LỜI CAM ĐOANEm xin cam đoan rằng, luận văn thạc sĩ “Thực trạng kiến thức và sự tự tin trong thực hành chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng Bệnh viện Kiến An - Hải Phòng năm 2018” là công trì
Trang 1TR ỊN H T H Ị MY
THƯ C TRANG K IẾN THỨ C VÀ s ư T Ư TIN TR O N G • • • • THƯ C HÀNH CHĂM SÓC G IẢ M NHE CỦA ĐIỀU DƯỠNG • •
BỆNH VIỆN K IẾN AN - H Ả I PH Ò N G NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC s ĩ ĐIỀU DƯỠNG
NAM ĐINH - 2018
Trang 2TR ỊN H T H Ị MY
THỰC TRẠNG K IẾN THỨ C VÀ s ự T ự TIN TR O N G THỰ C HÀNH CHĂM SÓC GIẢ M NHẸ CỦA ĐIỀU DƯỠNG
BÊNH VIÊN K IẾ N AN - H Ả I PH Ò N G NĂM 2018 • •
LUẬN VĂN THẠC s ĩ ĐIỀU DƯỠNG
M ã số: 8720301
N GƯ ỜI H Ư Ớ N G DẪN K H O A H Ọ C :
PGS.TS TR ỊN H T H Ị LÝ
NAM ĐỊNH - 2018
Trang 3TÓM TẮT Mục tiêu: Mô tả thực trạng kiến thức, sự tự tin trong thực hành chăm sóc
giảm nhẹ (CSGN) của điều dưỡng Bệnh viện Kiến An và xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, sự tự tin trong thực hành chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng Bệnh viện Kiến An
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trên 90 điều dưỡng
tại Bệnh viện Kiến An Sử dụng bộ câu hỏi tự điền trên nền tảng hai bộ công cụ gốc
là PCQN (Palliative Care Quiz for Nurses) và PCNSC (Palliative Care Nursing Self- Competence Scale)
Kết quả: Điểm trung bình của điều dưỡng về: kiến thức CSGN là 13,34 ±
1,91 trên tổng số 30 điểm và sự tự tin trong thực hành CSGN là 98,81 ± 16,91 trên tổng số 170 điểm Điều dưỡng có trình độ chuyên môn là cao đẳng, đại học có kiến thức và sự tự tin cao hơn trình độ chuyên môn là trung cấp Điều dưỡng được đào tạo về CSGN có điểm kiến thức và sự tự tin cao hơn điều dưỡng chưa được đào tạo
về CSGN Điều dưỡng có kinh nghiệm chăm sóc người thân quen mắc bệnh hiểm nghèo có kiến thức cao hơn điều dưỡng chưa có kinh nghiệm chăm sóc người thân quen mắc bệnh hiểm nghèo Điều dưỡng là nữ giới có sự tự tin trong thực hành
CSGN cao hơn nam giới Điều dưỡng có tỷ lệ % công việc liên quan đến chăm sóc
người hấp hối càng cao có sự tự tin trong thực hành CSGN càng cao Điều dưỡng
có tuổi càng cao thì kiến thức và sự tự tin càng cao Điều dưỡng có thâm niên công tác càng lớn có sự tự tin càng cao Có sự khác biệt trong sự tự tin của điều dưỡng các khoa trong nghiên cứu
Kết luận: Kiến thức, sự tự tin trong thực hành CSGN của điều dưỡng ở
Bệnh viện Kiến An còn thấp Kết quả nghiên cứu cho thấy cần thiết tiến hành tổ chức các lớp đào tạo liên tục, tập huấn về chăm sóc giảm nhẹ cho điều dưỡng
Từ khóa: Chăm sóc giảm nhẹ, điều dưỡng, kiến thức, sự tự tin.
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh
sự nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ
Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến cô giáo hướng dẫn đã hết lòng hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em hoàn thành luận văn
Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý thầy cô trong trường đại học Đại học Điều dưỡng Nam Định đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn
Em xin chân thảnh bày tỏ lòng biết ơn đến tập thể cán bộ viên chức Bệnh viện Kiến An đã không ngừng hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho em rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận vãn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh
Nam Định, ngày 12 tháng 12 năm 2018
Học viên
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan rằng, luận văn thạc sĩ “Thực trạng kiến thức và sự tự tin trong thực hành chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng Bệnh viện Kiến An - Hải Phòng năm 2018” là công trình nghiên cứu của riêng em
Những số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực và được chỉ rõ nguồn trích dẫn Kết quả nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào từ trước đến nay
Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam đoan này!
Nam Định, ngày 12 tháng 12 năm 2018
Học viên
Trang 6LỜI CẢM Ơ N ii
LỜI CAM ĐOAN iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT V DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC BIÊU ĐỒ, s ơ ĐỒ viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đại cương về chăm sóc giảm nhẹ 3
1.2 Một số bộ công cụ đánh giá kiến thức, sự tự tin trong thực hành chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng 13
1.3 Nghiên cứu trong và ngoài nước về chăm sóc giảm nhẹ 16
1.4 Khung lý thuyết của nghiên cứu 19
1.5 Giới thiệu Bệnh viện Kiến An - Hải Phòng 20
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 22
2.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22
2.3 Thiết kế nghiên cứ u 22
2.4 Mau và phương pháp chọn m ẫu 22
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 23
2.6 Các biến số nghiên cứu 24
2.7 Các khái niệm, thang đo, tiêu chuẩn và tiêu chí đánh g iá 26
2.8 Phương pháp phân tích số liệu 28
2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 28
2.10 Sai số và biện pháp khắc phục 28
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u 30
3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 30
3.2 Thực trạng kiến thức chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng 31
Trang 7điều dưỡng 46
Chương 4: BÀN LUẬN 50
4.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 50
4.2 Thực trạng kiến thức, sự tự tin trong thực hành chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng 52
4.3 Các yếu tố liên quan đến kiến thức và sự tự tin trong thực hành CSGN của điều dưỡng 58
4.4 Hạn chế của đề tài 62
KẾT LUẬN 63
1 Thực trạng mức độ kiến thức, sự tự tin trong thực hành chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng 63
2 Các yếu tố liên quan đến kiến thức và sự tự tin trong thực hành chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng 63
KHUYẾN NGHỊ 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phục lục 1: BẢN ĐỒNG THUẬN
Phụ lục 2: B ộ CÂU HỎI NGHIÊN c ứ u
Phụ lục 3: DANH SÁCH ĐỐI TƯỢNG THAM GIA NGHIÊN c ứ u
Phụ lục 4: DANH SÁCH ĐIỀU TRA VIÊN
Trang 8DANH MUC CHỮ VIẾT TẮT •
Nursing Self - Competence Scale
Bộ công cụ đánh giá kiến thức chăm sóc giảm nhẹcủa điều dưỡng - Palliative Care Quiz for Nurses
8 WHO Tổ chức Y tế Thế giới - World Health Organization
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Các biến số của đặc điểm đối tượng nghiên cứu 24
Bảng 2.2 Các biến số về kiến thức chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng 25
Bảng 2.3 Các biến số về sự tự tin trong thực hành CSGN của điều dưỡng 25
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của điều dưỡng 30
Bảng 3.2 Kiến thức chung về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng 31 Error! Bookmark not defined. Bảng 3.3 Kiến thức về quản lý đau trong CSGN của điều dưỡng 33
Bảng 3.4 Kiến thức về quản lý một số triệu chứng khác đau trong CSGN 34
Bảng 3.5 Kiến thức về việc hỗ trợ tâm lý, tâm linh trong CSGN 35
Bảng 3.6 Đánh giá chung sự tự tin của điều dưỡng ừong các nhóm thực hành chăm sóc giảm nhẹ Error! Bookmark not defined.36 Bảng 3.7 Sự tự tin của điều dưỡng trong thực hành quản lý đauError! Bookmark not defined. Bảng 3.8 Sự tự tin của điều dưỡng trong thực hành quản lý các triệu chứng khác đau trong CSGN 38
Bảng 3.9 Sự tự tin của điều dưỡng trong thực hành chăm sóc tâm lý và xã h ộ i 39
Bảng 3.10 Sự tự tin của điều dưỡng trong thực hành chăm sóc tinh thần và tâm linh .40
Bảng 3.11 Sự tự tin của điều dưỡng trong thực hành chăm sóc các vấn đề suy giảm chức năng trên người bệnh 41
Bảng 3.12 Sự tự tin của điều dưỡng thực hành chăm sóc các vấn đề 42
Bảng 3.13 Sự tự tin của điều dưỡng trong thực hành liên quan đến giao tiếp và chức họp tác chuyên nghiệp 43
Bảng 3.14 Sự tự tin của điều dưỡng trong thực hành các vấn đề cá nhân và chuyên nghiệp liên quan đến chăm sóc 44
Bảng 3.15 Sự tự tin của điều dưỡng trong thực hành chăm sóc cuối đ òi 45
Bảng 3.16 Một số yểu tố liên quan đến kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ 46
Trang 10Bảng 3.17 Mối tương quan giữa tuổi và thâm niên công tác với kiến thức CSGNcủa điều dưỡng 47Bảng 3.18 Một số yếu tố liên quan với sự tự tin trong thực hành CSGN 48Bảng 3.19 Mối tương quan giữa tuổi, thâm niên công tác, kiến thức về CSGN với
sự tự tin trong thực hành CSGN của điều dưỡng 49
Trang 12ĐẶT VẤN ĐÈ
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa: "Chăm sóc giảm nhẹ là các biện pháp chăm sóc nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh và gia đình người bệnh, những người đang đối mặt với những vấn đề liên quan tới sự ốm đau đe doạ đến tính mạng thông qua sự ngăn ngừa, làm giảm gánh nặng họ chịu đựng bằng cách nhận biết sớm, đánh giá toàn diện, điều trị đau, các vấn đề khác, thể lực, tâm lý
xã hội, tinh thần" [45]
Trên toàn cầu, chăm sóc giảm nhẹ là cần thiết trong 40-60% của tất cả các ca
tử vong và cần thiết cho một loạt các bệnh Các bệnh cần chăm sóc giảm nhẹ ở người lớn như: bệnh tim mạch (38.5%), ung thư (34%), bệnh hô hấp mạn tính (10.3%), AIDS (5.7%) và bệnh đái tháo đường (4.6%) Người bệnh có nhiều tình trạng khác có thể cần chăm sóc giảm nhẹ bao gồm: suy thận, bệnh gan mạn tính, viêm khớp dạng thấp, bệnh thần kinh, sa sút trí tuệ, dị tật bẩm sinh và lao phổi kháng thuốc Mỗi năm có khoảng 40 triệu người đang cần chăm sóc giảm nhẹ, 78% trong số đó sống ở các nước có thu nhập thấp và trung bình Trên toàn thế giới, chỉ
có khoảng 14% số người cần chăm sóc giảm nhẹ hiện đang nhận được chăm sóc giảm nhẹ [34],[37],[45]
Trên thế giới, chăm sóc giảm nhẹ đã phát triển kể từ cuối những năm 1960 Trong thập niên 1970, chăm sóc giảm nhẹ đề cập đến những hỗ trợ về thể chất, xã hội, tâm lý và tinh thần cho những người bệnh bị bệnh hiểm nghèo như ung thư Từ những năm 1980 đến nay những người tiên phong trong lĩnh vực chăm sóc giảm nhẹ đã xây dựng, phát triển các mô hình dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ dựa trên các mạng lưới hỗ trợ và cộng tác quốc tế [23]
Tại Việt Nam, nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ trong đó có chăm sóc giảm nhẹ cho người bệnh ngày càng tăng bởi mô hình bệnh tật thay đổi, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam ngày càng cao số người mắc bệnh ung thư, bệnh tim mạch, rối loạn chuyển hoá, các bệnh mạn tính khác tại Việt Nam ngày càng tăng đặc biệt ở người cao tuổi [13]
Trang 13Trên thế giới cũng như tại Việt Nam, kiến thứcvà sự tự tin trong thực hành chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng còn ở mức thấp Điều dưỡng còn có những quan niệm sai lầm về chăm sóc giảm nhẹ [9], [14], [16].
Với đặc thù là bệnh viên đa khoa tuyến thành phố nên số lượng người đến khám và điều trị tại BV Kiến An lên đến hàng chục nghìn người mỗi năm Trong số
đó số người người bệnh mắc bệnh nặng, bệnh mạn tính, bệnh ung thư đe dọa tính mạng rất lớn từ đó nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ trên các đối tượng này cũng tăng cao [1] Do vậy, để đáp ứng được yêu cầu chăm sóc sức khỏe toàn diện cho người bệnh
cả về mặt thể chất, tinh thần, xã hội thì việc phát triển chăm sóc giảm nhẹ tại bệnh viện là hết sức cấp bách và cần thiết trong giai đoạn hiện nay Trong các chương trình chăm sóc giảm nhẹ, ngoài vai trò của bác sỹ thì kiến thức, thực hành chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng đóng một vai trò rất quan trọng trong sự thành công của một chương trình chăm sóc giảm nhẹ Từ thực tế đó một số câu hỏi được đặt ra là liệu các điều dưỡng viên ở đây đã có đủ kiến thức cơ bản về chăm sóc giảm nhẹ hay chưa? Mức độ tự tin trong thực hành chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng ở đây như
thế nào? Đe trả lời các câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng kiến thức và sự tự tin trong thực hành chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng Bệnh viện Kiến An - Hải Phòng năm 2018” với hai mục tiêu như sau:
1 Mô tả thực trạng kiến thức và sự tự tin trong thực hành chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng tại Bệnh viện Kiến An - Hải Phòng năm 2018
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức và sự tự tin trong thực hành chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng tại Bệnh viện Kiến An - Hải Phòng năm 2018
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đại cương về chăm sóc giảm nhẹ
1.1.1 Khái niệm chăm sóc giảm nhẹ
Chăm sóc giảm nhẹ (CSGN) - Palliative care, theo định nghĩa của Tổ chức
Y tế Thế giới (WHO-2002) [45] : "Chăm sóc giảm nhẹ là các biện pháp chăm sóc nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh và gia đình người bệnh, những người đang đối mặt với những vấn đề liên quan tới sự ốm đau đe doạ đến tính mạng thông qua sự ngăn ngừa, làm giảm gánh nặng họ chịu đựng bằng cách nhận biết sớm, đánh giá toàn diện, điều trị đau, các vấn đề khác, thể lực, tâm lý xã hội, tinh thần"
Đối với những người mắc những bệnh hiểm nghèo cần phải áp dụng những nguyên tắc về chăm sóc giảm nhẹ ngay từ khi chẩn đoán bệnh cho đến cuối đời và
hỗ trợ người nhà sau khi người bệnh qua đời [45]
1.1.2 Lịch sử ra đời của chăm sóc giảm nhẹ
Tiền thân của chăm sóc giảm nhẹ là các phong trào chăm sóc cuối đời dành cho những người bệnh hấp hối Từ thời Trung cổ (thế kỷ 4) ở Châu Âu các nhà tu hành đã lập nên những “nhà tế bần” (hospice) dành cho khách hành hương Thế kỷ
16 -18, những người đứng đầu tôn giáo đã ban hành mệnh lệnh “chăm sóc cho các người bệnh ốm nặng (kể cả những người bệnh hấp hối) trong vùng”, nhò đó hầu hết những người bệnh chết ở nhà đều được chăm sóc bởi những người phụ nữ trong gia đình [23], [41]
Từ nửa sau thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 xuất hiện ngày càng nhiều trại tế bần
để chăm sóc cho những người nghèo và người sắp qua đời với mục đích từ thiện như: Nhà tế bần Our Lady’s Hospice ở Dublin- Alien Nhà từ thiện St Joseph's Hospice và trại tế ban St Luke's Hospice và Hospice of God được thành lập tại London (1905) để phục vụ những người nghèo hấp hối [23], [43]
Thế kỷ 19, một số khái niệm của tôn giáo về sự chăm sóc cuối đòi cho những người bệnh hấp hối, những khái niệm “chăm sóc cuối đời” (end of life care) đã
Trang 15được phát triển tương đối đầy đủ ở Vương quốc Anh sau sự ra đời của trại tế bần St Christopher năm 1967 do Dame Cicely Saunders thành lập để chăm sóc cho những người bệnh ung thư giai đoạn cuối Đây có thể được coi là người sáng lập của phong trào chăm sóc giảm nhẹ hiện đại [23], [43].
1.1.3 Đối tượng của chăm sóc giảm nhẹ
Tất cả người bệnh HIV/AIDS tiến triển hoặc ưng thư [2],[38]
Tất cả người bệnh mắc những bệnh đe doạ đến tính mạng khác [2],[38]
Bất kỳ người bệnh nào có thể qua đời trong vòng 6 tháng [2],[38]
Bất kỳ người bệnh nào phải chịu đựng sự đau đớn, bất kỳ triệu chứng thực thể khác, hoặc những vấn đề tâm lý xã hội mạn tính ở mức độ vừa đến nặng [2],[38]
1.1.4 Nguyên tắc chăm sóc giảm nhẹ
Dưới đây là những nguyên tắc quốc tế về CSGN, những nguyên tắc này là cơ sở cho các quốc gia xây dựng “Hướng dẫn chăm sóc giảm nhẹ” [45] bao gồm:
- Cung cấp dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ cho tất cả những người mắc bệnh đe doạ tính mạng (bệnh hiểm nghèo)
- Giúp cho người bệnh thoát khỏi cơn đau và các triệu chứng khó chịu khác
- Tăng cường tuân thủ điều trị và làm giảm các tác dụng phụ của thuốc
- Khẳng định chất lượng cuộc sống, coi cái chết là một quá trình tất yếu
- Không cố ý làm thúc đẩy hoặc trì hoãn cái chết của người bệnh (NB)
- Quan tâm và lồng ghép chăm sóc các vấn đề về tâm lý xã hội, tinh thần cho NB
- Cố gắng giúp người bệnh có một cuộc sống tích cực, độc lập một cách tối đa cho đến khi cuối đời, nâng cao tính tự chủ cũng như các kỹ năng và kiến thức tự chăm sóc của người bệnh và gia đình
- Hỗ trợ giúp gia đình người bệnh giải quyết với những khó khăn, kể cả khi người bệnh qua đời
- Lấy NB là trung tâm, làm việc theo nhóm chăm sóc đa thành phần
- Nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần tác động tích cực tới quá trình diễn biến của bệnh
Trang 16- Cung cấp cho người bệnh sớm được tiếp cận với các phưong pháp điều trị đặc hiệu khác (như hoá xạ trị liệu) nhằm kéo dài cuộc sống cho người bệnh Động viên, hỗ trợ tinh thần cho người bệnh giúp họ hiểu tốt horn về các diễn biến bệnh, các biến chứng và tác dụng phụ trong quá trình điều trị.
1.1.5 Tiếp cận chăm sóc giảm nhẹ ở một sổ nước trên thế giới
Uganda là một nước kém phát triển ở Châu Phi nhưng Bộ Y tế nước này đã coi chưong trình chăm sóc giảm nhẹ cho người nhiễm HIV và người bệnh ung thư như một ưu tiên trong kế hoạch chiến lược y tế Quốc gia giai đoạn 2001-2005 [25] Tháng 4 năm 2004, Bộ trưởng Bộ Y tế cho phép y tá chuyên về chăm sóc giảm nhẹ
và các bác sĩ lâm sàng được kê đơn Morphine cho người bệnh Sự tiếp cận này đã cải thiện chất lượng của chăm sóc giảm nhẹ một cách đáng kể và đáp ứng nhu cầu cho những người đang mắc căn bệnh đe doạ tính mạng mong muốn được chăm sóc tại nhà hoặc ở trung tâm chăm sóc cuối đời [27]
Bộ Y tế Canada đã đưa ra một chiến lược Quốc gia về chăm sóc giảm nhẹ và chăm sóc cuối đời thông qua ủ y ban Chăm sóc Giảm nhẹ và Chăm sóc Cuối đời được thành lập năm 2002 [29] Hiệp hội Chăm sóc Giảm nhẹ Canada đã xuất bản một cuốn sách “Mô hình cho Hướng dẫn Chăm sóc Giảm nhẹ Cuối đời dựa trên Nguyên tắc Quốc gia và Quy định ứng dụng trong thực tiễn” năm 2002 Hướng dẫn này đang được sử dụng và có ảnh hưởng tích cực tói việc thiết kế và thực hiện các chương trình chăm sóc giảm nhẹ Quốc gia [20], [29]
Tại Châu Ầu và Mỹ mô hình CSGN đã được phát triển từ rất sớm Hiện nay, đây là những quốc gia đi đầu trong CSGN và các quốc gia này đã đạt được những thành tựu nổi bật trong việc cung cấp dịch vụ CSGN cho toàn thể người dân [23].Tại Anh, năm 2005 dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ đã phát triển với hơn 1700 trung tâm chăm sóc giảm nhẹ bao gồm 220 đơn vị nội trú cho người lớn với 3156 giường, 33 đơn vị nội trú cho trẻ em với 255 giường, 358 dịch vụ chăm sóc tại nhà,
263 dịch vụ chăm sóc ban ngày, và 293 dịch vụ chăm sóc tại bệnh viện [45]
Trung tâm đầu tiên ở Châu Âu dành cho việc cải thiện CSGN và chăm sóc cuối đời được thành lập tại Trondheim, Na Uy vào năm 2009 Trung tâm được đặt
Trang 17tại bệnh viện St Olavs, bệnh viện Đại học Trondheim, có sự phối họp nỗ lực của các nhóm, các nhà nghiên cứu trên khắp châu Ầu từ Scotland, Anh, Ý, Đan Mạch, Đức, Thụy Sĩ và sự họp tác với Mỹ, Canada, ú c [36],[45].
Tại Mỹ, trong năm 2005 có 1,2 triệu cá nhân và gia đình được chăm sóc giảm nhẹ Các bệnh viện bắt đầu xây dựng các chưong trình chăm sóc giảm nhẹ vào cuối những năm 1980, từ đó phát triển mạnh mẽ và hiện nay đã thực hiện ở hơn 1200 bệnh viện trên khắp nước Mỹ Khoảng 55% số bệnh viện có hơn 100 giường bệnh đều có ít nhất một chương trình CSGN [35], [43] Theo một nghiên cứu năm 2010, các dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ có sẵn tại 120 bệnh viện, trung tâm điều trị ung thư
ở Hoa Kỳ đã cho kết quả như sau: 23% trung tâm có giường dành riêng cho CSGN; 37% cung cấp dịch vụ chăm sóc cuối đời nội trú; 75% được CSGN trước khi chết trung bình là 30 - 120 ngày; các chương trình nghiên cứu, học bổng, khóa học bắt buộc dành cho CSGN đối với bệnh ung thư còn chưa phổ biến [30]
Tại Châu Á, mô hình chăm sóc giảm nhẹ cũng đã được hiển khai tương đối tốt
ở các nước phát triển như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan [16], [42], [45]
Tại Đông Nam Á một số quốc gia đã triển khai tốt mô hình chăm sóc giảm nhẹ như Thái Lan, Singapore “Hướng dẫn Quốc gia về chăm sóc giảm đau và giảm nhẹ” đã được Thái Lan mới chỉnh lý, bổ sung và hiện nay đang được áp dụng trên
cả nước Singapore đã xây dựng một chương trình CSGN quốc gia một cách hoàn hảo bao gồm cả việc đào tạo cán bộ chuyên môn, đảm bảo tốt việc tiếp cận thuốc chăm sóc giảm nhẹ, có cả Morphine Việt Nam cùng một số nước khác đang trong quá trình phát triển mô hình CSGN là: Myanmar, Indonesia, Ấn Độ [45], [46]
1.1.6 Thực trạng và nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ tại Việt Nam
1.1.6.1 Thưc trang công tác chăm sóc giảm nhe tai Vỉêt Nam
Chăm sóc giảm nhẹ ở Việt Nam được quan tâm và phát triển từ năm 2005 Vụ Điều trị - Bộ Y tế đã phối hợp với các tổ chức quốc tế tiến hành một phân tích đánh giá nhanh (Rapid Situational Analysis - RSA) tại 5 tỉnh/thành phố có tỷ lệ nhiễm HIV và mắc bệnh ung thư cao nhất trong cả nước là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, An Giang Kết quả điều tra đánh giá nhanh cho thấy
Trang 18triệu chứng đau là biểu hiện thường gặp ở người nhiễm HIV (72.7%) và người bệnh ung thư (79.5%), đặc biệt là trên những người bệnh ở giai đoạn cuối Tuy nhiên các biện pháp xử trí đau còn rất hạn chế, nhân viên y tế ít có cơ hội tiếp cận với các thuốc cần thiết dùng trong chăm sóc giảm nhẹ để xử trí đau và các triệu chứng khác Nhân viên y tế chưa biết cách đánh giá đau và điều trị theo bậc thang đau của Tổ chức Y tế Thế giới Kết quả đánh giá còn cho thấy rằng sự đau đớn về tinh thần rất hay gặp ở người bệnh ung thư và người có HIV Vì thế tu vấn, hỗ trợ về mặt tinh thần là rất cần thiết và nên được phát triển cũng như mở rộng các dịch vụ này ở những trung tâm điều ưị cho người bệnh ung thư và người có HIV [4],[10].
Ngày 19/5/2006, Bộ Y tế ban hành Quyết định 3483/BYT về việc "Hướng dẫn chăm sóc giảm nhẹ đối với người bệnh ung thư và AIDS" Đây là cơ sở pháp lý và
là tài liệu tham khảo mang tính thực tiễn để các nhà lâm sàng trên toàn quốc triển khai các hoạt động chăm sóc và điều trị cho bệnh nhân HIV/AIDS, bệnh nhân ung thư và mắc các bệnh hiểm nghèo đe dọa tính mạng [3] Trong đó, Bộ Y tế đã xây dựng các hướng dẫn về: kiểm soát đau; xử trí các triệu chứng như buồn nôn, nôn, tiêu chảy, táo bón, đau miệng và nuốt đau, khó thở, ho, yếu, mệt mỏi, sốt, mất ngủ, trầm cảm, lo âu, ngứa, loét do nằm lâu; chăm sóc tâm lý xã hội cho người bệnh và người chăm sóc
Từ năm 2007 đến nay, Bộ Y tế đang hoàn thành xây dựng chính sách Quốc gia
về Opioids Các thuốc nhóm Opioids có thể cắt hẳn hoặc làm giảm các cơn đau vừa
và đau nặng Đây là một loại thuốc không đắt tiền, ít tác dụng phụ và nếu tuân thủ theo chỉ định của bác sỹ điều trị thì không gây nghiện ở hầu hết các người bệnh Hướng dẫn quốc gia về sử dụng và quản lý Opioids trong điều trị đau ra đời sẽ giúp cán bộ y tế sử dụng các thuốc này tốt hơn ở tất cả các tuyến [10]
Đen ngày 29/2/2016, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành thông tư 05/2016/TT- BYT: “Quy định về kê đơn thuốc điều trị ngoại trú”, thay thể cho Quyết định số 04/2008/QĐ-BYT Điều 8 trong quy chế này nói rõ về quy định kê đơn thuốc Opioids giảm đau cho người bệnh ung thư và người bệnh AIDS Theo đó, thời gian
Trang 19mỗi lần chỉ định thuốc Opioids không vượt quá 1 tháng nhưng cùng lúc phải ghi 3 đơn cho 3 đợt điều trị, mỗi đợt điều trị kê đơn không vượt quá 10 ngày [7].
Các lớp đào tạo tại chức và cáp chứng chỉ được tiến hành từng bước, trước tiên với nhân viên y tế chăm sóc cho người nhiễm HIV và người bệnh ung thư, sau
đó mở rộng tới nhân viên y tế khác [11]
1,1,6,2, N hu cầu chăm sóc giảm nhẹ tại Việt Nam
Tại Việt Nam, số người mới mắc ung thư năm 2012 là hơn 125000 và ước tính gần 190000 vào năm 2020 Việc phát hiện và điều trị ung thư thường được thực hiện ở giai đoạn muộn làm cho chỉ phí điều trị gia tăng và khả năng kéo dài sự sống cũng như cải thiện chất lượng cuộc sổng bị hạn chế [13] số người mắc ung thư tăng cũng dẫn đến nhu cầu CSGN tầng, đặc biệt là chăm sóc giảm đau, giảm các tác dụng phụ của thuốc điều trị ung thư như nôn, buồn nôn sẽ tăng
Kết quả phân tích đánh giá nhanh (Rapid Situational Analysis - RSA) tại 5 tỉnh/thành phố có tỷ lệ nhiễm HIV và mắc bệnh ung thư cao nhất trong cả nước là
Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, TP Hồ Chí Minh, An Giang của Vụ Điều trị - Bộ
Y tế phối hợp với các tổ chức quốc tế cho thấy nhu càu của người bệnh ung thư và người nhiễm HIV như sau:
Thuốc giảm đau
Trang 20Gánh nặng do bệnh không lây nhiễm đã tăng từ 45,5% năm 1990 lên 58,7% năm 2000; 60,1% năm 2010 và 66,2% năm 2012 Gánh nặng của các bệnh không lây nhiễm gây ra bởi bón nhóm bệnh chính là bệnh tim mạch, ung thư, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và đái tháo đường [44], Tỷ lệ dân số cao tuổi càng lớn, gánh nặng bệnh tật và tử vong, nhất là với các bệnh không lây nhiễm ngày càng lớn Điều này đặt ra những gánh nặng đối với gia đình, xã hội và hệ thống y tế trong việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ chất lượng cao [13].
1.1.7 Vai trò của điều dưỡng trong chăm sóc giảm nhẹ
Tại Việt Nam chưa có văn bản hay quy định nào cụ thể về vai trò của người điều dưỡng trong công tác CSGN Nhưng trên giới đã có khá nhiều y văn khẳng định vai trò này của người điều dưỡng và theo Brown M.A thì vai trò của người điều dưỡng trong CSGN được thể hiện ở các khía cạnh [21]:
- Điều dưỡng là một phần của nhóm chăm sóc giảm nhẹ bao gồm bác sỹ, nhân viên chăm sóc sức khỏe khác và người bệnh, gia đình
- Điều dưỡng hiểu rõ về quá trình tiến triển bệnh ở người bệnh mắc phải các bệnh ung thư, bệnh mạn tính hoặc các bệnh đe dọa tính mạng
- Người điều dưỡng có hiểu biết tốt về các vấn đề sức khỏe thực thể, tâm lý, tâm linh và xã hội của người bệnh và gia đình khi phải đối mặt với các bệnh hiểm nghèo
- Có khả năng xây dựng kế hoạch chăm sóc điều dưỡng hiệu quả và năng động với sự hỗ trợ của bác sỹ nhằm đảm bảo cho các kết quả lâm sàng tốt ở người bệnh
- Giao tiếp tốt với NB, gia đình để họ hiểu rõ về bệnh của mình và biết cách tiếp cận dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ ngay tại bệnh viện hay tại cộng đồng
- Đảm bảo việc đánh giá các nhu cầu của người bệnh, gia đình đồng thời cung cấp các dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ đáp ứng được các nhu cầu cơ bản của họ
- Cung cấp hoặc tạo điều kiện cho chăm sóc điều dưỡng tốt nhất tại tất cả các
cơ sở bao gồm: điều trị tại bệnh viện và cộng đồng
1.1.8 Các nội dung chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng
Đối với các người bệnh cần CSGN thì các vấn đề chính mà họ gặp phải và cần đến sự chăm sóc nhằm giảm nhẹ tác động của các vấn đề đó thường là: tình trạng
Trang 21đau, khó thở, buồn nôn/nôn, tiêu chảy, táo bón, đau miệng, nuốt đau ngứa da, loét
do tỳ đè, tình trạng chán ăn, mê sảng, mất ngủ hay các vấn đề tâm lý như lo lắng, tâm trạng buồn chán cũng như các vấn đề xã hội, tâm linh Chính vì vậy đây cũng là những nội dung chính mà nhân viên CSGN nói chung và điều dưỡng tham gia CSGN nói riêng cần thực hiện để hỗ trợ người bệnh [2], [5], [8]
1.8.1.1 Chăm sóc giảm đau và một số triệu chứng thường gặp khác
a Chăm sóc giảm đau
* Xử trí đau ở người lớn và trẻ em: Sau khi đã đánh giá được đầy đủ các khía
cạnh của đau, nhân viên y tế chăm sóc giảm nhẹ sẽ tiến hành xử trí đau cho người bệnh [2],[11]:
- Các biện pháp giảm đau, liều lượng thuốc sử dụng tùy thuộc vào từng NB Các công cụ để đánh giá mức độ đau: thang điểm cường độ đau (THE PAIN SCALE); thang đo đánh giá theo “Nét mặt Wong - Baker”
- Điều trị đau bằng thuốc: Sử dụng Thang giảm đau ba bậc của Tổ chức Y tế Thế giới
- Các biện pháp giảm đau không dùng thuốc: giáo dục sức khỏe, thư giãn, xoa bóp, chườm ấm
b Chăm sóc giảm nhẹ khó thở
- Đánh giá và kiểm soát đường thở của người bệnh [6]
- Thực hiện các y lệnh điều trị nguyên nhân: dùng thuốc (kháng sinh, Opioids, lợi tiểu, thuốc giãn phế quản, thuốc trợ tim); thông khí nhân tạo [6]
- Sử dụng oxy trong khó thở [6]
- Can thiệp không dùng thuốc: mở cửa sổ, giảm nhiệt độ phòng (nếu có thể), hạn chế số lượng người trong phòng, loại trừ những kích thích từ môi trường như khói thuốc lá, tìm tư thế dễ chịu nhất cho NB, giảm bớt sự lo lắng của NB [6]
c Chăm sóc giảm nhẹ buồn nôn/nôn
- Thực hiện các y lệnh điều trị nguyên nhân gây ra nôn và buồn nôn [2],[10]
- Thực hiện y lệnh các thuốc hỗ trợ cho buồn nôn và nôn [2],[10]
Trang 22- Hướng dẫn người bệnh ăn thức ăn mềm, giàu năng lượng và chia thảnh nhiều bữa nhỏ; khuyến khích người bệnh dùng Oresol hoặc uống nước cháo hoặc những
đồ uống mà người bệnh thích Nếu người bệnh mói nôn chờ 1 - 2 giờ sau mới ăn tiếp Nếu thuốc có tác dụng buồn nôn, người bệnh chờ sau uống thuốc vài tiếng mới
ăn [2],[10]
d Chăm sóc giảm nhẹ người bệnh táo bón
- Thiết lập thói quen đi ngoài/đi tiêu bình thường cho mỗi người bệnh cụ thể
- Ngưng sử dụng các thuốc điều trị táo bón không cần thiết
- Thực hiện y lệnh điều trị bất kỳ các tình trạng tiềm tàng nào mà có thể điều trị được nếu phù hợp với tình trạng, chẩn đoán và mục đích chăm sóc của NB
- Tăng cường vận động nếu phù họp và có thể Tăng chế độ ăn nhiều chất xơ nếu phù họp và có thể
e Chăm sóc giảm nhẹ người bệnh tiêu chảy
- Thực hiện y lệnh thuốc điều trị tiêu chảy [2],[10]
- Động viên, cho người bệnh uống bù nước bằng: Oresol, nước cháo và ăn thức ăn mềm, giàu năng lượng, chia thành nhiều bữa nhỏ Tránh những đồ uống có thể làm cho tiêu chảy nặng lên (rượu và cà phê) [2],[10]
- Vệ sinh thường xuyên cho NB, giữ cho bộ phận sinh dục và hậu môn sạch sẽ Hướng dẫn người bệnh/ người nhà vệ sinh tay [2],[10]
f Chăm sóc giảm nhẹ chán ăn/suy mòn
- Thực hiện y lệnh điều trị các nguyên nhân bệnh dẫn đến chán ăn/suy mòn [2],[10],
- Tăng cường chế độ ăn giàu dinh dưỡng cho người bệnh Khuyến khích người bệnh: ăn những thức ăn yêu thích; kích thích ngon miệng bằng thuốc theo chỉ định; dinh dưỡng nhân tạo qua ống thông miệng-dạ dày hoặc ống dẫn lưu dạ dày, dinh dưỡng ngoài đường tiêu hóa (nếu cần) [2],[10],[45]
g Chăm sóc giảm nhẹ mệt mỏi
Thực hiện y lệnh điều trị các nguyên nhân gây ra mệt mỏi phù họp với NB Thực hiện các y lệnh điều trị triệu chứng bằng thuốc Động viên người bệnh ăn;
Trang 23cho người bệnh ăn thức ăn ưa thích, giàu năng lượng, chia thành nhiều bữa nhỏ [2],[10],[45],
h Chăm sóc giảm nhẹ mất ngủ cho người bệnh
- Tìm lý do khiến người bệnh mất ngủ; chia sẻ và động viên người bệnh
ỉ Nội dung chăm sóc giảm nhẹ đau miệng và nuốt đau
- Dùng thuốc cho người bệnh [2],[10]
- Chế độ ăn của người bệnh: cho người bệnh ăn thức ăn mềm, mịn; tránh đồ cay, nóng; dùng ống hút nước và thức ăn để đỡ gây đau cho người bệnh [2],[10]
- Vệ sinh răng miệng: Làm sạch thức ăn ở kẽ răng, trong miệng sau mỗi lần ăn bằng tăm bông, gạc Đánh răng bằng bàn chải mềm [2],[10]
j Chăm sóc giảm nhẹ trầm cảm cho người bệnh
Thực hiện y lệnh thuốc giảm đau, khó thở và các triệu chứng khác, thuốc điều trị trầm cảm Thực hiện liệu pháp tâm lý [2],[10]
k Chăm sóc giảm nhẹ ngứa cho người bệnh
Cắt ngắn móng tay của NB để hạn chế sự trầy xước da và nguy cơ của nhiễm trùng da Thực hiện y lệnh điều trị tình trạng nhiễm trùng da và điều trị các nguyên nhân của ngứa Hướng dẫn người bệnh tránh sử dụng các loại xà phòng, sản phẩm chăm sóc da hoặc những chất khác mà có thể gây phản ứng dị ứng [2],[10]
l Chăm sóc giảm nhẹ loét áp lực tỳ đè do nằm lâu
Cho NB nằm đệm: đệm nước, đệm hơi; đệm gót chân hoặc nâng gót chân lên khỏi giường Thay đổi tư thế cho NB thường xuyên; tránh tổn thương da do trượt; giữ vệ sinh da Thực hiện thuốc; thay băng, rửa vết thương Tăng cường dinh dưỡng cho người bệnh [2],[10]
Trang 241.1.8.2 Chăm sóc tâm lý xã hội, tâm lỉnh
- Nội dung của đánh giá hỗ trợ tâm lý - xã hội [2],[10],[12]
+ Đánh giá về tình trạng cảm xúc bao gồm: những cảm nghĩ về bệnh tật của
người bệnh, những hy vọng về tương lai của người bệnh, những nỗi sợ hãi của NB
+ Đánh giá về tình trạng xã hội bao gồm: những nhu cầu trong gia đình của
NB, tình trạng tài chính của NB, sự hỗ trợ, những người chăm sóc, cộng đồng
+ Đánh giá về các vấn đề tinh thần: vấn đề tôn giáo, sự khủng hoảng tinh thần
+ Kế hoạch chuẩn bị trước cho cái chết bao gồm: viết di chúc, hoà giải với
những thành viên xa lánh trong gia đình, nói lời từ biệt
- Các nội dung tư vẩn và hỗ trợ tâm lỷ - xã hội mà người điều dưỡng cần thực
hiện [2],[10] ,[12]:
+ Tư vấn tiết lộ tình trạng bệnh tật cho người bệnh và người nhà
+ Tư vấn phương pháp điều trị, chăm sóc, dinh dưỡng
+ Tư vấn về các mối quan hệ xã hội: Việc làm, chế độ bảo hiểm
+ Tư vấn chuyển tuyến đến các cơ sở hỗ trợ điều trị, chăm sóc phù hợp
+ Hỗ trợ lập kế hoạch cho tương lai như: viết di chúc, phân chia tài sản
1.2 Môt sổ bô công cu đánh giá kiến thức, sư tư tin trong thưc hành chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng
1.2.1 Công cụ đánh giá kiến thức chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng
Theo như các tài liệu, bài báo khoa học nhóm nghiên cứu tìm hiểu trong quá
trình tổng quan tài liệu cho nghiên cứu này thì đã có một số bộ công cụ được các
nghiên cứu viên sử dụng để đánh giá kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ của điều
dưỡng Nhưng nổi bật lên đó là bộ công cụ PCQN (Palliative Care Quiz for Nurses)
[18], [33], [47],
Bộ công cụ PCQN được Margaret M Ross và cộng sự xây dựng, phát hiển từ
năm 1996 Tác giả đã dựa trên các kết quả nghiên cứu trước đó cũng như tham vấn
các chuyên gia về CSGN từ đó khẳng định rằng: việc cung cấp các CSGN của điều
dưỡng đòi hỏi kiến thức về triết lý, các khái niệm cơ bản về CSGN; quản lý đau
cũng như các triệu chứng khác; cần đánh giá kiến thức về cung cấp hỗ trợ tâm lý xã
Trang 25hội, chăm sóc tinh thần cho các cá nhân bị bệnh/gia đình, người thân quen của họ
Bộ công cụ PCQN gồm 20 mục, với mỗi mục điều dưỡng được đánh giá sẽ trả lời là đúng, sai hoặc không biết So với đáp án, mỗi câu trả lời đúng sẽ được tính 1 điểm, sai không bị trừ điểm Như vậy tổng điểm cuối cùng sẽ dao động từ 0 đến 20 điểm Điểm càng cao chứng tỏ kiến thức về CSGN càng tốt và ngược lại Bộ công cụ có
độ nhất quán nội bộ 0,78 theo báo cáo của tác giả Bộ công cụ khuyến cáo sử dụng được trên các đối tượng: Sinh viên điều dưỡng, điều dưỡng nói chung [22],
Bộ công cụ PCQN đã được rất nhiều tác giả trên thế giới sử dụng để đánh giá kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng như: nghiên cứu trên 198 sinh viên điều dưỡng của Đại học Arab American năm 2015 của Mrs LuNBa Harazneh và cộng sự [26]; nghiên cứu của Mohammad Al Qadire và cộng sự trên 190 điều dưỡng tại 5 bệnh viện chính phủ của Jordan năm 2014 [17]
Ngoài ra một số tác giả khác ở trên thế giói có sử dụng các bộ công cụ rút gọn của bộ công cụ PCQN để phù họp với đối tượng và địa bàn nghiên cứu như: nghiên cứu của Hiwot Kassa và cộng sự đã sử dụng bộ công cụ rút gọn của PCQN gồm 12 nội dung để đánh giá kiến thức CSGN của 341 điều dưỡng lâm sàng tại Ethiopia năm 2014 [32]
Tại Việt Nam, theo sự hiểu biết của nhóm nghiên cứu hiện chưa có bộ công cụ PCQN phiên bản tiếng Việt của tác giả Các nghiên cứu về kiến thức chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng tại Việt Nam trước đây chưa có nhiều Có một số nghiên cứu trước đây như: nghiên cứu “ Đánh giá kiến thức và nhu cầu đào tạo về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng bệnh viện Bạch Mai năm 2015” của Bùi Minh Thu và cộng sự [9] Trong nghiên cứu này tác giả đã sử dụng bộ công cụ tự thiết kế dựa trên ý tưởng từ bộ công cụ trong “Đánh giá nhanh thực trạng nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ tại 5 tỉnh của Bộ Y tế” năm 2006 Bộ công cụ này gồm 8 câu hỏi dạng trắc nghiệm để đánh giá kiến thức của điều dưỡng bệnh viện Bạch Mai về CSGN
Tác giả Nguyễn Thúy Ly và cộng sự trong nghiên cứu “Kiến thức, thái độ và
sự tự tin trong thực hành chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng” trên đối tượng điều dưỡng tại một số bệnh viện chuyên khoa Ung bướu tại Hà Nội năm 2013 đã sử
Trang 26dụng bộ công cụ đánh giá kiến thức chăm sóc giảm nhẹ gồm 34 câu hỏi Trong đó
17 câu hỏi chọn lọc trong 20 câu của bộ công cụ PCQN và 17 mục mới được tác giả phát triển dựa trên tổng quan tài liệu liên quan đến nhu cầu của người bệnh và điều dưỡng chăm sóc giảm nhẹ Bộ công cụ đã được xin ý kiến chuyên gia và có độ nhất quán nội bộ ở mức cao (Cronbach's alpha = 0,718) [14] Trong quá trình tổng quan tài liệu và tham vấn tác giả của bộ công cụ này, chúng tôi đánh giá quá trình xây dựng bộ công cụ rất chắc chắn, có tính khoa học cao Đó cũng là lý do chứng tôi quyết định sử dụng bộ công cụ này làm nền tảng cho đánh giá kiến thức của điều dưỡng trong nghiên cứu này của mình
1.2.2 Công cụ đánh giá sự tự tin trong thực hành chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng
Khái niệm về sự tự tin được mô tả đầu tiên bởi Bandura Theo Bandura, sự tự tin được định nghĩa là sự nhận định của con người về khả năng tổ chức và thực hiện các hành động cần thiết để hoàn thành được một nhiệm vụ cụ thể Sự tự tin là thước
đo khách quan của hoạt động, trong khi nhận thức về sự tự tin là sự đánh giá của cá nhân về khả năng của họ để thực hiện hành vi [15]
Khi đánh giá về thực hành chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng, rất nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng bộ công cụ đánh giá sự tự tin trong thực hành chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng (Palliative Care Nursing Sefl - Competence Scale) viết tắt là PCNSC [28],
Bộ công cụ này được Desbiens, J F và Fillion L phát hiển dựa trên học thuyết chăm sóc của Orem, công bố năm 2011 gồm 50 mục thuộc 10 nhóm yếu tố Các mục sẽ được đánh giá theo sự tự tin của người được hỏi ở các mức khác nhau
đó là không tự tin, tự tin ở mức trung bình và rất tự tin [24],
Trong nghiên cứu của mình Nguyễn Thúy Ly và cộng sự đã dịch bộ công cụ PCNSC và rút gọn còn 34 mục thuộc 10 nhóm vấn đề thực hành Người được điều tra sẽ đánh giá sự tự tin ở mỗi tiểu mục theo mức độ từ hoàn toàn không tự tin là 0 điểm đến hoàn toàn tự tin là 6 điểm Tổng điểm sẽ giao động từ 0 đến 204 điểm
Trang 27[14] Trong nghiên cứu này chúng tôi cũng sẽ sử dụng bộ công cụ đánh giá sự tự tin trong thực hành chăm sóc giảm nhẹ của Nguyễn Thúy Ly.
1.3 Nghiên cứu trong và ngoài nước về chăm sóc giảm nhẹ
1.3.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài về chăm sóc giảm nhẹ
Năm 2012, Hiwot Kassa và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành CSGN của điều dưỡng làm việc tại bệnh viện (bệnh viện công và bệnh viện tư nhân) Kết quả nghiên cứu cho thấy trong số 341 điều dưỡng tham gia thì có 104 người (30,5%) có kiến thức tốt, 259 người (76%) có thái độ tốt với CSGN Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những điều dưỡng ngoại khoa đã từng được đào tạo về CSGN có kiến thức tốt hom Trình độ học vấn, nơi làm việc và được đào tạo chăm sóc giảm nhẹ cũng liên quan đáng kể với thái độ CSGN của điều dưỡng Điều dưỡng ở bệnh viện tư (Hayat) có thái độ về chăm sóc giảm nhẹ kém hơn so với điều dưỡng làm ở bệnh viện công (Black Lion) v ề khía cạnh thực hành,
đa số người được hỏi (76,2%) được đánh giá thực hiện kém và gần một nửa những người được hỏi báo cáo rằng CSGN của người bệnh thường chỉ được thực hiện ở giai đoạn cuối Nghiên cứu kết luận: điều dưỡng có kiến thức và kiến thức về thực hành CSGN kém nhưng thái độ với chăm sóc giảm nhẹ lại ở mức cao Nghiên cứu cũng khuyến nghị nên đưa CSGN thành chương trình quốc gia cũng như đưa vào chương trình đào tạo quốc gia [32]
Năm 2013, nghiên cứu của Shelly H Autor và cộng sự tiến hành trên 251 điều dưỡng tại 3 đơn vị ung bướu (256 điều dưỡng), chăm sóc tích cực (96 điều dưỡng)
và tim mạch (96 điều dưỡng) tại các bệnh viện ở Miền Trung Tây của Hoa Kỳ Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ PCQN để đánh giá kiến thức CSGN của các điều dưỡng Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ phần trăm trung bình trả lời đúng về kiến thức là 67,6% Tỷ lệ này cho thấy kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng
ở mức vừa phải nhưng vẫn chưa đầy đủ về chăm sóc giảm nhẹ [40]
Năm 2013, Amy Pope và cộng sự đã tiến hành đánh giá kiến thức về CSGN của sinh viên điều dưỡng tại đại học Kenesaw State - Đông Nam Hoa Kỳ Ket quả nghiên cứu cũng cho thấy điểm trung bình của sinh viên điều dưỡng sơ cấp và cao
Trang 28cấp lần lượt là (11,7/20 và 12,93/20) Mặc dù sự chênh lệch điểm số này không lớn nhưng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Nội dung có tỷ lệ trả lời đúng thấp nhất là xác định cơn đau mạn tính và cấp tính, nội dung có tỷ lệ trả lời đúng cao nhất là hiểu rằng chăm sóc giảm nhẹ là một điều trị tích cực Kết luận cuối cùng
là sinh viên điều dưỡng sơ cấp và cao cấp ở đây thiếu thông tin đầy đủ về chăm sóc giảm nhẹ và không đáp ứng được kỳ vọng để trở thảnh một điều dưỡng chung [39].Tại Jordan, năm 2013 Mohammad AI Qadire đã tiến hành nghiên cứu đánh giá kiến thức CSGN của 190 điều dưỡng tại 5 bệnh viện công Kết quả nghiên cứu cho thấy: hầu hết ĐD tham gia là nam giới (54%) và dưới 30 tuổi (59%) Tỷ lệ làm tại các đơn vị ngoại khoa (32%); nội khoa (28%), đơn vị chăm sóc đặc biệt (22%) Tổng số điểm trung bình về kiến thức CSGN theo thang đo PCQN ở mức thấp 8,3 ± 2,8 điểm trên tổng số so với điểm tối đa là 15 điểm Nghiên cứu kết luận rằng các
ĐD không đủ kiến thức và có những quan điểm sai lầm về CSGN và cần thiết phải tiến hành đào tạo về những nguyên tắc cơ bản của CSGN cho ĐD ở đây [17]
Kết quả nghiên cứu về kiến thức CSGN trên 198 sinh viên điều dưỡng tại Đại học Arab American năm 2015 của Mrs LuNBa Harazneh và cộng sự bằng bộ công
cụ PCQN cho thấy: tỷ lệ phần trăm điểm về kiến thức trên thang đo PCQN là 40,58% (SD=13,89) Kết quả này cho thấy kiến thức về CSGN của sinh viên ở đây còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu Kết quả cũng cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thông kê ở mức p < 0.05 giữa kiến thức CSGN với giới tính, trình độ học vấn, kinh nghiệm cá nhân về chăm sóc giảm nhẹ Tuy nhiên nghiên cứu cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p < 0,01) giữa tuổi và kiến thức CSGN của sinh viên điều dưỡng ở đây (tuổi càng cao kiến thức càng tốt) [26]
Nghiên cứu của Mr.Ahmà Ayed và cộng sự tiến hành đánh giá kiến thức về CSGN của 96 điều dưỡng tại bệnh viện phía Bắc Palestive từ tháng 11 năm 2014 đến tháng 1 năm năm 2015 Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ đánh giá kiến thức, thái
độ của điều dưỡng về CSGN được xây dựng bởi nhà nghiên cứu và các chuyên gia Kết quả nghiên cứu cho thấy về đặc điểm đối tượng nghiên cứu: chủ yếu là dưới 30 tuổi (74%); điều dưỡng chủ yếu là nam giới (68,8%); 59,4% điều dưỡng được đào
Trang 29tạo về chăm sóc giảm nhẹ Tỷ lệ kiến thức tốt, trung bình và kém về CSGN lần lượt
là 20,8%; 33,3% và 45,8% v ề thái độ tỷ lệ có thái độ tốt, trung bình và kém về chăm sóc giảm nhẹ lần lượt là 6,2%; 56,2% và 37,7% Có sự khác biệt đáng kể giữa bằng cấp, kinh nghiệm làm việc và đào tạo CSGN của điều dưỡng với kiến thức chăm sóc giảm nhẹ Nghiên cứu đưa ra khuyến nghị chính sách y tế của chính phủ cần chú ý hơn đến CSGN cũng như cần đưa chăm sóc giảm nhẹ vào chương trình đào tạo điều dưỡng [19]
Nghiên cứu năm 2015 của Elena Chover-Sierra và cộng sự tiến hành trên 159 điều dưỡng thực hành chuyên nghiệp có tuổi trung bình 39,51 ± 10 với kinh nghiệm làm thực hành chuyên nghiệp 13,96 ±10,79 năm tại một số bệnh viện tại Tây Ban Nha Đối tượng nghiên cứu được chia làm hai nhóm: Nhóm điều dưỡng chuyên ngành CSGN (54,7%) và nhóm điều dưỡng chung (64,2%) Nghiên cứu nhằm mục đính đánh giá bộ công cụ PCQN phiên bản tiếng Tây Ban Nha Kết quả nghiên cứu cho thấy PCQN phiên bản tiếng Tây Ban Nhà là công cụ hữu ích để đánh giá kiến thức CSGN ở nước này Ngoài tra kết quả cũng cho thấy kiến thức của nhóm nghiên cứu ở mức 54% trả lời đúng các câu hỏi trong bộ câu hỏi Và có sự khác nhau về kinh nghiệm, bằng cấp của điều dưỡng với kiến thức CSGN [22]
1.3.2 Các nghiên cứu trong nước về chăm sóc giảm nhẹ
Trong quá trình tổng họp tài liệu cho nghiên cứu này chúng tôi khá khó khăn trong việc tìm các nghiên cứu về kiến thức, thực hành của điều dưỡng về chăm sóc giảm nhẹ trước đây Cũng có một số nghiên cứu về chăm sóc giảm nhẹ nhưng thường là đánh giá nhu cầu CSGN của người bệnh là chính Có một số nghiên cứu
về kiến thức, thực hành CSGN của điều dưỡng đã được tiến hành như:
Nghiên cứu đánh giá kiến thức, nhu cầu đào tạo về CSGN trên 247 điều dưỡng bệnh viện Bạch Mai từ tháng 9 năm 2014 đến tháng 9 năm 2015 của Bùi Minh Thu
và cộng sự Kết quả nghiên cứu cho thấy chủ yếu điều dưỡng là nữ (89,1%), tuổi trung bình là 33 tuổi Có tới 61,5% điều dưỡng trình độ trung cấp và 64% điều dưỡng đã được đào tạo về CSGN Điểm trung bình kiến thức CSGN của điều dưỡng trong nghiên cứu này là 4,29 ± 1,46 và có tới 56,3% điều dưỡng đạt điểm kiến thức
Trang 30ở mức dưới trung bình 100% điều dưỡng tham gia nghiên cứu có nhu cầu đào tạo CSGN trong đó 60% ở mức rất cần [9].
Năm 2013, Nguyễn Thúy Ly và cộng sự tiến hành nghiên cứu đánh giá kiến thức thái độ và thực hành trên 251 điều dưỡng tại 03 bệnh viện ung bướu tại Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấy: Đặc điểm đối tượng nghiên cứu, tỷ lệ điều dưỡng nam giới tham gia nghiên cứu là 8,4%; đa phần là điều dưỡng trung cấp 60,8%; khoảng 64,5% điều dưỡng đã được đào tạo về CSGN; tuổi trung bình là 30,97 ± 7,09 Điểm kiến thức chung (điểm từ 0 - 34) là 19,8 ± 3,38 trong đó: điểm kiến thức
về CSGN nói chung (0 - 6) là 3,84 ± 1,03; điểm kiến thức về quản lý đau và các triệu chứng khác (0- 21) là 11,13 ± 2,7; điểm kiến thức về chăm sóc tâm lý và tâm linh (0 - 7) là 4,82 ± 1,21 Điểm về tự đánh giá sự tự tin trong thực hành theo thang PCSNC (34 - 204) là 126,81 ±33,11 Điểm trung bình của các nhóm thực hành cụ thể lần lượt là: quản lý đau ( 3 -1 8 ) là 10,56 ±3,18 điểm; quản lý các triệu chứng khác (4 - 24) là 15,6 ±4,1 điểm; chăm sóc tâm lý (3 - 18) 11,8 ± 3,34 điểm; chăm sóc xã hội (2 - 12) 4,1 ± 1,45 điểm; chăm sóc tinh thần (4 - 24) 13,6 ± 4,3 điểm; chăm sóc chức năng (3 - 18) 11,12 ± 3,4 điểm; vấn đề đạo đức và pháp lý (4 - 14) 14,6 ± 4,48 điểm; cộng tác và giao tiếp giữa các chuyên gia (3 - 18) 11,7 ± 3,9 điểm; các vấn đề cá nhân và nghề nghiệp liên quan đến chăm sóc điều dưỡng (4 - 24) 14,8 ± 4,36 điểm và chăm sóc cuối đời (4 - 24) 16,15 ± 4 điểm Nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố liên quan đến kiến thức CSGN của điều dưỡng viên đó là: trình độ chuyên môn (nhóm đại học cao hơn trung cấp và cao đẳng), nơi công tác Các yếu tố liên quan đến sự tự tin trong thực hành CSGN đó là: đào tạo về CSGN, khoa làm việc, tuổi, kinh nghiệm Kiến thức có liên quan đến thái độ và sự tự tin trong thực hành CSGN Nghiên cứu này khuyến nghị nên đưa nội dung CSGN vào chương trình giảng dạy đại học và đào tạo liên tục [14]
1.4 Khung lý thuyết của nghiên cứu
Các khái niệm liên quan trực tiếp và gián tiếp đến các biến chính của nghiên cứu được xây dựng từ tổng quan tài liệu Các yếu tố đặc điểm cá nhân, trình độ chuyên môn, đặc điểm công việc và kinh nghiệm của điều dưỡng dự kiến sẽ ảnh
Trang 31hưởng đến kiến thức và sự tự tin trong thực hành CSGN Ngoài ra kiến thức cũng được dự kiến là có ảnh hưởng đến sự tự tin trong thực hành CSGN của các điều dưỡng trong nghiên cứu [14],[32],[31].
1— 1
Kiền thức chăm sóc giảm nhẹ cùa điêu dường
Mức độ tự tin trong thực hành chấm sóc giảm nhe của điền dưđng
Sơ đồ 1.1 Khung lý thuyết của nghiên cứu
1.5 Giới thiệu Bệnh viện Kiến An - Hải Phòng
Bệnh viện Kiến An là bệnh viện đa khoa hạng I tuyến thành phố tại Hải Phòng, được giao 550 giường bệnh kế hoạch, 738 giường giường thực kê Bệnh viện được tổ chức thành 36 khoa phòng, trong đó có: 09 phòng chức năng, 19 khoa lâm sàng và 08 khoa cận lâm sàng Nhân lực gồm 601 cán bộ viên chức trong đó
118 bác sĩ, 390 điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên [1]
Nhiệm vụ của bệnh viện là: cấp cứu, khám chữa bệnh cho nhân dân 05 quận huyện phía Tây - Nam thành phố Hải Phòng; đào tạo cán bộ y tế; nghiên cứu khoa
Trang 32học về y học; chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật; phòng bệnh; họp tác quốc tế; quản lý kinh tế y tế và tham gia bệnh viện khu vực dự bị động viên Bệnh viện Kiến An còn là cơ sở thực hành cho các sinh viên của trường Đại học Y Dược Hải Phòng, trường Cao đẳng Y tế Hải Phòng và các trường Y dược khác [1],
Theo số liệu thống kê tại BV Kiến An năm 2016, bệnh viện tiếp nhận điều trị nội trú 31287 người bệnh trong đó có những đối tượng cần CSGN như sau: 1338 người bệnh ung thư, 807 người bệnh mắc bệnh suy tim, 347 người bệnh mắc bệnh đái tháo đường, 138 người bệnh suy thận mạn, 83 người bệnh viêm gan mạn và xơ gan, 77 người bệnh COPD Điều trị ngoại trú 324 người bệnh HIV Tổng số người bệnh điều trị tại khoa Hồi sức tích cực là 1828 người bệnh Những người bệnh mắc các bệnh trên tập trung chủ yếu tại các khoa trong bệnh viện lần lượt là khoa Ung Bướu, khoa Tim Mạch, khoa Nội tổng hợp, khoa Hồi sức tích cực, khoa Truyền Nhiễm [1] Nhu cầu CSGN cho người bệnh được đánh giá là được đánh giá rất cao Tuy nhiên, việc thực hiện các chương trình CSGN tại đây dường như còn nhiều hạn chế và chưa đáp ứng được nhu cầu trong chăm sóc người bệnh Một trong những nguyên nhân có thể do kiến thức, cũng như sự tự tin trong việc thực hành CSGN của đội ngũ điều dưỡng chăm sóc còn nhiều hạn chế
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đổi tượng nghiền cứu
Đối tượng nghiên cứu là các điều đưỡng đang công tác tại các đơn vị: Khoa Ung bướu, Khoa Tim mạch, Khoa Nội, Khoa Hồi sức tích cực, Khoa Truyền Nhiễm tại Bệnh viện Kiến An - Hải Phòng
2.1.2 Tiêu chuẩn lưa chon• •
- Điều dưỡng trực tiếp chăm sóc người bệnh
- Điều dưỡng đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
- Điều dưỡng vắng mặt trong thời gian nghiên cứu như: nghỉ thai sản, đi công tác, nghỉ phép
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu.
2.2.1 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12/2017 đến tháng 8/2018
Thời gian lấy số liệu: Từ 01/1/2018 - 31/3/2018
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện Kiến An - Thành phố Hải Phòng
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang:
Mô tả thực trạng kiến thức, sự tự tin trong thực hành CSGN của điều dưỡng dựa vào kết quả trả lời của điều dưỡng qua bộ câu hỏi tự điền đã được thiết kế sẵn
2.4 Mầu và phương pháp chọn mẫu
Chúng tôi chọn toàn bộ điều dưỡng (94 điều dưỡng) đang làm việc tại các đơn vị: khoa Ung Bướu, khoa Nội, khoa Tim Mạch, khoa Hồi sức tích cực, khoa Truyền Nhiễm - Bệnh viện Kiến An - Hải Phòng theo tiêu chuẩn lựa chọn, và tiêu chuẩn loại trừ Trong thời gian thu thập số liệu từ ngày 01/1/2018 - 31/3/2018, chúng tôi
đã lựa chọn được 90 điều dưỡng tham gia nghiên cứu
Trang 342.5 Phương pháp thu thập sổ liệu
Số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền Đối tượng nghiên cứu trả lời bằng cách điền vào chỗ trống hoặc đánh dấu vào các đáp án tương ứng trong bộ câu hỏi trong thời gian 30 phút
Quá trình thu thập số liệu tiến hành theo hai bước chính
Bước l ĩ Tập huấn thu thập số liệu.
Nghiên cứu viên trực tiếp tiến hành tập huấn về mục đích của nghiên cứu cũng như cách thức trả lời bộ công cụ thu thập số liệu cho 02 điều tra viên (là 02 điều dưỡng là nhân viên của phòng Điều dưỡng bệnh viện (có danh sách kèm theo)
Bước 2: Thu thập số liệu
Điều tra viên liên hệ với các khoa có đối tượng nghiên cứu sau đó tập trung điều dưỡng tham gia nghiên cứu tại hội trường Bệnh viện Kiến An vào 01 ngày Mỗi điều dưỡng được ngồi tại một vị trí, đảm bảo các điều dưỡng không trao đổi với nhau trong quá trình trả lời bộ câu hỏi Sau đó, giới thiệu về nghiên cứu (lý do, mục đích, nội dung) Xác nhận sự đồng ý tham gia nghiên cứu của đối tượng nghiên cứu đồng thời giải thích cụ thể về bộ công cụ nghiên cứu cũng như những lưu ý khi tiến hành trả lời bộ công cụ Đối tượng nghiên cứu sẽ có khoảng 30 phút
để hoàn thành bộ câu hỏi của mình sau đó nộp lại cho điều ha viên Toàn bộ quá trình thu thập số liệu được sự giám sát trực tiếp của điều tra viên
Trang 352.6 Các biến số nghiên cứu
* Các biến sổ của đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Bảng 2.1 Các biến sổ của đặc điểm đổi tượng nghiên cứu
thu thập
Tuổi = 2018 - năm sinh
4 Thâm niên công tác
Thời gian từ khi điều dưỡng làm việc tại bệnh viện tính bằng năm đến thời điểm hiện tại
Kinh nghiệm chăm
sóc người thân quen
bị bệnh hiểm nghèo
Là việc chăm sóc người thân quen
bị bệnh hiểm nghèo của điều dưỡng
Bộ câu hỏi
tự điền
Trang 36* Các biến sổ về kiến thức chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng
Bảng 2.2 Các biến sổ về kiến thức chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng
Bộ câu hỏi
tự điền
* Các biến số về sự tự tin trong thực hành CSGN của điều dưỡng
Bảng 2.3 Các biến số về sự tự tin trong thực hành CSGN của điều dưỡng
Trang 372.7 Các khái niệm, thang đo, tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá
Trong nghiên cứu, chúng tôi sử dụng bộ công cụ về đánh giá về kiến thức và
sự tự tin của tác giả Nguyễn Thúy Ly được sử dụng trong nghiên cứu đánh giá kiến thức, thái độ và sự tự tin trong thực hành chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng đã được đăng trên tạp chí International Journal of Palliative Nursing [14] Bộ công cụ này đã được tác giả Nguyễn Thúy Ly đồng ý cho chứng tôi sử dụng
Bộ câu hỏi trong nghiên cứu gồm 3 phần A, B và c (chi tiết tại phụ lục 3.1) 2.7.1 Phần A
Gồm 8 câu hỏi nhằm thu thập thông tin về các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu do nhóm nghiên cứu tự xây dựng dựa trên tổng quan tài liệu, tham khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước Đối tượng nghiên cứu trả lòi bằng cách tự điềnthông tin vào các dấu chấm ( ) và đánh dấu (x) vào các ô vuông bên cạnh cácnội dung tưomg ứng phù hợp với đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Trong đó:
“năm sinh” sẽ ghi năm dương lịch, “thâm niên công tác” ghi theo đơn vị tháng
2.7.2 Phần B
Bộ công cụ nguyên bản của tác giả Nguyễn Thúy Ly sử dụng gồm 34 câu hỏi, tuy nhiên trong nghiên cứu này chúng tôi quyết định bỏ 4 câu hỏi liên quan đến kiến thức CSGN người bệnh ung thư xạ trị vì: Bệnh viện Kiến An chưa sử dụng phương pháp xạ trị để điều trị cho người bệnh ung thư, đối tượng điều dưỡng trong nghiên cứu của chúng tôi không chỉ là điều dưỡng CSGN cho người bệnh ung thư
Như vậy, Phần B của bộ công cụ gồm 30 câu hỏi, trả lời dưới dạng đúng sai giúp đánh giá kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ của đối tượng nghiên cứu
Phần này đói tượng nghiên cứu trả lời bằng cách đánh dấu (x) vào mục đúng hoặc sai ở mỗi câu hỏi tương ứng theo kiến thức của đối tượng nghiên cứu
Mỗi câu trả lời đứng được tính 1 điểm và sai được 0 điểm So với điểm tối đa cho phần câu hỏi về kiến thức của điều dưỡng là 30 điểm Điểm càng cao thì điều dưỡng được đánh giá có kiến thức về CSGN càng cao và ngược lại
30 câu hỏi được chia làm 3 nhóm để đánh giá kiến thức:
- Nhóm 1 : Nhóm kiến thức về các nguyên tắc cơ bản của CSGN (gồm 3 tiểu
Trang 38mục Bl; B4; B7): so với điểm tối đa là 3 điểm.
- Nhóm kiến thức về quản lý đau và các triệu chứng khác (gồm 20 tiểu mục: B6; B8-B24; B27; B30: so với điểm tối đa là 20 điểm
- Nhóm kiến thức chăm sóc về tâm lý và tâm linh (gồm 7 tiểu mục B2; B5; B25; B26; B28; B29: so với điểm tối đa là 7 điểm
là 34 - 170 điểm (nhỏ nhất là 34 điểm, lớn nhất là 170 điểm) Điểm càng cao thì sự
tự tin trong thực hành về CSGN của điều dưỡng càng tốt và ngược lại
Sự tự tin trong thực hành CSGN của điều dưỡng được chia nhỏ thành các nhóm nhỏ sau:
- Nhóm 1: Trong thực hành quản lý đau (3 mục): C1 - C3 (3 - 15 điểm)
- Nhóm 2: Trong thực hành quản lý các triệu chứng khác (4 mục): C4 - C7 (4 -
20 điểm)
- Nhóm 3: Trong thực hành chăm sóc tâm lý (3 mục): C 8- CIO ( 3 -1 5 điểm)
- Nhóm 4: Thực hành chăm sóc xã hội (2 mục): C11 - C12 (2 - 10 điểm)
- Nhóm 5: Thực hành chăm sóc tinh thần và tâm linh (4 mục): C13 - C16 (4 -
Trang 39- Nhóm 10: Thực hành chăm sóc cuối đời (4 mục): C31 - C34 (4 - 20 điểm).
2.8 Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu sau khi thu thập sẽ được làm sạch, mã hóa và được nhập và phân tích bằng phần mềm SPSS 16
Các biến đặc điểm đói tượng nghiên cứu, mức độ kiến thức CSGN, sự tự tin thực hành CSGN được mô tả dưới dạng tỷ lệ %, giá trị trung bình, giá trị tối đa, giá trị tối thiểu
Đánh giá mối liên quan giữa các biến dựa vào so sánh 2 tỷ lệ và 2 giá trị trung bình Đánh giá mối tương quan giữa các biến bằng hệ số tương quan r
2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Đe đảm bảo được khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu Các nội dung sau đã được thực hiện một cách đầy đủ và chặt chẽ:
- Các thông tin thu được trong quá trình nghiên cứu, được cam kết giữ bí mật tuyệt đối Không có thông tin liên quan đến nhận dạng cá nhân của đối tượng tham được tiết lộ trong quá ứình phân tích dữ liệu và báo cáo kết quả Thông tin chỉ được
sử dụng cho mục đích của nghiên cứu này
- Các đối tượng tham gia nghiên cứu thật sự hợp tác, đồng ý tham gia nghiên cứu Chỉ tiến hành lấy phiếu sau khi đã giải thích kỹ cho các đối tượng nghiên cứu
về mục đích của nghiên cứu, cách thức tiến hành thu thập số liệu
- Đề cương nghiên cứu đã được thông qua bởi Hội đồng đạo đức trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
2.10 Sai số và biện pháp khắc phục
* Các sai số của nghiên cứu:
- Sai số do đối tượng nghiên cứu trả lời không đứng sự thật, trả lời lấy lệ, hoặc hiểu sai câu hỏi
- Sai số do nhớ lại trong quá trình thu thập thông tin
- Sai số do có mặt người thu thập thông tin
- Sai số trong quá trình nhập dữ liệu
Trang 40- Hướng dẫn và giải thích rõ cho đối tượng về cách thức trả lời câu hỏi.
- Thử nghiệm bộ công cụ trước khi thực hiện
- Giám sát chặt chẽ quá trinh thu thập số liệu, kiểm tra độ chính xác trước khi nhập số liệu