1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ một số bệnh quan trọng trên tôm tại các tỉnh trọng điểm về sản xuất tôm giống, nuôi tôm thương phẩm năm 2016

87 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 3,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN THỊ HOÀI NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ MỘT SỐ BỆNH QUAN TRỌNG TRÊN TÔM TẠI CÁC TỈNH TRỌNG ĐIỂM VỀ SẢN XUẤT TÔM GIỐNG, NUÔI TÔM THƯƠNG PHẨM NĂM 2016...

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ HOÀI

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ MỘT SỐ BỆNH QUAN TRỌNG TRÊN TÔM TẠI CÁC TỈNH TRỌNG ĐIỂM VỀ SẢN XUẤT TÔM GIỐNG, NUÔI TÔM THƯƠNG PHẨM NĂM 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực

và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm

ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hoài

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Văn Long và

TS Kim Văn Vạn đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Môi trường và bệnh Thủy sản, Khoa Thủy sản – Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi chân thành cám ơn Lãnh đạo và các anh chị ở Cục Thú y, Cơ quan Thú y vùng VI, VII, Chi cục Chăn nuôi và Thú y, các doanh nghiệp và người nuôi tôm tại các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Bến Tre, Sóc Trăng và Bạc Liêu đã tạo điều kiện rất tốt, tận tình giúp đỡ và hỗ trợ tôi trong quá trình triển khai thực hiện đề tài

Để hoàn thành luận văn này, tôi còn nhận được sự động viên, khích lệ của những người thân trong gia đình và bạn bè Tôi xin chân thành cảm ơn những tình cảm cao quý đó

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hoài

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN ix

THESIS ABSTRACT x

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT TÔM GIỐNG VÀ NUÔI TÔM THƯƠNG PHẨM 4

2.1.1 Tình hình sản xuất và nhập khẩu tôm giống 4

2.1.2 Tình hình nuôi tôm 7

2.2 MỘT SỐ BỆNH QUAN TRỌNG TRÊN TÔM 11

2.2.1 Bệnh đốm trắng 11

2.2.2 Bệnh hoại tử gan tụy cấp tính 13

2.2.3 Bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và biểu mô 14

2.3 TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH TRÊN TÔM NUÔI NƯỚC LỢ Ở VIỆT NAM 16

2.3.1 Bệnh đốm trắng 16

2.3.2 Bệnh hoại tử gan tụy cấp tính 18

2.3.3 Bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và biểu mô 19

2.4 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH ĐỐM TRẮNG, BỆNH HOẠI TỬ GAN TỤY CẤP TÍNH, BỆNH HOẠI TỬ CƠ QUAN TẠO MÁU VÀ CƠ QUAN BIỂU MÔ TRÊN TÔM 20

Trang 5

2.4.1 Nghiên cứu trong nước 20

2.4.2 Nghiên cứu trên thế giới 24

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 28

3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 28

3.2.1 Nội dung nghiên cứu 28

3.2.2 Thời gian thực hiện 28

3.2.3 Vật liệu nghiên cứu 28

3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

3.3.1 Xác định mức độ lưu hành và các yếu tố nguy cơ liên quan đến lưu hành một số bệnh trên tôm tại các tỉnh nghiên cứu trong giai đoạn cuối năm 2016 đầu năm 2017 29

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34

4.1 XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ LƯU HÀNH MỘT SỐ BỆNH QUAN TRỌNG TRÊN TÔM TẠI CÁC TỈNH NGHIÊN CỨU TRONG GIAI ĐOẠN CUỐI NĂM 2016 (12/2016) ĐẦU NĂM 2017 (01/2017) 34

4.1.1 Phân tích đặc điểm dịch tễ theo không gian 34

4.1.2 Phân tích đặc điểm dịch tễ theo thời gian 36

4.1.3 Phân tích đặc điểm dịch tễ về đối tượng tôm mắc bệnh 41

4.2 XÁC ĐỊNH CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ LIÊN QUAN ĐẾN SỰ LƯU HÀNH CÁC BỆNH TRÊN TÔM TẠI CÁC TỈNH NGHIÊN CỨU 43

4.2.1 Phân tích nhị biến 43

4.2.2 Phân tích đa tầng – nhiều biến 47

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51

5.1 Kết luận 51

5.2 Kiến nghị 52

5.2.1 Đối với người sản xuất giống, nuôi tôm thương phẩm 52

5.2.2 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước 52

5.2.3 Các đề xuất nghiên cứu tiếp theo 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

PHỤ LỤC 58

Phụ lục 1: Một số hình ảnh thu được trong quá trình thực hiện 58

Trang 6

Phụ lục 2: Bảng tổng hợp số lượng mẫu xét nghiệm 60 Phụ lục 3: Bảng hướng dẫn đặt mã mẫu 61 Phụ lục 4: Danh sách các cơ sở nuôi tôm để lựa chọn ngẫu nhiên cho việc lấy

mẫu giám sát 61 Phụ lục 5: Biên bản lấy mẫu tôm 62 Phụ lục 6: Quy trình thu mẫu, bảo quản và vận chuyển mẫu tôm từ thực địavề

phòng thí nghiệm 64 Phụ lục 7: Biên bản bàn giao mẫu 66 Phụ lục 8: Bộ câu hỏi thu thập thông tin về các yếu tố nguy cơ 68

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng và sản lượng tôm nước lợ qua các năm 2013 - 2016 4 Bảng 2.2 Sản lượng tôm của Việt Nam từ năm 2012 - 2016 8 Bảng 2.3 Tổng hợp dịch bệnh đốm trắng trên tôm trong 3 năm 2014-2016 18 Bảng 2.4 Tổng hợp dịch bệnh hoại tử gan tụy cấp tính trên tômtrong 3 năm

2014-2016 19 Bảng 2.5 Tổng hợp dịch bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và biểu mô trên tôm

trong 3 năm 2014-2016 20 Bảng 4.1 Tỷ lệ lưu hành các bệnh trên tôm giai đoạn cuối năm 2016 đầu năm

2017 37 Bảng 4.2 Kết quả phân tích nhị biến xác định các yếu tố nguy cơ có liên quan

đến lưu hành bệnh đốm trắng, hoại tử gan tụy cấp, hoại tử cơ quan tạo máu và biểu mô tại 5 tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Bến Tre, Sóc Trăng,Bạc Liêu năm 2016 44 Bảng 4.3 Kết quả phân tích đa tầng, nhiều biến định lượng các yếu tốnguy cơ

liên quan đến lưu hành các bệnh trên tôm tại các tỉnhnghiên cứu năm2016 49

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Tình hình nuôi và xuất khẩu tôm từ năm 2011- 2015 8 Hình 2.2 Bản đồ các tỉnh trọng điểm nuôi tôm của cả nước 9 Hình 4.3 Đường cong ROC có giá tri AUC là 7,30 cho thấy rằng mô hình phân

tích đa biến là đủ mạnh và kết quả đáng tin cậy 50

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Luận văn này cung cấp thông tin khoa học về một số đặc điểm dịch tễ của số bệnh quan trọng trên tôm bao gồm: Bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND), bệnh đốm trắng (WSD) và bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và biểu mô (IHHND) Kết quả có thể giúp người nuôi tôm và các cơ quan chuyên ngành thú y xây dựng và áp dụng các giả phòng, chống dịch bệnh trên tôm nuôi phù hợp và hiệu quả hơn

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong giai đoạn từ tháng 8/2016-01/2017, tỷ lệ lưu hành AHPND rất cao, trung bình là 20,76%; trong đó 68,33% cơ sở sản xuất tôm giống dương và 84,68% cơ sở nuôi tôm thương phẩm dương tính với bệnh hoại tử gan tụy cấp; Tỷ lệ lưu hành WSD thấp nhất, trung bình là 1,70%; trong đó 0% cơ sở sản xuất tôm giống dương và 10,48%cơ sở nuôi tôm thương phẩm dương tính với bệnh đốm trắng; Tỷ lệ lưu hành IHHND cũng khá thấp, trung bình là 2,49%; trong đó 3,33% cơ sở sản xuất tôm giống dương và 6,45%cơ sở nuôi tôm thương phẩm dương tính với bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và biểu mô

Kết quả phân tích đa biến cho thấy có 6 yếu tố có liên quan đến nguy cơ phát sinh dịch bệnh, điển hình như: tỷ số chênh bị bệnh của mẫu thức ăn tươi sống là 10,46 lần so tôm không ăn thức ăn tươi sống; tỷ số chênh bị bệnh của tôm sú là 2,95 lần so với tôm thẻ.Trong số các yếu tố nguy cơ, các yếu tố ở cấp cơ sở đóng vai trò quan trọng nhất, chiếm 92% trong tổng số nguy cơ bị bệnh; trong khi đó, các yếu tố ở cấp độ tỉnh chỉ đóng vai trò là 8% trong nguy cơ xuất hiện bệnh ở ao giám sát Do đó, các giải pháp phòng, chống cần tập trung tại các cơ sở sản xuất, nuôi tôm và việc thực hiện của chủ cơ

sở đóng vai trò quan trọng, quyết định vào kết quả phòng, chống dịch bệnh

Trang 11

THESIS ABSTRACT

This thesis provides scientific evidence accounted for epidemiology of some major diseases in shrimpinclude Acute Hepatopancreatic Necrosis Disease (AHPND), White Spot Disease (WSD) and Infectious Hypodermal and Hematopoietic Necrosis Disease (IHHND) Findings of this thesis may help catfish producers and aquatic animal health authorities to develop and carry out more proper intervention measures

Results of the repeated cross-sectional study conducted from August 2016 to January 2017 indicated that the prevalence of AHPND was very high, on average of 20.76%; of which 68.33% shrimp hatcheries and 84.68%commercial shrimp farms were positive; In contrast, the prevalence of WSD was very low, on average of 1.70%; of which 0% shrimp hatcheries and 10.48%commercial shrimp farms were positive The prevalence of IHHND was very also relatively low, on average of 2.49%; of which 3.33% shrimp hatcheries and 6.45%commercial shrimp farms were positive

