Tóm t ắt: Trong xu th ế hội nhập, các quốc gia phải lập báo cáo t ài chính (BCTC) h ợp nhất cho toàn b ộ lĩnh vực công theo khuôn mẫu th ống nhất của chuẩn mực kế toán (CMKT) công qu[r]
Trang 1TIẾN TỚI HÒA HỢP, THỐNG NHẤT GIỮA KẾ TOÁN TRONG LĨNH VỰC NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỚI CHUẨN MỰC KẾ TOÁN CÔNG QUỐC TẾ
CN Trần Minh Loan
Khoa Kinh tế, trường Đại học Xây dựng Miền Trung
ThS Lê Thị Thanh Huyền
Học viện Ngân hàng, Phân viện Phú Yên
Tóm tắt: Trong xu thế hội nhập, các quốc gia phải lập báo cáo tài chính (BCTC) hợp nhất
cho toàn bộ lĩnh vực công theo khuôn mẫu thống nhất của chuẩn mực kế toán (CMKT) công quốc tế nhằm phản ánh tình hình tài chính, kết quả hoạt động và xác định thặng dư, thâm hụt thuần cho từng năm để có thể so sánh trên phạm vi toàn cầu theo một tiêu chí chung nhất BCTC của từng quốc gia không phù hợp với CMKT công quốc tế thì không thể so sánh và khó có thể có sự thừa nhận của quốc tế đối với quốc gia đó Đây chính là nội dung quan trọng mà tất cả các cam kết trong quá trình hội nhập các quốc gia phải tuân thủ
Với yêu cầu như vậy, Việt Nam có đáp ứng được không? Có cần thiết không? Với hoạt động kinh kế, đầu tư đa quốc gia thì có cần phải công bố các thông tin minh bạch? Điều đó sẽ mang lại những lợi thế gì cho Việt Nam? Để trả lời những câu hỏi này, cần xem xét những nội dung liên quan đến BCTC theo CMKT công quốc tế và theo chế độ kế toán hành chính sự nghiệp (HCSN) ở Việt Nam
1 Sự khác biệt giữa chế độ kế toán HCSN
ở Việt Nam và CMKT công quốc tế
a Khác biệt quy định về hệ thống BCTC
Theo CMKT công quốc tế (IPSAS), các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực công
hàng năm phải lập BCTC là những đơn vị
kinh tế có thể sử dụng kinh phí ngân sách
nhà nước (NSNN) nhưng chịu sự kiểm soát
của Chính phủ hoặc cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền Các đơn vị kinh tế thuộc lĩnh
vực công phải lập BCTC theo IPSAS là các
đơn vị hoạt động theo nguyên tắc tự cân đối
thu, chi Chênh lệch giữa các khoản thu (bao
gồm cả kinh phí ngân sách cấp) đã sử dụng
trong quá trình hoạt động là thặng dư hoặc
thâm hụt thuần (doanh nghiệp gọi là lãi, lỗ)
của đơn vị trong kỳ kế toán Theo đó,
IPSAS quy định: kế toán trên cơ sở tiền mặt
lập một báo cáo thu – chi tiền mặt, kế toán
trên cơ sở dồn tích lập 5 báo cáo (Báo cáo
tình hình tài chính của đơn vị; Báo cáo kết
quả hoạt động; Báo cáo sự thay đổi về tài
sản thuần/Vốn chủ sở hữu; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Chính sách kế toán và giải trình BCTC)
Ở Việt Nam, chế độ kế toán HCSN quy định, các đơn vị HCSN phải lập 6 báo cáo (Báo cáo tổng hợp tình hình kinh phí và quyết toán kinh phí đã sử dụng; Báo cáo chi tiết kinh phí hoạt động; Báo cáo chi tiết kinh phí dự án; Báo cáo thu, chi hoạt động
sự nghiệp và hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD); Báo cáo tình hình tăng, giảm tài sản cố định; Báo cáo số kinh phí chưa sử dụng đã quyết toán năm trước chuyển sang)
và 4 phụ biểu (Bảng cân đối tài khoản; Thuyết minh báo cáo tài chính; Bảng đối chiếu dự toán kinh phí ngân sách tại Kho bạc Nhà nước; Bảng đối chiếu tình hình tạm ứng và thanh toán tạm ứng kinh phí ngân sách tại Kho bạc Nhà nước)
- Báo cáo có liên quan đến tình hình tài chính
Trang 2+ IPSAS: Bảng cân đối kế toán để phản ánh tình hình tài chính
+ Chế độ kế toán HCSN ở Việt Nam:
Bảng cân đối tài khoản Thực chất đây chỉ là
một phương pháp kiểm tra của kế toán Bảng
cân đối tài khoản không phản ánh được tình
hình tài chính, thực trạng, tài sản, nguồn vốn
của đơn vị như đối với bảng cân đối kế toán
Do vậy, người sử dụng thông tin không thấy
được tài sản và nợ phải trả theo hai loại ngắn
hạn và dài hạn cũng như cơ cấu tài sản,
nguồn vốn của đơn vị
- Báo cáo liên quan đến thu, chi trong quá
trình hoạt động
+ IPSAS: đơn vị thuộc lĩnh vực công phải lập Báo cáo kết quả hoạt động để phản
ánh thu, chi trong quá trình hoạt động để xác
định thặng dư hoặc thâm hụt của đơn vị
trong kỳ kế toán Toàn bộ các khoản thu bao
gồm cả số kinh phí đã tiếp nhận và các
khoản chi bao gồm cả số kinh phí đã sử dụng
phát sinh trong kỳ được phản ánh vào báo
cáo kết quả hoạt động
Các đơn vị thuộc lĩnh vực công phải xác định thặng dư hoặc thâm hụt thuần trên
cơ sở so sánh chênh lệch các khoản thu,
chi phát sinh trong kỳ Và các khoản thu
chi phát sinh trong quá trình hoạt động của
đơn vị được phản ánh theo nguyên tắc cơ
sở dồn tích
+ Chế độ kế toán HCSN ở Việt Nam:
không lập báo cáo kết quả hoạt động mà
toàn bộ thu, chi của đơn vị HCSN được phản
ánh ở hai báo cáo: các khoản kinh phí đơn vị
đã tiếp nhận và sử dụng trong kỳ kế toán
được phản ánh riêng ở báo cáo tổng hợp tình
hình kinh phí và quyết toán kinh phí đã sử
dụng; các khoản thu, chi hoạt động sự
nghiệp và hoạt động SXKD phản ánh ở báo
cáo thu, chi hoạt động sự nghiệp và hoạt động SXKD
Toàn bộ quá trình tiếp nhận và sử dụng kinh phí NSNN và các khoản thu, chi của hoạt động sự nghiệp được phản ánh về
cơ bản theo nguyên tắc cơ sở tiền mặt, các khoản thu, chi của hoạt động SXKD được phản ánh theo nguyên tắc cơ sở dồn tích
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
+ IPSAS: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
để xác định các nguồn của những luồng tiền vào, những khoản mục chi bằng tiền trong
kỳ kế toán, và số dư tiền tệ tại ngày kết thúc
kỳ kế toán
+ Chế độ kế toán HCSN ở Việt Nam hiện nay chưa có báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Do đó, để thực hiện được IPSAS thì việc đầu tiên bắt buộc phải tiến hành là các quy định
về quản lý ngân sách và tài chính công phải được nghiên cứu, xem xét để ban hành cho phù hợp với thông lệ chung của các nước
b Khác biệt quy định về lập BCTC hợp nhất
- Theo CMKT công quốc tế: đơn vị kinh tế (đơn vị báo cáo) là một hoặc một nhóm đơn vị kiểm soát và một hoặc nhiều đơn vị bị kiểm soát Đơn vị kiểm soát phải lập BCTC hợp nhất của các đơn vị bị kiểm soát Để lập BCTC hợp nhất, đơn vị kiểm soát phải xác định các đơn vị bị kiểm soát Kiểm soát là quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của đơn vị khác nhằm thu được lợi ích từ hoạt động của các đơn vị đó và đơn vị có quyền kiểm soát phải tuân theo qui định của pháp luật hoặc theo những thoả thuận chính thức, như: đơn
vị có thẩm quyền quyết định thành lập và chi phối các chính sách tài chính và hoạt động;
có quyền giải thể, thu hồi, xử lý tài sản và có
Trang 3trách nhiệm về các khoản nợ phải trả của các
đơn vị khi giải thể
Như vậy theo IPSAS, Chính phủ và từng Bộ, ngành, tỉnh, thành phố…đều là các
đơn vị kinh tế, đều phải lập BCTC trên cơ sở
hệ thống CMKT công BCTC của Chính phủ
theo IPSAS phải được hợp nhất từ BCTC
của tất cả các đơn vị trung gian do Chính
phủ kiểm soát, trong đó bao gồm cả đơn vị
được hoặc không được Nhà nước cấp kinh
phí, vốn; đơn vị có thể hoạt động độc lập
không được Chính phủ hoặc cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quyết định thành lập
hoặc giải thể…Các đơn vị chịu sự kiểm soát
của Chính phủ phải được hợp nhất vào
BCTC của Chính phủ
- Đối với Việt Nam, việc lập Báo cáo quyết toán ngân sách để phục vụ điều hành
ngân sách của Quốc hội đã quá quen thuộc,
nhưng công việc lập BCTC cho toàn bộ khu
vực công theo hệ thống CMKT công quốc tế
còn quá xa lạ Các khái niệm về khu vực
công và sử dụng CMKT công còn quá xa lạ
và phức tạp với Việt Nam Như đơn vị kinh
tế trong lĩnh vực công phải lập BCTC;
BCTC hợp nhất; đơn vị kiểm soát; đơn vị bị
kiểm soát; kiểm soát vì mục đích BCTC; lợi
ích và sở hữu của cổ đông thiểu số; hoạt
động liên doanh liên kết giữa các chính phủ
của các nước; hoạt động đầu tư, kể cả đầu tư
của Nhà nước đã vượt ra ngoài biên giới
quốc gia
Như vậy, với những khác biệt quá lớn
về hệ thống BCTC giữa chế độ kế toán
HCSN ở Việt Nam và CMKT công quốc tế
thì yêu cầu các quốc gia phải lập BCTC hợp
nhất cho toàn bộ lĩnh vực công theo khuôn
mẫu thống nhất của IPSAS đối với Việt Nam
ngay lúc này chưa thể áp dụng được
2 Những trở ngại về lập BCTC hợp nhất trong toàn bộ lĩnh vực công ở Việt Nam
và những lợi thế cho Việt Nam khi hoạt động kinh tế, đầu tư đa quốc gia công bố thông tin minh bạch
a Những trở ngại về lập BCTC hợp nhất trong toàn bộ lĩnh vực công ở Việt Nam
Việc áp dụng CMKT công quốc tế sẽ mang lại nhiều lợi ích như nâng cao tính toàn diện, công khai và minh bạch của BCTC; nâng cao chất lượng và tính so sánh giữa các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công cũng như tính nhất quán trong việc lập và báo cáo các thông tin tài chính, hạn
chế tham nhũng…
Tuy nhiên, CMKT công quốc tế được xây dựng trên cơ sở nền tài chính công ở các quốc gia phát triển ở mức độ cao, trong đó, quan hệ NSNN với các đơn vị sự nghiệp được thực hiện theo đơn đặt hàng, hoạt động
sự nghiệp của đơn vị này được coi là các dịch
vụ công thực hiện theo đơn đặt hàng của Nhà nước và khi hoàn thành nghiệm thu sẽ được Nhà nước thanh toán Các đơn vị thuộc lĩnh vực công ở các nước này là các đơn vị hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh tế, tự cân đối thu, chi Như vậy, chỉ có những nước phát triển mới có khả năng áp dụng ngay
chuẩn mực này
Ngoài ra, trong khu vực công, thể chế chính trị, quan hệ cấp phát, thanh toán giữa NSNN với các đơn vị thuộc lĩnh vực công và tài chính công giữa các quốc gia còn nhiều khác biệt
Quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đã hình thành các mối quan hệ quốc tế Việc gia nhập các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực như WTO, Hiệp định thương mại Việt- Mỹ…đòi hỏi Việt Nam phải cung cấp thông tin có tính chuẩn mực, có khả năng so
Trang 4sánh và phải được quốc tế thừa nhận Tuy
nhiên, các thông tin tài chính, kế toán hiện
hành trong lĩnh vực công cho thấy chưa có
sự nhất quán giữa các hệ thống kế toán hiện
nay Lĩnh vực công của Việt Nam xét trên
bình diện tổng thể vẫn chưa đầy đủ, hoàn
chỉnh, chưa phù hợp với yêu cầu và thông lệ
quốc tế
Chế độ kế toán HCSN ban hành kèm theo Quyết định 19/2006/QĐ-BTC ngày
30/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính được
xây dựng và ban hành trên cơ sở Luật Ngân
sách, Luật Kế toán và các chính sách tài
chính áp dụng cho đơn vị HCSN Tuy nhiên,
trong quá trình xây dựng chế độ kế toán
HCSN, Việt Nam chưa tham khảo CMKT
công quốc tế nên còn nhiều điểm khác biệt
với hệ thống CMKT công quốc tế, cụ thể: tổ
chức ngân sách lồng ghép với nhiều cấp như
Trung ương, tỉnh, huyện, xã, trong đó, cấp
xã vừa là một cấp ngân sách vừa là một cấp
dự toán; yêu cầu quản lý ngân sách và các
quy định quản lý tài chính áp dụng cho các
đơn vị sử dụng ngân sách và các cấp ngân
sách khá phức tạp, không giống như các
nước khác
Thực tế ở Việt Nam, hệ thống BCTC của đơn vị HCSN theo qui định hiện hành đã
đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước, phù
hơp với Luật NSNN và các chính sách quản
lý tài chính đối với các đơn vị HCSN Tuy
nhiên, BCTC của đơn vị HCSN hiện nay
mới chỉ là một bộ phận cấu thành để tổng
hợp vào báo cáo quyết toán ngân sách nhằm
phục vụ điều hành ngân sách của Quốc hội
BCTC của đơn vị HCSN hiện nay chưa phải
là BCTC của một đơn vị kinh tế bị kiểm
soát, phục vụ cho việc lập BCTC hợp nhất của Chính phủ để công khai nhằm cung cấp đầy đủ thông tin giúp cho tất cả công dân có thể kiểm tra, giám sát, đánh giá năng lực tài chính và kết quả hoạt động của quốc gia trong từng năm tài chính
Do đó, việc lập BCTC hợp nhất trong toàn bộ lĩnh vực công ở Việt Nam là cần thiết nhưng ngay lúc này thì chưa thể thực hiện Khoảng cách giữa chế độ kế toán HCSN ở Việt Nam với CMKT công quốc tế
là khá lớn
b Những lợi thế cho Việt Nam khi hoạt động kinh tế, đầu tư đa quốc gia công bố thông tin minh bạch
Kinh tế Việt Nam đang trong quá trình tăng trưởng và phát triển, nhận được sự đánh giá cao và niềm tin của các nhà đầu tư quốc tế về cơ hội đầu tư trung và dài hạn Hiện nay, với xu thế hội nhập, khuyến khích đầu tư từ nước ngoài thì vấn đề công bố thông tin minh bạch đối với hoạt động kinh
tế, đầu tư đa quốc gia là cần thiết, đảm bảo cho việc quản lý vĩ mô nền kinh tế của nhà nước, giúp nhà nước có những định hướng cho phát triển kinh tế, có cái nhìn đúng đắn
về các hoạt động đầu tư để từ đó đưa ra những chính sách phù hợp cho hoạt động đầu tư
Học hỏi được kinh nghiệm quản lý, tổ chức, phương thức hoạt động từ các hoạt động đầu tư đa quốc gia
Việc minh bạch thông tin giúp các nhà đầu tư trong nước có những quyết định đúng đắn, phù hợp với lợi ích của họ khi tham gia vào các hoạt động kinh tế
Trang 5Tóm lại, trong xu thế hội nhập, các quốc gia
phải lập BCTC hợp nhất cho toàn bộ lĩnh
vực công theo khuôn mẫu thống nhất của
IPSAS để phản ánh tình hình tài chính, kết
quả hoạt động và xác định thặng dư, thâm
hụt cho từng năm để có thể so sánh trên
phạm vi toàn cầu theo một tiêu chí chung
nhất Điều này không chỉ là sự cần thiết, yêu
cầu của hoạt động kinh tế, đầu tư đa quốc
gia mà quan trọng hơn là việc công bố các
thông tin minh bạch sẽ tạo ra lợi thế cho các
khoản đi vay, cho vay giữa các quốc gia và
với các tổ chức quốc tế
Do đó, Việt Nam cần phải ban hành CMKT công dựa trên cơ sở CMKT công
quốc tế và phù hợp với hoàn cảnh trong nước Để làm được điều đó phải nhanh chóng chuyển biến về nhận thức; phải đổi mới phương thức quản lý NSNN
Ngay từ bây giờ Việt Nam cần phải đưa ra lộ trình cụ thể để áp dụng, tiến tới thống nhất BCTC trên cơ sở kế toán dồn tích
từ Chính phủ xuống tất cả các đơn vị Hiện nay các công ty sử dụng nguồn vốn từ ngân sách rất nhiều, chia thành nhiều đối tượng, như vậy: làm thế nào để các công ty con cũng tuân thủ nhất quán chế độ kế toán như các công ty mẹ đang là vấn đề Việt Nam sẽ phải tiếp tục học hỏi kinh nghiệm từ các nước để đưa ra lộ trình riêng cho mình
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Liên đoàn kế toán quốc tế IFAC, Hệ thống chuẩn mực kế toán công quốc tế
[2] Bộ tài chính, Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp, 30/03/2006
[3] www.tapchiketoan.com
[4] www.thuvienphapluat.com
[5] www.kiemtoancom.vn