1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xác định mức độ ô nhiễm các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm trên địa bàn huyện diễn châu, tỉnh nghệ an và đề xuất giải pháp

112 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 13,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Nguyễn V ệt Vương Tên Luận văn: Nghiên cứu xác định mức độ ô nhiễm các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN VIỆT VƯƠNG

NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ Ô NHIỄM CÁC LÀNG NGHỀ CHẾ BIẾN LƯƠNG THỰC, THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

Người hướng dẫn khoa học: TS Trịnh Quang Huy

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu tôi thực hiện, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Việt Vương

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể các thầy cô giáo Khoa Môi trường, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã truyền đạt cho tôi những kiến thức cơ bản và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học cao học trong suốt 2 năm qua

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới TS Trinh Quang Huy và đã dành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu đề tài này

Tôi cũng xin cảm ơn Ban lãnh đạo Chi cục Bảo vệ môi trường Nghệ An, Ban lãnh đạo Công ty cổ phần tư vấn Mô trường HQ, ch nhánh Công ty HQ tạ Nghệ An

đã g úp đỡ tô các tà l ệu cần th ết cho đề tà này

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã động viên và giúp đỡ tôi về tinh thần, vật chất trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Việt Vương

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục bảng v

Danh mục hình vi

Danh mục chữ viết tắt vii

Trích yếu luận văn viii

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

Phần 2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 3

2.1 Hiện trạng hoạt động và vấn đề môi trường các làng nghề tại việt nam 3

2.1.1 Lịch sử phát triển và phân loại làng nghề tại Việt Nam 3

2.1.2 Hiện trạng phân bố và phát triển làng nghề tại Việt Nam 5

2.1.3 Hiện trạng phát sinh chất ô nhiễm và vấn đề môi trường làng nghề 11

2.2 Hiện trạng các làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An 14

2.2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội tỉnh Nghệ An 14

2.2.2 Hiện trạng sản xuất của các làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An 17

Phần 3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 25

3.1 Ðối tượng và phạm vi nghiên cứu 25

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 25

3.2 Nội dung nghiên cứu 25

3.2.1 Hiện trạng hoạt động sản xuất của các làng nghề 25

3.2.2 Hiện trạng chất lượng môi trường làng nghề 25

3.2.3 Hiện trạng tuân thủ quy định về bảo vệ môi trường các làng nghề 25

3.2.4 Đề xuất giải pháp quản lý môi trường làng nghề 25

3.3 Phương pháp nghiên cứu 25

3.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập dữ liệu thứ cấp 26

Trang 5

3.3.2 Phương pháp điều tra, thu thập dữ liệu sơ cấp 26

3.3.3 Phương pháp phân loại làng nghề, đánh giá hoạt động sản xuất, chất lượng môi trường và tuân thủ quy định BVMT tại các làng nghề 27

3.3.4 Phương pháp khảo sát, lấy mẫu hiện trường 27

3.3.5 Phương pháp chuyên gia 29

3.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 29

Phần 4 Kết quả nghiên cứu 30

4.1 Hiện trạng sản xuất và phát sinh chất thải làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm huyện Diễn Châu 30

4.1.1 Hiện trạng sản xuất và nguồn thải của các làng nghề 30

4.1.2 Hiện trạng phát sinh chất thải tại các làng nghề 38

4.2 Hiện trạng quản lý và chất lượng môi trường làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm huyện Diễn Châu 47

4.2.1 Hiện trạng quản lý và bảo vệ môi trường làng nghề 47

4.2.2 Ảnh hưởng của làng nghề chế biến đến môi trường và sức khỏe 53

4.3 Đề xuất giải pháp quản lý môi trường làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm huyện Diễn Châu 60

4.3.1 Nhu cầu phát triển các làng nghề trong tương lai 60

4.3.2 Giải pháp quản lý tổng thể môi trường làng nghề chế biến 63

4.3.3 Tổ chức thực hiện bảo vệ môi trường làng nghề giai đoạn 2017-2030 69

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 72

5.1 Kết luận 72

5.2 Kiến nghị 73

Tàı lıệu tham khảo 75

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề hiện nay 7

Bảng 2.2 Phát sinh ô nhiễm từ sản xuất của một số loại hình làng nghề 13

Bảng 2.3 Thời gian thành lập và phân bố số lượng làng nghề tỉnh Nghệ An theo địa giới hành chính 18

Bảng 2.4 Hiện trạng sản xuất các làng nghề trên địa bàn Nghệ An 21

Bảng 3.1 Tổng hợp số lượng phiếu điều tra đã thực hiện 26

Bảng 3.2 Tổng hợp các chỉ tiêu phân tích môi trường làng nghề 27

Bảng 4.1 Danh sách các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm trên địa bàn huyện Diễn Châu 30

Bảng 4.2 Lưu lượng nước thải phát sinh từ các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm trên địa bàn huyện Diễn Châu 39

Bảng 4.3 Giá trị trung bình các chất ô nhiễm trong nước thải làng nghề 42

Bảng 4.4 Tải lượng thải các chất ô nhiễm trong nước thải làng nghề 43

Bảng 4.5 Ước tính lượng phát sinh chất thải rắn do quá trình đốt than từ các làng nghề chế biến 45

Bảng 4.6 Ước tính lượng phát sinh khí và bụi thải do quá trình đốt than từ các làng nghề chế biến 46

Bảng 4.7 Hiện trạng công tác bảo vệ môi trường làng nghề 51

Bảng 4.8 Giá trị trung bình các thông số trong nước mặt tại các làng nghề 53

Bảng 4.9 Giá trị trung bình các thông số hai kiểu khai thác nước dưới đất 55

Bảng 4.10 Hiện trạng môi trường không khí các làng nghề chế biến 56

Bảng 4.11 Tổng hợp các giải pháp quản lý theo đề xuất của làng nghề 62

Bảng 4.12 Đề xuất yêu cầu hoàn thiện thủ tục pháp lý về môi trường 66

Bảng 4.13 Tổng hợp kế hoạch thực hiện quản lý môi trường làng nghề 70

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Tỷ lệ các làng nghề Việt Nam theo loại hình sản xuất 5

Hình 2.2 Bản đồ phân bố các làng nghề Việt Nam theo lĩnh vực 6

Hình 2.3 Tỷ lệ các lĩnh vực sản xuất làng nghề tại Nghệ An 17

Hình 4.1 Quy trình sản xuất nước mắm, mắm tôm và dòng thải 32

Hình 4.2 Quy trình chế biến hải sản khô và các dòng thải 33

Hình 4.3 Quy trình sản xuất các loại bánh gói và dòng thải 34

Hình 4.4 Quy trình sản xuất bún, phở, bánh mướt và dòng thải 35

Hình 4.5 Quy trình sản xuất bánh đa và dòng thải 36

Hình 4.6 Quy trình sản xuất kẹo lạc, cu đơ và dòng thải 37

Hình 4.7 Giá trị trung bình các thông số trong nước thải sản xuất làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm huyện Diễn Châu 41

Hình 4.8 Lượng chất thải rắn phát sinh theo quy mô sản xuất nước mắm 44

Hình 4.9 Tỷ lệ mắc các bệnh thường gặp của nhân công làm nghề 58

Hình 4.10 Tỷ lệ ý kiến đánh giá khó khăn của các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm Diễn Châu 62

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

BOD Nhu cầu oxy sinh hóa

BTNMT Bộ tài nguyên và môi trường BVMT Bảo vệ môi trường

COD Nhu cầu oxy hóa học

CTR Chất thải rắn

DD&MN Dân dụng và mỹ nghệ

HĐND Hội đồng nhân dân

NTSH Nước thải sinh hoạt

NTSX Nước thải sản xuất

QCVN Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

UBND Ủy ban nhân dân

VOC Hợp chất hữu cơ bay hơi

VSMT Vệ sinh môi trường

VSV Vi sinh vật

WHO Tổ chức y tế thế giới

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn V ệt Vương

Tên Luận văn: Nghiên cứu xác định mức độ ô nhiễm các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An và đề xuất giải pháp Ngành: Khoa học môi trường Mã số: 60.44.03.01

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu

- Xác định đặc điểm phân bố, hiện trạng sản xuất và các nguồn phát sinh chất thải

có nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường tại các làng nghề nghiên cứu

- Đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm trên địa bàn huyện

- Đánh giá hiện trạng quản lý môi trường làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm và đề xuất giải pháp giảm thiểu nguy cơ gây ô nhiễm môi trường

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp điều tra, thu thập dữ liệu thứ cấp: Sử dụng phương pháp thu thập

và phân tích các số liệu thứ cấp, kế thừa các kết quả nghiên cứu liên quan: Thu thập, tổng hợp và thống kê các số liệu về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương làm cơ sở cho việc phân tích xu thế phát triển của các loại hình làng nghề trên địa bàn tỉnh; Thống kê các thông tin về hoạt động các làng nghề trên địa bàn tỉnh (Các

số liệu được tổng hợp từ phòng Tài nguyên và Môi trường và phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên địa bàn 16 huyện và thành phố thuộc tỉnh Nghệ An nơi có làng nghề được công nhận)

Phương pháp điều tra thu thập dữ liệu sơ cấp: Điều tra, thống kê, kiểm kê, phân loại làng nghề chế biến lương thực thực phẩm theo nguyên liệu và sản phẩm; quy mô và công nghệ sản xuất Các thông tin thứ cấp về số lượng các làng nghề được công nhận trên địa bàn cũng như sự phân loại về loại hình và quy mô sản xuất của các làng nghề tương ứng hiện nay

Phương pháp phân loại làng nghề, đánh giá hoạt động sản xuất, chất lượng môi trường và tuân thủ quy định BVMT tại các làng nghề: Việc điều tra, thống kê, kiểm kê, phân loại các cơ sở trong làng nghề theo hướng dẫn của Thông tư 46/2011/TT-BTNMT,

Phương pháp khảo sát, lấy mẫu hiện trường:

- Quan trắc nước thải sản xuất: Đo đạc lưu lượng, thu mẫu tại các điểm xả thải đại diện cho loại hình sản xuất của các làng nghề.(24 mẫu)

Trang 10

- Qua trắc không khí xung quanh: Đo đạc các thông số vi khí hậu, thu mẫu không khí xung quanh tại các cơ sở sản xuất (9 mẫu)

Phương pháp chuyên gia: Trên cơ sở các thông tin thứ cấp về hiện trạng các làng nghề và hiện trạng môi trường tại các khu vực nghiên cứu, việc đề xuất các giải pháp quản lý và giảm thiểu ô nhiễm môi trường làng nghề trong thời gian tới được thực hiện Phương pháp xử lý số liệu: Kết quả phân tích được đánh giá thông qua so sánh và đối chiếu với QCVN hiện hành

120 hộ sản xuất tại làng nghề Hải Đông (Diễn Bích) và Ngọc Văn (Diễn Ngọc)

là các làng nghề chế biến hải sản, lượng nước phải phát sinh lớn chủ yếu từ công đoạn rửa sơ chế nguyên liệu và dụng cụ (108-138 m3/ngày) Làng nghề bánh lá Tân Yên (Diễn Hồng), chế biến lương thực Đông Kỷ 1 (Diễn Kỷ) và bún bánh Huỳnh Dương (Diễn Quảng) là các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm với lượng nước thải phát sinh lớn nhất (85-343 m3/ngày) Làng nghề bánh đa Hồng Yên, Trường Tiến (Diễn Ngọc) và bánh kẹo Xuân Bắc, Đồng Hà (Diễn Vạn) phát sinh lượng nước thải không đáng kể (42-81 m3/ngày) Nước thải sản xuất có BOD, COD, TSS vượt quá QCVN từ 2,2 đến 8,2 lần ngoài ra amoni và dầu mỡ vượt 1,2-1,3 lần và coliform vượt chuẩn 42,3 lần so với QCVN 40:2011/BTNMT cho thấy mức độ ô nhiễm cao đặc biệt tại Đông Kỷ, Tân Yên, Huỳnh Dương (SX bún, bánh), Ngọc Văn và Hải Đông (CB hải sản) Lượng chất thải rắn được thu gom và tận dụng tốt, phát sinh ra ngoài môi trường chủ yếu là xỉ than (tính trên 07 làng nghề liên quan đến quá trình đốt than), lượng phát sinh trung bình năm vào khoảng 2886 tấn phần lớn được thu gom chung với CTR thông thường Bên cạnh đó, các khí cháy như SO2, NOx và CO cũng phát sinh với tải lượng lớn, ngoài

ra còn bụi, tiếng ồn, nhiệt độ và hơi hữu cơ là những tác động đáng kể của làng nghề đối với môi trường xung quanh

Trang 11

Các tác động nêu trên khiến cho nước mặt làng nghề bị ảnh hưởng đáng kể, các thủy vực nhận thải có mức độ ô nhiễm bao bởi TSS, BOD, COD, NH4+, vi sinh vật và suy giảm cục bộ oxy hòa tan Nước dưới đất khai thác phục vụ sản xuất và sinh hoạt cũng bị ô nhiễm bởi COD, NH4+ và coliform đặc biệt cao tại các giếng có độ sâu dưới 15m Không khí xung quanh của nhiều làng nghề (LN Đông Kỷ, Trường Tiến, Tân Yên) bị ô nhiễm tiếng ồn, bụi lơ lửng và nhiễm bẩn NH3, NOx (LN Hồng Yên, Ngọc Văn) Hiện trạng quản lý môi trường làng nghề còn nhiều bất cập từ hệ thống quản lý nhà nước cho đến quản lý môi trường tại các cơ sở sản xuất có thể gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của người lao động, cộng đồng và an ninh xã hội khu vực

Căn cứ mục tiêu phát triển của địa phương, nhu cầu của cơ sở và chính quyền địa phương, hạ tầng kỹ thuật và các tiềm năng khác của địa phương, nghiên cứu đã đưa

ra các giải pháp quản lý môi trường làng nghề chia thành 04 nhóm: cơ chế, chính sách; quy hoạch không gian; truyền thông và các giải pháp kỹ thuật Trong đó, các làng nghề thuộc nhóm C và một số cơ sở lớn thuộc nhóm B cần thực hiện di rời vào khu công nghiệp hoặc cụm công nghiệp hiện có với những chính sách hỗ trợ từ tỉnh và chính quyền địa phương Song song với đó thực hiện thí điểm sau đó nhân rộng các giải pháp

xử lý chất thải tại nguồn đối với các cơ sở vừa và nhỏ, cơ sở không có nhu cầu di rời để phát triển làng nghề bền vững gắn với vùng nguyên liệu và vùng tiêu thụ sản phẩm

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Nguyen VietVuong

Thesis title: Investigate the pollution status in food processing craft villages in Dien Chau province

Major: Environmental science Code: 60.44.03.01

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives:

- Identification of distribution characteristics, production status and sources of waste that impact to the environment in the research villages

- Assessment current situation of the environment of food processing villages in the district

- Assessment current state of environmental management in food processel villages and proposing solutions to minimize the risk of causing environmental pollution

Materials and Methods:

Method of investigation, secondary data collection: Using the method of collecting and analyzing secondary data, inheriting the related research results: Collecting, aggregating and statistical data of the article Natural conditions, socio-economic conditions of the province as a basis for analyzing the trend of development

of types of trade villages in the province; Statistics on activities of craft villages in the province (Data are collected from the Department of Natural Resources and Environment and the Department of Agriculture and Rural Development in 16 districts and cities in Nghe An province Where a village is recognized)

Method of investigation for primary data collection: Investigation, statistics, inventory and classification of craft villages for food and foodstuff processing according

to raw materials and products; Production scale and technology Secondary information

on the number of craft villages recognized in the area as well as the classification of the type and scale of production of respective trade villages

Classification of craft villages, evaluation of production activities, environmental quality and compliance with environmental protection regulations in craft villages: Survey, inventory, inventory and classification of establishments in craft villages according to guidelines Of Circular 46/2011 / TT-BTNMT,

Field survey, field sampling:

Trang 13

- Production wastewater monitoring: Measurement of flow and sampling at discharge points representing the production of craft villages (24 samples)

- Surrounding air: Measurement of microclimate parameters, ambient air sampling at production facilities (9 samples)

Expert method: On the basis of secondary information on the current status of craft villages and the current state of the environment in the research areas, the proposed solutions to manage and reduce environmental pollution in trade villages in the time Time is coming

Data processing method: The results of the analysis are evaluated by comparison and comparison with the current QCVN

Main findings and conclusions

Proposed solutions for environmental management of food processing villages

in Dien Chau district

138 m3 / day) The village of Tan Yen cakes (Dien Hong), the food processing of Dong

Ky 1 (Dien Ky) and Huynh Duong (Diem Quang) rice vermicelli are the villages that produce food and foodstuff with the largest amount of waste water (85-343 m3 / day) The villages of Hong Yen, Truong Tien (Dien Ngoc) and Xuan Bac, Dong Ha (Dien Van) brewery generates a negligible amount of wastewater (42-81 m3 / day) Production wastewater with BOD, COD, TSS exceeds QCVN from 2.2 to 8.2 times in addition to ammonia and grease exceeds 1.2 to 1.3 times and coliform is 42.3 times higher than QCVN 40: 2011 / BTNMT shows high levels of pollution especially in Dong Ky, Tan Yen, Huynh Duong (noodles, cake), Ngoc Van and Hai Dong The amount of solid wastes collected and utilized well, generated outside the environment is mainly coal slag (in 07 villages involved in the coal burning process), the average

Trang 14

amount of generated about 2886 tons large Collected with common CTR In addition, combustible gases such as SO2, NOx and CO also emit large amounts of dust, noise, heat and organic vapors that are significant impacts on the surrounding environment

The above mentioned impacts cause the surface water of the craft village to be significantly affected The watersheds are covered by TSS, BOD, COD, NH4 +, microorganisms and local dissolved oxygen Groundwater exploited for production and living is also contaminated by COD, NH4 + and particularly high coliforms in wells below 15m The ambient air of many craft villages (Dong Ky, Truong Tien, Tan Yen) is polluted

Trang 15

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Làng nghề là một bộ phận của kinh tế nông thôn nước ta hiện nay Phát triển làng nghề chính là giải pháp hữu hiệu cho việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, giải quyết công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người dân và ổn định an sinh xã hội Đây cũng chính là một trong những trọng tâm của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở nước ta hiện nay Theo niên giám thống kê tỉnh Nghệ An (2016), tỉnh có dân số khu vực nông thôn khá đông (86,11%), cao hơn mức trung bình chung của cả nước (79,8%) Tính đến hết 2016, trên địa bàn tỉnh có 139 làng nghề, bên cạnh đó còn có gần

400 làng có nghề (theo Quyết định số 3805/QĐ-UBND ngày 04/10/2012) Các làng nghề trên địa bàn tỉnh phong phú về số lượng và lĩnh vực sản xuất trong đó các làng nghề chiếm số lượng lớn gồm 44 làng nghề mây tre đan, 21 làng nghề mộc dân dụng và mỹ nghệ, 33 làng nghề chế biến nông sản và hải sản) Các làng nghề trên địa bàn tỉnh đã tạo việc làm ổn định cho trên 40.000 lao động, với mức thu nhập 8-30 triệu đồng/năm

Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm phân bố tại các khu vực gần nguồn nguyên liệu (hải cảng, làng chài, vùng sản xuất cây lương thực…) và thuận tiện trong giao thông vận tải Huyện Diễn Châu hội đủ các điều kiện nêu trên do đó trên địa bàn tỉnh, hoạt động sản xuất lương thực, thực phẩm tại các làng nghề phát triển mạnh mẽ; giá trị nhiều mặt hàng của làng nghề cao

Bên cạnh những đóng góp tích cực, sự phát triển của làng nghề chế biến cũng là một trong những nguyên nhân làm gia tăng vấn đề ô nhiễm môi trường khu vực nông thôn, chất lượng môi trường ở phần lớn các làng nghề ở nước ta hiện nay ngày càng bị suy giảm, tạo nên mâu thuẫn gay gắt giữa môi trường và phát triển Nhiều làng nghề đã trở thành điểm nóng về môi trường, gây bức xúc cho người dân và cho công tác quản lý, bảo vệ môi trường (BVMT) của địa phương đặc biệt là vấn đề chất thải rắn và nước thải (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2015) Do đặc thù của sản xuất làng nghề mang tính chất hộ gia đình, phân tán, điều kiện hạ tầng và trang thiết bị còn yếu kém, thiếu đồng bộ, ý thức của các hộ sản xuất chưa cao, chưa quan tâm đến công tác BVMT dẫn đến các làng nghề đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng

Trang 16

Để tăng cường công tác BVMT trong quản lý và phát triển làng nghề, phân loại làng nghề theo khả năng gây ô nhiễm môi trường, ngăn ngừa phát sinh các điểm ô nhiễm mới do ảnh hưởng của làng nghề; từng bước khắc phục, cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, bảo vệ sức khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư, góp phần phát triển kinh tế xã hội khu vực nông thôn một cách bền vững; nằm trong yêu cầu quy hoạch tổng thể BVMT làng nghề tại Quyết định số 577/QĐ-TTg ngày 11/04/2013, Nghệ An cần thực hiện đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp BVMT tất cả các làng nghề trên địa bàn của tỉnh Trong đó, Diễn Châu là một huyện chiếm tỷ lệ các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm cao cần có những đánh giá chi tiết cho loại hình làng nghề này trên địa bàn Đây là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xác định mức độ ô nhiễm các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An và đề xuất giải pháp”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Xác định đặc điểm phân bố, hiện trạng sản xuất và các nguồn phát sinh chất thải có nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường tại các làng nghề nghiên cứu

- Đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm trên địa bàn huyện

- Đánh giá hiện trạng quản lý môi trường làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm và đề xuất giải pháp giảm thiểu nguy cơ gây ô nhiễm môi trường

Trang 17

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 HIỆN TRẠNG HOẠT ÐỘNG VÀ VẤN ÐỀ MÔI TRƯỜNG CÁC LÀNG NGHỀ TẠI VIỆT NAM

2.1.1 Lịch sử phát triển và phân loại làng nghề tại Việt Nam

Từ xa xưa, người nông dân Việt Nam đã biết sử dụng thời gian nông nhàn

để sản xuất những sản phẩm thủ công, phi nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu đời sống như: các công cụ lao động nông nghiệp, giấy, lụa, vải, thực phẩm qua chế biến… Các nghề này được lưu truyền và mở rộng qua nhiều thế hệ, dẫn đến nhiều hộ dân có thể cùng sản xuất một loại sản phẩm Bên cạnh những người chuyên làm nghề, đa phần lao động vừa sản xuất nông nghiệp vừa làm nghề Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hóa, các nghề mang tính chất chuyên môn sâu hơn, được cải tiến kỹ thuật hơn và thường được giới hạn trong quy mô nhỏ (làng), dần dần tách hẳn nông nghiệp để chuyển hẳn sang nghề thủ công Xuất hiện từ rất lâu đời (điển hình như các làng nghề ở Hà Tây (cũ), Bắc Ninh, Hưng Yên, có từ thời nhà Lê, Nhà Lý), các làng nghề nông thôn đã có những bước đánh dấu khá rõ nét trong lịch sử kinh tế xã hội

Cho đến 2015, cả nước có 2.126 làng nghề dải khắp cả 3 miền Bắc, Trung, Nam, trong đó tập trung phần lớn ở vùng Đồng bằng sông Hồng.(Chu Thái Thành, 2014) Các làng nghề thu hút hơn 10 triệu lao động, nâng cao thu nhập cho người dân, cải thiện đáng kể đời sống cho một bộ phận dân cư khu vực nông thôn Hiện nay, Nhà nước có nhiều chính sách nhằm khuyến khích làng nghề phát triển, đặc biệt từ khi Hiệp hội làng nghề Việt Nam được thành lập (2005), đã

có nhiều chương trình, chính sách nhằm bảo tồn, thúc đẩy sự phát triển làng nghề Tuy nhiên, nhiều làng nghề có nguy cơ lâm vào tình trạng suy thoái do nhiều nguyên nhân khác nhau (do bế tắc về thị trường, do bị cạnh tranh, do thiếu vốn để cải tiến sản xuất, gây ô nhiễm môi trường…) Để giải quyết những khó khăn này, cần có cái nhìn tổng quan về làng nghề và gắn với thực trạng phát triển kinh tế xã hội (Báo cáo hiện trạng môi trường Quốc gia, 2008)

Có thể hiểu làng nghề “là làng nông thôn Việt Nam có ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số lao động và thu nhập so với nghề nông” (Đặng Kim Chi, 2005) Có nhiều quan điểm khác nhau về tiêu chí để

Trang 18

một làng ở nông thôn được coi là làng nghề Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008, tiêu chí công nhận làng nghề gồm có 3 tiêu chí sau: (1) Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn (2) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận (3) Chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước (Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia, 2008)( Thông tư 116/2006/ TT-BNN)

Tính đến 2015, với hơn 2000 làng nghề trong cả nước, gồm 11 nhóm ngành nghề, sử dụng hơn 10 triệu lao động, đóng góp hơn 40 ngàn tỷ đồng cho thu nhập quốc gia… các làng nghề truyền thống đã và đang đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam, đặc biệt là khu vực kinh

tế nông thôn: Sản xuất tiểu thủ công nghiệp tận dụng nguồn nguyên liệu phong phú với giá thành rẻ Các nghề truyền thống chủ yếu sử dụng các nguyên liệu sẵn

có trong nước, vốn là các tài nguyên thiên nhiên điển hình của miền nhiệt đới: tre nứa, gỗ, tơ tằm, các sản phẩm của nông nghiệp nhiệt đới (lúa gạo, hoa quả, ngô, khoai, sắn…), các loại vật liệu xây dựng…(Báo cáo hiện trạng môi trường Quốc gia, 2008)

Mặt khác, sản phẩm từ các làng nghề không chỉ đáp ứng các thị trường trong nước với các mức độ nhu cầu khác nhau mà còn xuất khẩu sang các thị trường nước bạn với nhiều mặt hàng phong phú, có giá trị cao Trong đó, điển hình nhất là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ (hiện nay, mặt hàng này xuất khẩu đạt giá trị gần 1 tỷ USD/năm) Giá trị hàng hóa từ các làng nghề hàng năm đóng góp cho nền kinh tế quốc dân từ 40 – 50 ngàn tỷ đồng (Đặng Kim Chi, 2011) Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy nhanh quá trình CNH - HĐH nông thôn Đặc biệt, phát triển các nghề truyền thống đang góp phần giải quyết công

ăn việc làm cho hơn 11 triệu lao động chuyên và hàng ngàn lao động nông nhàn

ở nông thôn, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân Nhiều làng nghề hiện nay có xu hướng phát triển theo hướng phục vụ các dịch vụ du lịch Đây là hướng đi mới nhưng phù hợp với thời đại hiện nay và mang lại hiệu quả kinh tế cao, đồng thời có thể giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường, nâng đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững

Trang 19

Hình 2.1 Tỷ lệ các làng nghề Việt Nam theo loại hình sản xuất

Nguồn: Tổng cục môi trường tổng hợp (2008)

Cách phân loại làng nghề phổ biến nhất là phân theo loại hình sản xuất, loại hình sản phẩm Theo cách này có thể phân thành 6 nhóm ngành sản xuất Như vậy, nhóm ngành chiếm ưu thế trong loại hình sản xuất của làng nghề có liên quan đến sản phẩm thủ công, mỹ nghệ, chế biến lương thực thực phẩm Nhóm dệt, nhuộm, thuộc da cũng chiếm tỷ trọng lớn Các nhóm có số lượng làng nghề thấp là tái chế phế liệu (chủ yếu là nhựa, kim loại và giấy), khai thác đá và sản xuất vật liệu xây dựng Ngoài ra nhóm nghề khác gồm mộc gia dụng, cơ khí nhỏ, đóng thuyền, giấy, đan vó, lưới Ngoài ra còn có thể phân loại theo quy mô sản xuất (lớn, nhỏ, trung bình); phân loại theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm; theo lịch sử phát triển; theo mức độ sử dụng nguyên liệu, theo thị trường tiêu thụ sản phẩm hoặc theo tiềm năng tồn tại và phát triển…(Đặng Kim Chi và cs., 2012)

2.1.2 Hiện trạng phân bố và phát triển làng nghề tại Việt Nam

Với các chỉ tiêu đã đề ra, 2.126 làng nghề thuộc 11 nhóm ngành nghề khác nhau, trong đó gồm 1,4 triệu hộ tham gia sản xuất (cả hộ kiêm), thu hút hơn 11 triệu lao động Nhiều tỉnh có số lượng các làng nghề lớn như Hà Tây (cũ) với 280 làng nghề, Bắc Ninh (187), Hải Dương (65), Hưng Yên (48)… với hàng trăm ngành nghề khác nhau, phương thức sản xuất đa dạng Các làng nghề ở miền Bắc phát triển hơn

ở miền Trung và miền Nam, chiếm gần 70% số lượng các làng nghề trong cả nước (1.594 làng nghề) Miền Trung có khoảng 111 làng nghề, còn lại ở miền Nam hơn

300 làng nghề (Báo cáo hiện trạng Môi trường Quốc gia, 2008)

Nguyên vật liệu cho các làng nghề chủ yếu được khai thác ở các địa phương trong nước Nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, phong phú nông sản và thực vật, đồng thời có nguồn khoáng sản phong phú, đa dạng trong đó có các loại vật liệu xây dựng Do đó, hầu hết các nguồn nguyên liệu vẫn lấy từ trực tiếp từ tự nhiên Do sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất, việc khai thác và cung

Trang 20

ứng các nguyên liệu tại chỗ hay các vùng khác trong nước đang dần bị hạn chế

Ví dụ, theo thống kê, làng nghề gốm Bát Tràng (Hà Nội) mỗi năm tiêu thụ khoảng 70.000 tấn than, gần 100.000 tấn đất nguyên liệu; Các làng nghề chế biến

gỗ, mây tre đan trong những năm qua đòi hỏi cung cấp một khối lượng nguyên liệu rất lớn, đặc biệt là các loại gỗ quý

Lương thực, thực phẩm Dệt nhuộm, tơ, thuộc da Vật liệu xây dựng

Chế biến phế liệu Thủ công mỹ nghệ Ngành khác Hình 2.2 Bản đồ phân bố các làng nghề Việt Nam theo lĩnh vực

Nguồn: Báo cáohiện trạng môi trường Quốc Gia (2008)

Trang 21

Công nghệ, thiết bị và cơ sở hạ tầng sản xuất: Hầu hết các cơ sở sản xuất nghề nông thôn, nhất là ở khu vực các hộ tư nhân vẫn còn sử dụng các loại công

cụ thủ công truyền thống hoặc cải tiến một phần Trình độ công nghệ còn lạc hậu, cơ khí hóa thấp, các thiết bị phần lớn đã cũ, sử dụng lại của các cơ sở sản xuất công nghiệp quy mô lớn không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, an toàn và vệ sinh môi trường Trình độ công nghệ thủ công và bán cơ khí vẫn chiếm tỷ lệ hơn 60%

ở các làng nghề Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và thế giới, nhiều làng nghề đã áp dụng công nghệ mới, thay thế máy móc mới, hiện đại Ví dụ, làng gốm Bát Tràng đã dùng đã dần dần đưa công nghệ nung gốm sứ bằng lò tuy nen (dùng ga và điện) thay cho lò hộp và lò bầu (dùng than và củi), nhào luyện đất bằng máy thay cho bằng tay thủ công, dùng bàn xoay bằng mô tơ điện thay cho bàn xoay bằng tay ; làng gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ Bắc Ninh hiện nay

đã đầu tư máy xẻ, máy vanh, máy khoan bàn, máy phun sơn… phục vụ cho sản xuất, nhờ đó mà năng suất và chất lượng sản phẩm cũng được nâng cao rõ rệt…

Bảng 2.1 Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề hiện nay

Trình độ kỹ thuật Chế biến lương

thực, thực phẩm

Thủ công và vật liệu xây dựng Dịch vụ

Ngành khác Thủ công bán cơ khí (%) 61,51 70,69 43,9 59,44

Cơ khí (%) 38,49 29,31 56,1 40,56

Nguồn: Đặng Kim Chi (2005)

Song nhìn chung, phần lớn công nghệ và kỹ thuật áp dụng cho sản xuất trong các làng nghề nông thôn còn lạc hậu, tính cổ truyền chưa được chọn lọc và đầu tư khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm còn thấp, do đó chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường và giảm sức cạnh tranh Các làng nghề hiện nay nhìn chung đều gặp khó khăn về mặt bằng cho sản xuất Tình trạng phổ biến nhất hiện nay là việc sử dụng luôn nhà ở làm nơi sản xuất Các cơ sở sản xuất lớn thì thường chỉ có lán che lợp fibrô xi măng, rơm rạ, lá mía, căng bạt… mang tính chất tạm bợ Các bãi tập kết nguyên liệu, kể cả các bãi, kho chứa hàng gần khu dân cư, tạm bợ, không đúng tiêu chuẩn môi trường (ví dụ như làng nghề tái chế nhựa Minh Khai, Hưng Yên; làng nghề tái chế chì Chỉ Đạo, Hưng Yên…)

Về nhà xưởng, các làng nghề chỉ có số ít (10 – 30%) các nhà xưởng kiên

Trang 22

cố, còn lại là bán kiên cố và tạm bợ Tỷ lệ đường giao thông tốt trong các làng nghề đa số chỉ chiếm trên dưới 20% Hệ thống cấp nước sạch chưa đáp ứng được

cả cho sinh hoạt và cho sản xuất Chỉ có 60% số hộ nông dân dùng nước sạch theo các hình thức nước giếng khoan, nước mưa, nước giếng khơi, còn lại là dùng nước mặt ao hồ, sông, suối (Đặng Kim Chi, 2005) Do khai thác bừa bãi nên nguồn nước bị cạn kiệt Nước thải hầu như ít được xử lý nên gây ô nhiễm nước mặt và nước ngầm ngày càng nghiêm trọng Đặc biệt là trong những năm gần đây, quy mô sản xuất của nhiều làng nghề tăng lên, áp dụng nhiều biện pháp công nghệ có sử dụng hóa chất, thiết bị và nhiêu liệu… đã gây ô nhiễm nặng nề cho môi trường sống

Về lao động và tổ chức sản xuất: Trong những năm gần đây, hoạt động sản xuất của làng nghề đang có nhiều bước tiến mới, nhất là trong thời đại hiện đại hóa, toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới như hiện nay Các làng nghề đã thu hút một lực lượng lao khá đông đảo, chiếm gần 30% lao động nông thôn (hơn 10 triệu lao động) Hiện nay, mỗi cơ sở chuyên làm nghề bình quân tạo việc làm ổn định cho 27 lao động thường xuyên, 8 – 10 lao động thời vụ Mỗi hộ chuyên nghề tạo việc làm cho 4 – 6 lao động thường xuyên, 2 – 5 lao động thời vụ Đặc biệt ở nghề dệt, thêu ren, mây tre đan, mỗi cơ sở có thể thu hút 200 – 250 lao động Nhiều làng nghề đã thu hút hơn 60% lao động trong vùng và nhiều lao động từ các vùng khác đến Ví dụ làng gốm Bát Tràng (Hà Nội) đã giải quyết việc làm cho gần 2.430 lao động của xã và từ 5000 – 6000 lao động từ các vùng khác đến; hay làng nghề Đồng Kỵ (Bắc Ninh), cũng tạo việc làm cho hơn 4500 lao động tại chỗ và khoảng 1500 lao động vùng lân cận… (Đặng Kim Chi, 2005)

Do hạn chế về công nghệ và kỹ thuật sản xuất nên các làng nghề vẫn sử dụng chủ yếu là các lao động thủ công ở hầu hết các công đoạn, kể cả những công đoạn nặng nhọc và độc hại nhất Mặt khác, nhiều sản phẩm có đặc thù đòi hỏi trình độ kỹ thuật và tính mỹ thuật cao, tay nghề khéo léo… chủ yếu là ở các làng nghề truyền thống, sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ Trong các làng nghề truyền thống, vai trò của các nghệ nhân rất quan trọng, được coi là nòng cốt của quá trình sản xuất và sáng tạo ra nghệ thuật Chất lượng lao động và trình độ chuyên môn ở các làng nghề nhìn chung còn thấp, chủ yếu là lao động phổ thông, lao động nghề chiếm tỷ lệ rất nhỏ

Với người lao động trực tiếp, thành phần đã tốt nghiệp phổ thông ở các cơ

Trang 23

sở sản xuất và các hộ chuyên chiếm hơn 70%; còn đối với các hộ kiêm và các hộ thuần nông, lao động nghề chiếm từ 40 đến 70% mới tốt nghiệp cấp I và II, tỷ lệ hết cấp III chưa đến 20% Đối với các chủ hộ và chủ doanh nghiệp, nhìn chung trình độ học vấn, chuyên môn còn rất hạn chế Có tới 1,3 – 1,6% trong số họ không biết chữ, trình độ học vấn bình quân mới đạt lớp 7 – 8/12 Tỷ lệ chưa qua đào tạo kiến thức quản lý chuyên môn ở các chủ hộ chiếm 51,5 – 69,89%, đối với các chủ doanh nghiệp chiếm hơn 43% (Trần Minh Yến, 2003)

Trong lịch sử phát triển làng nghề các giai đoạn qua thì hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh phổ biến nhất là hình thức hộ gia đình Cho đến nay, cùng với đó, một số hình thức sản xuất khác đã ra đời và phát triển phù hợp với xu hướng kinh tế mới Các hình thức tổ chức sản xuất của các làng nghề chủ yếu gồm: Tổ chức sản xuất Hợp tác xã; doanh nghiệp tư nhân; hộ gia đình; công ty trách nhiệm hữu hạn; công ty cổ phần Các hình thức này cùng tồn tại, tác động lẫn nhau trong điều kiện kinh tế mới của nền kinh tế thị trường Song, hiện tại, hộ gia đình vẫn là hình thức tổ chức sản xuất phổ biến nhất trong các làng nghề

Thị trường công nghệ mang một đặc tính riêng của các làng nghề Các thợ thủ công có khả năng tạo ra các công cụ sản xuất từ đơn giản đến phức tạp Quá trình chuyên môn hóa sản xuất là động lực cho ra đời các làng nghề chuyên chế tạo công cụ sản xuất cung ứng cho các làng nghề Ví dụ, có nơi chuyên sản xuất các loại máy móc (máy cắt, tráng bún miến, khuôn đúc hoa văn, máy nhào luyện đất, máy dệt…) cho các làng nghề Hiện nay, do tác dụng của cách mạng Khoa học Kỹ thuật, thị trường công nghệ đã dần chuyển giao công nghệ mới, hiện đại vào sản xuất Tuy nhiên, hiệu quả đạt được còn nhiều hạn chế, do điều kiện kinh

tế xã hội của nước ta, nên nhiều công nghệ chủ yếu sử dụng lại công nghệ cũ của các nước khác, các hộ sản xuất sử dụng công nghệ cũ của các xưởng sản xuất lớn hơn gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến an toàn lao động

Thị trường tiêu thụ sản phẩm: Trước đây, về cơ bản thị trường này nhỏ hẹp, tiêu thụ tại chỗ (các vùng nông thôn, các làng nghề) do đó giá thành cũng thấp Từ khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, cơ cấu kinh tế và quan hệ

hệ sản xuất ở nông thôn cũng dần thay đổi, điều này đã tác động mạnh mẽ đến tình hình sản xuất và kinh doanh của các làng nghề, chúng dần thích ứng, đáp ứng các nhu cầu của một nền kinh tế mới Sản xuất hộ gia đình được khuyến khích và chiếm ưu thế đã tạo điều điều cho việc sử dụng lao động, tự do chọn

Trang 24

nguyên liệu và sản phẩm, tăng gia sản xuất, lựa chọn thị trường và tiêu thụ sản phẩm Nhiều mặt hàng từ các làng nghề đã được nhiều thị trường trong nước chấp nhận và vươn tới các thị trường nước ngoài, mang lại nguồn thu đáng kể cho quốc gia, đặc biệt phải kể đến là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ (mây tre đan, hàng dệt, thêu ren, gốm…), đồ gỗ gia dụng, gỗ mỹ nghệ… Hiện nay, thị trường xuất khẩu các mặt hàng truyền thống của Việt Nam mở rộng sang khoảng hơn 100 quốc gia trên thế giới, trong đó có các nước như Trung Quốc, Hồng Kông, Singapo, thậm chí cả các thị trường khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, EU… Năm 2000, kim ngạch xuất khẩu đạt 562 triệu USD, trong đó cao nhất là các mặt hàng gỗ gia dụng và gỗ mỹ nghệ (Lương Thị Mai Hương, 2011)

Giá trị sản lượng các làng nghề: Trong thời gian qua, các làng nghề Việt Nam đã có nhiều bước tiến mới trong quá trình phát triển Các làng nghề đã tạo

ra một khối lượng hàng hóa lớn đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tính đến năm 2000, tổng giá trị sản lượng của các làng nghề trong cả nước đạt khoảng 40.000 tỷ đồng, tốc

độ tăng trưởng bình quân trong thời gian này qua khảo sát đạt từ 7 – 9%/năm (Trần Tâm, 2012).Cơ cấu các ngành nghề cũng đa dạng hơn, có sự chuyển dịch đáng kể, tăng tỷ trọng các ngành chế biến lương thực, thực phẩm và cơ khí, giảm

tỷ trọng các ngành sản xuất vật liệu Các sản phẩm đã và đang dần bám sát nhu cầu và thị hiếu của thị trường Nhiều làng nghề mới được thành lập, nhiều làng nghề cũ đã đầu tư cải tiến kỹ thuật, nâng cao tay nghề… Do đó giá trị sản lượng cũng như chất lượng sản phẩm không ngừng tăng lên, dần xâm nhập các thị trường khó tính trên thế giới Một số tỉnh điển hình với giá trị sản lượng của các làng nghề cao như: Năm 2000 giá trị hàng hóa các làng nghề tỉnh Nam Định đạt

224 tỷ đồng, Bắc Ninh đạt 210 tỷ đồng, Hải Dương đạt 637 tỷ đồng, Hà Tây đạt 1.045 tỷ đồng… (Bộ NN PTNT, 2015)

Tuy nhiên, bên cạnh góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng giảm nhanh tỷ trong giá trị sản xuất nông nghiệp, tăng giá trị sản xuất công nghiệp và dịch vụ nông thôn, góp phần giải quyết việc làm cho nhiều người lao động, các làng nghề vẫn đang đứng trước rất nhiều khó khăn:

Thứ nhất là nội lực của các làng nghề nói chung còn yếu, thể hiện: Mặt bằng sản xuất của nhiều làng nghề còn chật hẹp, không thể mở rộng và phát triển sản xuất tiếp được Cơ sở hạ tầng ở các làng nghề tuy có khá hơn so với cơ sở hạ

Trang 25

tầng ở các làng nông thôn khác, nhưng vẫn còn yếu kém như: đường trong các làng nghề nhìn chung còn hẹp, chủ yếu là trải đá và bê tông chưa phục vụ tốt cho vận chuyển nguyên vật liệu và sản phẩm Thiếu thông tin về thị trường tiêu thụ, thiếu vốn và kỹ thuật, do thủ tục vay còn phức tạp, chỉ có dưới 10% số người sản xuất có thể sử dụng hệ thống tài chính của Nhà nước Người lao động sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở các làng nghề tuy dồi dào, nhưng còn thiếu nhân lực quản

lý và lao động kỹ thuật

Thứ hai là khả năng cạnh tranh trên thị trường: Hàng hóa Việt Nam nói chung có khả năng cạnh tranh thấp, trong đó có cả các hàng hóa của làng nghề Hạn chế này xuất phát từ nội lực sản xuất còn thấp và các khâu bảo vệ môi trường, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm kém hiệu quả

Ba là, phát triển các làng nghề hiện đang làm gia tăng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Hầu hết các làng nghề Việt Nam hiện nay đã và đang bị ô nhiễm ở cả ba dạng: ô nhiễm nước, ô nhiễm rác thải và khí thải Trước những khó khăn đó, đòi hỏi cần có những chính sách phát triền các làng nghề phù hợp, sao cho tận dụng được những lợi thế của đất nước trong quá trình phát triển, vượt qua những thử thách của hội nhập và đảm bảo cho sự phát triển lâu dài, hiệu quả Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là do cách thức tổ chức và quản

lý sản xuất của các làng nghề hiện nay chưa thật sự hiệu quả Đa số các làng nghề sản xuất với hình thức nhỏ lẻ, thiếu sự hỗ trợ về vốn, công nghệ, cũng như những thông tin về thị trường… Hiện nay việc quy hoạch các làng nghề còn hạn chế về số lượng cũng như thành tựu do thiếu sự đồng bộ

2.1.3 Hiện trạng phát sinh chất ô nhiễm và vấn đề môi trường làng nghề

Vấn đề môi trường mà các làng nghề đang phải đối mặt không chỉ giới hạn ở trong phạm vi các làng nghề mà còn ảnh hưởng đến người dân ở vùng lân cận Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008 với chủ đề "Môi trường làng nghề Việt Nam", Hiện nay “hầu hết các làng nghề ở Việt Nam đều bị ô nhiễm môi trường (trừ các làng nghề không sản xuất hoặc dùng các nguyên liêu không gây ô nhiễm như thêu, may )

Chất lượng môi trường tại hầu hết các làng nghề đều không đạt tiêu chuẩn khiến người lao động phải tiếp xúc với các nguy cơ gây hại cho sức khỏe, trong

đó 95% là từ bụi; 85,9% từ nhiệt và 59,6% từ hóa chất Tình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề xảy ra ở mấy loại phổ biến sau đây:

Trang 26

- Ô nhiễm nước: ở Việt Nam, các làng nghề chưa có hệ thống xử lý nước thải công nghiệp, nước thải được đổ trực tiếp ra hệ thống kênh rạch chung hoặc

ra sông Nguyên nhân gây ô nhiễm nước chủ yếu là quá trình xử lý công nghiệp như: chế biến lương thực thực phẩm, mây tre, dệt, in, nung nấu kim loại, tẩy giấy

và nhuộm… Thường thì nước thải ra bị nhiễm màu nặng và gây ra hiện tượng đổi màu đối với dòng sông nhận nước thải, có mùi rất khó chịu Hơn nữa là sự vượt quá TCCP đối với các hàm lượng BOD, COD, SS, và coliform, các kim loại nặng… ở cả nước mặt và nước ngầm, làm chết các sinh vật thủy sinh và chứa các mầm bệnh nguy hại cho con người (Nguyễn Xuân Thành và cs., 2015)

- Ô nhiễm không khí gây bụi, ồn và nóng do sử dụng than và củi chủ yếu trong sản xuất vật liệu xây dựng và sản xuất gốm sứ

- Ô nhiễm chất thải rắn do tái chế nguyên liệu (giấy, nhựa, kim loại…) hoặc do bã thải của các loại thực phẩm (sắn, dong), các loại rác thải thông thường: nhựa, túi nilon, giấy, hộp, vỏ lon, kim loại và các loại rác thải khác thường được đổ ra bất kỳ dòng nước hoặc khu đất trống nào Làm cho nước ngầm và đất bị ô nhiễm các chất hóa học độc hại, ảnh hưởng tới sức khỏe

Tại Báo Nhân dân ngày 23/6/2005, GS.TS Đặng Kim Chi đã cảnh báo

"100% mẫu nước thải ở các làng nghề được khảo sát có thông số vượt tiêu chuẩn cho phép Môi trường không khí bị ô nhiễm có tính cục bộ tại nơi trực tiếp sản xuất, nhất là ô nhiễm bụi vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) và ô nhiễm do sử dụng nhiên liệu than củi Tỷ lệ người dân làng nghề mắc bệnh cao hơn các làng thuần nông, thường gặp ở các bệnh về đường hô hấp, đau mắt, bệnh đường ruột, bệnh ngoài da Nhiều dòng sông chảy qua các làng nghề hiện nay đang bị ô nhiễm nặng; nhiều ruộng lúa, cây trồng bị giảm năng suất do ô nhiễm không khí

từ làng nghề" Tình trạng ô nhiễm môi trường như trên đã ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng đến sức khỏe của cộng đồng, nhất là những người tham gia sản xuất, sinh sống tại làng nghề và vùng lân cận (Đặng Kim Chi, 2005)

Trang 27

Bảng 2.2 Phát sinh ô nhiễm từ sản xuất của một số loại hình làng nghề

Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008)

Báo cáo môi trường Quốc gia năm 2008 cho thấy, tại nhiều làng nghề, tỷ

lệ người mắc bệnh (đặc biệt là nhóm người trong độ tuổi lao động) đang có xu hướng gia tăng Tuổi thọ trung bình của người dân tại các làng nghề ngày càng giảm, thấp hơn 10 năm so với làng không làm nghề Ở các làng tái chế kim loại,

tỷ lệ người mắc bệnh ung thư, thần kinh rất phổ biến, nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là do sự phát thải khí độc, nhiệt cao và bụi kim loại từ các cơ sở sản xuất Tại các làng sản xuất kim loại, tỷ lệ người mắc các bệnh liên quan đến thần kinh, hô hấp, ngoài da, điếc và ung thư chiếm tới 60% dân số Tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm, bệnh phụ khoa chiếm chủ yếu (13 – 38%), bệnh về đường tiêu hóa (8 – 30%), bệnh viêm da (4,5 - 23%), bệnh đường hô hấp (6 - 18%), bệnh đau mắt (9 – 15%) (Hà An, 2015) Tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp ở làng nghề Dương Liễu 70%, làng bún Phú Đô là 50% Một trong những nguyên nhân của tình trạng ô nhiễm kể trên là do các cơ sở sản xuất kinh doanh ở các làng nghề còn manh mún, nhỏ lẻ, phân tán, phát triển tự phát, không đủ vốn và không có công nghệ xử lý chất thải Bên cạnh đó, ý thức của chính người dân làm nghề

Trang 28

cũng chưa tự giác trong việc thu gom, xử lý chất thải Nếu không có các giải pháp ngăn chặn kịp thời thì tổn thất đối với toàn xã hội sẽ ngày càng lớn, vượt xa giá trị kinh tế làng nghề đem lại

2.2 HIỆN TRẠNG CÁC LÀNG NGHỀ TRÊN ÐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 2.2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội tỉnh Nghệ An

Vị trí địa lý: Nghệ An nằm ở vĩ độ 18033' đến 20001' vĩ độ Bắc, kinh độ

103052' đến 105048' kinh độ Đông, ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung Bộ của Việt Nam Phía Đông giáp biển, phía Tây giáp nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa Nghệ An nằm trong hành lang kinh tế Đông - Tây nối liền Myanmar - Thái Lan - Lào - Việt Nam theo Quốc lộ 7 đến cảng Cửa Lò Nghệ An có 1 thành phố, 3 thị xã và 17 huyện Trong đó, TP Vinh là đô thị loại 1, là trung tâm kinh tế, văn hóa của tỉnh

và của cả khu vực Bắc Trung bộ (nghean.gov.vn)

Diện tích tự nhiên: Nghệ An có diện tích tự nhiên 1.649.368,62 ha, là tỉnh

có diện tích lớn nhất cả nước, địa hình phong phú, đa dạng, có biển, đồng bằng, trung du và miền núi Trong đó tình hình sử dụng đất năm 2015: Đất nông nghiệp 1.238.315,48 ha (đất sản xuất nông nghiệp: 256.834,9 ha, đất lâm nghiệp có rừng 972.910,52 ha, đất nuôi trồng thủy sản 7.457,5 ha, đất làm muối 837,98 ha, đất nông nghiệp khác 265,58 ha); Đất phi nông nghiệp 124.653,12 ha; Đất chưa sử dụng: 286.056,4 ha

Địa hình: Tỉnh Nghệ An nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn, địa hình đa dạng, phức tạp và bị chia cắt bởi các hệ thống đồi núi, sông suối hướng nghiêng

từ Tây - Bắc xuống Đông - Nam với ba vùng sinh thái rõ rệt: miền núi, trung du, đồng bằng ven biển Đỉnh núi cao nhất là đỉnh Pulaileng (2.711m) ở huyện Kỳ Sơn, thấp nhất là vùng đồng bằng huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành có nơi chỉ cao đến 0,2m so với mặt nước biển (xã Quỳnh Thanh huyện Quỳnh Lưu), đồi núi chiếm 83% diện tích

Khí hậu: Tỉnh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sự tác động trực tiếp của gió mùa Tây - Nam khô và nóng (từ tháng 4 đến tháng 8) và gió mùa Đông Bắc lạnh, ẩm ướt (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) Nhiệt độ trung bình hàng năm 23 - 24,20C Tổng lượng mưa trong năm: 1.200-2.000 mm Độ ẩm trung bình hàng năm 80-90% Tổng số giờ nắng 1.460 giờ/năm

Trang 29

Thủy văn: Tỉnh Nghệ An có 7 lưu vực sông với tổng chiều dài sông suối trên địa bàn tỉnh là 9.828 km, mật độ trung bình là 0,7 km/km2 Sông lớn nhất là sông Cả (sông Lam) bắt nguồn từ huyện Mường Pẹc tỉnh Xiêng Khoảng (Lào),

có chiều dài là 532 km (riêng trên đất Nghệ An có chiều dài là 361 km), diện tích lưu vực 27.200 km2 (riêng ở Nghệ An là 15.346 km2) Tổng lượng nước hàng năm khoảng 28.109 m3

Theo Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An (2016), trong điều kiện kinh tế khó khăn, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 vẫn đạt kết quả khá 7,89% GDP bình quân đầu người năm 2015 ước đạt 29 triệu đồng, tăng gần 2 lần so với năm 2010 Cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ và công nghiệp - xây dựng (tỷ trọng ngành dịch vụ tăng từ 41,15 năm 2010 lên 43,3% năm 2015, công nghiệp - xây dựng từ 29,89% lên 32,5%), giảm tỷ trọng nông nghiệp (từ 28,96% xuống còn 24,2%) Thu ngân sách tăng nhanh, năm 2015 thu ngân sách 10.034 tỷ đồng, đạt mục tiêu Chi ngân sách đảm bảo đáp ứng các nhu cầu thiết yếu (nghean.gov.vn)

Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp phát triển và tăng trưởng khá: Giá trị sản xuất ngành nông, lâm, ngư nghiệp giai đoạn 2011-2015 tăng 4,65%

Công nghiệp - xây dựng ổn định và tăng trưởng: Giá trị sản xuất bình quân đạt 10,71%/mục tiêu 15-16%; riêng công nghiệp tăng 15,95%

Dịch vụ, thương mại phát triển nhanh, đa dạng và hiệu quả: Giá trị sản xuất dịch vụ bình quân ước tăng 10%/mục tiêu 10-11% Giá trị sản xuất ngành thương mại tăng bình quân 11%, đạt mục tiêu đề ra Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2015 đạt 655 triệu USD, vượt mục tiêu đề ra

Thu hút đầu tư được quan tâm chỉ đạo và đạt kết quả tích cực: Đã vận động và triển khai thực hiện 533 dự án mới với 136.989,5 tỷ đồng vốn đăng ký, trong đó có 507 dự án đầu tư trong nước, tổng vốn đăng ký 131.870,8 tỷ đồng, 26

dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tổng vốn đăng ký 5.118,7 tỷ đồng Vận động và triển khai thực hiện 31 chương trình, dự án ODA với tổng mức đầu tư 15.050 tỷ đồng, 58 chương trình, dự án phi chính phủ với tổng số vốn cam kết tài trợ là 16,01 triệu USD

c Cơ sở hạ tầng và an sinh xã hội

Cơ sở hạ tầng: Trong những năm qua, hệ thống hạ tầng giao thông được

Trang 30

ưu tiên đầu tư Đã hoàn thành 230 km các tuyến quốc lộ, 300 km tỉnh lộ, 3.272

km đường giao thông nông thôn và các tuyến đường khác Nhiều công trình giao thông quan trọng được đầu tư xây dựng, hoàn thành như nâng cấp mở rộng Quốc

lộ 1A, cơ bản thông tuyến đoạn Quốc lộ 1A - Nghĩa Đàn - Thái Hòa, hoàn thành đường Tây Nghệ An, đường Châu Thôn - Tân Xuân, cầu Bến Thủy 2, 6 cầu vượt đường sắt, đường bộ và các cầu qua sông thay thế bến đò, cầu vào các bản vùng sâu, vùng xa Hoàn thành mục tiêu đưa đường ô tô đến trung tâm các xã Cảng hàng không Vinh được điều chỉnh quy hoạch thành cảng hàng không quốc tế, xây dựng nâng cấp khang trang, hiện đại, có lượng hành khách nội địa tăng trưởng cao nhất cả nước Cảng Cửa Lò được nạo vét luồng đáp ứng cho tàu trên 1 vạn tấn ra vào Hệ thống đường sắt thường xuyên được duy tu, sửa chữa đảm bảo hoạt động an toàn, hiệu quả Bên cạnh đó, nhiều công trình thuỷ lợi được đầu tư xây dựng, nâng cấp, tu bổ kịp thời

Giáo dục đào tạo tiếp tục phát triển Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 06 trường đại học, 10 trường cao đẳng và 14 trường trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề, trong đó Trường Đại học Vinh được Chính phủ phê duyệt là một trong các trường đại học trọng điểm quốc gia Tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp các cấp, số học sinh thi đậu cao đẳng, đại học, học sinh giỏi quốc gia, khu vực và quốc tế đứng tốp đầu cả nước

Hoạt động văn hóa, nghệ thuật, phong trào thể dục thể thao diễn ra khá sôi nổi, rộng khắp, đáp ứng tốt hơn nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân Công tác bảo tồn, tôn tạo, và phát huy giá trị di tích được quan tâm Dân ca

ví giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được tập trung chỉ đạo có hiệu quả.Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, dân số

kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc trẻ em có nhiều tiến bộ.Đến nay, trên địa bàn toàn tỉnh có 43 bệnh viện trong và ngoài công lập, năm 2015 đạt mục tiêu

25 giường bệnh và 7 bác sỹ trên một vạn dân Năm 2015, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm còn 17,8%, tỷ lệ xã có bác sỹ công tác đạt mục tiêu 90%

Có 65% xã đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế

Công tác lao động, việc làm, an sinh xã hội, dạy nghề có nhiều chuyển biến tích cực Hàng năm đã giải quyết việc làm cho khoảng 35.660 lao động, đạt mục tiêu đề ra Xuất khẩu được trên 51.000 lao động trong giai đoạn 2010-

Trang 31

2015.Bên cạnh đó, hoạt động khoa học, công nghệ, tài nguyên, môi trường có nhiều đóng góp quan trọng và ngày càng thiết thực hơn trong phát triển của tỉnh 2.2.2 Hiện trạng sản xuất của các làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An

a Số lượng làng nghề

Bắt đầu từ 2003, thực hiện quy định của Chính phủ, tỉnh Nghệ An bắt đầu công nhận cho 12 làng nghề, sau đó trung bình mỗi năm số lượng làng nghề trên toàn tỉnh tăng lên 5 - 19 làng nghề/năm Năm 2009 - 2010 là những năm có số lượng làng nghề mới được phê duyệt nhiều nhất (Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Nghệ An 05 năm 2005 – 2009) Tính đến hết 2013, tại Nghệ An đã công nhận 126 làng nghề thuộc về nhiều loại hình, lĩnh vực khác nhau, trong đó chủ yếu là mây tre đan, chế biến lương thực, thực phẩm, hải sản, mộc… Đến hết năm

2015 công nhận thêm 13 làng nghề nâng số lượng làng nghề được công nhận trên địa bàn toàn tỉnh là 139 làng nghề thuộc 9 lĩnh vực:

Hình 2.3 Tỷ lệ các lĩnh vực sản xuất làng nghề tại Nghệ An

Lĩnh vực sản xuất lương thực, thực phẩm chế biến hải sản có 33 làng nghề (23 làng nghề chế biến bún, miến, bánh lá các loại và 10 làng nghề chế biến hải sản) chiếm 23,7% tổng số làng nghề trên địa bàn tỉnh năm 2015 Tính đến hết năm 2015, số làng nghề thủ công (mây tre đan, kết chổi đót, chiếu cói) vẫn chiếm

số lượng lớn nhất chiếm 38,8% tổng số làng nghề Số làng nghề mộc dân dụng và

mỹ nghệ là 21 làng, tăng 05 làng so với năm 2013 chiếm 15,1% tổng số (Tạp chí khoa học CN Nghệ An, 08-2016.) Các làng nghề sản xuất hương và nhóm dệt, tơ tằm chiếm 8 - 9% tổng số làng nghề Số lượng các làng nghề khác (vật liệu xây dựng, cơ khí, hoa cây cảnh) chỉ chiếm 08 làng nghề (5,7%) (Liên minh hợp tác

xã Nghệ An, 2016)

Trang 32

Khi xem xét biến động qua các năm 2013 đến 2015, nhận thấy trong khi các nhóm khác có xu thế ổn định hoặc chững lại thì nhóm làng nghề mộc dân dụng và mỹ nghệ có xu hướng tăng cả về số lượng lẫn tỷ lệ trong tổng số các làng nghề ở Nghệ An Điều này được giải thích rõ hơn trong đặc điểm hoạt động của các làng nghề và giá trị kinh tế của nhóm làng nghề này

Trong số 20 làng nghề được thành lập mới trong 3 năm gần đây (từ 2013 đến hết năm 2015), số lượng làng nghề mộc dân dụng và mỹ nghệ chiếm ưu thế khá lớn (7 làng nghề chiếm 35%) Bên cạnh đó, cũng công nhận được thêm 03 làng dệt thổ cẩm được thành lập mới hoặc chuyển từ làng có nghề tại Quỳ Châu

và Quế Phong; 05 làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm (04 làng nghề bún bánh, miến và 01 làng nghề mía đường); 02 làng nghề mây tre đan, dè cót; 03 làng nghề sản xuất hương được công nhận mới Xét về lịch sử các làng nghề 06 làng nghề được công nhận dựa trên sự phát triển từ các làng có nghề đã được lập danh sách và quy hoạch trước đó chiếm 30% tổng số làng nghề được công nhận mới trong thời gian này Tất cả 139 làng nghề đều thuộc nhóm làng nghề được khuyến khích phát triển theo quy định của Nghị định 19:2015/NĐ-CP

Bảng 2.3 Thời gian thành lập và phân bố số lượng làng nghề tỉnh Nghệ An

theo địa giới hành chính

Trang 33

Nguồn: Liên minh hợp tác xã tỉnh Nghệ An (2016)

Nghề thủ công đan mây tre, dè cót phân bố chủ yếu ở Quỳnh Lưu (14 làng nghề), Nghi Lộc (14 làng nghề), Yên Thành (9 làng nghề), ngoài ra còn rải rắc ở một số xã lân cận của Diễn Châu (4 làng nghề), Thanh Chương, Đô Lương, Hưng Nguyên (1 làng nghề/huyện) Các làng nghề mây tre đan chủ yếu được công nhận trên địa bàn nhiều huyện trong khoảng thời gian từ 2004 đến 2010 Cũng thuộc nhóm nghề thủ công đan lát, nhóm làng nghề chổi đót, chiếu cói và giấy dó được công nhận chủ yếu trong khoảng thời gian trước năm 2010, phân bố tại các huyện Nghi Lộc, Diễn Châu, Thanh Chương và TP Vinh

Chế biến lương thực, thực phẩm bao gồm chế biến nông sản và chế biến hải sản phân bố chủ yếu tại Diễn Châu (9 làng nghề), TX Cửa Lò (5 làng nghề), Hưng Nguyên (4 làng nghề), Quỳnh Lưu và Nghi Lộc (3 làng nghề/huyện) và rải rắc ở một số huyện khác như Nam Đàn, Thanh Chương, Yên Thành, Đô Lương, Nghĩa Đàn và TX Hoàng Mai Khác với nhóm làng nghề thủ công, chế biến lương thực và thực phẩm được công nhận rải rắc qua các năm 2003 đến 2015 với trung bình khoảng 1-2 làng nghề/năm Bao gồm trong số đó khá nhiều làng nghề truyền thống lâu đời tại địa phương: làng nghề Rượu truyền thống Phúc Mỹ (xã Hưng Châu, huyện Hưng Nguyên) và làng nghề tương truyền thống Nam Đàn (thị trấn Nam Đàn, huyện Nam Đàn)

Trang 34

Làng nghề mộc dân dụng và mỹ nghệ là nhóm ngành nghề mới, chủ yếu các làng nghề được hình thành và công nhận trong vài năm trở lại đây (2011 đến nay) Trong đó chỉ có 05 làng nghề được hình thành và công nhận trước 2008, phần lớn các làng nghề được công nhận sau 2011 (11 làng nghề chiếm 58%) Các làng nghề mộc phân bố chủ yếu ở Quỳnh Lưu (8 làng nghề), một số làng nghề khác rải rác ở Diễn Châu, Đô Lương (3 làng nghề), Nam Đàn, TX Thái Hòa (2 làng nghề), Nghi Lộc, Yên Thành, Thanh Chương (1 làng nghề/huyện)

Làng nghề dâu tằm tơ, dệt thổ cẩm, móc sợi phân bố chủ yếu ở các huyện trung du, miền núi (tập trung tại Quế Phong, Kỳ Sơn và rải rắc ở Quỳ Châu, Anh Sơn, Tân Kỳ, Đô Lương, ngoài ra còn có ở Quỳnh Lưu, Diễn Châu) Trong đó,

có 03 làng nghề ươm tơ kéo sợi, dệt đũi phân bố ở các xã trung du liên quan đến nguồn nguyên liệu cung cấp cho sản xuất như Diễn Châu, Đô Lương, Anh Sơn

01 làng nghề móc sợi thủ công mỹ nghệ tại Quỳnh Lưu Trong đó, các làng nghề ươm tơ và móc sợi hiện nay phần lớn đã giảm sản xuất hoặc mai một Các làng nghề còn lại thuộc nhóm này chủ yếu là dệt thổ cẩm (8/12 làng nghề) tại các xã miền núi Tất cả các làng nghề thổ cẩm mới được công nhận trong khoảng thời gian từ 2009 đến nay, đặc biệt các làng nghề thổ cẩm miền núi Quế Phong

Sản phẩm tăm hương và hương là một trong những sản phẩm có nhiều ưu thế của địa bàn Nghệ An, có 11 làng nghề sản xuất hương và chẻ chu hương tại Nghệ An Các làng nghề sản xuất hương (có hoặc không bao gồm chẻ chu hương) phân bố rải rắc ở Nghi Lộc, Quỳnh Lưu, Thanh Chương và tập trung nhiều nhất ở Quỳ Châu Các làng nghề chẻ chu hương (nguyên liệu) phân bố tại Diễn Châu, Yên Thành Các làng nghề sản xuất hương và chẻ chu hương mới chỉ được công nhận từ 2009 trở lại đây

Làng nghề hoa cây cảnh phân bố chủ yếu ở TP Vinh với 05 làng nghề và

01 làng nghề tại Quỳnh Lưu chủ yếu được công nhận trong những năm 2010,

2011 đến 2012 Chỉ có 01 làng nghề cơ khí (rèn - công nhận năm 2010) và 01 làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng (gạch ngói - công nhận năm 2005) lần lượt tại Tân Kỳ và Thanh Chương Ngoài ra, chỉ có 03 làng nghề là làng đa ngành nghề (chiếm 1,16%) trong tổng số 139 làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An đó là: Làng nghề mây tre đan xuất khẩu và chế biến cói Đồng Văn (xã Diễn Quỳnh, huyện Quỳnh Lưu), làng nghề mây tre đan xuất khẩu và chế biến cói Đồng Văn (Quỳnh Diễn, Quỳnh Lưu) và Làng nghề mộc dân dụng, cơ khí, chế biến nông sản khối Tây Hồ I (thị trấn Nam Đàn)

Trang 35

Như vậy, sự phân bố làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An phụ thuộc vào lịch sử phát triển các làng có nghề trước đó và có mối liên hệ mật thiết với nguồn nguyên liệu cấp cho sản xuất của làng nghề Từ đó hình thành 03 nhóm vùng phân bố: (1) Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm tập trung ở vùng đồng bằng và ven biển: Diễn Châu, Hưng Nguyên, Quỳnh Lưu, Hoàng Mai, Cửa Lò; (2) Làng nghề thủ công mỹ nghệ (mây tre đan, chiếu cói, mộc dân dụng mỹ nghệ) tập trung ở vùng đồng bằng đặc biệt tại các khu vực có giao thông thuận lợi: Quỳnh Lưu, Nghi Lộc, Diễn Châu, Yên Thành; (3) Các nhóm làng nghề khác thường chỉ tập trung tại 01 huyện như hoa, cây cảnh tại TP Vinh, sản xuất hương Quỳ Châu, dệt thổ cẩm Quế Phong…

c Giá trị kinh tế và vai trò của các làng nghề

Các làng nghề được công nhận đã đạt kết quả cao về tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, góp phần giải quyết việc làm,

ổn định đời sống và xoá đói giảm nghèo ở nông thôn.Cụ thể: Hoạt động làng nghề khá phong phú, nhiều lĩnh vực đã giải quyết việc làm ổn định cho khoảng trên 26 nghìn lao động thường xuyên và vào khoảng 14 nghìn lao động thời vụ Thu nhập bình quân của các làng nghề đạt 12,7 triệu đồng/năm

Bảng 2.4 Hiện trạng sản xuất các làng nghề trên địa bàn Nghệ An

TT

Số

LN

Số lao động (người)

Giá trị sản xuất (triệu đồng)

Thu nhập (triệu đồng)

Thu nhập (tr đồng/năm) Tổng Nghề % Tổng Nghề % Tổng Nghề % Chung Nghề

Nguồn: Liên minh hợp tác xã tỉnh Nghệ An (2016)

Trang 36

Nhóm các làng nghề đem lại thu nhập cao là sản xuất hoa, cây cảnh; sản xuất hương và tăm hương với thu nhập bình quân trên 25 triệu đồng/người/năm Làng nghề cung cấp một số lượng lớn việc làm cho người lao động, dao động trong khoảng 38,9 đến 72,6% số lao động trên địa bàn Giá trị sản xuất dao động trong khoảng 50 đến 92% giá trị của toàn khu vực Tương tự đóng góp 56,1 đến 86,2% vào thu nhập chung của làng Như vậy, có thể nói giá trị sản xuất và xã hội của làng nghề cao, đóng góp đáng kể vào phát triển kinh tế, tạo việc làm, nâng cao đời sống nhân dân Bên cạnh đó, các làng nghề tạo ra khối lượng hàng hóa phong phú, đa dạng phục vụ cho nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nhóm làng nghề tạo nhiều việc làm cho người dân địa phương là làng nghề mây tre đan, dè cót và làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm; trong khi đó nhóm làng nghề cung cấp giá trị kinh tế và thu nhập cao là làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, mộc dân dụng và mỹ nghệ Trong những năm qua, ở nhiều vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An, các nghề và các làng nghề đã phát triển khá mạnh và đóng góp đáng kể cho phát triển địa phương góp phần ổn định an sinh xã hội

Sự phát triển của làng nghề phù hợp với định hướng phát triển kinh tế, xã hội: Xác định vai trò quan trọng của làng nghề, ngành nghề nông thôn, Đảng, Nhà nước đã chỉ đạo và ban hành nhiều chính sách phát triển làng nghề như: phát triển ngành nghề nông thôn, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, hỗ trợ giải quyết việc làm tại chỗ, nâng cao chất lượng cuộc sống và thu nhập của người dân, tăng cường hoạt động xuất khẩu… Chính quyền địa phương

ưu tiên đầu tư phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đa dạng hóa, xây dựng cơ chế quản lý làng nghề Trong khi đó, giai đoạn 2015 đến 2020 lại tập trung xây dựng chuẩn hóa các quy định về làng nghề, phát triển làng nghề theo định hướng chuyên môn hóa, phát triển làng nghề bền vững, tập trung xuất khẩu, năng suất và hiệu quả lao động cao

Làng nghề thúc đẩy sự phát triển cơ sở hạ tầng, kỹ thuật nông thôn:Điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật là yếu tố quan trọng hỗ trợ cho sự phát triển của các làng nghề, chúng bao gồm: khả năng tiếp cận thông tin, điện, nước sạch, giao thông, diện tích sản xuất… ngược lại, sự phát triển kinh tế của làng nghề cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại nông thôn Cơ sở hạ tầng của các khu vực tập trung nhiều làng nghề như TX Hoàng Mai, ven biển Quỳnh Lưu, Diễn Châu, TX Cửa Lò… rõ ràng phát triển tốt hơn so với trước khi

Trang 37

làng nghề hình thành Tuy nhiên, rất khó định lượng các yếu tố này do bản thân các làng nghề cũng phát triển tại các khu vực ven tỉnh lộ, quốc lộ nên dễ dàng tiếp cận, kết nối về các hạ tầng kỹ thuật như đường, điện đồng thời cũng được sự

hỗ trợ tốt hơn của chính quyền địa phương (tỉnh, huyện) để thúc đẩy phát triển làng nghề song song với phát triển hạ tầng

Khác với sản xuất công nghiệp, sản xuất của các hộ ở làng nghề ít đòi hỏi

số vốn đầu tư lớn mà chủ yếu quy mô nhỏ, cơ cấu vốn và lao động ít nên rất phù hợp với khả năng huy động vốn và các nguồn lực vật chất của các gia đình Như vậy, các làng nghề giúp thu hút vốn nhãn rỗi, tận dụng nguồn lực sẵn có trong nhân dân để phát triển hạ tầng nông thôn Các làng nghề còn tiết kiệm được các chi phí khác như chi phí xây dựng cơ bản vì đầu tư cho công việc xây dựng nhà xưởng, kho tàng, đường xá được giảm đến mức thấp nhất vì các hộ sản xuất tận dụng các diện tích sẵn có trong gia đình như nhà ở, sân, vườn và trong làng

để làm nơi phơi nguyên nhiên liệu, bảo quản và sản xuất Ngoài ra các hộ sản xuất còn huy động vốn thông qua việc vay mượn nhau trong gia đình, họ hàng, làng xóm, bạn bè thông qua nhiều hình thức rất linh hoạt Đây là khoản tiền nhàn rỗi khá lớn, cần có các biện pháp và chính sách thích hợp để huy động nguồn vốn nhàn rỗi này phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

Làng nghề giải quyết việc làm, thúc đẩy xóa đói, giảm nghèo vùng nông thôn: Làng nghề đóng vai trò quan trọng trong giải quyết việc làm tăng thu nhập Hầu hết các làng nghề đều có từ lâu đời, sử dụng công nghệ lạc hậu, điều này cho thấy khả năng tạo việc làm lớn do sử dụng nhiều lao động thủ công trong các khâu sản xuất, chế biến Đối với các làng nghề sản xuất theo thời vụ thì thường chỉ sản xuất vào lúc nông nhàn Tuy nhiên, hiện nay ở những vùng sản xuất lớn, lao động trong các làng nghề làm việc hầu như quanh năm, với quy mô phát triển ngày càng lớn Hiện nay, các cơ sở có khoảng 10-30 lao động thường xuyên và

có thể có thêm hàng chục lao động thời vụ, hộ cá thể trong các làng nghề có khoảng 1-5 lao động thường xuyên và có thể có thêm một vài lao động thời vụ Mặc dù thu nhập nghề khác nhau giữa các loại hình ngành nghề và phát triển kinh tế, đô thị hóa của địa phương, tuy nhiên mức thu nhập của người lao động ngành nghề bình quân cao hơn từ 150% lến 400% so với thu nhập của người lao động thuần nông tại cùng một đơn vị hành chính Điều này là một nhân tố thu hút một số hộ gia đình chuyển từ sản xuất thuần nông sang sản xuất tiểu thủ công nghiệp hoặc chuyên nghề ngày càng cao

Trang 38

Làng nghề nâng cao đời sống văn hóa, thúc đẩy phát triển du lịch, góp phần xây dựng nông thôn mới: Lợi ích của phát triển nghề không chỉ ở lĩnh vực kinh tế, giải quyết lao động tại chỗ mà còn góp phần bảo tồn được các giá trị văn hóa lâu đời của địa phương Các làng nghề thủ công mỹ nghệ, chế biến lương thực, thực phẩm phát triển trên trục giao thông thuận lợi về đường sông, đường

bộ là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các điểm, tuyến du lịch văn hóa Trong khi đó, tại Nghệ An, hoạt động của làng nghề chỉ phụ trợ cho phát triển du lịch của địa phương, song đây cũng là một tiềm năng phát triển của tỉnh Các làng nghề truyền thống (tại Nghệ An có làm trống, nấu rượu, bánh lá, tương…) được xem là một dạng tài nguyên du lịch nhân văn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, chúng mang cả giá trị vật thể và phi vật thể Một số làng nghề của Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Cửa Lò nằm ven biển thuận lợi cho việc phát triển du lịch biển Trong khi đó, các nhóm ngành dệt thổ cẩm, ươm tơ, móc sợi, chế biến hương trầm lại phù hợp với phát triển du lịch văn hóa đặc biệt các văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số, vùng lân cận khu dự trữ sinh quyển và vườn quốc gia

Do thu nhập bình quân của lao động nghề phi nông nghiệp, ở đô thị cao hơn thu nhập của lao động nông nghiệp, ở nông thôn Từ đó thấy rằng phát triển làng nghề sẽ tạo điều kiện giảm dần khoảng cách chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn, ở những nơi có làng nghề phát triển tỉ lệ hộ khá và giàu thường cao hơn, tỉ lệ hộ nghèo thấp hơn hẳn so với những vùng thuần túy sản xuất nông nghiệp Phát triển làng nghề cùng với việc tăng thu nhập tạo điều kiện nâng cao đời sống của người dân, không chỉ vật chất mà cả văn hóa, tinh thần Đồng thời khi nghề nghiệp phát triển đến một mức độ nào đó thì xuất hiện các hình thức văn hóa gắn với nghề Ngược lại, làng nghề phát triển, thu nhập được nâng cao thì người dân có điều kiện để tổ chức các hoạt động văn hóa

Trang 39

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 ÐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Môi trường các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm được công nhận trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.2.1 Hiện trạng hoạt động sản xuất của các làng nghề

(1) Đánh giá hiện trạng hoạt động, sản xuất và phân bố không gian của các làng nghề trên địa bàn

(2) Xu hướng phát triển và mức độ suy thoái các dạng làng nghề

(3) Phân loại làng nghề trên địa bàn tỉnh

3.2.2 Hiện trạng chất lượng môi trường làng nghề

(1) Xác định các loại hình và quy mô sản xuất làng nghề có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cần loại bỏ khỏi khu dân cư, nông thôn:

(2) Xác định mức độ ô nhiễm và cảnh báo

3.2.3 Hiện trạng tuân thủ quy định về bảo vệ môi trường các làng nghề

(1) Hiện trạng đầu tư cơ sở hạ tầng BVMT tại các làng nghề

(2) Đánh giá sự tuân thủ quy định về BVMT đối với các làng nghề

(3) Hiện trạng xả nước thải, khí thải, chất thải rắn và chất thải nguy hại hoặc phát sinh tiếng ồn, độ rung không đúng quy định, gây mất vệ sinh môi trường, mỹ quan tại các khu vực công cộng trong làng nghề

3.2.4 Đề xuất giải pháp quản lý môi trường làng nghề

3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 40

3.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập dữ liệu thứ cấp

Sử dụng phương pháp thu thập và phân tích các số liệu thứ cấp, kế thừa các kết quả nghiên cứu liên quan: Thu thập, tổng hợp và thống kê các số liệu về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương làm cơ sở cho việc phân tích xu thế phát triển của các loại hình làng nghề trên địa bàn tỉnh; Thống

kê các thông tin về hoạt động các làng nghề trên địa bàn tỉnh (Các số liệu được tổng hợp từ phòng Tài nguyên và Môi trường và phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên địa bàn 16 huyện và thành phố thuộc tỉnh Nghệ An nơi có làng nghề được công nhận)

3.3.2 Phương pháp điều tra, thu thập dữ liệu sơ cấp

Điều tra, thống kê, kiểm kê, phân loại làng nghề chế biến lương thực thực phẩm theo nguyên liệu và sản phẩm; quy mô và công nghệ sản xuất Các thông tin thứ cấp về số lượng các làng nghề được công nhận trên địa bàn cũng như sự phân loại về loại hình và quy mô sản xuất của các làng nghề tương ứng hiện nay được thu thập từ các cơ quan quản lý cấp huyện như Phòng Nông nghiệp, phòng Tài nguyên và Môi trường; các cơ quan quản lý cấp tỉnh (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công thương, Liên minh hợp tác xã tỉnh Nghệ An) Trên

cơ sở thông tin sơ bộ thu được, tiến hành phân loại thành các nhóm làng nghề làm căn cứ phân loại được thực hiện theo Phụ lục 01 của Thông tư 46/2011/TT-BTNMT Xây dựng và tiến hành điều tra dựa trên 02 mẫu phiếu (cán bộ quản lý,

cơ sở sản xuất)

Bảng 3.1 Tổng hợp số lượng phiếu điều tra đã thực hiện

TT Tên làng nghề Địa điểm Số lượng phiếu

Cán bộ quản lý Hộ sản xuất

1 LN CB hải sản Hải Ðông Diễn Bích 1 16

2 LN bánh lá Tân Yên Diễn Hồng 1 18

3 LN CB lương thực Ðông Kỷ 1 Diễn Kỷ 1 20

4 LN CB hải sản Ngọc Văn Diễn Ngọc 2 17

5 LN bánh đa Hồng Yên Diễn Ngọc 1 11

6 LN bánh đa Trường Tiến Diễn Ngọc 1 14

7 LN Bún bánh Huỳnh Dương Diễn Quảng 1 15

8 LN SX bánh kẹo Xuân Bắc Diễn Vạn 1 10

9 LN SX bánh kẹo Ðồng Hà Diễn Vạn 1 9

Ngày đăng: 10/03/2021, 16:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w