1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng quản lý phế thải rắn, nước thải của công ty tnhh giầy sunjade việt nam, công ty tnhh sữa lam sơn và công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản thuộc khu công nghiệp lễ môn, tỉnh thanh hóa

96 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 7,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu: Việc nghiên cứu thực trạng phát sinh chất thải và công tác quản lý môi trường của 03 công ty được thực hiện dựa trên việc thu thập các thông tin thứ cấp từ các b

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

HÀ LƯƠNG QUỲNH TRANG

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ PHẾ THẢI RẮN, NƯỚC THẢI CỦA CÔNG TY TNHH GIẦY SUNJADE VIỆT NAM, CÔNG TY TNHH SỮA LAM SƠN VÀ CÔNG

TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THỦY SẢN THUỘC KHU CÔNG NGHIỆP LỄ MÔN,TỈNH THANH HÓA

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Xuân Thành

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi cũng xin cam kết chắc chắn rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc, bản luận văn này là nỗ lực, kết quả làm việc của cá nhân tôi (ngoài phần đã trích dẫn)

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Hà Lương Quỳnh Trang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn Thạc sĩ: “Đánh giá thực trạng quản lý phế thải rắn, nước thải của Công ty TNHH Giầy Sunjade Việt Nam, Công ty TNHH sữa Lam Sơn và Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản thuộc khu công nghiệp Lễ Môn,tỉnh Thanh Hóa”, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp

đỡ tận tình của nhiều tập thể và cá nhân

Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể các thầy cô giáo trong khoa Môi trường, trường Học Viện Nông nghiệp Việt Nam, đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Xuân Thành – Giảng viên hướng dẫn khoa học đã trực tiếp đóng góp những ý kiến quý báu và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Xin chân thành cảm ơn Trung tâm Quan trắc Phân tích tài nguyên Môi trường Thanh Hóa, Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Thanh Hóa, 3 Công ty (Công ty TNHH Giầy Sunjade Việt Nam, Công ty TNHH MTV sữa Lam Sơn và Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản) đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ, cung cấp số liệu, tư liệu khách quan giúp tôi hoàn thành luận văn

Gia đình và bạn bè đã giúp đỡ tôi về vật chất và tinh thần để tôi hoàn thành học tập và luận văn thạc sĩ này

Hà Nội,ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Hà Lương Quỳnh Trang

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract x

PHẦN 1.MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

PHẦN 2.TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

2.1 Các khái niệm chung 3

2.1.1 Khái niệm khu công nghiệp .3

2.1.2 Định nghĩa quản lý môi trường .3

2.2 Tình hình phát triển của kcn ở Việt Nam và trên thế giới 6

2.2.1 Qúa trình hình thành và phát triển các KCN 6

2.2.2 Vai trò của KCN với sự phát triển kinh tế xã hội 9

2.3 Thực trạng phát sinh chất thải rắn, nước thải công nghiệp ở Việt Nam 9

2.3.1 Thực trạng phát sinh nước thải công nghiệp 9

2.3.2 Thực trạng phát sinh phế thải rắn công nghiệp 15

2.4 Công tác quản lý phế thải rắn, nước thải KCN tại Việt Nam và Thanh Hóa 19

2.4.1 Hệ thống quản lý môi trường tại các KCN 19

2.4.2 Chính sách và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý môi trường khu, cụm công nghiệp 21

2.4.3 Tình hình quản lý môi trường tại các khu công nghiệp ở Việt Nam 22

2.4.4 Tình hình quản lý môi trường tại các khu công nghiệp ở Thanh Hóa 25

Trang 6

2.4.5 Các vấn đề còn tồn tại trong hệ thống quản lý KCN 27

2.4.6 Áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong bảo vệ môi trường KCN 32

PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

3.1 Đối tượng nghiên cứu 35

3.2 Phạm vi nghiên cứu 35

3.3 Nội dung nghiên cứu 35

3.3.1 Khái quát chung về khu công nghiệp Lễ Môn 35

3.3.2 Giới thiệu về 3 công ty nghiên cứu (Công ty TNHH Giầy Sunjade Việt Nam, Công ty TNHH MTV sữa Lam Sơn, Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản) thuộc khu công nghiệp Lễ Môn,tỉnh Thanh Hóa 35

3.3.3 Thực trạng quản lý phế thải rắn của ba công ty lựa chọn nghiên cứu 35

3.3.4 Thực trạng quản lý nước thải của ba công ty lựa chọn nghiên cứu 35

3.3.5 Ý kiến công nhân viên vệ môi trường của ba công ty nghiên cứu 35

3.3.6 Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý môi trường tại ba công ty nghiên cứu 36

3.4 Phương pháp nghiên cứu 36

3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 36

3.4.2 Phương pháp khảo sát hiện trường 36

3.4.3 Phương pháp điều tra phỏng vấn 36

3.4.4 Phương pháp điều tra lấy mẫu, phân tích mẫu và so sánh mẫu 36

3.4.5 Các tiêu chí đánh giá nguồn thải của ba công ty lựa chọn nghiên cứu 38

3.4.6 Phương pháp đánh giá kết quả 39

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40

4.1 Khái quát chung về KCN Lễ Môn 40

4.2 Giới thiệu 3 doanh nghiệp nghiên cứu thuộc KCN Lễ Môn 41

4.2.1 Công ty TNHH Giầy SunJade Việt Nam 41

4.2.2 Công ty TNHH MTV sữa Lam Sơn 43

4.2.3 Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Thanh Hóa 46

4.3 Thực trạng quản lý chất thải rắn của ba doanh nghiệp lựa chọn nghiên cứu 48

4.3.1 Thực trạng phát sinh phế thải rắn 48

Trang 7

4.3.2 Hệ thống thu gom và xử lý phế thải rắn 53

4.4 Thực trạng quản lý nước thải của ba doanh nghiệp lựa chọn nghiên cứu 57

4.4.1 Thực trạng phát sinh nước thải 57

4.4.2 Hệ thống thu gom và xử lý nước thải 61

4.5 Ý kiến của công nhân viên về môi trường của ba doanh nghiệp 67

4.6 Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý môi trường tại ba doanh nghiệp nghiên cứu 70

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73

5.1 Kết luận 73

5.2 Kiến nghị 75

Tài liệu tham khảo 76

Phụ lục 78

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng việt CTR: Phế thải rắn ĐTM: Đánh giá tác động môi trường KCN: Khu công nghiệp

KCNST: Khu công nghiệp sinh thái KCX: Khu chế xuất

KKT: Khu kinh tế LVS: Lưu vực sông MTV: Một thành viên NXB: Nhà xuất bản QCVN: Quy chuẩn Việt Nam QLMT: Quản lý môi trường TNHH: Trách nhiệm hữu hạn UBND: Ủy ban nhân dân XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Ước tính tổng lượng nước thải và thải lượng các chất ô nhiễm trong

nước thải từ các KCN thuộc các tỉnh của 4 vùng KTTĐ năm 2009 12

Bảng 2.2 Ước tính và dự báo CTR các KCN của Việt Nam đến 2020 16

Bảng 3.1 Vị trí lấy mẫu nước 37

Bảng 3.2 Phương pháp phân tích mẫu nước 38

Bảng 4.1 Thành phần phế thải rắn sinh hoạt củacông ty Giầy sunjade, sữa Lam Sơn, công ty xuất nhập khẩu thủy sản 49

Bảng 4.2 Thành phần phế thải rắn sản xuất của công ty TNHH giầy sunjade Việt Nam 51

Bảng 4.3 Thành phần phế thải rắn sản xuất của công ty sữa Lam Sơn 51

Bảng 4.4 Thành phần phế thải rắn sản xuất của công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Thanh Hóa 52

Bảng 4.5 Lượng phế thải rắn nguy hại phát sinh trong tháng của ba công ty chọn nghiên cứu 53

Bảng 4.6 Hiện trạng phế thải rắn của ba công ty chọn nghiên cứu 54

Bảng 4.7 Kết quả phân tích chất lượng nước thải tại 3 nhà máy nghiên cứu 58

Bảng 4.8 Kết quả quan trắc nước thải - cổng thải KCN Lễ Môn 61

Bảng 4.9 một số chỉ tiêu cơ bản đầu ra theo TCVN 5945 – 2005 67

Bảng 4.10 Kết quả đánh giá của công nhân viên về môi trường của 3 công ty 68

Bảng 4.11 Tổ chức đội ngũ cán bộ trong công tác quản lý môi trường tại 3 công ty 70

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Tình hình phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam 8

Hình 2.2 Tỷ lệ gia tăng lượng nước thải từ các KCN và tỷ lệ gia tăng tổng lượng nước thải từ các lĩnh vực trong toàn quốc 10

Hình 2.3 Hàm lượng BOD5 trong nước thải của một số KCN năm 2008 11

Hình 2.4 Hàm lượng Coliform trong nước thải một số KCN năm 2008 11

Hình 2.5 Tần suất số lần đo vượt TCVN của một số thông số tại sông Đồng Nai đoạn qua Tp Biên Hoà 13

Hình 2.6 Hàm lượng NH4+ trên sông Cầu đoạn chảy qua Thái Nguyên năm 2008 14

Hình 2.7 Kết quả quan trắc lưu vực sông Nhuệ - Đáy năm 2013 15

Hình 2.8 Sơ đồ hệ thống quản lý môi trường KCN tại Việt Nam 20

Hình 3.1 Sơ đồ lấy mẫu nước thải 37

Hình 4.1 Sơ đồ khu công nghiệp Lễ Môn 40

Hình 4.2 Sơ đồ công nghệ sản xuất và thực trạng dòng thải của nhà máy 42

Hình 3.3 Quy trình công nghệ sản xuất sữa chua 44

Hình 4.4 Quy trình công nghệ sản xuất sữa tươi 45

Hình 4.5 Sơ đồ quy trình công nghệ chế biến thủy hải sản đông lạnh 48

Hình 4.6 Sơ đồ quy trình thu gom và xử lý chất thải rắn 54

Hình 4.7 Diễn biến nồng độ TSS trong nước thải 59

Hình 4.8 Diễn biến nồng độ BOD 5 trong nước thải 59

Hình 4.9 Diễn biến nồng độNH 4+ trong nước thải 60

Hình 4.10 Diễn biến hàm lượng Coliform trong nước thải 60

Hình 4.11 Sơ đồ nguyên lý hoạt động của bể xử lý nước thải 3 ngăn 62

Hình 4.12 Sơ đồ hệ thống xử lý nước thải nhà máy sữa Lam Sơn 63

Hình 4.13 Sơ đồ nguyên lý hoạt động của bể xử lý nước thải 3 ngăn 64

Hình 4.14 Sơ đồ nguyên lý hoạt động của bể xử lý nước thải sản xuất công ty chế biến thủy hải sản 64

Hình 4.15 Sơ đồ nguyên lý hoạt động của bể xử lý nước thải tập trung KCN Lễ Môn 66

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Hà Lương Quỳnh Trang

Tên Luận văn: Đánh giá thực trạng quản lý phế thải rắn và nước thải của Công

ty TNHH Giầy Sunjade Việt Nam, Công ty TNHH sữa Lam Sơn và Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản thuộc khu công nghiệp Lễ Môn, tỉnh Thanh Hóa

Ngành: Khoa học Môi trường Mã số: 60.44.03.01

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu:

Đánh giá thực trạng công tác quản lý phế thải rắn và nước thải của 03 Công ty thuộc KCN Lễ Môn, tỉnh Thanh Hóa Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý môi trường tại 03 công ty đó

Phương pháp nghiên cứu:

Việc nghiên cứu thực trạng phát sinh chất thải và công tác quản lý môi trường của 03 công ty được thực hiện dựa trên việc thu thập các thông tin thứ cấp từ các báo cáo kết hợp với việc khảo sát hiện trường và phân tích số liệu thứ cấp từ phiếu điều tra

Để đánh giá thực trạng chất lượng nước thải của 03 công ty, nghiên cứu đã dựa vào kết quả phân tích mẫu nước mang tính đại diện và so sánh với QCVN Qua những nội dung

đã tìm hiểu, nghiên cứu có cơ sở để đề xuất những giải pháp có tính khả thi

Kết quả chính và kết luận:

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, hoạt động sản xuất của 03 công ty đều phát sinh phế thải rắn Phế thải rắn được chia làm 03 loại là phế thải rắn sinh hoạt, phế thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại Do quy mô và tính chất ngành nghề của các công ty khác nhau nên khối lượng và thành phần các phế thải rắn khác nhau Chất thải ở các công ty đều được phân loại, thu gom, vận chuyển về kho chứa và các công ty đều ký hợp đồng với các đơn vị chức năng đến thu gom, vận chuyển, xử lý Nước thải của Công ty TNHH MTV sữa Lam Sơn có thông số Coliform và BOD 5 quá giới hạn ở cả 2 mùa; nước thải của công ty CP xuât nhập khẩu thủy sản Thanh Hóa thông số NH4+ vượt giới hạn ở cả 2 mùa; thông số còn lại đều nằm trong giới hạn Nước thải tại các công ty đều được xử lý trước khi thải ra hệ thống xử lý chung của KCN Việc tổ chức đội ngũ làm công tác bảo vệ môi trường ở các công ty chưa thực sự mạnh nhưng đã từng bước đáp ứng được nhu cầu thực hiện công tác chuyên môn Căn cứ vào thực tế, nghiên cứu đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện chất lượng môi trường và công tác quản lý tại các khu vực nghiên cứu

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Ha Luong Quynh Trang

Thesis title: Assessing the situation of solid waste management and wastewater

of Sunjade Vietnam Footwear Co., Ltd, Lam Son Milk Co., Ltd and seafood export and import joint stock company in Le Mon industrial zone, Thanh Hoa province

Major: Environmental Sciences Code: 60.44.03.01

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives:

Assess the actual situation of solid waste management and wastewater management of 03 companies in Le Mon Industrial Park, Thanh Hoa province Based

on the assessment, propose some measures to improve the effectiveness of environmental management at these three companies

Materials and Methods:

Main methods of the status of waste generation and environmental management

of the three companies is based on the collection of secondary data from reports combined with field surveys and data analysis Secondary from the questionnaire To assess the actual effluent quality of the three companies, the study was based on a representative sample of water samples comparing with Vietnamese standards Based

on the contents studied, the research has a basis for proposing feasible solutions

Main findings and conclusions:

Research’s results show that during the production activities of 03 companies generate solid waste Solid waste is divided into 3 types: domestic waste, industrial solid waste and hazardous waste Due to the size and nature of the occupation of different companies, the volume and composition of solid waste varies Waste in the company is classified, collected, transported to the warehouse and the companies are contracted with the functional units to collect, transport and treat Wastewater of Lam Son dairy limited company has parameters Coliform and BOD5 over limit in both seasons; Wastewater of Thanh Hoa Seafood Import Export JSC, NH4 + parameter exceeds the limit in both seasons; All other parameters are within the limits Waste water in the company is treated before discharged into the general treatment system of the IP The organization of environmental protection staff in companies is not really strong, but gradually meet the demand for professional work Based on the fact, research provides solutions to improve environmental quality and management in the study areas

Trang 13

PHẦN 1.MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Khu công nghiệp Lễ Môn là một trong những khu công nghiệp lớn nhất của tỉnh Thanh Hóa với rất nhiều nhà máy xí nghiệp sản xuất các loại hình khác nhau như nhà máy sản xuất giầy, nhà máy thức ăn gia súc, nhà máy sản xuất sữa, nhà máy chế biến thủy sản, nhà máy may mặc Sự phát triển của khu công nghiệp Lễ Môn góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước

Hiện nay, trên thị trường xuất nhập khẩu, sản phẩm giầy Việt Nam đang

có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế nước nhà Đặc biệt, trong đó có công ty sản xuất giầy Sunjade Việt nam trong khu công nghiệp Lễ Môn là một công ty có quy mô lớn, tạo công ăn việc làm cho 7.800 lao động trong và ngoài tỉnh

Cũng như ngành công nghiệp giầy, trong những năm gần đây, ngành công nghiệp chế biến sữa và ngành chế biến thủy hải sảnViệt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ Các sản phẩm sữa và thủy sản được chế biến ở Việt Nam được bày bán và tiêu thụ khắp nơi Như một hệ quả tất yếu, khi có điều kiện khai thác nguyên liệu tại chỗ, các ngành công nghiệp chế biến này ở Việt Nam sẽ có

đủ điều kiện thuận lợi để phát triển Điển hình trong khu công nghiệp Lễ môn có công ty TNHH MTV sữa Lam Sơn và công ty xuất nhập khẩu thủy sản Thanh Hóa đang ngày càng phát triển, và tạo ra nhiều công việc cho người dân trong tỉnh và các vùng lân cận Điều này giúp góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của tỉnh

Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp về mặt kinh tế và tạo ra những sản phẩm cần thiết cho cuộc sống của con người, các ngành công nghiệp này cũng đã tạo ra rất nhiều chất thải gây nên ô nhiễm môi trường tự nhiên xung quanh Phần lớn các công ty khi đầu tư vào khu công nghiệp đều đã lập các báo cáo đánh giá tác động môi trường, đề án bảo vệ môi trường chi tiết, bản cam kết bảo vệ môi trường, đăng ký chủ nguồn thải, khai thác nước mặt để sử dụng trong sản xuất và thực hiện các biện pháp giảm thiểu tác động tiếu cực đến môi trường Song trên thực tế, việc quản lý và thực hiện các biện pháp trên còn nhiều hạn chế và thiếu đồng bộ vì vậy vấn đề ô nhiễm môi trường vẫn chưa được giải quyết triệt để Xuất phát từ các vấn đề trên, tôi đã lựa chọn và thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng quản lý phế thải rắn, nước thải của Công ty TNHH Giầy

Trang 14

Sunjade Việt Nam, Công ty TNHH sữa Lam Sơn và Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản thuộc khu công nghiệp Lễ Môn, tỉnh Thanh Hóa”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

 Đánh giá thực trạng công tác quản lý phế thải rắn, nước thải của Công ty TNHH Giầy SunJade Việt Nam, Công ty TNHH MTV sữa Lam Sơn và Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản thuộc khu công nghiệp Lễ Môn,tỉnh Thanh Hóa

 Chỉ ra được hiện trạng khối lượng, chủng loại phế thải rắn và chất lượng nước thải công nghiệp của Công ty TNHH Giầy SunJade Việt Nam, Công

ty TNHH MTV sữa Lam Sơn và Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Thanh Hóa thuộc khu công nghiệp Lễ Môn,tỉnh Thanh Hóa

 Chỉ ra được những tồn tại trong công tác quản lý phế thải rắn và nước thải của Công ty TNHH Giầy Sunjade Việt Nam, Công ty TNHH MTV sữa Lam Sơn và Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Thanh Hóa thuộc khu công nghiệp Lễ Môn, tỉnh Thanh Hóa

 Lấy mẫu phân tích chất lượng nước thải công nghiệp trước và sau khi

xử lý để đánh giá so với QCVN 40:2011/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia

về nước thải công nghiệp)

 Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý môi trường tại ba công ty nghiên cứutại khu công nghiệp Lễ Môn, tỉnh Thanh Hóa

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Phạm vi không gian: 3 công ty: Công ty TNHH Giầy Sunjade Việt Nam, Công ty TNHH MTV sữa Lam Sơn, Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản thuộc khu công nghiệp Lễ Môn,tỉnh Thanh Hóa

- Phạm vi thời gian: năm 3/2016 - 4/2017

Trang 15

PHẦN 2.TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 CÁC KHÁI NIỆM CHUNG

2.1.1 Khái niệm khu công nghiệp

Theo nghị định 29/2008/NĐ-CP của chính phủ quy dịnh về thành lập, hoạt động, chính sách và quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX), khu kinh tế (KKT), KKT cửa khẩu thì KCN được định nghĩa như sau: “Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này”

Sự phát triển của các KCN sẽ đưa đến sự tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và nâng cao mức sống của nhân dân Tuy nhiên, quá trình này cũng sẽ gây áp lực mạnh mẽ cho môi trường

2.1.2 Định nghĩa quản lý môi trường

Quản lý môi trường là một hoạt động nhằm vào việc tổ chức thực hiện cũng như giám sát các hoạt động bảo vệ, cải tạo và phát triển các điều kiện môi trường và khai thác sử dụng tài nguyên một cách tối ưu Theo một số tác giả, thuật ngữ về quản lý môi trường gồm hai nội dung chính: quản lý Nhà nước về môi trường và quản lý của các công ty, khu vực dân cư về môi trường Trong đó nội dung thứ 2 có mục tiêu chủ yếu là tăng cường hiệu quả của hệ thống sản xuất

và bảo vệ sức khỏe người lao động, dân cư sống trong khu vực chịu ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất

Theo tác giả Trần Thanh Lâm (2006) thì “Quản lý môi trường là sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý môi trường lên cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành các hoạt động phát triển trong hệ thống môi trường và các khách thể quản lý môi trường, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý môi trường đã đề ra, phù hợp với pháp luật và thông lệ hiện hành”; theo Lưu Đức Hải (2005) “Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội có tác dụng điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người; xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới sự phát triển bền vững và sử dụng hợp

lý tài nguyên”

Trang 16

Quản lý môi trường được thực hiện bằng tổng hợp các biện pháp luật pháp chính sách, kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, xã hội, văn hóa giáo dục các biện pháp

có thể đan xen, phối hợp tích cực với nhau tùy theo điều kiện cụ thể của vấn đề đặt ra Việc thực hiện quản lý môi trường được thực hiện ở mọi quy mô: toàn câu, khu vực, quốc gia, vùng, tỉnh, huyện (Hồ Thị Lam Trà, 2009)

2.1.2.2 Phân loại công cụ quản lý môi trường và ưu nhược điểm của các công

cụ quản lý

Việc phân loại công cụ quản lý môi trường theo chức năng và theo bản chất

 Dựa theo chức năng, công cụ quản lý môi trường được phân ra thành 3 nhóm công cụ:

 Nhóm điều chỉnh vĩ mô: Phạm vị điều chỉnh rộng lớn, bao gồm luật pháp, chính sách

 Nhóm công cụ hành động: Phạm vi điều chỉnh trong lĩnh vực cũ thể, gồm các công cũ hạnh chính, xử phạt vi phạm môi trường trong kinh tế, sinh hoạt; công cụ kinh tế, có tác động trực tiếp đến lợi ích kinh tế- xã hội của cơ sở sản xuất kinh doanh

 Nhóm phụ trợ: Là các công cụ không có tác động điều chỉnh hoạc không tác động trực tiếp tới hoạt đông Các công cụ này dùng để quan sát, giám sát các hoạt động gây ô nhiễm, giáo dục con người trong xã hội Công cụ phụ trợ

có thể là các công cụ kỹ thuật như GIS, mô hình hóa

 Dựa theo bản chất, công cụ quản lý môi trường được phân loại như sau:

 Công cụ luật pháp - chính sách: Bao gồm các quy định pháp luật và chính sách môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên như các bộ luật về môi trường, nhà nước

Các định hướng cơ bản của công cụ luật pháp – chính sách là xây dựng

Trang 17

văn bản pháp quy về Bảo vệ môi trường; chấn chỉnh, tăng cường công tác xây dựng, ban hành và hướng dẫn tiêu chuẩn môi trường; tạo cơ chế, chính sách trong lĩnh vực môi trường

Công cụ luật pháp mang tính chất cưỡng chế cao và phạm vi điều chỉnh rộng lớn, có vai trò định hướng và điều chỉnh thực hiện đối với các loại công cự khác nhau Nhược điểm của công cụ luật pháp là cứng nhắc và ít linh hoạt

Công cụ chính sách gồm tổng thể các quan điểm, chuẩn mực, các biện pháp, thủ thuật mà nhà nước sử dụng nhằm đạt được những mục tiêu chiến lược của đất nước

 Công cụ kinh tế: Là những phương tiện, biện pháp có tác dụng làm thay đổi chi phí và lợi ích của các hoạt động kinh tế, thường xuyên tác động đến môi trường nhằm mục đích tăng cường ý thức trách nhiệm trước việc gây ra sự hủy hoại môi trường

Công cụ kinh tế sử dụng sức mạnh thị trường để đưa ra các quy định nhằm đặt được mục tiêu môi trường, từ đó có cách ứng xử hiệu quả chi phí bảo vệ môi trường

Các công cụ kinh tế quan trọng bao gồm: thuế tài nguyên và thuế môi trường, phí và lệ phí môi trường, nhãn sinh thái và quỹ môi trường

Ưu điểm: công cụ kinh tế môi trường giúp duy trì sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường; tạo điều kiện để các công ty xây dựng kế hoạch sản xuất phù hợp

Nhược điểm: tuy nhiên, để phát huy hiệu lực công cụ kinh tế cần có những điều kiện sau: Nền kinh tế thị trường thực sự: hàng hóa tự do trao đổi theo chất lượng và giá trị; Chính sách và các quy định pháp luật chặt chẽ để có thể kiểm soát và điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh gây ra ô nhiễm; hiệu lực cao của các tổ chức quản lý môi trường từ trung ương đến địa phương; thu nhập bình quân cao đủ để đảm bảo tài chính cho vấn đề quản lý môi trường

Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường là một phần của chính sách môi trường Do đó, cần luôn được nghiên cứu để hoàn thiện, tránh sự phản ứng của nhà sản xuất và người tiêu thụ Công cụ kinh tế môi trường có tác động rất mạnh đến sự điều chỉnh chính sách kinh tế và môi trường ở các nước phát triển

Do vậy, cần phải nghiên cứu áp dụng chúng trong mọi hoạt động kinh tế xã hội ở quy mô lâu dài

Trang 18

 Công cụ kỹ thuật: có tác động trực tiếp vào các hoạt động tạo ra ô nhiễm hoặc quản lý chất ô nhiễm trong quá trình hình thành và vận hành hoạt động sản xuất

Các công cụ kỹ thuật quản lý gồm các công cụ đánh giá tác động môi trường, quan trắc môi trường, kiểm toán môi trường, quy hoạch môi trường, công nghệ xử lý các chất thải, tái chế và sử dụng Các công cụ này có tác động mạnh tới việc hình thành và hành vi phân bố chất ô nhiễm trong môi trường, có thể được thực hiện thành công trong bất kỳ một nền kinh tế phát triển nào

 Công cụ phụ trợ: không tác động trực tiếp vào quá trình sản xuất sinh ra chất ô nhiễm hoặc điều chỉnh vĩ mô quá trình sản xuất này, có thể bao gồm: GIS, mô hình hóa môi trường, giáo dục và truyền thông về môi trường (Ngô Thế Ân, 2012) 2.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA KCN Ở VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI

2.2.1 Qúa trình hình thành và phát triển các KCN

Phát triển kinh tế cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa toàn cầu kết hợp với sự gia tăng dân số đã làm cho lượng chất thải tạo thành ngày càng tăng Trong đó, lượng chất thải được tạo ra nhiều nhất tại các nước phát triển, đặc biệt là chất thải tại các khu công nghiệp

KCN đã có một quá trình hình thành và phát triển hơn 100 năm nay KCN hiện nay có nguồn gốc từ dạng cổ điển, sơ khai là “cảng tự do”, bắt đầu được biết đến từ thế kỷ 16 như Leghoan và Genoa ở Italia Cảng tự do – cảng mà tại đó áp dụng “quy chế ngoại quan”, cảng tự do được thành lập với mục đích ủng hộ tự do thông thương, hàng hóa từ nước ngoài vào và từ cảng đi ra, được vận chuyển một cách tự do mà không phải chịu thuế Chỉ khi hàng hóa vào nội địa mới phải chịu thuế quan Các cảng tự do đã đóng vai trò thúc đẩy nền ngoại thương của các nước, hình thành các đô thị, trung tâm thương mại, dịch vụ như New York, singapore và dần dần khái niệm cảng tự do đã được mở rộng, vận dụng thành loại hình mới là KCN (Nguyễn Bình Giang, 2012)

Anh là nước công nghiệp đầu tiên và là KCN đầu tiên được thành lập năm

1896 ở Manchester và sau đó là vùng công nghiệp Chicago (Mỹ), KCN Napoli (Ý) vào những năm đầu thập kỷ 40 của thế kỷ trước Đến những năm 50, 60 của thế kỷ XX, các vùng công nghiệp và các KCN phát triển nhanh chóng và rộng khắp các nước công nghiệp như là một hiện tượng lan tỏa, tác động và ảnh

Trang 19

hưởng Vào thời kỳ này, Mỹ có 452 vùng công nghiệp và gần 1000 khu công nghiệp, Pháp có 230 vùng công nghiệp, Canada có 21 vùng công nghiệp Tiếp theo các nước công nghiệp đi trước, vào năm 60, 70 của thế kỷ trước, hàng loạt các KCN và KCX hình thành và phát triển nhanh chóng ở các nước công nghiệp hóa thế hệ sau như: Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Malaysia, Thái Lan cũng trong thời kỳ này, các nước XHCN trước đây, Liên Xô, Đức, Tiệp Khắc đang tiến hành xây dựng các xí nghiệp liên hợp, các cụm công nghiệp lớn, các trung tâm công nghiệp tập trung Mặc dù có thể dưới những tên gọi khác nhau gắn với tính đặc thù của ngành sản xuất, nhưng chúng đều có những tính chất, đặc trưng chung của khu công nghiệp (Đặng Văn Thắng, 2012)

Tại Thái Lan, KCN đầu tiên được thành lập năm 1972, đó là khu Bangchan rộng khoảng 108 ha ở huyện Min Buri của Bangkok Cùng năm, Ban quản lý các KCN Thái Lan (IEAT) được thành lập Hiện nay, IEAT đang quản lý hoặc cùng quản lý 38 khu công nghiệp đang hoạt động phân bố ở Bangkok và 14 tỉnh khác, với 400.000 lao động trong 3300 công ty Ngoài ra, còn có các KCN

do chính quyền địa phương và tư nhân tự phát triển

Tại Maylaisia, số lượng các KCN đang hoạt động tăng lên nhanh chóng từ con số 0 năm 1970 lên 105 năm 2002 Trong khi đó, ở các vùng phát triển, con

số các khu công nghiệp đã tăng từ con số 8 năm 1970 lên 188 năm 2002 và hầu như các KCN được đặt tại các trung tâm tăng trưởng quan trọng

Tại Indonesia, tính đến tháng 11/2007, Indonesia có 225 KCN đang hoạt động với tổng diện tích 75457 ha, hầu hết trên đảo Java Số lượng các KCN ở Indonesia tăng mạnh từ năm 1990 đến khi khủng hoảng 1997 nở ra Từ năm

2003, khi hiệp định thương mại tự do ASIAN có hiệu lưc, các KCN phát triển khá mạnh trở lại Tuy nhiên tỉ lệ lấp đầy khá thấp, bình quân khoảng 42% vào năm 2006

Vào đầu những năm 1990, các KCN đã được xây dựng tràn lan tại Trung Quốc Đến cuối năm 1991, Trung Quốc chỉ có 117 KCN Tuy nhiên, con số này

đã lên đến 2700 vào cuối năm 1992 và các khu này được phê duyệt từ các cấp khác nhau, từ cấp chính quyền Trung Ương, cấp tỉnh, thành phố, thị trấn cho đến cấp quận Và nhiều khu thậm chí mà không có cấp chính quyền nào phê chuẩn

Và trong những năm gần đây, trước chiến lược mới của Trung Quốc nhằm phát triển miền tây nước này, nhiều KCN mới chính thức được chính quyền Trung Ương phê duyệt Do vậy, số lượng các KCN lại có cơ hội bùng nổ lần nữa Theo

