NGUYỄN THỊ THANH HUYỀNT H ựC TRẠNG TUÂN THỦ VỆ SINH BÀN TAY CỦA NHÂN VIÊN Y TÉ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH HẢI DƯƠNG NĂM 2016 Chuyên ngành: Điều dưỡng Nội người lơn BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT
Trang 1NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
T H ựC TRẠNG TUÂN THỦ VỆ SINH BÀN TAY CỦA NHÂN VIÊN Y TÉ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
TỈNH HẢI DƯƠNG NĂM 2016
Chuyên ngành: Điều dưỡng Nội người lơn
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐIỀU DƯỠNG CHUYÊN KHOA I
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DÃN
Trang 2Trong thời gian học tập tại trường, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô, gia đình và bạn bè Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin trân trọng cảm ơn, Đảng uỷ, Ban Giám hiệu, quý thầy cô trường Đại học điều dưỡng Nam Định đã nhiệt tình truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong thời gian học tập tại trường.
Cảm Ơ11 Ban lãnh đạo Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương, cùng nhừng cán
bộ y tế trong các khoa, phòng trong bệnh viện đã tạo diều kiện dế em có thể tham gia và hoàn thành chuyên đề này
Và đặc biệt em xin chân thành cảm ơn TS.Trần Văn Long đã tận tâm hướng dẫn em trong suốt thời gian làm chuyên dề tốt nghiệp để em có thể hoàn thành tốt bài báo cáo của mình với chuyên đề: “Thực trạng tuân thủ vệ sinh bàn tay của nhân viên y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương năm 2016”
Sau cùng, em xin kính chúc thầy và tập thể giảng viên trường Đại học điều dưỡng Nam định thật dồi dào sức khỏe, niềm tin để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau
Em xin trân trọng cảm ơn
Nam Định, ngày 09 tháng 06 năm 2016
Sinh viên thực hiện
{Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIÉT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
I ĐẶT VẤN ĐÈ .1
II CO SỎ LÝ LUẬN VÀ T H ựC T IẺ N 3
1 Cơ sở lý luận 3
1.1 Sinh thái học của lớp vi khuẩn trên đôi bàn ta y 3
1.2 Rửa tay thường q u y 4
1.3 Lợi ích của việc rửa tay phòng bệnh .5
2 Các nghiên cứu về kiến thức và thực hành rửa tay phòng bệnh 7
2.1 Các nghiên cứu trên thế g iớ i 7
2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam .7
III LIÊN HỆ T H ựC T IẺ N 10
1 Thực trạng tuân thủ vệ sinh bàn tay của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hải D ương 10
1.1 VST trong quy định, quy chế của Bệnh v iện 10
1.2 Tiến hành phỏng vấn, quan sát, đánh giá thực trạng vệ sinh tay của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hải D ư ơ n g 11
1.3 Thực trạng VST của NVYT tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải D ư ơ n g 11
2 Các ưu điểm và tồn t ạ i 19
2.1 Ưu điểm 19
2.2 Tồn t ạ i 19
3 Nguyên n h â n 20
IV ĐÈ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP KHẢ T H I 21
1 Công tác quản l ý 21
2 Giải pháp kỹ th u ậ t 21
Trang 44 Giải pháp k h á c 22
V K ÉT LU Ậ N 24
1 Thực trạng 24
2 Giải p h á p 24
TÀI LIỆU TH A M K H Ả O 25
Trang 5Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 6B ản gl: Phân bố đối tượng nghiên cứu 12
Bảng 2: Kiến thức về VST theo 5 thời điểm phân bố theo đối tượng 12
Bảng 3: Kiến thức về quy trình RTTQ của NVYT phân bổ theo đối tượng 13
Bảng 4: Thực hành VST theo 5 thời điểm phân bố theo đối tượng 14
Bảng 5: Thực hiện quy trình RTTQ phân bố theo đối tượng 15
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 4: VST với dung dịch chứa cồn tại khoa thần kinh 18
Hình 6: Buổi tập huấn vệ sinh tay tại BVĐK tình Hải Dưomg năm 2016 23
Trang 7I ĐẶT VẤN ĐÈ
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) là những nhiễm khuẩn mắc phải trong thời gian người bệnh điều trị tại bệnh viện và nhiễm khuẩn này không hiện diện cũng như không nằm trong giai đoạn ủ bệnh tại thời điểm nhập viện NKBV thường xuất hiện sau 48 giờ kể từ khi người bệnh nhập viện.[l]
Nhiễm khuẩn bệnh viện là một trong những nguyên nhân góp phần làm gia tăng gánh nặng bệnh tật, gia tăng kinh phí điều trị do kéo dài thời gian nằm viện và tăng sử dụng thuốc kháng sinh cho người bệnh
Có nhiều phương thức gây nhiễm trùng bệnh viện như qua chất thài của người bệnh không được xử lý đúng, vệ sinh giường chiếu bệnh phòng khôns tốt, tiêm, thay băng, làm thủ thuật không đúng quy trình vô khuẩn và đặc biệt là qua bàn tay của nhân viên y tể trong quá trình thăm khám và chăm sóc cho người bệnh
Các nhà khoa học đã xác định, trên lcm2 da của người bình thường chứa tới 40.000 vi khuẩn Đặc biệt số lượng này còn nhiều hơn ở trên da tay, vốn là nơi thườna xuyên tiếp xúc với đủ mọi vật trong cuộc sống thường ngày [6]
Theo Tổ chức Y tế Thế g iớ i, rửa tay (RT) được coi là liều vắc xin tự chế, rất đon giản, dễ thực hiện, hiệu quả về chi phí Chỉ một động tác RT sạch với nước và xà phòng
đã làm giảm tới 35% khả năng lây truyền vi khuẩn Shigella, là nguyên nhân gây các bệnh tiêu chảy và làm tử vong hàng triệu người mỗi năm ữên thế giới Theo nhiều báo cáo của các chuyên gia kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) trong và ngoài nước thì các bệnh truyền nhiễm đã và đang diễn ra trong cộng đồng hoàn toàn có thể phòng ngừa được bằng cách rửa tay xà phòng (RTXP) [6]
Dựa vào kết quả các nghiên cứu khoa học, Hội nghị kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện khu vực Châu Á Thái Bình Dương lần thứ III năm 2007 đã chỉ ra:
1 Rửa tay là biện pháp đơn giản nhất, rẻ tiền nhất và cũng hiệu quả nhất trong kiểm soát nhiễm khuẩn, do đó cần tăng cường sự tuân thủ RT
2 Rửa tay thường quy (RTTQ) hoặc sát khuẩn tay bàng dung dịch chứa cồn là phương pháp tiện ích và hiệu quả nhất trong kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV)
Tại Việt Nam, kết quả nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ vệ sinh bàn tay của nhân viên y tế còn thấp chỉ đạt 15% Do đó, năm 2006, Bộ Y tế đã phát động phong trào vệ sinh bàn tay ở cả bệnh viện và cộng đồng [6]
Trang 8Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương là bệnh viện hạng I, theo chỉ tiêu có 700 giường bệnh, giường thực kê 1035, số người bệnh nằm điều trị nội trú trung bình mỗi ngày hơn 1000 người bệnh Hàng ngày ngoài việc thường xuyên thăm khám, theo dõi chăm sóc người bệnh, đồng thời còn phải thực hiện nhiều các thủ thuật xâm lấn can thiệp khác nên nguy cơ lây nhiễm rất cao Vì vậy việc thực hiện tốt quy trình vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế (NVYT) tại các khoa sẽ mang lại hiệu quả cao trong công tác chống nhiễm khuẩn bệnh viện.
Để có cơ sở cho việc đề xuất biện pháp nâng cao tỷ lệ CBYT tuân thủ vệ sinh bàn tay cho bệnh viện, tôi đã tiến hành làm chuyên đề:
“Thực trạng tuân thủ vệ sinh bàn tay của nhân viên y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dưoĩig năm 2016 ” nhằm:
1 Mô tả thực trạng việc tuân thủ vệ sinh bàn tay cùa nhân viên y tế tại Bệnh viện đa khoa tinh Hải Dương năm 20] 6.
2 Để xuất giải pháp tăng cường sự tuân thủ vệ sinh bàn tay cùa nhân viên y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hài Dương nãm 2016.
í
Trang 9II CO SỎ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Co* sỏ’ lý luận
1.1 Sinh thái học của lóp vi khuẩn trên đôi bàn tay
1.1.1 Lóp vi khuẩn cư trú thưòng xuyên
Bình thường trên bàn tay người có lớp vi khuẩn (VK) cư trú thường xuyên Chúng nằm trên bề mặt và sâu dưới da, ổn định về mặt số lượng và chủng loại Theo các nhà khoa học, dù không nhìn thấy bằng mắt thường, nhưng quan sát qua kính hiển vi trên lcm 2 da tay người bình thường chứa hơn 40.000 vi khuẩn các loại [4] Chúng thường là VK không gây bệnh trên người lành như: Staphylocoque coagulase negative, Cryhelacteries, Microcoques, Propioni bacterium acnes
Lớp VK này không bao giờ bị tiêu diệt hoàn toàn ngay cả khi rửa tay (RT) ngoại khoa Cách duy nhất để đảm bảo an toàn cho NVYT và người bệnh là mans, găng tay vô khuẩn [6]
1.1.2 Lóp vi khuẩn cư trú tạm thòi
Hằng ngày, thông qua những tiếp xúc với người bệnh và môi trường xung quanh, số lượng VK trên bàn tay các NVYT còn tăng lên gấp nhiều lần Lớp VK này có mặt ngay trên bề mặt da bàn tay, chúng rất phong phú về chủng loại cũng như số lượng Chúng thường là những VK gây bệnh cơ hội như: Enterobacteries, E.coli, Klebsiella, Pneudomonas aeruginosa, Clostridium difficile, Rotavirus, Candida, Adenovirus
Trong số đó, có rất nhiều VK có khả năng lây truyền bệnh và có thể phát triển thành dịch rất nhanh chóng như: Rotavirus, Pseudomonas, Adenovirus Người lành mang lớp VK này cũng có thể gặp nguy hiểm, rất có khả năng sẽ bị mắc bệnh Nếu chúng ta không rửa tay để loại bỏ lớp VK này thì đôi bàn tay chúng ta sẽ là môi trường sinh sôi của VK, là nguồn lây truyền bệnh dịch cho bản thân, những người xung quanh và làm gia tăng tỷ lệ các bệnh nhiễm trùng [6]
Kết quả kiểm tra ngẫu nhiên của bệnh viện Chợ Ray tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2001 ở 77 nhân viên y tế, số vi khuẩn đếm được trung bình trên bàn tay hộ lý
là 481.273 vi trùng, trên bàn tay bác sĩ 275.110 và nhóm điều dưỡng sạch nhất cũng
là 126.875 vi trùng [6]
Trang 101.2 Rửa tay thường quy
1.2.1 Thế nào là rửa tay thường quy
Rửa tay thường quy là kỹ thuật được tiến hành trước khi mang găng, trước
và sau khi khám, sau khi chăm sóc người bệnh, trước khi di chuyển bàn tay từ cùng
cơ thể nhiễm khuẩn sang vùng sạch trên cùng một người bệnh, sau khi tiếp xúc với
đồ vật xung quanh người bệnh, khi tháo găng, [2]
Rửa tay thường quy được chia ra làm 2 loại:
- Rửa tay với xà phòng thường (hoặc với xà phòng khử khuẩn, duns dịch rửa tay khử khuẩn ) và nước
- Thực hiện sát khuẩn tay với dung dịch chứa cồn
1.2.2 Quy trình rửa tay thường quy
Chuẩn bị:
- Lavabo, vòi nước có cần gạt bằng tay (hoặc bàng chân)
- Nước sạch
- Xà phòng hoặc dung dịch rửa tay khử khuẩn
- Hộp đựng khăn lau tay sạch
- Thùng đụng khăn lau tay bẩn
Các bước thực hiện RTTQ với xà phòng và nu:ớc:[2]
-Bước 1: Làm ướt hai lòng bàn tay bằng nước Lấy một lượng vừa đủ xà phòng và chà hai lòng bàn tay vào nhau
-Bước 2: Chà lòng bàn tay này lên mu bàn tay kia và kẽ ngoài các ngón tay của bàn tay kia và ngược lại
-Bước 3: Chà hai lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các kẽ trong ngón tay -Bước 4: Chà mặt ngoài các ngón tay của bàn tay này vào lòng bàn tay kia -Bước 5: Dùng bàn tay này xoay ngón cái của bàn tay kia và ngược lại
-Bước 6: Xoay các đầu ngón tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại Rửa tay dưới nước và vòi nước chảy đến cổ tay và lau khô tay bằng khăn sạch
Các bước thực hiện sát khuẩn tay bằng dung dịch chứa cồn:
Trang 11-Bước 1: Lấy khoảng 3ml - 5ml dung dịch sát khuẩn tay nhanh ra lòng bàn tay và chà hai lòng bàn tay vào nhau
-Bước 2: Chà lòng bàn tay này lên mu bàn tay kia và kẽ ngoài các ngón tay của bàn tay kia và ngược lại
-Bước 3: Chà hai lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các kẽ trong ngón tay-Bước 4: Chà mặt ngoài các ngón tay của bàn tay này vào lòng bàn tay kia-Bước 5: Dùng bàn tay này xoay ngón cái của bàn tay kia và ngược lại
-Bước 6: Xoay các đầu ngón tay này vào lòng bàn tay kia và neược lại Mỗi bước thực hiện ít nhất 5 lần, thời gian từ 15-20 giây, và cho đến khi tay khô
1.3 Lọi ích của việc rửa tay phòng bệnh
1.3.1 Lọi ích của việc rửa tay thưòng quy
Trong suốt thế kỷ thứ XIX, ở châu Âu và Mỹ, 25% bà mẹ sinh con tại bệnh viện đã tử vong Nguyên nhân mà mãi sau này, nhờ tiến bộ của khoa học mới phát hiện ra là do vi khuẩn Streptococcus pyogenes Năm 1843, bác sĩ Oliver Wendell Holmes (Mỹ) yêu cầu một bác sĩ của khoa sản (nơi ông làm việc) nshỉ việc một tháng sau 2 trường hợp bà mẹ tử vong mà ông cho rằng liên quan đến vệ sinh bàn tay của bác sĩ đó Ý kiến của ông đã bị nhiều bác sĩ cùng thời phản đối
Vào những năm 1840 Semmelweis làm việc tại BV (ở Áo) có hai khoa sản, ông đã quan sát sản phụ được nhập viện tại hai khoa sản mà không phụ thuộc vào tình trạng lâm sàng, ô n g có kết luận rằng nguyên nhân gây ra sốt sản khoa có nguồn gốc từ tử thi và được lây truyền cho sản phụ qua bàn tay thăm khám của sinh viên y tế Tuy nhiên, tại thời điểm đó, nhiều người cho rằng khuyến cáo rửa tay giữa những lần tiếp xúc với người bệnh của Semmelweis là quá nhiều và không bác sĩ nào chấp nhận đôi bàn tay họ chính là nguyên nhân gây tử vong hậu sản Một số người khác thì cho rằng kết quả nghiên cứu của ông thiếu bằng chứng khoa học
Năm 1879, tại một hội thảo khoa học ở Paris, bác sĩ Louis Pasteur đã lên tiếng: “Nguyên nhân gây tử vong ở những bà mẹ bị nhiễm trùng hậu sản chính là các bác sĩ đã sử dụng bàn tay khám các bà mẹ bị bệnh rồi khám các bà mẹ mạnh khỏe” Sau đó, ông đưa ra Lý thuyết về “Mầm bệnh” và phương pháp tiệt khuẩn Pasteur được sử dụng tới ngày nay [4]
Trang 12Ngày càng nhiều các nghiên cứu trên thế giới chứng minh vai trò của RTTQ đối với việc làm giảm tỷ lệ nhiễm trùng liên quan tới chăm sóc y tế Theo Conly (1989), tỷ lệ nhiễm khuẩn liên quan tới chăm sóc y tế đã giảm rồ rệt, từ 33% xuống còn 12% và từ 33% xuống còn 10%, ngay sau hai lần can thiệp đẩy mạnh việc RTTQ cách nhau 4 năm [6].
Tại Việt Nam, kết quả điều tra về vấn đề nhiễm khuẩn bệnh viện năm 2000
do Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với các chuyên gia y tế Pháp tiến hành cho thấy: Trong 9.900 bệnh nhân của 24 đơn vị bệnh viện trên toàn địa bàn thành phố phát hiện được 854 ca nhiễm khuẩn mắc phải tại bệnh viện (chiếm tỷ lệ 8,6%), trong đó cao nhất là viêm phổi nhiễm khuẩn (26,5%), nhiễm khuẩn do đặt thông tiểu là 18,8% Việc tăng cường thực hành RTTQ trong các bệnh viện ở Việt Nam đã ghi nhận nhiều thành công Tại bệnh viện Bình Dân, sau khi phát động chương trình
vệ sinh bàn tay, tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện đã giảm từ 17,1% xuống còn 2,1%, thời gian nằm viện và chi phí sử dụng kháng sinh cũng đã giảm [6] Bệnh viện Bạch Mai trong những năm gần đây đã chú trọng công tác chống NKBV, đồng thời tiến hành tuyên truyền, tập huấn về công tác vệ sinh bàn tay khi thăm khám bệnh nhân Nhờ vậy, tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện từ 1,5% (1995) giảm xuống còn 0,8% (2006) [6]
Năm 2009, Tổ chức Y tế Thế giới đã phát động Cuộc vận động toàn cầu
tham gia chiến dịch “Bảo vệ sự sống: hãy rửa tay” Nhận thức được tầm quan
trọng của vệ sinh bàn tay trong khám, chữa bệnh, ngày 20/4/2009, TS Nguyễn Thị Xuyên, Thứ trưởng Bộ Y tế đã đại diện cho Lãnh đạo Bộ Y tế ký văn bản ủng hộ phong trào vệ sinh bàn tay và kiểm soát nhiễm khuẩn do Tổ chức Y tế Thế giới phát động, Việt Nam đã trờ thành nước thứ 118 tuyên bố triển khai Cuộc vận động toàn cầu này Cũng trong năm 2009, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 18/2009/TT-BYT
về việc hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ
sở khám, chữa bệnh Đặc biệt là ngay điều đầu tiên của Thông tư đã quy định về rửa tay [2]
1.3.2 Lọi ích của việc rửa tay xà phòng
90% bệnh lây lan qua đường tiếp xúc mà bàn tay là cầu nối chủ yếu Tổ chức
Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo, chỉ một động tác rửa tay sạch với nước và xà phòng đã làm giảm tới 35% khả năng lây truyền vi khuẩn Shigella, giảm rủi ro nhiễm khuẩn tiêu chảy tới 47%, nhiễm khuẩn đường hô hấp tới 19-45% [6]
Trang 13Kết quả xét nghiệm bàn tay người tại 11 tỉnh của Việt Nam cũng cho thấy, tỷ lệ đổi tượng có bàn tay nhiễm E.coli từ phân rất cao [4] Do đó sau khi đi vệ sinh, cần phải rửa tay ngay với xà phòng Điều này không những giúp giữ gìn thân thể sạch
sê mà còn phòng chống lây nhiễm bệnh tật và còn tạo được thói quen vệ sinh
2 Các nghiên cứu về kiến thức và thực hành rửa tay phòng bệnh
2.1 Các nghiên cứu trên thế giói
Kiến thức của NVYT về RTTQ một số nơi còn chưa tốt, tỷ lệ tuân thủ RTTQ chưa cao tại: Thổ N hĩ Kỳ, đa số các y tá lâm sàng không đạt kiến thức liên quan tới việc VSBT Phần lớn các y tá đều báo cáo rằng họ luôn luôn RT sau khi tiếp xúc với người bệnh hay các chất thải, máu/dịch cơ thể Các y tá đều tán thành việc phải RTTQ một cách thường xuyên nhưng thực tế họ không thể làm dược điều này vì thiếu các cơ sở vật chất
Các chương trình can thiệp cho thấy có hiệu quả rõ rệt: Nghiên cứu cùa Pitte
và cộng sự tại Thụy Sĩ cho thấy sau 3 năm có chương trình can thiệp, tỷ lệ tuân thủ RTTQ đã tăng từ 48% lên 66%
Thực hành rửa tay thường xuyên của cộng đồng chưa tương xứng với kiến thức: Tại Hàn Quốc một khảo sát về hành vi rửa tay và nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của rửa tay Kết quả cho thấy: 94% số người trả lời phỏng vấn tuyên bố thường xuyên RT sau khi sử dụng nhà vệ sinh công cộng nhưng con số thực tế khi quan sát tại nhà vệ sinh công cộng là 63,4% số người quan sát đã RT Đặc biệt nữ giới RT nhiều hơn nam giới
Tại Colombia theo điều tra tại 25 trường học ở Bogota qua bảng câu hỏi thấy
có 33,6% tổng số học sinh là thường xuyên RTXP trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh Khoảng 7% học sinh có ý thức cập nhật thông tin thường xuyên về các vấn đề liên quan tới nhiễm trùng và rửa tay
2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Thực tế tỷ lệ nhân viên y tế (NVYT) thực hiện vệ sinh bàn tay còn thấp Theo một điều tra về tình hình thực hiện các biện pháp dự phòng cơ bản tại bệnh viện Bạch Mai và một sổ bệnh viện khu vực phía Bắc, tại bệnh viện Bạch Mai: chi 2,6% nhân viên y tế RTTQ trước khi thăm khám bệnh nhân và 4,2% RTTQ trước
Trang 14khi chuyển từ thao tác bẩn sang thao tác sạch trên cùng một bệnh nhân Tỷ lệ RTTQ trong ngày của các NVYT còn quá thấp, chỉ từ 3 - 5 lần/ngày [5], Thạc sỹ Phạm Đức Mục - nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Điều trị (Bộ y tế) cho biết chỉ có 17% NVYT
ở Việt Nam RTTQ thường xuyên và đúng cách [4]
Nghiên cứu về việc tuân thủ RTTQ tại bệnh viện (BV) Saint Paul và Thanh Nhàn năm 2007 cho thấy, tỷ lệ bác sĩ và điều dưỡng không RT lần nào chiếm tỷ lệ 58,3% Tỷ lệ NVYT RT khi có cơ hội chỉ là 12,2%
Việc tuân thủ vệ sinh tay (VST) còn thấp, không những vậy kiến thức về VST của NVYT cũng chưa cao Theo một kết quả khảo sát tại 29 khoa lâm sàns thuộc khối ngoại, sản, cấp cứu của 9 bệnh viện tuyến trung ương và tỉnh của khu vực phía bắc năm 2009 cho thấy hơn 58% NVYT không trả lời đúng các câu hỏi về
vệ sinh bàn tay (VSBT) [4], Còn trong lễ phát dộng “Bàn tay sạch” được tổ chức tại bệnh viện Nhi Trung ương, 300 NVYT có mặt đều không nắm được quy trình RTTQ do Bộ Y tế quy định Những NVYT thao tác sai quy trình đều cảm thấy gò
bó khi được yêu cầu thực hiện lại
Năm 2010, Thạc sĩ Trân Hữu Luyện, bệnh viện trung ương Huế dã tiến hành quan sát và thấy tỷ lệ rửa tay thường quy là 46,6% [5]
Theo một nghiên cứu Tạ Thị Thành, Nguyễn Thị Thanh Tùng và cộng sự với
đề tài: “Nhận thức và thái độ tuân thủ rửa tay thường quy của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Kon Turn năm 2012” nghiên cứu từ 01/08/2012 đến 31/08/2012, quan sát 1.188 lượt rửa tay của 328 NVYT Tỷ lệ thực hiện đúng quy trình rửa tay là 75%, trong đó bác sĩ và hộ lý có tỷ lệ thấp (<60%), điều dưỡng viên có tỷ lệ tuân thủ cao nhất (83,8%); sự tuân thủ của sinh viên vẫn còn thấp (61,7%) Kết quả nghiên cứu rửa tay theo 5 thời điểm (theo Tổ chức y tế thế giới) thấy: tỷ lệ thực hiện rửa tay thường quy sau khi tiếp xúc với máu, dịch tiết là 93,67%, rửa tay truóc khi làm thủ thuật vô khuẩn 79,93%, 63,56% trước khi tiếp xúc với bệnh nhân, 41% sau khi tiếp xúc với bệnh nhân và 35,4% sau khi tiếp xúc với môi trường xung quanh người bệnh [7]
Một nghiên cứu khác của Bệnh viện cấp cứu Trưng Vương - Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2013 Tỉ lệ nhân viên y tế có kiến thức đúng và thái độ tích cực về vấn đề rửa tay: 82,81% NVYT nắm vững 5 thời điểm rửa tay theo khuyến cáo
Trang 15WHO; 40,69% NVYT nắm vững 6 bước kỹ thuật rửa tay 88,54% NVYT không biết khi bàn tay dính máu/dịch tiết hoặc đã có nguy cơ dính máu/dịch tiết thì không nên rửa tay bằng cồn sát khuẩn tay nhanh 33,23% đánh giá kiến thức mức khá; 13,07% NVYT đánh giá có thái độ tích cực đối với vấn đề rửa tay Tỉ lệ tuân thủ rửa tay theo 5 thời điểm khuyến cáo của WHO và yếu tố có liên quan: Tỉ lệ tuân thủ rửa tay chung là 31,53%, Tỉ lệ tuân thủ theo thời điểm lần lượt là: Sau khi tiếp xúc máu/dịch tiết (71,55%); Sau khi tiếp xúc bệnh nhân (37,81%); Trước khi thực hiện thủ thuật/kỹ thuật (27,24%); Sau khi tiếp xúc vật dụng quanh bệnh nhân (21,16%); Trước khi tiếp xúc bệnh nhân (13,2%) [8]