ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN --- Mai Xuân Long ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP TÍCH HỢP CÁC CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐẤT ĐAI VỀ TÀI NGUYÊN V
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Mai Xuân Long
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ ĐỀ XUẤT
MỘT SỐ GIẢI PHÁP TÍCH HỢP CÁC CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐẤT ĐAI VỀ
TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG CỦA TỈNH AN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội, 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Mai Xuân Long
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ ĐỀ XUẤT
MỘT SỐ GIẢI PHÁP TÍCH HỢP CÁC CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐẤT ĐAI VỀ
TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG CỦA TỈNH AN GIANG
Chuyên ngành: Địa chính
Mã số: 60.44.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Thái Thị Quỳnh Như
Hà Nội, 2012
Trang 3và bổ sung cho công việc hiện tại Qua đây, em cũng xin gửi đến các thầy cô những lời cảm ơn chân thành nhất
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô TS Thái Thị Quỳnh Như, người đã trực tiếp giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Trong thời gian làm khóa luận Cô luôn định hướng, góp ý, sửa chữa những chỗ sai sót giúp cho đề tài, luận văn tốt nghiệp của em hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 06 tháng 11 năm 2012
Học viên
Mai Xuân Long
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC HÌNH v
KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài, luận văn 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Nội dung nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Bố cục đề tài, luận văn 4
Chương 1 - TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI ỨNG DỤNG 5
1.1 Tổng quan về nhu cầu tích hợp cơ sở dữ liệu đất đai, tài nguyên và môi trường đối với công tác quản lý nhà nước 5
1.2 Một số yêu cầu cơ bản đối với nhiệm vụ tích hợp cơ sở dữ liệu đất đai và tài nguyên môi trường 6
1.2.1 Nhu cầu tích hợp cơ sở dữ liệu đất đai, tài nguyên môi phục và trang thiết bị đi kèm 6
1.2.2 Nhu cầu tích hợp cơ sở dữ liệu đất đai, tài nguyên môi trường và xây dựng các phần mềm ứng dụng chuyên ngành 7
1.2.3 Nhu cầu tích hợp cơ sở dữ liệu đất đai, tài nguyên môi trường và vấn đề nhân lực 7
1.3 Một số vấn đề liên quan đến tích hợp cơ sở dữ liệu đất đai và tài nguyên môi trường 8
1.4 Đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước và định hướng nghiên cứu đề tài, luận văn 9
1.4.1 Thực trạng công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, tài nguyên môi trường 9
Trang 51.4.2 Định hướng nghiên cứu của đề tài, luận văn 10
Chương 2 - ĐẶC ĐIỂM VÀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC NGHIÊN CỨU 13
2.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 13
2.1.1 Vị trí địa lý 13
2.1.2 Đặc điểm địa hình 14
2.1.3 Đặc điểm địa chất và kiến tạo 14
2.1.4 Điều kiện khí hậu thủy văn 14
2.1.5 Đất đai 14
2.1.6 Đặc điểm phân bố dân cư và lao động 15
2.2 Hiện trạng tài liệu, dữ liệu tài nguyên và môi trường 15
2.2.1 Hiện trạng cơ sở dữ liệu nền 15
2.2.2 Hiện trạng tài liệu, dữ liệu về đo đạc 15
2.2.3 Hiện trạng tài liệu, dữ liệu về đất đai 17
2.2.4 Hiện trạng tài liệu, dữ liệu về môi trường 20
2.2.5 Hiện trạng tài liệu, dữ liệu về tài nguyên khoáng sản 21
2.2.6 Hiện trạng tài liệu, dữ liệu về tài nguyên nước 22
2.2.7 Hiện trạng tài liệu, dữ liệu về quản lý và giám sát tai biến thiên nhiên 23
2.3 Các ứng dụng trong quản lý tài nguyên và môi trường tại tỉnh An Giang 23
Chương 3 - GIẢI PHÁP TÍCH HỢP CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐẤT ĐAI, CƠ SỞ DỮ LIỆU TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG VÀ ỨNG DỤNG PHẦN MỀM 25
3.1 Đề xuất các giải pháp tích hợp cơ sở dữ liệu đất đai và cơ sở dữ liệu tài nguyên môi trường 25
3.2 Giải pháp kỹ thuật, công nghệ quản lý tích hợp và đa chiều của hai cơ sở dữ liệu LIS và GIS 26
3.2.1 Giải pháp chuyển đổi các hệ thống bản đồ về hệ thống bản đồ nền địa hình 26
3.2.2 Giải pháp tích hợp các lớp thông tin khác nhau thông qua các dữ liệu thuộc tính 29
Trang 63.2.3 Giải pháp tích hợp các thông tin theo thời gian 30
3.3 Phần mềm ứng dụng 35
3.3.1 Phần mềm TichHop_DBSCL quản lý tích hợp cơ sở dữ liệu đất đai và cơ sở dữ liệu ĐH-TVCB 35
3.3.1.1 Giải pháp công nghệ 35
3.3.1.2 Chức năng quản lý tích hợp cơ sở dữ liệu trong một hệ thống thống nhất theo mô hình cơ sở dữ liệu không gian (GeoDatabase) 35
3.3.1.3 Chức năng quản lý các dạng tư liệu bản đồ 36
3.3.1.4 Chức năng quản lý metadata 39
3.3.2 Phần mềm Phantich_DBSCL truy cập thông tin không gian mở 41
3.3.2.1 Thiết kế hệ thống và lựa chọn công nghệ phần mềm 41
3.3.2.2 Nhóm chức năng chiết xuất dữ liệu 41
3.3.2.3 Nhóm chức năng giải các bài toán về phân tích, xử lý không gian 42
3.3.3 Phần mềm TNMT_DBSCL hỗ trợ quản lý tài nguyên và môi trường của tỉnh 45
3.3.3.1 Phân hệ quản lý môi trường 45
3.3.3.2 Phân hệ quản lý giám sát môi trường 50
3.3.3.3 Phân hệ quản lý khoáng sản 56
3.3.3.4 Phân hệ quản lý tài nguyên nước 58
3.4 Ứng dụng thử nghiệm tích hợp cơ sở dữ liệu đất đai và cơ sở dữ liệu tài nguyên môi trường 61
3.4.1 Ứng dụng thử nghiệm tích hợp cơ sở dữ liệu đất đai, cơ sở dữ liệu tài nguyên môi trường và mô hình vận hành phần mềm thử nghiệm 61
3.4.2 Đánh giá kết quả triển khai thử nghiệm 65
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tổng hợp hiện trạng dữ liệu đo đạc 16
Bảng 2.2 Tổng hợp số lượng bản đồ trong lĩnh vực đất đai 17
Bảng 2.3 Tổng hợp hồ sơ địa chính và dữ liệu liên quan 19
Bảng 2.4 Tổng hợp danh mục tài liệu và cấp lưu trữ 19
Bảng 2.5 Tổng hợp tài liệu, dữ liệu về khoáng sản 22
Bảng 2.6 Tổng hợp các phần mềm ứng dụng tại Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang 24
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Vị trí địa lý tỉnh An Giang 13
Hình 3.1 Tích hợp các thành phần của cơ sở dữ liệu 28
Hình 3.2 Mô hình chuỗi thời gian 31
Hình 3.3 Mô hình tích hợp thông tin theo chuỗi thời gian 32
Hình 3.4 Bảng thuộc tính theo chuỗi thời gian 33
Hình 3.5 Đối tượng raster theo chuỗi thời gian 34
Hình 3.6 Quản lý cơ sở dữ liệu tích hợp bằng ArcCatalog 36
Hình 3.7 Mô hình vận hành phân hệ quản lý tư liệu bản đồ 38
Hình 3.8 Giao diện của mô đun quản lý tư liệu bản đồ 38
Hình 3.9 Giao diện quản lý thông tin metadata 39
Hình 3.10 Giao diện sửa thông tin metadata cho 1 lớp đối tượng 40
Hình 3.11 Giao diện xuất thông tin metadata dưới dạng XML 40
Hình 3.12 Mô hình phát triển các công cụ trong môi trường ArcMap 41
Hình 3.13 Chiết xuất thông tin theo đơn vị hành chính cấp xã 42
Hình 3.14 Mô hình tìm kiếm vùng dân cư có thể bị ảnh hưởng của ô nhiễm 43
Hình 3.15 Kết quả tìm kiếm vùng dân cư có thể bị ảnh hưởng của ô nhiễm 43
Hình 3.16 Mô hình tìm kiếm hệ thống sông có thể bị ảnh hưởng của nước thải 44
Hình 3.17 Kết quả tìm kiếm hệ thống sông có thể bị ảnh hưởng của nước thải 44
Hình 3.18 Mô hình vận hành phân hệ quản lý môi trường 46
Hình 3.19 Cấu trúc cơ sở dữ liệu hệ thống giám sát môi trường 50
Hình 3.20 Mô hình cơ sở dữ liệu hệ thống giám sát môi trường 50
Hình 3.21 Mô hình vận hành phân hệ giám sát môi trường 51
Hình 3.22 Giao diện chính của phân hệ giám sát môi trường 51
Hình 3.23 Giao diện chức năng quản lý bản đồ tích hợp 52
Hình 3.24 Giao diện chức năng cập nhật điểm quan trắc 52
Hình 3.25 Giao diện chức năng quản lý thông tin quan trắc nước 53
Hình 3.26 Giao diện chức năng theo dõi quan trắc nước 53
Hình 3.27 Giao diện chức năng quản lý và cập nhật thông tin quan trắc đất 54
Trang 9Hình 3.28 Giao diện chức năng quản lý thông tin quan trắc không khí 54
Hình 3.29 Giao diện chức năng lập báo cáo quan trắc không khí 55
Hình 3.30 Giao diện báo cáo quan trắc không khí 55
Hình 3.31 Cấu trúc cơ sở dữ liệu hệ khai thác khoáng sản 56
Hình 3.32 Mô hình cơ sở dữ liệu khai thác khoáng sản 56
Hình 3.33 Mô hình vận hành phân hệ quản lý khoáng sản 57
Hình 3.34 Giao diện phân hệ quản lý khoáng sản 57
Hình 3.35 Giao diện chức năng đăng ký thăm dò khoáng sản 58
Hình 3.36 Cấu trúc dữ liệu phân hệ quản lý tài nguyên nước 58
Hình 3.37 Mô hình cơ sở dữ liệu quản lý tài nguyên nước 59
Hình 3.38 Mô hình vận hành phân hệ quản lý tài nguyên nước 59
Hình 3.39 Giao diện chính phân hệ quản lý tài nguyên nước 60
Hình 3.40 Giao diện chức năng Đăng ký khai thác nước ngầm 60
Hình 3.41 Dữ liệu hệ thống thông tin địa hình thủy văn cơ bản tỉnh An Giang 61
Hình 3.42 Tổng thể dữ liệu hiện trạng sử dụng đất huyện Tri Tôn - tỉnh An Giang 62 Hình 3.43 Chi tiết dữ liệu hiện trạng sử dụng đất huyện Tri Tôn - tỉnh An Giang 62
Hình 3.44 Tổng thể dữ liệu địa chính xã Châu Lăng - huyện Tri Tôn - tỉnh An Giang 63
Hình 3.45 Chi tiết dữ liệu địa chính xã Châu Lăng - H.Tri Tôn - tỉnh An Giang 63
Trang 10KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT
8 ĐH-TV Địa hình thủy văn
9 ĐH-TVCB ĐBSCL Địa hình thủy văn cơ bản đồng bằng sông Cửu Long
10 ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài, luận văn
Đất đai là một dạng tài nguyên quan trọng gắn liền với sự phát triển kinh tế -
xã hội Mỗi quốc gia đều có một định hướng về quản lý, sử dụng đất sao cho hợp lý, hiệu quả và bền vững nhất Vừa phát triển kinh tế, vừa bảo vệ môi trường và phát triển bền vững là mục tiêu chung của các nước hiện nay
Trên phạm vi quy mô toàn vùng, năm 2003 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã
được Chính phủ phê duyệt dự án “Xây dựng cơ sở dữ liệu hệ thống thông tin địa hình - thủy văn cơ bản phục vụ phòng chống lũ lụt và phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long” là một dự án lớn nhằm xây dựng một hệ thông tin địa lý
(GIS) nền hướng tới quản lý đa mục tiêu phục vụ phát triển bền vững, quản lý tổng hợp toàn vùng Đây là nguồn cơ sở dữ liệu quan trọng làm nền móng cho tất cả các
dữ liệu chuyên ngành khác phát triển xây dựng trên nền tảng địa hình thủy văn cơ bản với các thông tin: Địa hình nền cơ bản tỷ lệ 1/5000 theo hệ thống tọa độ quốc gia VN-2000 (với 5 lớp thông tin: thủy văn, giao thông, dân cư, thực vật, địa giới hành chính); mô hình số độ cao với độ chính xác cao từ 0,1 - 04 m; hiện trạng sử dụng đất đai; hệ thông tin thủy văn (số liệu quan trắc, mặt cắt ngang, mặt cắt dọc sông tích hợp với lớp thông tin địa hình cơ bản); hệ thống dữ liệu ảnh hành không, ảnh vệ tinh
Ở bình diện cấp tỉnh, hầu hết các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long đều đã từng bước xây dựng hệ thống các dữ liệu chuyên ngành như: Cơ sở dữ liệu đất đai bao gồm hai hệ thống chính là bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính; dữ liệu quy hoạch - kiểm kê sử dụng đất; dữ liệu hiện trạng môi trường; dữ liệu quan trắc giám sát môi trường; dữ liệu hồ sơ quản lý môi trường; dữ liệu hiện trạng tài nguyên nước; dữ liệu khai thác, xả thải tài nguyên nước; dữ liệu tài nguyên địa chất khoáng sản; dữ liệu thăm dò, khai thác khoáng sản…
Tuy nhiên, các dữ liệu trên được xây dựng từ các đơn vị khác nhau, nên các
dữ liệu được xây dựng trên nhiều định dạng, nhiều phần mềm cũng như trên nhiều chuẩn hệ tọa độ không gian khác nhau nên các nguồn dữ liệu thường thiếu khả năng
Trang 12tích hợp chia sẻ thông tin giữa các chuyên ngành Đây là một thực tế đã được đặt ra trong một thời kỳ dài và việc định hướng xây dựng mô hình tích hợp các hệ thông tin chuyên ngành tài nguyên nguyên môi trường là một nhu cầu cấp bách trong giai đoạn nhiện nay
Xuất phát từ thực tế trên học viên thực hiện nghiên cứu đề tài, luận văn
“Đánh giá thực trạng quản lý và đề xuất một số giải pháp tích hợp các cơ sở dữ
liệu đất đai về tài nguyên và môi trường của tỉnh An Giang” nhằm mục tiêu thực
hiện nội dung nghiên cứu chính là thử nghiệm xây tích hợp nhóm thông tin cơ bản
là hệ thống cơ sở dữ liệu bản đồ địa hình, cơ sở dữ liệu đất đai và các dữ liệu chuyên đề khác tại tỉnh An Giang với các công cụ phần mềm kèm theo để phục vụ trực tiếp cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai và tài nguyên môi trường ở cấp tỉnh
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ chế, giải pháp để tích hợp dữ liệu gồm: Cơ sở dữ liệu TVCB vùng ĐBSCL; hệ thống bản đồ địa chính; hệ thống bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường
ĐH Ứng dụng một số công cụ phần mềm khai thác hệ thống cơ sở dữ liệu đã tích hợp hỗ trợ trực tiếp công tác quản lý tài nguyên và môi trường ở cấp tỉnh
3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan về hiện trạng xây dựng cơ sở dữ liệu, nhu cầu tích hợp cơ sở dữ liệu đất đai, tài nguyên môi trường và các cơ sở dữ liệu chuyên đề khác đối với công tác quản lý Nhà nước
- Thu thập, tài liệu số liệu về hiện trạng cơ sở dữ liệu địa hình, cơ sở dữ liệu đất đai và tài nguyên môi trường trên địa tỉnh An Giang
- Đánh giá, phân tích thực trạng quản lý, khai thác sử dụng và nhu cầu tích hợp hệ thống cơ sở dữ liệu hiện có của hệ thống quản lý đất đai tại Việt Nam nói chung và tỉnh
An Giang nói riêng
Trang 13- Đề xuất một số giải pháp về tích hợp tích hợp hệ thống bản đồ địa hình nền (Từ cơ sở dữ liệu địa hình thủy văn cơ bản ĐBSCL) và các cơ sở dữ liệu chuyên đề như đất đai, khoáng sản, tài nguyên nước, môi trường
4 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài, luận văn tập trung nghiên cứu tích hợp cơ sở dữ liệu dữ liệu bao gồm hệ thống bản đồ địa hình nền (Từ cơ sở dữ liệu địa hình thủy văn cơ bản ĐBSCL) và các cơ sở dữ liệu chuyên đề như đất đai, khoáng sản, tài nguyên nước, môi trường Ứng dụng một hệ thống công cụ gồm các phân hệ phần mềm khác nhau
để hỗ trợ trực tiếp công tác quản lý tài nguyên và môi trường cấp tỉnh
- Sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu hiện có của tỉnh An Giang để nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích hệ thống cơ sở dữ liệu hiện có từ đó đề xuất phương
án tích hợp cơ sở dữ liệu để quản lý, vận hành và khai thác có hiệu quả
- Phương pháp thu thập thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tình hình xây dựng, quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu hiện có của địa bàn nghiên cứu phục
vụ cho mục đích đánh giá thực tế sử dụng cơ sở dữ liệu phục vụ công tác quản lý Nhà nước
- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp tài liệu, số liệu được sử dụng để phân tích các dữ liệu về hiện trạng cơ sở dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật, trình độ cán bộ quản lý, vận hành, sử dụng dữ liệu để phát hiệu điểm mạnh và điểm yếu trong khai thác cơ sở dữ liệu
- Phương pháp so sánh, phân tích, đánh giá tổng hợp từ các phương án tích hợp
cơ sở dữ liệu để đánh giá nhu cầu cần tích hợp với mục tiêu khai thác cơ sở dữ liệu của từng lĩnh vực đề xuất các giải pháp phù hợp
- Phương pháp bản đồ và GIS để phân tích, chồng xếp dữ liệu nền địa hình, cơ
sở dữ liệu đất đai và các cơ sở dữ liệu chuyên đề khác
- Phương pháp chuyên gia nhằm tham khảo, lấy ý kiến của cơ quan chuyên môn, kinh nghiệm thực tế của cán bộ quản lý tại địa phương và các nhà nghiên cứu
để đề xuất các giải pháp phù hợp
Trang 146 Bố cục đề tài, luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và triển khai ứng dụng
Chương 2: Đặc điểm và thực trạng quản lý đất đai, tài nguyên và môi trường khu vực nghiên cứu
Chương 3: Đề xuất giải pháp tích hợp cơ sở dữ liệu đất đai, cơ sở dữ liệu tài nguyên môi trường và ứng dụng phần mềm
Trang 15Chương 1 - TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI
ỨNG DỤNG
Việc xây dựng hệ thống cho phép tích hợp các thông tin không gian thuộc các lĩnh vực khác nhau nhưng có sự liên quan, gắn bó mật thiết là nhu cầu cần thiết của công tác quản lý và quy hoạch phát triển tài nguyên và môi trường của vùng, lãnh thổ Xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp tài nguyên và môi trường để phục vụ công tác quản lý và quy hoạch phát triển tài nguyên và môi trường là một định hướng lớn trong công tác hiện đại hóa công tác quản lý tài nguyên và môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường và đã được triển khai trong một số các dự án, chương trình lớn cấp quốc gia Tại các tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường là đơn vị chuyên môn giúp Ủy ban nhân đân tỉnh thực hiện công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực tài nguyên môi trường
Để có thể hỗ trợ tốt công tác quản lý nhà nước về tài nguyên môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh đã xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên môi trường và cần thiết phải xây dựng một hệ thống công cụ phần mềm hỗ trợ công tác quản lý
Cơ sở dữ liệu tài nguyên môi trường bao gồm hệ thống bản đồ địa hình nền và các nhóm thông tin chuyên đề về đất đai, khoáng sản, tài nguyên nước, môi trường, khí tượng thủy văn v.v
1.1 Tổng quan về nhu cầu tích hợp cơ sở dữ liệu đất đai, tài nguyên và môi trường đối với công tác quản lý nhà nước
- Ngành tài nguyên và môi trường với nhiều lĩnh vực nên lượng thông tin, tài liệu, dữ liệu rất lớn Mỗi thông tin, dữ liệu đều luôn biến đổi trong quá trình quản lý đòi hỏi phải được theo dõi cập nhật một cách có hệ thống Công việc quản lý nhà nước yêu cầu phải điều tra cơ bản, đo đạc xác định số liệu, phân tích số liệu làm cơ
sở để tham mưu chỉ đạo điều hành nhiệm vụ ở các ngành, các cấp
- Nhìn chung, lượng dữ liệu hiện có trong ngành là chưa nhiều, tài liệu chính
và khá đầy đủ chỉ đạt được trong lĩnh vực đất đai Các lĩnh vực khác như môi trường, khoáng sản còn rất hạn chế, các số liệu điều tra cơ bản ở các ngành này đang trong giai đoạn chuẩn bị
Trang 16- Dữ liệu có được về tài nguyên đất chủ yếu là hệ thống hồ sơ địa chính khu vực đất phi nông nghiệp Đây là hệ thống hồ sơ được xây dựng theo phương pháp
số, phù hợp với tính chất của việc ứng dụng công nghệ thông tin Nội dung hồ sơ phù hợp với thực trạng và yêu cầu quản lý Hạn chế lớn nhất của hệ thống này là hồ
sơ địa chính được xác lập rời rạc từ nhiều chương trình mang tính giải quyết tình thế, nhiều thông tin biến động thiếu cập nhật, chồng chéo và chưa đồng bộ
- Dữ liệu hồ sơ địa chính khu vực đất nông nghiệp dù đã được xác lập từ nhiều năm trước nhưng tiêu chí quản lý không phù hợp với tinh thần của Luật Đất đai, thông tin biến động lớn nên không thể đưa vào sử dụng được
- Các tài liệu về quy hoạch đầy đủ nhưng được xây dựng ở nhiều thời kỳ, nhiều quy trình quy phạm nên thiếu sự đồng nhất về nội dung, cơ sở toán học nên sẽ rất khó khăn trong quá trình xây dựng cơ sở dữ liệu này
- Cơ sở dữ liệu nền chưa đạt tiêu chí về kỹ thuật và nội dung, tồn tại rất nhiều
dữ liệu dạng giấy, dạng file số rời rạc được được xác lập bằng các tiêu chí kỹ thuật khác nhau nên sẽ là cản trở lớn cho việc chuẩn hóa để đưa vào sử dụng sau này
- Hệ thống dữ liệu, tài liệu hiện trạng chưa đủ đáp ứng yêu cầu quản lý, cần phải tiếp tục đầu tư thực hiện một cách đồng bộ Tất cả những vấn đề mang tính chất thiết kế khung và chuẩn hóa các dữ liệu hiện tại đang quản lý và sử dụng cần tập trung giải quyết
1.2 Một số yêu cầu cơ bản đối với nhiệm vụ tích hợp cơ sở dữ liệu đất đai và tài nguyên môi trường
1.2.1 Nhu cầu tích hợp cơ sở dữ liệu đất đai, tài nguyên môi phục và trang thiết
bị đi kèm
- Cấp tỉnh: Với trang thiết bị hiện có và thiết bị đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường đầu tư đáp ứng yêu cầu cho việc vận hành hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu Tuy nhiên về lâu dài, hệ thống máy chủ của cấp tỉnh cần được nâng cấp thêm
để đáp ứng được nhu cầu lưu trữ, cập nhật dữ liệu của ngành
- Cấp huyện: Trang thiết bị ở các phòng Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất đủ đảm bảo vận hành các chương trình Hầu hết
Trang 17các huyện đều đã xây dựng mạng cục bộ và kết nối Internet băng thông rộng ADSL, việc vận hành hệ thống trao đổi thông tin giữa các cấp sẽ có nhiều thuận lợi
1.2.2 Nhu cầu tích hợp cơ sở dữ liệu đất đai, tài nguyên môi trường và xây dựng các phần mềm ứng dụng chuyên ngành
Để đáp ứng yêu cầu cấp bách cho công việc, cũng như giải quyết tạm thời những thay đổi quy định về chuyên môn của Bộ Tài nguyên và môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh đã cho thiết kế và triển khai một số phần mềm ứng dụng tại văn phòng Sở và hệ thống phòng Tài nguyên Môi trường cấp huyện Nhiều chương trình phát huy hiệu quả, giải quyết được cấp bách yêu cầu công việc trước mắt như: In giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo mẫu giấy mới, quản lý theo kiểu mỗi thửa mỗi giấy, in cả tên vợ chồng; đo vẽ bản trích đo địa chính, quản lý công việc tiếp nhận trả kết quả, quản lý văn thư hành chính, quản lý danh mục tài liệu Tuy nhiên, các chương trình này chỉ mang tính chất tạm thời, không phù hợp với yêu cầu quản lý mới, chia sẻ thông tin trên mạng, thông tin phải được cập nhật bởi nhiều cổng với chức trách cụ thể được pháp luật quy định
- Các dạng thông tin, dữ liệu được lưu trữ bằng file số hoặc tài liệu giấy Các phần mềm ứng dụng của ngành đang được khai thác một cách rời rạc, chủ yếu sử dụng cục bộ Chưa có sự phối hợp giữa các phần mềm trong quy trình thụ lý các hồ
sơ Các bộ phận thụ lý hồ sơ sử dụng phần mềm mang tính tự phát Có nhiều khó khăn trong việc trao đổi dữ liệu giữa các phần mềm
- Việc xây dựng hệ thống thông tin sẽ thống nhất việc sử dụng các phần mềm ứng dụng, xây dựng một mô hình nhằm gắn kết, khai thác các phần mềm ứng dụng hiện có một cách hiệu quả hơn Điều này sẽ giúp cho người sử dụng khai thác hiệu quả hơn nữa các phần mềm trong hệ thống và hình thành các khuôn mẫu để có thể trao đổi dữ liệu giữa bộ phận và các cấp
1.2.3 Nhu cầu tích hợp cơ sở dữ liệu đất đai, tài nguyên môi trường và vấn đề nhân lực
Nhìn chung trong toàn ngành tài nguyên và môi trường đội ngũ nhân lực vẫn còn yếu và thiếu Lạc hậu so với trình độ phát triển chung của công nghệ thông tin
Trang 18Ở cấp tỉnh lực lượng tương đối đồng đều có khả năng tiếp cận một số vấn đề mới Tuy nhiên ở cấp huyện lực lượng này còn rất hạn chế
Phải chú trọng nâng cấp về công nghệ thông tin cho những cán bộ khá giỏi
về chuyên môn và tạo điều kiện cho cán bộ giỏi tin học tiếp cận chuyên môn ở những vị trí hợp lý trong tổng thể hệ thống thông tin tài nguyên và môi trường ở các cấp
1.3 Một số vấn đề liên quan đến tích hợp cơ sở dữ liệu đất đai và tài nguyên môi trường
Tại các nước tiên tiến đã có những nghiên cứu và triển khai cụ thể về những giải pháp tích hợp các hệ thống thông tin GIS nền và chuyên đề phục vụ quản lý chung, điển hình là mô hình cơ sở hạ tầng dữ liệu không gian quốc gia (National Spatial Data Infrastructure - NSDI) như Mỹ, Canada, Nhật Bản, Úc, Malaysia, Thái Lan Các mô hình được xây dựng ở cấp quốc gia, phủ trùm trên toàn bộ lãnh thổ của một nước Tuy nhiên những mô hình đã nghiên cứu, triển khai ở nước ngoài chỉ có tính chất tham khảo, định hướng cho đề tài, luận văn chứ không thể áp dụng trực tiếp vào trong thực tế được do sự chênh lệch về trình độ khoa học công nghệ, tích đặc thù của công tác quản lý tài nguyên môi trường ở nước ta trong lĩnh vực quản lý đất đai, cũng như tính phức tạp của các nhóm thông tin cần tích hợp
Vấn đề xây dựng hệ thống tích hợp cơ sở dữ liệu thông tin địa lý nền với cơ sở
dữ liệu đất đai đã được nghiên cứu trong một số đề tài và dự án trước đây, sau đây
là một số các dự án, đề tài có liên quan
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước “Xây dựng mô hình cơ sở dữ liệu đất đai cấp tỉnh” do TS Lê Minh chủ nhiệm đề tài, thực hiện từ năm 2001 đến
2005 Sản phẩm của đề tài là phần mềm ViLIS vẫn tiếp tục được nâng cấp và sử dụng
Ngoài ra, hệ thống thông tin đất đai đã được nghiên cứu và triển khai trong
Bộ Tài nguyên và Môi trường từ nhiều năm nay Nhiều tỉnh trên cả nước, trong đó
có các tỉnh vùng ĐBSCL đã và tiến hành xây dựng các cơ sở dữ liệu đất đai để phục
Trang 19vụ công tác quản lý đất đai và phát triển kinh tế xã hội Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có những quy định về hồ sơ địa chính số và cơ sở dữ liệu địa chính như:
- Chỉ thị số 1474/CT-TTg ngày 24 tháng 8 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách để chấn chỉnh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai
- Thông tư 30/2009/TT-BTNMT ngày 31/12/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc quy định Quy trình và Định mức kinh tế - kỹ thuật xây dựng cơ
sở dữ liệu Tài nguyên và Môi trường
- Thông tư số 17/2010/TT-BTNMT ngày 04 tháng 10 năm 2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc quy định kỹ thuật về chuẩn dữ liệu địa chính
- Công văn số 1159/QCQLĐĐ-CĐKTK ngày 21 tháng 9 năm 2011 của Tổng cục Quản lý đất đai về việc hướng dẫn xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính
Để việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai thống nhất chung trên cả nước Bộ Tài nguyên và Môi trường đang rất quan tâm, chỉ đạo các tỉnh thường xuyên Định hướng đến năm 2020 cơ bản hoàn thành công tác xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai trên toàn quốc
1.4 Đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước và định hướng nghiên cứu
đề tài, luận văn
1.4.1 Thực trạng công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, tài nguyên môi trường
(1) Toàn bộ quy trình thực hiện thủ tục hành chính được vận hành có nguyên tắc và đúng quy định về trình tự thủ tục hành chính Tuy nhiên, giữa bộ phận thực hiện, bộ phận thẩm định, bộ phận tiếp nhận sử dụng tư liệu, tài liệu trong tác nghiệp chuyên môn chưa có tính thống nhất cao nên vẫn còn tồn tại những sai sót và kéo dài thêm thời gian thực hiện ở từng khâu của công việc
(2) Thực trạng chung trong hoạt động tham mưu công việc cho lãnh đạo Sở của các phòng chuyên môn về số liệu, dữ liệu chưa thống nhất giữa các phòng, dữ liệu chưa được cập nhật thường xuyên
Trang 20(3) Các số liệu thu thập được trong quá trình quản lý, tác nghiệp được các phòng tự lưu trữ riêng và có thể do mỗi cán công chức tự lưu trữ riêng Việc quản lý thông tin không có hệ thống và khó tìm kiếm khi cần thiết Thông tin không có lý lịch, thiếu nguồn gốc và độ tin cậy không cao
(4) Các số liệu cần thiết liên quan giữa các lĩnh vực được các phòng chuyên môn trao đổi và cung cấp cho nhau, không được thẩm định và chịu trách nhiệm
(5) Số liệu quản lý chưa có tính thống nhất về nội dung, thời điểm ở tất cả các phòng thuộc Sở và các phòng Tài nguyên và môi trường cấp huyện
(6) Không thể nhìn tổng thể vấn đề do số liệu, dữ liệu không đầy đủ, không được theo dõi cập nhật, đánh giá
(7) Văn phòng Đăng ký đất các cấp quản lý thông tin tài liệu khi đã xác lập tính chất pháp lý, chưa thiết lập hệ thống để chia sẻ, cập nhật thông tin và cung cấp trở lại cho hoạt động quản lý
1.4.2 Định hướng nghiên cứu của đề tài, luận văn
Đề tài lựa chọn khu vực nghiên cứu là các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bởi vì đây là một khu vực có đầy đủ các điều kiện để đề tài, luận văn có thể triển khai nghiên cứu một cách đồng bộ, hoàn chỉnh
Về thông tin đất đai: Nội dung của thông tin đất đai được giới hạn trong đề tài , luận văn bao gồm các nhóm thông tin về bản đồ và hồ sơ địa chính, bản đồ sử dụng đất và bản đồ quy hoạch cấp xã - phường Còn các nhóm thông tin về đất đai khác như thổ nhưỡng, phân loại đất v.v sẽ không đưa vào nghiên cứu trong đề tài Vấn
đề này xuất phát từ thực tế khả năng xây dựng thông tin đất đai hiện nay ở các địa phương, mức độ ưu tiên của các lớp thông tin cũng như sự giới hạn về qui mô và phạm vi nghiên cứu của đề tài Nhìn chung, các tỉnh vùng ĐBSCL là các tỉnh đã bước đầu hình thành các cơ sở dữ liệu đất đai
Hệ thống bản đồ địa hình nền: Khu vực ĐBSCL là một trong những khu vực
có hệ thống bản đồ nền địa hình mới nhất và tốt nhất hiện nay thông qua Dự án
“Xây dựng hệ thống thông tin địa hình - thủy văn cơ bản phục vụ phòng chống lũ lụt
và phát triển kinh tế xã hội vùng ĐBSCL” Bên cạnh các lớp thông tin địa hình ở tỷ
Trang 21lệ 1/5.000, dự án còn xây dựng Mô hình số độ cao (DEM) với độ chính xác cao, hệ
Một số nội dung quan trọng mà đề tài, luận văn đặt ra nghiên cứu bao gồm:
- Cơ chế, giải pháp để tích hợp dữ liệu của những lớp thông tin khác nhau có mức độ chi tiết và chính xác cao, có dung lượng dữ liệu rất lớn Cơ sở dữ liệu ĐH-TVCB vùng ĐBSCL gồm các lớp thông tin địa hình ở tỷ lệ 1/5.000, mô hình số độ cao với độ chính xác 0,1 - 0,4 m, các thông tin về mặt cắt sông, khí tượng thủy văn) thống nhất trên một phạm vi rộng lớn, toàn bộ vùng ĐBSCL Lớp thông tin cơ bản của cơ sở dữ liệu đất đai là hệ thống bản đồ địa chính cho phép thể hiện về mặt không gian đến từng thửa đất Hệ thống bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất cần tích hợp ở mức chi tiết cấp xã - phường
- Ứng dụng một số công cụ phần mềm hỗ trợ trực tiếp công tác quản lý tài nguyên và môi trường ở cấp tỉnh
- Về khía cạnh công nghệ đề tài, luận văn nghiên cứu đưa ra các giải pháp công nghệ để tích hợp hệ thống thông tin đất đai (Land Information System - LIS)
và hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System- GIS) Hai công nghệ này về mặt kỹ thuật là tương tự nhau Hay nói cách khác Hệ thống thông tin đất đai (LIS) là một nhánh của áp dụng chuyên sâu của công nghệ hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Áp dụng các kết quả đã triển khai ở các đề tài nghiên cứu, dự án, công trình khác của Bộ Tài nguyên và Môi trường có những nội dung liên quan đến xây dựng
Trang 22các hệ thống tích hợp giữa cơ sở dữ liệu nền địa hình và cơ sở dữ liệu đất đai để đi tới hoàn thiện hệ thống và triển khai, vận hành trong thực tế phục vụ công tác quản
lý Nhà nước về đất đai, tài nguyên và môi trường
Trang 23Chương 2 - ĐẶC ĐIỂM VÀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẤT
ĐAI, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
2.1.1 Vị trí địa lý
Hình 2.1 Vị trí địa lý tỉnh An Giang
An Giang là tỉnh ở miền Tây Nam Bộ, thuộc đồng bằng sông Cửu Long, một phần nằm trong vùng Tứ giác Long Xuyên; có biên giới Việt Nam - Campuchia An Giang có diện tích tự nhiên 3.424 km2, phía Bắc Tây Bắc giáp Campuchia dài
104km (theo “Hiệp ước hoạch định biên giới VN-CPC ký ngày 27/12/1985”), phía
Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang 69,789km, phía Nam giáp tỉnh Cần Thơ 44,734km, phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp 107,628km Gồm 420 tuyến địa giới hành chính cấp xã dài 1.694,463km, trong đó 259 tuyến xã trong nội huyện dài 1.159,079km,
21 tuyến huyện dài 313,233km và 3 tuyến tỉnh dài 222,151km, được xác định bằng
Trang 24461 mốc địa giới hành chính các cấp gồm 39 mốc cấp tỉnh, 89 mốc cấp huyện và
333 mốc cấp xã
Điểm cực Bắc trên vĩ độ 10°57 (xã Khánh An, huyện An Phú), cực Nam trên
vĩ độ 10°12 (xã Thoại Giang, huyện Thoại Sơn), cực Tây trên kinh độ 104°46 (xã Vĩnh Gia, huyện Tri Tôn), cực Đông trên kinh độ 105°35 (xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới) Chiều dài nhất theo hướng Bắc Nam 86km và Đông Tây 87,2km
Ủy ban Dân tộc Miền Núi của Chính phủ đã công nhận 21 xã vùng núi thuộc
2 huyện Tri Tôn (9 xã) và Tịnh Biên (12 xã) là khu vực vùng dân tộc đồng bằng 6
xã (huyện Tri Tôn 1 xã, và huyện An Phú 5 xã) An Giang có 17 xã biên giới thuộc
5 huyện, thị giáp Campuchia; là tỉnh có nhiều di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh nổi tiếng
2.1.2 Đặc điểm địa hình
An Giang, ngoài đồng bằng do phù sa sông Mê Kông trầm tích tạo nên, còn
có vùng đồi núi Tri Tôn - Tịnh Biên Do đó, địa hình An Giang có 2 dạng chính là đồng bằng và đồi núi
2.1.3 Đặc điểm địa chất và kiến tạo
An Giang là 1 trong 2 tỉnh ĐBSCL có đồi núi, hầu hết đều tập trung ở phía Tây Bắc của tỉnh, thuộc 2 huyện Tịnh Biên và Tri Tôn Đây là cụm núi cuối cùng của dãy Trường Sơn, nên đặc điểm địa chất cũng có những nét tương đồng với vùng Nam Trường Sơn, bao gồm các thành tạo trầm tích và magma
2.1.4 Điều kiện khí hậu thủy văn
An Giang chịu ảnh hưởng của 2 mùa gió là: gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc Gió Tây Nam mát và ẩm nên gây ra mùa mưa Gió mùa Đông Bắc thổi vào An Giang xuất phát từ biển nhiệt đới phía Trung Quốc, nên có nhiệt độ cao hơn vùng băng tuyết Si-bê-ri và có độ ẩm lớn hơn, không tạo ra rét, mà chỉ hanh khô, có phần nắng nóng
2.1.5 Đất đai
An Giang là một tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long có diện tích đất canh tác lớn nhất trong vùng ĐBSCL Tổng diện tích đất nông nghiệp là 246.821 ha, trong đó
Trang 25đất trồng lúa chiếm hơn 82% Đất An Giang hình thành qua quá trình tranh chấp giữa biển và sông ngòi, nên rất đa dạng Mỗi một vùng trầm tích trong môi trường khác nhau sẽ tạo nên một nhóm đất khác nhau tuỳ theo những thay đổi về chất đất, địa hình, hệ sinh thái và tập quán canh tác Tuy nhiên có thể phân chia đất đai ở An Giang thành 3 nhóm chính: nhóm đất phèn, nhóm đất phù sa, nhóm đất đồi núi
2.1.6 Đặc điểm phân bố dân cư và lao động
An Giang có mật độ dân số tương đối cao, theo thống kê dân số của tỉnh năm
2011 là 2.049.039 người gồm 4 dân tộc chủ yếu: người kinh chiếm 94,21%, người khơme chiếm 4,31%, người Hoa chiếm 0,86%, người chăm 0,61% với tỷ lệ tăng dân số tự nhiên
Dân số phân bố không đồng đều, tập trung với mật độ cao ở các trung tâm như thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc, thị trấn Tân Châu Nhìn chung dân cư tập trung dọc các bờ sông, các tuyến kênh và các đường trục giao thông chính Tỷ lệ dân số thành thị chiếm khoảng 19%, còn lại là dân cư nông thôn Lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao, lao động kỹ thuật chiếm tỷ lệ thấp chỉ đạt 3,84%
2.2 Hiện trạng tài liệu, dữ liệu tài nguyên và môi trường
2.2.1 Hiện trạng cơ sở dữ liệu nền
Hiện nay tỉnh An Giang đã có bản đồ địa hình số ở tỷ lệ 1/5.000 gồm 353 mảnh Bản đồ địa hình được dùng để xây dựng cơ sở dữ liệu nền
2.2.2 Hiện trạng tài liệu, dữ liệu về đo đạc
* Lưới tọa độ địa chính cơ sở:
Được Tổng cục Địa chính xây dựng trong các năm 2001 và 2002 theo hệ tọa
độ VN-2000 trên phạm vi toàn tỉnh Với tổng số 124 điểm, được phân bố tương đối đều cho các huyện Hiện nay 100% số điểm vẫn đảm bảo đủ độ chính xác cho việc xây dựng lưới cấp thấp
* Lưới tọa độ địa chính cấp I, II hệ tọa độ HN-72:
Được xây dựng trong các năm 1993 - 1994 trên địa bàn thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc, huyện Tân Châu, huyện An Phú, huyện Thoại Sơn mạng lưới này lập chủ yếu phục vụ cho đo vẽ bản đồ địa chính khu vực khu dân cư Với
Trang 26tổng số 1367 điểm: Cấp I có 420 điểm, cấp II có 947 điểm Qua khảo sát thực địa thành phố Long Xuyên còn tồn tại khoảng 90%, các huyện thị còn tồn tại khoảng 35% - 40%
* Lưới tọa độ địa chính cấp I, II tọa độ độc lập giả định:
Được xây dựng trong các năm 1999 - 2003 lập riêng cho từng xã phục vụ trực tiếp cho việc đo vẽ bản đồ khu vực đất ở các xã thuộc huyện Châu Thành, Chợ Mới, Phú Tân, Châu Phú, Tri Tôn, Tịnh Biên Bao gồm 3202 điểm Các mốc mới được xây dựng còn tồn tại và ổn định tại thực địa khoảng 65% - 75%
Hiện trạng dữ liệu đo đạc được thể hiện ở bảng 2.1, như sau:
Bảng 2.1 Tổng hợp hiện trạng dữ liệu đo đạc
4 Huyện Thoại Sơn 308 149 159 HN-72 Còn sử dụng được 35%
5 Huyện Phú Tân 553 69 484 Độc lập Còn sử dụng được 65%
6 Huyện Tịnh Biên 438 106 332 Độc lập Còn sử dụng được 65%
7 Huyện Chợ Mới 775 112 663 Độc lập Còn sử dụng được 65%
8 Huyện Châu Phú 464 241 223 Độc lập Còn sử dụng được 65%
9 Huyện Tri Tôn 505 319 186 Độc lập Còn sử dụng được 75%
10 Huyện Châu Thành 467 18 449 Độc lập Còn sử dụng được 65%
(Nguồn: Do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang cung cấp)
Trang 272.2.3 Hiện trạng tài liệu, dữ liệu về đất đai
* Bản đồ địa chính
Bản đồ địa chính An Giang được thành lập theo từng khu vực tương ứng với mục đích sử dụng chung và tỷ lệ bản đồ Bản đồ địa chính được thành lập riêng cho từng khu vực đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp
Tổng hợp số lượng bản đồ trong lĩnh vực đất đai không tính quy hoạch chi tiết được thể hiện trong bảng 2.2, như sau:
Bảng 2.2 Tổng hợp số lượng bản đồ trong lĩnh vực đất đai
(không tính quy hoạch chi tiết)
1/6.000)
BĐ đất ở nông thôn, đô thị (1/2.000;1/1.000;
1/500)
BĐ quy hoạch sử dụng đất cấp xã (1/5.000)
Trang 28Khu vực đất nông nghiệp, bản đồ địa chính được thành lập từ năm 1990
-1996 Tỷ lệ 1/5000 và 1/6000, không gắn tọa độ Phương pháp thành lập chủ yếu là điều vẽ ảnh hàng không và chỉnh lý nhiều lần Hệ thống bản đồ này là cơ sở để đăng
ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Hiện nay hệ thống bản đồ này đã biến động lớn và đã được Ủy ban nhân dân tỉnh đầu tư xây dựng lại kết hợp với đăng ký cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Khu vực đất phi nông nghiệp, bản đồ địa chính được thành lập từ năm
1998, tỷ lệ 1/500-1/1000-1/2000 Phương pháp thành lập chủ yếu là đo mặt đất Bản
đồ địa chính trên địa bàn các huyện: Tân Châu, An phú, Thoại Sơn, Long xuyên, Châu đốc đều được gắn tọa độ quốc gia HN-72 và sau này là hệ VN-2000 Các huyện còn lại gán tọa độ gần với HN-72 phù hợp với hệ thống bản đồ địa hình 1/5000 Tất cả hệ thống bản đồ đều được làm bằng phương pháp số
- Hồ sơ địa chính khu vực đất phi nông nghiệp cũng được thiết lập song song quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Hồ sơ địa chính bao gồm tài liệu giấy và cơ sở dữ liệu số Dữ liệu số được quản lý rời rạc do không có phần mềm quản lý Các chương trình chuyển giao từ Bộ Tài nguyên và môi trường chỉ mang tính cấp thời giải quyết việc in giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Đặc biệt tại thời điểm hiệu lực của Luật Đất đai 2003 toàn bộ kết cấu kỹ thuật về thửa đất, loại đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều thay đổi, phá vỡ tất cả những phần mềm đang quản lý Đây cũng chính là nguyên nhân làm cho hệ thống hồ sơ địa chính hiện nay thiếu đồng bộ và mức độ cập nhật biến động ít
Khối lượng hiện trạng hồ sơ địa chính và các dữ liệu có liên quan được thể hiện tại bảng 2.3, như sau:
Trang 29Bảng 2.3 Tổng hợp hồ sơ địa chính và dữ liệu liên quan
STT Đơn vị hành
chính
HS đất nông nghiệp
HS Thanh tra
(Nguồn: Do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang cung cấp)
Bảng 2.4 Tổng hợp danh mục tài liệu và cấp lưu trữ
Sổ theo dõi biến động đất đai Quyển Tỉnh, Huyện, Xã
Số liệu thống kê, kiểm kê đất đai Bộ Tỉnh, Huyện, Xã
Hồ sơ giao, thuê, chuyển mục đích, chuyển
Hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ, chuyển
mục đích và chuyển nhượng QSDĐ hộ gia
đình, cá nhân
Hồ sơ Tỉnh, Huyện
(Nguồn: Do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang cung cấp)
Trang 30Mặc dù dữ liệu được cập nhật theo sự biến động của thực tế, tuy nhiên sự cập nhật này chưa được đồng bộ giữa bản đồ địa chính và hồ sơ địa chính Hơn nữa, bản
đồ và hồ sơ địa chính chưa được quản lý thống nhất giữa các cấp
Khả năng khai thác hồ sơ tư liệu:
- Thu thập hồ sơ, sổ bộ địa chính
- Chuyển hệ tọa độ của bản đồ địa chính về hệ tọa độ VN-2000
- Chuẩn hóa bản đồ địa chính theo quy định của bộ Tài nguyên và Môi trường
- Đồng bộ hóa bản đồ địa chính và hồ sơ địa chính
- Chuyển toàn bộ dữ liệu sau chuẩn hóa và đồng bộ vào cơ sở dữ liệu của phần mềm quản lý đất đai
- Chuyển dữ liệu vào cơ sở dữ liệu Tài nguyên và Môi trường
* Tài liệu, dữ liệu về quy hoạch sử dụng đất
Toàn tỉnh đã xây dựng cơ bản quy hoạch sử dụng đất cấp xã thời kỳ
2001-2010 Sản phẩm quy hoạch sử dụng đất bao gồm dạng giấy và dạng số Cơ sở dữ liệu này hiện được lưu trữ tại Văn phòng Đăng ký đất và thông tin tài nguyên môi trường Việc khai thác sử dụng còn hạn chế ở các cấp các ngành do việc quán lý thụ động, thiếu phương tiện và nền tảng thông tin để chia sẻ
2.2.4 Hiện trạng tài liệu, dữ liệu về môi trường
Các loại hồ sơ tư liệu tại phòng Môi trường đang quản lý gồm:
- Báo cáo quan trắc môi trường: Tài liệu báo cáo dạng file văn bản, các nội dung quan trắc gồm:
• Quan trắc hiện trạng không khí và tiếng ồn: Năm 2006 quan trắc tại 9 điểm khu dân cư và 11 điểm khu công nghiệp theo 2 mùa
• Quan trắc hiện trạng nước: năm 2006 quan trắc các chỉ tiêu môi trường nước của Sông Tiền tại 7 điểm, Sông Hậu tại 7 điểm và kênh rạch nội đồng tại 38 điểm theo 2 mùa; quan trắc các chỉ tiêu nước thải tại 10 điểm theo 2 mùa
• Quản lý chất thải rắn: Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 252 khu cụm, tuyến dân cư, trong đó có 178 khu cụm, tuyến dân cư có đội thu gom rác thải Trên địa bàn
Trang 31tỉnh có 11 bãi rác, 02 lò đốt chất thải y tế, có 3.638 cơ sở sản xuất có nguy cơ thải chất thải rắn nguy hại
• Rừng và đa dạng sinh học: Tỉnh An Giang có diện tích rừng tự nhiên khoảng 12.000 ha tập trung phần lớn ở vùng đồi núi và có trên 14 vùng đất ngập nước
• Thiên tai và sự cố môi trường: Sự cố môi trường xảy ra trên địa bàn tỉnh An Giang chủ yếu là sạt lở bờ sông
- Các hồ sơ đánh giá tác động môi trường các năm: 2003 có 1702 hồ sơ, 2004 có
465 hồ sơ, 2005 có 587 hồ sơ, 2006 có 342 hồ sơ, năm 2007 có 406 hồ sơ
Tài liệu phục vụ công tác quản lý môi trường được lưu ở dạng hồ sơ giấy Một số hồ sơ được lưu trên máy tính dạng bảng excel, chủ yếu phục vụ các yêu cầu báo cáo Phòng môi trường cũng có sử dụng bản đồ để thể hiện vị trí các điểm quan trắc Việc lưu trữ dữ liệu còn rời rạc không có phần mềm quản lý thống nhất
Các số liệu điều tra cơ bản chưa được thu thập, hiện nay Sở Tài nguyên và Môi trường đang lập dự án đầu tư để thực hiện việc điều tra cơ bản về các chỉ tiêu môi trường
2.2.5 Hiện trạng tài liệu, dữ liệu về tài nguyên khoáng sản
Tài liệu phục vụ công tác quản lý tài nguyên khoáng sản chủ yếu lưu ở dạng
hồ sơ giấy Một số ít hồ sơ được lưu trên máy tính nhưng chủ yếu phục vụ các yêu cầu báo cáo
- Dữ liệu bản đồ khoáng sản không có khả năng tích hợp với cơ sở dữ liệu Tài nguyên và Môi trường, vì thế cần phải chuyển vẽ lại trên cơ sở dữ liệu nền Hiện có 11 tờ đồ cấp phép khai thác khoáng sản đá và sét ở dạng giấy 24 tờ bản đồ cấp phép khai thác cát, trong đó có 3 tờ đã ở dạng số định dạng MapInfo
- Hiện có 11 hồ sơ cấp phép khai thác đá và sét, 24 hồ sơ cấp phép khai thác cát Tất cả các hồ sơ khai thác khoảng sản chưa được gắn kết với bản đồ, do đó cần phải số hóa lại hồ sơ khai thác khoáng sản, định vị hồ sơ trên cơ sở dữ liệu nền được tham chiếu theo bản đồ địa chính
Hệ thống tài liệu, dữ liệu về công tác quản lý tài nguyên khoáng sản tại Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang được thể hiện tại bảng 2.5, như sau:
Trang 32Bảng 2.5 Tổng hợp tài liệu, dữ liệu về khoáng sản
Bản đồ số
và báo cáo thuyết minh
Thông tin
về khoáng sản trên địa bàn tỉnh
và Thông tin tài nguyên Môi trường
Bản đồ số
Thông tin
về bản đồ địa hình
Bản đồ và báo cáo thuyết minh
Thông tin
nguyên nước dưới đất
Chưa được khai thác tốt
4 Hồ sơ khai thác
khoáng sản và tài
nguyên nước
Hồ sơ lưu trữ
Quản lý cấp phép khai thác
Chưa cao, rời rạc
(Nguồn: Do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang cung cấp)
2.2.6 Hiện trạng tài liệu, dữ liệu về tài nguyên nước
Các loại dữ liệu tài nguyên nước đang được quản lý:
- Dữ liệu điều tra việc khai thác nước dưới đất: Số liệu điều tra khoảng 8.000 giếng được lưu dưới dạng bảng tính
Trang 33Hiện nay dữ liệu phục vụ công tác quản lý tài nguyên nước còn lưu ở dạng
hồ sơ giấy, có một số hồ sơ được lưu trên máy tính nhưng chủ yếu phục vụ các yêu cầu báo cáo
- Dữ liệu bản đồ địa chất thủy văn không có khả năng tích hợp với cơ sở dữ liệu Tài nguyên và Môi trường, vì thế cần phải chuyển vẽ lại trên cơ sở dữ liệu nền
- Hồ sơ khai thác nước dưới đất chưa được gắn kết với bản đồ, do đó cần phải số hóa lại hồ sơ khai thác nước dưới đất, định vị hồ sơ trên cơ sở dữ liệu nền được tham chiếu theo bản đồ địa chính
2.2.7 Hiện trạng tài liệu, dữ liệu về quản lý và giám sát tai biến thiên nhiên
Nguồn dữ liệu quản lý và giám sát tai biến thiên nhiên trên địa bàn tỉnh An Giang chưa được xây dựng đầy đủ và hoàn chỉnh, chưa có bản đồ hiện trạng và dự báo tai biến thiên nhiên
Hiện tại chỉ có một tờ bản đồ chỉ sơ đồ các vị trí sạt lở đường bờ sông với 42 điểm sạt lở Bản đồ được xây dựng dạng số trên phần mềm MapInfo và không thống nhất với bản đồ địa hình nền, bàn đồ địa chính cơ sở do vậy không đáp ứng được nhu cầu dự báo, tính toán mức thiệt hại khi có sự cố sạt lở bờ xảy ra
Thống nhất với các sơ đồ các điểm sạt lở là hồ sơ quản lý 42 điểm sạt lở ở dạng giấy, một số số liệu quan trắc ở dạng bảng biểu thống kê excel
2.3 Các ứng dụng trong quản lý tài nguyên và môi trường tại tỉnh An Giang
Để phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực đất đai, tài nguyên và môi trường Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang rất chú trọng đến việc đầu
tư các hệ thống phấn mềm chuyên ngành để phục vụ tác nghiệp hàng ngày của cán
bộ chuyên môn Qua quá trình khảo sát đánh giá đa phần các phần mềm đều đang được vận hành tốt và hỗ trợ khá nhiều cho các hoạt động chuyên môn hàng ngày của Sở Tuy nhiên, hệ thống phần mềm này được vận hành độc lập ở từng bộ phận trực thuộc Sở nên chưa khai thác hiệu quả đối với hệ thống cơ sở dữ liệu hiện có của địa phương
Chi tiết các phần mềm ứng dụng đang vận hành tại Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang được thể hiện tại bảng 2.6, như sau:
Trang 34Bảng 2.6 Tổng hợp các phần mềm ứng dụng tại Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh An Giang
1 Microstation
Tự cài đặt (Mỹ)
- Biên tập bản đồ, kết nối cơ sở dữ liệu
- Quản lý, chỉnh lý BĐ ĐC khu vực đất ở Tốt
2 MapInfo
- Biên tập bản đồ chuyên đề, bản đồ hành chính, kết nối cơ sở dữ liệu
- Quản lý, chỉnh lý bản đồ số đất nông nghiệp
Phần mềm Quản lý đất đai Đang thử
nghiệm
6 I/GEOVEC
Tự cài đặt (Mỹ)
Chuyển đổi hệ tọa độ bản đồ từ HN72 sang
Cập nhật văn bản đi, đến Đang sử
dụng
14 Hồ sơ công việc
(Đề án 112)
TT Tin học tỉnh cài đặt Xử lý văn bản trên mạng
Sử dụng không hiệu quả
15 Foxpro Tự cài đặt
-Quản lý hồ sơ cấp GCNQSDĐ -Quản lý hồ sơ lưu trữ
-Quản lý hồ sơ đăng ký thế chấp -Quản lý tiếp nhận và trả kết quả -Quản lý đăng ký báo cáo, cam kết bảo vệ môi trường
-Quản lý văn thư
Bình thường
16 CT in GCN
Sở Tài nguyên và Môi trường
In giấy chứng nhận Tốt
(Nguồn: Do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang cung cấp)
Trang 35Chương 3 - GIẢI PHÁP TÍCH HỢP CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐẤT ĐAI, CƠ SỞ DỮ LIỆU TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG VÀ ỨNG DỤNG PHẦN MỀM 3.1 Đề xuất các giải pháp tích hợp cơ sở dữ liệu đất đai và cơ sở dữ liệu tài nguyên môi trường
Thông qua việc chồng xếp các lớp cơ sở dữ liệu đất đai và cơ sở dữ liệu GIS
để xác định mối liên hệ về vị trí địa lý (thông tin không gian) Từ đó xác định các mối liên hệ về tính chất, thuộc tính (thông qua thông tin thuộc tính)
Dữ liệu cơ sở dữ liệu GIS và cơ sở dữ liệu đất đai đều được xây dựng dựa trên các cơ sở toán học vững chắc như hệ quy chiếu, hệ tọa độ v.v Việc tích hợp hai dữ liệu này qua liên hệ không gian, đầu tiên phải đưa về cùng một hệ quy chiếu
Với cơ sở dữ liệu hệ thống thông tin địa hình thủy văn cơ bản Đồng bằng sông Cửu Long, hệ quy chiếu sử dụng là VN-2000, múi chiếu 60 và kinh tuyến trục
là kinh tuyến trung ương 1050
Cơ sở dữ liệu đất đai cũng được xây dựng trên hệ quy chiếu VN-2000, múi chiếu 30 và kinh tuyến trục là kinh tuyến địa phương (An Giang sử dụng kinh tuyến trục 105045’)
Một số phần mềm cho phép chuyển hệ trực tuyến (on the fly project) Cách chuyển hệ này đảm bảo không làm thay đổi hệ toạ độ gốc của dữ liệu, mà tọa độ của dữ liệu khi được hiển thị hay xử lý sẽ được chủ động chuyển đổi về một hệ quy chiếu quy định nào đó
Việc chồng xếp dữ liệu theo liên hệ vị trí không gian có thể phục vụ nhiều mục đích khác khau:
- Nếu phục vụ mục đích để điều chỉnh, cập nhật, bổ sung, tăng độ chính xác của một lớp đối tượng không gian nào đó, thông thường sẽ được chuyển đổi và so sánh với một lớp đối tượng không gian có chứa các đối tượng tương tự và có tính chất là được thành lập mới hơn và có độ chính xác cao hơn
- Nếu phục vụ mục đích qua sự liên kết không gian, từ đó tạo ra các liên kết
về thuộc tính, tính chất, thì không nhất thiết phải chuyển đổi, chồng xếp lớp đối tượng có độ chính xác kém hơn về lớp có độ chính xác cao hơn, mà tiêu chí ở đây là
Trang 36chọn lớp được chồng xếp là lớp tham chiếu để tích hợp và bổ sung thông tin từ các thông tin thuộc tính với của lớp tham chiếu Ví dụ nếu phục vụ mục tiêu tra cứu thông tin đất đai từ trên cơ sở dữ liệu GIS, chúng ta sẽ chuyển đổi cơ sở dữ liệu địa chính về chồng xếp lên cơ sở dữ liệu GIS
Với yêu cầu này công cụ chồng xếp, chuyển đổi dữ liệu hoàn toàn xây dựng dựa trên công cụ chuyển đổi hệ tọa độ của những phần mềm thương mại sẵn có như ArcGIS, MapInfo hoặc những công cụ như MapTran
Tuy nhiên, độ chính xác về vị trí của các đối tượng không gian ảnh hưởng nhiều đến việc tích hợp các lớp thông tin giữa các cơ sở dữ liệu không gian khác nhau Ví dụ khi chồng xếp lớp thửa đất với cơ sở dữ liệu hệ thống thông tin địa hình thủy văn, có thể xảy ra những trường hợp như 1 phần thửa đất có thể rơi vào đối tượng sông suối, đường giao thông hoặc đường ranh giới của các đối tượng sông suối, giao thông trên 2 cơ sở dữ liệu không trùng nhau Đây là một hiện tượng thường thấy khi chồng xếp hai lớp thông tin được xây dựng với hệ quy chiếu khác nhau, độ chính xác khác nhau, phương pháp thành lập khác nhau
Để giải quyết vấn đề này, chúng ta sử dụng các phương pháp nắn hình học để đưa một trong 2 lớp đối tượng không gian có độ chồng xếp chính xác hơn về vị trí không gian với lớp kia Tuy nhiên cách nắn này chỉ có tính chất cục bộ (khó sử dụng trên phạm vi địa lý rộng) và đôi khi mang tính chủ quan của người xử lý (việc lấy các điểm điều khiển để nắn) Vì vậy, sản phẩm của việc nắn chỉ nên sử dụng như là cách làm cho tăng cường độ chính xác khi chồng xếp về mặt không gian Các sản phẩm sau khi nắn có thể chỉ được coi là sản phẩm trung gian phục vụ cho một công đoạn trong toàn bộ quy trình để giải một bài toán tích hợp không gian
3.2 Giải pháp kỹ thuật, công nghệ quản lý tích hợp và đa chiều của hai cơ sở
dữ liệu LIS và GIS
3.2.1 Giải pháp chuyển đổi các hệ thống bản đồ về hệ thống bản đồ nền địa hình
Theo mô hình thiết kế cơ sở dữ liệu tích hợp thì cơ sở dữ liệu địa hình thủy văn cơ bản vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐH-TVCB ĐBSCL) là nền, sau đó được tích hợp
Trang 37với các cơ sở dữ liệu chuyên đề như đất đai, môi trường Vì vậy giải pháp chuyển đổi các hệ thống bản đồ để tích hợp trong một hệ thống thống nhất được xem xét như sau:
+ Chuyển đổi các lớp thông tin bản đồ ở các hệ thống tọa độ khác nhau về một hệ thống chung, chuyển hệ thống bản đồ chuyên đề đang ở các hệ tọa độ khác nhau về
hệ tọa độ của cơ sở dữ liệu nền Cụ thể ở đây là chuyển đổi các lớp thông tin cơ sở
dữ liệu đất đai về hệ tọa độ VN-2000 quốc gia của cơ sở dữ liệu ĐH-TVCB ĐBSCL Công cụ để chuyển đổi tọa độ có thể sử dụng các công cụ phần mềm hiện
có (phần mềm của Cục Công nghệ Thông tin - CIREN, phần mềm của Cục Đo đạc
và Bản đồ Việt Nam), hoặc sử dụng các công cụ nắn bản đồ theo các điểm địa vật (MGE của Intergraph)
+ Thay đổi hệ tọa độ của các lớp thông tin chuyên đề về hệ tọa độ của cơ sở dữ liệu nền khi hoạt động trong một môi trường phần mềm, bản chất hệ tọa độ trong cơ sở
dữ liệu được lưu trữ không thay đổi Cách này trong GIS thường được gọi là On the fly projection Phần lớn các phần mềm GIS hiện tại đều cho phép thực hiện chức năng này như MapInfo, ArcGIS
Đánh giá ưu, nhược điểm của từng phương pháp như sau:
+ Chuyển đổi về một hệ thống tọa độ chung: Đảm bảo tính đồng nhất của toàn bộ cơ
sở dữ liệu tích hợp Dữ liệu khi chuyển đổi có thể được xử lý (nắn chỉnh lại) để đảm bảo tính chính xác hơn về mặt vị trí giữa các lớp thông tin Việc sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu đơn giản, dễ dàng Nhược điểm là các lớp thông tin chuyên đề đã chuyển đổi tọa độ sau đó nếu được xử lý, cập nhật sẽ phải thực hiện trên hệ thống tọa độ mới, ảnh hưởng rất nhiều đến tích chất chuyên ngành của dữ liệu, và dữ liệu này sẽ không được coi là dữ liệu gốc mà chỉ là dữ liệu dẫn xuất
+ Thay đổi hệ tọa độ On the fly Projection: Ưu điểm của giải pháp này là sử dụng dễ dàng, cho phép tích hợp rất nhanh chóng dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau không phải xử lý việc nắn, chuyển, bảo toàn được dữ liệu gốc Nhược điểm của giải pháp này là độ chính xác vị trí không cao, ảnh hưởng đến việc phân tích xử lý dữ liệu Các chức năng phân tích xử lý không gian cũng bị hạn chế
Trang 38Đề tài, luận văn sử dụng phương án 2 trong công tác xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp, mô hình của cơ sở dữ liệu như sau:
Hình 3.1 Tích hợp các thành phần của cơ sở dữ liệu
Cơ sở dữ liệu tích hợp gồm 3 cơ sở dữ liệu thành phần:
- Cơ sở dữ liệu địa hình thủy văn cơ bản: Đây là cơ sở dữ liệu có tính nền làm
cơ sở (khung - framework) để trình bày các lớp thông tin bản đồ khác khau
- Cơ sở dữ liệu đất đai: Gồm bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính, các bản đồ chuyên đề khác về đất đai Các lớp thông tin bản đồ sẽ được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu đất đai theo đúng hệ quy chiếu của hệ thống bản đồ đã được quy định (theo hệ tọa độ
Trang 39địa phương) và quản lý bằng các phần mềm hệ thống thông tin đất đai Tuy nhiên, để
có thể tích hợp với cơ sở dữ liệu địa hình thủy văn nền, lớp bản đồ này sẽ được hiển thị trên nền các lớp thông tin của cơ sở dữ liệu địa hình thủy văn bằng phương pháp thay
đổi hệ tọa độ “On the fly Projection” thông qua các phần mềm ArcGIS
- Cơ sở dữ liệu tài nguyên môi trường: Các lớp thông tin bản đồ Tài nguyên và Môi trường sẽ được xây dựng trên nền của cơ sở dữ liệu địa hình thủy văn (theo hệ tọa
độ của cơ sở dữ liệu địa hình thủy văn) và quản lý bằng các phân hệ phần mềm Tài nguyên và Môi trường Các tài liệu về Tài nguyên và Môi trường trước đây sẽ được chuyển đổi về tọa độ của cơ sở dữ liệu địa hình thủy văn bằng phương pháp nắn tọa độ
3.2.2 Giải pháp tích hợp các lớp thông tin khác nhau thông qua các dữ liệu thuộc tính
Mối liên kết giữa các lớp thông tin không gian ngoài vị trí không gian, còn có các mối liên kết dựa trên những thông tin thuộc tính mô tả tính chất, sự ràng buộc về quản lý: ví dụ như về mặt quản lý lãnh thổ theo địa giới hành chính, địa danh, tên địa vật…
Đề tài, luận văn xem xét một số khả năng liên kết qua các thông tin thuộc tính
có thể được sử dụng để kết nối giữa cơ sở dữ liệu đất đai và cơ sở dữ liệu ĐH-TVCB ĐBSCL như sau:
* Qua mã địa giới hành chính: xã, huyện, tỉnh
Với các thông tin của cơ sở dữ liệu địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, các yếu tố cơ bản đều được quản lý theo đơn vị hành chính Vì vậy giải pháp sử dụng mã của đơn vị hành chính để liên kết giữa cơ sở dữ liệu ĐH-TVCB ĐBSCL và cơ sở dữ liệu đất đai là hợp lý Tuy nhiên, mối liên kết này không có tính cân bằng giữa hai chiều Các đối tượng của cơ sở dữ liệu ĐH-TVCB ĐBSCL, phần lớn được quản lý theo vị trí địa lý, không giới hạn bởi địa giới hành chính nên khó khăn hơn trong việc liên kết ngược lại
* Qua địa danh
Địa danh là một yếu tố có vừa thể hiện giữa quản lý hành chính và vị trí địa lý Thông thường, địa danh không được thể hiện tường minh trong cơ sở dữ liệu đất đai