Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nêu trên, đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh lý hạt giống và kỹ thuật tạo cây con Bời lời vàng Litsea pierrei Lecomte phục vụ trồng rừng cung cấp gỗ lớn” đặ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NÔNG VĂN TRÃI
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ HẠT GIỐNG VÀ KỸ THUẬT TẠO CÂY CON BỜI LỜI VÀNG (Litsea pierrei Lecomte)
PHỤC VỤ TRỒNG RỪNG CUNG CẤP GỖ LỚN
LUẬN VĂN THẠC SỸ LÂM NGHIỆP
Thái Nguyên - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
NÔNG VĂN TRÃI
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ HẠT GIỐNG VÀ KỸ THUẬT TẠO CÂY CON BỜI LỜI VÀNG (Litsea pierrei Lecomte)
PHỤC VỤ TRỒNG RỪNG CUNG CẤP GỖ LỚN
NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 8.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1 TS Nguyễn Văn Thái
2 GS.TS Võ Đại Hải
Thái Nguyên - 2020
Trang 3về sự giúp đỡ có hiệu quả đó
Trước tiên, tác giả xin đặc biệt cảm ơn TS Nguyễn Văn Thái và GS.TS Võ Đại Hải - người hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tác giả xin tỏ lòng cám ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu nhà trường, Phòng Đào tạo Sau Đại học - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Hạt Kiểm lâm huyện Thạch
An tỉnh Cao Bằng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập cũng như hoàn thành bản luận văn thạc sỹ
Xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đồng Nai, Trung tâm nghiên cứu Thực nghiệm Lâm nghiệp Đông Nam Bộ - Viện Khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ, dặc biệt là NCS Nguyễn Anh Tuấn đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong việc thu thập số liệu ngoại nghiệp để thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, 2020
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Trên thế giới 3
1.1.1 Nghiên cứu trồng rừng cây bản địa 3
1.1.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh lý hạt giống và kỹ thuật tạo cây con 6
1.1.3 Nghiên cứu về cây Bời lời vàng 8
1.2 Ở Việt Nam 12
1.2.1 Nghiên cứu trồng rừng cây bản địa 12
1.2.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh lý hạt giống và kỹ thuật tạo cây con 14
1.2.3 Nghiên cứu về cây Bời lời vàng 17
1.3 Nhận xét và đánh giá chung 22
Chương 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 23
2.1.1 Mục tiêu chung 23
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 23
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu: 23
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu: 23
2.3 Nội dung nghiên cứu 23
2.4 Phương pháp nghiên cứu 24
2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 24
2.4.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái Bời lời vàng 24
2.4.3 Phương pháp điều tra, tổng kết các biện pháp kỹ thuật gieo ươm Bời lời vàng đã có 24
2.4.4 Nghiên cứu đặc điểm sinh lý hạt giống Bời lời vàng 25
2.4.5 Phương pháp nghiên cứu các biện pháp bảo quản hạt Bời lời vàng 27
2.4.6 Phương pháp nghiên cứu xử lý hạt Bời lời vàng trước khi gieo 27
Trang 52.4.7 Phương pháp nghiên cứu thành phần ruột bầu cho Bời lời vàng 27
2.4.8 Nghiên cứu chế độ che sáng cây con Bời lời vàng trong giai đoạn vườn ươm 28
2.4.9 Phương pháp nghiên cứu giâm hom Bời lời vàng 28
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái Bời lời vàng 31
3.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh lý Bời lời vàng 34
3.2.1 Kích thước quả và hạt giống Bời lời vàng 34
3.2.2 Khối lượng 1000 quả và 1000 hạt Bời lời vàng 36
3.2.3 Ảnh hưởng của các phương pháp xử lý hạt đến tỷ lệ nảy mầm của hạt giống 38
3.3 Tổng kết các biện pháp kỹ thuật gieo ươm Bời lời vàng 40
3.4 Nghiên cứu kỹ thuật tạo cây con từ hạt 45
3.4.1 Nghiên cứu kỹ thuật bảo quản hạt giống Bời lời vàng 45
3.4.3 Ảnh hưởng của che sáng đến sinh trưởng cây con giai đoạn vườn ươm 51
3.5 Nghiên cứu kỹ thuật tạo cây con Bời lời vàng bằng hom 54
3.5.1 Ảnh hưởng của giá thể tới khả năng ra rễ của hom 54
3.5.2 Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng và nồng độ đến khả năng ra rễ 56
3.5.3 Ảnh hưởng của thời gian xử lý thuốc kích thích tới khả năng ra rễ 58
3.5.4 Ảnh hưởng của tuổi cây mẹ lấy hom tới khả năng ra rễ của hom 59
3.5.5 Ảnh hưởng của thời vụ giâm hom tới tỉ lệ ra rễ 60
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 62
1 KẾT LUẬN 62
2 TỒN TẠI 63
3 KIẾN NGHỊ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Các công thức giâm hom Bời lời vàng 29
Bảng 3.1: Kích thước quả Bời lời vàng 34
Bảng 3.2: Kích thước hạt Bời lời vàng 35
Bảng 3.3: Khối lượng 1000 quả và 1000 hạt Bời lời vàng 36
Bảng 3.4: Hàm lượng nước trong hạt Bời lời vàng 37
Bảng 3.5: Số lượng hạt nảy mầm qua thời gian theo dõi 38
Bảng 3.6: Tỷ lệ nảy mầm của hạt giống 38
Bảng 3.7: Tỷ lệ nảy mầm của hạt giống theo thời gian bảo quản 45
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng cây con 49
Bảng 3.9: Bảng xếp hạng Duncan về hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng cây con 50
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của che sáng đến sinh trưởng cây con 52
Bảng 3.11: Bảng xếp hạng sinh trưởng cây con ở thí nghiệm che sáng 53
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của giá thể tới khả năng ra rễ của hom Bời lời vàng 54
Bảng 3.13 Ảnh hưởng của chất kích thích và nồng độ đến khả năng ra rễ của hom Bời lời vàng sau 90 ngày 56
Bảng 3.14: Ảnh hưởng của thời gian xử lý thuốc kích thích đến khả năng ra rễ của hom Bời lời vàng 58
Bảng 3.15 Ảnh hưởng của tuổi cây mẹ tới các chỉ số ra rễ của hom sau 90 ngày 59
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của thời vụ giâm hom tới khả năng ra rễ sau 90 ngày 61
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Cành mang quả của Bời lời vàng A Nhánh đang hình thành quả; B Nhánh
đang ra hoa với các nụ 9
Hình 1.2: Bản đồ địa điểm mẫu tiêu bản của Bời lời vàng 11
Hình 3.1: Thân cây Bời lời vàng được cắt ngắn 31
Hình 3.2: Cành Bời lời vàng mang quả 32
Hình 3.3: Quả Bời lời vàng chín 33
Hình 3.4: Bời lời vàng tái sinh dưới tán rừng 33
Hình 3.5: Quả Bời lời vàng 34
Hình 3.6: Đo kích thước hạt và quả Bời lời vàng 35
Hình 3.7: Tỷ lệ nảy mầm của hạt Bời lời vàng 39
Hình 3.8: Hạt Bời lời vàng và hạt đang nảy mầm 43
Hình 3.9: Cây con Bời lời vàng đến tuổi xuất vườn 45
Hình 3.10: Tỷ lệ nảy mầm của hạt Bời lời vàng theo thời gian bảo quản 47
Hình 3.11: Hạt giống Bời lời vàng chuẩn bị cho thí nghiệm bảo quản 48
Hình 3.12: Biểu đồ sinh trưởng D00 (trái) và Hvn (phải) cây con Bời lời 6 tháng tuổi 50 Hình 3.13: Đo sinh trưởng chiều cao Bời lời vàng 51
Hình 3.14: Biểu đồ sinh trưởng D00 Bời lời vàng 6 tháng tuổi 54
Hình 3.15: Biểu đồ sinh trưởng Hvn Bời lời vàng 6 tháng tuổi 54
Hình 3.16: Giâm hom Bời lời vàng trên giá thể cát sạch 55
Hình 3.17: Hom giâm Bời lời vàng ra rễ 55
Hình 3.18: Ảnh hưởng của chất kích thích và nồng độ tới khả năng ra rễ của hom Bời lời vàng 58
Hình 3.19: Đo chiều dài rễ Bời lời vàng 60
Hình 3.20: Hom giâm Bời lời vàng sử dụng NAA - 3.000 ppm 61
Hình 3.21: Hom giâm Bời lời vàng không sử dụng chất kích thích ra rễ 61
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây ngành Lâm nghiệp Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất đáng kể, thể hiện ở 4 kết quả chính như sau: i) tốc độ tăng trưởng của ngành liên tục tăng qua các năm: giai đoạn 2012-2018 tốc độ tăng trung bình 6,04%; ii) kim ngạch xuất khẩu gỗ và đồ gỗ có tốc độ tăng trưởng trung bình 15%/năm, năm 2019 đạt 11,3 tỷ USD; iii) Từ 2002-2018, diện tích rừng trồng ở nước ta liên tục tăng, trung bình mỗi năm tăng 148.000 ha/năm); iv) Chính sách chỉ trả dịch vụ môi trường rừng
đã tạo thêm nguồn lực mới cho ngành, giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn vốn của nhà nước, hàng năm nguồn vốn này thu được trung bình 1.200 tỷ đồng, năm 2019 đạt gần 3.000 tỷ đồng
Mặc dù đã đạt được những thành tựu trên, ngành Lâm nghiệp vẫn còn rất nhiều các thách thức đã và đang đặt ra cần giải quyết, đó là diện tích rừng trồng tuy tăng nhanh nhưng chủ yếu là kinh doanh gỗ nhỏ, chủ yếu sản xuất dăm xuất khẩu với giá trị thấp Năm 2014-2015 mỗi năm chúng ta khai thác 13 triệu m3 gỗ rừng trồng cho sản xuất dăm và phải nhập khoảng 4 triệu m3 gỗ lớn có chứng chỉ từ nước ngoài để phục
vụ chế biến đồ mộc xuất khẩu Trong khi đó, diện tích rừng trồng quy hoạch cho phát triển kinh doanh rừng cung cấp gỗ lớn còn rất hạn chế
Để khắc phục những tồn tại nêu trên, ngày 10/6/2013 Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành quyết định số 899/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, trong đó đã
xác định: “Phát triển lâm nghiệp nhằm tăng giá trị kinh tế ngành và tăng năng lực,
hiệu lực bảo vệ môi trường rừng, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu Phấn đấu đến năm 2020 đạt cơ cấu kinh tế ngành là: 25% giá trị dịch vụ môi trường rừng, 25% giá trị sản xuất lâm sinh và 50% giá trị công nghiệp chế biến Để thực hiện mục tiêu đề
án, cần: Tập trung phát triển và tăng tỷ lệ rừng kinh tế trong tổng diện tích rừng của
cả nước, nâng cao hiệu quả kinh tế rừng trồng theo hướng phát triển đa chức năng, chuyển đổi cơ cấu sản phẩm từ khai thác gỗ non xuất khẩu dăm gỗ sang khai thác gỗ lớn nhằm tạo vùng nguyên liệu tập trung, cung cấp gỗ cho công nghiệp chế biến đồ gỗ xuất khẩu, giảm dần nhập khẩu gỗ nguyên liệu
Trang 10Để triển khai có hiệu quả Quyết định 899/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ,
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành một loạt các văn bản quan trọng như: Quyết định số 1656/QĐ-BNN-TCLN ngày 08/7/2013 về phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp; Quyết định 774/QĐ-BNN-TCLN ngày 18/4/2014 về phê duyệt
kế hoạch hành động nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng sản xuất giai đoạn 2014-2020; Quyết định 986/QĐ-BNN-KHCN ngày 9/5/2014 về ban hành Kế hoạch thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng KHCN phục vụ tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững Theo đó, những nhiệm vụ trọng tâm là: Tập trung xây dựng 3,84 triệu ha rừng trồng sản xuất, trong đó có 2,4 triệu ha rừng trồng hiện có và 1,35 triệu ha rừng trồng mới; Nâng cao chất lượng rừng
để đạt sản lượng gỗ thương phẩm bằng 80% trữ lượng, trong đó 40% gỗ lớn và 60%
gỗ nhỏ; Đưa tỷ lệ giống cây trồng lâm nghiệp mới được công nhận vào sản suất lên 70% vào năm 2020, đảm bảo cung cấp đủ giống có chất lượng, góp phần đưa năng suất rừng trồng tăng 20% vào năm 2020 so với năm 2011
Bời lời vàng (Litsea pierrei Lecomte) thuộc họ Long não (Lauraceae) là loài cây
lá rộng, bản địa, gỗ lớn, có phân bố rộng ở Việt Nam, thường mọc trong các rừng thứ sinh ẩm Gỗ có giác lõi phân biệt: lõi màu nâu vàng, dác màu trắng, thớ gỗ mịn, nhẹ, được dùng đóng đồ mộc thông dụng, làm trụ mỏ, làm nguyên liệu giấy Là loài cây sinh trưởng nhanh, tái sinh mạnh nên rất có tiềm năng để phát triển trồng rừng gỗ lớn
và phục hồi rừng ở nước ta Tuy nhiên, những nghiên cứu về loài cây này còn rất ít, đặc biệt là các nghiên cứu về đặc điểm sinh lý hạt giống và tạo cây con, do đó thiếu các
cơ sở khoa học cho phát triển loài cây này Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nêu trên, đề
tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh lý hạt giống và kỹ thuật tạo cây con Bời lời vàng
(Litsea pierrei Lecomte) phục vụ trồng rừng cung cấp gỗ lớn” đặt ra là rất cần thiết,
vừa có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trang 11Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới
Việc gây trồng các loài cây bản địa đã được quan tâm khá sớm ở một số nước nhiệt đới như Thái Lan, Indonesia, Myanmar, Philippines… nhưng các phương thức
áp dụng cũng chỉ tập trung nhiều vào mục đích làm giàu, phục hồi rừng tự nhiên hoặc trồng cây phân tán với các loài họ Dầu như Sao đen, Dầu rái, Vên vên, …
- Philippines là một trong những nước tiên phong của việc quản lý và trồng các loài cây họ Sao Dầu và đã có một chương trình nghiên cứu phát triển phối hợp với mục tiêu tìm hiểu về sự tái sinh của họ Sao Dầu Các trung tâm và các trạm nghiên cứu theo vùng đã được thiết lập để nghiên cứu các biện pháp hữu hiệu về việc bảo vệ, tái sinh
và việc tác động vào rừng tự nhiên các cây họ Sao Dầu Sự tái sinh nhân tạo dựa trên các nguyên lý của sự thừa kế tự nhiên được xem là một sự lựa chọn cho sự tái sinh có hiệu quả của loài cây này (Polliseo và Natividad, 1989)
- Ở Indonesia có những rừng trồng khảo nghiệm trưởng thành của các cây họ Sao Dầu trong nhiều địa phương khác nhau (Smits và Daud Leppe, 1992) Những rừng trồng họ Sao Dầu quy mô lớn đã được trồng trong các năm gần đây bởi các lâm trường thuộc Nhà nước và chúng đang đạt tăng trưởng đường kính bình quân hàng năm lên tới
2 cm Việc trồng thâm canh cây họ Sao Dầu cũng đã được đảm trách bởi tập đoàn lâm nghiệp tư nhân, một số loài cây họ Sao Dầu 19 năm tuổi trồng trên đất phù sa đã đạt tăng trưởng đường kính bình quân hàng năm 3 cm, có thân thẳng rất đẹp và có thể sử dụng với mục đích gỗ dán (Smiths, 1993)
- Ở Srilanka, sự tái sinh nhân tạo của các loài cây họ Sao Dầu hiện nay được tiến hành ở các vùng ẩm ướt và trung bình, chúng đã được chọn lọc qua các khảo nghiệm về loài từ 5-10 năm (Vivelcanandan, 1989)
- Ở Bangladesh các rừng vùng đồi đã được quản lý kinh doanh theo phương thức khai thác trắng sau đó trồng lại rừng theo phương thức gần với tái sinh tự nhiên của các loài cây gỗ, đặc biệt là các loài họ Sao Dầu (Md Fazlul Huq và Ratan Lal Banik, 1992) Việc trồng loài cây họ Sao Dầu theo phương thức Taungya đã được thực hiện
từ năm 1856 và các loài được chọn trồng chính hiện nay là Sao đen (Hopea odorata)
Trang 12và Dầu con quay (Dipterocarpus turbinatus) mà năng suất tăng trưởng bình quân hành
năm đạt 8.42 m3/ha/năm ở luân kỳ 40 năm
- Ở Malaysia, theo Forestry Department Peninsula năm 1999 trong dự án xây dựng rừng nhiều tầng đã giới thiệu cách thiết lập mô hình trồng rừng hỗn loại trên 3
đối tượng: rừng tự nhiên, rừng Acacia mangium 10 - 15 tuổi và 2 - 3 tuổi Dự án đã sử
dụng 23 loài cây bản địa có giá trị, trồng theo mở băng rộng 30m trong rừng tự nhiên,
trồng 6 hàng cây Trong rừng Acacia mangium mở băng 10m trồng 3 hàng cây, băng
20m trồng 7 hàng cây, băng 40m trồng 15 hàng cây với 14 loài Khối B chặt 1 hàng keo trồng 1 hàng , chặt 2 hàng trồng 2 hàng, chặt 4 hàng trồng 4 hàng,… Trồng 3 loài sau khi chặt 5 năm, trồng 7 loài sau khi chặt 7 năm Trong 14 loài cây trồng trong khối
A, có 3 loài S roxburrghii, S ovalis, S leprosula sinh trưởng chiều cao và đường kính
tốt nhất Tỷ lệ sống không khác biệt, sinh trưởng chiều cao cây trồng tốt ở băng 10m
và băng 40m Băng 20m không thoả mãn điều kiện sinh trưởng chiều cao Khối B có
tỷ lệ sống, sinh trưởng chiều cao tốt khi trồng 1 hàng; sinh trưởng đường kính tốt cho công thức trồng 6 và 16 hàng Có thể thấy rằng, công trình nghiên cứu được các tác giả thực hiện khá công phu với nhiều dạng công thức thí nghiệm và thời gian theo dõi khác nhau nhằm đánh giá tỷ lệ sống và khả năng sinh trưởng của các loài cây bản địa để tìm
ra công thức tốt nhất Tuy nhiên, nghiên cứu cũng mới chỉ dựa trên việc bố trí các loài một cách ngẫu nhiên, chưa căn cứ dựa trên những hiểu biết về đặc điểm sinh học của các loài Ngoài ra, nghiên cứu cũng chưa chỉ ra được những tác động về kỹ thuật để điều chỉnh không gian sống của các loài theo từng giai đoạn phát triển
Những nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật điều chỉnh các lâm phần rừng
trồng hỗn loài theo quá trình sinh trưởng các tác giả JB Ball, Wormald và Russo (1994)
đã tác động vào các lâm phần rừng trồng hỗn loài thông qua việc giảm bớt sự cạnh tranh giữa các loài cây Kết quả cho thấy sau khi tác động các biện pháp tỉa cành, tỉa thưa các loài cây mục đích đã được tạo điều kiện thuận lợi để sinh trưởng phát triển tốt hơn
Liễu sam (Crytomeria japonica) là một trong những loài cây bản địa của Nhật
Bản, nó được trồng bằng cây hom từ thế kỷ XV Vào năm 1987, Nhật Bản đã sản xuất được 49 triệu cây hom loài cây này phục vụ trồng rừng Bằng phương pháp vòng chọn
Trang 13lọc liên tục lặp lại từ khâu khảo nghiệm, chọn lọc, kết quả gây trồng và tiếp tục chọn lọc, cho tới nay Nhật Bản đã chọn lọc được 32 dòng vô tính khác nhau phù hợp với yêu cầu cơ bản là: Khả năng ra rễ cao của hom, phạm vi gây trồng rộng, khả năng thích nghi cao, (Ahuja M R and W J Libby, 1993)
- Ở Huay Sompoi Thái Lan đã khảo nghiệm 8 xuất xứ của Tếch và lựa chọn được 2 xuất xứ sinh trưởng tốt nhất là:
+ Xuất xứ Huay Sompoi (tọa độ địa lý 180 vĩ độ Bắc, 99055’ kinh độ Đông) + Xuất xứ Phayao (tọa độ địa lý 19003’ vĩ độ Bắc, 99055’ kinh độ Đông) Như vậy, việc sử dụng các loài cây bản địa để trồng rừng rất được các tác giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu nhằm tạo ra những khu rừng có kết cấu nhiều tầng,
mô phỏng theo kết cấu rừng tự nhiên để nâng cao khả năng phòng hộ của rừng Tuy nhiên, các nghiên cứu thử nghiệm về trồng rừng hỗn loài còn chưa được thực hiện nhiều, phần lớn nghiên cứu mới chỉ dựa trên kinh nghiệm chưa có sự hiểu biết nhiều
về đặc tính sinh học của loài nên số lượng mô hình thành công còn hạn chế
Ở Trung Quốc, ngay từ những năm 1980 chính phủ Trung Quốc đã tiến hành các hoạt động gây trồng để sản xuất gỗ Nghiến nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế Tuy nhiên, việc nghiên cứu gây trồng rừng Nghiến trên thế giới nói riêng và trồng rừng thâm canh nói chung còn nhiều thông tin chưa được cập nhật đầy đủ Theo Wang Xianpu, Jin Xiaobai, Sun Chengyong (1986), Nghiến thích hợp với vùng núi đá vôi, tầng đất nông Trên đỉnh núi, nơi có điều kiện thời tiết rất khô, có rất ít Nghiến phân bố và chúng thường rất nhỏ Cây Nghiến được trồng trong khu vực có hệ thống thoát nước kém và mực nước nông thường phát triển nhanh lúc đầu, sau đó rễ của chúng lộ ra, dần dần mục nát, và cuối cùng cây chết Nếu cây được trồng trong đất axit, đất phải được làm giàu với phân và cung cấp vôi trước, nếu không, cây sẽ không phát triển bình thường Đồng thời tác giả cũng chỉ rõ, muốn thúc đẩy phát triển Nghiến tái sinh tự nhiên thì cẩn phải đảm bảo nguồn cây mẹ gieo giống, độ tàn che (môi trường sống) của lớp cây tầng cao vì trong 6 năm đầu tiên, Nghiến là cây chịu bóng
Nghiên cứu phục hồi các loài cây rừng tại các khu rừng thứ sinh nghèo trên núi
đá vôi đã được Viện khoa học Quảng Tây và Quảng Đông - Trung Quốc triển khai
trong giai đoạn (1985 - 1998) với các loài: Toona sinensis, Delavaya toxocarpa,
Trang 14Chukrasia tabularis, Excentrodendron tonkinensis, v.v Những nghiên cứu này đã
được tổng kết sơ bộ sau nhiều cuộc hội thảo khoa học ở Học viện Lâm nghiệp Bắc Kinh với sự tham gia của nhiều nhà khoa học lâm nghiệp đầu ngành của Trung Quốc Những hướng dẫn tạm thời về kỹ thật phục hồi rừng trên núi đá vôi đã được xây dựng Tuy nhiên, những nghiên cứu vẫn chưa được tổng kết một cách có hệ thống nên việc
áp dụng những hướng dẫn này cho nhiều quốc gia khác, trong đó có Việt Nam còn khiêm tốn và đang trong giai đoạn thử nghiệm
1.1.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh lý hạt giống và kỹ thuật tạo cây con
Nghiên cứu về đặc điểm sinh lý hạt giống cũng như các biện pháp kỹ thuật tạo cây con cũng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, có thể tóm lược một số kết quả chính như sau:
- Dự án giống cây của Lào (Laos tree seed project, 2006) cho biết ở các vùng địa lý khác nhau, mùa ra hoa và quả chín của loài Vối thuốc cũng khác nhau Ở Ấn Độ, Vối thuốc ra hoa tháng 4-6, quả rụng vào tháng Giêng đến tháng Ba năm sau (Anon, 1996) Ở Indonesia, Vối thuốc ra hoa tháng 8-11, quả chín 3-5 năm sau (Keble và Sidiyasa, 1994) Tại Lào, hạt Vối thuốc được thu vào tháng 2-3, khi quả chuyển từ màu xanh sang màu nâu
Vối thuốc được nhân giống chủ yếu bằng phương pháp hữu tính (từ hạt), việc nhân giống vô tính là có triển vọng nhưng trước mắt chưa thực hiện thành công Quả Vối thuốc được thu trước khi vỏ nứt, sau đó khoảng 2 tuần vỏ quả nứt ra và có thể thu hạt Hạt của Vối thuốc khó bảo quản Có thể bảo quản hạt trong điều kiện nhiệt độ phòng trong vòng 3 tháng 1 kg hạt Vối thuốc chứa 196.000-267.000 hạt (World Agroforestry Centre, 2006)
Tỷ lệ nảy mầm của hạt Vối thuốc có thể đạt 90% sau khi thu hái 10-12 ngày Tuy nhiên, đôi khi gặp trường hợp tỷ lệ chỉ đạt 15% sau khi gieo 23-85 ngày Hạt Vối thuốc được gieo trong bóng râm và phủ một lớp đất mỏng Tỷ lệ cây sống sau khi gieo đạt khoảng 50% Sau 2-3 tháng cây con đạt chiều cao từ 5-8 cm thì chuyển vào bầu Trong thời kỳ vườn ươm cần phải có dàn che Cây trong vườn ươm 6-8 tháng đạt chiều cao 20cm thì có thể đem trồng
Nghiên cứu về nhân giống cây rừng nói chung và các loài cây bản địa nói riêng
Trang 15trên thế giới khá phong phú, đa dạng
Theo nghiên cứu của (Kimmins, 1998; Dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, (2002) cho thấy, ánh sáng có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của cây con trong giai đoạn vườn ươm và đến tỷ lệ sống của cây trồng rừng Những cây con sinh trưởng với cường độ ánh sáng thấp sẽ hình thành các lá chịu bóng Nếu bất ngờ đưa chúng ra ngoài ánh sáng
và kèm theo điều kiện ẩm độ, nhiệt độ thay đổi, chúng sẽ bị ức chế bởi ánh sáng mạnh Điều này có thể làm cho cây con bị tử vong hoặc giảm tăng trưởng cho đến khi các lá chịu bóng được thay thế bằng các lá ưa sáng Chế độ ánh sáng được coi là thích hợp cho cây con ở vườn ươm khi nó tạo ra tỷ lệ lớn giữa rễ/chiều cao thân, hình thái tán lá cân đối Đặc điểm này cho phép cây con có thể sống sót và sinh trưởng tốt khi chúng
bị phơi ra ánh sáng hoàn toàn
Larcher W (1983), nước đóng vai trò rất quan trọng đối với thực vật, nhất là giai đoạn vườn ươm Việc cung cấp nước cho cây con đòi hỏi cần phải đủ về số lượng
Sự dư thừa hay thiếu hụt nước đều không có lợi cho cây gỗ non Hệ rễ cây con trong bầu cần cân bằng giữa lượng nước và dưỡng khí để sinh trưởng Nhiều nước sẽ tạo ra môi trường quá ẩm, kết quả rễ cây phát triển kém hoặc chết do thiếu không khí Vì thế, việc xác định lượng nước thích hợp cho cây con ở vườn ươm là rất quan trọng
Các phương pháp nhân giống cây rừng gồm nhâm giống hữu tính (từ hạt giống)
và nhân giống vô tính (chiết, giâm hom, nuôi cấy mô tế bào, v.v ), trong đó việc nhân giống bằng hom có hệ số nhân giống lớn và được sử dụng rộng rãi trong nhân giống cây trồng
Năm 1983 ở Viện Di truyền và Chọn giống cây gỗ Liên Xô cũ, đã thí nghiệm giâm hom Sồi ở giai đoạn 3 tháng tuổi Họ đã lấy trên 50 cây mẹ khác nhau bố trí thí nghiệm theo từng dòng cây mẹ Kết quả, trên 12 dòng cây mẹ ra rễ 100%, 28 cây mẹ cho tỷ lệ ra hom rễ là 50% và 10 dòng không có hom nào ra rễ Điều đó chứng tỏ khả năng ra rễ của hom cây Sồi phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của từng cá thể
Nhiều nghiên cứu thấy rằng trong những chất kích thích ra rễ hiệu quả nhất thì IAA, IBA, NAA cho ra rễ đạt hiệu quả cao nhất Komisarov (1964) đã sử dụng thuốc IAA, IBA, NAA để giâm hom cho 130 loài cây gỗ Ông còn đi sâu nghiên cứu điều kiện sống của cây mẹ lấy cành, kết quả tổng hợp về ảnh hưởng của ánh sáng, độ ẩm
Trang 16không khí, độ ẩm đất đến tỷ lệ ra rễ của cây Sồi 1 tuổi, cho thấy hom lấy từ cây trồng nơi có ánh sáng tán xạ yếu, độ ẩm không khí và độ ẩm đất cao có tỷ lệ ra rễ 64 - 92%, trong khi hom cây từ cây trồng nơi ánh sáng mạnh, độ ẩm không khí và độ ẩm đất thấp
có tỷ lệ ra rễ 64 - 68% Theo Frison (1967) và Nesterov (1967) cho thấy mùa xuân và mùa mưa là 2 mùa giâm hom có tỷ lệ cao nhất Năm 1974, Martin và Quillet đã thí
nghiệm giâm hom đối với cây limba (Terminali superba) và thấy rằng để nguyên 2-4
lá trên thân thì tỷ lệ ra rễ là 63 - 75%, cắt một phần phiến lá có thể cho tỷ lệ ra rễ 88%
- 100%, cắt bỏ hoàn toàn lá thì hom giâm không ra rễ
1.1.3 Nghiên cứu về cây Bời lời vàng
Bời lời vàng (Litsea pierrei Lecomte) thuộc họ Long não (Lauraceae), là cây
bản địa, gỗ lớn, lá rộng thường xanh, có phân rộng từ Bắc đến Nam trong rừng thứ sinh
ẩm Cây mọc nhanh, tái sinh tốt Gỗ có giác, lõi phân biệt, lõi màu nâu vàng, giác màu trắng, thớ gỗ mịn, nhẹ, gỗ dùng làm đồ mộc và làm nguyên liệu giấy (http://fsis.org.vn/index.php?option=com) Bời lời vàng có thân tròn, thẳng, vỏ nhẵn, màu xanh nhạt, thịt vỏ có màu trắng vàng, có nhựa hơi dính, mùi thơm
Nhìn chung, các tài liệu nghiên cứu về cây Bời lời vàng trên thế giới còn rất ít, chủ yếu có một số ghi nhận về phân bố hoặc được tìm thấy trong việc nghiên cứu sinh thái, đa dạng sinh học của thực vật rừng, những nghiên cứu về trồng rừng hầu như không có, dưới đây là những thông tin về cây Bời lời vàng trên thế giới trong thời gian qua
- Phân loại:
Theo http://www.theplantlist.org/tpl/record/tro-17801776, Bời lời vàng được
công bố đầu tiên năm 2013 trong tài liệu Nouv Arch Mus Hist Nat., sér 5, 83 83
1913, đồng thời khẳng định loài Litsea pierrei Lecomte (tiếng Việt là Bời lời vàng) đã
được công nhận thuộc chi Litsea, họ Lauraceae, loài này chỉ có 1 tên latinh duy nhất,
không có tên đồng nghĩa Trong tập san Thực vật Thái Lan số 39 (Thai Forest botany) cũng bổ sung Lecomte là người công bố đầu tiên, sau đó tiếp tục bổ sung vào các năm 2014 (trong Indo-Chine 5: 138); năm 1932 (Liou Ho, Laurac Chine & Indochine 174); năm 1938 (Allen, Ann Missouri Bot Gard 25: 382) và năm 1964 (Kosterm., Bibliogr Laur 863)
Trang 17Bulletin-Chi Bời lời (Litsea), là một trong những chi lớn thuộc họ Long não, chúng có
khoảng 400 loài, là cây gỗ hay cây bụi Hầu hết những loài thuộc chi này đều chứa tinh
dầu và nhiều loài trong chi Bời lời (Litsea) là cây mọc nhanh, chịu được đất đai cằn cỗi
nên có thể là những đối tượng cần quan tâm trong cơ cấu cây rừng để phục hồi rừng sau nương rẫy hoặc trên các đồi núi trọc
- Đặc điểm hình thái:
Các loài trong chi Bời lời có thể là cây rụng lá hoặc thường xanh tùy thuộc vào loài, hoa thường là đơn tính khác gốc, hoa đực và hoa cái trên các cây khác nhau, thụ phấn được thực hiện bởi côn trùng Nổi bật nhất là quả của chúng, quả có dạng quả hạch nhỏ màu đỏ, tím hoặc màu đen có chứa một hạt giống duy nhất, phân tán chủ yếu
là nhờ chim, một số loài sinh sản vô tính từ rễ (nguồn: Wikipedia, the free encyclopedia)
Ở Thái Lan, Bời lời vàng được mô tả như sau (Thai Forest Bulletin-botany): Bời lời vàng là cây có kích thước từ trung bình đến lớn, chiều cao từ 15-30m, các nhánh nhỏ nhẵn hoặc bóng Lá hình xoắn ốc; phiến lá dạng lưỡi trứng ngược, hình thuôn hoặc hình chữ nhật dài 6-17,5cm, rộng 2,5-6,5cm, đỉnh lá nhọn hình nêm toàn bộ lá láng nhẵn trên cả hai bề mặt
Hình 1.1: Cành mang quả của Bời lời vàng A Nhánh đang hình thành quả;
B Nhánh đang ra hoa với các nụ (Theo Thai Forest Bulletin-botany)
Cuống lá dài 1,2 - 3cm láng và nhẵn; gân giữa nông chìm bên trên, nhô lên ở bên dưới, tĩnh mạch thứ cấp 5 - 8 cặp, phẳng ở trên và nhô lên ở mặt dưới, cong phía gần mép, tĩnh mạch có hình mạng lưới, rõ hoặc không rõ ở phía dưới
Trang 18Số nhánh nhỏ ở cụm hoa trên tán giảm với sự xuất hiện của một chùm hoa ngắn ở nách
lá hoặc dọc theo cành nhỏ, chùm hoa dài 2-4cm; có đường kính 0,5-0,6cm; cuống dài nhất 0,8 - 1,7cm, có 4 bao hoa, mọc chéo hình chữ thập hay nới rộng hình trứng lõm
bề dài 3 - 4,5mm, bề rộng 4 - 4,5mm, đóng ở bên ngoài và có lông bao phủ (chỉ nhận thấy khi các chồi hoa gần nở)
Có 5 hoa đực trong mỗi cụm; 6 lá đài và cánh hoa, hình elip, hình thuôn hoặc chữ nhật thuôn gần bằng nhau bề dài 2,5-4mm, bề rộng 1-1,2mm, có lông phủ, cuống nhỏ dài 1mm dày đặc lông tơ; có 9-12 nhị hoa không bằng nhau; nhụy hoa/bao phấn dài 0,8-1,2mm, sợi dài 1-2mm có lông tơ/có lông nhung, 2 tuyến ở chân đế hoặc không
có tuyến; không có bào tử
Hoa cái không nhận biết được Trái cây hình trụ hoặc hình trứng dài 1,8-2,4cm rộng 1-1,3cm, một nửa hoặc nhiều hơn bao bọc trong ống bao hoa to hình chén, nhẵn, ống bao hoa mở rộng tách sâu, cao 1,2-1,5cm, có đường kính 1,5-2cm và xuất hiện nhiều nút sần; ra quả nhiều trên cuống trải dài 0,6-1cm, có nốt sần nhỏ; thân cuống dài 0,8-2 cm, quả non được bao bọc hoàn toàn trong ống bao hoa với một chỗ lõm/hình nón ngược ở trên đỉnh
- Đặc điểm phân bố và sinh thái
Theo http://www.gbif.org/species/7304601, Bời lời vàng phân bố ở Cam Pu Chia, Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam, tuy nhiên nghiên cứu về phân bố cũng chưa cụ thể ở vùng nào mà chỉ nêu lên địa điểm có mẫu tiêu bản ở các nước này (hình 2)
Phần lớn các loài thuộc chi Bời lời được tìm thấy bố ở Châu Á (300 loài), phần còn lại ở Châu Úc và các đảo thuộc Thái Bình Dương Riêng ở Trung Quốc có 75 loài, Malaysia 54 loài, Ấn Độ 65 loài, Đông Dương 17 loài Bời lời vàng được ghi nhận ở Lào, vùng Đông Nam Thái Lan và Cam Pu Chia, nơi rừng thường xanh với độ cao từ 10-150m (Thai Forest Bulletin - botany)
Bời lời vàng được xem là loài cây chịu bóng (Cai và cộng sự, 2005) Nghiên cứu về cách quản lý rừng truyền thống của người dân địa phương trong trong Khu bảo tồn thiên nhiên Quốc gia Nabanhe, Xishuangbana, Trung Quốc cho thấy đã ảnh hưởng
Trang 19đến đa dạng loài, trong đó Bời lời vàng được đánh giá là loài nguy cấp cần được bảo
vệ (Xiao và cộng sự, 2011)
Hình 1.2: Bản đồ địa điểm mẫu tiêu bản của Bời lời vàng
(http://www.gbif.org/species/7304601) Bời lời vàng cũng được nghiên cứu trong quần xã thực vật thuộc đảo Kod Chang, tỉnh Trat, Thái Lan (Nathsuda và Paramate, 3013) Qua đó Bời lời vàng là 1 trong số 78 loài được phát hiện ở đây, tuy nhiên Bời lời vàng không thuộc loài có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành sinh thái rừng do chỉ số quan trọng của loài chỉ chiếm < 5% trong quần xã
Trang 201.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về cây bản địa đã được quan tâm nghiên cứu tương đối nhiều Các nghiên cứu đi từ khâu chọn giống, gieo tạo cây con và nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật gây trồng rừng cũng như phục hồi rừng tự nhiên nghèo kiệt
- Phạm Đình Trị (1988), đã giới thiệu một cách tổng quát và tóm lược kỹ thuật gây trồng 20 loài cây gỗ mọc nhanh trong tài liệu “Góp phần tìm hiểu kỹ thuật gieo trồng 20 loài cây gỗ mọc nhanh và đáng chú ý về mặt gây trồng ở các tỉnh phía Nam”, tuy nhiên chưa có nghiên cứu cụ thể về loài cây nào
- Bùi Đoàn (2000), khi nghiên cứu gây trồng cây Vên vên làm nguyên liệu gỗ ván lạng, tác giả này đã xác định được cơ sở sinh thái, lập địa thích hợp và kỹ thuật gây trồng cây Vên vên
- Phạm Văn Đẩu (2001), nghiên cứu phục hồi rừng tự nhiên tại Tân Lập, Đồng Xoài, Bình Phước Đã tiến hành trồng thử nghiệm 12 loài cây bản địa bằng phương thức làm giàu rừng và đã có kết luận về các biện pháp kỹ cũng như hướng dẫn kỹ thuật phục hồi rừng tự nhiên bằng các loài cây bản địa
- Nguyễn Anh Tuấn (2005), đã thực hiện đề tài "Thử nghiệm xây dựng mô hình trồng rừng Sao đen năng suất cao vùng Đông Nam Bộ" Đề tài đã nghiên cứu mô hình trồng Sao đen xen với cây Đậu tràm, cây Muồng đen tại Bàu Bàng - Bình Dương Kết quả nghiên cứu cho thấy sau 4 năm cây Sao đen xen với cây đậu tràm phát trỉển khá, đường kính tăng trưởng hàng năm trung bình 1,54 cm, chiều cao 0,9 m Đề tài đã xây dựng được hướng dẫn kỹ thuật trồng Sao đen năng suất cao tại vùng Đông Nam Bộ
- Hoàng Xuân Tý, Nguyễn Đức Minh (2006), khi thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý, sinh thái của cây Huỷnh và cây Giổi xanh, làm cơ sở xây dựng các giải pháp kỹ thuật gây trồng”, tác giả đã đưa ra được một số đặc điểm sinh lý, sinh thái của cây Huỷnh và cây Giổi xanh và một số yêu cầu lập địa cho việc chọn vùng trồng 2 loài này
- Nguyễn Huy Sơn (2007), đã nghiên cứu đặc điểm sinh lý và phương pháp bảo quản hạt Giổi xanh, tác giả đã xác định được ẩm độ của hạt là nhân tố quyết định trong
Trang 21bảo quản hạt Giổi xanh và đưa ra được phương pháp tối ưu trong bảo quản hạt Giổi xanh
- Trần Văn Đô và cộng sự (2008), đã nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật gieo ươm tới sinh trưởng cây con Giổi bắc Nghiên cứu này đã chỉ ra được cường độ che sáng có ảnh hưởng rõ rệt tới sinh trưởng cây con Giổi bắc Cường độ che sáng thích hợp nhất từ 50-75% Nghiên cứu này cũng đưa ra tỷ lệ 1% lân cộng với đất rừng tầng mặt là hỗn hợp ruột bầu tối ưu cho sản suất cây con Giổi bắc
- Trần Văn Sâm (2008) thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật gây trồng Xà cừ lá nhỏ ở vùng Đông Nam Bộ” đã kết luận về liều lượng phân bón lót
là 200 - 250g phân NPK (16:16:8) + 100g phân vi sinh/cây hay 100g phân NPK + 400g phân vi sinh/cây cho sinh trưởng tốt nhất Mật độ trồng có ảnh hưởng đến sinh trưởng
Xà cừ Trồng xen cây Đậu tràm có tác dụng tốt cho thí nghiệm Nghiên cứu cũng đề xuất nên chọn cây con 1 năm tuổi để trồng rừng
- Đoàn Đình Tam (2010), khi nghiên cứu về tỷ lệ phân bón cho cây con Chò chỉ
ở giai đoạn vườn ươm đã xác định được lượng NPK phù hợp là 1:4:3 (0,29g N: 0,95g P: 0,23g K) Cường độ chiếu sáng 50% ánh sáng tự nhiên là thích hợp nhất cho sinh trưởng của cây con chò chỉ giai đoạn vườn ươm
- Phạm Văn Bốn (2010), trong báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu về cây Thanh Thất đã xác định được mức độ che sáng của cây con trong giai đoạn vườn ươm là 25 - 50% ánh sáng tự nhiên Mật độ trồng rừng 1666 cây/ha cho sinh trưởng tốt nhất
- Võ Đại Hải và cộng sự (2010), đã nghiên cứu về mật độ trồng rừng Vối thuốc
và Vối thuốc răng cưa cho thấy rằng ở mật độ trồng 1.250 cây/ha có sinh trưởng tốt nhất Về bón phân thì lượng phân bón 100 g super lân tỏ ra thích hợp nhất với loài Vối thuốc
Hiện nay ở Việt Nam, nhằm phủ xanh đất trống đồi núi trọc, đáp ứng nhu cầu
sử dụng gỗ đồ mộc cao cấp, giảm áp lực khai thác gỗ từ rừng tự nhiên, việc khoanh nuôi bảo vệ, trồng bổ sung, trồng mới, đặc biệt là trồng rừng thâm canh với trọng tâm
là các loài cây bản địa đang rất được chú trọng, khuyến khích phát triển
Võ Đại Hải và các cộng sự (2006) đã xây dựng các mô hình trồng rừng sản xuất
ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Sơn La nói riêng, kết quả xây dựng
Trang 22hoàn thiện các mô hình rừng trồng cung cấp gỗ lớn, gỗ nhỏ, lâm sản ngoài gỗ, bước đầu cho sinh trưởng tốt
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp xử lý hạt tới tỷ lệ nảy mầm và thời
gian bảo quản hạt đối với loài Chiêu liêu khế (Terminalia alata) thuộc dự án Giống cây
rừng Campuchia đã cho thấy, hạt Chiêu liêu khế có tỷ lệ nảy mầm rất thấp, dao động
từ 37 - 46% đối với 2 phương thức xử lý hạt nảy mầm là ngâm trong nước ấm 600C và
để qua đêm hoặc ngâm trong nước ở nhiệt độ thường qua đêm Phương pháp ngâm ở nhiệt độ thường cho tỷ lệ nảy mầm cao hơn là xử lý bằng nước ấm Hạt giống có thể
dự trữ 1 năm trong điều kiện bảo quản khô ráo trong túi nilon vẫn cho tỷ lệ sống khoảng 35% (http://www.treeseedfa.org)
1.2.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh lý hạt giống và kỹ thuật tạo cây con
Nghiên cứu nhân giống cây rừng nói chung ở Việt Nam đã được rất nhiều tác giả quan tâm, tiêu biểu là Nguyễn Duy Minh (2003); Phạm Văn Điển, Lê Ngọc Hoàn,
Vũ Thị Thuần (2006); Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng (2003); Ngô Quang Đê, Nguyễn Hữu Vinh (2009); Dương Mộng Hùng (2005); và các văn bản tiêu chuẩn kỹ thuật lâm sinh, Tuy nhiên, các tài liệu mới chỉ đưa ra các phương pháp nhân giống
cơ bản, chung nhất, còn kỹ thuật nhân giống cụ thể cho từng loài cây, từng vùng sinh thái, đặc biệt là những loài cây bản địa, cây sinh trưởng lâu năm, thì vẫn còn rất nhiều hạn chế
Hoàng Kim Ngũ (2004) cho rằng, để nhân giống Nghiến phục vụ cho trồng rừng
có thể sử dụng phương pháp dẫn giống từ cây con tái sinh tự nhiên ở rừng về cấy vào bầu, đưa vào luống có độ tàn che 0,7 - 0,8, chăm sóc, tưới nước cho ra rễ mới mang trồng dưới tán rừng hoặc nơi có cây che bóng từ 0,5 - 0,7 Tác giả cũng khẳng định, hiện nay nguồn hạt giống rất khan hiếm, thường 6 - 7 năm mới có 1 năm được mùa quả
và hạt Cần chọn những cây mẹ lấy giống từ 50 - 70 tuổi, thân tròn, thẳng, cao to, tán
lá cân đối, không bị sâu bệnh để lấy giống
Nguyễn Thanh Minh và Cộng sự (2014) đã nghiên cứu kỹ thuật nhân giống và
trồng loài Chiêu liêu nước (Terminalia calamansanai) ở vùng Đông Nam bộ Kết quả
cho thấy, thành phần hỗn hợp ruột bầu phù hợp cho nhân giống Chiêu liêu nước là 25%
xơ dừa + 5% phân chuồng + 1% phân NPK + 69 % đất mặt hoặc 50% xơ dừa + 5%
Trang 23phân chuồng + 1% phân NPK + 44 % đất mặt Ở giai đoạn 1,5 tuổi thì các công thức bón phân chưa có ảnh hưởng rõ rệt tới sinh trưởng của loài nhưng dựa vào chỉ số sinh trưởng trung bình thì công thức bón 200g NPK + 500g vi sinh có ảnh hưởng tốt nhất tới sinh trưởng của cây trồng rừng Do thời gian theo dõi còn ngắn nên các thí nghiệm ảnh hưởng của mật độ cũng như trồng xen với Muồng đen chưa cho kết quả rõ rệt và cần được theo dõi tiếp
Khi tiến hành nghiên cứu kỹ thuật nhân giống cây Chò xanh bằng hạt ở vùng Tây Bắc, các tác giả Phạm Quang Tuyến (2006); Phạm Quang Tuyến, Bùi Thanh Hằng (2011) đã tiến hành bố trí các thí nghiệm về phương pháp xử lý hạt nảy mầm (đãi hạt, ngâm trong nước vôi loãng, sau đó ủ hạt trong túi vải, gieo hạt vào trong khay cát để theo dõi hạt nảy mầm; đãi hạt ngâm trong nước sôi 1000C, sau đó ủ hạt trong túi vải, gieo hạt vào trong khay cát để theo dõi hạt nảy mầm; đãi hạt ngâm trong nước ấm 400C, sau đó ủ hạt trong túi vải, gieo hạt vào trong khay cát để theo dõi hạt nảy mầm); ảnh hưởng của ruột bầu tới sinh trưởng của cây con (90% đất mùn tơi xốp + 10% phân chuồng hoai; 90% đất mùn tơi xốp + 9% phân chuồng hoai + 1% phân lân; 90% đất mùn tơi xốp + 8% phân chuồng hoai + 2% phân lân; 90% đất mùn tơi xốp + 7% phân chuồng hoai + 3% phân lân) Kết quả nghiên cứu cho thấy: Quả Chò xanh chín và đạt tiêu chuẩn để thu hái vào tháng 12 đến tháng 1 năm sau Đặc điểm nhận biết khi chín, quả có màu từ màu hồng tím sang màu vàng nhạt (chín thu hoạch) Hạt làm giống được bảo quản trong chum vại hoặc trong tủ lạnh ở nhiệt độ 0 - 50C, 5 tháng đầu sức nảy mầm hạt đã bắt đầu giảm dần Công thức xử lý hạt nảy mầm cho tỷ lệ nảy mầm cao nhất là: ngâm hạt trong nước 400C trong 8 giờ; Công thức thành phần ruột bầu 90% đất mùn tơi xốp + 7% phân chuồng hoai + 3% phân lân cho sinh trưởng cây con tốt nhất ở giai đoạn cây con 4 tháng tuổi Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của đề tài mới chỉ ở tỉnh Sơn la, nội dung nghiên cứu mới chỉ tập trung thử nghiệm biện pháp xử lý hạt nảy mầm
và ảnh hưởng của thành phần ruột bầu tới sinh trưởng cây con, chưa có các nghiên cứu sâu về đặc điểm sinh lý hạt giống, sinh lý, sinh thái cây con ở vườn ươm cũng như chưa tiến hành các nghiên cứu về trồng rừng
Việc nghiên cứu nhân giống Vối thuốc cũng được thực hiện bởi Ban quản lý các
dự án Lâm nghiệp năm 1997 và Dự án Phát triển Lâm nghiệp xã hội Sông Đà năm
Trang 241998 Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi quả chuyển từ màu xanh sang màu vàng thì thu hái Quả được xếp thành đống để ủ 2-3 ngày, sau đó phơi nắng nhẹ để vỏ quả tách ra
và thu lấy hạt 1 kg hạt có 230.000-250.000 hạt, tỷ lệ nảy mầm sau khi thu hái khoảng 40-50% Hạt thường mất sức nảy mầm nhanh nên cần phải gieo ngay Hạt được xử lý bằng nước ấm 2 sôi + 2 lạnh và ngâm từ 8-12 giờ, sau đó vớt ra, ủ trong túi vải hoặc trộn với cát theo tỷ lệ 1 hạt + 2 cát Trước khi xử lý, hạt được diệt khuẩn bằng cách ngâm trong dung dịch thuốc tím KMnO4 nồng độ 0,1% trong 30 phút Sau khoảng 7 ngày hạt nứt nanh thì đem gieo Cây con thường hay bị bệnh lở cổ rễ, vì vậy đất cần xử
lý bằng ben-lát hoặc Boóc đô nồng độ 1%, sau khi gieo hạt định kỳ 7-10 ngày phun một lần Ngoài ra, cây con cũng hay bị sâu xám phá hoại, cần bắt diệt vào đêm hoặc sáng sớm Trong vườn ươm, cây con cần che bóng 45% trong 3 tháng đầu, từ 4-7 tháng tuổi che bóng 35%, sau đó giảm còn 25% trong giai đoạn cây từ 8-12 tháng tuổi Cây con trong vườn ươm 12-14 tháng tuổi, đạt chiều cao 0,8-1,0m, đường kính cổ rễ 0,8-1cm thì đem trồng Ngoài ra, nghiên cứu tạo cây con Vối thuốc bằng giâm hom cũng
đã được thực hiện, kết quả ban đầu cho thấy, nếu sử dụng chất kích thích TTG1 nồng
độ 1000 ppm, tỷ lệ ra rễ của Vối thuốc sẽ đạt 41% (Vũ Văn Hưng, 2004 [14])
Võ Đại Hải (2010) đã nghiên cứu khá hệ thống và toàn diện vê đặc điểm sinh lý hạt giống Vối thuốc cho biết ở cùng độ ẩm 10,29% (Vối thuốc); 9,07% (Vối thuốc răng cưa), tỷ lệ nảy mầm của lô hạt được xử lý bằng axit sunfuric nồng độ 3-5% đều thấp hơn so với xử lý hạt bằng nước ấm có nhiệt độ 35-400C Tuy nhiên, việc xử lý hạt bằng axit sunfuric cho tốc độ nảy mầm cao hơn so với xử lý bằng nước ấm Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sức sống của cây mầm đối với cả 2 loài Vối thuốc và Vối thuốc răng cưa đều ở mức rất cao 87,3 - 90% cây có sức sống tốt Hạt Vối thuốc có khả năng hút nước rất mạnh Sau thời gian ngâm nước 8 giờ khối lượng của hạt Vối thuốc xử lý tăng từ 4,29 g lên 4,79 g, hạt không được xử lý tăng từ 4,29 g lên 4,70 g; hạt Vối thuốc răng cưa tăng
từ 4,02 g lên 4,58 g Hạt Vối thuốc và Vối thuốc răng cưa nảy mầm tốt nhất khi hút nước
ở thời gian ngâm xử lý 6 giờ Hạt Vối thuốc và Vối thuốc răng cưa thích hợp với biên
độ nước xử lý trong khoảng từ 35 - 400C Khi nhiệt độ nước xử lý tăng lên hoặc giảm xuống, tỷ lệ nảy mầm của hạt Vối thuốc và Vối thuốc răng cưa đều có xu hướng giảm
rõ rệt
Trang 251.2.3 Nghiên cứu về cây Bời lời vàng
- Tên gọi và phân loại:
Bời lời vàng (Litsea pierrei Lecomte) thuộc bộ Laurales, họ Long não (Lauraceae), chi Bời lời (Litsea), còn có tên gọi khác là Litsea vang Lecomte Chi Bời
lời hiện có khoảng 400 loài cây bụi và cây thân gỗ, phân bố ở khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á, Australia, New Zealand, Bắc Mỹ tới cận nhiệt đới Nam Mỹ, trong đó
trên 70 loài có ở Trung Quốc, chủ yếu tại khu vực nóng ẩm miền Nam hoặc Tây Nam
Phạm Hoàng Hộ (1991) và tái bản (1999) đã vẽ hình và mô tả tóm tắt 45 loài
thuộc chi Bời lời (Litsea)
Nghiên cứu đầy đủ nhất về chi Bời lời là công trình của Nguyễn Kim Đào (1995, 2003) Tác giả đã công bố về phân bố, dạng sống, sinh thái và giá trị sử dụng của các
loài trong họ Long não (Lauraceae) nói chung và chi Bời lời (Litsea) nói riêng ở các khu vực khác nhau trên cả nước, trong đó chi Bời lời (Litsea) có 42 loài và 13 thứ
Phùng Ngọc Lan và cộng sự (1996), nghiên cứu hệ thực vật ở Vườn quốc gia Cúc
Phương đã công bố 12 loài thuộc chi Bời lời (Litsea) Nguyễn Nghĩa Thìn & Mai Văn
Phô (2003) khi nghiên cứu đa dạng hệ thực vật Vườn quốc gia Bạch Mã đã thống kê
được 15 loài thuộc chi Bời lời (Litsea) Nguyễn Nghĩa Thìn & Nguyễn Thanh Nhàn
(2004), nghiên cứu hệ thực vật Vườn quốc gia Pù Mát đã công bố 21 loài thuộc chi Bời
lời (Litsea) Đỗ Ngọc Đài & Lê Thị Hương (2010) đã công bố ở Khu Bảo tồn thiên
nhiên Xuân Liên, Thanh Hoá với 10 loài trong chi Bời lời (Litsea)
- Đặc điểm hình thái:
Nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn (2015) cho thấy Bời lời vàng là cây gỗ lớn, thường xanh, cao 30 - 35 m, đường kính lên tới 150cm, thân tròn thẳng, vỏ thân nhẵn bong thành từng mảng, màu xanh nhạt, thịt vỏ màu trắng vàng; có mùi thơm, hơi dính Cành non màu xanh có khía dọc Lá đơn nguyên, mọc cách, hình bầu dục hoặc hình trứng ngược, dài 11 - 15 cm, rộng 6 - 7 cm Phiến dày màu xanh lục hơi vàng, đầu và gốc lá hình nêm hoặc hơi tù, 7 - 9 đôi gân bên Cuống lá dài 3,5 - 5cm, có rãnh ở mặt trên Cụm quả hình tán mang 6 - 8 quả, có cuống chung dài 1cm Quả hình trứng, vỏ quả nhẵn, màu tím; dài 2,3cm, rộng 1,3cm Mỗi quả có 1 đấu hình nón ngược bao bọc
ở gốc, mỗi quả chỉ chứa một hạt
Trang 26- Đặc điểm phân bố và sinh thái:
Các nghiên cứu về Bời lời vàng trong nước cho thấy loài này có phân bố rộng rãi ở Việt Nam từ Bắc đến Nam (http://fsis.org.vn), cây thường mọc ở thung lũng, ven suối trong các rừng thứ sinh ẩm Cụ thể, Bời lời vàng xuất hiện ở Vườn Quốc gia Bạch Mã (Lê Công Sơn và cộng sự, 2013) Ở vùng Đồng Nai và Bình Phước, Bời lời vàng xuất hiện ở rừng tự nhiên, trong đó loài này còn có mặt trong công thức tổ thành với chỉ số IV% dao động từ 5,39 - 9,29% tuỳ từng địa điểm (Nguyễn Anh Tuấn,
2015)
- Chọn giống, nhân giống
Hiện tại chưa có nhiều công trình nghiên cứu về chọn giống và nhân giống loài Bời lời vàng Đây có thể nói còn là khoảng trống lớn trong nghiên cứu nhằm thúc đẩy trồng rừng và nâng cao chất lượng rừng trồng loài cây có tiềm năng này Một số kết quả bước đầu cho thấy tại vùng Đông Nam Bộ, Bời lời vàng ra hoa vào tháng 6-9, tuỳ từng địa điểm quả chín vào tháng 3 - 4 năm sau Quả chín có màu đen, mỗi kg khoảng
350 quả, khi chà vỏ để lấy hạt thu được 1 kg hạt khoảng 1.100 hạt Hạt Bời lời vàng sau khi thu hái cần gieo ngay, để hạt này mẩm tốt nhất, trước khi gieo ngâm trong nước
ấm 40oC trong thời gian 18 tiếng, sau đó ủ, tỷ lệ nảy mầm tốt nhất với 93% trong thời gian 6 ngày
Võ Đại Hải và cộng sự (2017) đã nghiên cứu và tuyển chọn được 167 cây trội Bời lời vàng từ rừng tự nhiên của 6 tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh, Bình Phước, Đăk Lăk và Kiên Giang, trong số đó có 140 cây đang ra hoa; đường kính D1,3
các cây trội dao động từ 21,2 - 38,8cm, chiều cao Hvn dao động từ 16,8-25,8m Hiện tại, hạt của các cây trội đã được thu hái, tạo cây con và mới được bố trí khảo nghiệm xuất xứ kết hợp khảo nghiệm hậu thế nên chưa có kết quả đánh giá cuối cùng
Trong vườn ươm, Bời lời vàng không cần che sáng (Nguyễn Anh Tuấn, 2015)
- Kỹ thuật gây trồng rừng:
Qua báo cáo của Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Trung Trung Bộ do Lại
Hữu Hoàn, 2004 thực hiện về “Nghiên cứu đánh giá kết quả trồng rừng cây bản địa lá
rộng vùng Trung Trung bộ Việt Nam” thì Bời lời vàng được trồng cùng với một số loài
cây bản địa khác trên địa bàn các tỉnh Trung Trung Bộ từ Quảng Bình đến Quảng Nam với diện tích trên 1.500 ha theo phương thức trồng thuần loài và hỗn giao trên diện tích
Trang 27đất trống đồi trọc ở và trồng dưới tán rừng trồng hoặc rừng tự nhiên, khả năng sinh trưởng đều tốt, sinh trưởng bình quân chiều cao đạt 0,9 - 1,1 m/năm, đường kính đạt 1,0 - 1,2 cm/năm Tuy nhiên, quá trình điều tra điều tra và phỏng vấn các cán bộ địa phương của 2 tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Nam cho thấy rằng: có sự nhầm lẫn về
tên gọi loài cây Bời lời vàng (Litsea pierrei) với cây Bời lời đỏ, ở các địa phương này chỉ mới thực hiện trồng Bời lời đỏ (Litsea glutinosa) chứ Bời lời vàng chưa được gây
trồng trên diện rộng
Theo http://fsis.org.vn, Bời lời vàng được gây trồng thử nghiệm thuần loài trên đất trống đồi núi trọc và trồng hỗn giao trong rừng tự nhiên thứ sinh nghèo kiệt ở một
số địa phương như: Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đồng Nai và Lâm Đồng Đối với
2 tỉnh Đồng Nai và Lâm Đồng thì Bời lời vàng cũng chỉ mới được gây trồng ở quy
mô nhỏ Tại tỉnh Đồng Nai, Bời lời vàng được trồng vào năm 2008 cùng với một số loài cây bản địa khác với mục tiêu là bảo tồn nguồn gen trong khuôn khổ dự án Pháp
- Việt, diện tích trồng là 0,3 ha
Bời lời vàng cũng đã được chọn để trồng làm giàu rừng tại Định Quán, Đồng Nai (Millet và cộng sự, 2013), nơi lập địa là rừng trồng Keo lá tràm đã khai thác chọn và có các loài khác tái sinh tự nhiên, chiều cao trung bình 9m Trước khi trồng rừng, Keo lá tràm, cây bụi, cỏ được loại bỏ trong băng chặt rộng 5m Sau khi trồng
4 năm, tỷ lệ sống của Bời lời vàng còn tương đối cao với 83,2% và chiều cao đạt 2,2m, trong khi các loài khác tỷ lệ sống dao động từ 8,8-98,1% và chiều cao dao động từ 1,3-2,3m
Còn tại tỉnh Lâm Đồng, năm 2012 Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm Lâm nghiệp Đông Nam Bộ đã trồng thử nghiệm mô hình Bời lời vàng tại khu vực Đạ Huoai, trong đó có thực hiện thử nghiệm về bón phân, mật độ trồng và phương thức trồng Năm 2015 mô hình rừng trồng 3 tuổi này được đánh giá là thành công với đường kính bình quân của các mô hình (D1.3 = 11,1cm), chiều cao vút ngọn (Hvn = 8,2 m), tương ứng với lượng tăng trưởng hàng năm đạt trên 15 m3/ha/năm, Mật độ 556 cây (cự ly 3m x 6m) tốt hơn so với mật độ 667 cây/ha và 833 cây/ha (Nguyễn Anh Tuấn, 2015) Bời lời trồng thuần loài tốt hơn so với trồng xen với Muồng đen (tỷ lệ 2
Trang 28cây Bời lời vàng: 1 cây muồng đen) Trước khi trồng, bón lót 150g phân vi sinh và
250 g NPK 16:16:8., thân cây thẳng, rất có khả năng để phát triển
- Chế biến, bảo quản:
Nghiên cứu về cấu tạo và một số tính chất cơ bản của gỗ cây Bời lời vàng đã được Nguyễn Đình Hưng thực hiện và công bố từ năm 1990 và 1995 Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu về cấu tạo gỗ mới chỉ dừng lại ở các đặc điểm cho định loại theo phiếu
lỗ dựa trên bảng mô tả 70 đặc điểm Hiện nay theo IAWA, bản mô tả đã được yêu cầu lên 154 đặc điểm Kết quả nghiên cứu tính chất gỗ cho thấy gỗ Bời lời vàng nhẹ (khối lượng riêng 0,58-0,65 g/cm3), hệ số co rút thể tích trung bình (0,4), khả năng chịu lực trung bình đến thấp (nén dọc 47 MPa) Bộ môn Khoa học gỗ (2018) đã nghiên cứu đặc điểm cấu tạo gỗ Bời lời vàng cho thấy gỗ Bời lời vàng có dác và lõi phân biệt về màu sắc, gỗ dác màu vàng nhạt hoặc trắng xám, gỗ lõi màu vàng xanh, vàng, vàng nâu Gỗ có vòng sinh trưởng rõ ràng thường rộng khoảng từ 3-5mm, mặt gỗ mịn trung bình, mạch đơn và kép ngắn Đường kính mạch trung bình 148µm Số lượng mạch ít, trên 1mm2 trung bình có 5 - 8 mạch Tia gỗ hẹp khó thấy bằng mắt thường, trên 1mm theo hướng tiếp tuyến trung bình có 6 - 7 tia, cao trung bình từ 352µm đến 392µm, rộng trung bình từ 20µm đến 24µm
Năm 2018, Bộ môn Khoa học gỗ thuộc Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng cho biết gỗ Bời lời vàng có khối lượng thể tích nhẹ (0,49 g/cm3), hệ số co rút của gỗ trung bình (0,59), độ hút nước lớn (83,5%), tính chất cơ học từ thấp đến trung bình (Độ bền nén dọc thớ 38,8 Mpa; độ bền kéo dọc thớ 112,4 Mpa; độ bền khi uốn tĩnh 68,4 Mpa; độ bền tách 17,4 Mpa; Modul đàn hồi khi uốn tĩnh 5,03 Gpa) Gỗ cây Bời lời vàng được xếp vào nhóm IV theo tiêu chuẩn xếp nhóm của tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 1072-71
Gỗ Bời lời vàng hoàn toàn không có hiện tượng nứt, mục thân, không có lỗ mọt hay vết mối, số lương khúc gỗ có chất lượng gỗ tròn đạt phẩm chất tốt nhất (loại A) chiếm lượng lớn: 46% theo khuyết tật mắt, 73% theo khuyết tật thót ngọn, 78% theo khuyết tật độ cong, số lượng khúc xếp loại B chiếm lượng khá nhỏ: 39% theo khuyết tật mắt, 20% theo khuyết tật thót ngọn, 22% theo khuyết tật độ cong) và loại số lượng khúc được xếp loại C chiếm rất ít: 15% theo khuyết tật mắt, 6% theo khuyết tật thót
Trang 29ngọn Gỗ tròn Bời lời vàng ít bị các côn trùng hại gỗ gây hại, tỷ lệ bị hại đối với mối, mọt, xén tóc lần lượt là 10%; 6,7%; 3,3%
Phòng Thí nghiệm Vật liệu và Công nghệ gỗ (2018) cho biết gỗ Bời lời vàng có kích thước sợi gỗ trung bình (1113 µm), có thành phần hóa học xenluloza lớn (xấp xỉ 45%) Lignin tổng số của gỗ Bời lời vàng chiếm hơn 30%
Bộ môn Bảo quản Lâm sản (2018) đã nghiên cứu độ bền tự nhiên của gỗ Bời lời vàng với côn trùng và nấm kết quả cho thấy gỗ Bời lời có độ bền tự nhiên đạt mức trung bình đối với mối, mọt và xén tóc, điểm đánh giá đạt 6 điểm, lượng hao hụt khối lượng 12,13% đối với mối; đạt 4,9 điểm với xén tóc và xếp cấp hại 1 đối với mọt Đối với nấm mốc gỗ Bời lời vàng khi thử nấm mốc có tỷ lệ % diện tích phủ nấm là 82,78%
và % diện tích nấm đậm màu 35,21%, xếp loại cấp 4 - mức không bền với nấm mốc Đối với nấm mục, gỗ Bời lời vàng có độ bền tự nhiên trung bình với nấm mục, hao hụt khối lượng 26,04%
Khả năng trang sức bề mặt bằng sơn PU đối với gỗ Bời lời vàng là không khó,
bề mặt màng sơn sáng bóng, màu đồng đều, không bị chảy hay đọng sơn, không bị khuyết tật gì Kết quả kiểm tra độ bám dính màng trang sức của gỗ Bời lời vàng là rất tốt Độ bám dính màng trang sức của gỗ Bời lời vàng là khá tốt (1,50 điểm) so với gỗ
Dẻ đỏ (1,80 điểm) và gỗ Keo lai (2,0 điểm) (Bộ môn Chế biến Lâm sản, 2018)
Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương pháp xẻ đến chất lượng gỗ xẻ Bời lời vàng cho thấy chất lượng gỗ Bời lời vàng bị ảnh hưởng khá lớn về phương pháp xẻ, phương pháp xẻ xoay cho gỗ xẻ có chất lượng tốt hơn so với phương pháp xẻ suốt Tỷ
lệ gỗ xẻ đạt loại A trong phương pháp xẻ xoay chiếm từ 40 đến 46% so với 27 đến 37% của phương pháp xẻ suốt Tỷ lệ thành khí Ván xẻ gỗ Bời lời vàng bằng phương pháp
xẻ suốt cho tỷ lệ thành khí cao hơn (64 - 68%) so với tỷ lệ thành khí khi xẻ xoay (58 - 60%) tương ứng với cấp đường kính nhỏ hơn 25cm và từ 25 đến 30cm
Nghiên cứu về chế độ sấy gỗ Bời lời vàng, Bộ môn Chế biến Lâm sản cho biết khi sấy ở nhiệt độ 60-800C gỗ có chỉ số khuyết tật và co rút cao hơn nhiều so với 2 chế
độ sấy ở nhiệt độ 50-700C và 40-600C, đặc biệt tỷ lệ nứt vỡ là 3,58% so với 1,47% và 1,60% Chế độ sấy (50-70) 0C có tỷ lệ khuyết tật và co rút cao hơn ở chế độ (40-60) 0C nhưng không đáng kể Chế độ sấy (40-60) 0C có thời gian sấy lâu nhất là 304 giờ, tiếp
Trang 30đến chế độ (50-70) 0C với 236 giờ, rút ngắn 68 giờ (22,37%) và nhanh nhất là chế độ (60-80) 0C, chỉ mất 178 giờ, rút ngắn 126 giờ (41,45 %)
1.3 Nhận xét và đánh giá chung
Điểm qua các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước về các vấn đề
có liên quan đến đối tượng nghiên cứu và chủ đề của luận văn, có thể rút ra một số nhận xét sau đây:
Các công trình nghiên cứu về cây Bời lời vàng cả trên thế giới và ở Việt Nam hiện chưa có nhiều, đặc biệt là về trồng rừng; các thông tin đưa ra còn rất ít và chỉ ở một vài khía cạnh riêng lẻ Tuy nhiên, có thể thấy rằng Bời lời vàng là loài cây gỗ lớn, bản địa, mọc nhanh đa tác dụng, gỗ có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau Các nghiên cứu ở Việt Nam bước đầu đã xác định được vùng phân bố, mô tả sơ bộ về đặc điểm hình thái, sinh thái và thử nghiệm trồng rừng với quy mô nhỏ Việc nghiên cứu
bổ sung đặc điểm vật hậu, sinh lý hạt giống và kỹ thuật tạo cây con Bời lời vàng là rất cần thiết và có ý nghĩa phục vụ cho phát triển trồng rừng loài cây này ở nước ta
Xuất phát từ những yêu cầu trên, đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh lý hạt
giống và kỹ thuật tạo cây con Bời lời vàng (Litsea pierrei Lecomte) phục vụ trồng rừng cung cấp gỗ lớn” đặt ra là hết sức cần thiết và có ý nghĩa khoa học lẫn thực
tiễn
Trang 31Chương 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Cung cấp những thông tin cơ bản về các đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh lý hạt giống và kỹ thuật tạo cây con Bời lời vàng phục vụ cho việc nhận biết, thu hái hạt giống, gieo ươm cây con, góp phần hoàn thiện các biện pháp kỹ thuật nhân giống Bời lời vàng phục vụ phát triển trồng rừng cung cấp gỗ lớn
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
Đề tài đặt ra các mục tiêu nghiên cứu sau đây:
- Xác định được các đặc điểm hình thái Bời lời vàng
- Xác định được một số đặc điểm sinh lý hạt giống Bời lời vàng
- Xác định được các biện pháp kỹ thuật tạo cây con Bời lời vàng từ hạt và từ hom phục vụ trồng rừng cung cấp gỗ lớn
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hạt giống, cây con và cây trưởng thành Bời
lời vàng (Litsea pierrei Lecomte)
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Về đặc điểm hình thái: Đề tài giới hạn trong nghiên cứu đặc điểm hình thái
cây, thân, vỏ, cành, lá và hoa, quả
- Về đặc điểm sinh lý hạt giống:
Đề tài giới hạn trong nghiên cứu các chỉ tiêu sau: kích thước quả và kích thước hạt, khối lượng 1000 hạt, tỷ lệ nước trong hạt, tỷ lệ nảy mầm, thế nảy mầm của hạt
- Về các biện pháp kỹ thuật tạo cây con:
Đề tài giới hạn trong nghiên cứu các biện pháp tạo cây con từ hạt (bao gồm: bảo quản hạt giống, xử lý hạt giống, chế độ che sáng, thành phần ruột bầu) và tạo cây con bằng hom
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trên, đề tài tiến hành nghiên cứu các nội dung sau:
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái Bời lời vàng
Trang 32- Nghiên cứu đặc điểm sinh lý hạt giống Bời lời vàng
- Nghiên cứu kỹ thuật tạo cây con Bời lời vàng từ hạt
- Nghiên cứu kỹ thuật tạo cây con Bời lời vàng bằng hom
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
- Kế thừa có chọn lọc các tài liệu về đặc điểm tự nhiên, các báo cáo về vùng phân bố Bời lời vàng chủ yếu
- Kế thừa các kết quả đề tài nghiên cứu, các chương trình dự án đã triển khai
liên quan đến loài Bời lời vàng
- Các tài liệu liên quan đến kỹ thuật nhân giống, các chuyên đề, đề tài đã nghiên cứu về nhân giống loài Bời lời vàng, nhân giống cây rừng và các loài cây bản địa nói chung
2.4.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, Bời lời vàng
+ Đặc điểm hình thái:
Chọn 6 cây tiêu chuẩn trưởng thành Bời lời vàng ở khu vực Tân Phú - Đồng Nai
và Mã Đà - Đồng Nai để nghiên cứu đặc điểm hình thái Bời lời vàng (mỗi nơi chọn 3 cây) Cây được chọn có đường kính D1.3 ≥ 20cm Tại mỗi cây trưởng thành tiến hành
đo D1.3, Hvn, chiều cao dưới cành Hdc (m) Lựa chọn 3 cành ở 3 vị trí xung quanh cây, tại mỗi cành quan sát và đo đếm kích thước lá: Chiều dài, chiều rộng, hình dạng lá, màu sắc, cách mọc lá Tại mỗi cây quan sát hình dạng thân, vỏ cây Vào mùa ra hoa, kết quả quan sát và mô tả hoa, quả, đồng thời chụp ảnh minh họa
2.4.3 Phương pháp điều tra, tổng kết các biện pháp kỹ thuật gieo ươm Bời lời vàng
đã có
Từ thông tin có được về địa điểm các mô hình rừng trồng Bời lời vàng hiện có,
đề tài đã làm việc với các cơ quan/cá nhân trên địa bàn để lấy thông tin về những người
đã từng tham gia sản xuất cây giống, trồng rừng Bời lời vàng
- Địa điểm điều tra:
Gồm các nơi đã thực hiện việc gieo ươm Bời lời vàng, cụ thể:
(1) Ban quản lý rừng phòng hộ Tân Phú, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai (2) Khu bảo tồn thiên nhiên Văn hóa Đồng Nai, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
Trang 33(3) Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Lâm nghiệp Đông Nam Bộ, thuộc huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
- Đối tượng điều tra: Là những cán bộ quản lý và người dân tham gia trực
tiếp sản xuất gieo ươm loài cây Bời lời vàng Tổng số đã phỏng vấn 3 cơ quan và 3
cá nhân
- Nội dung điều tra: Điều tra các kỹ thuật gieo ươm Bời lời vàng như:
+ Thu hái quả và bảo quản hạt
+ Kỹ thuật xử lý hạt giống
+ Kỹ thuật làm đất vườn ươm
+ Kich thước bầu
+ Thành phần hỗn hợp ruột bầu
+ Thu hái quả, xử lý và gieo tạo cây con
+ Chế độ chăm sóc cây con tại vườn ươm
+ Các loại sâu bệnh hại cây con và cách phòng trừ
+ Khả năng sinh trưởng và thích nghi của cây con ở giai đoạn vườn ươm + Tiêu chuẩn cây con xuất vườn
Mẫu phiếu phỏng vấn chi tiết các cá nhân và cơ quan được trình bày ở phụ lục
1 và 2
2.4.4 Nghiên cứu đặc điểm sinh lý hạt giống Bời lời vàng
Phương pháp đánh giá đặc điểm phẩm chất hạt giống áp dụng theo Tiêu chuẩn ngành 04-TCN-33-2001 “Hạt giống cây trồng lâm nghiệp - Phương pháp kiểm nghiệm” (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2001), gồm các chỉ tiêu: khối lượng 1.000 hạt, độ ẩm hạt giống, tỷ lệ nảy mầm, tốc độ này mầm Sử dụng cân điện tử có độ chính xác đến 0,01g
- Xác định kích thước quả:
Chọn ngẫu nhiên 150 quả ngẫu nhiên thu hái từ 5 cây, mỗi cây 30 quả Tiến hành đo kích thước chiều dài và chiều rộng quả bằng thước kẹp với độ chính xác tới 0,1mm Xác định kích thước chiều dài và chiều rộng quả lớn nhất (Max) và nhỏ nhất (Min), biên độ Max-Min cũng như hệ số biến động của quả Bời lời vàng
- Xác định kích thước hạt:
Chọn ngẫu nhiên 100 hạt ngẫu nhiên thu hái từ 5 cây, mỗi cây 30 hạt Tiến hành
đo kích thước chiều dài và chiều rộng hạt bằng thước kẹp với độ chính xác tới 0,1mm
Trang 34Xác định kích thước chiều dài và chiều rộng hạt lớn nhất (Max) và nhỏ nhất (Min), biên độ Max-Min cũng như hệ số biến động của hạt Bời lời vàng
- Xác định khối lượng 1000 quả và khối lượng 1000 hạt:
Là khối lượng tính bằng gam của 1000 quả và 1000 hạt thuần đã được loại bỏ tạp chất Tại mỗi lô quả và lô hạt Bời lời vàng, lấy ngẫu nhiên 8000 quả và 8000 hạt thuần theo phương pháp ngẫu nhiên, chia số quả và hạt này thành 8 tổ, mỗi tổ 1000 quả
và 1000 hạt (8 lần lặp) Cân khối lượng của từng lần lặp với độ chính xác đến 0,01g Khối lượng 1000 quả và 1000 hạt được tính bằng cách lấy tổng khối lượng 1000 quả
và 1000 hạt của 8 lần cân chia cho 8
- Xác định hàm lượng nước trong hạt Bời lời vàng:
Chọn ngẫu nhiên 800 hạt Bời lời vàng, chia thành 8 mẫu, mỗi mẫu 100 hạt Các mẫu hạt Bời lời vàng sau khi thu hái về đem cân ngay để xác định khối lượng với độ chính xác tới 0,01g Sau đó các mẫu được đưa vào tủ sấy để sấy khô tới khối lượng không đổi, cân để xác định khối lượng khô sau sấy Hàm lượng nước trong hạt (tính bằng %) được tính như sau:
mtươi - mkhô
Hàm lượng nước trong hạt (%) = - x 100%
mtươi
Trong đó: mtươi: là khối lượng 100 hạt trước khi sấy (g)
mkhô: là khối lượng 100 hạt sau khi sấy khô (g)
- Tỷ lệ nảy mầm được tính theo công thức:
X
Y X
Trang 35Trong đó: S: là số ngày bình quân cho quá trình nảy mầm
Xi: là số hạt nảy mầm ngày thứ i Yi: là ngày quan sát thứ i
2.4.5 Phương pháp nghiên cứu các biện pháp bảo quản hạt Bời lời vàng
Sau khi quả chín, thu hái về, sơ chế loại bỏ tạp chất và tiến hành các thí nghiệm bảo quản hạt Đề tài bố trí 4 công thức thí nghiệm sau, mỗi công thức thí nghiệm được lặp lại 3 lần:
i) Bảo quản trong chum vại ở nhiệt độ thường
ii) Bảo quản hạt bằng cát ẩm trong điều kiện nhiệt độ thường
iii) Bảo quản hạt ở tủ lạnh 50C
iv) Bảo quản hạt trong cát ẩm ở tủ lạnh 50C
Thời gian theo dõi thí nghiệm là 24 tuần (6 tháng), định kỳ 2 tuần kiểm tra tỷ lệ nảy mầm một lần
2.4.6 Phương pháp nghiên cứu xử lý hạt Bời lời vàng trước khi gieo
Đề tài bố trí 3 công thức xử lý hạt giống là:
i) CT1: ngâm nước thường
ii) CT2: ngâm nước 2 sôi 3 lạnh (40oC)
iii) CT3: ngâm nước 3 sôi 2 lạnh (600C)
Thời gian ngâm là 1,5 ngày Sau khi ngâm, hạt được vớt ra đem ủ và hàng ngày tiến hành rữa chua, đếm số hạt nảy mầm Thí nghiệm bố trí ngẫu nhiên, lặp lại 4 lần,
100 hạt/công thức/lặp Kết quả số liệu được ghi chép hàng ngày các chỉ tiêu: số hạt nảy mầm, số hạt thối
2.4.7 Phương pháp nghiên cứu thành phần ruột bầu cho Bời lời vàng
Áp dụng phương pháp bố trí thí nghiệm hỗn hợp ruột bầu (theo thể tích) với các mức dinh dưỡng khác nhau về thành phần đất, phân chuồng hoai, xơ dừa cho đối tượng nghiên cứu theo tỷ lệ đất: xơ dừa: phân chuồng hoai, gồm 4 công thức sau:
i) CT1: 50% đất tầng A + 30% xơ dừa + 20% phân chuồng hoai
ii) CT2: 40% đất tầng A + 40% xơ dừa + 20% phân chuồng hoai
iii) CT3: 30% đất tấng A + 50% xơ dừa + 20% phân chuồng hoai
iv) CT4: 80% đất tầng A + 0% xơ dừa + 20% phân chuồng hoai
Trang 36- Túi bầu PE, kích thước bầu 17cm x 22cm, có đục lỗ
- Mỗi công thức thí nghiệm với 60 cây/công thức/lặp Các ô được bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn, lặp lại 4 lần
- Yêu cầu cây con trong các thí nghiệm này phải đồng nhất về sinh trưởng, chất lượng khi tiến hành đầu vào Chỉ tiêu theo dõi và đo đếm là chỉ số sinh trưởng Hvn, D00
Đo đếm các chỉ tiêu, ghi chép vào biểu mẫu:
+ Tỷ lệ sống (%): đếm toàn bộ số cây sống ở các công thức thí nghiệm tại thời điểm báo cáo
+ Chiều cao vút ngon (Hvn): bằng thước đo cao độ chính xác 0,1 cm
+ Đường kính gốc (Do): đo bằng thước kẹp kính có độ chính xác tới 0,1 mm
Sử dụng phương pháp phân tích phương sai và tiêu chuẩn Duncan để kiểm tra
sự sai khác giữa các công thức và tìm ra công thức tốt nhất
2.4.8 Nghiên cứu chế độ che sáng cây con Bời lời vàng trong giai đoạn vườn ươm
Đề tài bố trí 4 công thức thí nghiệm sau:
+ CT1: Che sáng 25%
+ CT2: Che sáng 50%
+ CT3: Che sáng 75%
+ CT4: Không che (đối chứng)
Giàn che được thiết kế bằng lưới đen, cắt lỗ bổ sung để đảm bảo mức độ che sáng cho các công thức thí nghiệm và có sử dụng máy Luximeter để kiểm tra lại cường
độ ánh sáng Các công thức thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ, mỗi thí nghiệm lặp lại 3 lần, 40 bầu/lần lặp Đồng nhất các chỉ tiêu chăm sóc như: Tưới nước, phòng sâu bệnh: Kiến, mối, sâu hại Sử dụng phương pháp phân tích phương sai
và tiêu chuẩn Duncan để kiểm tra sự sai khác giữa các công thức và tìm ra công thức tốt nhất
2.4.9 Phương pháp nghiên cứu giâm hom Bời lời vàng
- Thí nghiệm tuổi cây lấy hom: Đề tài bố trí các công thức sau:
CT1: hom cây 3 tuổi
CT2: hom cây 2 tuổi
CT3: hom cây 1 tuổi
Trang 37CT4: hom cây 6 tháng tuổi
Mỗi công thức 30 hom với 4 lần lặp Giá thể dùng trong thí nghiệm là cát sạch, chất kích thích ra rễ là IBA nồng độ 2.000 ppm, thời gian xử lý là 2 phút Các điều kiện khác được đồng nhất như điều kiện vườn giâm ngoài trời (không che sáng), chế độ tưới phun sương tự động, trong 10 ngày đầu là 5 giây trong khoảng thời gian 1 phút và 10 ngày tiếp theo là 5 giây trong khoảng thời gian 2 phút đảm bảo ẩm độ không khí luống giâm khoảng 80%
- Thí nghiệm về chất kích thích và nồng độ chất kích thích sinh trưởng
Thí nghiệm thực hiện với 10 công thức, lặp lại 4 lần, 30 hom/công thức/lần lặp
Bảng 2.1: Các công thức giâm hom Bời lời vàng Công
Các chỉ tiêu theo dõi là tỷ lệ hom ra rễ, số rễ/hom, chiều dài rễ và sức khỏe của cây hom Số liệu được thu thập sau 3 tháng giâm hom Hom dùng trong thí nghiệm được lấy
từ cây 1 năm tuổi Giá thể được sử dụng là cát sạch Thời gian xử lý là 2 phút
- Thí nghiệm về giá thể giâm hom: Bố trí các công thức sau:
CT1: 100% cát sạch
CT2: 70% đất tầng mặt + 30 % cát sạch
Trang 38CT3: 70% đất tầng mặt + 30 % xơ dừa
Hom trong thí nghiệm được lấy từ cây 1 năm tuổi, chất kích thích là IBA nồng
độ 2.000 ppm Các điều kiện khác đồng nhất Thí nghiệm được bố trí 4 lần lặp lại, dung lượng mẫu 30 hom/công thức/lặp Các chỉ tiêu theo dõi là tỷ lệ hom ra rễ, số rễ/hom, chiều dài rễ và sức khỏe của cây hom
- Thí nghiệm về thời gian xử lý thuốc:
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ với 4 lần lặp lại, dung lượng mẫu 30 hom/công thức/lặp Các chỉ tiêu theo dõi là tỷ lệ hom ra rễ, số rễ/hom, chiều dài rễ và sức khỏe của cây hom
Các mức thời gian xử lý là: 30 giây; 60 giây; 120 giây, giá thể giâm hom là cát sạch, chất kích thích ra rễ là IBA nồng độ 2.000 ppm
- Thí nghiệm về mùa vụ giâm hom
Mùa vụ giâm hom được bố trí để giâm hom là:
Công thức 1: Mùa khô (tháng 2/2019)
Công thức 2: Mùa mưa (tháng 7/2019)
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ với 4 lần lặp lại, dung lượng mẫu 30 hom/công thức/lặp Tuổi cây giâm hom là cây 1 năm tuổi, giá thể giâm hom là cát sạch, chất kích thích ra rễ là IBA nồng độ 2.000 ppm Các chỉ tiêu theo dõi là tỷ lệ hom ra rễ, số rễ/hom, chiều dài rễ và sức khỏe của cây hom
Trang 39Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái Bời lời vàng
Qua điều tra khảo sát 6 cây trưởng thành Bời lời vàng ở khu vực Tân Phú - Đồng Nai (3 cây) và Mã Đà - Đồng Nai (3 cây) cho thấy:
- Bời lời vàng (Litsea pierrei Lecomte) là cây gỗ lớn, thường xanh, cao 30 - 35
m, đường kính lên tới 150 cm (Nguyễn Anh Tuấn, 2015)
- Thân Bời lời vàng tròn, thẳng
Hình 3.1: Thân cây Bời lời vàng được cắt ngắn
- Vỏ cây nhẵn, bong thành từng mảng, màu xanh nhạt, thịt vỏ màu trắng vàng;
có mùi thơm, hơi dính
- Cành non Bời lời vàng màu xanh có khía dọc
- Lá đơn nguyên, mọc cách, hình bầu dục hoặc hình trứng ngược, dài 11,1 - 15,3
cm, rộng 6,2 - 7,5 cm Phiến lá dày, màu xanh lục hơi vàng, đầu và gốc lá hình nêm hoặc hơi tù, có 7 - 9 đôi gân bên Cuống lá dài 3,5 - 5,1 cm, có rãnh ở mặt trên