1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tính đa dạng sinh học động vật không xương sống thuộc hệ sinh thái nước ngọt trong khu bảo tồn thiên nhiên sông thanh, tỉnh quảng nam

115 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 4,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nửa đầu thế kỷ XX, thủy sinh học nước ngọt bắt đầu đi vào nghiên cứu các vấn đề lý luận về chu trình vật chất trong thủy vực với sự tham gia của thủy sinh vật, năng suất sinh học của thủ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Nguyễn Thành Trung

ĐÁNH GIÁ TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC ĐỘNG VẬT KHÔNG XƯƠNG SỐNG THUỘC HỆ SINH THÁI NƯỚC NGỌT TRONG KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN SÔNG THANH, TỈNH QUẢNG NAM LÀM CƠ SỞ KHOA HỌC CHO BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN HỢP LÝ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Nguyễn Thành Trung

ĐÁNH GIÁ TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC ĐỘNG VẬT KHÔNG XƯƠNG

SỐNG THUỘC HỆ SINH THÁI NƯỚC NGỌT TRONG KHU BẢO TỒN

THIÊN NHIÊN SÔNG THANH, TỈNH QUẢNG NAM LÀM CƠ SỞ

KHOA HỌC CHO BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN HỢP LÝ

Trang 3

Tôi xin cảm ơn đến các cá nhân và tập thể Ban Giám hiệu; Phòng Sau đại học; Ban chủ nhiệm Khoa Môi trường cùng các thầy, cô giáo bộ môn Sinh thái môi trường Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập của Ban lãnh đạo Viện Sinh thái

và Bảo vệ Công trình, Trung tâm Nghiên cứu phòng trừ mối Tôi xin cảm ơn các đồng nghiệp Trung tâm sinh thái Bảo vệ hồ chứa nước đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Ngoài ra tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Lãnh đạo, cán bộ công nhân viên Khu Bảo tồn Thiên nhiên Sông Thanh, tỉnh Quảng Nam, nơi tôi đã đến nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn sự quan tâm và khích lệ của bố, mẹ, vợ, các con

và người thân trong suốt quá trình học tập, thực hiện luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Học viên cao học

Nguyễn Thành Trung

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN 3

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐVKXS NƯỚC NGỌT TRÊN THẾ GIỚI 3

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐVKXS NƯỚC NGỌT Ở VIỆT NAM 8

1.3 ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐVKXS 19

1.4 SƠ LƯỢC VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 20

1.4.1 Khái quát về đặc điểm điều kiện tự nhiên 20

1.4.2 Khái quát về đặc điểm kinh tế - xã hội 24

1.4.3 Rừng và ĐDSH 25

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 28

2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 28

2.2.1 Thời gian nghiên cứu 28

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 28

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu và tài liệu 29

2.3.2 Thu thập mẫu ngoài tự nhiên 30

2.3.3 Phân tích vật mẫu 31

2.3.4 Xử lý số liệu 31

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

3.1 ĐẶC ĐIỂM SINH CẢNH CÁC THỦY VỰC NGHIÊN CỨU 33

3.1.1 Đặc điểm sinh cảnh các điểm nghiên cứu 33

3.1.2 Đặc điểm thủy lý, hóa học tại các thủy vực nghiên cứu 37

Trang 5

3.2 HIỆN TRẠNG ĐDSH ĐVKXS Ở NƯỚC TẠI CÁC THỦY VỰC NGHIÊN

CỨU 39

3.2.1 Thành phần loài và cấu trúc quần xã ĐVKXS ở thủy vực 39

3.2.1.1 Động vật nổi 41

3.2.1.2 Động vật đáy 43

3.2.2 Biến động thành phần loài và mật độ ĐVKXS ở thủy vực theo mùa 45

3.2.2.1 Biến động thành phần loài ĐVKXS ở thủy vực theo mùa 45

3.2.2.2 Biến động mật độ ĐVKXS ở thủy vực theo mùa 48

3.2.3 Đánh giá hiện trạng ĐDSH của ĐVKXS ở một số thủy vực tại khu vực nghiên cứu 49

3.2.3.1 Động vật nổi 49

3.2.3.2 Động vật đáy 50

3.2.4 Các loài trong Danh lục Đỏ của IUCN 2016 (IUCN Redlist) 51

3.3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN HỢP LÝ ĐDSH ĐVKXS Ở THỦY VỰC NGHIÊN CỨU 53

3.3.1 Những tác động tiêu cực ảnh hưởng đến môi trường và ĐDSH ĐVKXS ở nước 53

3.3.1.1 Công tác quản lý, bảo vệ rừng 53

3.3.1.2 Tác động của BĐKH 54

3.3.2 Đề xuất các định hướng bảo tồn và phát triển ĐDSH ĐVKXS ở nước 55

3.3.2.1 Nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ ĐDSH các thủy vực 55

3.3.2.2 Tuyên truyền, giáo dục bảo vệ rừng, bảo tồn ĐDSH, thực hiện các biện pháp ứng phó với BĐKH 56

KẾT LUẬN 58

KIẾN NGHỊ NHỮNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

PHỤ LỤC 69

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ASPT Điểm trung bình cho một đơn vị phân loại (Average Score Per

Taxon)

BMWP Hệ thống quan trắc sinh học (Biologycal Monitoring Working Party) BMWPVIET Hệ thống quan trắc sinh học tại Việt Nam

CCA Phân tích hợp chuẩn (Canonical correspondence analysis)

IUCN Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên

(International Union for Conservation of Nature)

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Các loại đất chính tại khu BTTN Sông Thanh ……… 23

Bảng 1.2 Diện tích các kiểu thảm thực vật khu BTTN Sông Thanh …… 26

Bảng 3.1 Đặc điểm sinh cảnh các điểm mẫu thu 33

Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả đo một số chỉ tiêu thủy lý, hóa học theo mùa các

thủy vực nghiên cứu 38

Bảng 3.3 Số lượng các taxon ĐVKXS ở các thủy vực nghiên cứu 39

Bảng 3.4 Số lượng các taxon ĐVN ở các thủy vực nghiên cứu 41

Bảng 3.5 Số lượng các taxon ĐVĐ ở các thủy vực nghiên cứu 43

Bảng 3.6 Số lượng các taxon thuộc các lớp ĐVKXS ở nước tại khu vực

nghiên cứu vào mùa khô 45

Bảng 3.7 Số lượng các taxon thuộc các lớp ĐVKXS ở nước tại khu vực

nghiên cứu vào mùa mưa 46

Bảng 3.8 So sánh số lượng loài thuộc các lớp ĐVKXS ở nước tại khu vực

nghiên cứu giữa hai mùa 48

Bảng 3.9 Mật độ trung bình ĐVKXS ở nước tại khu vực nghiên cứu theo mùa 49

Bảng 3.10 Danh lục các loài trong danh lục Đỏ 51

Bảng 3.11 Kịch bản biến đổi nhiệt độ, lượng mưa và mực nước biển dâng

tại tỉnh Quảng Nam 54

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ các điểm thu mẫu ……… 29

Hình 3.1 Tỷ lệ thành phần loài ĐVKXS ở các thủy vực nghiên cứu 40

Hình 3.2 Số lượng các taxon ĐVN ở các thủy vực nghiên cứu 42

Hình 3.3 Tỷ lệ % các taxon theo các bậc phân loại của các lớp ĐVĐ ở các

thủy vực nghiên cứu 44

Hình 3.4 Tỷ lệ % số loài thuộc các lớp ĐVKXS ở nước tại các thủy vực

nghiên cứu vào mùa khô 46

Hình 5 Tỷ lệ % số loài thuộc các lớp ĐVKXS ở nước tại các thủy vực

nghiên cứu vào mùa mưa 47

Hình 3.6 Chỉ số H’ của ĐVN theo các điểm nghiên cứu 50

Hình 3.7 Chỉ số H’ của ĐVĐ theo các điểm nghiên cứu 50

Trang 9

MỞ ĐẦU

Sau khi Công ước đa dạng sinh học được 157 nước ký kết tại Rio de Janeiro (1992), việc nghiên cứu, bảo tồn ĐDSH đã được đẩy mạnh ở nhiều góc độ khác nhau trên phạm vi toàn cầu Ở Việt Nam, sau khi Luật ĐDSH được Quốc hội khóa XII thông qua, các nghiên cứu về ĐDSH phục vụ công tác bảo tồn và phát triển bền vững là một trong những định hướng quan trọng được quan tâm nghiên cứu Các nghiên cứu này đã và đang thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học trong và ngoài nước ĐDSH là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật, vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp tồn tại trong môi trường

Động vật không xương sống nước ngọt là nhóm sinh vật rất phong phú và đóng vai trò quan trọng trong các hệ sinh thái nước ngọt và trong đời sống của con người

Tại các thủy vực nước ngọt, ĐVKXS tham gia vào các quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng, là mắt xích quan trọng trong mạng lưới thức ăn của thủy vực và tạo sự cân bằng cho các thủy vực Ngoài ra, nhiều loài còn là sinh vật chỉ thị

để đánh giá chất lượng nước ở các thủy vực

Trong đời sống sinh hoạt, từ xa xưa, con người đã biết sử dụng ĐVKXS để làm thực phẩm, làm đồ trang trí… Ngày nay, nhờ có các nghiên cứu khoa học và kinh nghiệm của mình, con người đã thuần hóa và nuôi trồng được rất nhiều loài ĐVKXS nước ngọt có giá trị kinh tế cao

Việc điều tra, nghiên cứu, khai thác và sử dụng hợp lý, phát triển bền vững nguồn lợi ĐVKXS ở các thủy vực là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với con người cho hôm nay cũng như trong tương lai Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, nhiều nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu ĐVKXS ở nước tại các Vườn quốc gia

và khu Bảo tồn thiên nhiên Thống kê của Cục Kiểm lâm Việt Nam, nước ta có 167 khu BTTN, trong đó có 31 VQG, 64 khu dự trữ thiên nhiên, 13 khu bảo tồn loài/sinh cảnh, 59 khu bảo vệ cảnh quan

Khu BTTN Sông Thanh, tỉnh Quảng Nam nằm trên địa phận 12 xã và 1 thị trấn của 2 huyện Phước Sơn và Nam Giang, có diện tích 93.249 ha vùng lõi và 108.398 ha vùng đệm Đây là một trong những khu BTTN lớn nhất cả nước Nhờ có diện tích rừng tự nhiên rộng lớn, gần như nguyên sinh với kiểu rừng lá rộng thường xanh nên hệ động, thực vật rừng ở đây rất đa dạng Khu BTTN Sông Thanh không

Trang 10

chỉ quan trọng trong công tác bảo tồn ĐDSH mà còn có vai trò lớn trong việc bảo

vệ đầu nguồn hai hệ thống sông chính và lớn nhất tỉnh Quảng Nam là sông Vu Gia

và sông Thu Bồn

Trước đây, tại khu vực này chỉ có các nghiên cứu về ĐDSH của các hệ sinh thái trên cạn, tập trung vào các sinh vật có kích thước lớn như chim, thú, thực vật bậc cao… mà còn thiếu các tài liệu nghiên cứu về ĐDSH ĐVKXS ở nước

Từ những lý do nêu trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá tính đa dạng sinh học Động vật Không xương sống thuộc hệ sinh thái nước ngọt trong khu Bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, tỉnh Quảng Nam làm cơ sở khoa học cho bảo tồn và phát triển hợp lý”

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

- Nghiên cứu hiện trạng ĐDSH ĐVKXS tại một số thủy vực thuộc khu BTTN Sông Thanh, tỉnh Quảng Nam;

- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển hợp lý ĐDSH ĐVKXS tại

một số thủy vực nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trong khuôn khổ của dự án “Điều tra xây dựng cơ

sở dữ liệu ĐDSH tỉnh Quảng Nam” mà học viên là thành viên tham gia thực hiện

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐVKXS NƯỚC NGỌT TRÊN THẾ GIỚI

Thủy sinh học bao gồm thủy sinh học biển và thủy sinh học nước ngọt Những nghiên cứu về thủy sinh học nước ngọt đã có từ thời cổ đại, bằng chứng là các tài liệu của thời cổ Ai Cập, cổ Trung Quốc, cổ La Mã về đời sống thủy sinh vật được con người sử dụng Tuy nhiên, phải đến giữa thế kỷ XIX, thủy sinh học mới thực sự trở thành khoa học [28]

Giai đoạn đầu của hoạt động nghiên cứu thủy sinh học nước ngọt đầu thế kỷ XVII - XIX, sự phát triển của thủy sinh học nước ngọt gắn liền với sự phát triển của hồ ao học, địa lý và thủy học Các tác giả đầu tiên nghiên cứu về đặc tính các hồ

là Simonius, nghiên cứu về độ trong nước các hồ ở Thụy Điển; De Saussure (1779) nghiên cứu về nhiệt độ nước và độ sâu các hồ ở Giơnevơ (Thụy Sĩ); Dybovski và Godlevski (1870, 1897) nghiên cứu về địa lý và sinh học hồ Baican (Nga) Các nghiên cứu điều tra về khu hệ thủy sinh vật tại từng địa phương chỉ mang tính chất

cơ bản, chưa chuyên sâu Đây có thể coi là những cơ sở đầu tiên của thủy sinh học nước ngọt mà khởi đầu từ thủy sinh học các hồ [28]

Lịch sử phát triển thủy sinh học nước ngọt còn được thúc đẩy vào cuối thế

kỷ XIX bởi sự ra đời của các thiết bị hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu như: đĩa Secchi, lưới vớt sinh vật phù du, gầu thu mẫu sinh vật đáy… đã tạo điều kiện cho quá trình nghiên cứu định lượng Một số trạm nghiên cứu thủy sinh học nước ngọt lần lượt được thành lập như trạm Plon ở Đức (1891), Glubokoe ở Nga (1894), Illinois ở Mỹ (1894) và các trạm ở Thụy Điển, Đan Mạch Nói chung, ở thế kỷ XIX, những nghiên cứu thủy sinh học nước ngọt chỉ mang tính chất điều tra [28]

Nửa đầu thế kỷ XX, thủy sinh học nước ngọt bắt đầu đi vào nghiên cứu các vấn đề lý luận về chu trình vật chất trong thủy vực với sự tham gia của thủy sinh vật, năng suất sinh học của thủy vực, cơ chế, mối quan hệ và hệ quả của quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng trong thủy vực – được coi như một hệ sinh thái

ở nước Đi đầu cho hướng phát triển này phải kể đến: Welch (1935), Runtter (1940), Hutchison (1957), Thiennman (1925, 1934), Vinbegr (1966) Các tác giả này đã góp phần xây dựng cơ sở lý luận về chu trình vật chất trong thủy vực, quan

hệ giữa các quá trình lý, hóa, sinh học diễn ra trong thủy vực, đưa thủy sinh học cũng như hồ ao học lên một bước phát triển mới [33]

Trang 12

Từ nửa cuối thế kỷ XX, đối tượng được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu chủ yếu là các nhóm ĐVKXS nước ngọt như lớp Chân bụng (Gastropoda), lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia), lớp Giáp xác (Crustacea)… trong khi đó các nghiên cứu về côn trùng nước (Insecta) vẫn còn để ngỏ, ít được chú ý đến Cũng trong giai đoạn này, thủy sinh học nước ngọt tiếp cận với xu hướng mới đó là các vấn đề về ô nhiễm thủy vực do các tác động tiêu cực của sự phát triển công nghiệp, dân cư trên thế giới, gây nên tình trạng suy thoái tài nguyên và môi trường nước ngày càng nặng nề Các vấn đề lớn đặt ra là: Đánh giá, dự báo tình trạng ô nhiễm, hệ quả sinh thái và các giải pháp tái tạo, phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái của môi trường nước, sử dụng các tác nhân sinh học bên cạnh các tác nhân khác [1]

Nghiên cứu về ĐDSH ĐVKXS ở nước có thể kể đến nghiên cứu của Segers (1994 – 2001) cho thấy thành phần các taxon ở một số nước Brunei, Campuchia và Lào là nghèo, chỉ có Thái Lan là phong phú nhất với 310 loài Rotatoria được ghi

nhận Tác giả còn nhấn mạnh, các loài thuộc hai giống Lecane và Brachionus là đặc

trưng cho vùng nhiệt đới [86, 87] Năm 2003, chương trình quan trắc ĐDSH ở khu vực lưu vực sông Mê Kông (bao gồm Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam) với mục đích bảo tồn và phát triển bền vững lưu vực sông Mê Kông đã được tiến hành, trong đó ĐVN và ĐVĐ là hai nhóm ĐVKXS được quan tâm nghiên cứu Riêng kết quả nghiên cứu ở vùng hạ lưu, với 20 điểm thu mẫu (theo báo cáo kỹ thuật hàng năm tính đến năm 2007), ĐVN đã thu được 118 loài, thuộc 61 giống, 31

họ thuộc các nhóm Crustacea (Lớp Giáp xác), Rotatoria (Ngành Trùng bánh xe), Protozoa (Động vật nguyên sinh) ĐVĐ đã thu được 79 taxon, trong đó, Côn trùng

là nhóm giàu loài hơn cả và xuất hiện ở hầu hết các điểm thu mẫu, các đại diện của ngành Thân mềm cũng xuất hiện ở 18 điểm thu mẫu; tiếp đến là nhóm Giun ít tơ (Oligochaeta), chủ yếu là hai họ Tubificidae và Naididae đã tìm thấy ở 14 điểm thu mẫu Tổng hợp các kết quả nghiên cứu của chương trình này đã đưa ra các khóa định loại ĐVKXS ở nước thuộc lưu vực sông Mê Kông Những tài liệu này có vai trò quan trọng trong công tác định loại ĐVKXS nước ngọt trong khu vực [78] Năm

2002 – 2008, một dự án quy mô lớn có tên “Freshwater Animal Diversity Assessment (FADA)” được thực hiện dưới sự tài trợ của nhiều tổ chức như: Tổ chức bảo tồn ĐDSH (CDB), Viện nghiên cứu Quốc gia Pháp (CNRS)… và sự quy

tụ của 163 nhà khoa học trên toàn thế giới nhằm đánh giá tổng quan về mức độ ĐDSH ở bậc giống và loài động vật, thực vật trong các hệ sinh thái nước ngọt trên

Trang 13

thế giới [49] Một số các nhà khoa học tham gia nghiên cứu như: De Moor, Ivanov (Insecta: Trichoptera) [61], Vincent và cộng sự (Insecta: Odonata) [92], Helen M Baber-James và cộng sự (Insecta: Ephemeroptera) [65] Kết quả nghiên cứu đã mô

tả 125.531 loài động vật nước ngọt, chiếm 9,5% tổng số loài động vật được công nhận trên toàn cầu (1.324.000 loài): trong đó Insecta chiếm ưu thế với: 75.874 loài (chiếm 60,4%); động vật có xương sống: 18.235 loài (chiếm 14,5%); Crustacea: 11.990 loài (chiếm 10%); Arachnida: 6.149 loài, (chiếm 5%); Mollusca: 4.998 loài (chiếm 4%); Rotifera: 1.948 loài (chiếm 1,6%), Annelida: 1.761 loài (chiếm 1,4%), Nematoda: 1.808 loài (chiếm 1,4%), Platyhelminthes (Turbellaria: 1.297 loài, chiếm 1%); số ít là Collembola và các nhóm khác như Bryozoa, Tardigrada [50]

Trùng bánh xe (Rotatoria) được quan tâm nghiên cứu nhiều trong thời gian gần đây Năm 2004, Yule và Yong đã tổng hợp trên thế giới có khoảng 1.800 loài thuộc 125 giống, 33 họ [94] Đến năm 2008, Segers xác định được 2.031 loài trùng bánh xe trên toàn thế giới, thuộc hai nhóm chính là Monogononta và Bdelloidea Bên cạnh đó, tác giả đi sâu tích về ĐDSH ở bậc giống, loài, cung cấp thêm nhiều dẫn liệu về phân bố, sinh thái học [87]

Về Giáp xác (Crustacea), đã xác định khoảng 620 loài Cladocera trên thế giới qua nghiên cứu của Forró và cộng sự năm 2008 Các tác giả cũng ước tính số lượng thực tế cao hơn từ 2 đến 4 lần [22] Đối với tôm, cua (Decapoda) có các công trình mô tả nhiều giống và loài mới như: Darren và Nguyen (1999) đã mô tả 1 loài cua mới ở Việt Nam [58]; Darren và cộng sự đã mô tả 1 giống cua mới thuộc họ Potamidae ở Thái Lan vào năm 2000 [57], 1 loài cua mới thuộc giống

Esanthelphusa tại Lào vào năm 2004 và 3 loài cua mới thuộc giống Hainanpotamon

tại Trung Quốc, Việt Nam và Lào vào năm 2007 [59]; Naiyanetr (2001) cũng đã mô

tả 1 loài cua mới thuộc họ Potamidae tại Thái Lan [77] Năm 2008, các nghiên cứu của Darren, Peter và cộng sự (Crustacea: Decapoda: Brachyura) [56], De Grave, Cai, Anker (Crustacea: Decapoda: Caridea) [60] về giáp xác đã bổ sung thêm nhiều dẫn liệu về thành phần loài và phân bố trong khu vực sông Mê Kông

Những năm gần đây, các công trình tiêu biểu về Thân mềm là: Yule và Yong thống kê có 6 bộ, 20 giống thuộc lớp Chân bụng (Gastropoda), 5 bộ và 12 giống thuộc lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) [94]; năm 2008 Bogan xác định 19 họ thuộc 3 phân lớp Bivalvia ở nước ngọt [52]

Trang 14

Về Côn trùng thủy sinh (Insecta), tiêu biểu có công trình của McCafferty tiến hành năm 1983 nghiên cứu về côn trùng thủy sinh tại khu vực Bắc Mỹ Tác giả

đã xây dựng khóa định loại côn trùng thủy sinh đến họ, xác định được 10 bộ côn trùng thủy sinh với tổng cộng 139 họ Trong đó, Ephemeroptera: 17 họ, Odonata:

11 họ, Plecoptera: 9 họ, Hemiptera: 17 họ, Megaloptera: 2 họ, Lepidoptera: 4 họ, Coleoptera: 24 họ, Trichoptera: 18 họ, Diptera: 36 họ và ít nhất là Neuroptera chỉ có

1 họ Thêm vào đó, tác giả cũng cung cấp thêm các dẫn liệu về tiến hóa, địa động vật, phân bố của một số nhóm côn trùng thủy sinh [75] Đến năm 1996, Merritt và Cummins tiếp tục các nghiên cứu về côn trùng thủy sinh và bán thủy sinh ở Bắc

Mỹ Công trình nghiên cứu này đã đưa ra hệ thống phân loại rất rõ ràng, đặc biệt ở

bộ Trichoptera , Diptera, các họ của bộ Collembola và Orthoptera sống ở nước [76] Tại khu vực Châu Á có nghiên cứu của John và cộng sự (1994) xây dựng các khóa định loại các bộ côn trùng thủy sinh ở Trung Quốc đến giống với nhiều đặc điểm phân loại được minh họa cụ thể Ngoài ra, nhóm tác giả còn nghiên cứu khả năng sử dụng chúng để đánh giá chất lượng các thủy vực nước ngọt dựa vào mức độ xuất hiện của từng nhóm [69] Bên cạnh đó có nhiều các nghiên cứu riêng biệt về từng

bộ côn trùng như nghiên cứu của Nieser và Chen (1991) về họ Naucoridae, Nepidae, Notpnectidae (Insecta: Hemiptera) tại Indonesia [79]; nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera) tại Trung Quốc và các khu vực lân cận trong dự án China Water Beetle Survey [68]

Các lớp ĐVKXS khác cũng được quan tâm nghiên cứu như Healy và cộng

sự (1999) nghiên cứu về giun ít tơ ở nước [64]; Abebe và cộng sự nghiên cứu về sinh thái học và phân loại giun tròn nước ngọt [46]; Bartsch (2008) nghiên cứu về nhện nước ngọt [51]

Một trong những hướng nghiên cứu về ĐVKXS nước ngọt là nghiên cứu tương quan giữa các yếu tố môi trường với quần xã ĐVKXS ở nước Theo Braak và

Verdonschot (1995) , CCA (phương pháp phân tích hợp chuẩn) là một trong những phương pháp phổ biến được sử dụng trong các nghiên cứu thủy sinh vật học, trong

đó ĐVKXS ở nước là một trong những đối tượng được nghiên cứu Phương pháp CCA thường được sử dụng nhằm xác định thành phần môi trường trong dữ liệu về

hệ sinh thái, đặc biệt là các thành phần môi trường là yếu tố giới hạn của hệ sinh thái [53] Ứng dụng phương pháp CCA, Lonergan và cộng sự (1996) đã xác định mối tương quan của 72 loài ĐVĐ với các yếu tố môi trường như pH, nồng độ canxi,

Trang 15

độ dẫn, mùa sắc và đặc điểm về hình thái trong 45 hồ ở Canada Kết quả đã xác

định Hyallela azteca là loài có chỉ thị tốt nhất với pH [73] Nghiên cứu của Donald

và cộng sự (1993) về mối quan hệ giữa ĐVKXS ở 40 hồ thuộc vụng Ontario và các yếu tố môi trường Kết quả cho thấy quần xã ĐVKXS không có mối quan hệ chặt với hình thái hồ nhưng quan hệ chặt với các yếu tốt môi trường, đặc biệt là pH [62] Ảnh hưởng của pH lên ĐVKXS cũng được khẳng định trong các nghiên cứu của Lee và cộng sự (1992) [72], Lonergan và Rasmunssen (1996) [73] Guerold (2000)

đã thu được 151 taxa tại 41 điểm thu mẫu khi nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình axit hóa các suối đầu nguồn ở dãy núi Vosges (Pháp) đối với quần xã ĐVKXS cỡ lớn Kết quả nghiên cứu cho thấy sự đa dạng thành phần loài ĐVKXS cỡ lớn có xu thế giảm dần từ cuối nguồn đến đầu nguồn suối nơi có hàm lượng pH thấp, canxi thấp và hàm lượng nhôm cao Tất cả các nhóm sinh vật đều bị ảnh hưởng của quá trình axit hóa, nhưng riêng Mollusca, Crustacea và Ephemeroptera là không xuất hiện ở nơi bị axit hóa mạnh Tác giả cũng cảnh báo, hiện tượng phát thải khí SO2 là mối đe dọa cho các hệ sinh thái đầu nguồn [63] Nghiên cứu của Paukert và cộng sự năm 2003 đã chỉ ra mối tương quan chặt chẽ giữa lớp phủ thực vật và một số chỉ tiêu môi trường nước đối với cấu trúc thành phần loài ĐVKXS trong 30 hồ được nghiên cứu Kết quả cũng chỉ ra rằng, mức độ phong phú của Amphipoda và Gastropoda có tương quan chặt với các loài thực vật thủy sinh Trong khi đó, Chironomidae lại có tương quan với các loài thực vật nổi, mặc dù thành phần loài này chỉ chiếm 28% diện tích mặt hồ [85] Năm 2003, Hunt và cộng sự đánh giá tương quan giữa các yếu tố môi trường và ĐVKXS ở nước của 16 suối tại Oklahoma (Mỹ) cho thấy 3 yếu tố là vị trí của thủy vực, DO và kích thước vật chất tạo nền đáy có ảnh hưởng lớn nhất đến sự phong phú và cấu trúc thành phần loài ĐVKXS ở nước với sự thay đổi của các loài thực vật trong một số đầm lầy thuộc bang Iowa, Mỹ [67]

Đến năm 1997, Maitland và Morgan đã xuất bản công trình quản lý bảo tồn sinh cảnh nước ngọt: hồ, sông và các vùng đất ngập nước, các tác động của con người đối với hệ sinh thái nước ngọt, xây dựng hệ thống như giải pháp quản lý bảo tồn đối với từng loại thủy vực [74] Alison (1987) đưa ra những đặc tính lý hóa của các thủy vực nước chảy như: nhiệt độ, ánh sáng, độ pH, khí oxy hòa tan, các chất hữu cơ có trong dòng chảy [47]

Trang 16

Có thể thấy, các nghiên cứu về ĐVKXS nước ngọt trên thế giới chủ yếu tập trung nghiên cứu về thành phần loài, phân loại học, địa động vật và đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài, mối tương quan với môi trường Các nghiên cứu tổng hợp về thành phần loài tại các vùng/VQG/khu BTTN nhằm mục đích cung cấp dẫn liệu khoa học, làm cơ sở khoa học cho việc bảo tồn và phát triển bền vững còn hạn chế

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐVKXS NƯỚC NGỌT Ở VIỆT NAM

Lịch sử nghiên cứu thủy sinh vật ở Việt Nam đã được ghi chép trong các văn liệu từ thời cận đại, tuy nhiên những dẫn liệu này thường tản mạn và chưa dựa trên

cơ sở nghiên cứu khoa học Từ thế kỷ XVIII, sách Vân Đài Loại Ngữ (1773) của Lê Quý Đôn đã thống kê nhiều loài ĐVKXS và có xương sống ở nước, trong sách cũng

đề cập về nơi tìm thấy, đặc điểm sinh học và sinh thái học của một số ít loài [37]

Tuy nhiên, nghiên cứu thủy sinh học ở Việt Nam thực sự chỉ bắt đầu từ những năm cuối thế kỷ XIX với công trình nghiên cứu về trai ốc nước ngọt của Crosse và Fisher (1863) Hoạt động nghiên cứu thủy sinh vật nước ngọt được đẩy mạnh từ đầu thế kỷ XX với công cuộc khai thác tài nguyên thuộc địa ở Đông Dương của người Pháp, kéo dài cho tới Cách mạng tháng 8 (1945) với các nhà khoa học nước ngoài là chủ yếu Đối với một số nhóm thủy sinh vật như trai ốc nước ngọt, cua nước ngọt thì đây là thời kỳ quan trọng bởi thành phần loài cơ bản của các nhóm này cùng với các loài mới hầu như đều đã được tìm ra [37] Nghiên cứu thủy sinh học nói chung và ĐVKXS nước ngọt nói riêng được chia thành 2 giai đoạn chính: trước năm 1945 (trước Cách mạng tháng 8) và từ năm 1945 đến nay (sau Cách mạng tháng 8) [33]

Giai đoạn trước năm 1945: Bắt đầu từ đầu thế kỷ XIX với nội dung chủ

yếu mang tính chất nghiên cứu điều tra cơ bản khu hệ động vật biển và nước ngọt nội địa, điều tra phân loại học và phân bố địa lý do các tác giả người nước ngoài thực hiện

Trong thời kỳ này, nhóm trai ốc nước ngọt được nghiên cứu nhiều hơn cả Những dẫn liệu đầu tiên về trai ốc nước ngọt Nam Việt Nam và Campuchia đã được Crosse và Fisher công bố từ năm 1863, cho biết 45 có loài trai ốc nước ngọt ở Nam

Bộ Các dẫn liệu này được bổ sung về sau bởi Mabille và Le Mesle (1866), Morlet (1875), Rochebrune (1881, 1882) cho biết có tất cả 168 loài trai ốc nước ngọt của vùng Nam Bộ Việt Nam và Campuchia Morlet (1886), Mabille (1887),

Trang 17

Dautzenberg và Hamonville (1887) có những nghiên cứu về trai ốc nước ngọt tại miền Bắc Việt Nam [37]

Tuy nhiên, các nghiên cứu về thành phần loài trai ốc nước ngọt Việt Nam thời kỳ trước Cách mạng còn nhiều vấn đề về phân loại học chưa rõ ràng, vị trí phân loại, danh pháp phân loại của nhiều loài còn có nhẫm lẫn, nhiều loài mới mô tả còn thiếu căn cứ Chính vì vậy, danh mục thành phần loài trai ốc nước ngọt nước ta trước đây còn chưa ổn định, số loài công bố thay đổi qua từng thời gian và sau các nghiên cứu tu chỉnh phân loại học

Trong nhóm giáp xác, riêng nhóm tôm cua được nghiên cứu nhiều hơn cả về thành phần loài Có thể kể đến các nghiên cứu của Edwards đã mô tả loài cua nước

ngọt Thelphusa longipes Edwards cho Côn Đảo; De Man (1898) tìm thấy 3 loài ở

Việt Nam; Rathbun (từ 1902 – 1906) mô tả 15 loài trong đó có 11 loài ở Nam Việt Nam và 4 loài ở Bắc Việt Nam, thành phần loài này sau đó còn được Balss bổ sung thêm 2 loài vào năm 1914 Cho tới cuối thời kỳ trước Cách mạng, thành phần loài cua nước ngọt ở toàn Việt Nam đã biết gồm 24 [37] Dẫn liệu về tôm nước ngọt ở Việt Nam được De Man công bố lần đầu tiên vào năm 1904 rất nghèo nàn chỉ với 3 loài Thành phần loài tôm nước ngọt sau đó được Sollaud bổ sung thêm 2 loài vào năm 1914 và Bovier bổ sung thêm 3 loài vào các năm 1904, 1920, 1925, trong đó

có 2 loài tìm thấy ở Bắc Việt Nam [37]

Đối với nhóm ĐVN nước ngọt, các nghiên cứu trong thời kỳ trước Cách mạng còn ít ngay cả về thành phần loài Thành phần loài giáp xác nhỏ trong ĐVN ở Bắc Việt Nam hầu như chưa được biết tới, ngoài hai thông báo nhỏ của Richard (1894) về 11 loài giáp xác nhỏ tìm thấy trong các thủy vực nước ngọt ở Lào Cai và của Brehm (1952) về một dạng giáp xác chân chèo mới tìm thấy ở sông vùng Hải Dương Ở vùng phía Nam Việt Nam, các công trình nghiên cứu của Daday (1907) và Stingelin (1905) cũng mới chỉ công bố được 4 loài Copepoda và 11 loài Cladocera [37]

Giai đoạn từ năm 1945 đến nay: Do sự kế thừa và phát huy các thành tựu

nghiên cứu về thủy sinh học của các thời kỳ trước, các nghiên cứu về thủy sinh vật nói chung và khu hệ ĐVKXS ở Việt Nam đã phát triển rõ rệt ở giai đoạn này, với các công trình nghiên cứu do chính các nhà khoa học Việt Nam thực hiện Tiếp đó

là sự thành lập nhiều cơ sở nghiên cứu dẫn tới việc thủy sinh học bước sang một thời kỳ nghiên cứu mở rộng và tương đối hiện đại Đặc biệt là sau năm 1975, với

Trang 18

yêu cầu phục vụ cho việc xây dựng và phát triển đất nước, lực lượng khoa học được thống nhất trên cả nước, được tổ chức lại một cách hợp lý hơn tạo nên những bước phát triển mới cho nghiên cứu thủy sinh học nói chung và ĐVKSX nói riêng [37]

Với mục đích nhằm bổ sung, hoàn thiện khu hệ ĐVKSX nước ngọt Việt

Nam và bổ sung, sắp xếp về vị trí phân loại của một số nhóm đã biết, nghiên cứu về khu hệ ĐVKXS đã trở thành một trong những hướng nghiên cứu quan trọng trong

việc nghiên cứu về ĐVKXS ở Việt Nam vào giai đoạn từ năm 1945 đến nay Một

số nghiên cứu có tính chất toàn diện về ĐVKXS nước ngọt ở miền Bắc nước ta là của Đặng Ngọc Thanh (1980); Đặng Ngọc Thanh và cộng sự (1980) Ở thời điểm này trong các nghiên cứu của các nhà khoa học vẫn chưa có nhiều dẫn liệu về nhóm côn trùng thủy sinh [29, 30]

Ở giai đoạn sau năm 1945 đến nay các nghiên cứu về ĐVKXS chủ yếu là

đề cập đến các nhóm Trùng bánh xe (Rotatoria), lớp Giáp xác (Crustacea), ngành Thân mềm (Mollusca), lớp Côn trùng (Insecta), lớp Hình nhện (Arachnida) Các công trình này nghiên cứu về thành phần loài, đặc trưng phân bố, miêu tả thêm loài mới hoặc tu chỉnh vị trí phân loại nhiều nhóm ĐVKXS nước ngọt đã được công bố Trong đó công trình “Thủy sinh học các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam” của Đặng Ngọc Thanh và cộng sự năm 2002 thống kê số lượng loài ĐVKXS nước ngọt

đã biết ở nước ta được xem là có tính tổng hợp về các nghiên cứu thủy sinh học thủy vực Việt Nam [37] Ngoài công trình này còn có một số công trình chuyên khảo về một số nhóm ĐVKXS nước ngọt được công bố như: “Động vật chí Việt Nam, tập 5” (Đặng Ngọc Thanh và Hồ Thanh Hải, 2001), “Tôm, cua nước ngọt Việt Nam” (Đặng Ngọc Thanh và Hồ Thanh Hải, 2012) [31, 35] Các nghiên cứu nổi bật về các nhóm ĐVKXS cụ thể như sau:

Ngành Trùng bánh xe (Rotatoria) được nghiên cứu đầu tiên bởi Shirota và

Hoàng Quốc Trương vào thời kỳ những năm 1966 [88] Tiếp theo đó và những năm

1980, Đặng Ngọc Thanh và cộng sự đã mô tả 54 loài Trùng bánh xe có trong các thủy vực nước ngọt Bắc Việt Nam Vào năm 2009, Trần Đức Lương và cộng sự đã

bổ sung 3 loài Rotaria mới cho khu hệ ĐVN Việt Nam, bao gồm Lecane ungulata (Gosse), Brachious bidentata Aderson và Euchlanis triquetra Ehrenbgerg [19]

Năm 2012, các nghiên cứu của Trần Đức Lương ở các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam đã xác định 66 loài Trùng bánh xe đồng thời cũng phân tích khá rõ về sự phân bố của các loài theo các vùng sinh thái khác nhau [18]

Trang 19

Đối với lớp Giáp xác (Crustacea), những nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung

nghiên cứu về Giáp xác chân khác, Giáp xác râu ngành, Giáp xác chân chèo, Tôm nước ngọt, Cua nước ngọt và một số loài khác Các nghiên cứu nổi bật trong giai đoạn này được tóm lược như sau:

Năm 2007, Lê Hùng Anh và Đặng Ngọc Thanh đã tổng hợp được 71 loài Giáp xác chân khác thuộc nhóm Amphipoda – Gammaridea ở vùng biển ven bờ Việt Nam Đến năm 2011, Lê Hùng Anh đã xác định 5 loài giáp xác chân khác thuộc nhóm loài rộng muối đã gặp ở một số thủy vực nước ngọt (hang động) ở Tam Cốc, Bích Động; Tràng An- Ninh Bình [2,3]

Các nghiên cứu về Giáp xác râu ngành (Cladocera), nổi bật có các công trình nghiên cứu của Đặng Ngọc Thanh (1980), Đặng Ngọc Thanh và cộng sự (1980) đã định loại được 45 loài giáp xác râu ngành ở các thủy vực nước ngọt nội địa Bắc Việt Nam Từ năm 1975 đến nay, dẫn liệu của 50 loài giáp xác râu ngành trong các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam thuộc các họ Daphniidae, Sididae, Macrothricidae, Bosminidae, Chydoridae đã được mô tả và định loại Năm 2011,

Korovchinsky đã ghi nhận loài Sarsilatona cf fernandoi (Rane, 1983) thuộc họ

Sididae ở Nam Việt Nam [33, 37, 71]

Nghiên cứu về Giáp xác chân chèo (Copepoda) có các công trình tiêu biểu như Đặng Ngọc Thanh (1965, 1977); Đặng Ngọc Thanh và cộng sự (1980); Đặng Ngọc Thanh, Hồ Thanh Hải (1991, 1992, 2001); Hồ Thanh Hải (1996) nghiên cứu ở Bắc Việt Nam; Shirota, Hoàng Quốc Trương (1963- 1964); Phạm Văn Miên (1978); Đặng Ngọc Thanh, Phạm Văn Miên (1979); Đặng Ngọc Thanh, Hồ Thanh Hải (1985, 1996, 1997) nghiên cứu ở Nam Việt Nam Các công trình này đã đưa ra nhiều dẫn liệu về thành phần loài và phân bố của Copepoda Tổng hợp các nghiên cứu đến năm 2001, giáp xác chân chèo Calanoida nước ngọt ở nội địa Việt Nam đã biết được 33 loài thuộc 3 hộ Diaptomidae, Centropagidae và Pseudodiaptomidae [31] Cho đến nay đã có thêm nhiều loài mới được bổ sung cho khu hệ Copepoda ở nước ta như: năm 2007, Hồ Thanh Hải và Trần Đức Lương đã bổ sung 6 loài Copepoda (Cyclopoida, Harpacticoida) dựa trên các vật mẫu được tìm thấy tại sông

Cả và các thủy vực khác thuộc tỉnh nghệ An; năm 2008, Hồ Thanh Hải và cộng sự tiếp tục bổ sung dẫn liệu về 2 loài giáp xác Copepoda thuộc họ Diaptomidae cho Việt Nam [19] Đến năm 2012 Trần Đức Lương đã xác định tổng số 105 loài giáp xác chân chèo phân bố ở các thủy vực nội địa Việt Nam, đồng thời cũng đã phân

Trang 20

tích rất cụ thể về phân bố của các loài này theo vùng địa lý sinh thái tự nhiên, vùng cảnh quan, phân bố Bắc – Nam và theo các loại hình thủy vực [18]

Tôm nước ngọt (Macrura) có thể kể đến các công trình của Đặng Ngọc Thanh (1961, 1976, 1975), Đặng Ngọc Thanh và Nguyễn Huy Yết (1972) đã bổ sung một số loài mới cho miền Bắc Việt Nam, đồng thời các tác giả xem lại vấn đề danh pháp và vị trí phân loại của nhiều loài tôm trước đây Ở miền Nam Việt Nam,

có công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Xuân (1978, 1979, 1981, 1992) về họ Palaemonidea Thành phần loài Tôm nước ngọt liên tục được bổ sung với các nghiên cứu của Đặng Ngọc Thanh năm 1998, Đặng Ngọc Thanh và Hồ Thanh Hải (2001) đã miêu tả và định loại thành phần loài họ Palaemonidae ở Việt Nam bao gồm 24 loài thuộc 6 giống [29, 31, 37]; Cai và cộng sự (1999) công bố một loài

tôm Atyidae mới cho khoa học ở Việt Nam với tên khoa học là Caridina clinata

[54] Đặng Ngọc Thanh và Đỗ Văn Tứ (2007) đã công bố danh sách 14 loài tôm thuộc họ Atyidae đã biết ở Việt Nam, trong đó có 2 loài mới được ghi nhận cho

Việt Nam, thêm vào đó là mô tả 4 loài mới thuộc họ này đó là Caridina pseudoserrata, C rubropunctata, C uminensis và C vietriensis, nâng tổng số loài

tôm Atyidae ở Việt Nam lên 18 loài [38-40]

Các nghiên cứu về Cua nước ngọt (Brachyura) gần đây được quan tâm

nhiều hơn Năm 1999, Yeo và Nguyễn Xuân Quýnh mô tả một loài cua mới cho

khoa học ở Việt Nam, đó là Somanniathelphusa dangi [93] Năm 2001 Đặng

Ngọc Thanh và Hồ Thanh Hải đã công bố 19 loài thuộc 8 giống và 2 họ Potamidae và Parathelphusidae Đến năm 2002, các tác giả đã bổ sung hai loài cua mới thuộc họ Potamidae ở Việt Nam nâng tổng số loài cua ở nước ta lên con

số 21 [31, 32] Mới đây nhất, năm 2011, Nguyễn Xuân Quýnh cùng với các nhà

khoa học nước ngoài đã mô tả 3 loài cua mới thuộc giống Indochinamon Yeo &

Ng., 2007 (Crustacea: Brachyura: Potamoidea: Potamidae) ở Việt Nam là các

loài I bavi, I phongnha và I dangi Bên cạnh đó, các tác giả cũng mô tả lại loài Ranguna kimboiensis Dang, 1975 do mẫu gốc của R kimboiensis đã bị thất lạc

(đây là loài rất hiếm gặp ở nước ta) [89]

Đối với các nhóm giáp xác nước ngọt khác có số lượng loài và vật mẫu tương đối hiếm, vì vậy đến nay không có nhiều dẫn liệu công bố ở Việt Nam Các nhóm này thường xuất hiện trong các nghiên cứu cùng với các nhóm khác chứ chưa có nghiên cứu riêng biệt Trong nghiên cứu của Đặng Ngọc Thanh và

Trang 21

cộng sự (2002) đã thống kê được nhóm Conchostraca có 2 loài thuộc 2 họ, Ostracoda 8 loài thuộc 7 giống và một họ, Isopoda 2 loài và 2 họ và Tanaidacea

1 loài và 1 họ [37] Nguyễn Quang Huy (2010) nghiên cứu về ĐDSH ĐVKXS ở sông Đáy, sông Nhuệ thuộc địa phận tỉnh Hà Nam đã xác định và bàn luận về phân bố của 3 loài Ostracoda [14]

Ngoài các nghiên cứu về Trùng bánh xe và Lớp Giáp xác, ngành Thân mềm cũng được các nhà khoa học tập trung nghiên cứu Các nghiên cứu nổi bật về trai và

ốc nước ngọt của giai đoạn này có thể kể đến như sau:

Năm 1980, Đặng Ngọc Thanh và cộng sự đã công bố 47 loài ốc thuộc 14 họ

và 52 loài trai thuộc 6 họ ở miền Bắc Việt Nam Có thể coi đây là công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về trai ốc nước ngọt Bắc Việt Nam [37] Cũng trong năm 1980,

Đặng Ngọc Thanh đã ghi nhận 2 loài ốc nhồi ở Bắc Việt Nam là Pila conica và Pila polita Các nghiên cứu sau đó tiếp tục bổ sung nhiều dẫn liệu về thành phần loài

cũng như phân bố của các loài trai ốc nước ngọt Việt Nam Năm 2003 Đặng ngọc Thanh và cộng sự đã xác định thành phần loài ốc Ampullariidea ở Việt Nam gồm 2

giống Pila và Pomacea với 5 loài; năm 2004, Đặng Ngọc Thanh và cộng sự đã công

bố 9 loài thuộc 5 giống ốc vặn ở Việt Nam cùng với đó là khóa định loại, bàn luận

về phân loại học và xác định vùng phân bố của từng loài ốc vặn Viviparidea [36] Đặng Ngọc Thanh và cộng sự đã xác định danh sách các loài trai, ốc nước ngọt Việt Nam bao gồm 138 loài thuộc 63 giống, 21 họ với số loài có chiều hướng giảm nhưng số giống lại tăng lên so với những công bố trước đó Các tác giả cũng lưu ý việc thu mẫu bổ sung ở Tây Bắc, Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên cần được chú ý nhiều hơn [34, 37] Năm 2013, Đỗ Văn Tứ và Hoàng Thị Thanh Nhàn đã phân tích, đánh giá và đưa ra một số nhận định về tình trạng bảo tồn các loài trai nước ngọt (Bộ Unionoida) ở Việt Nam, cụ thể là với khoảng 50% số loài bị đe dọa, trai nước ngọt Việt Nam sẽ trở thành một trong những nhóm loài thân mềm nước ngọt bị đe dọa và thiếu dữ liệu [43]

Các nghiên cứu về nhóm Côn trùng nước (Insecta) được quan tâm nhiều trong giai đoạn này với các nghiên cứu về thành phần loài Đặng Ngọc Thanh và cộng sự (1980, 2002) đã xác định 46 loài ấu trùng bộ Diptera [29, 37] Công trình nghiên cứu về Ephemeroptera của Nguyễn Văn Vịnh (2003) ở 55 điểm của Việt Nam đã mô tả 102 loài thuộc 50 giống, 14 họ thuộc bộ Ephemeroptera (Phù du), đồng thời, tác giả cũng xây dựng khóa định loại đến loài của bộ Ephemeroptera

Trang 22

[81] Đến năm 2005, tác giả cùng cộng sự đã mô tả thêm 2 loài mới thuộc họ Heptageniidae, bộ Ephemeroptera ở Việt Nam [82] Năm 2006, tác giả đã bổ sung 3 loài thuộc họ Ephemerellidae, các nghiên cứu trước cũng đã xác định được 5 loài mới thuộc họ Ephemerellidae tại Việt Nam [83] Năm 2005, Hoàng Đức Huy đã xác định 198 loài (14 loài mới, 25 loài lần đầu ghi nhận, 28 loài đã xác định tên khoa học và 131 loài chưa xác định ở dạng ấu trùng) thuộc 58 giống và 24 họ của bộ Trichoptera ở Việt Nam [66] Năm 2008, Trần Anh Đức đã nghiên cứu về họ Gerridae (Heteroptera: Gerromorpha), bước đầu xác định được 64 loài thuộc 26 giống có ở Việt Nam Từ các kết quả nghiên cứu, tác giả đã xây dựng khóa định loại đến loài cho họ Gerridae ở Việt Nam [90]

Về nhóm Giun ít tơ (Oligochaeta) có kết quả nghiên cứu của Đặng Ngọc Thanh và cộng sự vào các năm 1980 và 2000, đã thống kê được 46 loài giun ít tơ, 2 loài giun nhiều tơ nước ngọt chính thức, 5 loài tơ nước lợ, 1 loài giun biển dị nhập vào theo nước triều và 9 loài đỉa Các tác giả nhận định số lượng loài thực tế chắc chắn còn nhiều hơn nữa [29, 37]

Về Nhện (Arachnida) có công trình của Phạm Đình Sắc (2005) đã thống kê

275 loài, 144 giống thuộc 33 họ, trong đó có nhiều họ có đời sống gắn liền với cây thủy sinh như Tetragrathidae (12 loài, 4 giống), Pisauridae (3 loài, 3 giống) [27]

Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu ĐDSH các nhóm ĐVKXS ở nước Các kết quả nghiên cứu này không những cung cấp các dẫn

liệu khoa học phục vụ nghiên cứu cơ bản mà còn sử dụng để đánh giá tổng hợp về tài nguyên thiên nhiên Góp phần giải quyết những vấn đề cấp thiết của đời sống

Có thể kể đến các công trình của Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2004)

đã đưa đến dẫn liệu về thành phần ĐVKXS tại một số thủy vực thuộc VQG

Phong Nha – Kẻ Bàng với 116 loài thuộc 93 họ và 9 lớp Trong đó, Insecta là nhóm phong phú và đa dạng hơn cả, bao gồm 67 họ trong tổng số 93 họ đã gặp (chiếm 72,1%) Thành phần loài chủ yếu là ĐVĐ (chiếm 93,5% tổng số họ), ĐVĐ chiếm rất ít (chỉ chiếm 6,5% tổng số họ đã gặp) [26] Công trình tiếp theo của Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự vào năm 2007 và 2008 với nghiên cứu về thành phần ĐVKXS ở nước sông Đáy, sông Nhuệ (thuộc địa phận tỉnh Hà Nam)

đã xác định được 150 loài thuộc 70 họ, 11 lớp, 6 ngành ĐVKXS (Rotatoria, Arthropoda, Mollusca, Annelida, Coelenterata, Tardigrada) [84] Cũng trong năm

Trang 23

2006-2007, Nguyễn Quang Huy và cộng sự đã xác định 45 loài ĐVN và 74 loài ĐVĐ tại cùng cửa sông Bạch Đằng [80]

Kết quả nghiên cứu của Hoàng Ngọc Khắc (2010) về Giáp xác lớn và Thân mềm ở sông Hồng (từ Phú Thọ đến cửa Ba Lạt) đã các định 248 loài giáp xác lớn, thân mềm ở khu vực nghiên cứu, 38 loài cho khu vực miền Bắc và 26 loài lần đầu được ghi nhận ở Việt Nam Tác giả cũng phân tích các đặc trưng phân bố, biến động số lượng của đối tượng nghiên cứu bước đầu đánh giá hiện trạng nguồn lợi sinh vật và những yếu tố tác động tới nguồn lợi của những loài này trong khu vực nghiên cứu [17]

Năm 2010 Nguyễn Quang Huy nghiên cứu về ĐDSH ĐVKXS ở sông Đáy, sông Nhuệ thuộc địa phận tỉnh Hà Nam và sự biến đổi của nó dưới ảnh hưởng của các hoạt động kinh tế, xã hội đã xác định 210 loài thuộc 7 ngành, 12 lớp, 29 bộ và

81 họ Trong đó, chiếm ưu thế là các nhóm Arthropoda (27,6%), Rotatoria (21%), Insecta (19,5%) và Gastropoda (11,9%); ĐVN có 93 loài và ĐVĐ là 117 loài Khu

hệ ĐVKXS thu được mang tính chất khu hệ vùng đồng bằng Bắc Bộ chủ yếu là các loài phân bố rộng, phổ biến ở các sông vùng đồng bằng Bắc Việt Nam Tác giả đã

đi sâu phân tích biến động thành phần loài ĐVKXS theo mùa, theo các tuyến thu mẫu; đánh giá hiện trạng ĐDSH ĐVKXS tại khu vực nghiên cứu thông qua các chỉ

số đa dạng; Đánh giá mức độ ô nhiễm của sông thông qua hệ thống BMWP và ASPT đã bước đầu xác định xu thế biến đổi ĐDSH ĐVKXS khu vực nghiên cứu dưới ảnh hưởng của các hoạt động kinh tế, xã hội [14]

Đối với khu vực miền Trung, Hoàng Thị Bình Minh và cộng sự (2011) đã khảo sát, đánh giá đa dạng và tài nguyên sinh vật các thủy vực nước ngọt nội địa tỉnh Thừa Thiên Huế qua đó xác định 65 loài ĐVN và 51 loài ĐVĐ phân bố trong các thủy vực nước ngọt khu vực nghiên cứu Thành phần loài của các thủy vực có sự khác nhau theo mùa và theo các dạng thủy vực Đối với ĐVN, thủy vực sông và hồ chứa có số lượng loài mùa khô cao hơn mùa mưa, trong khi đó,

hồ tự nhiên, ao và ruộng lại có số lượng loài mùa mưa cao hơn mùa khô Đối với ĐVĐ, thủy vực sông, hồ chứa và ao có số lượng loài mùa khô cao hơn mùa mưa Trong khi đó, hồ tự nhiên lại có xu hướng ngược lại Riêng ruộng có số lượng loài ĐVĐ không thay đổi theo mùa [20]

Kết quả nghiên cứu về ĐDSH ĐVKXS cùng cửa sông Cả và một số đầm nuôi tôm phụ cận ven biển Nghệ An, Hà Tĩnh của Nguyễn Huy Chiến (2007) đã

Trang 24

phát hiện 328 loài thuộc 211 giống, 126 họ, 46 bộ Trong đó có 131 loài nước ngọt, ĐVN: 70 loài (Copepoda và Cladocera có số loài nước ngọt bằng nhau với 26 loài, Rotatoria: 22 loài, các nhóm khác: 6 loài), ĐVĐ có 61 loài (Gastropoda có số loài lớn nhất với 26 loài, Bivalvia: 12 loài, Polychaeta: 2 loài, Crustacea: 17 loài, các nhóm khác: 4 loài) [9]

Năm 2013, các nghiên cứu về thành phần loài động ĐVKXS ở nước được thực hiện tại một số khu BTTN của tỉnh Thanh Hóa Tại khu BTTN Pù Luông, Nguyễn Quốc Huy và cộng sự đã xác định được 33 loài thuộc 20 giống, 15 họ, 2 ngành Trong đó, Trùng bánh xe (Rotatoria) có số loài nhiều nhất với 21 loài thuộc

10 giống, 7 họ; Giáp xác râu ngành (Cladocera) có 10 loài thuộc 9 giống, 6 họ; Giáp xác chân chèo (Copepoda) có 2 loài thuộc 2 giống, 2 họ [15] Tại khu BTTN Pù Hu, Ngô Xuân Nam và cộng sự đã xác định 38 loài thuộc 22 giống, 16 họ của 2 ngành

là ngành Trùng bánh xe (Rotatoria) và ngành Chân khớp (Arthropoda) [21]

Đối với khu vực Tây nguyên có nghiên cứu của Lê Hùng Anh và cộng sự (2013) về đa dạng ĐVKXS cỡ lớn tại khu vực Tây Nguyên và các loài có nguy cơ

bị đe dọa Kết quả cho thấy ở Tây Nguyên có 60 loài ĐVĐ, bao gồm 17 loài giáp xác và 43 loài trai ốc, trong đó đáng chú ý có 5 loài được coi là đặc hữu ở Việt Nam Các tác giả cũng xác định nguy cơ đe dọa làm suy giảm quần thể và thu hẹp vùng phân bố thủy sinh vật [4]

Tại Nam bộ, Hồ Thanh Hải và cộng sự năm 2005 đã xác định được 70 loài ĐVN thuộc 22 họ của các nhóm Trùng bánh xe, Chân chèo, Râu ngành, Có bao, Chân lá, Chân đều ở các thủy vực trong vùng đầm lầy than bùn U Minh Thượng –

Vồ Dơi Ngoài ra còn thấy 9 – 10 nhóm ĐVN khác chủ yếu có nguồn gốc nước lợ ven biển [13] Cũng trong năm 2005, Hồ Thanh Hải và Đặng Ngọc Thanh nghiên cứu các thủy vực nước ngọt nội địa Đồng bằng sông Cửu Long xác định được 98 loài giáp xác, trong đó nhóm Cladocera: 30 loài, tôm cua nước ngọt: 25 loài, 65 loài trai ốc, 24 loại giun nhiều tơ, 16 loài giun giun ít tơ, 83 loài trùng bánh xe, 27 họ ấu trùng côn trùng ở nước Các tác giả đã nhận xét: Khu hệ ĐVKXS ở đây mang nhiều sắc thái của vùng Ấn Độ - Mã Lai Do sự sai khác về chế độ khí hậu, chế độ thủy văn giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam đã tạo nên đặc trưng phân bố Bắc Nam của khu hệ thủy sinh vật các thủy vực nội địa Việt Nam, đặc trưng này thể hiện rõ ở các nhóm động vật giáp xác và thân mềm [12]

Trang 25

Kết quả nghiên cứu của Ngô Xuân Nam (2014) về đa dạng sinh học ĐVKXS

ở một số thủy vực thuộc khu Bảo tồn Thiên nhiên và Di tích Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, đã xác định 244 loài ĐVKXS ở nước thuộc 177 giống, 97 họ, 24 bộ, 8 lớp, 5 ngành Arthropoda là ngành có số loài nhiều nhất với 185 loài (chiếm 75,8%), tiếp đến là Rotatoria: 38 loài, Mollusca: 15 loài, hai ngành có số loài ít nhất là Annelida:

5 loài và Nemathelminthes: 1 loài ĐVN có 66 loài thuộc 42 giống, 20 họ, 5 bộ, 2 lớp, 2 ngành, chiếm 27% tổng số loài; ĐVĐ có 178 loài thuộc 135 giống, 77 họ, 19

bộ, 7 lớp, 4 ngành, chiếm 73% tổng số loài Tác giả cũng kết luận thành phần loài ĐVKXS ở thủy vực nước chảy và thủy vực nước đứng có khác biệt rõ rệt, đối với ĐVN thì số lượng loài ở thủy vực nước chảy ít hơn nước đứng, đối với nhóm ĐVĐ thì số lượng loài ở thủy vực nước chảy lại phong phú hơn thủy vực nước đứng [22]

Nghiên cứu sử dụng sinh vật chỉ thị để đánh giá chất lượng nước cũng là một

hướng nghiên cứu mới được nhiều nhà khoa học quan tâm

Đây là một trong những nghiên cứu ứng dụng ĐVKXS vào thực tiễn, dễ

sử dụng và mang lại nhiều lợi ích về kinh tế Công trình khoa học về quan trắc

và đánh giá chất lượng nước ngọt bằng ĐVKXS cỡ lớn ở Việt Nam của Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001) với quy mô được tiến hành ở cả hai miền đã đưa

ra một hệ thống tính điểm phù hợp với điều kiện Việt Nam - BMWPVIET (dựa trên hệ thống tính điểm của Anh) Ở phía Bắc, quy trình quan trắc bằng phương pháp sinh học này được tiến hành với suối bắt nguồn từ dãy núi Tam Đảo chảy xuống sông Cà Lồ và đổ ra sông Cầu, còn phía Nam thực hiện ở các thủy vực thuộc Thành phố Đà Lạt, suối Đac Ta Dun đổ ra sông Đa Nhim Các tác giả đã công bố một quy trình quan trắc và đánh giá chất lượng nước ngọt bằng việc sử dụng ĐVKXS cỡ lớn làm chỉ thị [11, 14]

Các nghiên cứu theo hướng này có thể kể đến: Đặng Thị Thanh Huyền (2007) [16] nghiên cứu một số thủy vực thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội; Nguyễn Quang Huy (2010) [14] về chất lượng nước sông Đáy và sông Nhuệ đoạn qua địa bàn tỉnh Hà Nam; Lê Đức Thọ (2011) [41] nghiên cứu sử dụng ĐVKXS cỡ lớn làm sinh vật chỉ thị đánh giá chất lượng nước sông Nhuệ Từ kết quả nghiên cứu, nhìn chung các khu vực trên đều đã và đang ô nhiễm ở mức độ bẩn vừa đến rất bẩn

Nghiên cứu của Hoàng Đình Trung và cộng sự (2011) về đa dạng thành phần loài ĐVKXS cỡ lớn và chất lượng nước mặt ở sông Hương đã xác định 37 loài trong 25 họ ĐVKXS cỡ lớn, trong đó, côn trùng nước chiếm ưu thế, phần lớn các

Trang 26

họ này là các nhóm chỉ thị cho vùng nước sạch, có điểm số BMWP từ 5-10 điểm

Từ các chỉ số ASPT theo hệ thống tính điểm BMWPVIET cho thấy chất lượng nước sông Hương ở hạ lưu bị ô nhiễm hữu cơ mức khá lớn Hầu hết các chỉ số ASPT thu được đều thuộc mức bẩn vừa (α-mesosaprobe) Điều này cũng phù hợp với kết quả phân tích hóa học chất lượng môi trường nước [42]

Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái lên quần xã ĐVKXS ở nước

cũng là hướng nghiên cứu được nhiều nhà khoa học quan tâm Theo hướng nghiên cứu này, Đặng Ngọc Thanh (1980) đã nghiên cứu ảnh hưởng của nước thải tại thành phố Nam Định đối với thủy sinh vật trong đầm nuôi cá Kết quả cho thấy, thành phần loài nhóm Rotatoria chiếm ưu thế cả về số lượng loài và thành phần ĐVN Về ĐVĐ, trong các đầm có nước thải chỉ thấy chủ yếu là giun ít tơ và ấu trùng Chironomidae (Insecta: Diptera), gồm các loài ưa sống trong môi trường nhiễm bẩn, giàu chất hữu cơ [24] Năm 1985, Nguyễn Xuân Quýnh nghiên cứu về sông Tô Lịch

đã kết luận tình trạng ô nhiễm của sông theo các đoạn khác nhau Năm 1995, tác giả cũng đã xếp loại một số thủy vực Hà Nội trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa [24, 25] Các nghiên cứu khác có thể kể đến như: Jung và cộng sự (2007) nghiên cứu về thành phần loài và phân bố theo độ cao của quần xã côn trùng nước ở suối tại Sapa, Lào Cai [70]; Nguyễn Huy Chiến (2007) nghiên cứu mối quan hệ giữa nồng độ muối và độ đục với khu hệ ĐVKXS ở vùng cửa sông Cả và các đầm nuôi tôm phụ cận [9]; Phan Thị Anh Đào và cộng sự (2006) về thành phần thủy sinh vật ở một số nhánh sông trong lưu vực trung lưu sông Cầu [10]; Nghiên cứu của Võ Văn Phú và cộng sự (2009) về ĐVKXS ở hồ Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam [23]; Hồ Thanh Hải (2006) về thành phần ĐVKXS ở nước hệ thống sông Vu Gia, sông Bung, sông Thanh, sông Cái (Quảng Nam)…[1]

Tóm lại trong nhiều năm qua, rất nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu về ĐVKXS ở nước tại Việt Nam, không những nghiên cứu về phân loại học mà còn nhiều nghiên cứu ứng dụng, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học công nghệ, góp phần bảo tồn, phát triển bền vững ĐDSH và kinh tế xã hội

Quảng Nam là tỉnh thuộc khu vực duyên hải Nam Trung bộ, có địa hình đa dạng gồm đồi núi, vùng bán sơn địa và đồng bằng ven biển Hiện nay ở tỉnh đã thành lập được 03 khu bảo tồn: Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh (2000), Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm (2005), Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Sao la (tháng 02/2011) và có 2 khu rừng đặc dụng là Tây Quế Sơn và Ngọc Linh Đã có nhiều

Trang 27

nghiên cứu, khảo sát ĐDSH được thực hiện trên địa bàn tỉnh Đến năm 2010, hiện trạng ĐDSH đã được nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam được thống kê trong

“Kế hoạch hành động ĐDSH tỉnh Quảng Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020” [45] Hệ sinh thái ĐNN cũng được quan tâm nghiên cứu với các đề tài “Điều tra, đánh giá tài nguyên sinh vật khu vực hồ Phú Ninh phục vụ xây dựng khu bảo tồn sinh vật nước ngọt” của Võ Văn Phú và cộng sự năm 2009;

“Khảo sát, đánh giá và đề xuất các giải pháp bảo vệ phục hồi các HST đất ngập nước ven biển Quảng Nam” do Phạm Viết Tích và cộng sự thực hiện năm 2009 Qua đó, xác định khu vực ĐNN ven biển tỉnh Quảng Nam có 128 loài cá, 20 loài thân mềm và 6 loài giáp xác [45]

Ngoài ra, ĐDSH tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm cũng được điều tra làm rõ Theo kết quả điều tra, khảo sát của Viện Hải dượng học Nha Trang cho thấy, tại đây có 282 loài San hô các loại, 47 loài Rong biển, 200 loài cá, 66 loài thân mềm, 16 loài Da gai, 4 loài tôm và 1 loài cua Các loài tập trung chủ yếu ở khu vực rạn san hô ở phía bắc Hòn Khô, Hòn Lá, Hòn Tai và Vũng Cây Chanh – Tây Bắc Hòn Mồ [45]

Có thể thấy, Quảng Nam có hệ động thực vật đa dạng, phong phú Các nhóm sinh vật trên cạn nhìn chung đã được nghiên cứu nhiều, từ đó đưa ra được dẫn liệu

về các nhóm này Trong khi đó, HST dưới nước chưa được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ khi chỉ có các dẫn liệu thành phần loài tại các khu vực ven biển và đảo mà chưa có nhiều nghiên cứu về HST nước ngọt nội địa

1.3 ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐVKXS

Yếu tố môi trường là các yếu tố có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống của sinh vật Các yếu tố này có thể là vô sinh hoặc hữu sinh Một số yếu tố môi trường ảnh hưởng đến nhóm ĐVKXS ở nước có thể kể đến là nồng độ oxy hòa tan (DO), độ pH của môi trường, nồng độ các chất tan trong nước, kích thước vật chất nền đáy, nhiệt độ môi trường, tốc độ dòng chảy Theo nghiên cứu của Hunt (2003) [67] các yếu tố có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của ĐVKXS

là độ cao, nồng độ oxy hòa tan (DO), kích thước vật chất tạo nền đáy, độ pH của môi trường

+ Độ cao: tùy thuộc vào thủy vực ở suối đầu nguồn hay vùng cửa sông mà

có các nhóm ĐVKXS thích nghi khác nhau Vị trí thủy vực sẽ ảnh hưởng tới các

Trang 28

yếu tố khác như nhiệt độ nước, thành phần cơ học đáy thủy vực, thành phần thực vật thủy sinh do tính chất cuốn trôi của dòng chảy Thủy vực thượng lưu sẽ có nền đáy đá, vùng trung lưu có nền đáy cát bùn, vùng hạ lưu có nền bùn cát và bùn [37]

+ DO: oxy trong nước có nguồn gốc từ không khí, từ hoạt động quang hợp của thực vật trong tầng quang hợp Ngoài ra, oxy ở tầng đáy được chuyển từ oxit Mangan (Mn) khó hòa tan trong nước được lắng xuống tầng đáy Nồng độ oxy trong nước biến đổi theo mùa, độ sâu, các quá trình chuyển hóa vật chất trong nước, đặc tính chuyển động của các khối nước [37]

+ Kích thước vật chất nền đáy: nền đáy của thủy vực là điều kiện tồn tại và phát triển của các sinh vật đáy, đồng thời cũng cung cấp nguồn thức ăn và nơi cư trú của nhiều sinh vật trong tầng nước, do đó đặc tính của nền đáy có ý nghĩa quyết định với đời sống thủy vực Đặc tính nền đáy phụ thuộc vào thành phần cơ học của nền đáy và các chất lắng đọng Trong đó, thành phần cơ học của nền đáy sẽ do đặc tính địa chất, thổ nhưỡng của khu vực quyết định; chất lắng đọng là nguồn vật chất hữu cơ khó phân hủy từ xác sinh vật tích tụ ở đáy thủy vực theo chiều thẳng đứng của nền đáy Mỗi loại thủy sinh vật, đặc biệt là động vật đáy sẽ thích ứng với một loại nền đáy riêng biệt, do đó, nếu không tìm được loại nền đáy thích hợp, sinh vật

ấy có thể bị suy giảm số lượng hoặc bị tiêu diệt hẳn [37]

+ Độ pH: độ pH trong nước phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân và được coi như căn cứ để xác định hàm lượng của nhiều thành phần khác Giữa độ pH của nước và thủy sinh vật có mối quan hệ rất mật thiết, hoạt động sống của thủy sinh vật làm thay đổi pH của nước, ngược lại, pH ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến phân bố và hoạt động sống của thủy sinh vật Thay đổi pH sẽ làm thay đổi cân bằng các hệ thống hóa học trong nước, qua đó gián tiếp ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của thủy sinh vật [37]

1.4 SƠ LƯỢC VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.4.1 Khái quát về đặc điểm điều kiện tự nhiên

Khu BTTN Sông Thanh là khu BTTN lớn nhất và được thành lập đầu tiên của tỉnh Quảng Nam Được đầu tư xây dựng từ năm 2000 theo “Dự án đầu tư xây dựng Khu BTTN Sông Thanh” được UBND tỉnh Quảng Nam phê duyệt (theo Quyết định số 3849/QĐ-UB ngày 31/10/2000 về việc phê duyệt dự án đầu tư xây

Trang 29

dựng Khu BTTN Sông Thanh) Đến năm 2007, Ban quản lý Khu BTTN Sông Thanh được thành lập theo Quyết định số 3323/QĐ-UBND ngày 22/10/2007 của UBND tỉnh Quảng Nam [6]

- Phía Nam giáp tỉnh Kon Tum (tại đỉnh đèo Lò So quốc lộ 14A);

- Phía Đông được giới hạn bởi đường phân thủy của 2 hệ thống sông Thanh

và sông Cái (chảy qua huyện lỵ Khâm Đức);

- Phía Tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Khu vực nghiên cứu là vùng đồi núi thấp nằm về hữu ngạn sông Bung, đây

là nơi kết thúc của dãy Trường Sơn Bắc và cũng là nơi bắt đầu dãy Trường Sơn Nam Các đỉnh cao nhất đều nằm gần biên giới Việt Lào như La Dêê (137m), NgọcTion (2032m), Ngọc Lum Heo (2023m)… Nhìn chung, địa hình ở khu vực nghiên cứu cao, dốc và bị chia cắt rất mạnh

Các dãy núi chạy hướng Bắc-Nam khá rõ nét xen kẽ với các sơn nguyên

và thung lũng sông suối Sườn Nam của khu vực có độ dốc lớn, đổ thẳng xuống khu vực sông Cái, sông Thanh, sông Amó…, độ cao chênh lệch địa hình biến động đột ngột (từ 2000m xuống 300m ở Đăc Mi, từ LaDeê 1374m đổ xuống thung lũng Amó 400m…) Phía Bắc khu vực có địa hình thấp thoải hơn Độ cao địa hình xuống dưới 800m, có các sơn nguyên khá rộng lớn ở độ cao 500-600m (tại Chà val, Đắc Pring )

Trang 30

Các điều kiện địa hình nói trên đã tạo cho khu vực nghiên cứu có sự đa dạng

về khí hậu, về thành phân động vật, thực vật rừng, sự phân bố có nhiều điểm độc đáo hơn so với các khu vực khác [44]

Khí hậu

Do sự giảm thấp của vĩ độ và có dãy Bạch Mã – Hải Vân ở phía bắc, khu BTTN Sông Thanh có khí hậu nhiệt đới điển hình thuộc vùng khí hậu duyên hải trung Trung bộ Nằm ở phía đông của dãy Trường Sơn nên khu vực này chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió Tây Nam khô, luôn nóng trong suốt thời kỳ đầu và giữa mùa

hè Nhiệt độ trung bình năm: 24,6oC, nhiệt độ cực đại có lúc lên đến: 40oC, số ngày nắng trong năm: 175 ngày, tập trung vào các tháng 5, 6, 7 và 8 độ ẩm trung bình năm: 86% [6]

Khí hậu nhiệt đới gió mùa có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 01 năm sau, mùa khô từ tháng 02 đến tháng 7, lượng mưa trung bình 3.325 mm/năm Chế độ mưa ẩm tại đây có điểm đặc biệt, mưa lớn do gió mùa Đông Bắc gây ra Do vậy, mùa mưa đến chậm, bắt đầu từ tháng 8 và kết thúc vào tháng 12 hoặc tháng 1, mưa lớn tập trung vào các tháng 9, 10, 11 Trong khi đó, mùa khô vào các tháng 4,

5, 6, 7 lại trùng vào thời điểm hoạt động của gió Lào khiến cho lượng nước bốc hơi

từ các thung lũng tăng lên rất nhiều Đặc biệt, xem giữa mùa khô là 1 thời kỳ mưa nhỏ ngắn từ cuối tháng 4 cho tới đầu tháng 5 [44]

Thủy văn

Khu vực nghiên cứu là vùng đầu nguồn của sông Vu Gia, một nhánh lớn của sông Thu Bồn, chảy theo hướng Tây-Đông và đổ ra biển Đông tại cửa Đại Sông Vu Gia lại do 2 hệ thống sông hợp thành, đó là sông Bung và sông Cái

+ Hệ thống sông Bung nằm về phía Bắc của vùng, bắt nguồn từ vùng núi cao giáp biên giới Việt Lào, chảy theo hướng Tây - Đông, dài 90km, lòng sông rộng khoảng 50m Các chi lưu lớn gồm có sông Amó (chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc dài hơn 25km) và sông Đắk Pring (chảy theo hướng Bắc - Nam, dài hơn 35km)

+ Hệ thống sông Cái phân bố ở phía Đông Nam khu vực, bắt nguồn từ hệ núi cao Ngọc Linh, chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc, dài hơn 80km, lòng sông rộng khoảng 60m Hai chi lưu lớn là sông Thanh (bắt nguồn từ đỉnh Ngọc Peng Tauk, chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc, dài hơn 40km) và sông Đắk sê (bắt nguồn từ đỉnh Ngọction, chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc, dài hơn 30km)

Trang 31

Nhìn chung, các sông suối đều có lòng hẹp, trắc diện trẻ, độ dốc lớn vì vậy

có tác dụng xâm thực rất lớn, ăn sâu vào các khối núi cao và tạo nên thung lũng hình chữ V điển hình Các sông, suối lớn trong khu vực có nước chảy quanh năm

+ Mùa mưa thường xuất hiện các trận lũ đột ngột và hung dữ gây sạt lở bờ sông, suối; lưu lượng nước lớn nhất vào mùa mưa tại sông Bung lên tới 145m3

/s + Mùa khô nước trong vùng cạn dần nhưng các sông, suối lớn vẫn luôn có nước chảy do tầng phong hóa dày có khả năng trữ nước ngầm tốt [44]

Thổ nhưỡng

Tại khu BTTN Sông Thanh có một số loại đất chính như sau: [44]

Bảng 1.1 Các loại đất chính tại khu BTTN Sông Thanh

Vùng núi cao khu vực phía Nam, trên dãy Ngọc Linh

25.591 27,1

2 FHk

Đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá Macma kiềm

và trung tính

Tập trung về phía biên giới Việt Lào (từ cây

số 60 đến 75 trên đường 14D)

Các xã Ta Bhinh, Đacpre, La Deê và thị trấn Khâm Đức

22.477 23,8

2 Fk

Đất Feralit đỏ nâu phát triển trên đá Macma kiềm

và trung tính

Dọc theo đường 14D, Chà val, Phước Đức, Phước Năng

(Nguồn: UBND tỉnh Quảng Nam, 1999)

Phần lớn diện tích đất của khu vực là đất núi cao, phù hợp với sự phát triển của cây lấy gỗ Tại khu BTTN Sông Thanh, diện tích đất phù sa rất thấp, tập trung ven các sông suối, đây cũng là các địa điểm nghiên cứu chính của luân văn Có thể

Trang 32

thấy, việc canh tác của người dân sẽ tập trung vào các khu vực này, do đó, có ảnh hưởng không nhỏ đến ĐDSH ĐVKXS ở nước tại khu vực này Diện tích đất canh tác thấp có thể là nguyên nhân dẫn đến người dân khai thác các sản phẩm từ rừng để đảm bảo cuộc sống

1.4.2 Khái quát về đặc điểm kinh tế - xã hội

Dân số, dân tộc

Tổng số hộ dân trong 12 xã thuộc lâm phận Khu BTTN Sông Thanh theo số

Niên giám thống kê năm 2014 là 3.530 hộ

Các tộc người chính ở các xã vùng đệm là Kinh, Cà Tu, Mơ Nông, Gié Triêng Các dân tộc thường phân bố tập trung thành từng bản riêng rẽ, đôi khi sống sen kẽ lẫn nhau trong cùng một bản Nhìn chung thì mỗi xã đều có một vài dân tộc sinh sống

+ Người Kinh chiếm 19,3% tổng dân số, tập trung ở Thị trấn Khâm Đức và các xã vùng thấp, có điều kiện canh tác lúa nước khác như: Cà Dy, Tà Bhinh, Chà Vàl, Phước Đức Ngoài ra, người Kinh còn sống xen kẽ ở các xã rẻo cao

+ Người Cà Tu chiếm 30,1% tổng dân số, tập trung đông ở các xã Cà Dy, Tà Bing, Chà Vàl

+ Người Mơ Nông chiếm trên 30% tổng dân số nhưng phân bố tập trung tại các xã thuộc huyện Phước Sơn

+ Người Gié Triêng chiếm 17,6% dân số vùng đệm, tập trung tại các xã La

Dêê, La êê, Đắk Pring, Đắk Prê [44]

Hộ nghèo (theo chuẩn mới) trên địa bàn chiếm tỷ lệ 67,92% Diễn biến số hộ nghèo qua các năm không giảm nguyên nhân là do tách hộ gia đình và tình hình dân

số theo chiều hướng tăng [6]

Người Kinh không chiếm đa số tại khu vực này và cũng phân bố chủ yếu tại khu vực thấp, còn các khu vực cao hơn, vùng thượng nguồn hầu hết các các dân tộc thiểu số như người Cà Tu, Mơ Nông, Gié Triêng… Tập quán sinh hoạt và sản xuất dựa vào rừng của đồng bào dân tộc thiểu số cùng với gia tăng dân số gây sức ép kinh tế cũng là những nguyên nhân dẫn đến gia tăng các hoạt động khai thác sản vật rừng và khoáng sản, dẫn đến suy giảm ĐDSH trong khu BTTN Sông Thanh

Trang 33

Hoạt động kinh tế chủ yếu

Hoạt động kinh tế chủ yếu trong vùng là sản xuất nông, lâm nghiệp, ngành nghề sản xuất chính là trồng trọt, chăn nuôi và lâm nghiệp Cây trồng và sản phẩm chính trong vùng là: lúa, ngô, và một số cây đặc sản như: Ươi, Song mây, Vật nuôi chính trong vùng là trâu, bò, heo và gia cầm Việc canh tác trong vùng phần nhiều là tước đoạt độ mùa mỡ của đất, trình độ canh tác còn thấp thể hiện qua các mặt như: ít ruộng nước và đất sản xuất bền vững, công cụ sản xuất thô sơ, thiếu các công trình phục vụ sản xuất Do trình độ sản xuất còn rất lạc hậu nên năng suất cây trồng vật nuôi trong vùng rất thấp, hàng năm tình trạng thiếu đói vào mùa giáp hạt

+ Đào đãi vàng trái phép: ảnh hưởng tới tài nguyên rừng, gây biến động ở một số lâm phần do đào rỗng bên dưới các thảm thực vật, gây ô nhiễm dòng chảy ảnh hưởng xấu tới sinh vật thủy sinh

+ Đánh bắt cá bằng mìn điện, chất độc: phá hủy cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường, hủy diệt hệ động thực vật thủy sinh

+ Khai thác gỗ, củi trộm: gây vỡ tầng tán, dẫn tới phá hỏng hệ sinh thái, suy thoái và tàn phá rừng, đe dọa tuyệt chủng một số loài thực vật và gây mất nơi ở với các loài động vật khác

+ Các hoạt động khai thác khác: lấy mây, lấy mật ong rừng, cây thuốc quá mức làm khan hiếm thậm chí đe dọa tuyệt chủng một số loài như Ong mật, Song bột, Trầm dó [44]

1.4.3 Rừng và ĐDSH

Hiện trạng rừng

Thảm thực vật rừng Sông Thanh được chia thành các kiểu rừng chính và phụ sau đây [44]

Trang 34

Bảng 1.2 Diện tích các kiểu thảm thực vật khu BTTN Sông Thanh

Rừng kín thường xanh chủ yếu cây lá rộng, mưa ẩm á

Kiểu rừng kín hỗn giao cây lá rộng lá kim, ẩm á nhiệt

Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín thường xanh á nhiệt

đới núi thấp sau khai thác 1.245 1,34 Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín thường xanh á nhiệt

đới núi thấp phục hồi sau nương rẫy 3.005 3,22 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới 13.710 14,70 Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín thường xanh nhiệt

Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín thường xanh mưa

ẩm nhiệt đới phục hồi sau nương rẫy 14.050 15,07 Kiểu phụ thứ sinh nhân tác giang và nứa thuần loại phục

Trảng cỏ cây bụi cây gỗ rải rác thứ sinh nhân tác 3.175 3,40 Đất canh tác nông nghiệp ruộng và nương rẫy 1.195 1,28

(Nguồn: UBND tỉnh Quảng Nam, 1999)

Đa dạng sinh học tại khu BTTN Sông Thanh

Tài nguyên rừng của khu vực đa dạng và phong phú về cả chủng loại và số lượng Đặc biệt trong đó có 49 loài thực vật và 22 các loài chim, thú, lưỡng cư,

bò sát quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam 2007 và Danh lục Đỏ Thế giới (IUCN) 2009 [44]

Về thực vật rừng: kiểu rừng gỗ lá rộng thường xanh, hỗn giao, không đều tuổi,

có nhiều tầng tán và rất đa dạng về thành phần loài, với nhiều loài gỗ quý, có giá trị như: Pơ mu, Lim xanh, Giổi,

- Hệ thực vật bậc cao có mạch: có 854 loài, với chỉ bằng 0,03% diện tích toàn quốc nhưng Sông Thanh đã đóng góp cho các ngành hệ thực vật Việt Nam một tỷ lệ đáng kể: Ngành Thông đất 8,77%; ngành Cỏ tháp bút 50%; ngành Dương xỉ 7,14%; ngành Thông 12,7% và ngành Mộc lan 7,50%

Trang 35

- Hệ thực vật Sông Thanh ưu thế thuộc dạng sống cây chồi trên (82,20%) Điều này chứng tỏ tính chất nhiệt đới điển hình của của hệ thực vật ở đây

- Tổ thành yếu tố địa lý của hệ thực vật Sông Thanh rất đa dạng, ưu thế thuộc

về nhóm các yếu tố nhiệt đới (65,17%), yếu tố đặc hữu cao (17,46%), đặc biệt là yếu tố đặc hữu Trung bộ, chiếm 1/3 nhóm yếu tố đặc hữu

- Hệ thực vật Sông Thanh đa dạng về giá trị tài nguyên, có khoảng trên 550 loài thuộc 6 nhóm công dụng khác nhau: lấy gỗ, làm thuốc, cây cảnh – bóng mát, thức ăn, sợi và nguyên liệu thủ công, dầu – nhựa – tinh dầu [45]

Về động vật rừng:

- Khu hệ thú, chim, bò sát, lưỡng cư và cá cũng rất đa dạng với danh mục hiện có 301 loài thuộc 89 họ, 28 bộ Trong đó gồm có 53 loài thú, 183 loài chim, 44 loài bò sát, 21 loài lưỡng cư và 25 loài cá nước ngọt Kết quả điều tra cho thấy có sự

hiện diện của nhiều loài thú lớn như Hổ (Panthera tigris), Báo (Pardus spp.), Gấu Ngựa (Ursus thibetanus), Sơn Dương Đặc biệt, Khu BTTN Sông Thanh có các loài đặc hữu như: các loài Voọc vá chân nâu (Pygathrix nemaeus), Voọc vá chân xám (Pygathrix cinereus), Mang lớn (Muntiacus vuquangensis) và Mang Trường Sơn (Muntiacus truongsonensis) có giá trị cao trong bảo tồn đa dạng sinh học của khu

vực và thế giới

- Khu hệ ĐVKXS được xác định trong cuộc điều tra năm 1997 gồm có 60 họ

và nhóm thuộc 4 lớp động vật không xương sống ngành Chân khớp (Arthropoda) [45]

Như vậy, có thể thấy tài nguyên sinh vật trong khu BTTN Sông Thanh vẫn chưa được khảo sát 1 cách toàn diện Các kết quả nghiên cứu chủ yếu tập trung vào một số nhóm trên cạn còn khu hệ dưới nước, đặc biệt là nhóm ĐVKXS chưa có nhiều số liệu Do vậy, để có thể bảo tồn và phát triển tiềm năng ĐDSH trong khu vực rất cần có những nghiên cứu bổ sung về các nhóm còn thiếu số liệu, trong đó có nhóm ĐVKXS ở nước

Trang 36

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là ĐVN và ĐVĐ ở nước tại khu BTTN Sông Thanh, tỉnh Quảng Nam

Nội dung nghiên cứu: hiện trạng ĐDSH ĐVKXS tại một số thủy vực thuộc khu BTTN Sông Thanh, tỉnh Quảng Nam và các giải pháp bảo tồn và phát triển hợp

lý ĐDSH ĐVKXS tại thủy vực trong khu vực nghiên cứu

2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thời gian nghiên cứu

Luận văn được thực hiện từ năm 2015 đến năm 2016 Vật mẫu được thu tại

12 điểm thuộc các thủy vực trong Khu BTTN Sông Thanh trong 2 đợt:

+ Đợt 1 (mùa khô): từ 11 đến 14 tháng 3 năm 2015

+ Đợt 2 (mùa mưa): từ 12 đến 15 tháng 9 năm 2015

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại 12 điểm thu mẫu thuộc các thủy vực tại Khu BTTN Sông Thanh, tỉnh Quảng Nam Các điểm thu mẫu đều là các thủy vực nước chảy, được kí hiệu từ Đ1 đến Đ12, cụ thể như sau: (Hình 2.1)

+Suối Trà Vinh: điểm Đ1

+ Suối Cha Kiếp: điểm Đ10

+ Suối Cha Kóp: điểm Đ11

+ Suối Đắk Pring: điểm Đ12

Trang 37

Hình 2.1 Sơ đồ các điểm thu mẫu

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu và tài liệu

Đã tiến hành thu thập số liệu có liên quan đến nội dung của của Luận văn bao gồm: đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu, kết quả các đề tài nghiên cứu khoa học có liên quan, đặc điểm khí hậu, thủy văn từ các cơ quan, tổ chức: Cục bảo tồn ĐDSH, Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Trung tâm Thông tin - Thư viện ĐHQGHN, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh

Trang 38

vật, Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Nam, Ban quản lý khu BTTN Sông Thanh

2.3.2 Thu thập mẫu ngoài tự nhiên

Thu thập vật mẫu ĐVN và ĐVĐ theo các phương pháp được sử dụng trong các nghiên cứu ĐVKXS nước ngọt của tác giả Đặng Ngọc Thanh (1974), Nguyễn Xuân Quýnh (1995, 2004), McCaffety (1983) [25, 28, 75] Tại mỗi điểm thu mẫu tiến hành thu 04 mẫu các loại, gồm có 01 mẫu ĐVN định tính, 01 mẫu ĐVN định lượng, 01 mẫu ĐVĐ định tính và 01 mẫu ĐVĐ định lượng Tổng số mẫu thu được tại khu vực nghiên cứu là 96 lọ mẫu bao gồm: ĐVN: 24 lọ mẫu định tính và 24 lọ mẫu định lượng; ĐVĐ: 24 lọ mẫu định tính và 24 lọ mẫu định lượng

Phương pháp thu mẫu ĐVN

Thu mẫu định tính bằng lưới Plankton số 52 (số mắt lưới 52 lỗ/cm) Tại mỗi điểm thu mẫu, dùng lưới chao đi, chao lại nhiều lần trên tầng nước mặt

Thu mẫu định lượng bằng cách lọc 10 lít nước qua lưới Plankton số 57 (số mắt lưới 57 lỗ/cm) thu lấy 50 ml

Vật mẫu sau khi thu được đựng trong lọ có dung tích 0,2 lít, ghi etyket và được định hình bằng cồn 90%

Phương pháp thu mẫu ĐVĐ

Thu mẫu định tính bằng vợt ao (Pond net) Khi thu thập vật mẫu, dùng vợt sục vào các đám cỏ, bụi cây nhỏ ven bờ hoặc các đám cây thủy sinh sống nổi trên mặt thủy vực Đối với một số loài ấu trùng côn trùng thường sống bám vào các tảng

đá dưới nước, gần bờ Khi thu mẫu, dùng phương pháp đạp nước (Kick-sampling) ở nền suối hoặc nhấc các tảng đá lên và tìm kiếm Với các loài côn trùng sống trên mặt nước, dùng vợt đưa nhanh trên mặt nước

Thu mẫu định lượng ĐVĐ bằng lưới Subber net, kích thước 50 x 50

cm Vật mẫu sẽ thu được bằng cách rây loại bỏ bùn, sỏi và các cơ chất khác

Vật mẫu sau khi thu được đựng trong lọ có dung tích 0,2 - 0,5 lít, ghi etyket

và được định hình bằng cồn 90%

Ngoài việc thu thập mẫu còn tiến hành chụp ảnh sinh cảnh khu vực thu mẫu, các vật mẫu Thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên tại khu vực thu mẫu, ghi nhật ký thực địa Các chỉ tiêu lý hóa được đo trong nghiên cứu gồm có: nhiệt độ

Trang 39

nước (˚C), pH, độ đục (NTU), độ dẫn (mS/cm), DO (mg/l), tổng chất rắn hòa tan TDS (mg/l)

2.3.3 Phân tích vật mẫu

Tất cả vật mẫu sau khi thu thập ngoài thực địa được định hình, bảo quản

và phân tích tại Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình Các vật mẫu được nhặt sạch khỏi bùn và rác bẩn, cho vào lọ, ghi lại etyket và bảo quản trong cồn 900

trước khi tiến hành phân tích Dụng cụ phân tích gồm: kính hiển vi, kính lúp, đĩa petri, lam kính, lamen, kim nhọn, panh Việc định loại vật mẫu được tiến hành dựa trên các khoá định loại đã được công bố ở trong và ngoài nước [30,

34, 35, 55, 66, 69, 78, 81, 90, 91, 94]

Mẫu định lượng ĐVN được đếm bằng buồng đếm Bogorov cải tiến dưới kính núp soi nổi, sau đó tính mật độ theo đơn vị: cá thể/m3

Mẫu định lượng ĐVĐ được đếm trực tiếp bằng mắt thường hoặc kính lúp, sau đó tính mật độ theo đơn vị: cá thể/m2

2.3.4 Xử lý số liệu

Các số liệu được tính toán, xử lý và được thể hiện qua bảng biểu, sơ đồ, đồ thị biểu diễn số lượng và tỷ lệ thông qua phần mềm Microsoft Excel 2010 Chỉ số ĐDSH Shannon-Wiener (H') được tính toán bằng phần mềm Primer v.6

Chỉ số Shannon - Weiner được tính bằng cách lấy số lượng cá thể của một đơn vị phân loại chia cho tổng số cá thể trong mẫu, sau đó nhân với logarit của tỷ số

đó Tổng các đơn vị phân loại sẽ cho chỉ số đa dạng Công thức để tính chỉ số này là:

ni: số lượng cá thể của loài i Hai thành phần của sự đa dạng được kết hợp trong hàm Shannon - Weiner là

số lượng loài và tính bình quân của sự phân bố các cá thể giữa các loài Do vậy, số lượng loài càng cao thì chỉ số H’ càng lớn và sự phân bố các cá thể giữa các loài

Trang 40

càng ngang bằng nhau thì cũng gia tăng chỉ số đa dạng loài đƣợc xác định thông qua hàm số Shannon - Weiner

Từ kết quả tính toán, có thể nhận xét về mức độ đa dạng theo các cấp sau đây:

Ngày đăng: 10/03/2021, 18:09

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm