1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng hoạt động thể lực ở người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trútại trung tâm y tế quận hải châu thành phố đà nẵng năm 2018

107 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tên đề tài: “Thực trạng hoạt động thể lực ở người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế Quận Hải Châu- Thành phổ Đà Nằng năm 2018” Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm m

Trang 1

LUÂN VĂN THAC SỸ ĐIÈU DƯỠNG • •

NAM ĐỊNH - 2018

Trang 2

TRẦN THỊ KIM QUÝ

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THẺ L ự c Ở NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRI NGOAI TRÚ TAI TRUNG• • •TÂM Y TẾ QUẬN HẢI CHÂU -THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG NĂM 2018

LUÂN VĂN THAC s ĩ ĐIỀU DƯỠNG • •

Mã số: 8720301

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Nam Định - 2018

Trang 4

TÓM TẮT

Cùng vói chế độ ăn uống đúng kế hoạch và dùng thuốc theo quy định, hoạt động thể lực cũng là yếu tố quan trọng trong việc duy trì sức khỏe tối ưu cho những người bệnh ĐTĐ type 2, nhằm kiểm soát bệnh và giúp điều trị thành công

Tên đề tài: “Thực trạng hoạt động thể lực ở người bệnh đái tháo đường

type 2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế Quận Hải Châu- Thành phổ Đà Nằng năm 2018”

Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng và xác định một số yếu tố liên

quan đến hoạt động thể lực ở người bệnh Đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm y tế Quận Hải Châu, Thành phố Đà Nằng năm 2018

Đối tượng và phương pháp: Đối tượng là người bệnh Đái tháo đường type

2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế Quận Hải Châu, Thành phố Đà Nang từ tháng

3 đến tháng 6 năm 2018 phù họp tiêu chuẩn chọn mẫu Sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang trên 216 người bệnh được chọn mẫu ngẫu nhiên đơn

Kết quả: thời gian hoạt động trung bình của người bệnh Đái tháo đường

type 2 là 142,54 phúưtuàn, tỉ lệ người bệnh hoạt động đủ là 46,3% Hầu hết người bệnh có kiến thức khá tốt về hoạt động thể lực (Mean=14,23) Người bệnh nhận thức về rào cản ở mức độ trung bình (Mean=28,74) Người bệnh nhận thức về sự tự tin ở mức độ trung bình (Mean=650) Hỗ trợ xã hội cho hoạt động thể lực cho người bệnh Đái tháo đường type 2 ở mức trung bình (Mean=62,86)

Kết luận: Hoạt động thể lực của đối tượng nghiên cứu ở mức độ thấp, chưa

đạt theo khuyến cáo của WHO Qua nghiên cứu nhận thấy một số yếu tố liên quan đến hoạt động thể lực gồm: nghề nghiệp, kiến thức, nhận thức về rào cản, nhận thức

về sư tư tin

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, các Thầy Cô giáo Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã nhiệt tình giảng dạy truyền đạt những kiến thức, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Duy Tân và các phòng ban có liên quan đã tạo điều kiện cho tôi học tập và hoàn thành luận văn

Xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Trung tâm Y tế Quận Hải Châu và các Phòng ban liên quan đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện nghiên cứu tại Bệnh viện Đặc biệt là các Bác sĩ, Điều dưỡng tại Khoa khám bệnh, Trung tâm Y tế Quận Hải Châu đã giúp đõ tôi trong suốt quá trình thu thập số liệu

Xin chân thành cảm ơn ThS.BS Nguyễn Huỳnh Ngọc - Trưởng khoa Điều dưỡng và các đồng nghiệp tại Trường Đại học Duy Tân đã động viên, tạo điều kiện

về thời gian, cộng tác giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Ngọc Minh- Thầy thuốc nhân dân- c ố vấn Hội Điều dưỡng Việt Nam- Phó Hiệu Trưởng Trường Đại học Duy Tân - Người Thầy đã dành nhiều thời gian quý báu để truyền đạt cho tôi những kiến thức chuyên môn và trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn Thạc sĩ

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã ủng hộ và giúp đỡ tôi nhiệt tình trong quá trình học tập và nghiên cứu của mình

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy PGS.TS Nguyễn Ngọc Minh Tất cả số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, khách quan, đã được đồng ý và xác nhận của cơ sở mà tôi thực hiện lấy số liệu

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam đoan này!

Nam Định, tháng 9 năm 2018

Tác giả

Trần Thị Kim Quý

Trang 7

Lời cảm ơn iiLòi cam đoan iii

1.3 Thực trạng hoạt động thể lực của người bệnh ĐTĐ type 2 trên Thế giới và

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 22

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22

Trang 8

2.6 Các biến số nghiên cứu 242.7 Các khái niệm, thang đo, tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá 25

3.3 Ket quả hoạt động thể lực của đối tượng nghiên cứu 343.4 Kết quả khảo sát kiến thức về hoạt động thể lực 353.5 Kết quả khảo sát nhận thức về rào cản với hoạt động thể lực 363.6 Kết quả khảo sát nhận thức về sự tự tin với hoạt động thể lực 393.7 Kết quả khảo sát hỗ trợ xã hội với hoạt động thể lực 403.8 Kết quả khảo sát mối liên quan giữa một số yếu tố và hoạt động thể lực của

Phụ lục 3: Biến số nghiên cứu

Phụ lục 4: Kết quả đánh giá độ tin cậy của công cụ thu thập số liệu

Phụ lục 5: Danh sách đối tượng tham gia nghiên cứu

Trang 9

DANH MUC CÂC CHÜ VIET TAT

ADA (American Diabetes Association):

BMI (Body mass index):

CDA (Canada Diabetes Association):

DTD:

HA:

HDTL:

IDF (International Diabetes Federation):

WHO (World Health Organization):

Hôi Dâi thâo duorng Hoa kyChi sô khôi co the

Hôi Dâi thâo duong CanadaDâi thâo ducmg

Huyêt âpHoat dông thê lueLien doàn Dâi thâo ducmg quôc tê

Tô chüc Y tê Thê giai

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG •

Bảng 1.1: Mục tiêu điều trị cho người bệnh ĐTĐ ở người trưởng thành 7Bảng 1.2: Mục tiêu điều trị cho người bệnh ĐTĐ ở người già 8

Bảng 3.1: Các thông tin khác của đối tượng nghiên cửu 31Bảng 3.2: Đăc điểm bênh lv của đối tương nghiên cứu 32

Bảng 3.4: Mức đô hoat đông thể lưc của đối tương nghiên cứu 34

Bảng 3.6: Kiến thức về hoat đông thể lưc của đối tương nghiên cửu 35Bảng 3.7: Mô tả chi tiết kiến thức về hoạt động thể lực 36Bảng 3.8: Nhận thức về rào cản của đối tượng nghiên cứu 38Bảng 3.9: Nhân thức sư tư tin của đối tương nghiên cửu 39

Bảng 3.11: Mô tả chi tiết hỗ frơ của gia đình về hoat đông thể lưc 41Bảng 3.12: Mô tả chi tiết hỗ trơ của ban bè vè hoat đông thể lưc 42Bảng 3.13: Liên quan giữa giới vả hoạt động thể lực 43Bảng 3.14: Liên quan giữa tuồi và hoat đông thể lưc 43Bảng 3.15: Liên quan giữa tình trang hôn nhân vả hoat đông thể lưc 44Bảng 3.16: Liên quan giữa trình đô hoc vấn và hoat đông thể lưc 44Bảng 3.17: Liên quan giữa nghề nghiêp và hoat đông thể lưc 45Bảng 3.18: Liên quan giữa thời gian mắc bênh và hoat đông thể lưc 45Bảng 3.19 Mối liên quan giữa HbAlC vả hoat đông thể lưc 46Bảng 3.20: Liên quan giữa biến chứng bệnh ĐTĐ và hoạt đông thể lực 46Bảng 3.21: Liên quan giữa BMI và hoat đỏng thể lưc 47Bảng 3.22: Mối liên quan giữa kiến thức và hoạt động thể lực của ĐTNC 47Bảng 3.23: Mối liên quan giữa nhận thức về rào cản và hoạt động thể lực 48Bảng 3.24: Mối liên quan giữa mức đô tư tin và hoat đông thể lưc của ĐTNC 48Bảng 3.25: Mối liên quan giữa hỗ trơ xã hôi và hoat đông thể lưc của ĐTNC 49

Trang 11

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ

Hình 1.1: Mô hình học thuyết nhận thức xã hội 20Hình 1.2: Khung lý thuyết 21Biểu đồ 3 1: Phân bố người bênh ĐTĐ type 2 theo đô tuổi (n=216) 30Biểu đồ 3 2: TỶ lê người bênh ĐTĐ type 2 theo giới tính 30Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ loại hình điều trị ĐTNC lựa chọn 33

Trang 12

ở người lớn năm 2015 ước tính cứ 17 người thì có 1 người mắc ĐTĐ [48].

ĐTĐ là nguyên nhân chính gây mù lòa, suy thận, đau tim, đột qụy[62] Những người mắc bệnh ĐTĐ có nguy cơ cao về bệnh tật và tử vong cao hơn dân số nói chung [46] Gánh nặng ĐTĐ cũng ngày càng gia tăng, đặc biệt ở các nước đang phát triển [53]

Chi tiêu y tế dành riêng cho điều trị ĐTĐ toàn cầu năm 2017 đạt 765,6 triệu USD (hơn 12% chi tiêu y tế toàn cầu ), trong đó chiếm đa số là điều trị các biến chứng [46],[34] Uớc tính chi phí dành cho điều trị các biến chứng trung bình cho mỗi người bệnh ĐTĐ trong 30 năm là 47420 USD [18]

Theo IDF năm 2017, hầu hết các trường họp mắc bệnh ĐTĐ thuộc type 2 Nguyên nhân chính dẫn đến mắc ĐTĐ là do thay đổi hành vi lối sống bắt nguồn từ

đô thị hóa tại các nước [34] ĐTĐ là một trong những chứng bệnh liên quan đến các yếu tố lối sống như thiếu hoạt động thể lực và béo phì [53] Lối sống tĩnh tại là yếu

tố làm bệnh ĐTĐ type 2 gia tăng [22]

Hoạt động thể lực được định nghĩa là bất kỳ vận động cơ thể nào được tạo ra bởi cơ xương cần chi tiêu năng lượng [63] Có thể xem hoạt động thể lực là yếu tố quan trọng trong việc duy trì sức khỏe tối ưu cho những người bệnh ĐTĐ type 2, là chiến lược quan trọng nhất để kiểm soát bệnh và là chìa khóa để giúp điều trị thành công cùng với chế độ ăn uống đúng kế hoạch và dùng thuốc theo quy định [3],[62]

Trang 13

Hoạt động thể lực thường xuyên mang lại nhiều lợi ích Những lợi ích này bao gồm tăng sức khoẻ tim mạch, giảm sự đề kháng insulin, và lipid được cải thiện đối vói những người bị bệnh ĐTĐ type 1 và type 2 [22]; không những giúp cải thiện kiểm soát đường huyết, và ngăn ngừa các biến chứng của ĐTĐ type 2, còn có ảnh hưởng tích cực đến lượng mỡ trong máu và huyết áp, làm giảm nguy cơ tai biến mạch máu não, đột quỵ hoặc tử vong và cải thiện chất lượng cuộc sống [21] Một số nghiên cứu đã chỉ ra hoạt động thể lực làm giảm nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ type 2 xuống 50% [41], và giảm tỷ lệ tử vong đối với bệnh tim ở người bệnh ĐTĐ xuống 34% -53% [29].

Tuy nhiên, theo một cuộc khảo sát cho thấy chỉ có 34% người thực hiện các HĐTL và chỉ có 9% nhóm thực hiện đủ theo khuyến cáo [56] Và có đến 60,5% số người bệnh ĐTĐ không tập thể dục [49] Tại Thái Nguyên, tỉ lệ ĐTĐ type 2 HĐTL không đủ theo khuyến cáo chiếm đến 84,15% [33]

Các nghiên cứu trước đây cho thấy rằng, hoạt động thể lực ở người bệnh ĐTĐ type 2 bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó nguyên nhân chính là do người bệnh ĐTĐ thiếu kiến thức về hoạt động thể lực [24],[55]; họ gặp nhiều rào cản khi hoạt động thể lực [13],[58], họ cảm thấy thiếu tự tin khi tham gia hoạt động thể lực và thiếu sự hỗ trợ của xã hội [9],[27],[54]

Đà Nằng là một thành phố lớn với tốc độ phát triển và tốc độ đô thị hóa nhanh nhưng chưa có nghiên cứu nào khảo sát vấn đề này Từ kết quả của nghiên cứu này

có thể biết được thực trạng và xác định được một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thể lực của người bệnh ĐTĐ type 2, từ đó có thể sử dụng kết quả nghiên cứu

để đưa ra những can thiệp nhằm thúc đẩy hoạt động thể lực và cải thiện tình trạng của người bệnh ĐTĐ type 2 tại Đà Nắng

Do vậy, chứng tôi tiến hành nghiên cứu này tại cơ sở điều trị thuộc quận đông

dân nhất của Thành phố Đà Nang - Quận Hải Châu với đề tài: Thực trạng hoạt động thể lực của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm

y tế Quận Hải Châu- Thành phố Đà Nằng năm 2018”

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN • cứu

1 Mô tả thực trạng hoạt động thể lực ở người bệnh Đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm y tế Quận Hải Châu- Thành phố Đà Nang năm 2018

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến hoạt động thể lực ở người bệnh Đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm y tế Quận Hải Châu -Thành phố

Đà Nằng năm 2018

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Đái tháo đường

1.1.1 Định nghĩa đái tháo đường

Đái tháo đường là một nhóm các bệnh lý chuyển hóa đặc trưng bởi tắng lượng glucose máu do khiếm khuyết tiết insulin, khiếm khuyết hoạt động insulin, hoặc cả hai Tăng glucose máu mạn tính trong Đái tháo đường gây tổn thưomg, rối loạn chức năng hay suy nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu [59]

1.1.2 Dịch tễ học đái tháo đường

Bệnh ĐTĐ là một bệnh nghiêm trọng và là một trong những bệnh không lây lan phổ biến nhất và phức tạp nhất trên thế giới, tỷ lệ hiện mắc và gánh nặng tiếp tục gia tăng với tốc độ báo động

Theo thống kê của Liên đoàn ĐTĐ quốc tế (IDF), năm 2017 có 425 triệu

người mắc ĐTĐ; 63,4 % người lớn bị ĐTĐ không được chẩn đoán, tỉ lệ người bệnh

dưới 60 tuổi tử vong do Đái tháo đường là 51,5% [34]

Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ tất cả các nhóm tuổi trên toàn thế giới được ước tính là 2,8% vào năm 2000 và sẽ tăng lên 4,4% vào năm 2030 Tổng số người bị bệnh ĐTĐ dự kiến sẽ tăng từ 171 triệu trong năm 2000 lên 366 triệu vào năm 2030 Sự thay đổi nhân khẩu học quan trọng nhất đối với tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ trên toàn thế giới dường như là sự gia tăng tỷ lệ người trên 65 tuổi [60]

Theo nghiên cứu khác, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ trên thế giới ở người lớn, tuổi từ 20-79 tuổi ước tính sẽ tăng lên 7,7%, ảnh hưởng đến 439 triệu người trưởng thành vào năm 2030 [53]

Năm 2010, trên thế giới có khoảng 285 triệu người trưởng thành (6,4%) bị ĐTĐ, con số đó tiếp tục gia tăng 154% từ năm 2010 đến năm 2030, trong đó chủ yếu là do sự gia tăng mạnh mẽ ở các nước đang phát triển, đặc biệt là ở Ấn Độ và khu vực Đông Nam Á Từ năm 2010 đến năm 2030, dự kiến số người lớn bị ĐTĐ ở các nước đang phát triển sẽ tăng lên 69% và tàng 20% ở các nước phát triển [53]

Trang 16

Ở Canada, tỷ lệ bệnh ĐTĐ đã tăng gấp đôi trong thập kỷ qua, với 2,4 triệu người trưởng thành (6,8%) sống với bệnh ĐTĐ trong năm 2009 và con số này sẽ đạt 3,7 triệu vào năm 2019 Hơn 50% người mắc bệnh ĐTĐ ở độ tuổi lao động từ

25 đến 64 tuổi, và dự báo đáng báo động rằng 1/3 người Canada có thể bị ĐTĐ vào năm 2020 Nếu quản lý không đúng cách, bệnh ĐTĐ có thể dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng như bệnh tim, đột quỵ, mù loà, suy thận và cắt cụt, làm giảm đáng kể chất lượng cuộc sống và tuổi thọ của người bệnh Đái tháo đường type 2

[20].

Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở các cộng đồng Chấu Á đã tăng lên nhanh chóng trong những thập kỷ gần đây Trong năm 2007, hơn 110 triệu người ở Châu Á đang sống với bệnh ĐTĐ [20] Hơn 60% dân số thế giới mắc bệnh ĐTĐ đến từ các nước Châu

Á, bởi vì tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ đang gia tăng ở các nước này Dự đoán số người mắc bệnh ĐTĐ và giảm dung nạp glucose ở mỗi nước Châu Á sẽ tăng đáng kể trong những thập kỷ tới [60], [50]

Việt Nam là một quốc gia đang phát hiển nhanh chóng về kinh tế xã hội, cùng với sự thay đổi lối sống, đã góp phần làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ type 2 chung của cả thế giới [53], là một trong những nước có tỷ lệ tăng trưởng cao nhất về bệnh Đái tháo đường trên toàn thế giới với trên tổng 6% tổng dân số [42] Theo thống kê của IDF năm 2017 số người trong độ tuổi từ 20-79 tuổi mắc ĐTĐ tại Việt Nam là khoảng 3,5 triệu người, chiếm tỉ lệ là 5,5% dân số [34] Năm 2025, Việt Nam dự kiến có 7 đến 8 triệu người mắc bệnh Đái tháo đường [42] Dự tính số ca bệnh ĐTĐ ở người Việt Nam sẽ tăng gấp đôi vào năm 2030 so với năm 2010 [53]

Và trong kết quả công bố của “Dự án phòng chống Đái tháo đường Quốc gia”

do Bệnh viện Nội tiết Trung ương thực hiện năm 2012 trên 11.000 người tuổi 30-69 tại 6 vùng gồm: Miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ đã cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ là 5,7%; có đến 12,8% dân số mắc tiền ĐTĐ và 63,6 % ĐTĐ trong cộng đồng không được phát hiện ; tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose cũng gia tăng mạnh mẽ từ 7,7% năm 2002 lên gần 12,8% năm 2012 [2] Trong 10 năm, số người bệnh mắc ĐTĐ tại

Trang 17

nước ta đã tăng đến 211% , từ 2,7 % dân số năm 2002 đến 5,7 % dân số năm 2012, với gần 5 triệu người mắc và cứ 10 ca thì có 6 ca được chuẩn đoán có biến chứng [2] Đây là con số đáng báo động Trong khi đó trên thế giới, 15 năm thì tỷ lệ này mới tăng gấp đôi.

Theo điều tra năm 2001, ở các thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng, Hồ Chí Minh, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ là 4,9%, tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose máu là 5,9%[1].Năm 2014 Trung tâm Y tế dự phòng đã tiến hành sàng lọc bệnh ĐTĐ ở quận Hải Châu và quận Sơn Trà, thành phố Đà Nang, kết quả cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ là hơn 10% và tiền ĐTĐ là trên 25% [43]

Các yếu tố đô thị hóa, dân số già, béo phì và hạn chế vận động thể chất có vai trò quan trọng làm tăng tỷ lệ ĐTĐ tại Việt Nam Chính thói quen sinh hoạt không khoa học đã và đang làm tăng số lượng người thừa cân, béo phì, kéo theo gánh nặng bệnh ĐTĐ ở Việt Nam cũng như trên phạm vi toàn cầu [48]

Nếu không có biện pháp dự phòng hay các chương trình quản lý hiệu quả thì

tỷ lệ ĐTĐ sẽ còn tiếp tục tăng lên trên toàn cầu Vì vậy, vấn đề hoạt động thể lực ở người bệnh ĐTĐ là một trong những vấn đề cần được quan tâm hơn bao giờ hết

1.1.3 Chẩn đoán Đái tháo đường

Chẩn đoán dựa vào khuyến cáo của Hội ĐTĐ Hoa Kỳ (American Diabetes Association) năm 2016 khi có một trong 4 tiêu chuẩn sau [12]:

1 Đường huyết lúc đói >126 mg/dL (7,0 mmol/L)

2 Đường huyết 2 giờ > 200 mg/dL (11,1 mmol/L) khi dùng nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống

3 HbAlc >6,5% (48 mmol/mol)

4 Người bệnh có các triệu chứng cổ điển của tăng đường huyết hay tăng đường huyết trầm trọng kèm theo xét nghiệm glucose huyết tương ngẫu nhiên 200 mg/dl (11,1 mmol/1)

Trong trường họp tăng đường huyết không rõ ràng thì phải làm lại xét nghiệm

Trang 18

+ Phát hiện các biến chứng đái tháo đường và các bệnh đồng mắc;

+ Xem xét điều trị trước và việc kiểm soát yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân ĐTĐ đã được thiết lập;

+ Bắt đàu sự tham gia của bệnh nhân trong việc xây dựng kế hoạch quản lý chăm sóc

+ Xây dựng kế hoạch để chăm sóc liên tục

v' Muc tiêu điều tri:• •

Bảng 1.1: Mục tiêu điều trị cho ngưòi bệnh ĐTĐ ở ngưòi trưởng thành

Glucose huyết tương mao

mạch lúc đói, trước ăn 80-130 mg/dL (4.4-7.2 mmol/L)*

Đỉnh glucose huyết tương

mao mạch sau ăn 1-2 giờ <180 mg/dL (10.0 mmol/L)*

Huyết áp

Tâm thu <140 mmHg, Tâm trương <90 mmHg Neu đã có biến chứng thận: Huyết áp <130/85-80 mmHg

Trang 19

LDL cholesterol <100 mg/dL (2,6 mmol/L), nếuchưa có biến chứng tim mạch.

LDL cholesterol <70 mg/dL (1,8 mmol/L) nếu đã có

Triglycerides <150 mg/dL (1,7 mmol/L)HDL cholesterol >40 mg/dL (1,0 mmol/L) ở nam và

HbAlc

(%)

Glucose huyết lúc đói hoăc trước •

ăn (mg/dL)

Glucose lúc

đi ngủ (mg/dL)

Huyết áp mmHg

Mạnh khỏe Còn sống lâu <7.5% 90-130 90-150 <140/90Phức tạp/

sức khỏe

trung bình

Kỳ vọng sống trung bình <8.0% 90-150 100-180 <140/90

Rất phức

tạp/ sức

khỏe kém

Không còn sống lâu <8.5% 100-180 110-200 <150/90

1.1.5 Hành vi tự chăm sóc ở người bệnh ĐTĐ type 2

> Thay đổi lối sống

Thay đổi lối sống hay điều trị không dùng thuốc bao gồm luyện tập thể lực, dinh dưỡng và thay đổi lối sống

s Luyện tập thể dục

Trang 20

+ Cần kiểm tra biến chứng tim mạch, mắt, thần kinh, biến dạng chân trước khi luyện tậpvà đo huyết áp, tần số tim Không luyện tập gắng sức khi glucose huyết > 250-270 mg/dL và ceton dương tính.

+ Loại hình luyện tập thông dụng và dễ áp dụng nhất: đi bộ tổng cộng 150 phút mỗi tuần (hoặc 30 phút mỗi ngày), không nên ngưng luyện tập 2 ngày liên tiếp Mỗi tuần nên tập kháng lực 2-3 lần (kéo dây, nâng tạ)

+ Người già, đau khớp có thể chia tập nhiều lần trong ngày, thí dụ đi bộ sau 3 bữa ăn, mỗi lần 10-15 phút Người còn trẻ nên tập khoảng khoảng 60 phút mỗi ngày, tập kháng lực ít nhất 3 lần mỗi tuần

s Dinh dưỡng

Dinh dưỡng cần được áp dụng mềm dẻo theo thói quen ăn uống của bệnh nhân, các thức ăn sẵn có tại từng vùng miền Tốt nhất nên có sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng

Chi tiết về dinh dưỡng sẽ được thiết lập cho từng bệnh nhân tùy tình trạng bệnh, loại hình hoạt động, các bệnh lý, biến chứng đi kèm Các nguyên tắc chung về dinh dưỡng nên được khuyến cáo cho mọi bệnh nhân:

+ Bệnh nhân béo phì, thừa cân cần giảm cân, ít nhất 3-7% so với cân nặng nền.+ Nên dùng các loại carbohydrat hấp thu chậm có nhiều chất xơ, không chà xát

kỹ như gạo lứt, bánh mì đen, nui còn chứa nhiều chất xơ

+ Đạm khoảng 1-1,5 gam/kg cân nặng/ngày ở người không suy chức năng thận Nên ăn cá ít nhất 3 lần/tuần Người ăn chay trường có thể bổ sung nguồn đạm từ các loại đậu (đậu phụ, đậu đen, đậu đỏ)

+ Nên chú trọng dùng các loại mở có chứa acid béo không no một nối đôi hoặc nhiều nối đôi như dầu ô liu, dầu mè, dầu lạc, mỡ cá cần tránh các loại mỡ trung chuyển (mỡ trans), phát sinh khi ăn thức ăn rán, chiên ngập dầu mỡ.+ Giảm muối trong bữa ăn, còn khoảng 2300 mg Natri mỗi ngày

+ Chất xơ ít nhất 15 gam mỗi ngày

+ Các yếu tố vi lượng: nên chú ý bổ xung các yếu tố vi lượng nếu thiếu, thí dụ sắt ở bệnh nhân ăn chay trường Dừng Metformin lâu ngày có thể gây thiếu

Trang 21

sinh tố B I2, nên chú ý đến tình trạng này nếu bệnh nhân có thiếu máu hoặc triệu chứng bệnh lý thần kinh ngoại vi.

+ Uống rượu điều độ: một lon bia (330 ml)/ngày, rượu vang đỏ khoảng 150- 200ml/ngày

+ Ngưng hút thuốc

+ Các chất tạo vị ngọt: như đường bắp, aspartame, saccharin có nhiều bằng chứng trái ngược Do đó nếu sử dụng cũng cần hạn chế đến mức tối thiểu

> Điều trị Đái tháo đường bằng thuốc

Các nhóm thuốc hạ glucose huyết đường uống và thuốc dạng tiêm không thuộc nhóm insulin

Insulin: Insulin được sử dụng ở bệnh nhân ĐTĐ tip 1 và cả ĐTĐ tip 2 khi có triệu chứng thiếu insulin hoặc không kiểm soát được glucose huyết dù đã ăn uống luyện tập và phối họp nhiều loại thuốc viên theo đúng chỉ dẫn Ngoài ra ĐTĐ tip 2 khi mới chẩn đoán nếu glucose huyết tăng rất cao cũng có thể dùng insulin để ổn định glucose huyết, sau đó sẽ dùng các loại thuốc điều trị tăng glucose huyết khác

> Điều trị các bệnh phối họp và các biến chứng nếu có: theo hướng dẫn

chuyên môn của các bệnh và biến chứng đó

1.2 Hoat đông thể lưc

1.2.1 Đinh nghĩa hoat đông thể lưc

Hoạt động thể lực có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Theo Jacobson và cộng sự (2005), hoạt động thể lực là những nỗ lực trong các hoạt động thông thường hàng ngày và tập thể dục để tăng cường thể lực [35] Theo WHO (2013), hoạt động thể lực được định nghĩa là bất kỳ vận động cơ thể nào có sử dụng

hệ cơ và tạo ra năng lượng [63]

Hay một định nghĩa khác, hoạt động thể lực là bất kỳ vận động cơ thể nào được tạo ra bởi các hệ cơ mà tạo ra năng lượng Chi phí năng lượng có thể được tính bằng kilocalories Hoạt động thể lực trong cuộc sống hàng ngày bao gồm nghề nghiệp, thể thao, công việc nhà hoặc các hoạt động khác [19]

Trang 22

Trong nghiên cứu này hoạt động thể lực được định nghĩa là bất kỳ chuyển động cơ thể của người ĐTĐ type 2 tạo ra bởi các cơ xương tạo ra năng lượng với cường độ trung bình hoặc mạnh và hoạt động của nó ít nhất 10 phút liên tục Hoạt động thể lực bao gồm hoạt động tại nơi làm việc, hoạt động đi lại, hoạt động giải trí.

Theo các thông số sinh lý, có 3 cường độ hoạt động thể lực:

- Cường độ nhẹ: Nói đến bất kỳ hoạt động nào tiêu thụ ít hơn 3,5 kcal /phút

Mức này tương đương với năng lượng mà một người khỏe mạnh có thể tiêu thụ khi

đi dạo, đi bộ từ từ, làm việc nhà Nhịp tim ở cường độ nhẹ ít hơn 50% nhịp tim tối đa [16]

Các hoạt động ở cường độ này có thể là đi bộ ở mức <3 dặm/ giờ, đi xe đạp <

5 dặm/ giờ, thực hiện bài tập kéo dài, chơi golf, chơi bowling, làm các công việc nhẹ trong nhà, cưỡi ngựa ở tốc độ đi bộ của ngựa [23]

- Cường độ trung bình: Hoạt động thể lực cường độ trung bình đề cập đến

bất kỳ hoạt động nào tiêu thụ 3,5 đến 7 kcal / phút Các mức này tương đương vói những gì một người khỏe mạnh có thể tiêu thụ trong khi đi bộ nhanh, cắt cỏ, khiêu

vũ, bơi lội để giải trí, đi xe đạp, đi dạo vui chơi, làm vườn, dọn dẹp và thực hiện các hoạt động giải trí như như quần vợt, bóng quàn, bóng đá, bóng rổ và bóng đá liên lạc Với hoạt động thể lực trung bình, nhịp tim của chúng ta là 50-70% so với nhịp tim tối đa Các hoạt động cường độ trung bình, nếu được thực hiện hàng ngày, có nhiều lợi ích sức khoẻ lâu dài, giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch [16].Các hoạt động ở cường độ này có thể là đi bộ ở mức 3,0 - 4,5 dặm/ giờ, đi xe đạp địa hình 5,0 - 9,0 dặm/ giờ, tập yoga, tham gia khiêu vũ, bơi lội [23]

- Cường độ mạnh: hoạt động thể lực này đề cập đến bất kỳ hoạt động nào tiêu

thụ hơn 7 kcal / phút Các mức này bằng với những gì một người khỏe mạnh có thể tiêu thụ trong khi chạy bộ, tham gia vào công việc nặng, tham gia vào các điệu nhảy hiếu động, bơi lội liên tục, hoặc đạp xe lên dốc Nhịp tim hoạt động rất nhanh, hơn 70% nhịp tối đa [16]

Trang 23

Các hoạt động ở cường độ này có thể là chạy và nhảy, đi xe đạp ở mức 10 dặm/ giờ hoặc đi xe đạp lên dốc, boi vòng liên tục, chơi hầu hết các loại thể thao cạnh tranh, trượt tuyết [23].

1.2.3 Lơi ích của hoat đông thể lưc

Tham gia vào hoạt động thể dục thường xuyên là một phần quan trọng trong lối sống lành mạnh Nghiên cứu cho thấy tập thể dục thường xuyên có liên quan đến

dự phòng bệnh tim mạch, bệnh ĐTĐ type 2, ung thư, cao huyết áp, béo phì, loãng xương và trầm cảm

Hoạt động thể lực thường xuyên là hoạt động quan trọng cho tất cả mọi người,

và đặc biệt quan trọng đối với người bệnh ĐTĐ và những người có nguy cơ ĐTĐ

Nó là một phần quan trọng của kế hoạch quản lý ĐTĐ, cùng với chế độ ăn uống họp lý và dùng thuốc theo quy định [3] Thường xuyên hoạt động giúp kiểm soát glucose máu, làm giảm yếu tố nguy cơ tim mạch, góp phần giảm cân và cải thiện phúc lợi Hoạt động thể lực thường xuyên cũng làm giảm nguy cơ phát triển biến chứng của ĐTĐ, có thể hạ thấp lượng đường trong máu và cải thiện mức độ HbAlC

[11].

Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên gần đây cho thấy việc cải thiện lối sống chuyên sâu (chế độ ăn uống lành mạnh và hoạt động thể lực trung bình là 30 phút một ngày trong 5 ngày một tuần) làm giảm tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ type 2 xuống 50% [41]

Một nghiên cứu khác lại cho thấy rằng đi bộ ít nhất 2 giờ mỗi tuần có liên quan đến việc giảm tỷ lệ tử vong 39% -54% từ bất kỳ nguyên nhân nào và 34% - 53% đối với bệnh tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ [29] Nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ type 2

ở người có hoạt động thể lực thấp hơn 30-50% so với những người không hoạt động

và hoạt động thể lực làm giảm nguy cơ tương tự đối với bệnh mạch vành [15]

Những người đàn ông mắc bệnh ĐTĐ type 2 mà không hoạt động thể lực có nguy cơ tử vong sớm hơn 1,7 lần so với những người đàn ông mắc bệnh ĐTĐ type

2 có hoạt động thể lực Sự khác biệt này cũng được nhận thấy ở những người có hội chứng chuyển hóa [36]

Trang 24

1.2.4 Thời gian hoạt động thể lực

Người lớn bị ĐTĐ được khuyến cáo thực hiện ít nhất 150 phút / tuần YỚi hoạt động thể dục nhịp điệu trung bình (50-70% nhịp tim tối đa), kéo dài ít nhất 3 ngày/tuần, và không nên quá 2 ngày liên tiếp không tập thể dục [10],[17]

Bộ Y tế Hoa Kỳ khuyến cáo người lớn trên 18 tuổi hoạt động thể lực 150 phút/ tuần với cường độ trung bình, hoặc 75 phút / tuần hoạt động thể dục cường độ mạnh, hoặc sự kết họp tương đương của hai [11]

Khuyến nghị của ADA khuyên rằng người bệnh ĐTĐ type 2 nên duy trì ít nhất 150 phút luyện tập cường độ trung bình (hoặc 90 phút luyện tập cường độ mạnh) mỗi tuần để đạt được lợi ích về kiểm soát đường huyết, hỗ trợ duy trì cân nặng và giảm nguy cơ tim mạch Và người bệnh ĐTĐ được khuyến khích thực hiện 30-60 phút hoạt động cường độ trung bình như đi bộ nhanh (tốt nhất là tất cả) các ngày trong tuần [17]

Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng chỉ cần 30 phút hoạt động thể lực trung bình hàng ngày có thể ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ type 2 [40], [15], [62]

1.2.5 Công cụ đo lường

Có nhiều công cụ khác nhau đã được sử dụng để đo các biến thể hoạt động thể lực: Physical Activity Questionnaire for Diaebetes (PAQ-DP), The Interational Physical Activity Questionnaire (1PAQ), the habituai Physical Activity Questionnaữe (HPAQ), the Physical Activity Questionnaire ( PAQ) và the Global Physical Activity Questionnaire (GPAQ) Tuy nhiên, nghiên cứu này sẽ sử dụng câu hỏi hoạt động thể lực toàn cầu (GPAQ) do WHO (2002) đưa ra, nó giải thích khá rõ ràng để đánh giá hoạt động thể lực của người bệnh Đái tháo đường type 2 Hơn nữa, GPAQ đã được dịch sang Tiếng Việt và sử dụng cho một số nghiên cứu về hoạt động thể lực ở Việt Nam [33], [57], [8], [7]

Câu hỏi về hoạt động thể lực toàn cầu (GPAQ) hỏi về tần số (ngày) và thời gian (phút hoặc giờ) dành cho hoạt động thể lực cường độ trung bình và cường độ mạnh trong ba lĩnh vực hoạt động, bao gồm hoạt động tại nơi làm việc, hoạt động đi lại và hoạt động giải trí

Trang 25

Bảng câu hỏi này có 16 câu với 4 phần, trong đó có ba lĩnh vực trên và một phần của câu 16 đề cập về thời gian dành cho hành vi tĩnh tại Bảng câu hỏi này được tính bằng tổng thời gian dành cho ba lĩnh vực hoạt động, ít nhất 150 phút mỗi tuần Có nghĩa là tổng thời gian dành cho tất cả các hoạt động của mỗi người tham gia sẽ tính theo tổng số phút hoặc giờ trong câu trả lời của các mục 2, 3, 5, 6, 8, 9,

11, 12, 14, 15 Tổng số phút hoặc số giờ cao hon cho thấy hoạt động thể lực có hiệu suất cao và ngược lại

1.3 Thực trạng hoạt động thể lực của ngưòi bệnh ĐTĐ type 2 trên Thế giói và Việt Nam.

Mặc dù hoạt động thể lực đối với người bệnh ĐTĐ type 2 là rất quan trọng trong việc kiểm soát bệnh và đã có nhiều chưomg trình được phát triển trên thế giới nhưng vẫn có một số lượng đáng kể người bệnh ĐTĐ type 2 không thực hiện được hoặc thực hiện không hiệu quả

Một nghiên cứu lớn vào năm 2012 của Hallal mô tả các mức hoạt động thể lực trên toàn thế giới bằng cách sử dụng dữ liệu người lớn từ 122 quốc gia và dữ liệu thanh thiếu niên từ 105 quốc gia Tỷ lệ không hoạt động thể chất ở người lớn là 31,1% (95% CI); từ 17% (95% CI) ở Đông Nam Á đến khoảng 43% ở châu Mỹ và khu vực Đông Địa Trung Hải [31]

Theo nghiên cứu của Shirley Boshale Keakile (2016), có đến 59,6% người bệnh ĐTĐ có hoạt động thể chất thấp; 31,3% không tập thể dục, trong khi chỉ có 9,1% cho biết họ đã luyện tập đầy đủ [37]

Nghiên cứu của Thomas (2004) chỉ ra rằng hoạt động thể chất được thực hiện bởi 34% người bệnh ĐTĐ type 2 và chỉ có 9% trong số những người bệnh này thực hiện đủ để đạt được sự thay đổi lớn về nhịp tim hoặc hít thở [56]

Một nghiên cứu cắt ngang đã được tiến hành để đánh giá mức độ hoạt động thể lực của người bệnh Đái tháo đường type 2 tại Phòng khám Y tế Cheras ở Kuala Lumpur năm 2010 trên tổng số 132 đối tượng (62 nam và 70 nữ) thì có đến 68,1 % người bệnh có hoạt động thể lực thực hiện không đủ theo khuyến cáo [45]

Trang 26

Nghiên cứu của Smith nhằm kiểm tra các mô hình hoạt động thể lực sau sinh

ở những phụ nữ bị ĐTĐ thai kỳ chỉ có 33,6% cho thấy hoạt động thể chất đủ mạnh theo khuyến cáo của cơ quan y tế [54]

Nghiên cứu thực hiện tại Sơn La của Nguyễn Minh Tuấn và cộng sự (2016) nhằm mô tả thực trạng hoạt động thể lực của 246 người bệnh ĐTĐ type 2, cũng đưa

ra kết quả hoạt động thể lực ở mức độ thấp, chưa đạt theo khuyến cáo của WHO là

150 phút/ tuần Mà người bệnh ĐTĐ trung bình chỉ hoạt động thể lực 139phút/ tuần, ứng với 63,8% người bệnh không thực hiện đủ các hoạt động theo khuyến cáo

m

Hay nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Thảo, Nguyễn Thanh Minh (2009) trên

161 người bệnh ĐTĐ đến khám hoặc nằm viện tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định ghi nhận tỉ lệ người bệnh ĐTĐ không tham gia hoạt động thể lực trước truyền thông giáo dục là 83,2 %, và sau truyền thông giáo dục là 59% người bệnh không tham gia hoạt động thể lực [5]

Một nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy một tỷ lệ lớn người lớn không hoạt động thể lực, chỉ có 56,2% (95% CI = 52,1-60,4) ở độ tuổi từ 25-64 đạt được khuyến cáo tối thiểu là "30 phút hoạt động thể lực cường độ trung bình ít nhất

5 ngày mỗi tuần” [57]

Tại Thái Nguyên, theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai Hương khảo sát trên

82 người bệnh Đái tháo đường type 2 cho thấy có đến 84,15 % chưa hoạt động thể lực đủ theo khuyến cáo của WHO là 150 phút/ tuần, chỉ có 15,8 % hoạt động đủ theo khuyến cáo [33]

Kết quả nghiên cứu của Bế Thu Hà (2009), nghiên cứu về thực trạng bệnh Đái tháo đường điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Cạn cho thấy tỷ lệ người bệnh Đái tháo đường không tuân theo khuyến cáo về hoạt động thể lực là 92,4%; trong

đó có đến 67,9 % người bệnh không hề tham gia tập thể dục thể thao, chỉ có 7,5 %

người bệnh thường xuyên tập thể dục thể thao, chủ yếu là cán bộ hưu và một số cán

bộ công chức ở khu vực thị xã [4]

Trang 27

Ngược lại, thực trạng hoạt động thể lực của 246 người bệnh Đái tháo đường type 2 được khảo sát tại Hà Nội trong nghiên cứu của Đỗ Thị Kim Thu (2015) cho thấy hầu hết các đối tượng đều có hoạt động thể lực ở mức trung bình hoặc cao (lần lượt là 66,3% và 22,3%) và chỉ có 11,4% đối tượng có hoạt động thể chất không đầy đủ [8] Hay nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện tại Trung tâm y tế quận

1 TP Hồ Chí Minh nhằm khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành về dự phòng biến chứng Đái tháo đường của người bệnh Đái tháo đường thì 100 % người bệnh cho rằng hoạt động thể lực là cần thiết và có đến 95% người bệnh tập thể dục thường xuyên [6]

1.4 Các yếu tố liên quan đến hoạt động thể lực của người bệnh ĐTĐ type 2.

1.4.1 Kiến thức về hoat đông thể lưc.

Có nhiều nghiên cứu đã tiến hành khảo sát mối quan hệ giữa kiến thức về ĐTĐ và hoạt động thể lực ở người bệnh ĐTĐ type 2 Đa số các nghiên cứu đều đồng ý với quan điểm kiến thức về hoạt động thể lực của người bệnh ĐTĐ có ảnh hưởng tích cực tới việc hoạt động thể lực ở người bệnh ĐTĐ type 2 như kết quả nghiên cứu [24], [55], [32], [7]

Kiến thức về hoạt động thể lực có vai trò quan trọng trong việc thay đổi hành

vi hoạt động thể lực của người lớn mắc bệnh ĐTĐ type 2 hàng tuần (Hays & Clark, 1999), tuy nhiên nhiều tài liệu nghiên cứu cho thấy rằng hầu hết người bệnh đều không biết về lợi ích của tập thể dục và thiếu kiến thức về các biến chứng, thời gian, cường độ và kế hoạch tập thể dục [47]

Theo Martha (2011), có đến 80% người bệnh ĐTĐ bị thiếu nhận thức, kiến thức và kỹ năng thực hành về hoạt động thể lực và lối sống lành mạnh [26]

Một cuộc khảo sát trên 258 người lớn mắc bệnh ĐTĐ type 2 tiến hành tại phòng khám bệnh ĐTĐ ở Hồng Kông cho thấy kiến thức hoạt động thể lực có ảnh hưởng đến mức độ hoạt động thể lực (OR= 1.35; 95% CI: 1.03-1.77; i ,<0.05)[32].Carter và Corwin (2000) cũng đánh giá kiến thức về hoạt động thể lực ở những người bệnh ĐTĐ type 2, chỉ có 38% người tham gia đã biết về các khuyến

Trang 28

cáo tập thể dục hiện tại Stolarczyk và cộng sự (1999) cho thấy chỉ có 37% người tham gia mắc bệnh ĐTĐ biết rằng tập thể dục có thể kiểm soát đường huyết [55].Theo nghiên cứu của Đỗ Thị Kim Thu, đánh giá hoạt động thể lực trên 246 người bệnh ĐTĐ type 2 tại Hà Nội (2015) cho thấy hoạt động thể lực có tương quan đáng kể với kiến thức về hoạt động thể lực (r = 0.31, p <0.01) [8].

Nghiên cứu thực hiện tại Sơn La của Nguyễn Minh Tuấn và cộng sự (2016) nhằm mô tả thực trạng hoạt động thể lực của 246 người bệnh ĐTĐ type 2, cũng đưa

ra kết quả kiến thức có mối liên quan với hoạt động thể lực (p<0.05) [7]

1.4.2 Nhận thức về các rào cản cửa hoạt động thể lực

Các rào cản nhận thức được chia thành 2 loại: rào cản bên trong và rào cản bên ngoài Các rào cản bên trong được phân thành 3 loại: thiếu năng lượng, thiếu động cơ và thiếu hiệu quả Các rào cản bên ngoài cũng được phân thành 3 nhóm: thiếu nguồn lực, thiếu sự hỗ trợ xã hội và thiếu thời gian [13]

Theo nghiên cứu của Arzu (2006), thiếu thời gian là rào cản quan trọng nhất

để không tham gia hoạt động thể chất [13]

Hay theo nghiên cứu của Thomas và cộng sự (2004) cho thấy 34% người bệnh ĐTĐ đã thực hiện hoạt động thể chất và chỉ có 9% người bệnh thực hiện đầy đủ để đạt được sự thay đổi lớn về nhịp tim hoặc thở Những lý do chính không hoạt động bao gồm cảm giác khó khăn khi tham gia tập thể dục, cảm giác mệt mỏi, và bị phân tâm bởi một thứ gì đó tốt trên truyền hình Thiếu thời gian và thiếu cơ sở vật chất địa phương cũng góp phần [56]

Một nghiên cứu với 224 nam giới và 182 phụ nữ ở Vương quốc Anh cho thấy hầu hết các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động thể chất không phân biệt tuổi tác và loại bệnh ĐTĐ, bao gồm khỏ khăn trong nhận thức việc tập luyện (p < 0.0001), mệt mỏi (p <0.0001), thiếu cơ sở tập thể dục (p<0.03), và thiếu thời gian rảnh rỗi (p =0,012)[56] Những rào cản ban đầu đối với người bệnh không hoạt động dưới 60 tuổi bao gồm thiếu cơ sở vật chất tại địa phương (26%), chi phí cơ sở vật chất tập luyện (23%), thiếu thời gian rảnh rỗi (25%) Những bệnh nhản này ít

Trang 29

tập thể dục hơn nếu thòi tiết xấu (56%), nếu họ mệt mỏi (54%), hoặc nếu họ có kế hoạch khác với bạn bè (50%) [56].

Mức độ hoạt động thể chất có liên quan đáng kể đến rào cản nhận thức (p = 0,02), trong số những người bệnh ĐTĐ type 2, cho thấy rào cản nhận thức cao làm tăng nguy cơ gần gấp đôi đối với hoạt động thể chất thấp (OR= 1.66,95% C1 =1.02- 2.71) [9]

Nghiên cứu thực hiện tại Sơn La của Nguyễn Minh Tuấn và cộng sự (2016)nhằm mô tả thực trạng hoạt động thể lực của 246 người bệnh ĐTĐ type 2, cũng đưa

ra kết quả các rào cản có mối liên quan với hoạt động thể lực (p<0.05) [7]

1.4.4 Nhân thức về sư tư tin • • •

Một số nghiên cứu đã tìm hiểu mối quan hệ giữa sự tự tin và hoạt động thể lực

ở người bệnh ĐTĐ type 2 Hầu như các nghiên cứu đều thống nhất vai trò tích cực của yếu tố này đối với hoạt động thể lực Sự tự tin là một yếu tố quyết định quan trọng trong việc tăng cường hoạt động thể lực

Theo nghiên cứu của Adeniyi (2012), mức độ tự tin ở mức thấp được báo cáo

là 87,2% trong số những người ĐTĐ type 2 tham gia, mức độ hoạt động thể chất có liên quan đáng kể (p<0.05) đến mức độ tự tin (p=0.04) [9]

Nghiên cứu trong 355 người bệnh ĐTĐ ở Otarians của Canada cững cho thấy tương quan giữa hoạt động thể lực và sự tự tin (p = 0.009) [28]

Nghiên cứu của M Mishali (2011) đã đưa ra kết quả có sự tương quan dương tính và tích cực của Pearson giữa hoạt động thể lực và sự tự tin của 119 người bệnh ĐTĐ type 2 với r =0.67 (p<0.01) [44]

Và mối quan hệ giữa sự tự tin và hoạt động thể lực của 86 người bệnh ĐTĐ ở

Mỹ cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Dutton (2009) Nghiên cứu này cho rằng hoạt động thể chất có liên quan đến sự gia tăng đáng kể về mức độ tự tin 95%

Trang 30

1.4.5 Hỗ trơ xã hôi • •

Người bệnh ĐTĐ type 2 có hoạt động thể chất thấp một phần vì có thể họ không có sự hỗ trợ xã hội Hỗ trợ xã hội rất quan trọng đối với hoạt động thể lực của người bệnh ĐTĐ type 2 Nó được coi là hữu ích để cải thiện kiểm soát đường huyết và hỗ trợ thay đổi thói quen cuộc sống của người bệnh ĐTĐ [27] Sự hỗ trợ

từ gia đình và bạn bè là phổ biến nhất

Theo nghiên cứu của Adeniyi (2012) tỷ lệ người bệnh ĐTĐ type 2 hoạt động thể lực thấp là cao nhất ở những người có sự hỗ trợ xã hội thấp( 99.8 %/)(OR = 3,95, KTC 95% = 3,13-5,24) Thử nghiệm thống kê cho thấy mức độ hoạt động thể chất có liên quan đáng kể với hỗ ừợ xã hội (p <0,0001) [9]

Một nghiên cứu khác trên 226 phụ nữ bị ĐTĐ thai kỳ tại Sydney của Smith, cho thấy rằng hoạt động thể lực đủ được kết họp với hỗ trợ xã hội cao (OR= 2.5, 95% CI= 1.21-3.79) [54]

Theo nghiên cứu của Kim và cộng sự (2008), hỗ trợ xã hội cho hoạt động thể chất từ bạn bè (r = -0.05, KTC 95% -0.26, 0.16), và hỗ trợ xã hội cho hoạt động thể lực từ gia đình (r= -0.02, KTC 95% -0.12, 0.07) [38]

Theo nghiên cứu của Đỗ Thị Kim Thu, đánh giá hoạt động thể lực trên 246 người bệnh ĐTĐ type 2 tại Hà Nội (2015) cho thấy hoạt động thể lực có tương quan đáng kể với hỗ trợ xã hội (r = 0.70, p <0.001) [8]

Nghiên cứu thực hiện tại Sơn La của Nguyễn Minh Tuấn (2016) cũng đưa ra kết quả hỗ trợ xã hội có mối liên quan với hoạt động thể lực (p<0.05) [7]

Trang 31

1.5 Học thuyết Điều dưỡng

Học thuyết nhận thức xã hội (Social cognitive theoiy) được áp dụng trongnghiên cứu này

Hình 1.1: Mô hình học thuyết nhận thức xã hội (Socỉal cognitive theory)

Dựa trên tóm tắt học thuyết nhận thức xã hội của Bandura

Học thuyết nhận thức xã hội (Social cognitive theory) của Bandura giải thíchhành vi sức khỏe dựa trên sự tương tác lẫn nhau giữa các bộ ba yếu tố cá nhân, môitrường và hành vi Ba yếu tố này có mối quan hệ tác động qua laị chặt chẽ với nhau theo 2 chiều Niềm tin vào bản thân là khái niệm cốt lõi của học thuyết, Bandura đã định nghĩa niềm tin vào bản thân là sự tụ tin của con người vào khả năng của họ để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể ừong một hoàn cảnh cụ thể nào đó

Có nhiều học thuyết được sử dụng để giải thích sự thay đổi về hành vi

Nghiên cứu này sử dụng học thuyết nhận thức xã hội (Social cognitive theory) của Bandura là thích hợp Lý do vì hoạt động thể lực là một quá trình trong đó người bệnh hàng ngày phải cố gắng để đưa ra các quyết định để làm thế nào có thể thay đổi tình trạng bệnh ĐTĐ của họ Đó là một quá trình thay đổi hành vi về hoạt động thể lực Như vậy, yếu tố cá nhân bao gồm kiến thức về hoạt động thể lực cho bệnh ĐTĐ, nhận thức các rào cản, nhận thức sự tự tin của bản thân, yếu tố môi trường là

hỗ trợ xã hội và hành vi là hoạt động thể lực Người nghiên cứu có thể dựa trên mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa ba yếu tố cá nhân, môi trường và hành vi trong học thuyết này để giải thích những yếu tố liến quan và mối quan hệ giữa chúng

Học thuyết cũng nhấn mạnh yếu tố nhận thức về sự tự tin của bản thân để giải thích hành vi hoạt động thể lực, từ đó có thể giúp xây dựng những chiến lược can thiệp để cải thiện hoạt động thể lực của người bệnh trong tương lai

Trang 32

Nghiên cứu đưa ra khung lý thuyết như sau :

Hình 1.2: khung lý thuyết 1.6 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu

Thành phố Đà Nang: là một thành phố trực thuộc trung ương, nằm trong vùng Nam Trung Bộ, Việt Nam Tổng diện tích là 1285,4 km2 Đà Nang là một thành phố lớn, là trung tâm kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ lớn nhất của khu vực miền Trung - Tây Nguyên

Thành phố Đà Nằng có 69 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sở Y tế thành phố, bao gồm 12 Bệnh viện, 1 Bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng và 56 trạm y tế

Trung tâm Y tế quận Hải Châu là một đơn vị sự nghiệp y tế, có nhiệm vụ khám chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn quận và các quận lân cận thành phố Đà Nang với quy mô 400 giường bệnh

Khoa khám bệnh làm việc từ thứ 2 đến thứ 6, sáng từ 7:00 - 11:00 và chiều từ 13:00 - 17:00 Phòng khảm nội tiết gồm 1 Bác sĩ và 1 điều dưỡng

Theo số liệu báo cáo của Trung tâm y tế quận Hải Châu, trong năm 2017 có 19.972 người bệnh Đái tháo đường type 2 đến khám và điều trị ngoại trú, trung bình mỗi ngày có 55 người bệnh Đái tháo đường type 2 đến khám tại Trung tâm y tế Quận Hải Châu

Chương 2

Trang 33

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Tiêu chuẩn lưa chon• •

Người bệnh được chẩn đoán là ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y

tế Quận Hải Châu - thành phố Đà Nằng đáp ứng được những tiêu chuẩn sau:

- Những người đã đăng ký điều trị ngoại trú tại khoa Khám bệnh của Trung tâm Y tế Quận Hải Châu

- Có thể giao tiếp bình thường

- Không có rối loạn về khả năng nhận thức

- Đã được chẩn đoán mắc ĐTĐ type 2 ít nhất 6 tháng

- Độ tuổi từ 20 trở lên

- Tự nguyện và sẵn sàng tham gia vào nghiên cứu

2.1.2 Tiêu chuẩn loai trừ

- Người bệnh đang ở tình ừạng cấp cứu: phù phổi cấp, suy hô hấp

- Người bệnh mắc các bệnh hạn chế hoạt động thể lực hoặc các bệnh nghiêm trọng như: viêm khớp, cắt cụt chi, loét bàn chân, suy tim, suy thận, liệt hay gãy xương

2.2 Thòi gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12/2018 đến tháng 9/2018

- Thời gian thu thập số liệu: Từ tháng 3/2018 đến tháng 6/2018

- Địa điểm: Tại Khoa khám bệnh, Trung tâm Y tế Quận Hải Châu, 33 Cao Thắng, quận Hải Châu, thành phố Đà Nang

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang

Trang 34

2.4 Mẩu và phương pháp chọn mẫu

- Vì người bệnh ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú đến khám định kỳ hàng tháng, nên để tránh chọn 2 lần 1 người bệnh, việc tiến hành phỏng vấn được diễn ra trong vòng khoảng 1 tháng Các điều tra viên trực hàng ngày tại Phòng Khám Nội tiết- khoa Khám bệnh và lựa chọn người bệnh có đủ tiêu chuẩn để thu thập số liệu trong khi người bệnh chờ đến lượt khám, chờ kết quả xét nghiệm hoặc sau khi Bác sĩ khám Đe đạt được tiêu chí chọn mẫu trên, và để duy trì chất lượng thu thập dữ liệu, trong 1 ngày thu thập được khoảng 9-10 đối tượng nghiên cứu

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

Việc thu thập số liệu được thực hiện qua các bước:

Bước 1: Thử nghiệm và hoàn thiện bộ công cụ nghiên cứu

Điều tra thử trên 30 người bệnh Đái tháo đường type 2 đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu để xác định độ tin cậy và những người này không được chọn lại vào mẫu nghiên cứu Các câu hỏi được điều chỉnh lại để phù họp với đối tượng nghiên cứu, sau đó in ấn phục vụ cho điều tra

Bước 2: Tập huấn công tác điều tra

Điều tra viên gồm người làm nghiên cứu và 3 cộng tác viên, là 3 giảng viên khoa điều dưỡng - Trường Đại học Duy Tân Người làm nghiên cứu tập huấn về

Trang 35

mục đích của cuộc điều tra, nội dung các câu hỏi phỏng vấn, kỹ năng phỏng vấn, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp với người bệnh.

Bước 3: Tiến hành điều tra

Các điều tra viên đến tại phòng khám nội tiết, lựa chọn người bệnh Đái tháo đường type 2 đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu; tiến hành phỏng vấn khi người bệnh chờ đến lượt khám, hoặc chờ kết quả xét nghiệm hay sau khi Bác sĩ khám bệnh.Những đối tượng đủ tiêu chuẩn sẽ được giới thiệu mục tiêu, nội dung, phương pháp và quyền lợi của người tham gia nghiên cứu Nếu đồng ý tham gia nghiên cứu thì ký vào bản đồng thuận (phụ lục 1) và được hướng dẫn trả lời các câu hỏi trong

bộ câu hỏi (phụ lục 2)

Người bệnh trả lời toàn bộ câu hỏi mất khoảng 20-25 phút Các điều tra viên ghi chép cần thận , đầy đủ Sau khi hoàn thành, phiếu điều tra sẽ được kiểm tra lại toàn bộ thông tin để ừánh bỏ sót các thông tin

Bước 4: Giám sát điều tra

Người nghiên cứu trực tiếp hướng dẫn, theo dõi việc lấy số liệu, giám sát hỗ trợ giải quyết các thắc mắc và kiểm tra số liệu sau mỗi buổi phỏng vấn để tránh bỏ sót thông tin

2.6 Các biến sổ nghiên cứu

Nội dung chi tiết các biến nghiên cứu ở phụ lục 3

2.7 Các khái niệm, thang đo, tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá

2.7.1 Bộ câu hỏi về đặc điểm nhân khẩu học

Trang 36

Được phát triển bởi nhà nghiên cứu bao gồm: Tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thời gian mắc bệnh, chỉ số HbAlC, các biến chứng, loại hình tụ chăm sóc.

2.7.2 Bộ câu hỏi về hoạt động thể lực (GPAQ)

Hoạt động thể lực là bất kỳ chuyển động cơ thể của người bệnh ĐTĐ type 2 tạo ra bởi các hệ cơ chi tiêu năng lượng với cường độ trung bình hoặc mạnh và hoạt động của nó ít nhất 10 phút liên tục

Biến này được đánh giá bằng thang đo The Global Physical Activity Questionnaừe (GPAQ) của WHO (2002) [61], hỏi về thời gian chi tiêu trong hoạt động thể lực mỗi tuần

Bảng câu hỏi này có 16 câu, được chia thành 4 phần: Phầnl: Hoạt động tại nơi làm việc (B1-B6); Phần 2: Hoạt động đi lại (B7 -B9); Phần 3: Hoạt động giải trí (B10 - B 15); Phần 4: Hoạt động tĩnh tại (B16)

Hoạt động thể lực được đánh giá sau khi tính tổng thời gian dành cho hoạt động thể lực kết hợp của mục 2, 3, 5, 6, 8, 9, 11, 12, 14, 15 trong một tuần

Theo khuyến cáo của WHO thì trong một tuần điển hình, bao gồm cả hoạt động trong công việc, đi lại, vui chơi giải trí, một người trưởng thành cần có ít nhất:+ 150 phút hoạt động thể lực ở cường độ trung bình

+ 75 phút hoạt động thể lực ở cường độ mạnh

+ Hoạt động thể lực kết họp cường độ trung bình và cường độ mạnh đạt ít nhất 600MET- phút

Cách đánh giá:

- Hoạt động thể lực đủ: thời gian hoạt động thể lực đủ theo khuyến cáo

- Hoạt động thể lực không đủ: thời gian hoạt động thể lực không đủ theo khuyến cáo

Trang 37

2.7.3 Bộ câu hỏi về kiến thức hoạt động thể lực (KPAQ)

Kiến thức hoạt động thể lực có thể được hiểu là kiến thức người bệnh biết được về hoạt động thể lực như: thông tin chung, lợi ích hoạt động thể lực, mức độ hoạt động thể lực, thời gian hoạt động thể lực, nguy hiểm trong hoạt động thể lực.Biến này được đánh giá bằng thang đo The Knowledge of Physical Activity Questionnaừe (KPAQ) được phát triển bởi Nguyễn Thị Mai Hương (2014) [33], hỏi người bệnh về kiến thức cơ bản liên quan đến HĐTL ở người bệnh ĐTĐ type 2.Bảng câu hỏi bao gồm 4 phần có 22 câu: Phần 1: Lợi ích của việc hoạt động thể dục đều đặn (Bl- B5); Phần 2: Mức độ hoạt động thể lực ( B6 - BI 1); Phần 3: Thời gian thích hợp của hoạt động thể lực (B12- B16); Phần 4: Tránh sự nguy hiểm trong hoạt động thể lực (BI7- B22)

Câu trả lời là các câu trả lời "Đúng," "Sai," hoặc "Không biết" Mỗi câu trả lời

đúng được 1 điểm, 0 điểm nếu trả lời không đúng hoặc không biết Tất cả các câu đều có đáp án là ĐÚNG, ngoại trừ các câu 8, 10, 13, 14, 15, 16, 18, 20, 21 có đáp

án là SAI

Cách đánh giá: Khoảng điểm từ 0-22 điểm Điểm càng cao thì kiến thức về hoạt động thể lực của người bệnh ĐTĐ càng cao

2.7.4 Bộ câu hỏi về nhận thức các rào cản(EBS)

Nhận thức các rào cản là nhận thức của người bệnh về địa điểm, thời gian và công việc có ảnh hưởng đến hoạt động thể lực của người bệnh ĐTĐ type 2

Biến này được đánh giá bằng thang đo The Exercise Barriers Scale (EBS) của Pender và cộng sự (1987), bao gồm các câu hỏi được đánh số 4, 6, 9, 12, 14, 16, 19,

21, 24, 28, 33, 37, 40 và 42, hỏi về nhận thức của cá nhân liên quan đến các rào cản khi họ tham gia hoạt động thể lực [52] Thang đo đã được dịch sang Tiếng Việt và

sử dụng trong nghiên cứu trước [33]

Bảng câu hỏi bao gồm 14 câu Mỗi câu có thang điểm 4 điểm: 1= hoàn toàn

không đồng ỷ, 2 = không đồng ỷ, 3 = đồng ỷ, và 4 = hoàn toàn đồng ỷ.

Cách đánh giá: Khoảng điểm tính từ 14 - 56 điểm Điểm càng cao thì nhận thức về rào cản hoạt động thể lực của người bệnh ĐTĐ càng cao

Trang 38

2.7.5 Bộ câu hỏi về nhận thức sự tự tin (ESES)

Nhận thức sự tự tin là nhận thức của người bệnh về sự tự tin khi tham gia hoạtđộng thể lực

Biến này được đánh giá bằng thang đo The Exercise Self-Efficacy Scale (ESES) của Bandura (1997) [14], hỏi nhận thức của người bệnh về mức độ tự tin để thực hiện hoạt động thể lực Thang đo này đã được dịch sang Tiếng Việt và sử dụng trong nghiên cứu trước [33]

Bảng câu hỏi bao gồm 18 câu, mỗi câu có thang điểm 100, trong khoảng 10 đơn vị từ 0 đến 100

Cách đánh giá: Điểm càng cao thì niềm tin vào bản thân để thực hiện hoạt động thể lực của người bệnh ĐTĐ càng cao

2.7.6 Bộ câu hỏi về hỗ trợ xã hội (SSEQ)

Hỗ trợ xã hội là sự khích lệ, động viên và hỗ trợ của gia đình, bạn bè để những người bệnh ĐTĐ type 2 thực hiện hành vi hoạt động thể lực

Biến này được đánh giá bằng thang đo The Social Support for Exercise Questionnaữe (SSEQ) của Sallis và cộng sự (1987) [51], nghiên cứu này chỉ sử dụng hỗ trợ xã hội cho quy mô khảo sát việc tập thể dục, có 10 mục (số 11, 12, 13,

14, 15, 16, 20, 21, 22, 23); hỏi về sự hỗ trợ của gia đình và bạn bè để hỗ trợ vật chất/ tinh thần liên quan đến hoạt động thể dục thường xuyên Thang đo đã được dịch sang Tiếng Việt và sử dụng trong nghiên cứu tại Thái Nguyên 2014 [33]

Bảng câu hỏi bao gồm 20 câu Mỗi câu có thang điểm 5 điểm, từ 1= không bao giờ, 2 = hiếm khi, 3 = thỉnh thoảng, và 4 = thường xuyên, 5= rất thường xuyên, bao gồm 2 phần: hỗ ừợ từ gia đình (1- 10), hỗ trợ từ bạn bè (1- 10)

Cách đánh giá: Điểm số càng cao thì hỗ trợ xã hội (hỗ trợ từ gia đình - hỗ trợ

từ bạn bè) cho người bệnh ĐTĐ để thực hiện hoạt động thể lực càng cao

Trang 39

2 7.7 Độ tin cậy và giá trị hiệu lực

Bảng 2.1: Độ tin cậy của bộ công cụ

Độ tin cậy của nghiên cứu trước (cronbach’s Alpha)

Độ tin cậy nghiên cứu hiện tại (cronbach’s Alpha

Kiến thức

về HĐTL

The Knowledge of Physical Activity Questionnaire (KPAQ)

The Exercise Self-

2.8 Phưong pháp phân tích sổ liệu

- Nhập liệu: toàn bộ số liệu sau khi thu thập được mã hóa và nhập vào máy tính bằng phần mềm SPSS 16.0

- Làm sạch số liệu: Trong quá trình nhập, các số liệu liên tục được kiểm tea Sau khi nhập số liệu, số liệu cần làm sạch bằng cách dùng các bảng tần số để phát hiện số liệu lạ, dùng lệnh lọc và tìm kiếm để điều chỉnh

- Phân tích số liệu: bằng phần mềm SPSS 16.0

- Kỹ thuật thống kê:

+ Thống kê mô tả: bằng tỷ lệ %, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn

Trang 40

+ Thống kê phân tích: xác định mối liên quan giữa một số yếu tố và hoạt động thể lực được kiểm định bằng test X2, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đánh giá ở ngưỡng xác suất p<0.05.

2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

Nghiên cứu sau khi được thông qua ở hội đồng thẩm định đề cương Trường Đại học điều dưỡng Nam Định, phải được sự đồng ý nghiên cứu của Hội đồng đạo đức của trường Đại học điều dưỡng Nam Định

Phải được sự giới thiệu của trường Đại học điều dưỡng Nam Định và sự cho phép của ban lãnh đạo Trung tâm Y tế Quận Hải Châu trước khi thu thập số liệu tại bệnh viện

Mọi thông tin của đối tượng nghiên cứu chỉ nhằm mục đích nghiên cứu chứ không nhằm mục đích nào khác, đảm bảo tính riêng tư và quyền được từ chối tham gia phỏng vấn của đối tượng nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu không gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho những người bệnh ĐTĐ type 2 có thêm kiến thức về hoạt động thể lực Đối với nhân viên Y tế có thể áp dụng kết quả nghiên cứu để cung cấp kiến thức về hoạt động thể lực cho người bệnh và huớng dẫn cho người bệnh hoạt động thể lực cho phù họp

2.10 Sai số và biện pháp khắc phục

Sai số:

- Đối tượng không hiểu rõ yêu cầu của phiếu điều tra

- Đối tượng nghiên cứu bỏ sót các thông tin cần khảo sát trong phiếu điều tra Biện pháp khắc phục:

- Điều tra viên tiếp xúc và tìm hiểu về địa bàn trước khi tiến hành điều tra

- Nghiên cứu viên tiến hành tập huấn kỹ cho 2 điều tra viên khác

- Nghiên cứu viên giải thích những thông tin trong phiếu điều tra nếu người bệnh không hiểu rõ

Ngày đăng: 10/03/2021, 16:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w