TÓM TẮTNghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích và phương pháp chọn mẫu thuận tiện thực hiện trên 410 người chăm sóc chính cho trẻ có sử dụng thuốc kháng sinh ở khoa hô hấp và khoa tiêu h
Trang 1• • •
VŨ HỒNG NHUNG
T H ự C TRẠ N G VÀ M Ộ T SỐ YẾU TỐ L IÊ N QUAN ĐẾN K IẾN
TH Ứ C , TH Á I ĐÔ, TH Ư C H ÀNH s ử DUNG TH U Ố C K H ÁN G SINH CỦA N G Ư Ờ I CH Ă M SÓC C H ÍN H CÓ T R Ẻ TẠ I BỆN H V IỆN N H I
T ỈN H NAM ĐỊNH, NĂM 2018
LUÂN VĂN TH A C s ĩ Đ IÈU DƯỠNG • •
NAM ĐỊNH, 2018
Trang 2• • •
VŨ H Ồ N G NHUNG
TH ựC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC, THÁI Đ ộ , TH ựC HÀNH s ử DỤNG THUỐC KHÁNG SINH CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC CHÍNH TRẺ TẠI BỆNH VIỆN NHI NAM ĐỊNH, NĂM 2018
Chuyên ngành: ĐIỀU DƯỠNG
Trang 3TÓM TẮT
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích và phương pháp chọn mẫu thuận tiện thực hiện trên 410 người chăm sóc chính cho trẻ có sử dụng thuốc kháng sinh ở khoa hô hấp và khoa tiêu hóa của bệnh viện Nhi tỉnh Nam với mục tiêu (1) Mô tả kiến thức, thái độ và thực hành sử dụng kháng sinh của NCSC có trẻ đang điều trị tại Bệnh viện Nhi Nam Định, năm 2018 (2) Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ,thực hành sử dụng thuốc kháng sinh của NCSC có trẻ tại bệnh viện Nhi Nam Định, năm 2018
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong tổng số 410 người tham gia có 44,7% là
nữ, 25,4% là nam, 35,4% sống ở nông thôn Tỷ lệ kiến thức đạt ( >8 điểm) chiếm 32,9% Tỷ lệ thái độ đạt chiếm 46,6% Điểm thực hành đạt khi ĐTNC mua thuốc kháng sinh cho bản thân và cho trẻ có sử dụng đơn của Bác sĩ, tỷ lệ thực hành đạt chiếm 37,8%
Nghiên cứu đã tìm ra những yếu tố trình độ học vấn, nơi sinh sống, tiếp nhận thông tin từ cán bộ y tế thực sự có liên quan đến kiến thức sử dụng kháng sinh của người chăm sóc trẻ Bên cạnh đó cũng chỉ ra việc tiếp nhận thông tin từ cán bộ y tế
và kiến thức của NCSC có liên quan đến thái độ sử dụng kháng sinh của người chăm sóc trẻ Đồng thời chỉ ra tham gia bảo hiểm y tế và dễ dàng tiếp cận cơ sở Y tế
có nguồn kháng sinh liên quan đến thực hành sử dụng kháng sinh của NCSC
Kết luận và khuyến nghị: Kiến thức, thái độ, thực hành của NCSC vẫn còn
thấp Vì vậy cần tăng cường công tác quản lý SDKS, bệnh viện cần thực hiện tuyên truyền lợi ích, tác hại và yêu cầu tuân thủ đúng đơn thuốc của cán bộ Y tế cần hướng dẫn và theo dõi chặt chẽ hơn nữa quá trình NCSC sử thuốc kháng sinh cho trẻ Đối với người dân, tuyệt đối tuân thủ thuốc kê toa và hỏi ý kiến Bác sĩ/Điều dưỡng/Dược sĩ trước khi sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ em Đặc biệt chú trọng truyền thông cho những đối tượng ở khu vực nông thôn, có trình độ học vấn dưới THPT, người dễ dàng tiếp cận nguồn thuốc kháng sinh và những người có tham giaBHYT
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài “Thực trạng và một số yếu
tổ liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành sử dụng thuốc kháng sinh của người chăm sóc chính có trẻ tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định, năm 2018”, tôi
đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy cô, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
Với lòng biết ơn sâu sắc, học viên xin gửi lời tri ân đến Đảng ủy - Ban Giám hiệu và toàn thể đội ngũ giảng viên Trường Điều dưỡng Nam Định, những người đã đem tâm huyết và tri thức truyền dạy trong suôt quá trình học viên học tập tại trường
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn 2 thầy hướng dẫn của tôi TS Nguyễn Văn Công và TS Trần Văn Long đã tận tâm hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này Với kiến thức chuyên sauu cả về phương pháp lẫn chuyên môn của 2 thầy
đã giúp tôi đi đúng hướng nghiên cứu ngay từ những bước đi đầu tiên
Xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến các anh chị em, bạn bè, đồng nghiệp đang công tác tại khoa Hô hấp và khoa Tiêu hóa của bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lời cho việc thực hiện luận văn của tôi.Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, những người bạn thân thiết đã cùng tôi chia sẻ những khó khăn và dành cho tôi những tình cảm, sự chăm sóc quý báu trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đề tài này
Nam Định, ngày tháng năm 2018
HỌC VIÊN
Vũ Hồng Nhung
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ
rõ nguồn gốc và được phép công bố
Nam Định, ngày tháng năm 2018
HỌC VIÊN
Vũ Hồng Nhung
Trang 6LỜI CAM ĐOAN iii MỤC LỤC
1.3 Thực trạng kháng kháng sinh và hậu quả: 6
1.5 Hướng dẫn sử dụng kháng sinh cho người dân để phòng kháng kháng sinh 101.6 Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành sử dụng thuốc kháng sinh của
1.7 Các yếu tố hên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành sử dụng thuốc kháng sinh 15
2.7 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 24
Trang 73.2 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ 303.3 Thái độ của đối tượng nghiên cứu về sử kháng sinh cho trẻ 323.4 Thực hành của đối tượng nghiên cứu về sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ 343.5 Một số yếu tố liên quan tới kiến thức của đối tượng nghiên cứu 373.6 Một số yếu tố liên quan tới thái độ của đối tượng nghiên cứu 413.7 Một số yếu tố liên quan tới thực hành của đối tượng nghiên cứu 45
4.4 Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành sử dụng thuốc khángsinh cho trẻ đang điều trị tại Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định năm 2018 58
TÀI LIÊU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: XÁC ĐỊNH ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN cứu
PHỤ LỤC 2: GIẤY ĐỒNG Ý THAM GIA NGHIÊN cứu
PHỤ LỤC 3: PHIẾU ĐIỀU TRA NGHIÊN cứu
PHỤ LỤC 4: DANH SÁCH ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN cứu
PHU LUC 5: BIỂN SỐ NGHIÊN c ứ u • •
PHỤ LỤC 6: BẢNG ĐIỂM KIẾN THỨC CỦA ĐÓI TƯỢNG NGHIÊN cứu PHỤ LỤC 7: BẢNG ĐIỂM THÁI Đ ộ CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN cứu
Trang 8DANH MỤC BẢNGBảng 3.1 Thông tin đối tương nghiên cửu (n = 410) 27
Báng 3.3 Nguồn thông tin về thuốc kháng sinh mà ĐTNC tiếp cận (n = 410) 29Bảng 3.4 Kiến thức của người chăm sóc chính về sử dung thuốc kháng sinh cho trẻ
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa kiến thức của ĐTNC với các yếu tố truyền thông fn= 4101 38 Bảng 3.14 Mô hình hồi quy Logistic đa biến giữa kiến thức của đối tương nghiên
Bảng 3.15 Mô hình hồi quy Logistic đa biến giữa mức đô thái đô của đối tương
Bảng 3.16 Kiểm đinh mức đô chính xác của mô hình.r n = 4101 40Bảng 3.17 Mối liên quan giữa đăc điểm nhân khấu hoc với MĐTĐ của ĐTNC
Bảng 3.18 Mối lên quan giữa thái đô của ĐTNC với yếu tố truyền thông (n= 410) 42Bảng 3.19 Mối hên quan giữa mức đô kiến thức vởỉ mức đô thái đô của ĐTNC (n= 4101 43
Trang 9Bảng 3.20 Mô hình hồi quy Logistic đa biến giữa kiến thức của đối tương nghiên
Bảng 3.21: Mô hình hồi quy Logistic đa biến giữa MĐTĐ của ĐTNC và các biến cỏ
Bảng 3.22 Kiểm đinh mức đô chính xác của mô hình (n=41(B 44Bảng 3.23 Mối liên quan giữa MĐTH với đặc điểm chung của ĐTNC (n=410) 45Bảng 3.24 Mối liên quan giữa MĐTH của ĐTNC với yếu tố tuyền thông (n = 410) 46 Bảng 3.25 Mối liên quan giữa mức đô kiến thức và thái đô với mức đô thưc hành của
Bảng 3.26 Mô hình hồi quy Logistic đa biến giữa kiến thức của đối tượng nghiên
Bảng 3.27 Mô hình hồi quy Logistic đa biến giữa mức đô thực hành của đối tượng
Bảng 3.28 Kiểm đinh mức đô chính xác của mô hình 48
Trang 10DANH MỤC BIỂU •
Biểu đồ 3 ■ 1 Phân bố tuồi của đối tương nghiên cứu 27Biểu đồ 3.2 Phân bố giới của đối tượng nghiên cửu (n = 410) 28Biểu đồ 3.3 Phân bố nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu (n = 410) 28Biểu đồ 3.4 Phân loai mức đô kiến thức của người chăm sóc chính (n= 410) 31Biểu đồ 3.5 Phân loại mức đô thái độ đúng sử dung thuốc kháng sinh cho trẻ của đối
Biểu đồ 3.6 Nguồn mua thuốc kháng sinh (n=410) 36Biểu đồ 3.7 Phân loai thưc hành đủng sứ dung thuốc khảng sinh cho trẻ (n=410) 36
Trang 11DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ANSORP(The Asian Network for
Surveillance of Resistant Pathogens)
Công chức viên chức Điều kiện kinh tế Đối tượng nghiên cứu Điều tra viên
Virus gây suy giảm miễn dịch ở ngườiKháng sinh
Mức độ kiến thứcMức độ thái độMức độ thực hànhMối liên quanNgười chăm sóc chínhTrình độ học vấnTrung học phổ thôngTHPT
Trang 12TNTT Tiếp nhận thông tin
WHO (World Health Organization) Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 13ĐẶT VẤN ĐÈ
Thuốc kháng sinh (Antibiotics) là những chất kháng khuẩn (antibacterial
substances) được tạo ra bởi các chủng vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, Actinomycetes),
có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác [2] Thuốc kháng sinh có công dụng rất rộng rãi, trong đó, được ứng dụng nhiều nhất là trên y học lâm sàng, chủ yếu được dùng để ngăn ngừa và điều trị các hình thức viêm nhiễm do vi khuẩn gây nên Ngoài tác dụng dự phòng và điều trị bệnh tật cho người, thuốc kháng sinh còn được dùng trong phòng và điều trị các bệnh gây hại đối với cây trồng và vật nuôi, kích thích sự sinh trưởng của động thực vật và bảo quản thực phẩm [9]Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), với dữ liệu thu thập từ 114 quốc gia, cho thấy mối đe dọa nghiêm trọng của tính kháng thuốc không còn là một dự đoán ở tương lai, mà là đang xảy ra và có khả năng ảnh hưởng đến bất kỳ ai, với mọi lứa tuổi, ở bất cứ nơi nào trên thế giới [71] Nếu không khẩn cấp phối họp hành động, thì thế giới sẽ phải đối mặt với một kỷ nguyên hậu kháng sinh, khi đó các bệnh nhiễm trùng thông thường hoặc các vết thương nhẹ trước đây có thể chữa trị được thì nay có thể gây ra chết người do hiện tượng kháng thuốc; do đó, cần nỗ lực hơn nữa trong việc ngăn chặn nhiễm trùng, thay đổi cách sản xuất, quy định và sử dụng thuốc kháng sinh [11] [ 71]
Năm 2013, nghiên cứu mô tả cắt ngang của Nguyễn Thị Quỳnh Trang về thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh của 280 bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại Hưng Yên cho thấy có 58,6% bà mẹ có kiến thức sử dụng kháng sinh (SDKS) đạt [12], kết quả này của Nghiên cứucủa Trịnh Ngọc Quang (2006) tại Bắc Ninh cho thấy tỷ lệ người dân biết thuốc kháng sinh để điều trị bệnh nhiễm khuẩn còn thấp (42,2%) [18] Kiến thức của người dân về sử dụng thuốc kháng sinh còn thấp, kết quả này tương tự như các kết quả nghiên cứu trên thế giới [29] [35]
Nếu việc nhận thức của cộng đồng về kháng sinh và kháng thuốc kháng sinh bị hạn chế Thói quen tự chữa trị và “bắt chước” đơn thuốc của người dân sẽ dẫn đến tình trạng sử dụng kháng sinh tùy tiện, góp phần làm gia tăng sự kháng thuốc [1] Đây là vấn đề gặp rất nhiều, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, nơi mà sự
Trang 14tiếp cận thuốc kháng sinh một cách dễ dàng mà không cần đơn thuốc, trong đó có Việt N am
Để sử dụng đúng thuốc kháng sinh thì bên cạnh việc kê đơn thuốc của cán bộ y
tế thì người dân cũng cần biết cách sử dụng kháng sinh một cách cơ bản nhất Kiến thức thực hành rất quan trọng, nhất là đối với nhóm người dễ mắc bệnh truyền nhiễm như trẻ em do trẻ là đối tượng phụ thuộc việc sử dụng thuốc vào người lớn
Để góp phần cung cấp bằng chứng cho đề án tăng cường kiểm soát kê đơn thuốc
và bán thuốc kê đơn giai đoạn 2017-2020 do Bộ Y tế ban hành được thực hiện tại tỉnh Nam Định nhằm tăng cường nhận thức của cộng đồng về việc sử dụng thuốc an toàn, họp lý và nâng cao trách nhiệm của cán bộ y tế đặc biệt là người kê đơn thuốc
và bán lẻ thuốc trong việc thực hiện quy định của pháp luật về kê đơn thuốc và bán thuốc kê đơn trọng tâm là kháng sinh qua đó góp phần giảm tĩnh trạng kháng kháng sinh, lạm dụng thuốc, sử dụng thuốc không họp lý [3] và nhằm đưa ra các khuyến cáo phù họp, xây dụng các chương trình can thiệp truyền thông - giáo dục sức khỏe cho người dân góp phần gia tăng hiệu quả của đề án, tôi thực hiện nghiên cứu
“Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành sử dụng thuốc kháng sinh của người chăm sóc chính có trẻ tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định, năm 2018”.
Trang 15MỤC TIÊU NGHIÊN cứu
1 Mô tả kiến thức, thái độ và thực hành sử dụng thuốc kháng sinh của người chăm sóc chính có trẻ đang điều trị tại khoa hô hấp và khoa tiêu hóa bệnh viện Nhi Nam Định, năm 2018
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành sử dụng thuốc kháng sinh của người chăm sóc chính có trẻ đang điều trị tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định, năm 2018
Trang 16Chương 1 TỒNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Thuốc kháng sinh:
1.1.1 Định nghĩa thuốc kháng sinh
Theo định nghĩa của Bộ Y tế thì kháng sinh (Antibiotics) là những chất kháng
khuẩn (antibacterial substances) được tạo ra bởi các chủng vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, Actinomycètes), có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác [2]
1.1.2 Định nghĩa kháng kháng sinhỉ
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì kháng thuốc (Antimicrobial resistance)
là sự đề kháng của một vi sinh vật tới một loại thuốc kháng khuẩn mà ban đầu có hiệu quả để điều trị các bệnh nhiễm trùng gây ra bởi vi sinh vật Vi sinh vật kháng thuốc (bao gồm vi khuẩn, nấm, virus và ký sinh trùng) có thể chịu đựng được sự tấn công của các loại thuốc kháng khuẩn, chẳng hạn như các loại thuốc kháng vi khuẩn (ví dụ như thuốc kháng sinh), kháng nấm, thuốc kháng virus và thuốc sốt rét vì vậy
mà các phương pháp điều trị chuẩn trở nên không hiệu quả và nhiễm trùng vẫn tồn tại, gia tăng nguy cơ lây lan cho người khác Sự đề kháng với kháng sinh đề cập cụ
thể đến sự đề kháng với thuốc kháng sinh {Antibiotic resistance) xảy ra trong các vi
khuẩn phổ biến gây nhiễm trùng Kháng thuốc là một thuật ngữ rộng lớn hơn, bao gồm khả năng sự đề kháng tới các thuốc dùng để điều trị các nhiễm khuẩn do các vi khuẩn khác như ký sinh trùng (ví dụ bệnh sốt rét), virus (ví dụ lao và HIV) và nấm
(ví dụ nấm Candida)[70]
1.1.3 Định nghĩa người chăm sóc chính:
Người chăm sóc chính là một người cung cấp sự chăm sóc, hỗ trợ và giúp đỡ liên tục cho một người có khuyết tật, bệnh mãn tính (bao gồm bệnh tâm thần) hoặc yếu đuối (trẻ em), không nhận tiền lương hoặc tiền công cho sự chăm sóc [16].Dựa trên định nghĩa trên, tùy thuộc vào các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau thì
sẽ áp dụng phù họp Nghiên cứu của chúng tôi định nghĩa người chăm sóc chính của trẻ là người thường xuyên chăm sóc trẻ tại nhà, trực tiếp đưa người bệnh đi khám bệnh hoặc trực tiếp chăm sóc người bệnh tại viện; dành thời gian chăm sóc
Trang 17dinh dưỡng và vệ sinh cá nhân hàng ngày cho người bệnh, trên 18 tuổi, sống cùng với người bệnh (có thể là bố mẹ, anh chị, ông bà ).
Một cuộc khảo sát tại Mông cổ của Nakajima và cộng sự (2010) về việc tự ý
sử dụng kháng sinh của người dân trong cộng đồng cho thấy tỷ lệ mua nhiều loại thuốc kháng sinh chiếm 52%, có hơn một nửa đối tượng nghiên cứu có thể dễ dàng mua kháng sinh mà không cần đơn của Bác sĩ Nghiên cứu đưa ra khuyến cáo là cần
có một cơ quan pháp lý để thúc đẩy việc thực thi pháp luật về các quy định của thuốc ở Mông Cổ, để tạo nhận thức về sự nguy hiểm của kháng sinh đối với người dân và các chiến dịch nâng cao kiến thức cho người dân là càn thiết [65]
Tại các vùng nông thôn ở Hy Lạp việc sử dụng kháng sinh không theo đơn của bác sĩ mà tự ý mua thuốc tại các hiệu thuốc cũng rất phổ biến Nghiên cứu của Skiliros (2010) cho thấy 44% sử dụng kháng sinh không đơn ít nhất 1 lần trong 12 tháng qua và 72,6% sử dụng thuốc không cần đơn của Bác sĩ [33]
Một cuộc khảo sát về SDKS không cần đơn của Youself và cộng sự ( 2008) cho thấy có tới 42,5% đối tượng nghiên cứu sử dụng kháng sinh không họp lý Khi nghiên cứu đi sâu tìm hiểu nguyên nhân của tình hạng này thi lý do bệnh nhẹ chiếm
tỷ lệ 46,4%, sợ tốn kém chi phí là 31,4% Các thông tin thuốc kháng sinh lấy từ người bán thuốc và bạn bè lần lượt là 14,2% và 17.6% [20]
Theo một nghiên cứu khác của Al- Azzam SL tại Jordan ( 2007) khi khảo sát
về sự phổ biến của việc sử dụng kháng sinh không họp lý cho kết quả 39,5% sử dụng kháng sinh không có đơn của cán bộ Y tế Việc này có liên quan đến tuổi, thu
Trang 18nhập, trình độ học vấn Các đối tượng nghiên cứu cho rằng kinh nghiệm trước đây của họ về SDKS và những đơn thuốc còn sót lại là nguyên nhân chính khiến họ không sử dụng kháng sinh theo đơn [66].
1.2.2 ViêtNam m
Tại Việt Nam hàng năm nhập khẩu và sản xuất thuốc chiếm tỷ lệ khá lớn vào khoảng 200 - 400 triệu đô la Bên cạnh đó các bệnh nhiễm khuẩn vẫn luôn là mối quan tâm của ngành Y tế đặc biệt tình hình nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ cao Vì vậy KS vẫn là thuốc được sử dụng phổ biến chiếm gần một nửa 30 - 40% [14]
Một khảo sát của Ma Than Quế 6 tháng đầu năm 2007 tại Bệnh viện đa khoa Hàm Yên, tỉnh Tuyên quang cho thấy việc SDKS không tương xứng với mô hình bệnh tật Tỷ lệ sử dụng thuốc KS ở bệnh nhân nội trú và ngoại trú lần lượt là 67,3%
và 69,4% Trong nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ bệnh nhiễm trùng cao nhất là 50,4% vậy khi so sánh với tỷ lệ kháng sinh được ĐTNC sử dụng lại vượt xa nhu cầu thực tế
Có thể thấy rằng việc SDKS tại bệnh viện đa khoa Hàm Yên là chưa họp lý, tuy nhiên vẫn phải có những nghiên cứu khác để làm rõ vấn đề này [7]
Thói quen tự mua thuốc của người dân tại các hiệu thuốc của người dân trước khi đến khám và điều trị tại cơ sở y tế là khá phổ biến tại Việt Nam Điều này được nhìn thấy trong kết quả nghiên cứu của Nguyễn Quang Trung (2006) Đây chính là chính là nguyên nhân khiến cho bệnh ngày càng nặng, tốn kém chi phí mà hiệu quả điều trị không cao Nếu việc bán thuốc kê đơn được quản lý chặt ché, sự tuyên truyền giáo dục người dân về SDKS được nâng cao có thể tình trạng bệnh của người dân đã khỏi ngay từ ban đầu [10]
1.3 Thực trạng kháng kháng sinh và hậu quả:
1.3.1 Thực trạng kháng kháng sinh:
1 . 3 . 1 . 1 . Thế giới
Trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển, vấn đề kháng thuốc đã trở nên báo động Gánh nặng về chi phí điều trị do các bệnh nhiễm khuẩn gây ra khá lớn do việc thay thế các kháng sinh cũ bằng các kháng sinh mới, đắt tiền
Trang 19Số liệu nghiên cứu giám sát ANSORP từ tháng 1/2000 đến tháng 6/2001 của
14 trung tâm từ 11 nước Đông Nam Á cho thấy tỷ lệ kháng cao của vi khuẩn s
pneumoniae Trong số 685 chủng vi khuẩn s pneumoniae phân lập được từ người
bệnh, có 483 (52,4%) chủng không còn nhạy cảm với penicillin, 23% ở mức trung gian và 29,4% đã kháng với penicillin (MIC > 2mg/l) Kết quả phân lập vi khuẩn cho thấy tỷ lệ kháng penicillin ở Việt Nam cao nhất (71,4%) tiếp theo là Hàn Quốc (54,8%), Hồng Kông (43,2%) và Đài Loan (38,6%) Tỷ lệ kháng erythromycin cũng rất cao, ở Việt Nam là 92,1%, Đài Loan là 86%, Hàn Quốc là 80,6%, Hồng Kông là
76,8% và Trung Quốc là 73,9% số liệu từ nghiên cứu giám sát đa trung tâm đã
chứng minh rõ ràng về tốc độ và tỷ lệ kháng của s pneumoniae tại nhiều nước châu
Á,những noi có tỷ lệ mắc bệnh nhiều nhất thế giới[68]
Theo số liệu nghiên cứu KONSAR từ 2005-2007 ở các bệnh viện Hàn Quốccho thấy s aureus kháng Methicillin (MRSA) 64%; K pneumoniae kháng cephalosporin thế hệ 3 là 29%; E colỉ kháng fluoroquinolone 27%, p aeruginosa kháng 33%, Acỉnetobacter spp kháng 48%; p aeruginosa kháng amikacin 19%, Acinetobacter spp kháng 37% E faecium kháng vancomycin và Acinetobacter spp kháng imipenem tăng lên dần Tỷ lệ kháng phát hiện tại các phòng xét nghiệm của E colỉ và K pneumoniae đối với cephalosporin thế hệ 3 và p aeruginosa đối
với imipenem cao hom trong bệnh viện [50]
Năm 2014, Báo cáo "Kháng thuốc: Báo cáo về giám sát trên toàn cầu" của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cung cấp bức tranh toàn diện nhất về sự đề kháng với kháng sinh cho đến nay với dữ liệu từ 114 quốc giaheo Phát hiện chính từ báo cáo bao gồm sự đề kháng tới điều trị với các thuốc kháng sinh thế hệ mới nhất trong điều trị các nhiễm khuẩn đe dọa tính mạng do vi khuẩn đường ruột phổ biến
là Klebsiella pneumoniae với thuốc kháng sinh carbapenem đã lây lan sang tất cả các vùng trên thế giói K pneumoniae là một nguyên nhân chính gây nhiễm khuẩn
mắc phải ở bệnh viện như viêm phổi, nhiễm trùng máu, nhiễm trùng ở trẻ sơ sinh và bệnh nhân ở đơn vị chăm sóc tích cực Ở một số nước, vì sự đề kháng nên kháng sinh carbapenem sẽ không còn tác dụng trong hơn một nửa số người được điều trị
Trang 20các bệnh nhiễm trùng do K pneumoniae Sự đề kháng đến một trong những các loại
thuốc kháng khuẩn được sử dụng rộng rãi nhất để điều trị nhiễm trùng đường tiểu
do E.colỉ với fluoroquinolones là rất phổ biến Trong những năm 1980s, khi các loại
thuốc này lần đầu tiên được đưa vào sử dụng thì sự đề kháng gần như bằng không Ngày nay, có nhiều quốc gia ở nhiều nơi trên thế giới, sự điều trị này hiện nay là không hiệu quả trong hơn một nửa số bệnh nhân Thất bại điều trị với thuốc thế hệ mới nhất cho bệnh lậu-thế hệ thứ ba là cephalosporin đã được xác nhận ở Áo, úc, Canada, Pháp, Nhật Bản, Na u, Slovenia, Nam Phi, Thụy Điển và Vương quốc Anh với hơn 1 triệu người bị nhiễm bệnh lậu trên toàn thế giới mỗi ngày Sự đề kháng với kháng sinh khiến cho con người bị bệnh lâu hơn và làm tăng nguy cơ tử vong,
ví dụ những người bị nhiễm tụ càu vàng đề kháng với methicillin
(MRSA methicillin resistant Staphylococcus aureus) được ước tính là 64% nhiều
khả năng gây chết người hơn so với những người bị nhiễm mà không có sự đề kháng với thuốc, kháng thuốc cũng làm tăng chi phí chăm sóc sức khỏe với đợt nằm viện dài hơn và đòi hỏi sự chăm sóc đặc biệt [70]
1.3.1.2 Việt Nam:
Tài Việt Nam, tổng kết các kết quả báo cáo tính nhạy cảm của các kháng sinh
đã được tiến hành từ năm 2003-2006 cho thấy tỉ lệ đề kháng của Klebsiella spp đối
với các kháng sinh cephalosporins thế hệ 3, thế hệ 4, fluoroquinolon và aminosid đã tăng nhanh từ >30% trong năm 2003 lên >40% trong năm 2006; đối với
Pseudomonas spp từ >40% trong năm 2004 lên >50% trong năm 2006 và đối với Acỉnetobacter spp từ >50% trong năm 2004 lên >60% trong năm 2006 Trong khi
imipenem/cilastatin, carbapenem được đưa vào thị trường Việt Nam mới gần được
10 năm, cũng đã giảm nhạy cảm đối với các trực khuẩn gram âm không sinh men
Tỷ lệ đề kháng imipenem/cilastatin của Pseudomonas spp tăng dần qua các năm
12,5% (2003), 15,5% (2005) và 18,4% (2006) [61]
Theo báo cáo sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh tại 15 bệnh viện Việt Nam năm 2008-2009 cho thấy tình trạng kháng kháng sinh cũng cho thấy mức độ đáng báo động tại tất cả các bệnh viện Mức độ kháng kháng sinh phổ biến trong
Trang 21nhóm vi khuẩn Gram-âm bao gồm: Acinetobacter sp., Pseudomonas, E coli và Klebsiella sp Nhìn chung, khoảng 30-70% vi khuẩn Gram âm kháng các kháng sinh cephalosporin thệ hệ 3 và 4, xấp xỉ 40-60% kháng với các kháng sinh nhóm aminoglycosides và fluoroquinolones Có tới 40% các chủng Acinetobactergiảm nhậy cảm với imipenem Tỉ lệ kháng cao nhất của các vi khuẩn Gram âm với kháng sinh nhóm cephalosporin thế hệ 4 tại các bệnh viện khu vực phía Bắc noi mà có mức độ sử dụng nhóm kháng sinh này cao hom hai khu vực còn lại, điều này chứng tỏ có sự liên quan giữa mức độ sử dụng kháng sinh và tình trạng kháng kháng sinh [4]
1.3.2 Hậu quả
Kháng thuốc không phải là một hiện tượng mới, tuy nhiên mức độ ngày càng ừầm họng và tốc độ gia tăng của vấn đề này ảnh hưởng lớn đối với sức khỏe cộng đồng Kết quả là chỉ sau 70 năm kể từ khi giới thiệu thuốc kháng sinh, chúng ta đang phải đối mặt với khả năng của một tưomg lai không có thuốc kháng sinh điều trị hiệu quả đối với một số bệnh nhiễm khuẩn, nhất là đối với các phẫu thuật và phưomg pháp điều trị như hóa trị liệu ung thư và cấy ghép mô, bộ phận cơ thể người
Báo cáo "Kháng thuốc: Báo cáo về giám sát trên toàn cầu" của WHO lưu ý rằng sự đề kháng đang diễn ra trên nhiều tác nhân gây bệnh khác nhau nhưng báo cáo tập trung vào sự đề kháng với kháng sinh trong 7 loại vi khuẩn khác nhau chịu trách nhiệm cho các bệnh nghiêm trọng phổ biến như nhiễm trùng đường máu (nhiễm trùng huyết), tiêu chảy, viêm phổi, nhiễm trùng đường tiết niệu và bệnh lậu Kết quả gây ramột mối quan ngại cao, dẫn chứng về sự đề kháng với các thuốc kháng sinh, đặc biệt là các thuốc kháng sinh thế hệ mới nhất trong tất cả các vùng trên thế giới [70]
Ngoài ra, kháng thuốc gây ra sự khan hiếm, thiếu hụt các thuốc kháng khuẩn mới, đặc biệt ở người bệnh bị nhiễm khuẩn do sinh vật đa kháng (MDR)
Các chi phí xã hội và tài chính trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn kháng thuốc đặt gánh nặng đáng kể lên mỗi cá nhân, gia đình và xã hội: do thời gian điều
Trang 22trị kéo dài, tiên lượng xấu và lãng phí nhiều chi phí tiền thuốc do sử dụng thuốc không phù họp [1]
1.4 Nguyên nhân dẫn đến kháng kháng sinh:
Có nhiều nguyên nhân gây nên tình trạng kháng kháng sinh, trong đó việc lạm dụng kháng sinh trong cả ngành y tế và nông nghiệp là yếu tố quan trọng nhất
Trong cộng đồng, người bệnh có thểmua và sửdụng kháng sinh tùy ý mà không cần đơn của bác sỹ, dẫn đến việc tạo ra những loại vi khuẩn có sức đề kháng mạnh.Tại các bệnh viện do sốlượng người bệnh quá đông; nhiều người bệnh suy giảm hệthống miễn dịch nặng; nhiều thiết bị và kỹ thuật mới được áp dụng; vi khuẩn từ cộng đồng tăng đề kháng; kiểm soát nhiễm khuẩn, thực hành cách ly, sự tuân thủ chưa hiệu quả; tăng sử dụng kháng sinh dự phòng; tăng điều trị kháng sinh cho nhiều loại vi khuẩn theo kinh nghiệm; sử dụng kháng sinh nhiều theo vùng, theo thời gian
Việc sử dụng kháng sinh không họp lý, không hiệu quả đang là vấn đề có phạm vi ảnh hưởng rộng khắp ởmọi cấp độ chăm sóc y tế, là nguyên nhân làm tăng đáng kể chi phí khám chữa bệnh, tiền mua kháng sinh luôn chiếm khoảng 50% kinh phí thuốc của các bệnh viện[l]
1.5 Hướng dẫn sử dụng kháng sinh cho người dân để phòng kháng kháng sinh
Theo WHO khuyến cáo người dâncó thể giúp giải quyết kháng thuốc bằng cách sử dụng thuốc kháng sinh chỉ khi có chỉ định của bác sĩ (using antibiotics only when prescribed by a doctor); hoàn thành sử dụng thuốc theo đơn đầy đủ, ngay cả khi cảm thấy tốt hơn (completing the full prescription, even if they feel better); không bao giờ chia sẻ thuốc kháng sinh với những người khác hoặc sử dụng thuốc còn sót lại (never sharing antibiotics with others or using leftover prescriptions) [70]Ngăn ngừa nhiễm trùng bằng cách rửa tay thường xuyên, tiến hành vệ sinh thực phẩm tốt, tránh tiếp xúc gần gũi với người ốm và cập nhật vắc-xin mới nhất (preventing infections by regularly washing hands, practicing good food hygiene, avoiding close contact with sick people and keeping vaccinations up to date); chỉ sử
Trang 23dụng kháng sinh khi được kê đơn bởi một chuyên gia y tế được được chứng nhận (only using antibiotics when prescribed by a certified health professional) [70]
1.6 Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành sử dụng thuốc kháng sinh của người dân
cần đơn v ề thời gian SDKS có 45,3% cho rằng dùng trong ngày; 54,7% dưới 5 ngày Chỉ có 21,1% bà mẹ biết uống thuốc đúng liều và đủ số ngày quy định, v ề
cách xử trí sau 2-3 ngày mà bệnh không đỡ có 52,9% bà mẹ biết đưa trẻ đi khám
lại; 32,5% cho rằng đổi KS khác; 0,7% tăng liều lên v ề tác hại khi SDKS không
đúng chỉ có 21,4% bà mẹ biết đến kháng thuốc KS; 15,7% cho rằng bị dị ứng với thuốc; 38,2% biết dấu hiệu điển hình của dị ứng là mẩn ngứa ban đỏ; 94,4% biết
cách xử trí khi trẻ bị dị ứng là đưa ngay đến CSYT v ề thực hành đúng SDKS của
bà mẹ vẫn còn rất thấp chỉ có 38% 20.9% bà mẹ SDKS theo đơn của bác sĩ, 13,3%
sử dụng đúng theo đơn và 77,8% lý do không sử dụng đúng theo đơn là bệnh đỡ rồi Đối với bà mẹ SDKS cho trẻ không theo đơn có 75% ngừng dùng thuốc sau 2-3 ngày dùng Có tinh trạng lạm dụng thuộc trong điều trị các bệnh liên quan đến đường hô hấp chung 91,1% Kiểm tra hạn sử dụng thuốc trước khi mua chỉ có 42,4% [12]
Nghiên cứu của Trịnh Ngọc Quang (2006) về kiến thức, thái độ và thực hành
sử dụng thuốc kháng sinh của các hộ gia đình xã Việt Đoàn - huyện Tiên Du - Bắc Ninh cho thấy tỷ lệ người dân biết thuốc kháng sinh để điều trị bệnh nhiễm khuẩn còn thấp (42,2%) 93,8% người dân biết sử dụng kháng sinh phải có đom của thầy thuốc, 20% có biết sử dụng kháng sinh đúng cách; 63,5% biết xử trí khi sử dunkg kháng sinh sau 2-3 ngày không đỡ; 88,1% biết phải kiểm tra hạn thuốc trước khi sử
Trang 24dụng Người dân vẫn có thái độ không đúng với việc sử dụng kháng sinh trong điều trị như rút ngắn ngày điều trị, coi thuốc kháng sinh càng đắt tiền thi càng tốt Tỷ lệ thực hành sử dụng kháng sinh thấp 37,2% Tỷ lệ người dân sử dụng thuốc kháng không có đơn của bác sĩ vấn còn cao 51,1% và 32,6% không tuần thủ theo đơn, chủ yếu là rút ngắn ngày điều trị (63,6%) [18].
Năm 2017, Nguyễn Văn Tiến và cộng sự đã thực hiện Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 392 đối tượng nhằm mô tả kiến thức, thực hành và xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của người dân về sử dụng thuốc kháng sinh tại một số xã, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình năm 2017 Kết quả cho thấy: 65,6% người dân có kiến thức đúng và 56,4% người dân có thực hành đúng về sử dụng kháng sinh an toàn, họp lý [15]
Nghiên cứu tại Gia Lâm - Hà Nội năm 2003 chỉ ra rằng thực trạng sử dụng kháng sinh cho trẻ trước khi điều trị của 356 bà mẹ và người chăm sóc trẻ có 43% SDKS không kê đơn, 57% SDKS đề điều trị các bệnh về hô hấp và 21,8% SDKS để điều trị bệnh đường tiêu hóa, 18,8% khi sốt và 37,6% SDKS dưới 3 ngày Các yếu
tố về TĐHV và nghề nghiệp của các bà mẹ có liên quan đến kiến thức và thực hành SDKS [5]
Theo nghiên cứu của Tràn Đình Kim ( 2005) tại xã Vĩnh Phú - Thanh An - Bình Dương cho kết quả về kiến thức sử dụng kháng sinh của các bà mẹ tại đây cho thấy 33,5% có kiến thức SDKS đạt Những yếu tố như TĐHV và loại dịch vụ y tế thường xuyên tiếp cận với kiến thức về kháng sinh của nhóm các bà mẹ này [17]
1.6.2 Thế giới
Nghiên cứu tổng quan tài liệu về kiến thức, thái độ sử dụng kháng sinh của bố
mẹ có trẻ mắc nhiễm khuẩn đường hô hấp của Lourdes Cantarero-Arévalo và cộng
sự (2017) với 43 nghiên cứu đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn (12 nghiên cứu định tính
và 31 nghiên cứu định lượng) cho thấy kiến thức về sử dụng kháng sinh của các nghiên cứu định tính nhấn mạnh nhu cầu sử dụng kháng sinh có liên quan đến các triệu chứng và kinh nghiệm của cha mẹ, họ nghĩ họ dễ dàng kê đơn khi cần thiết[43] Các triệu chứng bao gồm viêm amidan và đau tai [43], chảy nước mũi
Trang 25màu xanh và sốt [51] [72] Barden và cộng sự đã nhận ra rằng một vài cha mẹ Mỹ tin rằng kháng sinh phổ rộng sẽ nhanh chóng điều trị nhiễm trùng Các nghiên cứu định lượng trên toàn thế giới cho thấy kiến thức sử dụng thuốc kháng sinh biến động theo từng quốc gia Trong khi các nghiên cứu tại Mỹ và Châu Âu cho thấy có 55% phụ huynh biết thuốc kháng sinh chỉ có hiệu quả chống vi khuẩn[46] thì một vài nghiên cứu ở Trung Đông và châu Á con số này chưa quá 20% [30][ 38][56][ 60].Nghiên cứu cắt ngang của Eglẻ Pavydẻ và cộng sự (2015) về kiến thức, niềm tin và hành vi sử dụng kháng sinh và tự sử dụng kháng sinh của 1005 người dân tại Lithuania Kết quả cho thấy hon một nửa đối tượng nghiên cứu (61,1%) có kiến thức chưa tốt về kháng sinh Gần một nửa đối tượng không định nghĩa được thuốc kháng sinh như hiệu quả của kháng sinh ảnh hưởng đến virus (26%) hay cả virus và
vi khuẩn (21,7%) Nhóm tác giả kết luận, về kiến thức thuốc kháng sinh của người dân Lithuanian còn thấp, thầy thuốc và dược sĩ cần cung cấp thêm nhiều thông tin cách sử dụng thuốc kháng sinh Và tự ý sử dụng thuốc kháng sinh là một vấn đề nghiêm trọng tại Lithuanian cần được chú ý nhiều hơn [35]
Nghiên cứu cắt ngang của Chan G c và Tang s F (2006) về kiến thức, thái độ
sử dụng thuốc kháng sinh đường hô hấp trên của trẻ đến khám tại bệnh viện Batu - Malaysia Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, khi phụ huynh mang trẻ đến khám tại tại khoa ngoại trú với tiêu chuẩn lựa chọn là người có quốc tịch Malaysian, trẻ dưới 12 tuổi có các triệu chứng liên quan đến các nhiễm khuẩn đường hô hấp trên như sốt, ho, đau họng, chảy nước mũi và có vấn đề về tai Tiêu chuẩn loại trừ là các triệu chứng của nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới như khò khè, thờ dốc, khó thở đều Sử dụng bộ công cụ phát vấn và hầu hết các câu hỏi được trả lời dưới dạng có/không hoặc thang đo Likert, không có câu hỏi mở Kết quả cho thấy, có 421 phụ huynh tham gia đáp ứng đủ tiêu chuẩn lựa chọn 29% phụ huynh cho rằng tình trạng bệnh đường hô hấp ừên của con họ cần thêm kháng sinh nhưng lại không được kê, 17% tin rằng thuốc kháng sinh không cần thiết Có 28% phụ huynh yêu cầu thêm thuốc kháng sinh và 93% đã nhận được thêm thuốc kháng sinh cho con họ Khoảng 31% không yêu cầu thêm thuốc kháng sinh phàn nàn rằng bác sĩ ở phòng khám tư
Trang 26nhân thường kê nhiều thuốc kháng sinh Đáng chú ý hơn, khi có tới 85% phụ huynh
sẽ cho con họ dừng thuốc kháng sinh khi triệu chứng được cải thiện, 24% chia sẻ thuốc kháng sinh với người khác, 5,5% mua thuốc kháng sinh cho trẻ bị mắc nhiễm khuẩn đường hô hấp trên cấp tính mà không có sự kê đơn của thầy thuốc [29]
Nghiên cứu cắt ngang và sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên trên 630 phụ huynh của học sinh tiểu học, trung học cở sở và phổ thông trung học từ 5-18 tuổi tại khu vực Caserta và Naples - Italy về kiến thức, thái độ và hành vi liên quan đến kháng sinh Kết quả có 419 phụ huynh tham gia và chỉ có 9,8% biết được định nghĩa kháng kháng sinh, 21,2% biết sử dụng thuốc kháng sinh thích họp Lần lượt 50% và 83% phụ huynh biết được việc kháng sinh sẽ kém hiệu quả khi điều trị ngắt
quãng và sử dụng không có kê đơn v ề thái độ của phụ huynh có 67,3% chưa bao
giờ tự ý điều trị kháng sinh và 22,7% có ý kiến sẵn sàng sử dụng thuốc kháng sinh
mà không cần kê đơn v ề thực hành, trong vòng 12 tháng qua có 87,9% phụ huynh
có gặp thầy thuốc và trong số 79,3% có nhận được đơn sử dụng thuốc kháng sinh thì chỉ có 63,6% đối tượng tuân thủ đơn thuốc 32,7% đã từng sử dụng thuốc kháng sinh mà không cần có đơn [36]
Nghiên cứu tổng quan tài liệu của Amarilis Ce'spedes và cộng sự (2006) về kiến thức, thái độ và thực hành về sử dụng kháng sinh của người dân Mỹ Latinh Nhóm tác giả sử dụng các từ khóa “thuốc kháng sinh”, “thái độ”, niềm tin, “giáo dục”, “sức khỏe”, “kiến thức”, “Mỹ Latinh”, “kê đơn”, “thực hành”, “kháng thuốc”,
“sử dụng”, “lạm dụng” để tìm tài liệu bằng tiếng Anh trên cơ sở dữ liệu Pubmed từ tháng 1/1999 đến tháng 7/2005 Kết quả có 11 nghiên cứu đáp ứng được tiêu chuẩn lựa chọn với kết quả cho thấy rất nhiều người Mỹ La tinh tự ý sử dụng thuốc kháng
mà không cần kê đơn do cản trở về tài chính và văn hóa xã hội, không tin rằng kháng sinh có thể điều trị các bệnh nhiễm trùng do virus Nhóm tác giả khuyến cáo cần gia tăng khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe và các can thiệp thích họp với văn hóa xã hội của người Mỹ La tinh là cần thiết để thúc đẩy sử dụng kháng sinh phù họp [28]
Trang 271.7 Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành sử dụng thuốc kháng sinh
Năm 2013, nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định tính và định lượng của Nguyễn Thị Quỳnh Trang về thực hạng sử dụng thuốc kháng sinh của 280 bà mẹ có con dưới 5 tuổi và một số yếu tố liên quan tại xã Đông Kết, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên cho thấy có mối liên quan giữa kiến thức đối với trình độ học vấn của bà
mẹ (p<0,05);bà mẹ có kiến thức tốt thì thực hành đạt cao hon so với bà mẹ có kiến thức chưa tốt (p<0,05), nghề nghiệp và người quyết định SDKS cho trẻ có liên quan tới thực hành SDKS của bà mẹ (p<0,05) [12]
Nghiên cứu tổng quan tài liệu về kiến thức, thái độ sử dụng kháng sinh của bố
mẹ có trẻ mắc nhiễm khuẩn đường hô hấp của Lourdes Cantarero-Arévalo và cộng
sự (2017) cho thấy có 9/10 nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa trình độ học vấn cao thì khả năng có kiến thức về kháng sinh tốt hon và không phân biệt quốc gia [22] [ 23] [ 34] [ 46] [49] [56] [64] Ngoài ra, một vài nghiên cứu cho thấy rằng
độ tuổi của phụ huynh càng tăng thì có liên quan đến kiến thức tốt hon [23] [34] [46] Mức thu nhập cao có liên quan đến kiến thức tốt về sử dụng kháng sinh, đó là kết luận của các nghiên cứu được thực hiện tại Mỹ [46] [55] và Nam Mỹ [34] [58], nơi mà bố mẹ cho trẻ bảo hiểm tư nhân có kiến thức cao hon so với trẻ có bảo hiểm
phổ thông, v ề các yếu tố liên quan đến thái độ, các nghiên cứu tại Mỹ, các yếu tố
liên quan đến hi vọng sử dụng thêm thuốc kháng sinh lần lượt là tình trạng kinh tế thấp [55], làm việc toàn thời gian , có kiến thức thấp về sử dụng kháng sinh Một số nghiên cứu tại Châu Âu chỉ ra bố mẹ trẻ tuổi, trình độ học vấn cao có liên quan đến
những phụ huynh không ít có nhu cầu kê thêm thuốc kháng sinh [22] [23] [64] v ề
các yếu tố liên quan đến thực hành thì các nghiên cứutại Mỹ, tỷ lệ phụ huynh yêu cầu thêm thuốc kháng sinh dao động từ 15 đến 25% [25] Kiến thức kém về thuốc kháng sinh có liên quan đến hành vi tự kê thuốc kháng sinh của phụ huynh [46] Tại Mông Cổ, Toboogatar cũng nhận thấy trình độ học vấn cao có liên quan đến phụ huynh tự ý sử dụng thuốc mà không cần kê đơn [38], kết quả này tương tự như một
số nghiên cứu khác được thực hiện tại Trinidad và Tobago [58] Ngoài ra, tuổi của
Trang 28trẻ và sinh sống tại khu vực nông thôn có liên quan đến tự kê đơn thuốc kháng sinh tại Mông Cô và Trung Quốc [38] [56].
Nghiên cứu cắt ngang của Eglẻ Pavydẻ và cộng sự (2015) về kiến thức, niềm tin và hành vi sử dụng kháng sinh và tự sử dụng kháng sinh của 1005 người dân tại Lithuania Kết quả cho thấy yếu tố liên quan thì những người có trình độ học vấn thấp (OR: 2.515; 95%CI: 1.464—4.319; p = 0.001) và ở khu vực nông thôn (OR = 1.765; 95% CI 1.041-2.991; p = 0.035) có liên quan đến kiến thức thấp về thuốc kháng sinh nhưng không có mối liên quan với giới, nhóm tuổi Có 31% người dân tại Lithuania tự sử dụng thuốc kháng sinh khi chưa được sự đồng ý của bác sĩ Nếu
là nam giới (OR = 1.650; 95% CI 1.120-2.430; p = 0.011), khu vực nông thôn (OR
= 2.002; 95% CI 1.343-2.985; p = 0.001), và không có con (OR = 2.428; 95% CI 1.477-3.991; p < 0.001) thì có khả năng tự sử dụng thuốc kháng sinh nhiều hơn so với nữ giới, người sống tại khu vực thành phố và có con [35]
Nghiên cứu cắt ngang và sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên trên 630 phụ huynh của học sinh tiểu học, trung học cở sở và phổ thông trung học từ 5-18 tuổi tại khu vực Caserta và Naples - Italy các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái
độ và thực hành sử dụng kháng sinh gồm những người có nghề nghiệp và có thành viên trong gia đình là nhân viên Y tế có khả năng kiến thức tốt hơn so với những đối tượng thất nghiệp và không có người nhà là nhân viên y tế lần lượt là OR = 3.1 (95% CI=1.2-7.6) và OR = 2.2 (95% 0 = 1 1 —4.5) Những người không có nhu cầu cung cấp thông tin về kháng sinh có khả năng kiến thức tốt hơn nhóm chứng (OR=0.46; 95% 0=0.23-0.92) Kết quả mô hình hồi quy đa biến về thái độ sẵn sàng sử dụng thuốc kháng sinh mà không có sự kê đơn có liên quan đến tình trạng sức khỏe kém (OR=0.79; 95% 0=0.65-0.95), kháng sinh không dùng để điều trị cúm (OR=0.42; 95%; 0=0.22-0.82), đau họng (OR=0.51; 95% 0=0.27-0.95), cảm lạnh (OR=2.49; 95% 0=1.04—5.95), trên 40 tuổi có khuynh hướng sử dụng
kháng sinh mà không cần kê đơn (OR=2.34; 95% 0=1.22-4.5) v ề thực hành, các
yếu tố liên quan đến việc tự ý sự dụng kháng sinh như tình trạng sức khỏe kém (OR=0.85; 95% 0=0.74—0.97), không tham khảo sử dụng kháng sinh từ thày thuốc
Trang 29(OR=0.48; 95% 0=0.3-0.77) và trong 12 tháng qua phải khám bệnh (OR=1.88; 95% 0=1.03-3.43) [36].
Yến tố mỏi trường:
• Tiếp cận cơ sở Y tế/tiệm
thuốc dễ dàng
Kiến thức, thái độ, thực hành của người chăm sóc
chính.
*
SDKS Đúng
1.9 Giói thiệu địa bàn nghiên cứu
Nam Định là tỉnh duyên hải ở phía Nam đồng bằng Bắc bộ với diện tích khá rộng (1652,6 km2) và dân số khoảng hon 2 triệu người Nam Định mang đầy đủ đặc điểm khí hậu của khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều Đây chính là yếu
tố làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn ở trẻ Công tác y tế luôn nhận được sự quan tâm của các cấp Đảng ủy và chính quyền nhưng theo báo cáo từ bệnh viện và các trạm Y
tế thì việc sử dụng kháng sinh không có đơn vẫn còn nhiều tồn tại, tự ý sử dụng kháng sinh cho trẻ và người lớn vẫn là thói quen của nhiều người Như vậy việc SDKS có đạt kết quả cao hay không phụ thuộc vào 2 đối tượng tiêu dung gồm người dân và cán bộ Y tế
Trang 30Trên địa bàn tỉnh Nam Định, nhóm nghiên cứu chọn Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định là địa điểm nghiên cứu Bệnh viện được thành lập từ năm 2009, là bệnh viện chuyên khoa tuyến tình, được xếp hạng 3 Bệnh viện gồm 9 tầng, 6 khoa lâm sàng,
3 phòng ban, 150 giường bệnh và hiện có 150 nhân viên y tế
Theo báo cáo của viện Nhi Nam Định, mỗi ngày phòng khám của bệnh viện phải thăm khám cho từ 400-500 bệnh nhi Tầm 10% số trẻ đến khám nhập viện vào chủ yếu vào 2 khoa Hô hấp - Tiêu hóa Bên cạnh đó việc ữẻ tái nhập viện vì mắc bệnh hô hấp và tiêu hóa trong 1 năm tại Bệnh viện có tỷ lệ trung bình từ 2-3 lần/ năm Vì vậy tiến hành nghiên cứu để qua qua đó khuyến cáo và tư vấn cho NCSC
sử dụng kháng sinh cho trẻ an toàn và họp lý Có rất nhiều nguyên nhân gây nên việc sử dụng kháng sinh không họp lý này nên những nghiên cứu để chứng minh và giải thích là rất cần thiết đặc biệt là đối tượng sử dụng thuốc phụ như trẻ nhỏ Các nghiên cứu tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào người dân tại cộng đồng, nếu có chỉ dừng lại ở kiên thức và thực hành Nghiên cứu của chúng tôi cũng sẽ tiếp tục đi sâu
và tìm hiểu thêm cả kiến thức, thái độ, thực hành từ đó tìm ra thông tin khuyến cáo cho cộng đồng
Trang 31Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
2.1 Đổi tượng nghiên cứu
Người chăm sóc chính (Có thể là mẹ, bố, ông hoặc bà) của trẻ (từ 0 đến 15 tuổi) đang điều trị tại bệnh viện Nhi Nam Định
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Là người dành nhiều thời gian chăm sóc trẻ nhất tại nhà
- Đồng ý tham gia vào nghiên cứu
- Có khả năng trả lời bộ công cụ
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Trẻ chưa bao giờ sử dụng kháng sinh để điều trị bệnh tại nhà và tại cơ sở y tế (trừ lần đang điều trị này)
- Điều trị ngoại trú
- Trẻ mắc các bệnh bẩm sinh, tự miễn hoặc các bệnh dễ dẫn tới sử dụng thuốc kháng sinh thường xuyên
- Trẻ trong tình trạng cấp cứu, nguy kịch
- Trẻ sinh ra nhẹ cân (<2500 gram)
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
> Thời gian: từ tháng 01/2018 đến tháng 3/2018
> Địa điểm nghiên cứu: Khoa tiêu hóa và hô hấp của Bệnh viện Nhi Nam Định
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.4 Mẩu nghiên cứu
2.4.1 Cỡ mẫu
Dựa trên công thức: n=
n: là cỡ mẫu nghiên cứu nhỏ nhất phải đạt được
p: tỷ lệ có người chăm sóc có kiến thức đạt về sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ là 58,6 % [12]
a: Mức ý nghĩa thống kê = 5%
Trang 32Chọn 2 khoa trong số 5 của bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định, gồm khoa hô hấp
và khoa tiêu hóa Theo số liệu thống kê tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định
Bước 2: Chọn đối tượng nghiên cứu
Sau khi nghiên cứu được thông qua hội đồng Khoa học Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, tác giả đã liên hệ với Ban Giám đốc Bệnh viên Nhi Nam Định để xin ý kiến tiến hành thu thập số liệu Sau khi được sự cho phép, nhà nghiên cứu đã gặp Điều dưỡng Trưởng khoa để giải thích cũng như quy trình thực hiện nghiên cứu
và đề xuất những nội dung cần thiết Khi gặp gỡ người bệnh, tác giả đã giới thiệu và giải thích rõ về nghiên cứu của minh, mục tiêu nghiên cứu, quyền lợi và mời ĐTNC tham gia
Đối tượng nghiên cứu là 410 người chăm sóc chính có con từ (0 - 15 tuổi) đang điều trị tại 2 khoa Hô hấp và khoa Tiêu hóa Bệnh viện Nhi Nam Định đúng
với tiêu chuẩn xác định ĐTNC ( Phụ lục 1) và đồng ý ký vào “Phiếu chấp nhận tham gia nghiên cứu Điều tra viên sử dụng bộ câu hỏi đã chuẩn bị sẵn để phỏng
vấnĐTNC
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu
Bộ công cụ được phát triển chủ yếu dựa trên bộ công cụ đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành được tham khảo từ bộ công cụ “Questionnaire for the knowledge, attitudes, and practices of parents in rural China on the use of
antibiotics in children ” (Tạm dịch: Bộ công cụ dành cho nghiên cứu kiến thức, thái
Trang 33độ và thực hành sử dụng kháng sinh của cha mẹ cho trẻ tại khu vực nông thôn Trung Quốc) được phát triển bởi M.Yu và cộng sự đến từ khoa Y tế công cộng -
Đại học Phục Đán - Thượng Hải - Trung Quốc.[56] Tham khảo phần đặc điểm đối tượng nghiên cứu dựa trên một số tổng quan tài liệu [62], tài liệu hướng dẫn sử dụng kháng sinh ban hành kèm theo Quyết định số 708/QĐ-BYT ngày 2/3/2015 của
Bộ Y tế [2] và các nghiên cứu có chủ đề đã được thực hiện tại Việt Nam [12] và trên thế giới [34] [36] Tác giả đã thử nghiệm trên 30 phụ huynh cho thấy họ hoàn toàn tự trả lòi được hết bộ công cụ, ước tính 35% phụ huynh có kiến thức tốt về việc sử dụng kháng sinh với số mẫu số là 743 đã được tính toán, đưa ra độ chính xác ± 10% và sai số loại I là 5% (a = 0,05, Cohen'sd = 0,1) [56]
- Bộ công cụ gồm và chia làm 5 phần
Phần A: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu và thông tin chung về trẻ (14 câu)
Phàn B: Yếu tố truyền thông (2 câu)
Phần C: Kiến thức về sử dụng Kháng sinh cho trẻ của ĐTNC (14 câu)
Phần D: Thái độ về sử dụng Kháng sinh cho trẻ của ĐTNC (12 câu)
Phần E: Thực hành về sử dụng Kháng sinh cho trẻ của ĐTNC (12 câu)
- Bộ công cụ thu thập số liệu đã được kiểm định giá trị và có chỉ số CVI = 0,82
2.5.2 Đánh giá độ tín cậy của bộ công cụ
Tại Việt Nam, nghiên cứu viên sẽ thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu: khi bộ câu hỏi được xây dựng xong, tiến hành thử nghiệm bộ công cụ nghiên cứu được thực hiện 4 tuần trước khi bắt đầu thu thập số liệu Tiến hành điều tra thử trên 30 đối tượng nghiên cứu với bộ câu hỏi này ( 30 đối tượng này không tham gia vào 410 đối tượng nghiên cứu được điều tra sau đó) Chỉnh sửa nội dung của bộ câu hỏi cho phù họp với ngôn ngữ địa phương nhằm đối tượng có thể hiểu được hoàn toàn bộ công cụ để tự trả lời đúng theo thực trạng của bản thân, sau đó in 410 bộ phục vụ điều tra và tập huấn
Sau khi thu thập số liệu nghiên cứu, nghiên cứu viên đã phân tích độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha trên phàn mềm SPSS 22 và cho kết quả như sau
Trang 34Kết luận: Cronbach’s Alpha của thang đo là 0,704 các hệ số tương quan biến tổng của các biến quan sát trong thang đo đều lớn hơn 0,6 nên đạt yêu cầu về độ tin cậy [8]
2.5.3 Phương pháp thu thập số liệu
Tại khoa Hô hấp và khoa Tiêu hóa thì trung bình mỗi khoa có 15 - 20 bệnh nhi nhập viện hàng ngày Mỗi ngày 2 nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành lấy số liệu của
10 bệnh nhi trên tổng số bệnh nhi nhập viện trong cả 2 khoa Thời gian thu thập số liệu trong khoảng thời gian gần 2 tháng
Số liệu trong luận văn được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp dựa trên bộ câu hỏi có sẵn (Phụ lục 03)
Người thu thập số liệu: người nghiên cứu và nhóm cộng sự gồm 10 sinh viên Đại học Điều dưỡng Nam Định./
Thời điểm phỏng vấn: Sau 48h trẻ nhập viện, mời các đối tượng là người chăm sóc chính có trẻ điều trị tại 2 khoa được chọn đáp ứng các tiêu chuẩn lựa chọn tham gia vào nghiên cứu Các thông tin về bệnh của ừẻ được tham khảo từ hồ sơ bệnh án Thời gian nghỉ theo dõi sau tiêm và nằm điều tộ tại khoa Sau đó diều tra viên sẽ phỏng vấn trực tiếp người bệnh bằng phiếu điều tra đã chuẩn bị sẵn
2.5.4 Quy trình thu thập sổ liệu
Điều tra viên sẽ giải thích cho người bệnh hiểu về mục đích của nghiên cứu và cam đoan những thông tin mà NCSC cung cấp trong phiếu điều tra chỉ nhằm mục đích phục vụ nghiên cứu và được bảo mật NCSC có quyền từ chối tham gia nghiên cứu và có thể ngừng tham gia nghiên cứu giữa chừng Sau khi người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu thì điều tra viên sẽ cho người bệnh ký vào bản chấp thuận tham gia nghiên cứu Sau khi NCSC đồng ý, nhà nghiên cứu đã tiến hành thu thập số liệu theo các bước sau:
Bước l ĩ Tập huấn (nội dung thu thập số liệu)
- Đối tượng tập huấn: Điều tra viên - Là sinh viên của Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
- Nội dung tập huấn:
Trang 35• Mục đích, kế hoạch của điều tra.
• Hướng dẫn ĐTV xác định đúng đối tượng nghiên cứu (Phụ lục 1) và sử dụng bộ công cụ (Phụ lục 3) Các ĐTV được nghiên cứu viên tập huấn và giải đáp các thắc mắc liên quan đến mục tiêu nghiên cứu, cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu
và bộ câu hỏi Đặt ra các tình huống có thể phát sinh từ phía các đối tượng trong quá ừình thu thập và thảo luận tìm cách giải đáp Tiến hành phỏng vấn chéo để kiểm tra tính tuần tự và hợp lý của bộ câu hỏi, đồng thời xác định thời gian cần thiết
để thu thập ứng với mỗi phiếu Sau đó, nghiên cứu viên tổng kết, tiến hành xây dựng một bản hướng dẫn điều tra và phát cho mỗi điều tra viên một bản hướng dẫn
• ĐTV nhận danh sách buồng bệnh của khoa do mình phụ trách
• Thời gian và địa điểm: Tất cả các ngày trong tuần (trừ thứ 7 và chủ nhật) tại khoa Hô hấp và khoa Tiêu hóa
• Giảng viên: Nghiên cứu viên
Bước 2: Điều tra, giám sát:
- Điều tra viên tiến hành thu thập số liệu khi có trẻ nhập viện cần sử dụng kháng sinh tại khoa mình phụ trách
- Tiến hành điều tra: Sau 48h nhập viện, điều tra viên bắt đầu xác định đối tượng nghiên cứu (Phụ lục 1), nếu đối tượng đáp ứng đủ tiêu chuẩn nghiên cứu thì phỏng vấn đối tượng nghiên cứu bằng bộ câu hỏi thiết kế sẵn (Phụ lục 3) Mỗi đối tượng nghiên cứu có khoảng 20 phút để hoàn thành bộ công cụ
- Sau khi đối tượng trả lời bảng câu hỏi thì điều ừa viên soát lại, nếu còn sót câu nào thì mời đối tượng trả lời bổ sung
- Nếu trong mỗi gia đình có 2 trẻ trở lên cùng điều trị thì sẽ hỏi thông tin của trẻ phải sử dụng nhiều thuốc kháng sinh ở nhất từ trước đến nay
Bước 3: Thu thập phiếu điều tra
Sau mỗi ngày điều tra, nghiên cứu viên tổng họp và kiểm tra lại các phiếu phỏng vấn, nếu phiếu nào không đạt yêu cầu thì tiến hành điều tra lại
2.6 Biến số nghiên cứu
Được chia thành 3 nhóm (Phụ lục 4)
Nhóm 1: Thông tin chung (nhân khẩu học)
Trang 36Nhóm 2: Kiến thức, thái độ và thực hành của ĐTNC về sử dụng kháng sinh cho trẻ.
Nhóm 3: Thông tin về yếu tố truyền thông
2.7 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá
• về các yếu tố cá nhân của người chăm sóc chính : Giới, nhóm tuổi (< 20
tuổi, 21-30 tuổi, 31-40 tuổi và >40 tuổi), trình độ học vấn (> THPT và < THPT), số con (1, 2, >3), nơi sinh sống ( Thành phố/ Thị ừấn, Nông thôn), số lượng con, tham gia bảo hiểm Y tế ( Có và không), nghề nghiệp ( Công nhân, Nhân viên văn phòng/ Nhà nước, nông dân, sinh viên, làm nghề tự do, khác), điều kiện kinh tế (Dựa theo Quyết định số 59/2015/QĐ- TTg về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016- 2020), tôn giáo (Có và không).[56]
• về các yếu tố cá nhân của trẻ: về các yếu tố cá nhân của trẻ: nhóm tuổi (< 1
tuổi, 1-6 tuổi, 7-12 tuổi, 13-15 tuổi), giới (Nam/ nữ), con thứ mấy trong gia đình (Con
cả và con thứ), trẻ tham gia BHYT (Có và không), Chẩn đoán bệnh của trẻ
• về kiến thức:
• Đối với câu hỏi lựa chọn 1 đáp án đúng nhất nếu người bệnh chọn được đáp
án đúng nhất thì được 1 điểm, không lựa chọn được đáp án đúng nhất được 0 điểm Tổng điểm kiến thức cao nhất là 14, thấp nhất là 0 Nếu trả lời được tổng điểm kiến thức >8/14 điểm thì đánh giá là đạt và <8 điểm đánh giá chưa đạt về kiến thức sử dụng thuốc kháng sinh của người chăm sóc chính [56]
• về thực hành: gồm câu 52 và 54 Nếu người chăm sóc chính đã từng sử
dụng thuốc kháng sinh cho trẻ mà không cần đơn của bác sĩ và tần suất sử dụng thuốc kháng sinh kê đơn trong 1 năm qua ở mức Luôn luôn/Phần lớn/Thường xuyên
Trang 37thì đánh giá thực hành sử dụng thuốc kháng sinh của người chăm sóc chính chưa đạt [56].
2.8 Phương pháp phân tích số liệu:
> Quản lý số liệu: sau khi thu thập, các phiếu điều tra được kiểm tra đầy đủ của thông tin Sau đó các phiếu được giao lại cho nghiên cứu viên Làm sạch, mã hóa và nhập số liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 22.0
> Phân tích số liệu: Kết quả phân tích được chia làm 2 phần:
• Thống kê mô tả:
- Mô tả các đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng, thực trạng kiến thức, thái
độ và thực hành sử dụng thuốc kháng sinh của người chăm sóc chính cho trẻ
2.9 Vấn đề đạo đức nghiên cứu:
Tuân thủ quy trình xét duyệt của Hội đồng Đạo đức của Trường Điều dưỡng Nam Định, chỉ tiến hành nghiên cứu khi được Hội đồng Đạo đức chấp thuận
Nghiên cứu hoàn toàn được sự chấp nhận của Ban lãnh đạo Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định, sự ủng hộ của chính quyền địa phương và lãnh đạo các cơ quan y tế trên địa bàn nghiên cứu
Chỉ phỏng vấn những đối tượng đồng ý tham gia vào nghiên cứu
Đối tượng tham gia nghiên cứu được ĐTV giải thích rõ về mục đích nghiên cứu Sự tham gia của đối tượng là hoàn toàn tự nguyện, được thể hiện trong bản chấp nhận tham gia vào nghiên cứu Đối tượng phỏng vấn có thể rút lui khỏi nghiên cứu bất kỳ thời điểm nào mà không ảnh hưởng đến họ theo bất kỳ hình thức nào
Trang 38Toàn bộ thông tin của đối tượng nghiên cứu được giữ bí mật và mọi thông tin đều được mã hóa.
Sau khi điều ừa xong, nếu đối tượng nghiên cứu có kiến thức chưa đúng về sử dụng thuốc kháng sinh thì điều tra viên sẽ thực hiện giáo dục sức khỏe để giúp người mẹ hiểu và sử dụng thuốc kháng sinh đúng, an toàn cho trẻ, bản thân và người nhà
2.10 Sai số và biện pháp khắc phục sai số
2.10.2 Biện pháp khắc phục:
•Điều tra viên và giám sát viên được tập huấn để tránh mắc sai sót thông tin
do kỹ năng thu thập thông tin không đồng nhất giữa các điều tra viên
• Các định nghĩa, tiêu chuẩn đưa ra chính xác, rõ ràng, câu hỏi cụ thể và dễ hiểu, điều tra viên được tập huấn kỹ về kỹ năng phỏng vấn để giúp đối tượng nghiên cứu có thể nhớ lại chính xác lần sử dụng thuốc kháng sinh gần nhất cho trẻ trong quá khứ để tránh sai số nhớ lại
•Bộ câu hỏi được thử nghiệm trước khi thu thập số liệu chính thức tại thực địa
Trang 39Chương 3 KẾT QUẢ3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu:
80
<20 tuổi 21-30 tuổi 31-40 tuổi >40 tuổiBiểu đồ 3.1 Phân bố tuổi của đối tượng nghiên cứuBiểu đồ trên cho kết quả tuổi của đối tượng nghiên cứu đa số từ 21 -30 tuổi với
292 đối tượng (chiếm 71,2 %) tiếp đến là 31 -40 tuổi với 88 đối tượng (chiếm 21,5%)
Bảng 3.1 Thông tin đối tượng nghiên cứu (n = 410)Đặc điểm đối tượng nghiên cứu Tần suất Tỷ lệ %
Trang 40trở xuống chiếm tỷ lệ 52,4% Đối tượng nghiên cứu chủ yếu tham gia bảo hiểm y tế chiếm 90,5% (371 người).
Hon một nửa đối tượng nghiên cứu sinh sống tại nông thôn (64,6%) Trong gia đình người chăm sóc chính có số từ hai con trở lên chiếm tỷ lệ cao hon so với các gia đình chỉ có một con (53,9%) Bên cạnh đó,các hộ gia đình phần lớn có 75% người chăm sóc không theo bất kỳ tôn giáo nào và về điều kiện kinh tế thì có 376 người có xếp loại kinh tế hộ gia đình ở dưới mức trung bình chiếm 91,7%
Biểu đồ 3.2 Phân bố giới của đối tượng nghiên cứu (n = 410)
Biểu đồ trên cho kết quả giới của đối tượng đa số là nữ với 306 đối tượng (chiếm 44,7%)
(31%)Biểu đồ 3.3 Phân bố nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu (n = 410)
Trong nghiên cứu đối tượng đa số là nhân viên văn phòng chiếm 35,9% và có 31%
là công nhân
Bảng 3.2 Thông tin của trẻ (n = 410)Đặc điểm đổi tượng nghiên cứu Tần suất Tỷlệ %