Tiêm có vai trò quan trọng trong việc phòng và chữa bệnh tại các cơ sở y tế nhất là tại các bệnh viện, đặc biệt nơi có nhiều người bệnh nặng, nhưng hiện nay có khoảng 50% số mũi tiêm tại
Trang 1TRẦN THỊ KIM NGÂN
TIÊM AN TOÀN TẠI KHOA NỘI HÔ HÁP
BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯONG THÁI NGUYÊN 2014
Chuyên ngành: ĐIỀU DƯỠNG NỘI
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐIỀU DƯỠNG CHUYỂN KHOA CẤP I
H nóng riẫn khna học: ThS- Phạm Thị Kiều Anh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIÊU DUƠNG
nám'oịnh
THỰ, VIÊN
NAM ĐỊNH, 2015
Trang 2túc, do tôi trực tiếp thực hiện Các số liệu, kết quả nêu trong chuyên đề là trung thực và chưa có ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác Nấu
có điều gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Học viên
Trần Thị Kim Ngân
Trang 3Bơm kim tiêm
Center for Disease Control and Prevention (Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ)
Điều dưỡng viên
Hepatitis B virus (vi rút viêm gan B)
Hepatitis c virus (vi rút viêm gan C)
Human Immunodeficiency Virus (Vi rút gây suy giám miễn dịch
ở người)
Người bệnh
Nhiễm khuẩn bệnh viện
Nhân viên y tế
Rửa tay thường quy
: Safe Injection Global Network (Mạng lưới tiêm an toàn toàn cầu) : Số lượng
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN 1: TỐNG QUAN TÀI LIỆU 4
1 Định nghĩa 4
1 1 Tiêm an toàn 4
1.2 Phòng ngừa chuẩn 4
1.3 Nhiễm khuẩn bệnh viện 4
1.4 Kiểm soát nhiễm khuẩn liên quan đến tiêm an 4
1.5 Phòng ngừa chuẩn liên quan đến tiên an toàn 5
2 Nguyên nhân và những rủi ro xảy ra do tiêm không an toàn 5
2.1 Nguyên nhân của việc tiêm không an to à n 5
2.2 Những rủi ro do tiêm không an toàn gây 6
3 Một số nghiên cứu trên thế giói và tại Việt N am 9
3.1 Các nghiên cứu trên thế g iớ i 9
3.2 Các nghiên cứu tại Việt N a m 11
PHẦN 2: TỐNG KẾT NỘI DUNG THựC TIỄN 15
1 Các chỉ số cần thu thập 15
2 Công cụ thu thập số liệ u 15
3 Phưong pháp thu thập số liệu 16
4 Tiêu chuẩn đánh giá tiêm an to à n 17
PHẦN 3: THỰC TRẠNG VẤN Đ Ề 19
PHẦN 4: GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ, ĐỀ X U Ấ T 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
PHỤ LỰC 28
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tiêm là một thủ thuật tương đối phổ biến trong quá trình điều trị Trên toàn thế giới, ước tính mỗi năm một người nhận khoảng 1,5 mũi tiêm [4, 13], [18].Tại các nước đang phát triển, hàng năm có khoảng 25 tỷ mũi tiêm trong đó 90% với mục đích điều trị, 3-10% tiêm chủng, 1% nhằm mục đích kế hoạch hóa gia đình và 1% được sử dụng trong truyền máu và các sản phẩm của máu [23] Tiêm có vai trò quan trọng trong việc phòng và chữa bệnh tại các cơ sở y tế nhất là tại các bệnh viện, đặc biệt nơi có nhiều người bệnh nặng, nhưng hiện nay có khoảng 50% số mũi tiêm tại các nước đang phát triển chưa đạt đủ các tiêu chuẩn cần thiết cho một mũi tiêm an toàn [1], [3], [15],tỷ lệ này ở khu vực Đông Âu vào khoảng 15% [16] Hậu quả của việc tiêm không an toàn có thể gây ra những nguy cơ như áp xe, teo cơ tại vị trí tiêm, sốc phản vệ và đặc biệt là nguy cơ lây truyền các virus qua đường máu như virus viêm gan B, viêm gan c và HIV/AIDS cho cả người bệnh, nhân viên y tế và cộng đồng [3],Theo thống kê, từ mũi tiêm không an toàn có từ 2-9% các trường hợp nhiễm HIV/AIDS hàng năm, 2 triệu người mỗi năm nhiễm viêm gan B, c và 1,3 triệu người tử vong sớm/năm, phí tổn y tế trực tiếp là 535 triệu đô la Mỹ/năm Vì vậy, hiện nay vấn đề tiêm an toàn là một trong những nội dung đang được quan tâm ở nhiều nước [1], [9]
Có nhiều lý do dẫn đến tiêm không an toàn, bên cạnh các động tác tiêm hay gặp sai sót trong quá trình thực hiện các quy trình kỹ thuật tiêm thì phương tiện, dụng cụ tiêm và vấn đề xử lý rác thải sau tiêm cũng là những yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến mũi tiêm không an toàn [14]
Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên là bệnh viện đa khoa hạng I- Bệnh viện đầu ngành của tỉnh, mỗi năm đón nhận và điều trị trên 200.000 lượt người bệnh điều trị nội trú và đã có hàng triệu mũi tiêm được thực hiện/năm với mục đích điều trị cho người bệnh Tuy vậy, cho tới nay trên địa
Trang 6bàn tỉnh và Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên nói chung cũng như tại khoa Nội hô hấp của bệnh viện nói riêng chưa có một nghiên cứu đầy đù nào xem xét thực trạng nguồn lực và kiến thức, thái độ, thực hành của điều dưỡng viên về tiêm an toàn Câu hỏi được đặt ra là: Vậy thực trạng nguồn lực đảm bảo tiêm an toàn cũng như kiến thức, thái độ, thực hành của điều dưỡng viên về tiêm an toàn như thế nào? Chính vì vậy chúng tôi tiến hành chuyên dề
“Tiêm an toàn tại khoa nội hô hấp Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên 2014”.
Trang 7MỤC TIÊU CỦA CHUYÊN ĐỀ
1 Thực trạng tiêm an toàn của điều dưỡng viên tại khoa nội hô hấp Bệnh viện Đa Khoa Trung ương Thái Nguyên
2 Đề xuất giải pháp nhằm thực hiện tiêm an toàn của điều dưỡng viên tại khoa nội hô hấp Bệnh viện Đa Khoa Trung ương Thái Nguyên
Trang 8PHẦN 1: TỎNG QUAN TÀI LIỆU
1 Định nghĩa
1.1 Tiêm an toàn
Tiêm an toàn (TAT) là mũi tiêm có sử dụng phương tiện tiêm vô
khuẩn, phù hợp với mục đích, không gây hại cho người được tiêm, không
gây nguy cơ phơi nhiễm cho người thực hiện tiêm, và không gây chất thải
nguy hại cho người khác Hay nói cách khác, tiêm an toàn là mũi tiêm
“An toàn cho người bệnh, an toàn cho cộng đồng và an toàn cho cán bộ y
tế” [13]
1.2 Phòng ngừa chuẩn
Phòng ngừa chuẩn là tổng họp các phương pháp “Dự phòng phổ cập”
(nhằm giảm nguy cơ lây truyền tác nhân gây bệnh đường máu) và “cách ly
chất tiết và chất thải của cơ thể” (nhằm làm giảm nguy cơ lây truyền tác nhân
gây bệnh từ chất tiết, chất thải của cơ thể) [1],
1.3 Nhiễm khuẩn bệnh viện
Nhiễm khuẩn bệnh viện là nhiễm khuẩn mà người bệnh mắc phải trong
thời gian nằm viện Thông thường nhiễm khuẩn bệnh viện xảy ra sau 48 giờ
nhập viện Nhiễm khuẩn này không hiện diện cũng như không ở trong giai
đoạn ủ bệnh tại thời điểm nhập viện [11]
Kiểm soát nhiễm khuẩn và tiêm an toàn luôn có mối liên hệ mật thiết với
nhau Thực hiện các mũi tiêm an toàn sẽ góp phần giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn
bệnh viện và thực hiện tốt việc kiểm soát nhiễm khuẩn sẽ tăng tỷ lệ các mũi
tiêm an toàn Trong mối liên hệ với tiêm an toàn, một số giải pháp thực hành
kiểm soát nhiễm khuẩn bao gồm: (1) Sử dụng phương tiện tiêm vô khuẩn; (2)
Phòng ngừa sự nhiễm bẩn phương tiện và thuốc tiêm; (3) Phòng ngừa các tác
nhân gây bệnh cho người tiêm do mũi kim tiêm; và (4) Cô lập và quản lý triệt
để bơm kim tiêm đã dùng Ngoài ra còn một số giải pháp khác liên quan đến
Trang 9việc sản xuất bom kim tiêm, hành vi thực hành của nhân viên y tế (rửa tay, mang găng khi tiêm, ) [1],
Nội dung của phòng ngừa chuẩn liên quan đến tiêm an toàn bao gồm: (1) Rửa tay thường quy và sát khuẩn tay nhanh; (2) Sử dụng trang phục phòng hộ
cá nhân để tránh tiếp xúc với máu, dịch tiết; (3) Sử dụng những phương tiện
và thực hành chăm sóc an toàn; (4) Phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn và mũi kim đâm [12]
Vệ sinh bàn tay là thành phần cơ bản của phòng ngừa chuẩn và là biện pháp hiệu quả nhất trong nỗ lực kiểm soát sự lây truyền tác nhân gây bệnh trong các cơ sở y tế [1], Vệ sinh bàn tay đối với nhân viên y tế (NVYT) được hiểu như thuốc kháng sinh hữu hiệu, ít tốn kém nhất, đơn giản nhất để giữ cho bệnh viện có được môi trường sạch Bác sỹ và người bệnh có được rào chắn
an toàn trước sự tấn công của vi khuẩn từ đó có thể tránh được các NKJ3V do bàn tay không sạch gây nên Nếu cán bộ y tế thực hiện nghiêm việc rửa tay đúng quy trình sẽ giúp giảm 50% số ca nhiễm khuẩn bệnh viện Ngược lại, nếu không làm tốt công tác chống nhiễm khuẩn bệnh viện, các bệnh nguy hiểm sẽ lan ra các bệnh nhân đang điều trị tại bệnh viện, sau đó lây nhiễm sang người nhà bệnh nhân và nhân viên y tế [6] Tuy nhiên, hiện nay các nhân viên y tế vẫn chưa chú ý đến việc rửa tay, đặc biệt là việc rửa tay trước khi tiếp xúc với mỗi bệnh nhân Chính vì vậy, WHO đã ra lời kêu gọi tất cả các nhân viên làm việc tại bệnh viện cần phải rửa tay thường xuyên hơn nữa bằng dung dịch sát khuẩn và nếu không có những dung dịch này thì nhất thiết phải rửa bằng xà phòng thường
2 Nguyên nhân và những rủi ro xảy ra do tiêm không an toàn
2.1 Nguyên nhân của việc tiêm không an toàn
Hiện nay, vấn đề tiêm không an toàn vẫn xảy ra phổ biến tại các nước đang phát triển và các nước kém phát triển WHO gọi tiêm không an toàn là
Trang 10dịch bệnh thầm lặng làm lây truyền viêm gan B, c và HIV Có nhiều lý do dẫn đến việc tiêm thiếu an toàn bao gồm cả các yếu tố chủ quan và khách quan.Đầu tiên phải kể đến vấn đề lạm dụng thuốc tiêm trong điều trị bệnh Có nhiều người bệnh thay vì có thể điều trị bằng thuốc uống thì vẫn được sử dụng thuốc tiêm Đối với người bệnh, họ thường đề nghị hoặc yêu cầu bác sĩ cho dùng thuốc tiêm vì họ tin rằng việc sử dụng thuốc tiêm sẽ giúp họ nhanh khỏi bệnh hơn so với thuốc uống Với thầy thuốc, vì niuốn thỏa mãn nhu cầu của người bệnh nên sẽ tiêm cho họ mặc dù bệnh đó có thể được điều trị bằng phương pháp khác Nếu họ không làm như thế người bệnh sẽ cho rằng họ không quan tâm, đôi khi thắc mắc hoặc kiện cáo [22] Trong một số trường hợp, họ cũng tin rằng thuốc tiêm cũng sẽ nhanh khỏi hơn thuốc uống, đưa
ra chỉ định thuốc tiêm chưa hợp lý hoặc có thể họ muốn có lợi ích tài chính cao hơn [14] Đôi khi việc thiếu sự trao đổi giữa người sử dụng dịch vụ và người cung cấp dịch vụ có thể cũng góp phần trong việc lạm dụng tiêm[15]
Chính vì việc lạm dụng thuốc tiêm đã dẫn đến số mũi tiêm ngày càng nhiều và nguy cơ xảy ra mũi tiêm không an toàn lại càng lớn Do đó, nếu hạn chế được các mũi tiêm không cần thiết không chỉ làm giảm được một nửa số mũi tiêm không an toàn mà còn làm giảm việc lây truyền các tác nhân gây bệnh qua đường máu, tiết kiệm nguồn lực y tế đồng thời sẽ giảm bớt gánh nặng kinh tế của người bệnh [24] Theo hướng dẫn của WHO, trong khi sử dụng thuốc phải đảm bảo đúng người bệnh, đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng đường dùng và đúng thời gian [11]
Tiêm không an toàn không chỉ gây nguy cơ lây bệnh hết sức nguy hiểm cho người được tiêm, nguy cơ phơi nhiễm cho người tiêm mà còn gây thiệt hại rất lớn về kinh tế và ảnh hưởng không nhỏ đến cộng đồng [13] Từ mũi tiêm không an toàn có thể là tác nhân gây nên 40 loại bệnh khác nhau trong
Trang 11đó phải kể đến là viêm gan B, viêm gan c, HIV/AIDS, bệnh sốt xuất huyết, sốt rét, uốn ván, từ đó làm tăng rủi ro và gánh nặng của các bệnh truyền nhiễm [18].
Theo ước tính của WHO, mỗi năm từ mũi tiêm không an toàn đã làm ảnh hưởng đến 10-26 triệu người, làm cho 417.000 - 1,3 triệu người tử vong, mất 26 triệu năm sống, phí tổn y tế gián tiếp là 535 triệu đô la Mỹ/năm [18] Cũng từ mũi tiêm không an toàn có từ 8-16 triệu người mắc bệnh viêm gan B (HBV) mỗi năm, 2,3-4,7 triệu người mắc bệnh viêm gan c (HCV) trên toàn thế giới [16] Cũng theo thống kê của WHO thì năm 2000 có 260.000 ca mới nhiễm HIV/AIDS do tiêm thiếu an toàn gây nên và con số này vào năm 2008
đã lên đến 340.000 ca [18], số lượng ca mắc mới viêm gan B, viêm gan c và HIV/AIDS do tiêm thiếu an toàn gây nên chiếm 32%, 40%, và 5% trườn» hợp mắc bệnh [18] Đặc biệt tại Nam Á, tỷ lệ nhiễm HIV do tiêm không an toàn (TKAT) chiếm đến 9% các trường hợp [22],
Đối với vấn đề sức khỏe bà mẹ trẻ em, ước tính mỗi năm có khoảng 0,12% số ca tử vong trẻ em dưới 5 tuổi là hậu quả của việc tiêm không an toàn Trong đó, 989 trường hợp chết vì HIV/AIDS, 628 trường hợp tử vong
vì vi rút viêm gan B, và 45.992 tử vong vì nhiễm trùng máu số ca tử vong
mẹ mỗi năm vì nhiễm virut viêm gan B, nhiễm trùng máu do hậu quả của tiêm không an toàn lần lượt là 7.270 và 4.492 ca Trên toàn thế giới, nếu khắc phục được vấn đề tiêm không an toàn thì có thể giảm được 2,3% số ca
tử vong mẹ [19]
Phơi nhiễm nghề nghiệp phổ biến nhất là phơi nhiễm với tác nhân gây bệnh theo đường máu [14] Tổn thương gây nhiễm khuẩn phổ biến nhất là do kim tiêm đâm, trong đó đối tượng hay bị nhất là điều dưỡng viên (44-72%), sau đó là bác sĩ (28%), kỹ thuật viên xét nghiệm (15%), hộ lý/người làm vệ sinh (3-16%) và cuối cùng là nhân viên hành chính và khách (1-6%) Tiêm
Trang 12không an toàn cũng làm tổn hại tới cộng đồng do cơ sở hạ tầng không tốt và
xử lý rác thải không an toàn [1]
Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) ước tính có khoảng hơn200.000 trường hợp NVYT bị nhiễm HBV ở Hoa Kỳ mỗi năm, dẫn đến10.000 trường hợp nằm viện, 250 trường hợp tử vong do viêm gan bùng phát,4.000 trường hợp tử vong do xơ gan và 800 trường hợp tử vong do ung thư gan Còn tại Anh, một nghiên cứu tại 4 bệnh viện cho thấy có 170 trường hợp nhân viên y tế bị tai nạn (140 qua da và 30 qua niêm mạc) được báo cáo trong năm 2006 [6],
Như vậy có thể thấy, số lượng ca nhiễm khuẩn do tiêm thiếu an toàn là rất lớn và để lại hậu quả hết sức nghiêm trọng Tuy vậy, theo CDC và WHO thì trên 80% tổn thương do kim tiêm có thể ngăn ngừa được bằng cách sử dụng dụng cụ tiêm an toàn; kết họp với công tác giáo dục và đào tạo, giám sát
và kiểm tra việc thực hành tiêm của NVYT [1],
Đe nhằm hạn chế các nguy cơ rủi ro do tiêm không an toàn, năm 1999,
Tổ chức Y tế Thế giới đã thành lập Mạng lưới tiêm an toàn toàn cầu (SIGN) với sự hợp tác của các tổ chức như GAVI, UNICEF, UNFPA, Chương trình
an toàn tiêm bao gồm ba chiến lược chính nhằm cải thiện trong thực hành tiêm Bao gồm: (1) Thay đổi hành vi của người bệnh và nhân viên y tế để giảm lạm dụng tiêm và đạt được an toàn tiêm; (2) Đảm bảo sự sẵn có các dụng cụ tiêm có chất lượng; và (3) Quản lý chất thải sắc nhọn Thực hiện các chiến lược này sẽ tạo điều kiện cải thiện an toàn người bệnh bằng cách ngăn chặn việc tái sử dụng các dụng cụ tiêm hoặc giảm các mũi tiêm không cần thiết; đảm bảo an toàn cho nhân viên y tế không bị chấn thương do kim tiêm, cung cấp vaccin viêm gan B hoặc điều trị dự phòng phơi nhiễm và an toàn cộng đồng thông qua quản lý an toàn chất thải sắc nhọn Kết quả tại các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển đã cho thấy hiệu quả của các biện pháp can thiệp trong việc cải thiện an toàn tiêm [23]
Trang 133 Một số nghiên cứu trên thế giói và tại Việt Nam
Thực hành tiêm không an toàn đã được báo cáo từ nhiều quốc gia, bao gồm Ấn Độ, Pakistan, Indonesia, N epal, Thực hành tiêm không an toàn cũng xảy ra khá phổ biến ở các nước thu nhập thấp khác Một đánh giá toàn diện tất cả các nghiên cứu và báo cáo liên quan đến thực hành tiêm an toàn tại
19 quốc gia có thu nhập thấp, và dựa trên những kết quả ước tính tỷ lệ tiêm không an toàn Tiêm không an toàn trong trường họp này chỉ bao gồm những mũi tiêm có bơm tiêm, kim tiêm hoặc cả hai được tái sử dụng mà không dược khử khuẩn Kết quả cho thấy có 14 nước ít nhất có 50% mũi tiêm dược coi là không an toàn [15]
Nghiên cứu kiến thức và thực hành về an toàn tiêm của 122 điều dường tại một bệnh viện ở Benin, Nigeria cho thấy chỉ có 13,1% điều dưỡng cỏ kiến thức đầy đủ về tiêm an toàn Tỷ lệ đối tượng biết tiêm không an toàn có thể làm lây nhiễm HIV/AIDS, HBV và HCV lần lượt là 86,2%, 55,3%, 38,3% và 37,2% biết có thể gây nên hiện tượng áp xe về thực hành, chỉ có 3,3% sử dụng găng tay thường xuyên, 78,7% luôn rửa tay với nước và xà phòng sau khi tiếp xúc với người bệnh, 44,2% không bao giờ đậy nắp kim tiêm sau khi
sử dụng [18] Một nghiên cứu khác của Emest cũng cho thấy nhận thức của NVYT về thực hành tiêm an toàn còn nhiều hạn chế và điều đó có thể đặt vào nguy cơ bị kim tiêm đâm khi thực hành tiêm và do đó làm lầy lan HIV và các bệnh nhiễm trùng khác Chính vì vậy, việc đào tạo về thực hành tiêm an toàn
là rất cần thiết [21]
Nghiên cứu của Musa cho thấy, 67,5% (69/102) NVYT cho rằng phương pháp tốt nhất để xử lý chất thải phát sinh sau tiêm là đem đốt Khi quan sát thực tế cũng cho thấy hầu hết các cơ sở y tế đều xử lý BKT sau khi sừ dụng bằng phương pháp đốt (48%), tuy nhiên vẫn còn 24% cơ sở y tế cho vào một cái hố không đảm bảo an toàn an toàn 83% thích được dùng BKT sử dụng
Trang 14một lần nhưng có tới 73,5% xác nhận rằng hiện họ vẫn đang sử dụng cả BKT dùng một lần và BKT được khử khuẩn tại nơi làm việc của mình [17].
Nghiên cứu của Youwang Yan cho thấy, trong số 175 mũi tiêm được quan sát thì có 147 mũi tiêm an toàn và 28 mũi tiêm không an toàn, với tỷ lệ tương ứng là 84% và 16% Trong số 28 mũi tiêm không an toàn, 25 mũi tiêm không sát khuẩn da trước khi tiêm, 2 mũi sai phương pháp khử trùng và 1 mũi
do tái sử dụng một bơm kim tiêm bị ô nhiễm Kết quả phỏng vấn 118 NVYT
có 95%, 59% và 89% biết TKAT có thể làm lây nhiễm HIV, HCV và HBV Bên cạnh đó, 96% cho rằng cần thiết phải kiểm tra thuốc và người bệnh trước khi tiêm và 81% biết TKAT có thể dẫn đến chấn thương bởi kim tiêm [24].Kết quả điều tra thực hành tiêm an toàn tại các cơ sở y tế côno và tư nhân tại 4 nước Oman, Philippines, Seychelles và Lào cho thấy: NVYT ngay lập tức bỏ kim tiêm/ống tiêm sau khi tiêm vào hộp an toàn ở Oman là 93,6%
ở khu vực nhà nước và 84,1% ở khu vực tư nhân, tỷ lệ này ở Lào lần lượt là 49,2% và 58,8%, ở Seychelles là 80% và 100%, tuy nhiên tỷ lệ này ờ Philippines chỉ là 8,3% Tỷ lệ NVYT đeo găng tay mới khi bắt đầu một mũi tiêm ở Oman là 46,2% và 38,2%; ở Lào là 26,1% và 21,4%; ở Philippines là 17% và ở Seychelles là 88,9% Tỷ lệ NVYT không dùng hai tay để đậy nắp kim tiêm sau khi tiêm xong là 27,0% và 61,8% ở Oman, 26,1% và 53,3% ở Lào trong khi đó tỷ lệ này là 26,5% tại Philippines và 88,9% ở Seychelles Nghiên cứu cũng cho thấy sự hạn chế về thực hành tiêm an toàn của nhân viên y tế là do thiếu trang thiết bị và vật tư, thiếu đào tạo, thiếu quản lý chất thải sắc nhọn (thu gom, vận chuyển và xử lý) [17]
Một đánh giá nhanh về thực hành tiêm tại Campuchia cho thấy, toàn bộ trong số 500 người dân được phỏng vấn cho rằng lần tiêm gần đây nhất họ được sử dụng ống tiêm và kim tiêm mới Đối với nhân viên y tế, có 47% (trong số 60 người) cho rằng họ đã kê đơn thuốc tiêm hoặc truyền Quan sát thực hành tiêm của 60 nhân viên y tế cho thấy có 58% thu hồi lại ống tiêm sau
Trang 15khi sử dụng, 13% không vứt bỏ kim tiêm và bơm tiêm đã sử dụng đúng phương pháp [20],
3.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Nghiên cứu của Hội Điều dưỡng Việt Nam năm 2005 tại 8 tỉnh đại diện cho cả 3 vùng Bắc, Trung, Nam cho kết quả: trong số 776 mũi tiêm được quan sát có 35,4% mũi tiêm NVYT không rửa tay trước khi chuẩn bị dụng cụ tiêm, 55,8% không sát khuẩn tay trước khi đâm kim qua da, 9,5% dùng hai tay để đậy nắp kim tiêm đã sử dụng, về quy trình tiêm: 100% mũi tiêm sử dụng BKT vô khuẩn một lần, 99,2% mũi tiêm đúng vị trí, 97,2% tiêm đúng
độ nghiêng (góc tiêm) và 91,5% tiêm đúng độ sâu Chỉ có 22,5% mũi tiêm đạt tiêu chí an toàn [13]
Kết quả điều tra tiêm an toàn tại 7 bệnh viện và trung tâm y tế trên địa bàn Hà Nội cho thấy: có 17% cán bộ được phỏng vấn cho rằng hiện nay các mũi tiêm chưa an toàn đối với người bệnh, hầu hết NVYT được phỏng vấn đều cho rằng có từ 3-50% các mũi tiêm hiện nay có thể thay thế bằng đường uống, về thực hành tiêm, các động tác tiêm truyền gây sai sót đó là không rửa tay trước khi tiêm (55,6%), dùng pank không vô khuẩn (36,0%), không sát khuẩn lọ thuốc lúc lấy thuốc (34,0%), dùng tay tháo nắp kim (33,2%), sát khuẩn da chưa đúng quy trình (18,6%) và không có hộp chống sốc khi tiêm (7,3%) [10] Nghiên cứu cũng chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến tiêm không an toàn là: do thiếu dụng cụ tiêm, thiếu phương tiện xử lý chất thải, thiếu phương tiện phòng hộ, thiếu nước, do tiêm nhiều, do ý thức vô khuẩn còn yếu và do chưa nhận thức đầy đủ về nguy cơ của tiêm truyền
Kết quả phỏng vấn 111 cán bộ y tế tại Bệnh viện Nhi Quốc gia và huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình năm 2008 cho thấy: chỉ có 55% NVYT trả lời đầy
đủ cả 3 tiêu chí của mũi tiêm an toàn, 54% cán bộ cho rằng mũi tiêm hiện nay đang bị lạm dụng Trong số 440 mũi tiêm được quan sát có 43,9% không rửa tay trước khi tiêm, 70,7% không sát khuẩn vị trí bẻ ống thuốc/ nắp cao su lọ