1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất giống rươi (tylorrhynchus heterochaetus quatrefages, 1865)

56 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 7,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu ảnh hưởng thức ăn lên sinh trưởng của ấu trùng rươi trong giai đoạn trôi nổi .... Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng rươi trong giai đo

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN CÔNG HÒA

NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT GIỐNG RƯƠI (Tylorrhynchus heterochaetus Quatrefages, 1865)

TS Nguyễn Hữu Ninh

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng tất cả các số liệu và kết quả nghiên cứu trong Đề tài này đều trung thực và chưa được sử dụng cho bất cứ một công trình nghiên cứu nào

Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi thông tin đưa ra trong Đề tài này đều đựơc chỉ rõ nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ đều được cám ơn

Hà Nội, ngày 12 tháng 05 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Công Hòa

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Nhà trường và đặc biệt là Quý Thầy cô trong khoa thủy sản đã giúp tôi trang bị tri thức, tạo điều kiện môi trường thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn này

Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới TS Nguyễn Ngọc Tuấn, TS Nguyễn Hữu Ninh và Ths Cao Văn Hạnh đã chỉ dẫn nhiệt tình cho tôi trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu này

Xin cảm ơn ban lãnh đạo Trung tâm Quốc gia giống Hải sản Miền bắc và những cán

bộ trong Trung tâm đã hợp tác, chia sẻ thông tin, cung cấp cho tôi nhiều nguồn tư liệu, tài liệu hữu ích phục vụ cho đề tài nghiên cứu

Tôi xin gửi lời chi ân sâu sắc nhất tới gia đình và những người bạn, người anh đã động viên, hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt quá trình tôi học tập, làm việc và hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày 12 tháng 05 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Công Hòa

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH vi

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN viii

THESIS ABSTRACT ix

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 3

2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 6

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

3.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 12

3.2 Nội dung nghiên cứu 12

3.2.1 Nghiên cứu nuôi vỗ rươi 12

3.2.2 Nghiên cứu cho rươi sinh sản bằng phương pháp nhân tạo 12

3.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng thức ăn lên sinh trưởng của ấu trùng rươi trong giai đoạn trôi nổi 14

3.2.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng rươi trong giai đoạn trôi nổi 15

3.2.5 Chăm sóc và quản lý sức khỏe ấu trùng và bể nuôi 16

3.3 Phương pháp nghiên cứu 16

3.3.1 Phương pháp xác định sức sinh sản tuyệt đối và tương đối của rươi 16

3.3.3 Phương pháp theo dõi tốc độ tăng trưởng của ấu trùng 17

3.3.4 Phương pháp xác định các thông số môi trường 19

3.3.5 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 19

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 20

4.1 Kết quả nghiên cứu nuôi vỗ thành thục của rươi 20

Trang 5

4.1.1 Tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ sống, tỷ lệ thành thục và sức sinh sản tuyệt đối

của rươi nuôi vỗ 20

4.1.2 Kết quả tuyển chọn rươi tham gia sinh sản 20

4.1.3 Tỷ lệ thành thục của rươi 21

4.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn tới tỷ lệ thụ tinh của ấu trùng 22

4.2.1 Hình thái của rươi bố mẹ tham gia sinh sản 22

4.2.2 Xác định tỷ lệ đực cái rươi 25

4.2.3 Sức sinh sản tương đối và tuyệt đối của rươi 26

4.2.4 Kết quả diễn biến các yếu tố môi trường 26

4.2.5 Kết quả quan sát các giai đoạn biến thái của ấu trùng rươi 28

4.3 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn lên sinh trưởng của ấu trùng giai đoạn trôi nổi 29

4.3.1 Kết quả các yếu tố môi trường trong bể ương 29

4.4 Kết quả ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng của ấu trùng rươi 32

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 35

5.1 Kết luận 37

5.2 Kiến nghị 37

TÀI LIỆU THAM KHẢO 36

PHỤ LỤC 38

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Trọng lượng trung bình của rươi tham gia sinh sản (n=100) 13

Bảng 3.2 Tỷ lệ rươi đực, rươi cái qua các lần sinh sản 14

Bảng 4.3 Kết quả nuôi vỗ Rươi qua các đợt 20

Bảng 4.4 Kết quả tuyển chọn rươi 21

Bảng 4.5 Tỷ lệ thành thục của rươi qua các nghiệm thức 22

Bảng 4.7 Tỷ lệ đực cái rươi sinh sản qua các đợt thu mẫu 26

Bảng 4.8 Sức sinh sản tương đối và tuyệt đối của rươi 26

Bảng 4.9 Một số yếu tố môi trường trong bình ấp 27

Bảng 4.10 Tỷ lệ thụ tinh của trứng qua các nghiệm thức 28

Bảng 4.11 Các yếu tố môi trường trong quá trình ương 30

Bảng 4.12 Sinh trưởng về chiều dài của ấu trùng rưoi 31

Bảng 4.13 Chiều dài và tỷ lệ sống của ấu trùng qua các nghiệm thức 33

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Phân bố rươi ở Việt Nam 7

Hình 3.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 12

Hình 3.3 Bố trí thí nghiệm 13

Hình 3.4 Tuyển chọn và ghép đực cái 14

Hình 3.5 Thức ăn dùng trong thí nghiệm 15

Hình 3.6 Bố trí thí nghiệm mật độ ương 15

Hình 4.7 Tỷ lệ thành thục của rươi 21

Hình 4.8 Hình thái rươi bố mẹ 23

Hình 4.9 Rươi cái đang tiêu giảm 24

Hình 4.10 Rươi đực đang tiêu giảm 25

Hình 4.11 Tỷ lệ thụ tinh của rươi qua các nghiệm thức 27

Hình 4.12 Quá trình phát triển của trướng thụ tinh ở rươi 29

Hình 4.13 Tăng trưởng của ấu trùng qua các ngày ương 30

Hình 4.14 Tăng trưởng của ấu trùng rươi 32

Hình 15 Rươi bố mẹ thu ngoài tự nhiên 44

Hình 16 Tuyển chọn rươi bố mẹ 44

Hình 17 Dùng lông vũ khuấy trứng 45

Hình 18 Pha loãng loại bỏ sẹ thừa 45

Hình 19 Quá trình phát triển của phôi 46

Hình 20 Chiều dài và số đốt của ấu trùng 46

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Nguyễn Công Hòa

Tên Luận văn: Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất giống rươi (Tylorrhynchus heterochaetus Quatrefages, 1865)

- Xây dựng quy trình sản xuất giống nhân tạo rươi từ giai đoạn tuyển chọn rươi bố

mẹ, ghép sinh sản và ương ấu trùng trôi nổi

Nội dung và phương pháp nghiên cứu

 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu nuôi vỗ thành thục rươi bố mẹ, ghép sinh sản, kích thích sinh sản bằng

độ mặn;

- Nghiên cứu mật độ và dinh dưỡng cho giai đoạn ương nuôi ấu trùng

 Phương pháp nghiên cứu

- Các nghiệm thức đều được bố trí theo các phương pháp thống kê;

- Số liệu được thu thập và phân tích theo phương pháp thường quy

Kết quả chính và kết luận

 Qua kết quả nghiên cứu của đề tài tại Hải Phòng trong năm 2016, 2017 đã xác định được thức ăn, chất đáy trong giai đoạn nuôi vỗ rươi thành thục và độ mặn phù hợp nhất (S= 100/ 00 ) cho ấp nở ấu trùng trong giai đoạn trôi nổi

 Đề tài cũng đã xác định được tỷ lệ đực cái (đực/cái) khi rươi tham gia sinh sản (1/4,1)

 Quan sát các giai đoạn biến thái của ấu trùng và mật độ ương phù hợp (200con/L) cũng như dinh dưỡng tốt nhất ( Lansy + Vi tảo) trong giai đoạn đầu của ấu trùng 3 tia cứng (5đốt)

Trang 10

THESIS ABSTRACT Master candidate: Nguyen Cong Hoa

Thesis title: Research on reproductive technological process in Palolo (Tylorrhynchus heterochaetus Quatrefages, 1865)

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

The treatments were arranged according to the statistical method

Data was collected and analyzed by conventional methods

Main findings and conclusions

The results of a project in two years (2016 and 2017) in Hai Phong province determined that food and benthos in fattening maturation period and optimum salinity (S= 100/00) for larva incubation in floating period

Project also determined male and female ratio (male/female) of palolos when they participate to breeding (1:1.4)

The metamorphosis periods of larvae, suitable nursing density (200 species/L) and the best nutrition (Lansy + microalga) in the first period of there hard rays (five chunks) larvae were observed.

Trang 11

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

Rươi là loài động vật không xương sống thuộc nhóm Giun nhiều tơ, phân bố

ở Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Indonesia Ở Việt nam gặp ở Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Khánh Hòa, Côn Đảo Rươi sống trong hang, dưới bùn thường gặp ở vùng nước lợ, cửa sông, rạch hay đồng bằng ven biển, những nơi chịu tác động trực tiếp của chế độ thủy triều Rươi chỉ xuất hiện vào những thời kỳ nhất định, những ngày nhất định trong năm vì chúng chịu ảnh hưởng của các yếu tố như thủy triều, thời tiết, tuần trăng, nhiệt độ, độ mặn và các yếu tố sinh thái khác (Phạm Đình Trọng, 2000)

Hàng thế kỷ nay loài rươi được biết đến như là một món ăn đặc sản, bổ dưỡng của người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ, tuy nhiên thời gian xuất hiện của rươi trong năm không nhiều do vậy chỉ có những người sành ăn mới có được món ăn bổ dưỡng này Hiện nay giá thành của rươi trên thị trường nước ta rất cao (từ 450 – 500 nghìn đồng/kg), ngoài thị trường tiêu thụ trong nước, phần lớn rươi còn được các lái buôn vận chuyển bán sang Trung Quốc qua cửa khẩu Móng Cái (Báo Quảng Ninh, 2011)

Ngoài giá trị chính của rươi là làm thực phẩm, rươi còn được sử dụng làm thức ăn trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi vỗ tôm sú bố mẹ và tôm thẻ chân trắng Các cơ sở sản xuất giống hiện nay đều sử dụng rươi làm thức ăn chính cho nuôi vỗ, vì sau khi sử dụng, tỷ lệ tôm thành thục cao, chất lượng trứng tốt (Palmer, 2014) Ngoài ra rươi còn có vai trò quan trọng trong việc chuyển hoá các chất mùn

bã hữu cơ và xác động vật chết trong chu trình chu chuyển vật chất của hệ sinh thái vùng triều, xử lý chất thải hữu cơ, tạo nên độ phì nhiêu, tơi xốp và thông thoáng cho các vùng đất ngập nước (Trần Thái Bái, 1970) Chính nhờ khả năng tự làm sạch thuỷ vực nên rươi còn được một số các nhà khoa học xem như là các sinh vật chỉ thị mức ô nhiễm môi trường bằng cách xác định mật độ quần thể, sản lượng và tần xuất xuất hiện (Klawe and Dickie, 1957)

Sản lượng rươi đánh bắt được ở ngoài tự nhiên hiện nay là rất ít (Nguyễn Văn Khang, 1991).Một số đầm ở các bãi triều cửa sông đã có những biện pháp thu giống ngoài tự nhiên theo con nước thuỷ triều, tạo điều kiện thuận lợi cho rươi sinh trưởng

và phát triển trong đầm và thu hoạch với năng suất cao gấp nhiều lần ngoài tự nhiên

Trang 12

Đây là đối tượng đang được khai thác hoàn toàn từ tự nhiên, phụ thuộc vào mùa vụ nên năng suất và sản lượng còn hạn chế Để chủ động nguồn giống phục vụ nghề nuôi và bảo vệ nguồn lợi thì việc nghiên cứu sản xuất giống rươi là rất cấp thiết, giúp người nuôi chủ động con giống hiện đang phụ thuộc vào tự nhiên như hiện nay

Do vậy đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống rươi (Tylorrhynchus heterochaetus Quatrefages, 1865) tại Hải Phòng” cần được thực hiện

1.1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống rươi trong điều kiện nhân tạo nhằm chủ động nguồn giống để phát triển nuôi và góp phần bảo vệ nguồn lợi rươi

- Xây dựng quy trình sản xuất giống nhân tạo rươi từ giai đoạn tuyển chọn rươi

bố mẹ, ghép sinh sản và ương ấu trùng trôi nổi

1.2 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

- Kết quả của luận văn là cơ sở khoa học để xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất giống và ương rươi, bổ sung đối tượng nuôi mới trong nghề nuôi trồng thủy sản

- Kết quả của luận văn giúp nâng cao tỉ lệ sống của rươi tạo ra con giống chất lượng tốt phục vụ cho nghề nuôi, góp phần giải quyết việc làm, phát triển kinh tế thuỷ sản và bảo vệ môi trường sinh thái theo hướng hiệu quả, bền vững

Trang 13

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI

Trên thế giới lớp giun nhiều tơ có phân bố rất rộng và đã có nhiều công trình nghiên cứu, như tác giả Michael Mazurkiewicz (1975) có công trình nghiên cứu về

sự phát triển của ấu trùng và sinh cảnh sống của của loài giun nhiều tơ Laeonereis culveri (Webster) thuộc họ Nereidae ở vùng cửa sông thuộc bờ biển Atlantic, chúng

có cơ thể dài, mỏng và có nhiều đốt, sống trong hang, dưới bùn, về dinh dưỡng chúng sử dụng mùn bã hữu cơ làm thức ăn, thời gian sinh sản của chúng chịu ảnh hưởng bởi chế độ thủy triều, sự biến đổi thời tiết, mùa vụ và chu kỳ trăng, chúng tham gia sinh sản trong 3 ngày vào cuối tháng của tháng 10 và tháng 11 và chỉ sinh sản một lần duy nhất trong đời Thời kỳ sinh sản khi có sự biến đổi về các yếu tố sinh thái và môi trường như: nhiệt độ, thời tiết và tuần trăng chúng từ dưới đáy bơi lên trên mặt nước để sinh sản, sau khi sinh sản chúng đều bị chết, xác của chúng làm mồi cho các loài tôm cá sinh sống ở gần đó, vào thời kỳ sinh sản chúng tham gia với

số lượng cá thể rất đông, đây cũng là đặc tính sinh sản chung của lớp giun nhiều tơ Khi sinh sản quần đàn như vậy sẽ làm tăng khả năng thụ tinh cho trứng giúp cho chúng nhanh chóng khôi phục và tái tạo lại quần đàn đã bị chết

Nắm bắt được quy luật sinh sản của rươi, vào thời điểm rươi tham gia sinh sản, chúng được người dân khai thác về sử dụng làm thực phẩm, đây là món ăn ưa thích của những người dân địa phương, họ đã sản xuất giống loài này để cung ứng cho các hộ nuôi làm thực phẩm và sử dụng làm mồi câu cá giải trí Theo một nghiên cứu khác của hai tác giả Bartels and Zeeck (1990) về loài Hediste diversicolortại bãi triều Jadebusen thuộc bờ biển phía Bắc nước Anh, theo tác giả ngoài tự nhiên rươi sinh sản vào đầu mùa xuân với nhiệt độ trung bình 160C, chúng xuất hiện vào thời gian từ tháng 2 đến tháng 5 theo chu kỳ tuần trăng của các tháng, vào thời kỳ sinh sản rất dễ phân biệt đực cái: Con cái có màu xanh nhạt hay màu vàng nâu, con đực

có mầu sẫm, vào thời kỳ sinh sản rươi xuất hiện đồng thời với số lượng cá thể rất đông vào tháng hai, tháng ba và xuất hiện rải rác vào tháng tư và tháng năm.Qua nghiên cứu so sánh nhiệt độ trong mùa sinh sản của rươi tác giả đã kết luận rằng

Trang 14

ngưỡng nhiệt độ và thời gian sinh trưởng là yếu tố quyết định đến quá trình sinh sản quần thể của chúng

Theo một nghiên cứu khác của Adriaan Dorresteijn and Albrecht Fischer (2004) đã có công trình nghiên cứu về loài giun nhiều tơ Platynereis dumeriliithuộc

họ Nereidae đã cho chúng sinh sản nhân tạo trong phòng thí nghiệm ở môi trường nước biển có độ mặn trên 20‰, ở nhiệt độ 180C kết quả thu được: Trứng thụ tinh sau 15 phút và quá trình phát triển của phôi từ 2-64 tế bào trong khoảng thời gian 1,5 – 8 giờ, giai đoạn phôi vị từ 8-24 giờ, sau 48 giờ hình thành phôi hình cầu có gai cứng (Phôi luân cầu Trochophora) chiều dài 0,15mm và sau 96 giờ biến thái thành

ấu trùng 3 tia cứng (Metatrochophora) có chiều dài 0,27mm, giai đoạn này ấu trùng

có thể bơi tự do

Trong các tài liệu trên thế giới đã biết hiện nay qua tài liệu của Gravier and Dantan (1932) đã có công bố: “Loài rươi đã được tác giả Quatrefages mô tả lần đầu tiên vào năm 1865 như một loài giun nhiều tơ sống ở nước lợ với cái tên Nereis heterochaeta”, tác giả đã dựa trên mẫu vật thu được từ đảo Java của Indonexia, tiếp sau đó loài rươi này lại được Grube (1867) mô tả với tên gọi khác Tylorrhynchus chinensis với một mẫu vật duy nhất thu được tại Thượng Hải (Trung Quốc) Osawa (1901) có nói đến một loài giun nhiều tơ thuộc họ Nereidae sống trong nước ngọt và nước mặn vùng Tokyo (Nhật Bản) mà được tác giả gọi tên là Palolo japonais (loài Rươi Nhật Bản) và loài này sau đó được Izuka (1903) nghiên cứu sâu hơn, song tác giả lại đặt nhầm loài này vào giống Ceratocephale với tên loài là Ceratocephaleosawai

Phải tới năm 1914 với công trình nghiên cứu của tác giả Ramsay (1914) thì các tên loài Ceratocephaleosawai (Izuka), Tylorrhynchus chinensis (Grube) mới được coi là tên động vật đồng nhất (Synonyme) với loài Rươi Nereis heterochaeta (Quatrefages) vàvới loài Tylorrhynchus heterochaetus (Quatrefages) đã được tác giả này mô tả năm 1865

Về phân bố, trên thế giới cho tới nay các công trình nghiên cứu của Quatrefages(1865), Osawa (1901), Grube (1867), Izuka (1903, 1905), Gravier and Dantan (1932) cho thấy loài Rươi Tylorrhynchus heterochaetus Quatrefages (1865)

Trang 15

chỉ phân bố ở vùng nước lợ và nước ngọt các vùng ven biển phía đông châu Á, từ nước Nga (Viễn Đông), Nhật Bản (Tokyo), Trung Quốc (Quảng Đông) và Indonexia (đảo Java)

Theo tác giả Koya Yasunori et al (2003) đã tiến hành: "Thụ tinh nhân tạovà theo dõi quan sát quá trình phát triển của loài rươiTylorrhynchus heterochaetus”.Ông đã có công bố rằng loài rươi này thường được gọi là Palolo sống ở trong bùn của bãi triều gần cửa sông Ibi, Mie Prefecture Nhật bản, vào mùa sinh sản, cơ thể của chúng chứa đầy trứng và tinh dịch, trong thời gian 3 ngày sau kỳ trăng sớm và trăng tròn của tháng 11 hàng năm, phần sau cơ thể rươi tách ra và bơi lên trên mặt nước để đẻ trứng vào ban đêm Ông đã tiến hành phương pháp thụ tinh nhân tạo và quan sát sự phát triển của phôi và ấu trùng Ở nhiệt độ từ 22- 300C đã cho tỷ lệ thụ tinh đạt 80,5% Sự phân chia tế bào lần một trong vòng hai giờ sau khi trứng được thụ tinh và sự phân chia tế bào này theo dạng xoắn Túi phôi trở thành ấu trùng và bắt đầu bơi khi cơ thể xuất hiện lông mao trong vòng 24 giờ, sau khi thụ tinh ba ngày trứng nở, phôi phát triển thành ấu trùng trong vòng 5 ngày

Theo công bố của Zazili et al (2005) đã nghiên cứu ba loài giun nhiều tơ Tylorrhynchus osawai, Hediste diadroma và loài H.japonica sinh sống vùng cửa sông Omuta-gawa Nhật Bản, ba loài này thường sinh sản vào ban đêm lúc triều cường, trong suốt mùa xuân từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, vào mùa sinh sản chúng xuất hiện với bầy đàn lớn và sinh sản quần thể, tác giả cũng có nhận định rằng về tập tính sống và hoạt động sinh sản của ba loài giun nhiều tơ này là như nhau

Sato and Tsuchiya (1987), đã nghiên cứu về sự ảnh hưởng của độ mặn đến sự phát triển của giai đoạn phôi của 2 loài Hediste japonica and H Diadroma Độ mặn thích hợp dao động từ 22.5 – 30‰ trong khi đó độ mặn thích hợp cho quá trình thụ tinh dao động từ 10 – 34 ‰ Cả 2 loài này ấu trùng bơi lội tự do từ khi nở thành ấu trùng luân cầu (trochophora) Thức ăn sử dụng cho giai đoạn ấu trùng là vi tảo Nghiên cứu của Hardege (1995) cho rằng đối với loài giun nhiều tơ Perinereis nuntia var brevicirrus thì phôi phát triển bên trong viên nang trứng màu xanh lục và

nở ra ở giai đoạn nectochaete sau 7-8 ngày ở nhiệt độ nước (21°C đến 23°C), con giống đạt 2 – 3cm sau 2 tháng nuôi Trong khi đó, kết quả nghiên cứu của Hardege

Trang 16

et al.(1995) về ảnh hưởng của nhiệt độ đến thời gian phát triển của ấu trùng, nhiệt

độ càng thấp thời gian phát triển của ấu trùng đến giai đoạn nectochaete càng chậm (tại 15°C thì khi nở đến giai đoạn nectochaete là 2-3 tuần, tại 18°C thì từ khi nở đến giai đoạn nectochaete là 9-10 ngày) Ở nhiệt độ càng cao thời gian phát triển của giun nhiều tơ càng nhanh

Liu (1980), nghiên cứu về thời gian phát triển của loài giun Perinereis nuntia var brevicirris từ khi trứng thụ tinh đến khi nở thành ấu trùng là 60 giờ ở nhiệt độ 26

oC Thức ăn cho ấu trùng chủ yếu là tảo chlorella và thức ăn công nghiệp Theo nghiên cứu của Bass and Brafield (1972) về loài Nereis virens thì ấu trùng trochophora sống trôi nổi khoảng 12 - 15 ngày, giai đoạn ấu niên 12 ngày sau khi thụ tinh sống ở đáy Sau 16 tuần thấy xuất hiện giun con bò ở khu vực nước thủy triều lên (Bessie Ong, 1996)

Theo nghiên cứu của Hiroaki Tosuji et al (2006), độ mặn ảnh hưởng lên quá trình phát triển của ấu trùng giai đoạn đầu của Hediste japonica và loài H diadroma Tuy nhiên, độ mặn thích hợp nhất cho sự phát triển của ấu trùng là 27.5-30‰ mặc dù đây là loài rộng muối 10-34‰ (Hiroaki Tosuji et al., 2006)

Nghiên cứu về việc sức chịu đựng của loài Capitella sp khi giảm dần độ mặn tại nhiệt độ 20oC thì thấy rằng quá trình phát triển phôi không thấp tại độ mặn 10-12‰ khi so sánh với kết quả tại độ mặn 25-30‰ Điều này chứng tỏ quá trình nuôi

vỗ thành thục, cho đẻ và ương nuôi ấu trùng của loài giun này cần được tiến hành ở

Trong môi trường tự nhiên, ngoài chuyển động trườn nhỏ các chi bên và sự uốn lượn tạo sóng của toàn cơ thể, rươi còn có chuyển động nhờ sự hô hấp trong khi

Trang 17

nó có thể di chuyển hay không Nhờ đó mà lớp nước xung quanh luôn xáo động, giúp rươi có thể tạo được nguồn nước luôn mới, giàu ôxy hơn và giúp chúng hô hấp được tốt hơn.Khi thành thục cơ thể rươi cái có màu xanh nhạt hay mầu nâu vàng (màu của trứng), bên trong cơ thể chứa đầy trứng, trứng hình cầu

2.2.2 Phân bố

Ở Việt Nam loài rươi đã được đề cập

đến từ thế kỷ XVIII, sách “Vân đài

loại ngữ” của Lê Quý Đôn (1778) đã

nói đến loài rươi (Hòa trùng) như một

sản vật của nước ta Loài rươi này

cũng thấy ở vùng Lĩnh Nam và Quảng

Đông, Trung Quốc, ông đã trích dẫn

tư liệu từ sách “Quang Đông tân ngữ”

về con rươi, mô tả hình dạng, nơi

sống và thời gian xuất hiện của chúng

theo trực quan và kinh nghiệm

(Nguyễn Văn Khang, 1991)

Hình 2.1 Phân bố rươi ở Việt Nam

Trang 18

(Quảng Ninh), Đình Vũ – Cửa Cấm (Hải Phòng) những vùng trên đều nằm ở vùng nước lợ cửa sông chịu tác động của thủy triều

2.2.3 Môi trường sống

Năm 2008, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 đã tiến hành điều tra một

số địa điểm thu hoạch rươi tại miền Bắc và đã mô tả môi trường sống của rươi như sau:Khi còn nhỏ rươi sống trên bề mặt lớp bùn nhão có mực nước nông khoảng 15 - 30cm, nơi có những bụi cây cỏ mọc như cói, các, năn và có độ mặn dao động từ 0 - 5‰, pH từ 7,2 – 7,8 Khi phát triển đầy đủ các bộ phận trên cơ thể rươi sử dụng đôi hàm kitin chắc khỏe của mình để đào hang và di chuyển dần lên nơi có nền đáy cứng hơn, chúng sống dưới lớp bùn dày khoảng 10-50 cm có lỗ thông với bề mặt đáy Rươi có đặc tính sống cố định một chỗ và ít di chuyển từ nơi này đến nơi khác (Nguyễn Quang Chương, 2008), về đêm rươi ló đầu ra khỏi hang để tìm kiếm thức

ăn quanh miệng hang, những người có đầm rươi có thể căn cứ vào kích thước hình dáng của miệng hang dự đoán được giai đoạn nào rươi dinh dưỡng và rươi xuất hiện

đi sinh sản để chủ động trong việc khai thác rươi trong đầm

Chất đáy nơi rươi sống thường là bùn cát, thuộc các kênh mương, ruộng lúa, ruộng cói thuộc khu vực bãi triều cửa sông, nơi chịu tác động trực tiếp của thủy triều Hàng tháng khi đến kỳ nước thuỷ triều, nước dâng lên mang theo lượng phù sa

và mùn bã hữu cơ đến làm thức ăn cho rươi Sinh cảnh sống của rươi phụ thuộc vào chế độ thủy triều (lúc thì ngập nước lúc thì khô cạn) Nguyễn Quang Chương (2008) 2.2.4 Mùa vụ sinh sản

Rươi thành thục và xuất hiện vào những thời gian nhất định trong năm, thường vào những ngày triều cường tháng 5 - 6 và tháng 9 - 10 âm lịch hàng năm và rươi không xuất hiện vào những ngày trời nắng, có nước đục Từ tháng 1 đến tháng

6 dương lịch, chế độ thủy triều lên, xuống về đêm nên rươi đi di cư sinh sản ban đêm, khi xuất hiện chúng không nổi lên mặt nước mà đi chìm ở lưng chừng nước, cách mặt bùn khoảng 20cm, rươi thường xuất hiện vào đầu con nước trước ngày triều cường từ 2 - 3 ngày, trong thời gian này cơ thể chúng chứa ít sản phẩm sinh dục hơn là rươi tháng 10 và tháng 12 Vào vụ mùa cơ thể rươi chứa đầy các sản phẩm sinh dục nên chúng rất dễ bị vỡ, trong thời gian này thủy triều thường lên

Trang 19

xuống vào gần sáng do vậy rươi thường xuất hiện vào sáng sớm và bơi trên mặt nước đi sinh sản, giai đoạn này nếu gặp điều kiện môi trường, thời tiết thích hợp chúng sẽ xuất hiện với số lượng cá thể dày đặc (Nguyễn Công Tiễu, 1927)

2.2.5 Các yếu tố môi trường, thời tiết ảnh hưởng đến sinh sản rươi

Rươi xuất hiện di cư sinh sản ở độ trong của nước dao động 25 - 32cm, nhiệt

độ nước từ 24,40C - 29,70C nhiệt độ không khí từ 210C - 32,50C, độ mặn từ 0 -5‰,

pH từ 7,2 – 7,8, hàm lượng oxy từ 5,2mg/l – 6,45mg/l, tất cả các yếu tố trên đều nằm trong khoảng phù hợp cho sự phát triển của phần lớn các loài động vật thủy sản khác Khi xem xét sự biến động của các yếu tố thủy hóa trong các đợt thu mẫu ta thấy độ mặn của nước thủy triều cao nhất vào tháng 11 và tháng 12, tương ứng với thời điểm này rươi đi sinh sản số lượng rất đông (Nguyễn Quang Chương, 2008) 2.2.6 Phân biệt đực cái

Trước đây đã có nhiều tranh cãi về hình thức sinh sản của rươi Một số tác giả (Nguyễn Công Tiễu, 1927) cho rằng rươi sinh sản vô tính bằng cách phân chia cơ thể thành nhiều cá thể nhỏ Tuy nhiên, nghiên cứu gần đây (Koya et al., 2003; Nguyễn Quang Chương và cs., 2008) đã khẳng định rằng rươi sinh sản hữu tính với các sản phẩm sinh dục đực cái phân biệt rõ rệt Khi thành thục rươi phân tính đực cái và có màu sắc riêng biệt: Rươi cái có màu xanh nhạt, rươi đực có màu trắng đục,

cơ thể chúng có chiều dài khối lượng và số đốt trung bình là 4,33cm, 0,46gam và 60 đốt Về hình dạng và cấu tạo cơ thể rươi đực tương tự như rươi cái, khi sinh trưởng

và phát triển trong hang dưới bùn thì quan sát bên ngoài hầu như không phân biệt được đực cái, vào mùa sinh sản thì cơ thể chúng thay đổi màu sắc và rất dễ phân biệt Khi thành thục cơ thể rươi đực có màu sắc sặc sỡ, thường là mầu trắng đục pha chút phớt hồng mặt bụng có mầu đỏ đậm, bên trong cơ thể chứa đầy tinh dịch, có mầu trắng sữa

2.2.7 Sinh sản nhân tạo

Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 đã khẳng định hình thức sinh sản của rươi là hình thức sinh sản hữu tính; thời gian chúng sinh sản đều ứng với kỳ con nước, tuần trăng, khi thời tiết có sự thay đổi đột ngột bởi gió mùa và mưa nhỏ, độ trong trung bình 34 cm, nhiệt độ nước 26,750C nhiệt độ không khí

Trang 20

26,680C, độ mặn 0,5‰, pH 7,65 và hàm lượng oxy hòa tan là 6,06mg/l Nguyễn Quang Chương (2008)

Rươi cái

Qua quan sát mẫu cắt mô trên kính hiển vi có thể phân sự phát triển của tuyến sinh dục Rươi làm 4 giai đoạn (A, B, C, D)

Giai đoạn 1 (A)

Cho thấy tuyến sinh dục ở chân bên chưa phát triển, cơ bụng và cơ lưng rất phát triển, ống tiêu hóa lớn, chân bên chưa phát triển, giai đoạn này Rươi đang tích lũy vật chất dinh dưỡng cho cơ thể và phát triển tuyến sinh dục

Giai đoạn 2 (B)

Tuyến sinh dục nằm ở phần gốc các chân bên, trứng được hình thành từ những túi màng nhầy, giai đoạn này trứng có kích thước nhỏ và có nhiều hình dạng khác nhau, chưa có nhân

Xác định được 2 giai đoạn phát triển tuyến sinh dục của Rươi đực

Giai đoạn 1 (A1)

Tuyến sinh dục chưa xuất hiện, gốc chân bên nhỏ, dài, ống tiêu hóa lớn có chứa nhiều thức ăn thành cơ bụng và 2 bó cơ lưng lớn

Giai đoạn 4 (D1)

Cơ thể Rươi thành thục, tuyến sinh dục phát triển chiếm gần hết khoang cơ thể, các hệ cơ tiêu giảm, ống tiêu hóa thu hẹp và chứa đầy tinh dịch

Trang 21

Sức sinh sản tuyệt đối và tương đối trung bình của rươi là 96.000 trứng/cá thể hoặc 218.000 trứng/gam Khi đến thời kỳ sinh sản rươi chui ra khỏi hang, phần sau của rươi tiêu giảm (bắt đầu từ đốt thứ 50-60) Rươi ngừng dinh dưỡng, phần trước phát triển, các cơ quan nội tạng tiêu giảm nhường chỗ cho sản phẩm sinh dục, lúc này lớp da bên ngoài rất mỏng và rất dễ bị vỡ khi gặp tác động nhẹ Vào

kỳ con nước thủy triều, khi gặp sự thay đổi thời tiết như mưa nhỏ, gió mùa, rươi đồng loạt nổi lên mặt nước bơi chủ động theo nước thủy triều ra sông, biển để sinh sản và chết Trứng thụ tinh và phát triển thành ấu trùng rồi lại theo con nước thủy triều trở về đầm, bãi triều để thực hiện một vòng đời mới (Nguyễn Quang Chương

Phạm Đình Trọng (2006) đã theo dõi và đánh giá sản lượng của rươi qua khảo sát và kết hợp sưu tầm tài liệu, bài viết trên các Báo của các tác giả khác như Nguyễn Trọng Thạch (1980); Nguyễn Văn Khang (1991) đã có nhận định rằng từ năm 1991 về trước, sản lượng rươi của tỉnh Hải Dương khai thác được hàng năm dao động từ 10 - 20 tấn nhưng hiện nay con số này hầu như không còn nữa Những năm 1991 về trước rươi xuất hiện từ 40 – 50 xã ven sông, từ năm

1991 trở lại đây rươi chỉ còn xuất hiện ở hơn 10 xã, song ở các xã này rươi xuất hiện cũng không đều

Trang 22

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu: Loài rươi Tylorrhynchus heterochaetus(Quatrefages, 1865);

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 2 /2016 đến tháng2 /2017;

- Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm quốc gia giống hải sản miền Bắc-Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I

3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Hình 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 3.2.1 Nghiên cứu nuôi vỗ rươi

Thí nghiệm 1: Nuôi vỗ rươi trong bể nhựa (5m3) với các loại thức ăn khác nhau Thời gian thực hiện 3 đợt từ tháng 2 đến tháng 10 năm 2016 Thí nghiệm được

bố trí trong ba nghiệm thức (NT) mật độ thả như nhau (700con/L) ở các nghiệm thức NT1: Mùn bã hữu cơ; NT2: Thức ăn tổng hợp (60%Pr); NT3: Mùn bã hữu cơ

và thức ăn tổng hợp Thức ăn sử dụng trong các nghiệm thức là Lansy (60%Pr) và mùn bã hữu cơ theo Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần Theo dõi các chỉ số về tăng trưởng, thành thục, tỷ lệ sống, sức sinh sản

3.2.2 Nghiên cứu cho rươi sinh sản bằng phương pháp nhân tạo

Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của độ mặn tới tỷ lệ nở của ấu trùng rươi

Rươi bố mẹ tham gia

sinh sản

Tuyển chọn cho đẻ

Kích thích sinh sản Thu vớt trứng

Ấp trứng

Phương pháp ấp trứng Thu vớt ấu trùng

Ương nuôi ấu trùng giai đoạn trôi nổi

Kết luận, nhận xét

Trang 23

Thời gian thực hiện: 2 đợt (tháng 10 và tháng 11/2016)

Nước đầm tại khu vực rươi sinh sản và nước biển có độ mặn 20‰, lấy về lọc kỹ qua

bể lọc cát, chứa trong xô 80 lít

Hình 3.2 Bố trí thí nghiệm Cách bố trí: Gồm 12 xô nhựa (V = 80 lít) được chia làm 4 môi trường (mỗi môi trường 3 xô), ba môi trường nước có độ mặn lần lượt là 5‰; 10‰ và 15‰, môi trường thứ tư làm đối chứng (nước đầm) Lượng nước chứa trong mỗi xô thí nghiệm

là 15lit, kiểm tra các yếu tố thủy hóa, kiểm tra tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở và các giai đoạn biến thái của ấu trùng

Bảng 3.1 Trọng lượng trung bình của rươi tham gia sinh sản(n=100)

Trang 24

thu tinh được thực hiện trước khi thu trứng Phương pháp thu trứng được thực hiện tương tự: làm vỡ cá thể cái vào một chiếc đĩa khô khác

Hình 3.3 Tuyển chọn và ghép đực cái Tiến hành thụ tinh nhân tạo với tỷ lệ đực cái là 1:4 (Bảng 2.2)

Bảng 3.2 Tỷ lệ rươi đực, rươi cái qua các lần sinh sản

3.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng thức ăn lên sinh trưởng của ấu trùng rươi trong giai đoạn trôi nổi

Thí nghiệm 3:Ảnh hưởng của thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống ấu trùng trôi nổi

Ấu trùng sau 3 ngày tuổi bắt đầu cho ăn thức ăn ngoài Sử dụng 3 nghiệm thức thức ăn khác nhau: Tảo tươi (Nanochlropsis ocullata, Isochrysis galbana), thức

ăn tổng hợp (Lansy, 60% Pr), kết hợp tảo tươi và tổng hợp (Tỷ lệ trộn 50/50) Thí nghiệm được thực hiện trong bể composite thể tích 0,5m3 với mật độ 500 con/ lít, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần

Trang 25

Hình 3.4 Thức ăn dùng trong thí nghiệm Hàng ngày cho ấu trùng ăn 4 lần, liều lượng 15 – 20% theo thể tích (cho ăn

có thể điều chỉnh theo điều kiện cụ thể)

Thí nghiệm được kéo dài cho đến khi ấu trùng bắt đầu xuống đáy (3 – 5 tia cứng), xác định tỷ lệ sống của ấu trùng ở tất cả nghiệm thức

3.2.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng rươi trong giai đoạn trôi nổi

Thí nghiệm 4: Ảnh hưởng của mật độ lên sinh trưởng và tỷ lệ sống ấu trùng rươi

Ấu trùng được ương ở 4 mật độ khác nhau: 200 con/l; 300 con/l; 500 con/l;

700 con/l Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần

Hình 3.5 Bố trí thí nghiệm mật độ ương

Trang 26

+ Thức ăn cho ấu trùng ăn là tảo tươi và tổng hợp (tỷ lệ trộn 50/50)

+ Thí nghiệm được kéo dài cho đến khi ấu trùng đạt kích cỡ>1cm/con, xác định

tỷ lệ sống của ấu trùng ở tất cả nghiệm thức

3.2.5 Chăm sóc và quản lý sức khỏe ấu trùng và bể nuôi

+ Chế độ siphon thay nước cho bể ương nuôi tuỳ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của ấu trùng, chất lượng nước trong bể ương mà có chế độ siphon thay nước hợp lý + Hàng ngày theo dõi các yếu tố môi trường trong suốt quá trình ương nuôi + Hàng ngày theo dõi tình trạng sức khỏe, khả năng lọc/bắt mồi của ấu trùng 3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.3.1 Phương pháp xác định sức sinh sản tuyệt đối và tương đối của rươi

- Sức sinh sản tuyệt đối:

Toàn bộ trứng của một cá thể vào đầu mùa sinh sản: Tách trứng ra khỏi phần cơ thể Rươi trong Vml nước lọc sạch, hút bỏ các tạp chất lơ lửng, khuấy đều dung dịch chứa trứng, lấy mẫu (1ml) Đếm số lượng trứng bằng buồng đếm tảo Sedgewick Rafter cell (Anh) Tính số lượng trứng có trong Vml dung dich bằng phương pháp thể tích (có thể pha loãng nếu mật độ trứng quá cao)

SSSTĐ được tính theo công thức: Fa = n * V

n: Lượng trứng có trong 1ml dung dịch, V: thể tích dung dịch (ml)

- Sức sinh sản tương đối (Frg)

Trang 27

3.3.2 Xác định các giai đoạn biến thái của ấu trùng

+ Định kỳ thu mẫu hàng ngày ấu trùng (30 con/lần) trong bể ương, cố định mẫu

và quan sát bằng kính hiển vi xác định các chỉ tiêu hình thái để phân loại các giai đoạn biến thái

+ Các chỉ tiêu phân loại các giai đoạn biến thái: chiều dài thân, các tia cứng, các đốt sinh trưởng, các phần phụ

3.3.3 Phương pháp theo dõi tốc độ tăng trưởng của ấu trùng

Hai ngày tiến hành thu mẫu 1 lần ở các lô thí nghiệm vào buổi sáng (6h) Mỗi

bể thu 3 mẫu, mỗi mẫu thu đo 30 ấu trùng bằng trắc vi thị kính trên kính hiển vi có

độ phóng đại 10x4 lần

- Xác định sự tăng trưởng:

Mỗi lô thí nghiệm, theo dõi tốc độ sinh trưởng dựa vào hai chỉ tiêu chiều dài (L)

và tỷ lệ sống, thu mỗi lô 30 mẫu kiểm tra chỉ tiêu chiều dài L (mm) và tỷ lệ sống

- Xác định sự phát triển của ấu trùng:

Theo dõi sự phát triển của ấu trùng thông qua việc theo dõi thời gian chuyển giai đoạn, với quy ước cứ 50% số cá thể trong lô thí nghiệm đã chuyển sang giai đoạn kế tiếp

+ Thời gian tính bằng giờ (giờ): T = T2 – T1

T: là thời gian chuyển giai đoạn của ấu trùng

T2: là thời gian chuyển giai đoạn ở lần kế tiếp

T1: là thời gian chuyển giai đoạn ở lần trước

+ Tính tốc độ tăng trưởng tương đối ngày theo chiều dài

1 2

1

2 lnln

TT

LL

CL

L2 : chiều dài thời điểm T2 (mm)

L1: chiều dài thời điểm T1 (mm)

CL : tốc độ tăng trưởng tương đối ngày theo chiều dài

Trang 28

+ Tỷ lệ sống (%):

Số cá thể thu được

Tỷ lệ sống = x 100

Tổng cá thể thả nuôi

+ Tỷ lệ thụ tinh (TLTT): Ngay sau khi đẻ dùng vợt vớt trứng ở tầng giữa, cho vào

03 bình thủy tinh (100trứng/ 0,5 lít/bình) không sục khí, sau 6 giờ đếm số trứng thụ tinh; những trứng trong, nhìn thấy phôi là những trứng thụ tinh; những trứng trắng đục là những trứng không thụ tinh

Số lượng ấu trùng ban đầu

Ngày đăng: 10/03/2021, 16:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bách Khoa thủy sản-Hội Nghề Cá Việt Nam, 2007. Nguồn lợi Rươi biển. Phần 2- Nguồn lợi thủy sản. Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lợi Rươi biển. Phần 2- Nguồn lợi thủy sản
Tác giả: Bách Khoa thủy sản-Hội Nghề Cá Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông Nghiệp
Năm: 2007
3. Báo Quảng Ninh, 19/05/2011. Nuôi “lộc trời” http://www.baoquangninh.com.vn/xa-hoi/phong-su/201105/Nuoi-loc-troi-2140839 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi “lộc trời”
Nhà XB: Báo Quảng Ninh
Năm: 2011
4. Nguyễn Quang Chương, 2008. “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sinh sản của Rươi (Tylorrhynchus heterochaetus Quatrefages, 1865) tại miền Bắc Việt Nam”.Báo cáo tổng kết đề tài cấp cơ sở, Thư viện Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1, 55 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sinh sản của Rươi (Tylorrhynchus heterochaetus Quatrefages, 1865) tại miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quang Chương
Nhà XB: Thư viện Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1
Năm: 2008
5. Lê Quý Đôn (1773), Vân đài loại ngữ, theo Nguyễn Văn Khang(1991), Rươivà nguồn lợi. Báo khoa học và đời sống, số 48 (883) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vân đài loại ngữ
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: Báo khoa học và đời sống
Năm: 1773
1. Adriaan Dorresteijn & Albrecht Fischer (2004), Development of Platynereis dumerilii, the Justus-Liebig-University of Giessen and the Johannes-Gutenberg-University of Mainz, http://www.uni-giessen.de/~gf1307/development.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Development of Platynereis dumerilii
Tác giả: Adriaan Dorresteijn, Albrecht Fischer
Nhà XB: Justus-Liebig-University of Giessen
Năm: 2004
2. Bartels-Hardege & Zeeck (1990). Reproduction and longevity for Hediste diversicolor, http://busybee.mba.ac.uk/species/reprod_Hedistediversicolor Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reproduction and longevity for Hediste diversicolor
Tác giả: Bartels-Hardege, Zeeck
Năm: 1990
3. Bessie Ong, 1996. Reproduction cycle of Perinereis nuntia var. brevicirris Grube (Polychaeta: nereidae) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reproduction cycle of Perinereis nuntia var. brevicirris Grube (Polychaeta: nereidae)
Tác giả: Bessie Ong
Năm: 1996
4. Hardege J.D, Zeeck E, Muller C, Wu B.L, Zhu M.Y, 1995. Sex pheromones in marine polychaetes V: a biologically active volatile compound from the coelomic fluid of female Nereis (Neanthes) japonica (Annelida Polychaeta). J Exp Mar Biol Ecol, pp 201. pp. 275–284 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sex pheromones in marine polychaetes V: a biologically active volatile compound from the coelomic fluid of female Nereis (Neanthes) japonica (Annelida Polychaeta)
Tác giả: Hardege J.D, Zeeck E, Muller C, Wu B.L, Zhu M.Y
Nhà XB: J Exp Mar Biol Ecol
Năm: 1995
5. Hiroaki Tosuji (2005), Reproductive Swarming of Sympatric Nereidid Polychaetes in an Estuary of the Omuta-gawa River in Kyushu, Japan, with Special Reference to Simultaneous Swarming of Two Hediste Species, Department of Earth and Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reproductive Swarming of Sympatric Nereidid Polychaetes in an Estuary of the Omuta-gawa River in Kyushu, Japan, with Special Reference to Simultaneous Swarming of Two Hediste Species
Tác giả: Hiroaki Tosuji
Nhà XB: Department of Earth
Năm: 2005
6. Koya Yasunori, Onchi rie, Futura Yoko, Yamauchi Katsusuke, 2003. Method for artificial fertilization and observation of the developmental process in Japanese palolo, Tylorrhynchus heterochaetus (Annelida: Polychaeta), Gifu Univ, Faculty of Education, JPN), VOL. 27; NO.2. pp. 85-94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Method for artificial fertilization and observation of the developmental process in Japanese palolo, Tylorrhynchus heterochaetus (Annelida: Polychaeta)
Tác giả: Koya Yasunori, Onchi rie, Futura Yoko, Yamauchi Katsusuke
Nhà XB: Gifu Univ, Faculty of Education
Năm: 2003
7. Michael Mazurkiewicz (1975), Laval Development and Habits of Laeonereis culveri(Webster) (Polychaeta: Nereidae), Biological Bulletin, Vol. 149, No. 1, pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Laval Development and Habits of Laeonereis culveri(Webster) (Polychaeta: Nereidae)
Tác giả: Michael Mazurkiewicz
Nhà XB: Biological Bulletin
Năm: 1975
8. Nguyễn Công Tiễu ,1927. Note sur un Palolo du Tokin, Note, Inst. Oceanogr. Indochine, pp. 33-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Note sur un Palolo du Tokin
Tác giả: Nguyễn Công Tiễu
Nhà XB: Inst. Oceanogr. Indochine
Năm: 1927
9. Liu, C. Y, 1980. The developmental stages and culture larvae of nereid worm Perinereis nuntia var. brevicirris. Scientific Research Abstracts in Republic of China 1980 No. 1 pp. 742 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The developmental stages and culture larvae of nereid worm Perinereis nuntia var. brevicirris
Tác giả: C. Y Liu
Nhà XB: Scientific Research Abstracts in Republic of China
Năm: 1980
10. Palmer, P. J., et al. (2014). "Nutritional status of a nereidid polychaete cultured in sand filters of mariculture wastewater." Aquaculture Nutrition: n/a-n/a Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nutritional status of a nereidid polychaete cultured in sand filters of mariculture wastewater
Tác giả: Palmer, P. J., et al
Nhà XB: Aquaculture Nutrition
Năm: 2014
11. Sato M, Nakashima A, 2003. A review of Asian Hediste species complex (Nereididae, Polychaeta) with descriptions of two new species and a redescription of Hediste japonica (Izuka, 1908). Zool J Linn Soc 137. pp. 403–445 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A review of Asian Hediste species complex (Nereididae, Polychaeta) with descriptions of two new species and a redescription of Hediste japonica (Izuka, 1908)
Tác giả: Sato M, Nakashima A
Nhà XB: Zool J Linn Soc
Năm: 2003
13. Sato M, Nakashima A, 2003. A review of Asian Hediste species complex (Nereididae, Polychaeta) with descriptions of two new species and a redescription of Hediste japonica (Izuka, 1908). Zool J Linn Soc 137. pp. 403–445 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A review of Asian Hediste species complex (Nereididae, Polychaeta) with descriptions of two new species and a redescription of Hediste japonica (Izuka, 1908)
Tác giả: Sato M, Nakashima A
Nhà XB: Zool J Linn Soc
Năm: 2003
14. Liu, C. Y, 1980. The developmental stages and culture larvae of nereid worm Perinereis nuntia var. brevicirris. Scientific Research Abstracts in Republic of China 1980 No. 1. pp. 742 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The developmental stages and culture larvae of nereid worm Perinereis nuntia var. brevicirris
Tác giả: Liu, C. Y
Nhà XB: Scientific Research Abstracts in Republic of China
Năm: 1980
6. Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái và Phạm Văn Miên (1980), Định loại động vật khôngxương sống nước ngọt Bắc Việt Nam, nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Khác
7. Chu Văn Thuộc (2002). Nghiên cứu thành phần loài, phân bố và thăm dò khả năng gây hại của một số tảo độc hại thuộc ngành tảo giáp ở vùng ven biển miền Bắc Việt Nam. Luận văn tiến sỹ sinh học.Tiếng nước ngoài Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w