Multivariable analysis indicated that 6 risk factors were significantly associated with infection risk of the diseases, in particularly the odds of the disease infection at the farms with feeding their shrimps with live worms was10,46 times the odds of disease infection at the farms without feeding their shrimps with live worms; the odds of the disease infection of black tiger shrimps was 2,95 times the odds of the disease infection

of white leg shrimps.The proportion of variance at the farm level was 92% compared with that recorded for the district level was only 8%.These findings convince that the intervention measures should be strictly implemented at the farm level and cooperation

of farm owners plays the most important role in the success of prevention and control of diseases

Trang 12

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Tôm nước lợ là đối tượng nuôi chủ lực trong nuôi trồng thủy sản với những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, cũng như góp phần bảo đảm an sinh xã hội, đặc biệt là tại các địa phương ven biển.Kim ngạch xuất khẩu tôm nước lợ luôn dẫn đầu toàn ngành thủy sản với tỷ

lệ khoảng 45% tổng giá trị kim ngạch Trong 5 năm qua, tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt trung bình khoảng 7 tỷ USD, trong đó xuất khẩu tôm đạt khoảng 3 tỷ USD(cao nhất là 4,1 tỷ USD vào năm 2014)

Hiện nay, cả nước có 30 tỉnh phát triển nuôi tôm nước lợ, với hai đối tượng nuôi chính là tôm sú và tôm thẻ chân trắng Tính đến hết năm 2016, tổng diện tích thả nuôi tôm của cả nước là 694.645 ha; trong đó diện tích thả nuôi tôm

sú là 600.399 ha, diện tích thả nuôi tôm thẻ chân trắng là 94.246 ha Tổng sản lượng thu hoạch đạt 657.282 tấn; trong đó sản lượng tôm sú là 263.853 tấn, tôm thẻ chân trắng là 393.429 tấn Tôm và sản phẩm tôm của Việt Nam đã đượcxuất khẩu tôm sang 90 thị trường với tổng kim ngạch đạt 3.150.723 USD; trong đó, tôm chân trắng chiếm 62,10%, tôm sú chiếm gần 29,50%, tôm biển khác chiếm 8,30%(Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2017)

Tuy nhiên, ngành nuôi và xuất khẩu tôm có nguy cơ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi các loại dịch bệnh và tình hình ô nhiễm môi trường vùng nuôi Cụ thể, một số bệnh nguy hiểm trên tôm bao gồm: Bệnh đốm trắng (WSD), bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND), bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và cơ quan biểu mô (IHHN) đã và đang gây ra thiệt hại trầm trọng cho người sản xuất, nuôi tôm Theo báo cáo của các địa phương, hằng năm, diện tích nuôi tôm bị thiệt hại rất lớn, lên đến hàng nghìn ha Cụ thể, tổng diện tích nuôi tôm bị thiệt hại năm 2014

là 59.585 ha (trong đó thiệt hại do dịch bệnh là 31.514 ha); năm 2015 là 53.928

ha (do dịch bệnh là 16.278 ha); và năm 2016 là 53.523 ha (do dịch bệnh là 10.662 ha) Như vậy, mặc dù tổng diện tích thiệt hại do dịch bệnh có giảm, nhưng tổng diện tích thiệt hại tăng cao qua các năm(Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2017)

Trang 13

Hiện nay, công tác phòng chống dịch bệnh thủy sản đã và đang được thực hiện theo quy định của Luật thú y, Nghị định số 35/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ, Thông tư số 04/2016/TT-BNNPTNT ngày 10/5/2016 của Bộ NN&PTNT, các văn bản chỉ đạo của Bộ NN&PTNT và văn bản hướng dẫn kỹ thuật của Cục Thú y Tuy nhiên, những văn bản này chỉ đưa ra những quy định chung, phần lớn là những điều khoản về quản lý hành chính nhà nước đối với công tác phòng chống dịch bệnh thủy sản Công tác giám sát dịch bệnh đã bước đầu được chú trọng, nhưng chưa được triển khai thường xuyên ở nhiều địa phương Hậu quả là thiếu thông tin, kết quả giám sát để dự báo, cảnh báo dịch bệnh; thông tin về dịch tễ bệnh trên tôm nuôi còn rất hạn chế, dẫn đến việc xây dựng các phương pháp phòng chống còn chưa thực sự phù hợp, thiếu tính thực tiễn, hiệu quả khống chế dịch bệnh còn thấp; chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất, nhất

là sản xuất hàng hóa, chưa thúc đẩy tạo ra các sản phẩm an toàn dịch bệnh và xuất khẩu đôi khi còn gặp khó khăn do dịch bệnh

Vì vậy, chúng tôi “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ một số bệnh quan trọng trên tôm tại các tỉnh trọng điểm về sản xuất tôm giống, nuôi tôm thương phẩm năm 2016”để có cơ sở xây dựng và tổ chức phòng, chống dịch bệnh trên tôm kịp thời, hiệu quả nhằm thúc đẩy nuôi tôm an toàn dịch bệnh và đẩy mạnh xuất khẩu tôm, sản phẩm tôm từ Việt Nam sang các nước

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Xác định mức độ lưu hành và một số đặc điểm dịch tễ của bệnh đốm trắng, bệnh hoại tử gan tụy cấp tính, bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và biểu mô

Xác định các yếu tố nguy cơ có liên quan đến lưu hành các bệnh nhằm đề xuất các biện pháp phòng, chống dịch bệnh

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh đốm trắng, bệnh hoại tử gan tụy cấp tính, bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và biểu môtrên tôm nuôi tại các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Bến Tre, Sóc Trăng và Bạc Liêu năm 2016

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

Xác định được mức độ lưu hành và một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh đốm trắng, bệnh hoại tử gan tụy cấp tính, bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và biểu mô

Trang 14

Cung cấp bức tranh tổng thể về tình hình sản xuất giống, nuôi tôm thương phẩm, tình hình dịch bệnh, mức độ lưu hành bệnh đốm trắng, hoại tử gan tụy cấp tính, hoại tử cơ quan tạo máu và biểu mô

Xác định được các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến lưu hành bệnhđốm trắng, hoại tử gan tụy cấp tính, hoại tử cơ quan tạo máu và biểu mô nhằm đề xuất các biện pháp phòng, chống dịch bệnh trên tôm kịp thời, hiệu quả và khả thi tại các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Bến Tre, Sóc Trăng và Bạc Liêu

Giúp người nuôi trồng thủy sản đưa ra biện pháp phòng bệnh hiệu quả; đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng và đáp ứng yêu cầu của các thị trường xuất khẩu

Trang 15

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT TÔM GIỐNG VÀ NUÔI TÔM THƯƠNG PHẨM

2.1.1 Tình hình sản xuất và nhập khẩu tôm giống

2.1.1.1 Tình hình sản xuất tôm giống trong nước

Theo thống kê của Tổng cục Thủy sản, tính hết tháng 5/2016, cả nước có 1.750 cơ sở sản xuất giống tôm nước lợ, trong đó 1.240 cơ sở sản xuất giống tôm

sú và 510 cơ sở sản xuất giống tôm thẻ chân trắng Số lượng cơ sở và sản lượng

Bảng 2.1 Số lượng và sản lượng tôm nước lợ qua các năm 2013 - 2016

cơ sở sản xuất tôm sú, 73 cơ sở sản xuất tôm thẻ chân trắng; Ninh Thuận có 200

cơ sở sản xuất tôm sú, 250 cơ sở sản xuất tôm thẻ chân trắng; Bình Thuận có 25

cơ sở sản xuất tôm sú, 131 cơ sở sản xuất tôm thẻ chân trắng Hàng năm các cơ

sở tại khu vực này cung cấp khoảng 50% số lượng giống tôm nước lợ cho nhu cầu thả nuôi của cả nước, số còn lại được sản xuất các tỉnh ĐBSCL (Bạc Liêu, Kiên Giang và Cà Mau) và các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung bộ (Quảng Ninh, Nghệ An và Hà Tĩnh) Tuy nhiên, phần lớn cơ sở tại các tỉnh phía Bắc là chi nhánh của các doanh nghiệp sản xuất giống ở các tỉnh Nam Trung bộ vận chuyển Nauplius hoặc Postlarvae cỡ nhỏ để ương thành tôm giống cung cấp cho nhu cầu thả nuôi của người dân ngay tại khu vực đó

Trang 16

Các tỉnh sản xuất tôm giống trọng điểm trước đây là Bình Thuận, Ninh Thuận Tuy nhiên, một vài năm gần đây đang có sự dịch chuyển vào các tỉnh phía Nam như Cà Mau, Bạc Liêu và Kiên Giang Các cơ sở sản xuất giống nhỏ

lẻ ngày càng bị thu hẹp và có xu hướng tập trung thành các tổ hợp có quy mô lớn hơn

2.1.1.2 Tình hình sản xuất tôm giống tại hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận

Kết quả tổng hợp, phân tích của chúng tôi cho thấy, Ninh Thuận và Bình Thuận là hai tỉnh sản xuất tôm giống nhiều nhất cả nước Trung bình các tỉnh sản xuất 25tỷ con giống, chiếm 50% số tôm giống sản xuất trong nước và đáp ứng trên 50% nhu cầu tôm giống của cả nước, cụ thể như sau:

Trong sản xuất tôm giống, tập trung vẫn là vùng sản xuất và kiểm định giống thuỷ sản tập trung tại xã An Hải thuộc huyện Ninh Phước Theo thống

kê, tại đây đang có 103 cơ sở, tập đoàn, công ty hoạt động, trong đó có 47 công ty lớn trong và ngoài nước Một số tập đoàn, công ty trong lĩnh vực thuỷ sản như Minh Phú, Globert & Imei Việt Nam, Uni-President Việt Nam, CP Việt Nam đã sớm có mặt hoạt động từ đầu, đến nay ngoài việc vẫn tiếp tục duy trì hoạt động,các doanh nghiệp này còn thuê thêm đất mở rộng hạ tầng nhà xưởng sản xuất

Ngoài ra, còn có khu vực sản xuất giống ở huyện Ninh Hải Tính đến hết năm 2016, tổng cộng vùng này có 135 cơ sở hoạt động và sản xuất được trên 05

tỷ post tôm thẻ chân trắng, tăng 392 triệu so với cùng kỳ năm 2015 Với diện tích

158 ha, khu vực sản xuất này đang được tỉnh ta đề xuất Bộ NN&PTNT đầu tư

Trang 17

chỉnh trang, xây dựng hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng, cùng góp phần vào xây dựng thương hiệu tôm giống chất lượng cao của tỉnh

* Tỉnh Bình Thuận:

Tính đến hết năm 2016, Bình Thuận có hơn 131 cơ sở sản xuất giống thủy sản với hơn 680 trại giống, trong đó phần lớn là các trại sản xuất tôm giống tập trung trên địa bàn huyện Tuy Phong

Toàn tỉnh đã sản xuất được trên 12,61 tỷ con tôm post, trong đó post thẻ chân trắng chiếm 11,98 tỷ con Với cơ sở vật chất và kỹ thuật của các trại giống như hiện nay, Bình Thuận có khả năng sản xuất tôm giống đạt sản lượng đến hơn 40 tỷ post/năm nhằm kịp thời đáp ứng nhu cầu nuôi tôm trong nước

2.1.1.3 Tình hình nhập khẩu tôm giống

Tính đến ngày 10/9/2016, Tổng cục Thủy sản đã tiến hành kiểm tra 228 lô hàng nhập khẩu tôm thẻ chân trắng bố mẹ của 115 cơ sở nhập khẩu trên cả nước

và kết quả kiểm tra đã cho thấy 100% lô hàng đạt yêu cầu về chất lượng đề ra Trong đó, tổng số lượng tôm thẻ chân trắng bố mẹ nhập khẩu đạt 138.239 con (trong đó: tôm đực 69.122 con, tôm cái 69.117 con), kích cỡ tôm trung bình đối với tôm đực nhập khẩu dao động khoảng 38-73g/con, tôm cái 40-79 g/con Nguồn tôm giống được các cơ sở nhập về chủ yếu từ các nước như: Mỹ, Sin-ga-

po, Thái Lan, Mê-xi-cô…Việc kiểm tra được thực hiện theo Thông tư số 26/2013/TT-BNNPTNT ngày 22/5/2013 của Bộ NN&PTNT về việc quản lý giống thủy sản Hàng năm, Tổng cục Thủy sản giao cho các đơn vị quản lý tiến hành kiểm tra và kịp thời phát hiện xử lý các lô hàng tôm bố mẹ nhập khẩu không đạt yêu cầu

Tính đến ngày 15/4/2017, Tổng cục Thủy sản đã ủy quyền cho các Chi cục Thủy sản địa phương tiến hành lấy mẫu kiểm tra chất lượng 127 lô hàng tôm thẻ chân trắng nhập khẩu của 101 cơ sở nhập khẩu tôm thẻ chân trắng bố

mẹ trên cả nước Đến nay,đã có kết quả kiểm tra 115/127 lô hàng của 86 cơ sở nhập khẩu đạt yêu cầu về chất lượng đề ra (12 lô chưa có kết quả kiểm tra) Tổng số tôm thẻ chân trắng bố mẹ nhập khẩu đã được kiểm tra của 86 cơ sở nói trên là 60.773 con (trong đó: tôm đực 30.285 con, tôm cái 30.488 con đạt chất lượng), kích cỡ tôm trung bình đối với tôm đực dao động khoảng 40-67,7g/con,

Trang 18

tôm cái 40-79,1 g/con Tất cả các lô hàng được kiểm tra lần đều được nhập khẩu từ Mỹ, Sin-ga-po, Thái Lan

2.1.2 Tình hình nuôi tôm

2.1.2.1 Diện tích nuôi và sản lượng tôm

Năm 2013, theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản, cả nước khoảng 29 tỉnh/thành nuôi tôm nước lợ, với tổng diện tích thả nuôi 652.612 ha, sản lượng đạt 475.854 tấn Trong đó, khu vực ĐBSCL chiếm 92,5% diện tích và 79,8 % sản lượng của cả nước Ngoài 2 vụ tôm chính, một số tỉnh ĐBSCL còn tiếp tục nuôi tôm vụ 3 (tôm trái vụ) để tận dụng cơ hội giá cao Có 12/29 tỉnh nuôi tôm trái vụ với diện tích đạt 11.959 ha, trong đó tôm sú là 5.614,3 ha (chiếm khoảng 10% diện tích) Sản lượng nuôi tôm trái vụ ước đạt 45.700 tấn Diện tích nuôi tôm trái

vụ tại các địa phương ngày càng tăng, chủ yếu là tôm chân trắng với nhiều hình thức nuôi khác nhau

Năm 2009 - 2013, tốc độ tăng trưởng bình quân 0,9%/năm Diện tích nuôi tôm sú vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng diện tích nuôi với 558.795 ha, chiếm 92,6% tổng diện tích nuôi tôm nước lợ của vùng ĐBSCL và chiếm 94,9% tổng điện tích nuôi tôm sú của cả nước Tuy nhiên, diện tích nuôi tôm sú có xu hướng giảm dần trong giai đoạn 2009 - 2013 với tốc độ giảm bình quân 0,84%/năm

Nuôi tôm chân trắng ở nước ta mới bắt đầu từ năm 2008 và phát triển nhanh trong những năm gần đây Diện tích nuôi năm 2009 mới đạt 3.398 ha, chiếm tỷ lệ nhỏ khoảng 0,58% tổng diện tích nuôi tôm nước lợ của vùng, nhưng đến năm 2013 diện tích nuôi tôm chân trắng đã tăng lên 44.601 ha chiếm 7,4% diện tích nuôi tôm nước lợ của vùng

Trong giai đoạn 2009-2013, diện tích nuôi tôm nước lợ vùng ĐBSCL tăng bình quân 0,9%/năm và sản lượng nuôi lại tăng bình quân 8,7%/năm (tăng từ 308.855 tấn lên 431.569 tấn), điều này cho thấy mức độ áp dụng khoa học công nghệ trong nuôi tôm nước lợ

Tính đến thời điểm 31/10/2014, cả nước đã thả nuôi 675.830 ha (đạt 100,9

% kế hoạch và bằng 103,6% so với cùng kỳ 2013), trong đó diện tích nuôi tôm sú

là 582.514 ha, tôm chân trắng là 93.316 ha (đạt 133,3 % kế hoạch năm 2014, bằng 146,4 cùng kỳ năm 2013) Sản lượng thu hoạch 568.668 tấn (đạt 103,4%

Trang 20

Hình 2.2 Bản đồ các tỉnh trọng điểm nuôi tôm của cả nước

Trang 21

2.1.2.2 Tình hình nuôi tôm thương phẩm giai đoạn 2014- 2016 tại các tỉnh Sóc Trăng, Bến Tre, Bạc Liêu

Kết quả tổng hợp, phân tích của chúng tôi cho thấy, Bến Tre, Sóc Trăng và Bạc Liêu là các tỉnh trọng điểm nhất về nuôi tôm thương phẩm Tổng diện tích nuôi tôm của 3 tỉnh hiện nay là 215.358 ha, chiếm 93% tổng diện tích nuôi của cả nước; tổng sản lượng thu hoạch khoảng 165.000 tấn, chiếm hơn 80% tổng sản lượng tôm của cả nước, cụ thể như sau:

* Tỉnh Sóc Trăng:

Sóc Trăng là tỉnh có thế mạnh dẫn đầu so với các địa phương khác trong phạm vi cả nước về diện tích tôm nuôi thâm canh, bán thâm canh xấp xỉ 42.000ha, chiếm 83% diện tích thả nuôi Năm 2015, toàn tỉnh thả nuôi hơn 50.500ha (đạt 112,4% kế hoạch, bằng 95,3% so với cùng kỳ 2014), sản lượng đạt 90.620 tấn, đạt 100,7% kế hoạch, bằng 110,2% so với năm 2014 Bên cạnh đó, diện tích nuôi tôm sú tăng 1,2 lần so với năm 2014, diện tích nuôi tôm thẻ giảm 13% so với năm 2014 Sản lượng tôm thu hoạch đạt và vượt 1,1 lần so năm 2014

Tính đến năm 2016, toàn tỉnh đã thả nuôi 54.797,2 ha tương ứng với 19.252,2 triệu giống, đạt 122% kế hoạch thả nuôi và cao hơn 7,9% so với cùng

kỳ năm 2015 Trong đó, tôm thẻ chân trắng được thả nuôi 35.907,9 ha chiếm 65,5% diện tích nuôi; diện tích thâm canh và bán thâm canh đạt 48.029,1 ha

* Tỉnh Bến Tre:

Năm 2014, toàn tỉnh Bến Tre đã thả nuôi trên diện tích khoảng 47.000 ha, đạt 106,1 % so với kế hoạch năm 2014 Trong đó chủ yếu là nuôi tôm biển với diện tích 36 nghìn ha, đạt 112,4% so với kế hoạch đã ra Tổng sản lượng thu hoạch toàn tỉnh ước đạt 245,3 nghìn tấn, đạt 100,12 % kế hoạch, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm 2013 Trong đó sản lượng tôm biển đạt 54,3 nghìn tấn, đạt 101,9% kế hoạch năm tăng 3,8% so với cùng kỳ năm 2013

Năm 2015, tổng diện tích nuôi thủy sản là 46.800 ha Trong đó, nuôi tôm biển thâm canh, bán thâm canh 6.500 ha (tôm chân trắng 4.500 ha; tôm sú 2.000 ha) Tổng sản lượng thủy sản nuôi 251,5 ngàn tấn, trong đó sản lượng tôm biển 56.000 tấn; kiểm dịch giống tôm biển 4.900 triệu con

* Tỉnh Bạc Liêu:

Trang 22

Nghề nuôi tôm tại Bạc Liêu phát triển mạnh vào những năm 2000 Hình thức nuôi ban đầu chủ yếu quảng canh truyền thống Bạc Liêu có diện tích đất sản xuất nông nghiệp khoảng 220.000ha (chiếm 90% diện tích đất toàn tỉnh) Diện tích đất nuôi tôm chiếm ưu thế với hơn 50% (khoảng 127.000ha) Trong đó, nuôi quảng canh vẫn chiếm diện tích lớn nhất với gần 78.000ha Tập trung tại các huyện Đông Hải (gần 35.000ha); Hòa Bình (gần 8.000ha); Giá Rai (hơn 19.500ha)

Tổng diện tích thực hiện lúa tôm năm 2015 của tỉnh hơn 26.400 ha Sản lượng đạt 7.244 tấn, năng suất nuôi đạt trung bình 0,27 tấn/ha.Kế hoạch năm 2016, tỉnh thực hiện diện tích lúa tôm hơn 29.400 ha Sản lượng 9.100 tấn, năng suất trung bình tăng lên 0,31 tấn/ha.Hình thức nuôi tôm trên đất lúa mang lại lợi nhuận khoảng 50 - 60 triệu đồng/ha/năm, vượt trội hẳn so với cây lúa truyền thống

Trong tháng 5 đầu năm 2016, diện tích tôm nuôi thâm canh, bán thâm canh thả giống 1.331 ha (trong đó tôm sú 632 ha, tôm thẻ chân trắng 699 ha) giảm 147 ha so với tháng trước và giảm 07 ha so với cùng kỳ năm 2015, nâng diện tích thả giống tôm thâm canh, bán thâm canh lên 5.402 ha (trong đó tôm sú 2.445 ha, tôm thẻ chân trắng 2.957 ha), tăng 251 ha so cùng kỳ năm 2015

2.2 MỘT SỐ BỆNH QUAN TRỌNG TRÊN TÔM

Có nhiều loại dịch bệnh hiện đạng xảy ra trên tôm nuôi nước lợ Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung vào một số bệnh chính, gây thiệt hại lớn trên tôm nuôi nước lợ tại Việt Nam

Trang 23

bị bất hoạt ở nhiệt độ 50oC trong thời gian khoảng 120 phút và 60oC trong thời gian khoảng một phút.

Mùa xuất hiện bệnh: Bệnh xuất hiện quanh năm, nhưng phát triển mạnh nhất vào thời điểm giao mùa (cuối mùa xuân - đầu hè và cuối mùa thu - đầu đông, mùa mưa - mùa khô), môi trường không thuận lợi cho tôm, sức đề kháng giảm

Phương thức truyền lây:

Bệnh truyền theo chiều ngang: Từ tôm bệnh, vật chủ trung gian, thức ăn tươi sống nhiễm vi rút, sang tôm khỏe mạnh

Bệnh truyền theo chiều dọc: Từ tôm bố mẹ sang tôm con

2.2.1.3 Dấu hiệu bệnh lý

Tôm bị bệnh đốm trắng thường trở nên lờ đờ, bỏ ăn, bơi chậm, thân tôm chuyển sang hồng hoặc đỏ (Ottaet al., 2001), giảm ăn mạnh Trong một số trường hợp không tìm thấy đỏ thân ở bệnh đốm trắng Trên tôm bệnh xuất hiện nhiều đốm trắng ở mặt trong lớp vỏ kitin, đặc biệt là mặt trong lớp vỏ giáp đầu ngực và đốt bụng thứ 6, đôi khi đi kèm với đỏ thân

Các đốm trắng có đường kính từ 0,5- 2 mm, phần vỏ giáp đầu ngực có thể tách ra dễ dàng Bệnh đốm trắng trở nên trầm trọng hơn khi có mặt của yếu tố gây sốc Ngoài các dấu hiệu đặc trưng trên tôm nhiễm bệnh đốm trắng còn thể hiện một số dấu hiệu không đặc trưng khác như tôm bỏ ăn, kém hoạt động, có khuynh hướng tập trung gần bờ sau đó chết chìm xuống đáy ao Một số trường hợp còn quan sát thấy gan tụy trương lên, có màu trắng hoặc hơi vàng (Wanget al., 1998)

Trang 24

2.2.1.4 Phương pháp chẩn đoán

Việc làm đầu tiên khi phát hiện tôm bị bệnh đốm trắng là nhanh chóng xác định nguyên nhân để xử lý kịp thời Phương pháp xét nghiệm PCR đối với WSSV cho kết quả nhanh chóng và chính xác, vì vậy người nuôi nên tiến hành thu mẫu xét nghiệm ngay khi phát hiện tôm có dấu hiệu bị bệnh đốm trắng Dựa trên kết quả xét nghiệm và giai đoạn tôm bị bệnh mà áp dụng các biện pháp xử lý theo hướng dẫn của Bộ NN & PTNT tại Thông tư số 04/2016/TT-BNNPTNT là tiến hành thu hoạch ngay hay nuôi tiếp cho phù hợp, hạn chế tổn thất

2.2.2 Bệnh hoại tử gan tụy cấp tính

Loài cảm nhiễm: Tôm sú (P.monodon), tôm thẻ chân trắng (L vannamei) Hiện chưa có nghiên cứu khẳng định các loài động vật thủy sản khác có mắc bệnh AHPND hay không

Mùa vụ xuất hiện bệnh: Tại Việt Nam, bệnh xảy ra ở hầu hết các tháng trong năm, nhưng tập trung nhiều từ tháng 3 - 8 hàng năm (trùng với thời điểm chính của vụ thả nuôi tôm ở nhiều địa phương)

Trang 25

Vùng xuất hiện bệnh: Bệnh xuất hiện ở hầu hết các vùng trọng điểm về nuôi tôm nước lợ trên phạm vi cả nước

Phương thức truyền lây: Bệnh có thể lây truyền từ tôm bệnh sang tôm khỏe; mầm bệnh tồn tại trong môi trường có thể gây bệnh trực tiếp cho tôm khỏe Hiện nay chưa rõ cơ chế lây truyền từ tôm bố mẹ sang tôm con (truyền dọc) hoặc các vật chủ trung gian khác Bệnh có tốc độ lây lan nhanh, tỷ lệ chết có thể lên đến 100% sau 3 - 5 ngày phát hiện bệnh

2.2.2.3 Dấu hiệu bệnh lý

Tôm chậm lớn, bỏ ăn, tấp mé và chết ở đáy ao/đầm nuôi Gan tụy tôm bệnh mềm, sưng to hoặc teo lại và dai Tôm có hiện tượng mềm vỏ, màu sắc cơ thể có thể biến đổi

* Bệnh tích: Tổ chức gan tụy thoái hóa cấp tính, thiếu hoạt động phân bào của tế bào E (Embyonalzellen) có nguồn gốc mô phôi Các tế bào trung tâm: tế bào xơ F (Fibrillenzellen), tế bào dự trữ R (Restzellen), tế bào tiết B (Basenzellen) ít hoặc không có mặt Tế bào gan tụy có nhân lớn hơn bình thường,

có hiện tượng bong tróc Giai đoạn cuối có hiện tượng bội nhiễm vi khuẩn

* Kết quả nghiên cứu nổi bật về bệnh AHPND:

Nhóm vi khuẩn Vibrio có liên quan mật thiết đến AHPND, đặc biệt là V parahaemolyticus Tôm trong trại giống có hiện tượng nhiễm Vibrio và có trường hợp phát hiện tôm bị AHPND từ trong trại giống Một số yếu tố môi trường (nhiệt độ cao, pH cao, độ mặn cao và H2S) là yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh.Tảo độc và thuốc bảo vệ thực vật không liên quan đến AHPND

2.2.2.4 Phương pháp chẩn đoán

Dựa theo bệnh lý

Theo phương pháp mô bệnh học

Phương pháp sinh học phân tử

2.2.3 Bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và biểu mô

2.2.3.1 Tác nhân gây bệnh

Bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và biểu mô do Infectious Hypodermal and Hematopoietic Necrosis Virus (IHHNV) gây ra thuộc:

Trang 26

Họ Parvoviridae

Giống Brevidensovirus

IHHVN là virus gây bệnh trên tôm có hệ gen nhỏ nhất, kích thước hệ gen

là 4,1kb Vật chất di truyền của virus là DNA sợi đơn, không có màng bao

2.2.3.2 Đặc điểm dịch tễ

Bệnh IHHN xuất hiện lần đầu tiên năm 1981 ở Hawaii và nhanh chóng lan sang các nước châu Mỹ và châu Á Mặc dù bệnh không gây chết nghiêm trọng trên tôm nhưng làm giảm khả năng tăng trưởng của tôm lên đến 30% và gây ra hội chứng còi cọc dị hình.IHHN làm giảm sản lượng và gây thiệt hại về kinh tế

vì khi thu hoạch tôm có kích cỡ nhỏ, không đồng đều và dị hình

IHHN được ghi nhận ở tất cả các giai đoạn phát triển của tôm nuôi Virus này có thể tấn công ở các cơ quan như mang, biểu mô, mô liên kết, cơ quan tạo máu, cơ quan bạch huyết, tuyến râu…Mầm bệnh lây truyền theo cả chiều dọc và chiều ngang Lây lan theo chiều ngang khi tôm khỏe ăn thịt tôm nhiễm IHHNV hoặc lây truyền qua nguồn nước Khả năng lây lan theo chiều dọc từ bố mẹ sang con thông qua trứng bị nhiễm IHHNV

2.2.3.3 Dấu hiệu bệnh lý

Theo Bell and Lightner (1984) thì biểu hiện chung khi 3 loài tôm P.stylirostris, P vannamei, P.monodon nhiễm IHHNV là hội chứng dị hình, còi cọc Biểu hiện riêng của từng loài như sau:

Khi tôm P.stylirostris nhiễm IHHNV dạng cấp tính, tôm nổi lên mặt nước, xoay tròn rồi chìm xuống đáy, bỏ ăn, hôn mê, xuất hiện chấm lốm đốm ở lớp vỏ ngoài, cơ đục, tỷ lệ chết cao Biểu hiện về mặt mô học là sự hoại tử, viêm sưng lớp biểu mô dạ dày, ruột, mang, cơ, hệ thần kinh, mô liên kết và mô tạo máu, đồng thời xuất hiện thể vùi Cowdry loại A trong nhân của những tế bào trên (Lightner et al., 1983)

Đối với tôm P.vannamei thì IHHNV không gây tỷ lệ chết cao như P.stylirostris nhưng tôm chậm lớn, dị hình, còi cọc (Kalagayanet al., 1991) Tôm giống chậm phát triển, dị hình, râu quăn queo, vỏ kitin xù xì hoặc biến dạng Tuy vậy, khi tôm mới nhiễm bệnh thường không có biểu hiện rõ ràng(Bell and Lightner, 1984) Phân tích mô bệnh học cho thấy có sự xuất hiện thể vùi Cowdry

Trang 27

loại A ở tế bào thần kinh, tuyến râu, lớp biểu bì dưới vỏ, mô tạo máu nhưng không tìm thấy ở tổ chức lympho cũng như cơ tim (Kalagayan et al., 1991)

Tôm sú P.monodon khi nhiễm IHHNV lúc sắp chết thường chuyển sang màu xanh, cơ phần bụng mờ đục (Lightner et al., 1983) P monodon ở Philippin khi nhiễm bệnh chậm phát triển, còi cọc, riêng tôm đực thì chất lượng tinh dịch

bị suy giảm(Primavera and Quinitio, 2000).Ở Thái Lan chưa có đánh giá vềmức

độ ảnh hưởng của IHHNV trên tôm sú (Chayaburakul et al., 2005)

2.2.3.4 Phương pháp chẩn đoán

Dựa vào dấu hiệu bệnh lý

Xét nghiệm PCR

Quan sát tế bào tuyến râu, mang, biểu mô dưới vỏcủa tôm trên tiêu bản cắt

mô nhuộm màu Hematoxylin &Eosin

2.3 TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH TRÊN TÔM NUÔI NƯỚC LỢ Ở VIỆT NAM

2.3.1 Bệnh đốm trắng

Năm 2012, dịch bệnh đốm trắng xuất hiện tại 120 xã thuộc 54 huyện của

19 tỉnh, thành làm tổng diện tích bị bệnh là 8.734 ha

Năm 2013, dịch bệnh đốm trắng xuất hiện tại 282 xã thuộc 95 huyện của

28 tỉnh, thành làm tổng diện tích bị bệnh là 12.351 ha So với số liệu cùng kỳ năm 2012 cho thấy dịch bệnh đốm trắng tăng 3.617 ha, tương đương khoảng 1,4 lần

Trong 9 tháng đầu năm 2014, dịch bệnh đốm trắng xuất hiện tại 233 xã thuộc 65 huyện của 21 tỉnh, thành làm tổng diện tích bị bệnh là 18.321 ha So với

cả năm 2013, phạm vi dịch đã xuất hiện gần tương đương, nhưng diện tích bệnh lại cao hơn 5.970 ha, gấp khoảng 1,5 lần

Như vậy có thể thấy dịch bệnh đốm trắng có chiều hướng gia tăng mạnh qua các năm

Trong năm 2015, bệnh đốm trắng xảy ra ở 242 xã, 78 huyện, thị xã thuộc

23 tỉnh, thành phố Tổng diện tích bị bệnh là 5.093,06 ha, trong đó diện tích tôm

sú bị bệnh là 3.324,20 ha và tôm thẻ chân trắng là 1.768,86 ha Tôm bệnh có độ tuổi từ 6 - 160 ngày sau thả Diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh bị bệnh

Trang 28

là 3.578,28 ha còn lại là quảng canh, quảng canh cải tiến và tôm lúa Tỉnh Cà Mau có diện tích bị bệnh đốm trắng cao nhất, sau đó là tỉnh Sóc Trăng

Trong năm 2016, diện tích tôm sú bị bệnh là 1.861,43 ha; tôm thẻ bị bệnh

là 1.782,48 ha Tôm bệnh có độ tuổi từ 10-120 ngày sau thả Diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh bị bệnh là 2.636,2 ha; diện tích nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến bị bệnh là 856,82 ha; còn lại là các hình thức nuôi tôm khác bị bệnh

là 150,89 ha Tỉnh Trà Vinh có diện tích bị bệnh đốm trắng lớn nhất (chiếm 21,06% tổng diện tích bị bệnh đốm trắng của cả nước, chủ yếu là diện tích nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến), sau đó đến tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau và các địa phương khác So với cùng kỳ năm 2015, bệnh tăng về phạm vi 18 xã (tương đương 7,14%) nhưng diện tích bị bệnh giảm 31,73%

Một số nhận xét về dịch bệnh đốm trắng tại Việt Nam:

Bệnh đốm trắng xuất hiện ở hầu hết các tháng trong năm, nhưng tập trung

từ tháng 4 đến tháng 9 Nguyên nhân là do khoảng thời gian này là mùa nuôi tôm chính vụ

Bệnh xuất hiện ở hầu hết ở các vùng nuôi tôm, trong đó các vùng nuôi tôm trọng điểm tại vùng ĐBSCL bị thiệt hại nặng nhất

Bệnh xuất hiện trên cả hai đối tượng nuôi chính là tôm chân trắng và tôm sú

Trong các năm gần đây diện tích tôm bệnh đốm trắng tăng do một số nguyên nhân sau:

Việc diệt giáp xác và an toàn sinh học chưa được triệt để

Người nuôi chú trọng đến phòng bệnh gan tụy nhiều hơn, dùng nhiều chất diệt khuẩn để diệt khuẩn định kỳ cho nước nuôi, điều này dễ làm cho tôm sốc và bùng phát bệnh, dùng nhiều kháng sinh cho tôm để phòng bệnh hoại tử gan tụy cấp cũng làm giảm sức đề kháng của tôm với bệnh

Mật độ vi khuẩn Vibrio cao trong môi trường ao nuôi có thể liên quan đến hiện tượng đồng cảm nhiễm bệnh đốm trắng

Điều kiện thời tiết cho nhiều biến động, ý thức người nuôi về xử lý bệnh chưa tốt: nước ao bệnh đốm trắng có thể vẫn được thải ra ngoài không qua xử lý triệt để

Trang 29

Bảng 2.3 Tổng hợp dịch bệnh đốm trắng trên tôm trong 3 năm 2014-2016

2.3.2 Bệnh hoại tử gan tụy cấp tính

Bệnh HTGT gây thiệt hại nặng trên cả tôm sú và tôm thẻ chân trắng Tôm

có thể bị nhiễm bệnh trong suốt chu kỳ nuôi, tập trung nhiều ở giai đoạn 20 - 45 ngày sau khi thả nuôi

Năm 2012, dịch bệnh HTGT cấp tính xuất hiện tại 192 xã thuộc 52 huyện của 16 tỉnh, thành làm tổng diện tích bị bệnh là 28.005 ha Năm 2013, dịch bệnh HTGT xuất hiện tại 199 xã thuộc 59 huyện của 19 tỉnh, thành làm tổng diện tích

bị bệnh là 5.875 ha So với năm 2012, dịch bệnh HTGT tăng không đáng kể về phạm vi có dịch, nhưng tổng diện tích chỉ bằng khoảng 21%

Trong 9 tháng đầu năm 2014, dịch bệnh HTGT xuất hiện tại 224 xã thuộc

59 huyện của 22 tỉnh, thành với tổng diện tích bị bệnh là 5.119 ha So với cả năm

2013, dịch đã xuất hiện ở phạm vi nhiều hơn, nhưng diện tích bệnh lại chỉ bằng 87%, khoảng 5.119 ha So với năm 2012, phạm vi có dịch bệnh xuất hiện nhiều hơn, nhưng tổng diện tích bị bệnh chỉ bằng khoảng 18% Như vậy, diện tích bị bệnh HTGT có chiều hướng giảm sau 3 năm

Năm 2015, bệnh HTGT xảy ra tại 29 xã, 76 huyện, thị xã thuộc 22 tỉnh, thành phố Tổng diện tích thiệt hại là 9.103,53 ha So sánh cùng kỳ năm 2014 thì

số diện tích tôm bệnh hoại tử gan tụy cấp tính tăng

Trong năm 2016, bệnh xảy ra tại 299 xã của 82 huyện, thị xã thuộc 25 tỉnh, gồm: Quảng Ninh, TP Hải Phòng, Nam Định, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, TP Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Kiên Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau

Trang 30

Tổng diện tích bị bệnh là 6.032,68 ha, chiếm 0,9% diện tích nuôi tôm, trong đódiện tích nuôi tôm sú bị bệnh là 2.456,44 ha; tôm thẻ chân trắng bị bệnh

là 3.576,24 ha Tôm bệnh có độ tuổi từ 2-127 ngày sau thả Diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh bị bệnh là 5.087,55 ha; nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến bị bệnh là 779,59 ha; còn lại nuôi theo các hình thức khác là 165,54 ha Tỉnh Bạc Liêu có diện tích bị bệnh hoại tử gan tụy cấp lớn nhất (chiếm 21,81% tổng diện tích bị bệnh hoại tử gan tụy cấp của cả nước), sau đó đến Sóc Trăng, Cà Mau và các địa phương khác.So năm 2015, bệnh tăng về phạm vi 02 xã (tương đương 0,67%) nhưng diện tích bị bệnh giảm 35,96%

Bảng 2.4 Tổng hợp dịch bệnh hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm

trong 3 năm 2014-2016

2.3.3 Bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và biểu mô

Năm 2014: Diện tích tôm nuôi mắc bệnh là 1.211 ha Bệnh IHHN xảy ra tại các tỉnh Sóc Trăng (1.200,87 ha), Bình Thuận (0,2 ha), TT Huế (0,8 ha), Bến Tre (6,42 ha) và Tp Hải Phòng (3 ha)

Năm 2015: Diện tích tôm nuôi mắc bệnh là 41,67 ha Bệnh xảy ra tại các tỉnh Bến Tre (37,82 ha), Sóc Trăng (1,35 ha), TT Huế (1 ha), TP Hải Phòng (0,8 ha) và TP Hồ Chí Minh (0,7 ha)

Năm 2016: Diện tích tôm nuôi mắc bệnh là trên 27,41 ha tôm thương phẩm nuôi thâm canh và bán thâm canh tại Bà Rịa-Vũng Tàu (1,95 ha trong đó

có 0,3 ha giống), Tp Hồ Chí Minh (0,45 ha), Bến Tre (9,81 ha), Ninh Thuận (0,8 ha), Sóc Trăng (14 ha) và Cà Mau (0,4 ha) bị bệnh

Trang 31

Bảng 2.5 Tổng hợp dịch bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và biểu mô trên tôm

2.4.1 Nghiên cứu trong nước

2.4.1.1.Bệnh đốm trắng

Theo Bùi Quang Tề (2003), từ năm 1993-1994 đến nay bệnh đốm trắng trên tôm thường xuất hiện ở các vùng nuôi tôm ven biển từ nuôi quảng canh đến nuôi thâm canh, bệnh đã gây thiệt hại lớn cho nghề nuôi tôm

Ở các tỉnh ven biển phía Nam từ năm 1993-1994, hiện tượng tôm chết hàng loạt trên tôm sú nuôi được xác định trên ba loại bệnh: bệnh MBV(Monodon Baculovirus), bệnh đốm trắng và bệnh đầu vàng (Tạp chí Thông tin KHCN và Kinh tế Thủy sản số 4, 2004)

Từ năm 1996 đến năm 2003, tôm nuôi thương phẩm ở Khánh Hòa và các địa phương khác trong cả nước chịu tác hại rất lớn của bệnh đốm trắng Bệnh này xảy ra hàng năm, trên diện rộng, có những vụ nuôi 80% diện tích nuôi tôm ở một địa phương bị thất thu hay thu hoạch sớm ngoài dự kiến (Bộ Thủy sản, 2003)

Bùi Quang Tề và cộng sự (2001) đã điều tra 483 hộ nuôi tôm sú thuộc 2 huyện của 8 tỉnh ven biển phía Bắc (Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh) Kết quả cho thấy, có 166 hộ (34,3%) có tôm nuôi và tôm cua tự nhiên đã mang mầm bệnh đốm trắng và có

169 hộ (34,99%) có tôm chết vì bệnh đốm trắng Năm 2003,Bùi Quang Tề và cộng sự phân tích bệnh WSSV bằng kỹ thuật PCR của 145 mẫu tôm sú và tôm chân trắng nuôi ở các tỉnh ven biển miền Bắc (Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Đinh, Thanh Hóa, Hà Tĩnh) và tôm giống (postlarvae) đưa từ Quảng Nam, Đà

Trang 32

Nẵng chuyển ra Bắc Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm bệnh đốm trắng của tôm giống đưa từ Quảng Nam, Đà Nẵng chuyển ra là 23,08%, tôm sú nuôi thương phẩm ở các tỉnh phía Bắc là 26,92%; tôm chân trắng là 13,33% (Tạp chí Thông tin KHCN và Kinh tế Thủy sản số 4, 2004)

Theo báo cáo kết quả nuôi trồng thủy sản năm 2003, cả nước có 546.757

ha nuôi tôm nước lợ thương phẩm, trong đó diện tích có tôm nuôi bị bệnh và chết

là 30.083 ha Các tỉnh, thành ven biển từ Đà Nẵng đến Kiên Giang có tới 29.200

ha nuôi tôm bị chết nhiều, chiếm 97,06% diện tích có tôm bị chết trong cả nước Bệnh xảy ra với tôm chủ yếu là bệnh đốm trắng, bệnh MBV, bệnh do vi khuẩn Vibrio Kết quả kiểm tra bệnh ở tôm giống nhập về Hải Phòng và Quảng Ninh trong năm 2003 do Trạm nghiên cứu NTTS nước lợ thực hiện cho thấy tỷ lệ nhiễm virus gây bệnh đốm trắng từ 25 - 46,6%, trung bình 38,9% Theo số liệu từ Trung tâm Quan trắc môi trường và cảnh báo dịch bệnh khu vực phía Bắc (Viện nghiên cứu NTTS I), Thanh Hóa có hơn 40% diện tích nuôi tôm bị bệnh, trong

đó phần lớn thường là bệnh đốm trắng Bệnh này tập trung ở vùng nuôi tôm công nghiệp như Khu công nghiệp Hoằng Phụ, với 70/110 ha nuôi tôm bị nhiễm bệnh

Ở Hà Tĩnh, trong số 150 ha nuôi tôm bị bệnh, có 67 ha bị bệnh đốm trắng, trong

đó 27 ha có tôm nuôi bị chết Theo kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu NTTS II, tại các tỉnh Nam bộ, tỷ lệ nhiễm bệnh đốm trắng trên mẫu tôm 7 có biểu hiện bệnh thu ở đầm nuôi quảng canh cải tiến là 56% Những ngày đầu năm

2004, tại nhiều tỉnh ở ĐBSCL đã xảy ra tình trạng tôm nuôi bị chết do virus gây bệnh đốm trắng gây nên và bệnh này lây lan nhanh ngay từ đầu vụ Hiện nay, bệnh đốm trắng vẫn đang diễn ra và đã gây nhiều tổn thất cho nhiều hộ dân tại các tỉnh này (Tạp chí Thủy sảnsố 3, 2004)

2.4.1.2.Bệnh hoại tử gan tụy cấp tính

Tình hình dịch bệnh đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho nghề nuôi tôm ở Việt Nam, đây là vấn đề đặt ra cho các nhà nghiên cứu khoa học thuỷ sản Để giải quyết vấn đề thực tiễn này đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học về bệnh tôm sú và tôm thẻ chân trắng của Việt Nam được tiến hành

Vì bệnh HTGT không rõ nguyên nhân nên các nghiên cứu tập trung vào: xây dựng định nghĩa bệnh; xây dựng bản đồ dịch tễ; xác định, đánh giá vai trò của các yếu tố vô sinh (nhiệt độ, độ mặn, H2S, NO2, thuốc bảo vệ thực vật); xác

Trang 33

định vai trò của yếu tố hữu sinh (virus, vi khuẩn, ký sinh trùng, nấm, tảo độc và bacteriophage); xác định sự liên quan của chế phẩm sinh học và thức ăn đối với bệnh HTGT

Lý Thị Thanh Loan (2003), đã nghiên cứu một cách có hệ thống các vi sinh vật gây bệnh quan trọng như nhóm Vibrio, MBV, WSSV trên tôm sú nuôi ở các mô hình khác nhau tại các tỉnh ĐBSCL Khi xác định tần số xuất hiện của Vibriosis trong các hệ thống nuôi, kết quả cho thấy các loài gây bệnh thường gặp gồm: V parahaemolyticus, V harveyi và V alginolyticus chiếm tỉ lệ cao hơn hẳn những loài khác trong các mẫu phân tích

Nghiên cứu về bệnh Vibriosis ở tôm thì theo một số tác giả, những loài gây bệnh cho tôm là: V parahaemolyticus, V harveyi, V vulnificus, V splendidus, V alginolyticus, V anguilarum và V damsela gây bệnh phát sáng, đỏ thân và ăn mòn vỏ ki tin Những loài này thường là tác nhân cơ hội; khi tôm bị sốc do môi trường biến đổi xấu hoặc bị nhiễm các bệnh khác như virus, nấm, ký sinh trùng thì chúng sẽ tấn công gây bệnh, làm tôm chết rải rác tới hàng loạt

Theo Bùi Quang Tề và cs (2004), tôm nuôi ngoài ao khi bị bệnh do Vibrio thì có hiện tượng nổi lên mặt ao, dạt bờ, bơi kéo đàn; tôm ở trạng thái hôn

mê, lờ đờ, kém ăn hoặc bỏ ăn Có sự biến đổi màu đỏ hay màu xanh, vỏ mềm và xuất hiện các vết hoại tử, ăn mòn trên vỏ, các phần phụ bị mòn gẫy hoặc cụt dần.Tác giả cho rằng tác nhân gây ra là do các loài V parahaemolyticus, V harveyi, V vulnificu và V anguillarum Còn ở tôm sú ấu trùng V alginolyticusgây ra bệnh đỏ thân, với các dấu hiệu xuất hiện các điểm đỏ ở gốc râu, vùng đầu ngực, thân và các phần phụ của ấu trùng

Trong các hệ thống nuôi thủy sản, vi khuẩn Vibrio xâm nhập vào ao, bể theo một số con đường bao gồm nguồn nước, dụng cụ dùng, tôm mẹ, tôm giống và thức

ăn tươi sống; hoặc chúng có thể nằm sẵn trên thành bể, dưới đáy ao Trong bể ương

ấu trùng thì mật độ Vibrio tăng theo thời gian nuôi, tầng đáy cao hơn tầng mặt, do đó khi xiphông tầng đáy có tác dụng giảm mật độ Vibrio trong bể ương

Việc nghiên cứu sử dụng các chất kích thích hệ miễn dịch cho tôm cũng

đã được quan tâm.Zipfel et al (2004) đã thử nghiệm nâng cao khả năng miễn dịch của tôm sú (P monodon) đối với vi khuẩn V parahaemolyticus bằng cách

sử dụng các hợp chất chiết xuất từ một loại tảo biển (Sargassum wightii) phối

Trang 34

hợp vào thức ăn cho tôm, kết quả cho thấy tôm có khả năng miễn dịch cao (tỉ lệ sống 83%) Đây là nghiên cứu mở đầu để sử dụng nguồn thực vật tự nhiên dồi dào ở biển thay thế cho một số chất kích thích miễn dịch được lấy từ động vật Yeh and Chen (2008) đã thử nghiệm dùng các hợp chất chiết xuất từ cây cỏ biển (Chondrus crispus) để tiêm cho tôm chân trắng (L vannamei), sau đó cảm nhiễm

V alginolyticus lên tôm, kết quả cho thấy tôm có khả năng miễn dịch với loại vi khuẩn này

Mặc dù tác nhân gây bệnh đã được biết từ năm 2013 nhưng hiện nay vẫn chưa có một giải pháp triệt để cho bệnh này Trên thực tế đã có rất nhiều trường hợp sử dụng kháng sinh để trị bệnh và hiện tượng kháng kháng sinh của V parahaemolyticus cũng đã được ghi nhận Kết quả điều tra và thu mẫu trên 60 nông hộ nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng ở các tỉnh Cà Mau, Sóc Trăng và Bạc Liêu của Viện Nghiên cứu NTTS II cho thấy 68,9% nông hộ cho biết có sử dụng kháng sinh, trong đó 62% sử dụng kháng sinh với mục đích trị bệnh đã và đang xảy ra tại ao nuôi và 38% ao nuôi sử dụng kháng sinh để phòng bệnh Có rất nhiều loại kháng sinh được ghi nhận qua điều tra trong đó nhiều nhất là Oxytetracycline, Doxycylin và Enrofloxacine

2.4.1.3.Bệnh hoại tử cơ quan tạo máu vàbiểu mô

Kể từ khi IHHNV được Tổ chức Thú y thế giới (OIE) xếp loại vào một trong những virus gây thiệt hại đến nghề nuôi tôm, đặc biệt là tôm xanh và tôm thẻ chân trắng, đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến loại virus này Tuy nhiên, trên tôm sú nuôi ở ĐBSCL nói riêng và ở Việt Nam nói chung, chỉ có ít nghiên cứu liên quan đến việc phát hiện IHHNV nhiễm trên tôm sú và đặc tính di truyền cũng như phân bố của chúng

Bùi Quang Tề (2003) đã phân tích mô bệnh học gan tụy của tôm sú ở Sóc Trăng thấy xuất hiện các thể vùi của IHHNV nhưng tỉ lệ cảm nhiễm còn thấp

Có một vài nghiên cứu gần đây vềđặc điểm di truyền của IHHNV như nghiên cứu đánh giá về tần suất xuất hiện IHHNV trên tôm sú ở một số lượng mẫu rất hạn hẹp, 307 mẫu (tỷ lệ nhiễm 160/307 tương đương 52,12%), cũng như phân tích trình tự bộ gen của virus (An và cs., 2009; Hùng và cs., 2009) Các thông tin về sự hiện diện của IHHNV và tác động lên tôm sú nuôi ở Việt Nam vẫn chưa được làm rõ Hiện tại chỉ có 1 nghiên cứu giải trình tự bộ gen chủng

Trang 35

IHHNV thu nhận từ mẫu tôm ở Bạc Liêu, kết quả cho thấy bộ gen IHHNV từ mẫu nghiên cứu này có kích thước 3815 bp, có độ tương đồng cao nhất 98% với chủng IHHNV phân lập ở Đài Loan, 97% với chủng IHHNV Thái Lan (An và cs., 2009) Tuy nhiên, do sự du nhập tôm bố mẹ từ nhiều nguồn khác nhau nên rất có thể sự đa dạng về di truyền của các chủng IHHNV truyền nhiễm hiện diện tại ĐBSCL Sự thiếu hiểu biết về IHHNV trong hệ thống nuôi tôm sú tại Việt Nam đang gây khó khăn trong việc chọn lựa phương pháp xét nghiệm để kiểm soát chất lượng tôm nuôi

2.4.2 Nghiên cứu trên thế giới

2.4.2.1 Bệnh đốm trắng

Bệnh đốm trắng đã bùng phát ở nhiều khu vực nuôi tôm trên thế giới, đặc biệt là các nước Châu Á Bệnh đã gây tỷ lệ chết cao và gây thiệt hại lớn cho nghề nuôi tôm công nghiệp ở Trung Quốc, Nhật Bản, Indonesia và Ấn Độ Trong thời gian từ1994 - 1995, virus gây bệnh đốm trắng đã gây chết hầu hết tôm nuôi (P monodon; P indicus) dọc theo bờ biển phía Đông Ấn Độ và phía Tây Ấn Độ (Tạp chí thông tin KHCN và Kinh Tế Thủy Sản, số 4 – 2004)

Theo Nguyễn Văn Hảo (2004), bệnh đốm trắng xuất hiện đầu tiên tại Bắc

Á vào năm 1992 – 1993, đồng thời nhanh chóng lan rộng khắp khu vực châu Á

và thế giới nhất là các nước có hình thức nuôi tôm công nghiệp thâm canh Dịch bệnh đốm trắng được phát hiện lần đầu tiên tại Đài Loan vào năm 1992, Trung Quốc (1993), Nhật Bản (1994), sau đó là các nước Indonesia, Thái Lan, Ma-lai-xi-a, Ấn Độ, Băng-la-det, Hoa Kỳ (1995) gây tổn thất nghiêm trọng về sản lượng tôm nuôi

Ở Thái Lan, dịch bệnh đốm trắng bùng nổ đã làm giảm sản lượng tôm nuôi từ 225.000 tấn năm 1995 xuống 160.000 tấn năm 1996 làm thiệt hại trên dưới 500 triệu USD Ở các nước Châu Á bệnh gây thiệt hại khoảng 3 tỷ USD mỗi năm (Nguyễn Văn Hảo, 2000)

Thực tế hiện nay ở các nước trong khu vực Đông Nam Á, bệnh đốm trắng được xem là phổ biến và nguy hiểm nhất vì vậy hầu hết các nghiên cứu đều tập trung ngăn ngừa sự lan nhiễm và bùng nổ bệnh đốm trắng ở các ao nuôi (Nguyễn Văn Hảo, 2000)

Trang 36

2.4.2.2 Bệnh hoại tử gan tụy cấp tính

Theo Alday-Sanz et al.(2002), Vibriosis là bệnh vi khuẩn có liên quan đến

tỷ lệ chết ở tôm nuôi trên toàn thế giới Sự nhiễm vi khuẩn Vibriothường xuất hiện trong các trại sản xuất giống, nhưng dịch bệnh lại hay xảy ra ở ao nuôi tôm

Sự bùng phát dịch bệnh có thể xảy ra khi các yếu tố môi trường gây nên sự nhân lên nhanh chóng mật độ vi khuẩn đã nhiễm ở mức thấp trong máu tôm hoặc do

sự xâm nhập của vi khuẩn vào rào cản vật chủ

Nghiên cứu về tác nhân gây bệnh Vibrio ở tôm sú (P.monodon), Jiravanichpaisal et al (1995) cho rằng có 2 con đường xâm nhập của vi khuẩn là xâm nhập vào gan tụy và xâm nhập vào biểu mô phụ Sự xâm nhập theo con đường gan tụy lại rất mạnh và thường xảy ra ở giai đoạn ấu trùng và tôm giống, trong khi đó sự xâm nhập theo đường biểu mô phụ xảy ra chủ yếu trên tôm trưởng thành Điều này là bởi vì ở giai đoạn tôm trưởng thành, hoạt động kháng khuẩn có thể mạnh ở ống gan tụy (Stewart, 1980) Theo Anderson (1988), khi bề mặt cơ thể tôm bị tổn thương sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn Vibrio xâm nhập qua con đường này

Khi nghiên cứu về bệnh Vibrio trong các trại sản xuất tôm giống, Adams (1991) và nhiều tác giả khác cho rằng: Tôm ấu trùng và hậu ấu trùng khi bị nhiễm khuẩn nặng có thể gây hiện tượng phát sáng và chết hàng loạt Lightner (1996) cũng đã thông báo, trong số các bệnh gây ra ở ấu trùng tôm, bệnh phát sáng là bệnh nhiễm trùng toàn thân và gây thiệt hại lớn nhất Ngoài ra, ấu trùng tôm bị bệnh phát sáng thì cơ thể trở lên yếu ớt, chuyển màu trắng nhợt và lắng xuống đáy, tỷ lệ chết có thể lên tới 100% trong 1 đến 2 ngày, khi bệnh phát sáng xuất hiện trong trại sản xuất thì việc ngăn ngừa giữa các bể ương nuôi là rất khó khăn và có thể đợt sản xuất đó bị hoàn toàn thất bại

Khi nghiên cứu về khả năng gây bệnh do vi khuẩn Vibrio trên tôm, nhiều tác giả đã khẳng định hầu hết vi khuẩn Vibrio là tác nhân gây bệnh thứ cấp Theo Lightner et al (1998), cơ thể tôm có khả năng đề kháng với vi khuẩn Vibrio, cho nên ngay cả tôm khỏe vẫn tồn tại một lượng vi khuẩn này, chúng chờ cơ hội để tăng số lượng và độc lực gây bệnh cho tôm Các nghiên cứu về bệnh tôm ở châu

Á cho thấy có sự kết hợp giữa vi khuẩn Vibrio với các tác nhân khác như virus,

ký sinh trùng… gây tác hại tổng hợp trên tôm Theo Chanratchakool et al (1995)

Trang 37

vi khuẩn Vibrio là tác nhân cơ hội tấn công vào tôm nuôi khi tôm bị nhiễm virus đốm trắng, nghiên cứu mẫu bệnh phẩm thì ngoài việc tìm thấy các tiểu thể virus còn có một số lượng lớn vi khuẩn Vibrio

Dịch bệnh do vi khuẩn Vibrio trên tôm ngày càng trở nên phổ biến ở các trang trại nuôi thuộc các quốc gia ở châu Á Theo Musa et al (2003) mầm bệnh

vi khuẩn phổ biến nhất trên tôm he ở Ma-lai-xi-a là V ordalii, V anguillarum, V vulnificus, V harveyi và V Splendilus Ở Đài Loan những loài vi khuẩn Vibrio được tìm thấy gồm: V tubiashii, V anguillarum,V harveyi,V mereis hoặc V Damsel (Kou et al., 1998) Ruangpan and Kitao (1991) đã phân lập và xác định được 5 loài Vibrio (V parahaemolyticus, V alginolyticus, V vulnificus, V fluvialis và Vibrio spp ) từ tôm sú bị bệnh nuôi ở Thái Lan

Vào khoảng cuối năm 2009, hội chứng chết sớm (EMS) hay bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) hay đã bắt đầu gây thiệt hại nghiêm trọng đến sản lượng tôm ở phía Nam Trung Quốc Năm 2011, dịch bệnh bắt đầu được ghi nhận

có xảy ra ở Việt Nam và Ma-lai-xi-a và từ đầu năm 2012 cũng được thông báo ở Thái Lan (Flegel, 2012)

Ở Trung Quốc, sự xuất hiện của EMS/AHPND được thông báo đầu tiên ở Hainan năm 2010 nhưng lúc đó đã không được quan tâm Đến năm 2011 sự xuất hiện của dịch bệnh đã trở nên trầm trọng đặc biệt đối với những trang trại đã từng nuôi tôm trên 5 năm và đối với những trang trại nằm gần biển do sử dụng nước nuôi cá độ mặn cao hơn (độ mặn trên 20ppt) Trong 6 tháng đầu năm 2011, khoảng 80% sản lượng tôm đã bị thiệt hại ở các trang trại nuôi tôm thuộc Hainan, Guangdong, Fujian và Guangxi

Ở Ma-lai-xi-a, EMS/AHPND được thông báo lần đầu tiên vào cuối năm

2010 ở Johor, sau đó tiếp tục xuất hiện ở Pahang, Perak và Penang trong năm

2011 EMS/AHPND đã gây ra sự suy giảm đáng kể sản lượng tôm thẻ chân trắng, từ 87,000 triệu tấn năm 2010 xuống còn 67,000 triệu tấn năm 2011

Ở Thái Lan, đến năm 2012 khoảng 0,7% tổng số ao nuôi tôm đã bị nhiễm bởi EMS/AHPND, hầu hết xảy ra ở vùng bờ biển thuộc các tỉnh Rayong, Chantaburi, Trat và Chacheongsao (Flegel, 2012)

Trang 38

2.4.2.3 Bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và biểu mô

IHHNV lần đầu tiên được công bố trên tôm P stylirostris và P vanamei ở Hoa Kỳ (Lightner et al., 1983)và sau đó là trên tôm P monodon từ châu Á Người ta cho rằng, nó được tìm thấy thông qua quá trình nhập khẩu tôm sú từ Philippine (Lightner et al., 1992; Lightner, 1996; Lightner, 1999) Ở châu Mỹ, IHHNV còn được ghi nhận ở các trang trại nuôi tôm ở Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Trung

Mỹ, vịnh Carribe và khu vực Indo- Thái Bình Dương Sự phân bố địa lý và giới tính của tôm là yếu tố ảnh hưởng đến mức độ nhiễm virus trong quần đàn.Trong các vùng mà virus gây thành dịch trên các đàn tôm hoang dã thì IHHVN đã được phát hiện trên các mẫu tôm tự nhiên ở các địa phương là từ 0 đến 100%

Owens (1990) đã báo cáo sự hiện diện của IHHNV trong tự nhiên ở Úc thuộc vùng Ấn Độ- Thái Bình Dương Năm 2008, dạng lây nhiễm của IHHNV được tìm thấy trên tôm P monodon nuôi ở Úc (Saksmerprome et al., 2010)

Ở Châu Á,virus này đã được tìm thấy ở kiện hàng tôm P vannamei nhập khẩu từ tôm nuôi ở Đài Loan vào năm 1986.Sau đó, những báo cáo về sự hiện diện của virus này trên tôm P monodon hoang dã và nuôi ở các nước thuộc vùng Đông Á (Trung Quốc, Đài Loan), Đông Nam Á (Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Philippine) và Ấn Độ (Flegel, 1997) Những nghiên cứu gần đây cho thấy sự hiện diện của IHHNV trên tôm P monodon hoang dã ở Brunei với sự lưu hành thấp khoảng 14,1% (Claydonet al., 2010) Hơn nữa, sự lưu hành IHHNV ở tôm và cua thu thập từ các vùng nuôi trồng thủy sản lần lượt là 51,5% và 8,3% (Yang et al., 2007) Gần đây virus IHHNV cũng được ghi nhận trên tôm thẻ nuôi

ở Hàn Quốc (Kim et al., 2012) Ở nuôi trồng thủy sản nước ngọt, sự xâm nhiễm trong tự nhiên của IHHNV ở giai đoạn ấu trùng và cận trưởng thành của Macrobrachium rosenbergii được công bố ở miền Nam Đài Loan và Malaysia (Hsieh et al., 2006)

Trang 39

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Các cơ sở sản xuất tôm giống (Ninh Thuận, Bình Thuận)

Các cơ sở nuôi tôm thương (Sóc Trăng, Bến Tre và Bạc Liêu)

3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.2.1 Nội dung nghiên cứu

3.2.1.1 Xác định mức độ lưu hành một số bệnh trên tôm tại các tỉnh nghiên cứu trong giai đoạn cuối năm 2016 đầu năm 2017

3.2.1.2 Xác định các yếu tố nguy cơ liên quan đến sự lưu hành các bệnh trên tôm tại các tỉnh nghiên cứu

3.2.2 Thời gian thực hiện

Từ tháng 8/2016 – tháng 12/2016 (kéo dài sang tháng 01/2017)

3.2.3 Vật liệu nghiên cứu

Dữ liệu về diện tích các cơ sở sản xuất, nuôi tôm trên địa bàn 5 tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Bến Tre, Sóc Trăng và Bạc Liêu do các Chi cục Thú y báo cáo về Cục Thú y từ năm 2014 – 2016

Số liệu dịch bệnh tôm của 5 tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Bến Tre, Sóc Trăng và Bạc Liêu do các Chi cục Thú y báo cáo về Cục Thú y từ năm 2014 –

2016

Các nguyên vật liệu lấy mẫu, bảo quản, mẫu xét nghiệm

Bộ phiếu điều tra do Cục Thú y thiết kế và hướng dẫn các cán bộ thú y của 5 tỉnh trực tiếp gặp người dân để thu thập thông tin nuôi và dịch bệnh

Số liệu địa lý chi tiết đến cấp xã năm 2011 do Nhà xuất bản Tài nguyên Môi trường và Bản đồ Việt Nam xây dựng và cung cấp (Nhà xuất bản Tài nguyên Môi trường và Bản đồ Việt Nam, 2012)

Phần mềm vẽ bản đồ ArcGIS 9.3 và phần mềm phân tích thống kê R (R Development Core Team, 2012) và các gói phân tích tương ứng như epiR (Stevenson, 2012), lme4 (Bates and Sarkar, 2007)

Trang 40

3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.3.1 Xác định mức độ lưu hành và các yếu tố nguy cơ liên quan đến lưu hành một số bệnh trên tôm tại các tỉnh nghiên cứu trong giai đoạn cuối năm

2016 đầu năm 2017

Các phương pháp dịch tễ học và thống kê cơ bản, thường quy được sử dụng để thu thập, phân tích và xác định mức độ lưu hành các bệnh; việc so sánh các tỷ lệ lưu hành được dựa trên phân tích thống kê Chi-square (2) – test

Phương pháp nghiên cứu cắt ngang (cross-sectional study) đã được tiến hành lập lại nhiều lần tại các cơ sở sản xuất, nuôi tôm trên địa bàn 5 tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Bến Tre, Sóc Trăng và Bạc Liêu

Phương pháp lấy mẫu nhiều giai đoạn (multistage sampling) được áp dụng như sau:

Giai đoạn 1:Các tỉnh nghiên cứu, bao gồm Ninh Thuận, Bình Thuận, Bến Tre, Sóc Trăng và Bạc Liêu được lựa chọn có chủ đích dựa trên các tiêu chí: (1)

Là tỉnh trọng điểm về sản xuất tôm giống; (2) Là tình trọng điểm về nuôi tôm thương phẩm, nhất là nuôi theo hình thức thâm canh, bán thâm canh; (3) Là tỉnh

đã có báo cáo dịch bệnh bệnh trên tôm trong nhiều năm; (4) Địa phương có sự hợp tác tốt trong công tác phòng, chống dịch bệnh trong nhiều năm qua

Giai đoạn 2:Tại mỗi tỉnh, chúng tôi chọn ngẫu nhiên 30 cơ sở hoặc hộ sản xuất, nuôi tôm (sau đây gọi chung là cơ sở nuôi tôm) theo hình thức bán thâm canh và thâm canh tại các vùng nuôi tôm trọng điểm, cụ thể:

Số lượng cơ sở tại mỗi tỉnh cần giám sát được tính theo công thức:

2

2 1

1 e

z

n      

Trong đó: P: Là giá trị lưu hành ước tính ở cấp độ cơ sở là 10%; e: Là sai

số tuyệt đối (giữa giá trị ước tính và giá trị thực) là 10%; z: Chỉ số thể hiện khoảng tin cậy 95% (z = 1,96)

Trường hợp tỉnh chỉ có 01 vùng nuôi tôm trọng điểm thì chọn ngẫu nhiên

30 cơ sở nuôi tôm của vùng đó để lấy mẫu

Trường hợp tỉnh chỉ có 02 vùng nuôi tôm trọng điểm thì chọn ngẫu nhiên

15 cơ sở nuôi tôm/vùng để lấy mẫu

Ngày đăng: 10/03/2021, 16:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm