên các bản

đồ phân vùng mức độ nguy hiểm do tai biến và phân vùng mật độ các đối tượng bị tổn thương (mật độ tài nguyên, hoạt động kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng, ) Kết quả

đã thành lập được bản đồ phân vùng MĐTT các vùng ven biển miền Trung và Nam Trung Bộ theo 4 mức từ thấp đến cao Các nghiên cứu này đã góp phần quan trọng trong công tác giảm thiểu thiệt hại tai biến, bảo vệ tài nguyên và môi trường, qui hoạch sử dụng hợp lý lãnh thổ, lãnh hải ven bờ miền Trung, Nam Trung Bộ nói riêng và ven bờ Việt Nam nói chung

Trang 14

Năm 2006, trong đề tài QG.05.27 “Nghiên cứu đề xuất mô hình, giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên địa chất đới duyên hải, lấy ví dụ vùng Phan Thiết - Vũng Tàu”, vịnh Phan Thiết và vịnh Gành Rái được lựa chọn đánh giá tổn thương Dựa vào kết quả đánh giá MĐTT, đề tài đã đề xuất các giải pháp và mô hình sử dụng bền vững tài nguyên địa chất (điển hình là các hệ sinh thái (HST) nhạy cảm như san

hô, cỏ biển, rừng ngập mặn (RNM), bãi triều của tài nguyên ĐNN, tài nguyên vị thế

và tài nguyên khoáng sản Nghiên cứu này có ý nghĩa to lớn trong phát triển kinh tế,

xã hội bền vững, mở ra các hướng nghiên cứu mới trong nghiên cứu tổn thương ở Việt Nam

Trong đề tài KC.09.05 “Điều tra đánh giá tài nguyên - môi trường các vũng vịnh trọng điểm ven bờ phục vụ phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường” do Mai Trọng Nhuận chủ nhiệm đã đánh giá và thành lập được bản đồ phân vùng MĐTT của hệ thống tài nguyên, môi trường vịnh Tiên Yên và vịnh Cam Ranh Việc đánh giá dựa trên cơ sở phân tích, tổng hợp của ba hợp phần: các yếu tố gây tổn thương (các tai biến, các yếu tố tự nhiên và các hoạt động nhân sinh cường hóa tai biến), các đối tượng bị tổn thương (dân cư, cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp, khu đô thị, các loại tài nguyên…) và khả năng ứng phó của hệ thống Kết quả nghiên cứu

đã góp phần quan trọng trong việc đề xuất các giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên, môi trường và định hướng phát triển bền vững vịnh Tiên Yên và vịnh Cam Ranh

Bên cạnh đó, nghiên cứu tổn thương ở đới ven bờ Việt Nam đã được Mai Trọng Nhuận đề cập trong các chuyên đề “Lập bản đồ hiện trạng địa chất tai biến và

dự báo tai biến vùng biển Nam Trung Bộ từ 0 - 30m nước ở tỷ lệ 1:100.000 và một

số vùng trọng điểm ở tỷ lệ 1:50.000” Cụ thể là đã đánh giá MĐTT đới ven biển Tuy Hòa - Cam Ranh (2002), Cam Ranh - Phan Thiết (2003), Phan Thiết - Mũi Hồ Tràm (2004), Hồ Tràm - Vũng Tàu (2005) Trong các vùng nghiên cứu có các vũng vịnh thuộc đối tượng bị tổn thương như vũng Rô, vịnh Văn Phong, Vịnh Cái Bàn, vũng Bến Gội, vụng Bình Cang - Đầm Nha Phu, vịnh Nha Trang, vịnh Hòn Tre, vịnh Cam Ranh, vũng Bình Ba, vịnh Phan Rang, vũng Phan Rí, vịnh Phan Thiết, vịnh Gành Rái Năm 2004, trong chuyên đề “Thành lập bản đồ tai biến địa chất và

Trang 15

dự báo tiềm ẩn tai biến địa chất vùng biển Cửa Hội - Thạch Hải, Thạch Hội - Vũng Áng (Hà Tĩnh) từ 0 - 30 m nước, tỷ lệ 1:50.000”, MĐTT của hệ thống tài nguyên, môi trường của các vùng ven biển kể trên đã được Mai Trọng Nhuận và cộng sự đánh giá Từ năm 2007 đến nay, nghiên cứu MĐTT đã được Mai Trọng Nhuận và cộng sự thực hiện cho vùng biển từ 30 - 100 m nước trong các chuyên đề “Lập bản

đồ hiện trạng địa chất tai biến và dự báo tai biến” các vùng biển: Hải Phòng - Quảng Ninh, tỉ lệ 1/100.000; cửa Trần Đề - Mỹ Thạch, Lạc Hòa - Vĩnh Trạch Đông; Cửa Nhượng - cửa Thuận An, Ninh Chữ - Hàm Tân, Vũng Tàu - Mũi Cà Mau, tỉ lệ 1:500.000,… Cách tiếp cận nghiên cứu tổn thương trong đánh giá tai biến là công

cụ quan trọng cho việc phòng tránh tai biến, bảo vệ sử dụng hợp lý tài nguyên, môi trường và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế, xã hội theo cách "tiên đoán và ngăn chặn" những tác động tiêu cực của tai biến thay cho cách tiếp cận "phản ứng

và chữa trị" truyền thống

Gần đây nhất, 2009 - 2011, dự án: “Điều tra, đánh giá tổng hợp mức độ tổn thương tài nguyên - môi trường vùng biển và đới ven biển Việt Nam, đề xuất các giải pháp phát triển bền vững” đã được Mai Trọng Nhuận và cộng sự thực hiện bằng phần mềm ArcGIS 9.3 và Expert Choice 11, kết quả là xây dựng cơ sở khoa học và bộ dữ liệu về đánh giá và dự báo MĐTT tài nguyên, môi trường biển Việt Nam phục vụ quản lý, sử dụng, bảo vệ tài nguyên, môi trường biển Việt Nam và phòng tránh, giảm nhẹ tai biến theo hướng sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên Dựa theo đó, những giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng tránh và giảm thiểu các tai biến, thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) trong vùng biển và đới ven biển Việt Nam sẽ được đề xuất

1.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội quận Hải An

1.3.1 Điều kiện tự nhiên

1.3.1.1 Vị trí địa lý

Hải An là quận nội thành, thuộc phía đông nam thành phố Hải Phòng, có toạ

độ địa lý: 20°45’58” - 20°54’36” vĩ độ bắc và 106°44’54” - 106°50’36” (hình 1.1)

Trang 16

Diện tích của quận khoảng 80,39 km2

gồm 8 phường: Đông Hải 1, Đông Hải 2, Đằng Hải, Đằng Lâm, Nam Hải, Tràng Cát, Thành Tô và Cát Bi [9]

Hình 1.1 Sơ đồ khu vực nghiên cứu

1.3.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo

Địa hình khu vực Hải Phòng có tính phân bậc thể hiện xu hướng thấp dần về phía nam Theo Nguyễn Đức Đại (1996), khu vực Hải Phòng có 4 kiểu địa hình chính: núi đá vôi, đồi núi thấp, đồi núi sót và đồng bằng Khu vực ven biển quận Hải An chủ yếu là địa hình đồng bằng ven biển có độ cao từ 2 - 10 m, cao ở phía tây bắc, bắc và thấp dần về phía nam, đông nam tới bờ biển

1.3.1.3 Đặc điểm địa chất

a Các hệ thống đứt gãy

Trong khu vực có ba hệ thống đứt gãy tân kiến tạo và kiến tạo hiện đại với 3 hướng chủ đạo: tây bắc - đông nam; đông bắc - tây nam và á vĩ tuyến

Hệ thống đứt gãy tây bắc - đông nam: đóng vai trò chính phá hủy các thành

tạo địa chất của khu vực, bao gồm: đứt gãy sông Lô cắt qua cửa Thái Bình, đứt gãy

Trang 17

Hải Ninh - Kiến An chạy qua cửa Văn Úc, đứt gãy Kim Thành - Đồ Sơn cắt qua cửa Họng và đứt gãy Kinh Môn - Hải Phòng cắt qua vùng cửa sông Bạch Đằng

Hệ thống đứt gãy đông bắc - tây nam bao gồm: đứt gãy Thụy Anh - Đồ Sơn,

Thái Bình - Hải Phòng, Kiến An - Hải Phòng (đứt gãy Sông Luộc) Các đứt gãy này

có vai trò phá huỷ tầng cấu trúc có trước (PZ, MZ) và khống chế quá trình trầm tích của các thành tạo Kainozoi

Hệ đứt gãy á vĩ tuyến: ít phổ biến gồm các đứt gãy bắc Thuỷ Nguyên (sông

Giá, sông Đá Bạc), đứt gãy Cát Hải - Phù Long, đứt gãy Kinh Môn Hoạt động của các đứt gãy này khống chế phương cấu trúc của các đá Paleiozoi, tạo nên khối tảng

b Các thành tạo địa chất

Các thành tạo địa chất ở khu vực nghiên cứu được chia thành: các thành tạo

đá gốc trước Đệ Tứ và các trầm tích Đệ Tứ Trong đó, các thành tạo trong khu vực

quận Hải An chủ yếu là trầm tích Đệ tứ với nhiều nguồn gốc khác nhau: biển, biển - sông, sông biển, đầm lầy - biển, hồ - đầm lầy Dày 0,1 - 1,5m, cực đại 3 - 4m ở val

bờ Trầm tích phổ biến là các loại hạt mịn như bùn, bột, sét bột, màu tím, xám đen, xám nâu thùy thuộc vào từng loại nguồn gốc

C)

- Mùa Hè (từ tháng 5 đến tháng 9) nóng ẩm, mưa nhiều khí hậu nóng nhất là

từ tháng 4 đến tháng 8 Nhiệt độ không khí trung bình 28 - 29 o

C Trong các tháng 4

và 10 khí hậu của vùng có tính chuyển tiếp giữa mùa Đông và mùa Hè

- Lượng mưa trong vùng nghiên cứu có sự biến đổi theo mùa trong năm và phụ thuộc vào các vùng khác nhau Vào mùa mưa có mưa rất lớn do tác dụng chắn của địa hình, nhất là khi dòng áp thấp hay bão Lượng mưa trung bình năm đạt trên 2.000 mm

Trang 18

Độ ẩm trong vùng nghiên cứu có giá trị thay đổi từ 82 - 85 %, cực tiểu 75 % Tổng lượng bốc hơi 700 - 750 mm/năm

1.3.1.5 Thủy văn, hải văn

a Thuỷ văn

Quận Hải An nằm trong vùng hạ lưu, nơi tập trung các nhánh sông chính của

hệ thống sông Thái Bình tiêu biểu với một số con sông lớn như: sông Lạch Tray, sông Cấm, sông Bạch Đằng (bảng 1.1) Các sông có hướng chảy chủ đạo là tây bắc

- đông nam, độ uốn khúc lớn, bãi sông rộng, phù sa bồi đắp ngày càng nhiều Dòng chảy sông có sự biến đổi rất lớn theo mùa, có thể chia ra thành mùa mưa và mùa khô tương ứng có mùa lũ và mùa cạn Mùa lũ thường bắt đầu chậm hơn mùa mưa một tháng (vào tháng 6 - 10), mùa cạn từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Hàng năm, các sông trong khu vực đưa ra biển hàng triệu tấn bùn cát Lượng bùn cát này tạo thành các doi bãi dọc sông và vùng cửa sông, đóng vai trò rất lớn đối với sản xuất nông nghiệp và góp phần quan trọng trong việc hình thành và mở rộng quỹ đất bồi vùng châu thổ Nhưng đồng thời chúng cũng gây không ít khó khăn cho giao thông thủy, thoát lũ ở thượng nguồn và bồi lấp vùng cửa sông

Bảng 1.1 Các đặc trưng cơ bản của một số sông chính ở Hải Phòng

Nguồn: Viện Tài nguyên và Môi trường biển, 2003

b Hải văn

Khu vực nghiên cứu có chế độ nhật triều khá ổn định và có biên độ cao ở miền Bắc Theo các dữ liệu thống kê tại trạm Hòn Dấu, mực nước triều cao nhất lên tới 3,9 m và mực triều thấp nhất có thể tới 0 m

Chế độ dòng chảy vùng ven bờ và đảo khu vực nghiên cứu phức tạp, thể hiện qua mối quan hệ tương tác giữa thuỷ triều, sóng, gió, dòng chảy sông và địa hình

Độ sâu trung bình (m)

Tốc độ dòng chảy trung

bình (m) Bạch

Lạch

Trang 19

khu vực Trong đó, yếu tố dòng triều là thống trị, có tính chất thuận nghịch, định hướng theo luồng, lạch, cửa sông hoặc song song với đường bờ Tốc độ dòng chảy thay đổi theo mùa và theo địa hình từng khu vực

Độ mặn của vùng biển khu vực nghiên cứu có xu hướng tăng dần từ bờ ra khơi và có sự biến đổi theo mùa Mùa đông độ mặn cao hơn và cực đại có thể lên tới 32 ‰ và thấp hơn vào mùa hè, độ mặn giảm xuống còn 5 ‰ Theo thống kê thì

độ mặn xâm nhập vào trong sông có xu hướng tăng lên từ 1980 đến nay, điều này được lý giải do ảnh hưởng của việc xây các đập thuỷ điện lớn trên các lưu vực sông

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Bảng 1.2 Diện tích, dân số, mật độ dân số các quận thành phố Hải Phòng

Quận

Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Dân số

trung bình (Nghìn người)

Diện tích

Mật độ dân số (Người/km 2

)

Dân số trung bình (Nghìn người)

Diện tích

Mật độ dân số (Người/km 2

)

Dân số trung bình (Nghìn người) Quận Hồng Bàng 112,0 14,4 7.779 102,06 14,40 7.088 -

Quận Ngô Quyền 161,4 11,1 14,542 165,20 11,10 14.883 -

Quận Lê Chân 200,7 12,7 15.802 211,60 12,70 16.661 -

Quận Kiến An 94,8 29,5 3.214 97,38 29,50 3.301 -

Quận Hải An 84,8 104,8 809 102,63 104,8 979 106,297

Quận Đồ Sơn 50,5 42,5 1.188 44,76 42,48 1.054 -

Quận Dương Kinh 46,4 45,8 1.013 48,80 45,80 1.065 -

Nguồn: Niên giám thống kê 2008, 2010

1.3.2.2 Giáo dục - y tế - văn hóa

Sự nghiệp giáo dục luôn nhận được sự quan tâm của chính quyền và nhân dân địa phương Toàn quận có 100 % học sinh lớp 5 được công nhận hoàn thành

Trang 20

chương trình tiểu học Năm 2011, tỷ lệ tốt nghiệp THCS đạt 100 %, THPT đạt 99,27 %, bổ túc văn hóa đạt 98,37 % Tổ chức tốt các hội thi giáo viên giỏi, học sinh giỏi cấp quận

Công tác duy trì sức khỏe của người dân được duy trì tốt và ngày càng được nâng cao Trung bình mỗi phường trong quận đều có trạm y tế Tuy nhiên, cơ sở y

tế ở đây có quy mô nhỏ, chất lượng sử dụng trung bình, chưa đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe của người dân

Quận Hải An luôn thực hiện tốt công tác quản lý các hoạt động văn hóa, dịch

vụ văn hóa Năm 2011, hoàn thành công nhận 131/141 tổ dân phố văn hóa đạt 92,9

%; hộ gia đình văn hóa đạt 93,5 % Hầu hết các phường đều có nhà văn hóa, đây là nơi tập trung sinh hoạt của nhân dân trong toàn quận Thêm vào đó, phong trào văn nghệ quần chúng của quận có chuyển biến tích cực với nhiều nội dung phong phú,

đa dạng Công tác thể dục, thể thao của quận được tổ chức rộng rãi, thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia và cổ vũ

1.3.2.3 Các hoạt động phát triển kinh tế

a Đánh bắt thủy, hải sản

Vùng biển Hải Phòng là một trong những khu vực có mật độ phân bố của các loài hải sản khá cao so với các khu vực khác ở vùng biển vịnh Bắc Bộ Theo Đào Mạnh Sơn (2005) thì các ngư trường khai thác chính ở vùng biển Hải Phòng và các vùng lân cận là: ngư trường Bạch Long Vĩ, ngư trường Cát Bà - Bắc Long Châu, ngư trường Nam Long Châu Theo thống kê của chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản Hải Phòng (2008) thì tổng số tàu thuyền khai thác của toàn thành phố tính đến tháng 7/2008 là 2.863 chiếc, tập trung chủ yếu ở các huyện Thủy Nguyên, Kiến Thụy, Đồ Sơn và Cát Hải Theo thống kê của Chi cục Bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản Hải phòng (2008), nhóm tàu có công suất nhỏ dưới 20 CV có 1.446 chiếc, chiếm 55,7%, nhóm tàu có công suất 20 - 45 CV chiếm 24,7 % tổng số tàu thuyền, với 1034 chiếc Số lượng tàu kích thước lớn chiếm tỉ lệ nhỏ trong cơ cấu tàu thuyền của thành phố Số lượng tàu khai thác hải sản của Hải Phòng tăng liên tục trong những năm từ 1976 đến 1995, sau đó chững lại Những năm gần đây số lượng tàu thuyền không những

Trang 21

không tăng mà giảm đi Tổng công suất máy tàu tăng đều hàng năm, từ năm 1976 đến 2003, sau đó giảm dần Giai đoạn 1995 - 2000, số lượng tàu biến động theo chiều hướng giảm về số lượng, tuy nhiên công suất máy tàu tăng liên tục, chứng tỏ trong giai đoạn này có sự chuyển đổi cơ cấu đội tàu khai thác Các tàu có kích thước nhỏ, công suất máy thấp được dần thay thế bằng tàu có kích thước và công suất máy lớn hơn Tổng số tàu thuyền khai thác thuỷ sản của Hải Phòng năm 2007 là 3.379 chiếc, gồm 861 thuyền không lắp máy và 2.240 tàu lắp máy với tổng công suất 83.316 CV, bình quân chỉ đạt 37,19 CV/tàu, trong đó có 310 chiếc công suất trên 90

CV Do hoạt động đánh bắt thủy sản không phải là một lợi thế của quận Hải An, sản lượng thủy sản khai thác ở quận Hải An luôn giảm từ năm 2000 đến năm 2009 sản lượng khai thác thủy sản luôn giảm, nhưng đến năm 2010 sản lượng có tăng nên một ít

Bảng 1.3 Sản lượng thủy sản khai thác phân theo quận thành phố Hải Phòng (đơn vị: tấn)

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2008, 2010b Nuôi trồng thủy sản

Ngành nuôi trồng thủy sản ở khu vực rất phát triển, với hơn 400 loài hải sản khác nhau, trong đó có 60 loài có giá trị xuất khẩu cao Hải Phòng có những tiềm năng quan trọng để phát triển công nghiệp cá, ngư trường và công nghiệp chế biến hải sản Nhiều khu vực sông và bờ biển của Hải Phòng gần kề vịnh Bắc Bộ nên thích hợp cho việc phát triển nghề nuôi tôm, cá và các loài thủy sản khác Tính đến năm 2009, diện tích đất nuôi trồng thủy sản tại Hải Phòng 13.260 ha Cửa sông Bạch Đằng có diện tích bãi triều có thực vật ngập mặn ngoài đầm nuôi: 3401,9ha, bãi triều có thực vật ngập mặn trong đầm nuôi: 5578,32 ha, diện tích đầm nuôi thủy

- hải sản: 9728,73 ha

Ngành nuôi trồng thủy sản phát triển, một mặt đem lại giá trị kinh tế lớn cho khu vực, nhưng mặt khác lại gây giảm đa dạng sinh học nghiêm trọng, thu hẹp không gian và hạn chế việc trao đổi nước vùng cửa sông, làm chua phèn mặn hóa

Trang 22

đất của các đầm nuôi, gặp nhiều ở các đầm nuôi của Tiên Lãng, Đồ Sơn Do đó, làm suy giảm khả năng ứng phó của khu vực nghiên cứu với lũ lụt, bão và dâng cao mực nước biển

Bảng 1.4 Sản lượng nuôi trồng thủy sản theo các quận thành phố Hải Phòng (đơn vị: tấn)

Quận Lê Chân 95,98 102,33 104,23 104,9

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2008, 2010

Hình 1.2 Đầm nuôi trồng thủy sản bên cạnh sông Bạch Đằng, 2012

Nguồn: Hoàng Văn Tuấn

Sản lượng nuôi trồng thủy sản trong khu vực quận Hải An liên tục tăng từ năm 2005 - 2010 với xu hướng tăng chậm dần Sản lượng nuôi trồng thủy sản trong năm 2010 đứng thứ 5 so với các quận trong thành phố Hải Phòng, sản lượng nuôi trồng thủy sản của Hải An chỉ bằng một nửa sản lượng nuôi trồng của quận Lê Chân (bảng 1.4)

Trang 23

Hình 1.3 Nuôi thủy sản hai bên bờ đê Tràng Cát, 2012

Nguồn: Hoàng Văn Tuấn

c Nông nghiệp

Phát triển nông nghiệp ở Hải Phòng tuy không phải là ngành kinh tế mũi nhọn nhưng lại chiếm tới 60 % dân cư hoạt động trong nghề này Hải Phòng có diện tích đất nông nghiệp không lớn khoảng 67,8 nghìn ha, với diện tích đất trồng cây hàng năm là 55,7 nghìn ha Trong đó, một số nơi rất thích hợp với các giống lúa có chất lượng gạo ngon, như di hương, tám xoan (quận Tiên Lãng) Trên toàn bộ diện tích đất canh tác, có gần 50 % diện tích có thể trồng 3 vụ (2 vụ lúa, 1 vụ màu) với các cây màu chủ yếu như ngô, khoai lang, khoai tây, cà chua,… Đất trồng rau chiếm diện tích khoảng 2500 - 3000 ha, trồng cây thuốc lào vào khoảng 1100-1300

ha (sản lượng hàng năm là 1.000 - 1.300 tấn) Diện tích vườn quả khoảng 2.500 ha Nhìn chung, diện tích đất nông nghiệp của Hải Phòng đang ngày càng bị thu hẹp do chuyển đổi mục đích sử dụng (bình quân mỗi năm giảm 1000 ha) Theo báo cáo của

Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn Hải Phòng năm 2008, tổng đầu tư cho sản xuất nông nghiệp hàng năm, chỉ đạt khoảng 12 - 13 tỷ đồng, bằng 0,4% giá trị sản xuất nông nghiệp, chiếm khoảng 2% so với tổng đầu tư phát triển toàn thành phố

Trang 24

Diện tích đất nông nghiệp của quận Hải An có xu hướng giảm từ năm 2005 -

2009 và giữ nguyên từ năm 2009 - 2010 Hoạt động nông nghiệp không phải là thế mạnh của quận Hải An Diện tích gieo trồng cây lương thực có giảm niên tục từ 593

ha (2005) xuống còn 18 ha (2009), do vậy mà sản lượng lương thực luôn giảm và chỉ còn 26 tấn (2009) Hiện nay, khu vực quận Hải An không còn tập trung phát triển nông nghiệp nữa mà thay vào đó sẽ tập trung phát triển các khu công nghiệp

và nuôi trồng thủy sản

Bảng 1.5 Diện tích đất nông nghiệp phân theo quận của thành phố Hải Phòng (đơn vị: ha)

Quận Hồng Bàng 348 348 205 199 199

Quận Kiến An 1,182 972 1,009 993 804

Quận Dương Kinh - - 1,490 1,483 1,490

Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng năm 2010

d Công nghiệp

Công nghiệp Hải Phòng hiện đang đứng ở vị trí trí thứ 5 trong cả nước, phát triển mạnh trong các ngành: điện - điện tử, cơ khí chế tạo, chế biến nông sản, chế biến hải sản, dệt may, giày dép, hóa chất dân dụng, vật liệu xây dựng và các doanh nghiệp chế biến hàng thủ công - mỹ nghệ Theo báo cáo của Sở Công nghiệp năm

2004, doanh thu năm 2004 đạt được 18269,90 tỷ đồng, tăng trưởng hơn so với năm

2003 là 117,33% Hầu hết các sản phẩm mũi nhọn đều tăng như đóng tầu, giày dép, quần áo may sẵn, xi măng… Ước tính kim ngạch xuất khẩu của ngành công nghiệp đạt 462 triệu USD, chiếm tỷ trọng trên 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của thành phố Tính đến năm 2008, Hải Phòng đã có hơn 10.678 cơ sở sản xuất công nghiệp tập trung ở thành phố Trong đó có nhiều khu công nghiệp phát triển với khả năng

mở rộng các hoạt động kinh doanh mới: Khu công nghiệp Nomura, khu công nghiệp Ðình Vũ và Khu công nghiệp Đồ Sơn Thành phố đã có kế hoạch phát triển thêm 13 khu công nghiệp Bên cạnh các khu công nghiệp hiện có, sẽ xuất hiện những khu công nghiệp đầy tiềm năng khác Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa

Trang 25

bàn thành phố năm 2007 ước tính tăng 21,3% so cùng kỳ; trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 29,2%; khu vực ngoài Nhà nước tăng 23%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 16,7% Các ngành có tăng trưởng khá là ngành đóng và sửa chữa tàu, sản xuất máy móc thiết bị điện, sản xuất từ cao su và Platstic, sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại, sản xuất xe có động cơ (Mai Trọng Nhuận, 2008)

Hình 1.4 Khu công nghiệp Đình Vũ, 2012

Nguồn: Hoàng Văn Tuấn

Xu hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa của Hải An nói riêng và thành phố Hải Phòng đang trên đà phát triển mạnh mẽ, góp phần đẩy nhanh tăng trưởng kinh

tế của khu vực Điển hình trong khu vực nghiên cứu, khu công nghiệp (KCN) Đình

Vũ là một khu công nghiệp đồng bộ, được thiết kế để cung cấp cho các nhà đầu tư quốc tế dựa trên các nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao động có tay nghề cao và tiềm năng thị trường to lớn của khu vực đồng bằng sông Hồng cũng như cả nước KCN Đình Vũ được đầu tư cơ sở hạ tầng nhanh với qui mô và chất lượng đạt tiêu chuẩn ngang tầm các KCN trong khu vực và quốc tế (hình 1.4) Chính vì vậy, KCN đã đạt được tốc độ thu hút đầu tư khá nhanh so với các KCN đóng trên địa bàn Đến năm

Trang 26

2011, các hoạt động ở KCN Đình Vũ đã thu hút được 44 dự án với tổng vốn đầu tư đạt 1,74 tỉ USD, giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động địa phương và các tỉnh lân cận Tuy nhiên, hoạt động phát triển công nghiệp ở khu vực nghiên cứu cũng có những tác động tới tài nguyên, môi trường do thiếu và khó khăn trong việc áp dụng các giải pháp công nghệ cũng như pháp lý trong quá trình xử lý nước thải, khí thải

và chất thải rắn của các KCN

Hình 1.5 Cảng Đình Vũ, 2012

Nguồn: Hoàng Văn Tuấn

e Giao thông vận tải

Là quận có các đầu mối giao thông quan trọng của thành phố Hải Phòng, bao gồm các tuyến đường bộ, đường thuỷ (cả đường sông và đường biển), đường sắt và đường hàng không Địa bàn quận được bao quanh bởi hệ thống sông Lạch Tray, sông Cấm có cửa Nam Triệu đổ ra Vịnh Bắc Bộ Trục đường giao thông liên tỉnh quan trọng nhất chạy qua địa bàn quận là Quốc lộ 5 nối liền Hà Nội với Hải Phòng Các tuyến đường trung tâm thành phố chạy đến quận như: đường Trần Hưng Đạo,

Lê Hồng Phong, đường ra đảo Đình Vũ, Cát Bà Các cảng trong khu vực gồm: cảng Chùa Vẽ, cảng Cửa Cấm, cảng Quân sự và một số cảng chuyên dùng khác Bên

Trang 27

cạnh đó, khu vực có tuyến đường sắt từ Ga Lạc Viên đến cảng Chùa Vẽ và sân bay Cát Bi với các tuyến bay nối Hải Phòng với TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng Các đặc điểm về giao thông vận tải là những lợi thế không nhỏ đã và đang được khai thác phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của quận Hải An nói riêng và thành phố Hải Phòng nói chung.

Hình 1.6 Tuyến đường ra vào cảng Đình Vũ, 2012

Hình 1.7 Phà Đình Vũ đi Cát Hải, 2012

Nguồn: Hoàng Văn Tuấn

Trang 28

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của luận văn gồm:

- Các yếu tố gây tổn thương: các tai biến dâng cao mực nước biển, xói lở, bồi

tụ biến động luồng lạch… và ô nhiễm;

- Các đối tượng bị tổn thương: (dân cư, giao thông, NTTS, ĐNN…);

- Khả năng ứng phó: thành tạo địa chất, địa hình, địa mạo, hệ sinh thái RNM, dân cư, cơ sở hạ tầng

Phạm vi nghiên cứu là khu vực ven biển quận Hải An - thành phố Hải phòng

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp kế thừa

Phương pháp kế thừa và tổng hợp các tài liệu là một phương pháp rất quan trọng trong việc đánh giá tổn thương Từ đó, sẽ cho chúng ta cái nhìn tổng quan nhất về khu vực nghiên cứu và định hướng được những công việc phải triển khai để tiến hành đánh giá MĐTT khu vực nghiên cứu

Tổng hợp và kế thừa các kết quả nghiên cứu về đặc điểm khí tượng thuỷ văn, đặc điểm địa chất, địa mạo, môi trường, các dạng tài nguyên, yếu tố xã hội Các tài liệu này sẽ được phân loại, sắp xếp có trình tự và được định hướng vào nghiên cứu

để xác định các chỉ tiêu đánh giá MĐTT tài nguyên, môi trường bao gồm các chỉ tiêu về : mức đô ̣ nguy hiểm do các tai biến và các yếu tố cường hóa tai biến liên quan; mật đô ̣ các đối tượng bi ̣ tổn thương và khả năng ứng phó của hệ thống tự nhiên - xã hội

Các số liệu, tài liệu thu thập được tổng hợp, phân tích một cách khoa học, logic nhằm sử dụng một cách hiệu quả nhất các thông tin từ khảo sát thực địa và dữ liệu thừa kế Các số liệu thống kê về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tai biến, được xử lý trên phần mềm Microsoft Office Excel 2007 và Arcgis 10.0 server

Trang 29

2.2.2 Phương pháp khảo sát thực địa

Trong quá trình thực hiện luận văn, học viên đã tiến hành khảo sát thực địa nhằm thu thập các dữ liệu thực tế phục vụ quá trình nghiên cứu Phương pháp thu thập thông tin từ những người dân có kinh nghiệm, quan sát thực tế đã được thực hiện trong các chuyến điều tra về các nội dung cụ thể sau:

- Khảo sát điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu: các đặc điểm địa hình, địa chất, thủy văn, khí hậu

- Khảo sát các hoạt động kinh tế - xã hội: dân cư, nông nghiệp, công nghiệp, khai thác, đánh bắt thủy, hải sản

- Khảo sát khu vực quận Hải An: nhận định một số tai biến điển hình (tự nhiên và nhân tạo) đặc điểm, tần xuất, sự phân bố của chúng theo không gian và thời gian Đánh giá sơ bộ hiện trạng các đối tượng bị tổn thương và khả năng ứng phó của khu vực Trên cơ sở đó kết hợp với các dữ liệu bản đồ đã thu thập từ trước

để thành lập bản đồ đánh giá tổng hợp MĐTT tài ngyên, môi trường ven biển quận Hải An - Thành phố Hải Phòng

2.2.3 Phương pháp viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS)

Đặc trưng của GIS có khả năng lưu trữ và xử lý một tập hợp lớn lượng thông tin không gian và thuộc tính của nó, tập hợp thông tin từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau về nội dung, định dạng, lưới chiếu, tỷ lệ, khả năng chồng chập, định dạng khác nhau tạo

cơ sở dữ liệu thống nhất và dễ sử dụng, lưu trữ Các tài liệu sử dụng để xây dựng bản

đồ MĐTT tài nguyên, môi trường ven biển khu vực quận Hải An bao gồm: bản đồ địa hình, bản đồ phân bố các tai biến và các kiểu tài nguyên; các số liệu về thu nhập, mức sống, y tế, văn hóa, giáo dục… Các phương pháp nội suy khoảng cách, mật độ và theo vùng trong phần mềm Arcgis 10 đã được áp dụng để phân tích, đánh giá các hợp phần tổn thương Sau khi tiến hành nội suy, các lớp được phân ra các bậc (reclassify) tương ứng với thang điểm từ thấp đến cao Tùy thuộc vào tính chất từng đối tượng mà có các cách phân chia khác nhau Ví dụ như đối với lớp tai biến xói lở, sử dụng phương pháp nội suy khoảng cách, khu vực càng gần xói lở thì mức độ ảnh hưởng càng lớn, điểm

Trang 30

càng cao Cuối cùng sau khi đã sử dụng phần mềm Expert Choice 11 trong việc lựa chọn trọng số đối với các đối tượng trong từng hợp phần và với từng hợp phần với nhau Bước cuối cùng là tiến hành chồng chập bản đồ để xây dựng bản đồ MĐTT và đưa ra được kết quả phân vùng MĐTT khu vực nghiên cứu

2.2.4 Phương pháp đánh giá tổng hợp mức độ tổn thương tài nguyên, môi trường

a Phương pháp đánh giá

MĐTT ven biển khu vực quận Hải An có thể coi hàm số (V) gồm 3 hợp phần được xác định như sau (Cutter, 2000 và Mai Trọng Nhuận, 2008):

Vxiyj = f (aRxiyj, bPxiyj, cCxiyj) Trong đó:

- Rx i y j là mức độ nguy hiểm của các yếu tố gây tổn thương, được xác định bằng sự tích hợp cường độ, quy mô, tần suất và diện tích ảnh hưởng của những tai biến và các yếu tố cường hóa tai biến có nguồn gốc tự nhiên và con người

- Px i y j là mật đô ̣ các đối tượng bi ̣ tổn thương được xác định theo sự phân bố , vai trò của các đối tượng bị tổn thương

- Cx i y j là khả năng ứng phó, phục hồi và thích ứng với các tai biến và yếu tố cường hoá tai biến

- Khả năng ứng phó của hệ thống tự nhiên: thành tạo địa chất; địa hình địa mạo ven biển; hệ sinh thái RNM

- Khả năng ứng phó của hệ thống kinh tế-xã hội: giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng, công tác bảo vệ, phòng tránh tai biến…

- x i y j là toạ độ địa lý của mỗi pixel (ô lưới) và a, b, c là các giá trị trọng số về

mức độ quan trọng

b Quy trình đánh giá

Các bước đánh giá MĐTT của hệ thống tài nguyên, môi trường ven biển khu vực quận Hải An được tiến hành như sau:

Trang 31

Bước 1: Nhận định, phân tích và đánh giá các hợp phần tổn thương:

- Các yếu tố gây tổn thương: các yếu tố tai biến ven biển khu vực nghiên cứu

(bão, ngập lụt, dâng cao mực nước biển, xói lở…) các yếu tố gây cường hóa tai biến (yếu tố tự nhiên, các hoạt động nhân sinh)

- Các đối tượng bị tổn thương: tài nguyên khoáng sản, tài nguyên ĐNN, các

công trình nhân sinh

- Các đối tượng có khả năng ứng phó: khả năng ứng phó tự nhiên (thành tạo

địa chất, địa hình địa mạo ven biển, hệ sinh thái RNM) và khả năng ứng phó của hệ thống xã hội (giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng, công tác bảo vệ môi trường, phòng tránh tai biến…)

Bước 2: Xây dựng các tiêu chí đối với các yếu tố gây tổn thương (các tai

biến và các yếu tố cường hóa tai biến), các đối tuợng bị tổn thương, khả năng ứng phó với các yếu tố gây tổn thương

Bước 3: Đánh giá, phân vùng mức độ nguy hiểm do các tai biến

Bước 4: Đánh giá, phân vùng mật độ đối tượng bị tổn thương

Bước 5: Đánh giá khả năng ứng phó của hệ thống tài nguyên khu vực trước

các tai biến

Bước 6: Đánh giá, phân vùng MĐTT khu vực nghiên cứu

c Phương pháp thành lập bản đồ đánh giá tổng hợp MĐTT ven biển khu vực quận Hải An

Bản đồ thể hiện MĐTT ven biển khu vực quận Hải An trên cơ sở các bản đồ thành phần như mức độ nguy hiểm do các yếu tố gây tổn thương , mâ ̣t đô ̣ đối tươ ̣ng

bị tổn thương và khả năng ứng phó trước các yếu tố gây tổn thương Các bản đồ này được chồng chập có trọng số tạo nên bản đồ cuối cùng là bản đồ MĐTT Trong đó, trọng số được xác định thông qua việc lựa chọn và đánh giá những yếu tố quan trọng của từng bản đồ thành phần

Trên bản đồ phân vùng MĐTT, mỗi vùng được thể hiện bằng màu sắc khác nhau tương ứng với các chỉ số MĐTT khác nhau Trong đó, vùng MĐTT cao sẽ có

Trang 32

màu đậm hơn và nhạt dần khi chuyển sang vùng có MĐTT thấp hơn Các bản đồ thành phần và sự phân vùng MĐTT được thực hiện nhờ phần mềm Arcgis 10

Hình 2.1 Các bước lập bản đồ MĐTT ven biển khu vực quận Hải An

Các yếu tố gây tổn

thương

- Các tai biến liên

quan: dâng cao mực

nước biển, nhiễm mặn,

xói lở, bão, ngập lụt…

- Các yếu tố cường hóa

tai biến: các yếu tố tự

nhiên, các hoạt động

nhân sinh

Đối tượng bị tổn thương

- Tài nguyên khoáng sản

- Tài nguyên ĐNN

- Công trình nhân sinh …

Khả năng ứng phó

- Khả năng ứng phó của hệ thống tự nhiên: thành tạo địa

chất; địa hình địa mạo ven biển;

hệ sinh thái RNM

- Khả năng ứng phó của hệ thống xã hội: giáo dục,y tế, cơ

sở hạ tầng, công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường, phòng tránh tai biến…

Trang 33

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Đánh giá các yếu tố gây tổn thương ven biển khu vực quận Hải An

3.1.1 Nhận định các yếu tố gây tổn thương

Các yếu tố gây tổn thương tài nguyên, môi trường ở khu vực nghiên cứu bao gồm các tai biến và các yếu tố cường hóa tai biến Một số tai biến điển hình trong khu vực là dâng cao mực nước biển, xói lở, bồi tụ biến động luồng lạch, động đất, bão và ô nhiễm môi trường

3.1.1.1 Dâng cao mực nước biển

Tác động trực tiếp của dâng cao mực nước biển là làm mất quỹ đất tại các vùng đất thấp ven biển Ngoài ra, tác động gián tiếp của nó là cường hóa các tai biến xói lở, ngập lụt, nhiễm mặn và thay đổi đa dạng sinh học Dâng cao mực nước biển khiến các bãi triều ngập sâu hơn, ảnh hưởng đến phát triển của RNM, đặc biệt

là các loài cây có khả năng giữ lại phù sa để bồi đắp cho các bãi đất ven biển Bên cạnh đó, hiện tượng này còn kéo theo sự gia tăng nhiệt độ nước biển và đẩy hàm lượng muối xâm nhập vào các vùng ĐNN ven biển gây bùng phát nhiều dịch bệnh cho các loài sinh vật bám đáy, xáo trộn mạnh mẽ điều kiện sống các sinh vật [7]

Bảng 3.1 Mực nước biển dâng theo các kịch bản phát thải thấp, trung bình và cao (cm) Kịch bản

phát thải

Các mốc thời gian của thế kỷ 21

2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100 Thấp 8-9 11-13 15-17 19-23 24-30 29-37 34-44 38-51 42-58

Trung bình 7-8 11-13 15-18 20-24 25-32 31-39 37-48 43-56 49-65

Nguồn: Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam, 2011

Từ năm 1957 đến 1994 tốc độ dâng lên của mực nước biển là 2,15 mm/năm [1] Giai đoạn 1993 - 2010 cho thấy mực nước biển trung bình dâng lên khoảng 2,9 mm/năm Trong khoảng 50 năm qua, số liệu mực nước biển tại trạm Hòn Dấu (Đồ Sơn) cho thấy mực nước biển đã dâng khoảng 20 cm Nếu mực nước biển dâng cao 0,5 m (tương ứng vào năm 2090), sẽ có khoảng 4,1% diện tích vùng đồng bằng

Trang 34

sông Hồng có nguy cơ bị ngập (ảnh hưởng trực tiếp gần 3,4 % số dân và 2 % chiều dài quốc lộ) Còn theo kịch bản nước biển dâng cao 1 m khu vực động bằng sông Hồng sẽ ngập khoảng 10% diện tích, khi đó toàn bộ diện tích khu vực nghiên cứu sẽ

ra xói lở vùng cửa sông), cộng với các nguyên nhân ngoại sinh do sóng, gió, bão, dòng chảy ven bờ, dòng triều và sự dâng cao mực nước biển Bên cạnh đó, các hoạt động nhân sinh cũng đóng vai trò đáng kể làm tăng tốc độ xói lở, điển hình là hoạt động đắp đê, kè, đập ngăn cản dòng chảy tự nhiên

Trang 35

Theo kết quả nghiên cứu của Trần Anh Tú (2008) cho thấy ở phía nam và đông nam Đình Vũ, đường 0 mHĐ năm 1934 gần như định hướng song song với luồng cửa Cấm và Nam Triệu, tạo nên 2 doi cát triều thấp kéo dài ra phía biển và áp sát hai bên cửa sông này Phần bãi triều thấp ở phía Nam, đường 0 mHĐ lồi lõm dạng răng cưa Vào năm 1991, phần đuôi và phần giữa của các doi cát này bị cắt dời

ra và bị đẩy về phía đông nam tạo nên các bãi cát nổi cao, có đỉnh cao trên mực nước biển trung bình Đường 0 mHĐ có dạng răng cưa thuộc bãi triều thấp phía nam đảo Đình Vũ được vật liệu trầm tích xói mòn ở bãi cao đưa xuống bồi lấp về phía biển Bức tranh chung biến đổi đường 0 mHĐ là mở rộng xuống phía nam (phía cửa sông Cấm), nơi rộng nhất tới 800 m, nhưng lại bị xói phía cửa Nam Triệu

và tạo nên các bãi cát nổi cao trên mực nước biển trung bình Các bãi cát này lại có

xu hướng di chuyển về phía tây và đạt cự ly 700 - 800 m Mười năm sau đắp đập Đình Vũ (1991), luồng lạch cửa Cấm sau đập Đình Vũ bị lấp đầy hoàn toàn và trở thành bãi triều thấp, độ dài xói lở Đình Vũ khoảng 3000 m Đến năm 2001, hai mươi năm sau đắp đập, luồng lạch cửa Cấm sau đập Đình Vũ đã nổi cao đến mực biển trung bình và đã được quai đắp thành nhiều đầm nuôi trồng thủy sản Hiện nay giữa bờ Đình Vũ và bờ Tràng Cát chỉ còn cách nhau 100 - 200 m làm lạch triều lấy nước và tiêu thoát nước đầm nuôi thủy sản Tóm lại xu thế bồi, xói chung ở phía nam, đông nam Đình Vũ là xói lở bãi triều cao, bồi tụ luồng lạch và bồi tụ mở rộng bãi triều thâp đã diễn ra từ rất lâu Đặc biệt sau khi đập Đình Vũ được hoàn thiện, bồi tụ luồng lạch và bờ thấp ở phía tây, tây nam Đình Vũ tăng lên đột biến làm bồi lấp hẳn lạch cửa Cấm, bắt đầu xuất hiện xu thể phát triển bồi tụ mở rộng cả bãi triều cao Tuy nhiên, từ đầu đoạn bờ kè bê tông phía nam Đình Vũ tới cửa Nam Triệu, mức độ bồi tụ bãi cao giảm chậm, xói lở mạnh vẫn diễn ra ở nhiều đoạn thuộc bờ cao

Ngoài ra, trong khu vực nghiên cứu còn nằm trong khối sụt vùng cửa sông Bạch Đằng Đây là quá trình sụt lún hiện đại, theo Nguyễn Cẩn (1996) và Chu Văn Ngợi (1997) khối này có biên độ hạ võng kiến tạo là 500 - 1000 m và tốc độ võng hiện đại là 0,2 - 0,8 mm/ năm Quá trình sụt lún hiện đại và các cửa sông đều có

Trang 36

dạng estuary, tại những nơi giao giữa động lực sông và động lực biển sẽ hình thành nên các dòng xoáy đáy có thể gây xói lở tại các vùng cửa sông

3.1.1.3 Bồi tụ biến động luồng lạch

Ven bờ biển quận Hải An nói riêng và bờ biển Hải Phòng nói chung đang phải đối mặt với vấn đề bồi tụ, nhất là luồng vào cảng Hải Phòng Hai con sông chi phối toàn bộ chế độ thủy văn khu vực là sông Cấm và sông Bạch Đằng, cùng đổ ra biển qua cửa Nam Triệu Tổng tải nước hàng năm qua cửa Nam Triệu là 12 km3

và tải lượng bùn cát xấp xỉ 5 triệu tấn Hàm lượng bùn cát lơ lửng lớn, thay đổi theo mùa Mùa mưa độ đục trung bình ở các trạm thay đổi trong khoảng 53 - 215 g/m3

, cực đại đến 700 - 964 g/m3

Mùa khô độ đục trung bình ở các trạm thay đổi trong khoảng 42 - 94 g/m3

, cực đại đạt 252 - 860 g/m3

, tập trung ở các vùng cửa sông phía ngoài do khuấy động của sóng và dòng triều Tháng 8 thường có tổng lượng bùn cát lớn nhất chiếm từ 35 - 40 % tổng lượng bùn cát trong năm, lượng bùn cát nhỏ nhất thường vào tháng 3 chỉ từ 0,5 - 1 % tổng lượng bùn cát cả năm [8] Trong bảng 3.2, giai đoạn 2001 - 2005, hàng năm khối lượng nạo vét luồng vào cảng Hải Phòng trong các năm gần đây từ 2,3 - 2,9 triệu m3

Bảng 3.2 Khối lượng nạo vét luồng và cảng Hải Phòng (đơn vị: triệu m 3 )

Ngày đăng: 10/03/2021, 18:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w