Đặng Thị Hợi - cán bộ nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ sinh học thủy sản - Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I đã giúp đỡ trong công việc chuẩn bị ao thí nghiệm.. Lời cám ơn cũng xin
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HOÀNG THẾ ANH
NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT GIỐNG NHÂN TẠO
CÁ CÒM (Chitala ornata Gray, 1831) TẠI HÀ NỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu sử dụng trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong công trình nghiên cứu nào khác
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ để thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn tong luận văn đều được nêu rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Hoàng Thế Anh
Trang 3LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành cảm ơn đến Ban giám hiệu Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Ban lãnh đạo Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I, Viện Đào tạo sau đại học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tổ chức và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa đào tạo Thạc sỹ Nuôi trồng thủy sản niên khóa 2015-2017
Tôi xin chân thành cảm ơn tới TS Nguyễn Ngọc Tuấn, TS Trần Thị Thuý Hà đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu này
Tôi xin chân thành cảm ơn tới: ThS Nguyễn Thị Biên Thùy, TS Lê Văn Khôi, ThS Đỗ Văn Thịnh, ThS Trần Thị Mai Hương, KS Cao Phan Thưởng, KS Đặng Thị Hợi - cán bộ nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ sinh học thủy sản - Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I đã giúp đỡ trong công việc chuẩn bị ao thí nghiệm
Lời cám ơn cũng xin được gửi đến các anh chị cán bộ nghiên cứu tại Trung tâm Trung tâm Giống thủy sản Hà Nội đã giúp đỡ trong công việc chuẩn bị ao thí nghiệm, thu mẫu và hỗ trợ theo dõi
Có được thành công ngày hôm nay, tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân đã luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ để tôi yên tâm học tập, nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện bằng kinh phí của Đề tài “Nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo giống cá Còm (Chitala ornata Gray, 1831) tại Hà Nội” do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội tài trợ
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Hoàng Thế Anh
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
Phần 1 Mở đầu viii
1.1 Sự cần thiết của nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Đặc điểm phân loại cá còm 3
2.2 Đặc điểm hình thái 3
2.3 Đặc điểm phân bố và môi trường sống 4
2.4 Đặc điểm sinh trưởng 5
2.5 Đặc điểm dinh dưỡng 6
2.6 Đặc điểm sinh sản 6
2.7 Các nghiên cứu về kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo cá còm trong nước và trên thế giới 7
2.8 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 10
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 12
3.1 Địa điểm nghiên cứu 12
3.2 Thời gian nghiên cứu 12
3.3 Đối tượng nghiên cứu 12
3.4 Bố trí thí nghiệm 12
Phần 4 Kết quả và thảo luận 19
4.1 Kết quả nuôi vỗ cá bố mẹ 19
4.2 Kết quả phương pháp cho đẻ nhân tạo 24
Trang 54.3 Kết quả ương từ cá bột lên cá giống cỡ 3cm/con theo các mật độ khác nhau 26
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 31
5.1 Kết luận 31
5.2 Kiến nghị 31
Tài liệu tham khảo 31
Phụ lục 34
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nghĩa tiếng việt MD20 Mật độ 20 cá bột/L MD30 Mật độ 30 cá bột/L MD40 Mật độ 40 cá bột/L NT1 Khẩu phần ăn 1% khối lượng thân NT2 Khẩu phần ăn 3% khối lượng thân
Trang 7DANH MỤC BẢNG Bảng 4.1 Tăng trưởng và tỷ lệ sống cá bố mẹ nuôi vỗ 21 Bảng 4.2 Hệ số thành thục cá bố mẹ 22 Bảng 4.3 Tỷ lệ đẻ, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở và tỷ lệ dị hình của trứng cá Còm 24 Bảng 4.4 Tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng tương đối theo ngày về chiều dài của cá 29
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Cá Còm Chitala ornata (Gray, 1831) 3
Hình 2.2 Bản đồ phân bố cá Còm ở khu vực châu Á 4
Hình 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm nuôi vỗ cá bố mẹ giai đoạn thành thục 13
Hình 3.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ương cá Còm 16
Hình 4.1 Biến động nhiệt độ nước trong thời nuôi vỗ tích cực 19
Hình 4.2 Biến động pH nước ao nuôi vỗ tích cực cá bố mẹ 20
Hình 4.3 Hàm lượng ô xy nước ao nuôi vỗ cá bố mẹ 20
Hình 4.4 Hệ số thành thục cá Còm cái 22
Hình 4.5 Buồng trứng 23
Hình 4.6 Túi tinh 23
Hình 4.7 Tuyến sinh dục đực (tinh sào) cá Còm ở giai đoạn III chụp ở vật kính 10 (trái) và Chụp ở vật kính 40 (phải) 23
Hình 4.8 Tuyến sinh dục cái (buồng trứng) cá Còm: Trứng giai đoạn IV và Trứng ở giai đoạn V 23
Hình 4.9 Cá Còm dị hình 25
Hình 4.10 Tỷ lệ đẻ, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở và tỷ lệ dị hình của trứng cá Còm 26
Hình 4.11 Biến động nhiệt độ nước trong thời gian ương cá Còm 27
Hình 4.12 Hàm lượng ôxy nước ao ương nuôi cá Còm giai đoạn cá bột lên cỡ 2-3cm 27
Hình 4.13 Biến động pH nước ao ương nuôi cá Còm giai đoạn cá bột lên cỡ 2-3cm 28
Hình 4.14 Tăng trưởng về chiều dài sau 30 ngày ương 28
Hình 4.15 Tỷ lệ sống (%) của cá Còm ở các mật độ ương 30
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Luận văn này cung cấp những thông tin khoa học về hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá Còm ở Hà Nội Đề tài tập trung nghiên cứu 3 vấn đề: Xác định khẩu phần
ăn trong quá trình nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ; xác định được phương pháp sinh sản phù hợp; xác định mật độ ương nuôi cá bột lên cá giống cỡ 3 cm phù hợp Đề tài đã đạt được những kết quả như sau:
Về khẩu phần ăn trong quá trình nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ: Tăng khẩu phần
ăn trong quá trình nuôi vỗ tích cực cá Còm bố mẹ sẽ làm tăng tốc độ sinh trưởng và hệ
số thành thục
Về xác định được phương pháp sinh sản phù hợp: Sinh sản tự nhiên và gieo tinh nhân tạo cho kết quả về tỷ lệ đẻ tương đương nhau Cả hai phương pháp có tỷ lệ ra bột như nhau, nên tùy vào điều kiện cụ thể của tưng trại sản xuất giống khác nhau mà áp dụng phương pháp thụ tinh cho phù hợp
Về xác định mật độ ương nuôi cá bột lên cá giống cỡ 3 cm phù hợp: Ương nuôi
cá Còm từ giai đoạn bột đến giai đoạn 3cm với các mật độ 30 cá bột/l là phù hợp nhất
về tăng trưởng chiều dài và tỷ lệ sống
Trang 10ABSTRACT OF THE THESIS
This dissertation provides scientific information on how to complete the producing process of COM fish (Chitala ornata ) in Hanoi The subject will focus on studying three issues: Determination of the diet in the process of breeding mature of the broodstock; Identification of suitable reproduction methods; Determination of the nursing density of baby fish to fingerlings of 3 cm in size The subject has achieved the following results:
Regarding the diets during broodstock maturation: Increasing the diet during aggressive parental feeding of Chitala ornata broodstock will increase growth and maturation
Determination of suitable reproductive methods: Natural reproduction and artificial insemination have resulted in similar birth rates Both methods have the same hatching rate, so dependent on the specific conditions of different hatcheries, the fertilization method is applied accordingly
Determination of the nursing density of baby fish to fingerlings of 3 cm in size,
it was found that the growth of breeding the Chitala ornata from the period of the baby fish to 3cm one with densities of 30 baby fish / l was the most suitable for growth of length and living rate
Trang 11PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA NGHIÊN CỨU
Cá Còm Chitala ornata (Gray, 1831) hay còn có tên gọi khác là cá Thát Lát cườm, cá Nàng hai Cá có phân bố rộng rãi từ Nam Trung Bộ đến Đồng bằng sông Cửu Long (Nguyễn Văn Hảo, 2005) Cá Còm có hình dạng giống như cá Thát Lát nhưng có kích cỡ cơ thể lớn và tăng trọng nhanh hơn Cá Còm có giá trị kinh tế rất cao, thịt thơm ngon, có thể chế biến được nhiều món ăn như làm chả
cá, kho tộ được người tiêu dùng rất ưa chuộng Ngoài giá trị làm thực phẩm, cá Còm còn được nuôi làm cá cảnh với giá trị cao do hình dạng thân khá đặc biệt,
cơ thể mềm mại và vây bơi uốn lượn hình gợn sóng Trước đây, cá Còm trong tự nhiên khá phong phú, nhưng do khai thác quá mức nên hiện nay trở nên rất hiếm
và được xếp trong danh mục các loài thủy sinh quý hiếm, trong danh mục sách
đỏ Việt Nam được xếp ở mức đe dọa bậc T (Sách Đỏ Việt Nam, 1992) Việc khôi phục, phát triển loài cá này trong khu hệ cá nước ngọt nước ta có ý nghĩa rất quan trọng Hiện nay sản xuất giống nhân tạo cá Còm đã có kết quả tốt, có thể chủ động sản xuất giống để phát triển nuôi cá Còm với sản lượng lớn nhằm cung cấp loại thực phẩm có giá trị cao trên thị trường Tuy nhiên, nghề nuôi cá Còm mới chỉ phát triển ở các tỉnh phía Nam, quy trình kỹ thuật chưa được phổ biến rộng và cần thay đổi cho phù hợp đối với từng vùng miền bởi sự khác nhau về điều kiện sinh thái
Khu vực phía Bắc, cá Còm bắt đầu mới được người dân đưa vào nuôi trong vài năm trở lại đây Vì vậy các nghiên cứu trên đối tượng này tài khu vực phía Bắc còn rất hạn chế Năm 2013, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu nuôi thương phẩm và thử nghiệm sản xuất giống cá Còm tại Hà Nội” Đề tài đã tập trung giải quyết các vấn đề liên quan đến thuần hóa, thức ăn, lưu giống qua đông, quản lý sức khỏe, dịch bệnh và đã thăm dò thành công sản xuất giống cá Còm ở quy mô thí nghiệm tuy nhiên tỷ lệ thụ tinh còn thấp Đã thành công ương cá từ 3cm lên 10 cm và nuôi thương phẩm giai đoạn nuoi thương phẩm Từ đó mở ra hướng nuôi thương phẩm giống cá Còm đồng thời giải tỏa sức ép đối tượng nuôi mới ở miền Bắc
Đề tài “Nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo giống cá Còm (Chitala ornata Gray,1831) tại Hà Nội” được thực hiện nhằm hoàn thiện quy trình sản
Trang 12suất giống cá Còm Đồng thời làm phong phú đối tượng nuôi nước ngọt, giúp chủ động phát triển giống và phục vụ nghề nuôi thủy sản hiệu quả ở miền Bắc 1.2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu chung
Có được công trình công nghệ sản sản xuất giống cá Còm miền Bắc nhằm chủ động nguồn giống phục vụ sản xuất
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Nghiên cứu sản xuất nhân tạo giống cá Còm với mục tiêu cụ thể:
- Xác định khẩu phần ăn trong quá trình nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ
- Xác định được phương pháp sinh sản phù hợp
- Xác định mật độ ương nuôi cá bột lên cá giống cỡ 3 cm phù hợp
1.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu phương pháp nuôi vỗ cá bố mẹ
- Nghiên cứu phương pháp sinh sản nhân tạo
- Nghiên cứu phương pháp ương từ cá bột lên cá giống cỡ 3cm/con theo các mật độ khác nhau
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 ĐẶC ĐIỂM PHÂN LOẠI CÁ CÒM
Theo mô tả của Fishbase (2000) Cá Còm được phân loại như sau:
- Loài Chitala ornata (Gray, 1831)
- Tên Việt Nam: Cá Còm, cá Thát Lát cườm hoặc cá Nàng hai
- Tên tiếng Anh: Clown knife fish
Hình 2.1 Cá Còm Chitala ornata (Gray, 1831) Trước đây, cá Còm được xếp chung một giống với cá Thát Lát và có tên khoa học đồng danh là Notopterus chilata hay Mystus chilata Hiện nay, nhóm cá này được tách riêng thành hai giống khác nhau là Notopterus và giống Chitala Trong đó cá Còm được xếp vào giống Chitala (Phạm Văn Khánh, 2006)
2.2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI
Theo Mai Đình Yên và cs (1992) cá Còm có đặc điểm thân dài rất dẹp hai
Trang 14bên, lưng cong gồ lên và độ cong tăng theo kích thước của cá Đầu nhỏ, nhọn, dẹp bên Miệng trước, rạch xiên, kéo dài quá viền sau mắt Xương hàm trên phát triển rộng Răng nhọn lên và mọc ở hàm dưới, phần giữa xương hàm trước, xương khẩu cái, xương lá mía và lưỡi Có một đôi râu mũi ngắn, nhỏ Mắt nằm lệch về phía lưng của đầu, gần mút mõm hơn điểm cuối xương nắp mang Khoảng cách hai mắt cong và lồi, tương đương đường kính mắt Lỗ mang rộng Màng mang rất phát triển Lườn bụng bén, có hai hàng gai chạy dọc theo lườn bụng Vẩy nhỏ phủ khắp thân và đầu Vẩy dính rất chắc, khó rụng Vẩy ở đầu nhỏ hơn hoặc bằng vẩy trên thân Đường bên hoàn toàn từ mép trên lỗ mang và chấm dứt ở giữa gốc vây đuôi Vây lưng nhỏ, nằm lệch về phía sau thân, gần gốc vây đuôi hơn mút mõm Gốc vây hậu môn rất dài và nối liền với vây đuôi Vây ngực phát triển Vây bụng rất nhỏ Vây đuôi nhọn, tròn và không phân thuỳ
Lưng và đầu màu xanh lục, hông và bụng trắng Cá Còm nhỏ dưới 10 cm
có 10-15 hàng băng đen chạy ngang thân, các băng này mờ dần khi cá lớn và trở thành những chấm đen lớn, tròn ở phần đuôi Mỗi chấm đều có vành trắng bên ngoài (5 - 10 trên các cá thể khác nhau) Ngay trên cùng một mẫu số lượng chấm đen hai bên thân cũng không giống nhau (Trương Thủ Khoa,1993 ; Phạm Văn Khánh, 2006) Kích thước cơ thể tối đa được ghi nhận vào khoảng 1 m và có khối lượng thân đến 10 kg (Mai Đình Yên và cs 1992)
2.3 ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ VÀ MÔI TRƯỜNG SỐNG
Hình 2.2 Bản đồ phân bố cá Còm ở khu vực châu Á (Fishbase, 2000)
Trang 15Cá Còm phân bố ở khu vực Nam và Đông Nam Á, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma, Bangladesh, Ấn Độ, Pakistan (Steba, 1989; Khan, 2000) Chúng sống ở những vùng nước sâu của các con sông, kênh rạch,
hồ chứa nước và ao đầm (Islam and Hossain, 1983) Ở nước ta, cá Còm phân bố
tự nhiên ở các tỉnh Nam Trung bộ và Nam Bộ, nơi khí hậu ấm áp quanh năm (Uỷ hội sông Mêkông) Cá sống trong hầu hết các loại hình thủy vực nước ngọt giống như cá Thát lát, thường gặp chúng ở các vùng cửa sông, ao hồ, ruộng, kênh rạch, sông ngòi, các vùng nước trũng ngập lụt
Cá Còm ưa sống ở những nơi nước tĩnh, nhờ có cơ quan hô hấp phụ nên cá chịu được môi trường chật hẹp, ao nước tĩnh, vùng nhiễm phèn nhẹ và vùng nước lợ ven biển Chúng có thể sống ở những thủy vực hàm lượng ôxy hoà tan ít do có cơ quan hô hấp phụ nên lấy được trực tiếp ôxy trong không khí để duy trì hô hấp Mùa nước lớn, cá theo nước vào đồng ruộng để sinh sống; mùa khô cá ra sông rạch hoặc khu vực nước sâu Ngoài ra, cá Còm là loài có khả năng chống chịu tốt với điều kiện bất lợi, ít dịch bệnh thích hợp nuôi thâm canh với mật độ và năng suất cao trong ao đầm
2.4 ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG
Cá còm là loài có kích thước lớn Ngoài tự nhiên có thể gặp cá thể dài đến 100 cm và nặng trên 10 kg (Quddus and Shafi, 1983; Rahman, 1989) Cá thể lớn nhất được ghi nhận có trọng lượng thân đến 19 kg
Rahman (1989) nghiên cứu về đặc điểm môi trường sống tự nhiên của
cá Còm thích sống ở môi trường nước hơi acid, pH 5,5 ÷ 8,5, ngưỡng nhiệt độ nước từ 20 ÷ 30 0C (Phù hợp với điều kiện khí hậu miền Bắc) và độ mặn tối đa 6‰ Cá Còm là loài khác với cá Thát Lát thường ở đặc điểm kích thước cơ thể lớn và sinh trưởng nhanh hơn Cá có tốc độ lớn khá nhanh, hơn nhiều lần so với tăng trưởng của cá Thát Lát Cá con có tốc độ tăng trưởng nhanh trong 4 tuần đầu, chiều dài nếu nuôi tốt cá có thể đạt 8 - 9 cm (Lê Quang Nha, 2000) Sau 6 tháng từ cá giống, cá có thể đạt 400-500 g/con và sau 12 tháng nuôi có thể đạt 1 kg/con Mỗi năm cá có thể tăng từ 1 - 1,2 kg (Nguyễn Chung, 2006) So với cá cùng họ thì cá Thát Lát (Chitala sp.) có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn cá Thát Lát thường (Notopterus notopterus) Cá tăng trọng nhanh, thông thường cá sau 1 năm tuổi có chiều dài trung bình khoảng 30 - 40 cm và nặng từ 800 - 1.200 g/con Trong ao nuôi, cá Thát Lát cườm có thể đạt kích cỡ 500 - 600 g/con sau 6 tháng nuôi (Dương Nhựt Long, 2004) Trong điều kiện thức ăn ưa thích đầy đủ,
cá Còm tăng trưởng nhanh, đạt khối lượng 1,5 - 2,0kg ở 1+ tuổi
Trang 162.5 ĐẶC ĐIỂM DINH DƯỠNG
Hệ tiêu hoá của loài Chitala gồm miệng, thực quản, dạ dày và ruột Cá có miệng trước, rộng, rạch miệng xiên và kéo dài ra khỏi mắt, xương hàm trên phát triển Răng nhiều, nhọn mọc ở hàm dưới trên phần giữa xương trước hàm, trên xương khẩu cái, xương lá mía và lưỡi Ngoài ra còn có đám răng nhỏ mịn trên xương bướm phụ, vì vậy chúng có thể bắt giữ, cắn xé con mồi Thực quản của cá ngắn, rộng và có vách hơi dày Dạ dày hình chữ J có vách hơi dày Ranh giới giữa ruột non và ruột già không phân biệt rõ ràng Tỉ lệ Li/L0 = 0,3 cho nên đây
là loài ăn động vật (Dương Nhựt Long, 2003) Trần Thị Thanh Hiền và cs.(2007)
đã xác định tỉ lệ chiều dài ruột và chiều dài thân (Li/Ls) của cá Còm từ ngày tuổi thứ 5 đến 30 biến đổi ít, dao động từ 0,31 - 0,5 và cá giai đoạn 30 ngày tuổi đã thể hiện tính ăn động vật
Cá Còm mới nở có chiều dài cơ thể 10 - 12 mm Noãn hoàng rất lớn, sau giai đoạn dinh dưỡng noãn hoàng 3 - 5 ngày, cá có thể ăn thức ăn bên ngoài có kích thước nhỏ như: Thức ăn công nghiệp dạng mịn, bột đậu nành … Nhưng ưa thích nhất là các loài sinh vật phù du Giai đoạn trưởng thành, cá Còm thích ăn các loài giáp xác, côn trùng, cá tép nhỏ, ngoài ra còn có khả năng sử dụng tốt thức ăn chế biến (Phạm Văn Khánh, 2006; Đoàn Khắc Độ, 2008) Thông thường, cá chiếm tỷ lệ từ 20,05 - 40,65% trong dạ dày cá Còm, còn giáp xác chiếm 3,5- 38,39% và các tỷ lệ này phụ thuộc vào các vùng sinh sống khác nhau của cá Thát Lát cườm Loài cá Còm rất dữ, cá tấn công những con cá khác
để làm mồi khi đói Khi bị sốc môi trường hoặc thay đổi mồi ăn đột ngột chúng
có thể bỏ ăn cho đến khi kiệt sức và nhiễm bệnh chết Do đó trong điều kiện nuôi không nên gây sốc môi trường hay thay đổi mồi đột ngột mà phải tập cho
cá quen dần với thức ăn mới và cho cá ăn đúng giờ (Nguyễn Chung, 2006) Do
cá có đặc tính ăn động vật nên khi sử dụng thức ăn hỗn hợp các hàm lượng carbohydrate cao để nuôi cá thì chúng phải được tập cho ăn từ nhỏ (Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2004)
2.6 ĐẶC ĐIỂM SINH SẢN
Cá đực và cá cái có thể phân biệt theo hình dạng ngoài: Cá đực có vây bụng kéo dài quá gốc vây hậu môn và có gai sinh dục phát triển; còn cá cái thì vây bụng chỉ kéo dài gần tới gốc vây hậu môn gai hậu môn ngắn và tù Tuyến sinh dục của cá đực gồm hai thùy, trong đó có một thùy bị thoái hoá Tuyến sinh dục của cá cái chỉ là một thùy lớn, giống như một cái túi Kích cỡ trứng cá khi
Trang 17thành thục và sinh sản có kích thước khá lớn, tương tự kích cỡ trứng của cá Thát Lát (2-2,2 mm), trứng cũng có dạng hình tròn, màu vàng, có tính dính Cá Còm cũng có tập tính làm tổ trước khi sinh sản và đẻ trứng dính vào tổ hoặc giá thể như khúc gỗ, đoạn cây tre, cây thủy sinh
Mùa vụ sinh sản của cá Còm ở miền Nam thường tập trung từ tháng 5 -
8 Cá Còm có buồng trứng phát triển không đều Trong tự nhiên, cá thường đẻ trên các vùng nước cạn nơi có những thân cây, rễ cây ngập trong nước Tới thời kỳ sinh sản, ống sinh sản lồi ra từ vùng huyệt của con cái, ống này dài khoảng 1,25cm và đường kính 0,6 cm (Smith ,1945) Con cái dùng ống này lướt qua lại trên giá thể để dọn sạch ổ đẻ Tập tính chuẩn bị ổ đẻ của cá cái tiếp tục khoảng vài giờ cho đến khi con đực đến cặp đôi Sau đó cả bố mẹ đều dọn tổ và bắt đầu cuộn tròn vào nhau và đẻ trứng Cá đẻ nhiều đợt, mỗi đợt khoảng 10-15 trứng (Chu Lân, 1969) Sau khi con cái đẻ trứng trên ổ đã dọn sẵn, con đực bơi theo và thụ tinh cho trứng Sau khi thụ tinh, cá đực canh gác
tổ, dùng vây quạt nước để cung cấp ô xy cho phôi phát triển, cá cái không tham gia vào việc này (Phạm Văn Khánh, 2006) Trứng sẽ nở trong vòng 6 ngày ở nhiệt độ 30oC Mỗi lứa, cá đẻ từ vài trăm trứng đến khoảng 1.000 trứng/kg cá cái Sức sinh sản tuyệt đối thấp
Trong điều kiện nuôi, cá thành thục sớm hơn trong tự nhiên, sau một năm tuổi cá đã phát dục thành thục và tham gia sinh sản Cá sinh sản tốt từ mùa sinh sản thứ hai trở đi Sức sinh sản tuyệt đối 1.415 - 3.676 trứng/cá cái (1-1,8kg), sức sinh sản tương đối 1.381 - 1.858 trứng/kg cá cái Sức sinh sản thực tế đạt 580 -
923 trứng/kg cá cái Trứng giai đoạn IV có màu vàng nhạt, đường kính trứng dao động 2,3 - 3 mm Ở nhiệt độ 28,3oC, thời gian phát triển phôi kéo dài 7 ngày Trứng cá Còm thường nở không đồng loạt, ở nhiệt độ 25 - 31oC thời gian nở kéo dài 122 - 165 giờ
2.7 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ KỸ THUẬT SẢN XUẤT GIỐNG NHÂN TẠO
CÁ CÒM TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI
Trang 18- Nuôi vỗ cá bố mẹ: Ao nuôi là ao đất hoặc xây xung quanh bằng gạch hoặc bê tông, có diện tích 200 m2 trở lên, độ sâu 0,8-1,0 m nước Ao có thể cắm trà hoặc thả một ít bèo lục bình làm nơi trú ẩn cho cá Ao được tẩy dọn trước khi thả cá Cá đưa vào nuôi vỗ có kích cỡ từ 300 g trở lên Mật độ nuôi vỗ 1,5 - 2,0 kg/10m2 Tỷ lệ cá đực/cái là 1/1 hoặc 2/1 Cho ăn thức ăn là cá tạp với khẩu phần
5 - 8% khối lượng thân Thay nước hàng tuần từ 40-50% lượng nước trong ao nuôi vỗ
- Kỹ thuật sinh sản: Có thể cho đẻ từng cặp trong bể hoặc cho cá đẻ trong
ao đất xong phổ biến nhất là cho cá đẻ trong ao đất
+ Ao sinh sản được dọn sạch, vét sạch bùn trước khi lấy nước thả cá bố mẹ cho đẻ Thả thêm giá thể để làm giá thể cho cá đẻ
+ Chọn cá bố mẹ cho sinh sản: Chọn cá cái bụng to, mềm, kiểm tra thấy các hạt trứng căng tròn, đường kính trứng từ 2 - 2,2 mm, bề mặt trứng còn rất ít mạch máu hoặc mạch máu đứt đoạn Màu sắc thân cá đực lúc này sáng vàng hơn trước và có những đông tác bắt cặp với cá cái
+ Tiêm kích dục tố và cho sinh sản: Sau khi tuyển chọn cá đực và cá cái thì tiêm kích dục tố hoặc chất kích thích sinh sản cho cá Kích dục tố là HCG và chất kích thích sinh sản là LH - RHa kết hợp với DOM Liều lượng cụ thể như sau: Dùng HCG: Cá cái tiêm 4.000 - 4.500 IU/kg, cá đực tiêm 1.000 - 1.500 IU/kg Dùng LH - RHa: Cá cái tiêm 120 - 150 µg/kg Cá đực tiêm 40 - 50 µg/kg Sau khi tiêm, thả cá bố mẹ vào trong ao sinh sản, kích thích cá rụng trứng bằng cách tạo dòng nước chảy nhẹ Thời gian hiệu ứng của thuốc là 48 - 72 giờ trong điều kiện nhiệt độ từ 24 - 250C Sau khi cá đẻ cần vớt trứng để ấp riêng
+ Ấp trứng trong các bể composite có nước chảy nhẹ kết hợp sục khí + Có thể cho đẻ bằng cách vuốt trứng và thụ tinh khô Tuy nhiên biện pháp thụ tinh khô cần phải mổ cá đực để lấy tinh sào, nghiền nát để thụ tinh cho trứng Cách này tuy chủ động hơn nhưng làm hao hụt cá đực nên ít được áp dụng hơn
Một nghiên cứu khác của Phạm Minh Thành và cộng sự (2008) về sự thành thục trong ao và kích thích cho sinh sản cá Còm chỉ ra rằng Cá Còm được nuôi vỗ bằng thức ăn là cá tươi 50% kết hợp với 50% thức ăn công nghiệp hiệu Cargill có hàm lượng đạm 32% đều bắt đầu thành thục vào tháng 2 Tỷ lệ cá thành thục và hệ số thành thục của cá gia tăng theo các tháng nuôi, đạt cao nhất vào tháng 5 Từ sau tháng 5 các chỉ số này giảm dần đến tháng 8 Trong nghiên
Trang 19cứu này nhóm tác giả cũng chỉ ra rằng cá Còm có cho sinh sản nhân tạo bằng loại kích thích tố là LH - RHa và cho kết quả tốt Tỷ lệ cá tham gia sinh sản gia tăng theo thời gian, sau 24 giờ đạt 60%; sau 36 giờ đạt 85%; sau 48 giờ đạt 95% Nghiên cứu xác định hàm lượng dinh dưỡng phù hợp cho cá Còm giai đoạn ương từ cá hương lên cá giống đã được đề tài “Nghiên cứu nuôi thương phẩm và thử nghiệm sản xuất giống cá Còm tại Hà Nội” (Nguyễn Văn Tiến, 2013) tiến hành và đề tài đã đạt được một số kết quả như sau:
- Đã xây dựng được quy trình kỹ thuật nuôi thương phẩm cá Còm trong ao năng suất trung bình 11,5 tấn/ha, kích cỡ cá thương phẩm trên 500g/con
- Xác định được thức ăn hỗn hợp 35% protein là phù hợp để ương nuôi cá Còm giai đoạn cá giống từ 2-3 cm/con lên 10 cm/con
- Xác định được thức ăn công nghiệp có hàm lượng đạm 30% là thức ăn phù hợp nhất cho giai đoạn nuôi thương phẩm cá Còm
- Xác định được mật độ lưu giữ cá Còm giống qua đông phù hợp là 10 con/m2, cá hậu bị là 2 - 5 con/m2 Thức ăn phù hợp cho cá Còm lưu qua đông là thức ăn viên nổi có hàm lượng protein 30%
- Cá Còm có khả năng kích thích sinh sản nhân tạo bằng các loại kích dục
tố như: LH - RHa + DOM, HCG và Não thuỳ thể Loại kích dục tố LH - RHa + DOM cho kết quả tốt nhất đạt 83,33%
- Sức sinh sản sinh sản của cá Còm trong thí nghiệm trung bình đạt 0,8 - 1 trứng/g cá thể cái, tỷ lệ cá đẻ đạt 83,33%, tỷ lệ thụ tinh đạt từ 88,64% tới 91, 32%, tỷ lệ nở đạt từ 81,17% đến 86,67%
Mặc dù đề tài đã đạt được một số kết quả nhất định nhưng các kết quả mới chỉ ở quy mô thí nghiệm Để nâng cao hiệu quả ứng dụng cần thiết phải hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất giống, mật độ ương trong giai bột lên cỡ 3cm đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào được công bố
* Trên thế giới:
Trên thế giới việc nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá Còm vẫn còn nhiều hạn chế, các nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc mô tả hoạt động sinh sản của cá trong tự nhiên, tạo điều kiện cho cá đẻ tự nhiên Ở Châu Á, Thái Lan và Việt Nam là hai nước đi đầu trong công tác nghiên cứu cho sinh sản nhân tạo cá Còm Cá Còm đã được sản xuất giống nhân tạo từ thập niên 90 ở Thái Lan (Ủy hội sông Mêkông, 1999)
Trang 20Để nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của cá Còm, (Hossain et al., 2006) đã thu thập 4 cặp cá Còm bố mẹ (cá cái 4,2 - 5,0 kg ; cá đực 2,8 - 3,6 kg)
từ sông Modhumoti (Bangladesh) vào tuần đầu tiên của tháng 7 và nuôi trong 4
ao diện tích từ 900 - 1300 m2, độ sâu 1,5 - 1,7 m Cá đã thành thục sinh sản tự nhiên trong ao Thế hệ F1 của đàn cá gốc này được sử dụng để nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và sản xuất giống Theo nghiên cứu này, cá Còm thành thục và tham gia sinh sản lần đầu ở tuổi thứ 3 Tinh sào của con đực có màu kem sáng, noãn sào của cá cái có màu nâu nhạt Sức sinh sản tuyệt đối 5.761 trứng trên cá thể cái có khối lượng thân 4.200g Nhìn chung, cá cái có sức sinh sản tuyệt đối thấp do trứng có kích thước lớn (khối lượng 1 trứng là 54mg và đường kính 4,58mm) Tập tính sinh sản của cá Còm là đẻ trong tổ đẻ và canh gác trứng (Azadi et al., 1995) Trứng cá Còm dạng bám dính, sau khi đẻ trứng bám vào các giá thể và tỷ lệ nở của cá bột đạt trên 90% (Hossain et al., 2006) Cá thường đẻ vào tuần trăng khi trăng tròn hoặc trăng non, sau khi đẻ trứng bám vào các giá thể của tổ đẻ Tỷ lệ cá cái/cá đực trong tự nhiên là: 0,7 :1,0 tỷ lệ này cũng tương
tự trong điều kiện nuôi trong ao (0,69 :1,0) (Hossain et al., 2006)
2.8 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN Trước đây đã có nhiều nghiên cứu về cá Còm được thực hiện, từ đặc điểm phân loại học (Mai Đình Yên và cs., 1992) đến sinh sản nhân tạo và nuôi thương phẩm (Phạm Văn Khánh, 2006; Đoàn Khắc Độ, 2008) Quy trình kỹ thuật sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá Còm cũng đã được đưa ra, tuy nhiên các quy trình này chủ yếu để áp dụng đối với nuôi cá Còm ở các tỉnh phía Nam Do cá Còm có khả năng chịu lạnh kém nên khi áp dụng vào nuôi ở các tỉnh phía Bắc đã cho năng suất không cao như ở các tỉnh phía Nam
Năm 2011- 2013, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu nuôi thương phẩm và thử nghiệm sản xuất giống cá Còm tại Hà Nội” Đề tài mới chỉ bước đầu cho sinh sản nhân tạo, trong quá trình thực hiện chưa ổn định và chỉ có ba đợt cho sinh sản nhân tạo thành công Nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ đã chỉ ra được mùa vụ nuôi vỗ bắt đầu từ tháng 5 - 6, nhưng lượng thức ăn cho từng giai đoạn nuôi vỗ chưa phù hợp Về phương pháp kích thích sinh sản đã xác định được loại kích dục tố LH - Rha + DOM cho kết quả tốt nhưng chưa xác định phương pháp thụ tinh thích hợp Về kỹ thuật ương từ cá bột lên cá giống mới chỉ dừng lại ở quy trình ương từ cá bột lên cá hương cỡ 3 cm/con và chưa nghiên cứu xác định mật độ nuôi phù hợp Chính vì vậy nghiên
Trang 21cứu được thực hiện sẽ bổ sung, hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất giống cá Còm, từ đó có thể áp dụng trong thực tiễn sản xuất, tiến tới chủ động được con giống, giảm sự lệ thuộc vào nguồn giống khai thác ngoài tự nhiên được vận chuyển từ miền Nam ra, giảm chi phí sản xuất Sản xuất thành công cá Còm giống ở Hà Nội nhằm thúc đẩy nghề nuôi cá Còm ở Hà Nội và các địa phương phía Bắc có điều kiện tương tự Hà Nội
Trang 22PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Địa điểm nghiên cứu:
+ Trung tâm giống Thủy sản nước ngọt Hà Nội Địa chỉ: Xã Thanh Thùy - huyện Thanh Oai - Thành phố Hà Nội
+ Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 Địa chỉ: Xã Đình Bảng - Thị xã
Từ Sơn - Tỉnh Bắc Ninh
+ Trại cá Kim Sơn - Gia Lâm - Hà Nội, thuộc công ty cổ phần quốc tế Minh Phú
3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/ 2016 đến 5/ 2017
3.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.3.1 Cá thí nghiệm
- Đối tượng nghiên cứu: Loài cá Còm Chitala ornata (Gray, 1831) bao gồm
200 cặp từ đề tài nuôi thương phẩm cá Còm và 50 cặp được tuyển thêm được nhập từ miền Nam
- Nghiên cứu được thực hiện trên 250 cặp cá bố mẹ khỏe mạnh, không dị hình, có khối lượng trung bình trên 500 g/con và chiều dài tối thiểu 18 cm Mật
độ nuôi vỗ là 4 con/m2
3.3.2 Dụng cụ thí nghiệm
+ Nhiệt độ: đo bằng nhiệt kế thuỷ ngân, đo nhiệt độ 2 lần/ ngày (6h và 14h) + Hàm lượng ôxy hoà tan: dùng máy đo ôxy, đo 2 lần/ ngày (6h và 14h) + pH: dùng máy đo pH meter, 2 ngày/ lần
+ NH3: đo bằng test kit của Sera (Đức)
3.4 BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM
3.4.1 Thí nghiệm 1:Nuôi vỗ cá bố mẹ từ giai đoạn nuôi vỗ tích cực đến nuôi
vỗ thành thục
* Thời gian và địa điểm nuôi vỗ
- Thời gian nuôi vỗ 6 tháng bắt đầu từ tháng 10/2016 đến tháng 4/2017 tại trại cá Kim Sơn - Gia Lâm - Hà Nội, thuộc công ty cổ phần quốc tế Minh Phú Các
Trang 23thông số môi trường ổn định: pH: 7,0 - 8,0, nhiệt độ 28 - 30oC Nước cấp được lọc qua túi vải mắt lưới a = 200µm để loại bỏ tạp chất trước khi đưa vào sử dụng
Số lượng giai nuôi: 6 giai, 3 giai/1 nghiệm thức Các giai thí nghiệm được
bố trí chung trong một ao, mật độ nuôi 4 con/m2
- Giai đoạn nuôi vỗ tích cực trong 4 tháng:
Cá được cho ăn 2 lần/ngày vào 8h và 14h, khẩu phần ăn 5% trọng lượng thân trong 2 tháng đầu, 2 tháng cuối trong quá trình nuôi vỗ tích cực cho ăn 3% trọng lượng thân Thức ăn sử dụng trong quá trình nuôi vỗ là thức ăn công nghiệp chứa Minh Hiếu 40% Protein
- Quản lý ao nuôi: không thay nước trong quá trình nuôi vỗ Định kỳ bón BKC hàng tháng để xử lý môi trường ao nuôi Định kỳ thu thức ăn thừa, chất bẩn trong ao nuôi
- Giai đoạn nuôi vỗ thành thục trong 2 tháng:
Thí nghiệm nuôi vỗ thành thục cá Còm được bố trí trong các giai(Các giai được chia làm 2 nghiệm thức để theo dõi) có kích thước 10 x 5 x 1,5m ở trong ao nuôi 1500m2, độ sâu nước từ 1,5-1,8 m Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần Sơ
đồ bố trí thí nghiệm được trình bày trong hình 3.1
NT1
(Giai 1)
NT2 (Giai 3)
NT2 (Giai 5)
NT2
(Giai 2)
NT1 (Giai 4)
NT1 (Giai 6)
Hình 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm nuôi vỗ cá bố mẹ giai đoạn thành thục
- Cá được cho ăn 2 lần/ngày vào 8h và 14h Thức ăn sử dụng trong quá trình nuôi vỗ là thức ăn công nghiệp Minh Hiếu chứa 40% Protein
Nghiệm thức 1: Khẩu phần ăn 1% khối lượng thân
Nghiệm thức 2: Khẩu phần ăn 3% khối lượng thân
- Quản lý ao nuôi: Thay nước mới 1 lần/tuần, mỗi lần thay 1/3 lượng nước trong ao Định kỳ bón BKC hàng tháng để xử lý môi trường ao nuôi Định kỳ thu thức ăn thừa, chất bẩn trong ao nuôi
Trang 243.4.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu phương pháp sinh sản nhân tạo thích hợp với cá Còm
Sinh sản nhân tạo:
- Chọn cá bố mẹ cho sinh sản: Chọn những cá thể không bị sây sát, không
dị hình, khoẻ mạnh Cá cái chọn con có bụng to, mềm, gai sinh dục sưng và đầu mút hơi ửng hồng Cá đực chọn cá có gai sinh dục dài và nhọn
- Kích dục tố và liều sử dụng:
+ Kích dục tố được sử dụng trong thí nghiệm: LRHa + DOM
+ Liều lượng: 150µg LRHa + 10mg DOM/kg cá cái Kích dục tố được chia làm 2 liều tiêm (Lần 1: 50μg; lần 2: 150μg cho 1kg các cái), liều sơ bộ tiêm cách liều quyết định 24 giờ Đối với cá đực chỉ tiêm 1 liều bằng 1/2 liều tiêm cho cá cái vào cùng thời gian tiêm liều thứ hai cho cá cái
Hai hình thức thụ tinh được nghiên cứu và bố trí thử nghiệm như sau:
- Thí nghiệm 1 (Sinh sản tự nhiên): Sau khi tiêm kích dục tố, thả cá vào
bể xi măng (150x100x70cm) chứa 500 lít nước sạch có đặt sẵn giá thể và phủ bèo lục bình trên mặt Tạo dòng nước chảy nhẹ và liên tục đến khi kết thúc quá trình sinh sản để tạo thêm sự hưng phấn đối với cá Tỷ lệ cá đực cái bố trí cho
đẻ là 1/1
- Thí nghiệm 2 (Gieo tinh nhân tạo): cũng giống như hình thức trên, cá sau khi được tiêm kích dục tố, cá được cho vào bể kích thước nước liên tục nhưng không đặt giá thể và bèo Theo dõi và kiểm tra phát hiện trứng rụng đồng loạt, tiến hành giải phẫu lấy buồng tinh cá đực, vuốt trứng vào thau nhỏ và áp dụng gieo tinh bán khô Tỷ lệ cá đực cái tham gia sinh sản: 1/2 - 1/3 Khi trứng đã được cho thụ tinh xong, khử tính dính của chúng bằng dung dịch tananh (0,15%) Sau đó cho lên bình vây ấp trứng
Trang 25- Thường xuyên kiểm tra và loại bỏ những quả trứng hỏng
- Nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước được đo ngày 2 lần vào 7h sáng và 15h chiều bằng nhiệt kế bách phân
- Ôxy hòa tan, pH được xác định 1 lần/ngày vào lúc 7h sáng bằng bộ kít Sera của Đức
3.4.3 Thí nghiệm 3 Ương nuôi cá Còm từ cá bột lên cá giống cỡ 3cm/con ở các mật độ khác nhau
- Thí nghiệm với 3 mật độ: 20 cá bột/L, 30 cá bột/L, 40 cá bột/L nhằm xác định mật độ ương cá bột phù hợp nhất
- Thí nghiệm 3 được triển khai ở 9 bể kính có kích thước (100x50x70cm) Mỗi nghiệm thức mật độ được lặp lại 3 lần Cá Còm bột (chiều dài thân trung bình 1cm) được mua và vận chuyển bằng đường hàng không từ trại giống trong Đồng bằng sông Cửu Long ra Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm được trình bày trong hình 3.2
Trang 26`
Hình 3.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ương cá Còm
*Chăm sóc quản lý cá bột ương nuôi
Trong 10 ngày đầu, cá được cho ăn bằng động vật phù du sau khi đã được lọc rửa sạch 10 ngày tiếp theo cá được cho ăn bổ sung 60% thức ăn viên (35% đạm) đã được nghiền vỡ thành dạng mảnh nhỏ và 40% động vật phù du 10 ngày cuối, cá được cho ăn hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp dạng mảnh nhỏ (35% đạm) Cá được cho ăn 3 lần/ngày (8:30, 13:30 và 17:00) Thức ăn thừa trong bể được xiphon sau 30 phút cho ăn
Quản lý chất lượng nước: Dùng máy thổi khí công suất 750W/h Mỗi bể thí nghiệm được bố trí 2 quả đá bọt gắn với hệ thống máy thổi khí nhằm cung cấp đủ ô xy hòa tan trong thời gian thí nghiệm Nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước được đo ngày 2 lần/ngày vào 6h và 14h bằng nhiệt kế bách phân Ôxy hòa tan và pH trong bể được xác định 2 lần/ngày vào lúc 6h và 14h bằng bộ kít Sera của Đức
*Thu mẫu
Sau 10, 20 ngày ương và kết thúc thí nghiệm (30 ngày), tiến hành đo ngẫu nhiên chiều dài cơ thể của 40 cá thể/bể nhằm xác định tốc độ tăng trưởng tương đối theo ngày về chiều dài (% ngày) Chiều dài (Lo) của cá được xác định bằng thước đo chia vạch 0,01mm Đồng thời kết thúc thí nghiệm, đếm toàn bộ cá còn lại trong bể, tính tỷ lệ sống của cá
Cá Còm bột chiều dài trung bình 1 cm
Trang 27Theo dõi môi trường trong quá trình nuôi
+ Nhiệt độ: đo bằng nhiệt kế thuỷ ngân, đo nhiệt độ 2 lần/ ngày (6h và 14h) + Hàm lượng ôxy hoà tan: dùng máy đo ôxy, đo 2 lần/ ngày (6h và 14h) + pH: dùng máy đo pH meter, 2 ngày/ lần
+ NH3: đo bằng test kit của Sera (Đức)
Các công thức tính toán
- Sức sinh sản tuyệt đối = (Số trứng trong mẫu đếm x Khối lượng buồng trứng)/
Khối lượng trứng đếm mẫu
- Sức sinh sản tương đối = Sức sinh sản tuyệt đối (trứng)/ Khối lượng thân cá (g)
- Hệ số thành thục (%) = (Khối lượng tuyến sinh dục/ Khối lượng cá cái đã bỏ nội tạng) x 100
Wt: Khối lượng cá tại thời điểm t
Wo: Khối lượng cá ban đầu
- Tốc độ tăng trưởng tương đối theo ngày về chiều dài (% ngày) LnL2 - LnL1
Trang 28Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng phương pháp phân tích phương sai ANOVA 1 nhân
tố trên phần mềm Minitap 16, theo phép thử Turkey để so sánh sự khác nhau giữa các mật độ, sự khác nhau được xem là có ý nghĩa khi P<0,05
Trang 29PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 KẾT QUẢ NUÔI VỖ CÁ BỐ MẸ
Biến động nhiệt độ
Trong quá trình thí nghiệm, nhiệt độ nước trong ao nuôi dao động từ 19 -
35oC Nhiệt độ nước là yếu tố môi trường rất quan trọng đối với sự sinh trưởng
và phát triển của cá Còm trong điều kiện khí hậu ở miền Bắc Nhiệt độ trong ngày của tất cả các ô thí nghiệm đều như nhau (các giai nuôi vỗ cùng một ao) Sự biến động nhiệt độ của các ô thí nghiệm nằm trong khoảng 19 - 35oC, biên độ dao động nhiệt giữa sáng và chiều trong khoảng 2 - 7oC
Hình 4.1 Biến động nhiệt độ nước trong thời nuôi vỗ tích cực
Các nghiên cứu cho thấy nhiệt độ dưới 20 oC sẽ ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của cá, nhiệt độ nước thích hợp từ 25 – 35 oC là tốt nhất cho sinh trưởng của cá Còm (Islam và Hossain, 1983) Nửa cuối tháng 12/2016 đến đầu tháng 2/2017, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên nhiệt độ nước ao có xu hướng giảm rõ rệt, không nằm trong khoảng tối ưu cho cá Còm Những ngày nhiệt độ nước giảm thấp đến 20 oC cá Còm ăn kém hơn Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của cá
Biến động pH
Tiến hành đo pH hàng ngày vào 6h và 14h để đánh giá sự biến động của chỉ tiêu pH Giá trị pH trong quá trình thí nghiệm dao động từ 7,8 - 8,3 Vào buổi