Trang 20

Bộ Tài nguyên và đất đai, trong số 3.837 KCN chỉ có 6% được phê duyệt bởi Quốc vụ viện và 26,6% được phê duyệt bởi chính quyền cấp tỉnh (Nguyễn Bình Giang, 2012)

Ở Việt Nam, tuy khu công nghiệp xuất hiện khá muộn nhưng lại phát triển khá nhanh Khu chế xuất (KCX) Tân Thuận thành lập tháng 11/1991 là KCN đầu tiên của cả nước Tiếp theo là KCX Linh Trung 1 thành lập năm 1992 Cả hai khu này đều ở Thành phố Hồ Chí Minh để khai thác lợi thế nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng giao thông Giai đoạn 1991 – 1994 chỉ có 12 khu chế xuất và khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích tự nhiên 2.360 ha Sau giai đoạn này, việc thành lập các KCN, KCX được đẩy nhanh, cụ thể trong 5 năm 1996 –

2000 thành lập 53 KCN, KCX với tổng diện tích so với kế hoạch 5 năm 1991 – 1995; (Nguyễn Bình Giang, 2012)

Tính tới tháng 3/2011 thì cả nước có 260 KCN đã được thành lập với tổng diện tích hơn 71.000 ha, trong đó có 173 KCN đã đi vào hoạt động, 87 KCN đang giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản Trong đó, 105 KCN đã xây dựng

và đi vào vận hành công trình xử lý nước thải tập trung, chiếm 60% tổng số các KCN đã đi vào hoạt động Ngoài ra, còn 43 KCN đang xây dựng công trình xử lý nước thải tập trung và dự kiến đưa vào vận hành trong thời gian tới (Vũ Quốc Huy, 2011) Tháng 12/2011, đã có 118 KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung, chiếm 65% tổng số KCN đã vận hành và hơn 30 KCN đang xây dựng công trình xử lý nước thải tập trung Và tính đến tháng 9 năm 2012 trong cả nước có

283 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 80.100 ha (Vũ Đại Thắng, 2012)

Hình 2.1 tình hình phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam

Trang 21

Các KCN được thành lập trên 58 tỉnh, thành phố trên cả nước, được phân

bố trên cơ sở phát huy lợi thế địa kinh tế, tiềm năng các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời phân bố ở mức độ hợp lý một số KCN ở các vùng có điều kiện kinh tế-

xã hội khó khăn hơn nhằm tạo điều kiện cho ngành công nghiệp địa phương từng bước phát triển Quy mô các KCN, KCX đa dạng và phù hợp với điều kiện, trình

độ phát triển cụ thể của mỗi địa phương Quy mô trung bình của các KCN, KCX đến 12/2011 là 268ha Các vùng có điều kiện tương đối khó khăn, ít có lợi thế phát triển công nghiệp quy mô KCN, KCX trung bình thấp hơn các vùng khác, như vùng trung du miền núi phía Bắc (154,9 ha), Tây Nguyên (157,6 ha), vùng Đông Nam Bộ có quy mô KCN trung bình cao nhất (378,3 ha)

Tỷ lệ lấp đầy của các KCN khá đồng đều giữa các vùng trên cả nước Tỷ

lệ lấp đầy tính chung cho các KCN đã vận hành và đang xây dựng cơ bản của các vùng dao động trong khoảng 50-60%; nếu tính riêng các KCN đã vận hành thì ở mức 65-75% Một số vùng phát triển KCN từ lâu như Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ lấp đầy của các KCN đã vận hành ở mức cao Tính trung bình: Đông Nam Bộ (bao gồm cả Long An) 73%, đồng bằng sông Hồng 73%, đồng bằng sông Cửu Long 89% (Bộ Tài nguyên & Môi trường)

2.2.2 Vai trò của KCN với sự phát triển kinh tế xã hội

Trong những năm mới phát triển, khu công nghiệp được xem là một mô hình quy hoạch công nghiệp Khu công nghiệp được sử dụng như một công cụ phát triển kinh tế, và mục đích kinh tế này này ngày càng được chú trọng, đặc biệt là các nước đang phát triển Vì vậy, ngay từ rất sớm, một số nước đang phát triển ở Đông Nam Á cũng đã có số lượng KCN tăng lên đáng kể nhằm tạo bước đột phá trong nền kinh tế của họ Hoạt động của các KCN một mặt mang lại lợi ích kinh tế, mặt khác lại phát sinh tác hại môi trường do hoạt động công nghiệp

đã không được quan tâm đúng mức trong một thời gian dài

2.3 THỰC TRẠNG PHÁT SINH CHẤT THẢI RẮN, NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM

2.3.1 Thực trạng phát sinh nước thải công nghiệp

 Đặc trưng nước thải KCN:

Sự gia tăng nước thải từ các KCN trong những năm gần đây là rất lớn Tốc

độ gia tăng này cao hơn nhiều so với sự gia tăng tổng lượng nước thải từ các lĩnh vực trong toàn quốc

Trang 22

Hình 2.2 tỷ lệ gia tăng lượng nước thải từ các KCN và tỷ lệ gia tăng tổng

lượng nước thải từ các lĩnh vực trong toàn quốc Thành phần nước thải của các KCN chủ yếu bao gồm các chất lơ lửng (SS), chất hữu cơ (thể hiện qua hàm lượng BOD, COD), các chất dinh dưỡng (biểu hiện bằng hàm lượng tổng Nitơ và tổng Phốtpho) và kim loại nặng

Chất lượng nước thải đầu ra của các KCN phụ thuộc rất nhiều vào việc nước thải có được xử lý hay không Hiện nay, tỷ lệ các KCN đã đi vào hoạt động

có trạm xử lý nước thải tập trung chỉ chiếm khoảng 43%, rất nhiều KCN đã đi vào hoạt động mà hoàn toàn chưa triển khai xây dựng hạng mục này Nhiều KCN

đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng tỷ lệ đấu nối của các công ty trong KCN còn thấp Nhiều nơi công ty xây dựng hệ thống xử lý nước thải cục

bộ nhưng không vận hành hoặc vận hành không hiệu quả Thực trạng trên đã dẫn đến việc phần lớn nước thải của các KCN khi xả thải ra môi trường đều có các thông số ô nhiễm cao hơn nhiều lần so với quy chuẩn Việt Nam(QCVN)

Hàm lượng cặn lơ lửng trong nước thải KCN thường xuyên vượt ngưỡng cho phép Kết quả phân tích mẫu nước thải từ các KCN cho thấy, nước thải các KCN có hàm lượng các chất lơ lửng (SS) cao hơn QCVN từ 2 lần (KCN Hòa Khánh) đến hàng chục lần (KCN Điện Nam– Điện Ngọc), thậm chí có nơi đến hàng trăm lần

Giá trị các thông số BOD5 tại cống xả của các KCN thường ở mức khá cao Một số KCN khi lắp đặt hệ thống xử lý nước thải tập trung, các thông số này

đã giảm đi đáng kể (KCN Tiên Sơn, Bắc Ninh) Tuy nhiên, với các KCN chưa có

hệ thống xử lý nước thải tập trung, các thông số này không đạt yêu cầu QCVN (KCN Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng)

Trang 23

Hình 2.3 Hàm lượng BOD5 trong nước thải của một số KCN năm 2008

Hình 2.4 Hàm lượng Coliform trong nước thải một số KCN năm 2008

Nguồn: TCMT (2008)

Các kết quả khảo sát cho thấy hàm lượng Coliform trong nước thải từ các KCN rất cao, có nơi vượt QCVN rất nhiều lần

 Tác động của nước thải do hoạt động của các KCN:

Cùng với nước thải sinh hoạt, nước thải từ các KCN đã góp phần làm cho tình trạng ô nhiễm tại các sông, hồ, kênh, rạch trở nên trầm trọng hơn Những nơi tiếp nhận nước thải của các KCN đã bị ô nhiễm nặng nề, nhiều nơi nguồn nước không thể sử dụng được cho bất kỳ mục đích nào Tình trạng ô nhiễm không chỉ dừng lại ở hạ lưu các con sông mà lan lên tới cả phần thượng lưu theo sự phát triển của các KCN Kết quả quan trắc chất lượng nước cả 3 lưu vực sông Đồng Nai, Nhuệ - Đáy và Cầu đều cho thấy bên cạnh nguyên nhân do tiếp nhận nước

Trang 24

thải sinh hoạt từ các đô thị trong lưu vực, những khu vực chịu tác động của nước thải KCN có chất lượng nước sông bị suy giảm mạnh, nhiều chỉ tiêu như BOD5, COD, NH4+, tổng N, tổng P đều cao hơn QCVN nhiều lần Nếu công tác bảo vệ môi trường không được đầu tư đúng mức thì chính các KCN trở thành nguồn thải

ra môi trường một lượng lớn các chất thải gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ, cuộc sống của cộng đồng xung quanh và tác động xấu lên các hệ sinh thái khác

Bảng 2.1 Ước tính tổng lượng nước thải và thải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải từ các KCN thuộc các tỉnh của 4 vùng KTTĐ năm 2009

TT Khu vực nước thải lượng

Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia (2009)

Trang 25

Đặc biệt là ô nhiễm môi trường nước do nước thải từ các KCN có thành phần rất đa dạng, chủ yếu là các chất lơ lửng, chất hữu cơ, dầu mỡ và một số kim loại nặng Khoảng 70% trong số hơn 1 triệu m3 nước thải /ngày từ các KCN được

xả thẳng ra các nguồn tiếp nhận không qua xử lý đã gây ra ô nhiễm môi trường nước mặt và môi trường nước ngầm Lượng nước thải từ các KCN phát sinh lớn nhất ở khu vực Đông Nam Bộ chiếm 49% tổng lượng nước thải các KCN và thấp nhất ở khu vực Tây Nguyên – 2%

* Hệ thống sông Đồng Nai:

Ô nhiễm nước mặt tập trung chủ yếu dọc các đoạn sông chảy qua các tỉnh thuộc vùng KTTĐ phía Nam nơi các KCN phát triển mạnh

Hình 2.5 Tần suất số lần đo vượt TCVN của một số thông số tại sông Đồng

Nai đoạn qua Tp Biên Hoà

Nguồn: Sở TN&MT Đồng Nai (2008)

* Lưu vực sông Cầu

Nhiều đoạn sông thuộc LVS Cầu đã bị ô nhiễm nặng Ô nhiễm cao nhất là đoạn sông Cầu chảy qua địa phận thành phố Thái Nguyên, đặc biệt là tại các điểm thải của Nhà máy Giấy Hoàng Văn Thụ, Khu Gang thép Thái Nguyên

Trang 26

Hình 2.6 Hàm lượng NH4+ trên sông Cầu đoạn chảy qua

Thái Nguyên năm 2008

- * Lưu vực sông Cà Lồ

Hiện tại tỉnh Vĩnh Phúc có 07 KCN đã có chủ đầu tư xây dựng hạ tầng KCN với 116 dự án đã được cấp phép đầu tư vào các KCN, trong đó có 90 dự án

đã đi vào hoạt động, 24 dự án đang xây dựng và 02 dự án chưa xây dựng

Các KCN hiện nay đang là các khu vực phát sinh một lượng lớn nước thải

có nồng độ các chất ô nhiễm cao, làm ảnh hưởng đến chất lượng nước mặt Theo kết quả quan trắc môi trường năm 2009 hầu hết nước thải của các KCN có các thông số vượt tiêu chuẩn cho phép.Sông Cà Lồ là nơi tiếp nhận toàn bộ nước thải của các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, do đó ảnh hưởng của nước thải trong KCN chủ yếu tác động đến thủy vực của Sông Cà Lồ Theo kết quả quan trắc môi trường năm 2009 các thủy lực này đều bị ô nhiễm bởi các chất hữu cơ, Amoni, coliform và mức độ ô nhiễm tăng qua hàng năm

* Lưu vực sông Nhuệ - Đáy

Hiện nay, Hà Nội là địa phương có lượng nước thải công nghiệp đóng góp nhiều nhất: 56.100 m3/ngày đêm chiếm 60% tổng lượng nước thải ra lưu vực sông Nhuệ, chỉ tính riêng ngành công nghiệp hóa chất Hà Nội đã đóng góp 26.000 m3 nước thải ngày đêm Đứng thứ hai là các huyện như Đan Phượng, Hoài Đức, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa, Phú Xuyên chiếm 28% và tỉnh Hà Nam chiếm 12%

Theo kết quả phân tích chất lượng nước sông Nhuệ của Viện quy hoạch Thủy Lợi (2013), hầu hết các điểm tiếp nhận nước thải từ các khu công nghiệp

Trang 27

đều vượt QCVN 08 (cột B1) Hầu hết các đoạn sông đều đang ô nhiễm chất hữu

cơ, nhu cầu oxy hóa hóa học (COD) đạt trung bình 47,3±27,7 mg/l, vượt QCVN

08 từ 1 đến 3 lần Hàm lượng BOD5 đạt trung bình 33,7±20,8 mg/l, vượt QCVN

từ 1,3 đến 4,7 lần Do thường xuyên tiếp nhận một lượng lớn chất hữu cơ dẫn tới nồng độ oxy hòa tan tại một số điểm chỉ đạt khoảng 2 mg/l (QCVN 4mg/l), cá biệt có một số điểm như đập Đồng Quan, cầu Tó còn ghi nhận giá trị DO dưới 1 mg/l Các dinh dưỡng thuộc nhóm N như NH4+, NO2-, NO3- hay vi khuẩn Coliform có xu hướng diễn biến tăng dần từ thượng lưu, bắt đầu từ khi có các nguồn thải gia nhập đặc biệt là các nguồn thải lớn như sông Đăm, sông Cầu Ngà, sông Tô Lịch, kênh AI.17, kênh Phú Đô (trạm bơm Đồng Bông), kênh Xuân La v.v Hàm lượng các chất ô nhiễm thường tăng dần và đạt cực đại tại vị trí cầu Xém hoặc đập Đồng Quan tuỳ thuộc vào lưu lượng đến của dòng nước thải từ sông Tô Lịch và lưu lượng từ trên đưa xuống Hàm lượng coliform cũng đang ở mức báo động, cá biệt tại một số điểm coliform vượt QCVN từ 7,8 đến 11,6 lần

Hình 2.7 Kết quả quan trắc lưu vực sông Nhuệ - Đáy năm 2013

2.3.2 Thực trạng phát sinh phế thải rắn công nghiệp

 Lượng phế thải rắn phát sinh tại các khu công nghiệp

Tổng lượng phế thải rắn trung bình của cả nước đã tăng từ 25.000 tấn/ngày

Trang 28

(năm 1999) lên khoảng 30.000 tấn/ngày (năm 2005), trong đó lượng phế thải rắn

từ hoạt động công nghiệp cũng có xu hướng gia tăng, phần lớn tập trung tại các KCN ở vùng KTTĐ Bắc Bộ và vùng KTTĐ phía Nam Trong những năm gần đây, cùng với sự mở rộng của các KCN, lượng phế thải rắn từ các KCN đã tăng đáng kể, trong đó, lượng chất thải nguy hại gia tăng với mức độ khá cao

Chất thải rắn phát sinh từ các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao (gọi chung là khu công nghiệp) bao gồm CTR sinh hoạt và CTR công nghiệp Trong đó, CTR công nghiệp được chia thành CTR thông thường và chất thải rắn nguy hại Lượng CTR phát sinh từ các KCN phụ thuộc vào diện tích cho thuê, diện tích sử dụng, tính chất và loại hình công nghiệp của KCN Tính chất

và mức độ phát thải trên đơn vị diện tích KCN hiện tại chưa ổn định do tỷ lệ lấp đầy còn thấp, quy mô và tính chất của các loại hình doanh nghiệp vẫn đang có biến động lớn

Bảng 2.2 Ước tính và dự báo CTR các KCN của Việt Nam đến 2020

Tổng diện tích cho thuê (ha)

Lượng CTR Phương án 1 ( tấn/năm)

Lượng CTR Phương án 2 (tấn/năm) Năm

2005 24950 16663 7433 996.022 996.022 Năm

2010 58389 34171 161253 3.225.000 3.225.000 Năm

2015 70000 50000 30000 6.000.000 7.500.000 Năm

phát thải năm của mỗi ha (tấn/ha/năm) x tổng diện tích cho thuê

Theo Vụ quản lý các khu kinh tế thuộc bộ Kế hoạch và Đầu tư, mỗi ngày các KCN Việt Nam hiện nay thải ra khoảng 8.000 tấn CTR, tương đương khoảng gần 3 triệu tấn CTR mỗi năm Tuy nhiên, lượng CTR đang tăng lên cùng với việc gia tăng tỷ lệ lấp đầy các KCN Tính trung bình cả nước, năm 2005 – 2006, 1ha

Trang 29

diện tích đất cho thuê phát sinh CTR khoảng 134 tấn/năm Đến nay 2008 – 2009, con số đó đã tăng lên 204 tấn/năm, mức tăng khoảng 50% tức trung bình 10% mỗi năm Sự gia tăng phát thải trên đơn vị diện tích phản ánh sự thay đổi trong

cơ cấu sản xuất công nghiệp, xuất hiện các ngành có mức phát thải cao và quy

mô ngày càng lớn tại các KCN Tại 3 vùng kinh tế trọng điểm chiếm khoảng 80% tổng lượng CTR công nghiệp, trong đó lớn nhất là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam [Báo cáo môi trường quốc gia 2011]

Theo kết quả tính, tổng phát thải CTR từ các KCN năm 2015 sẽ vào khoảng 6 – 7,5 triệu tấn/năm, và đạt khoảng 9 – 13,5 triệu tấn/năm vào năm

2020 Theo đánh giá của các chuyên gia, thành phần chất thải rắn KCN có thể thay đổi theo hướng gia tăng CTR nguy hại Kết quả của quá trình gia tăng mức

độ công nghiệp hóa và sử dụng hóa chất ngày càng cao [Báo cáo môi trường quốc gia 2011]

 Tác động của phế thải rắn do hoạt động của các KCN

Hoạt động sản xuất tại các KCN đã phát sinh lượng không nhỏ chất thải rắn và chất thải nguy hại Thành phần, khối lượng phụ thuộc vào loại hình công nghiệp đầu tư.Qua khảo sát một số KCN cho thấy, trong thành phần chất thải rắn của các KCN, tỷ lệ chất thải nguy hại thường chiếm dưới 20% nếu được phân loại tốt, trong đó tỷ lệ các chất có thể tái chế hay tái sử dụng cũng khá cao (kim loại, hóa chất ) và những thành phần có nhiệt trị cao không nhiều (sơn, cao

su ) Tuy nhiên trên thực tế cũng cần lưu ý vì có nhiều KCN mới nhất là ngành điện tử tỷ lệ chất thải nguy hại có thể vượt con số 20% [2]

Tổng lượng chất thải rắn trung bình của cả nước đã tăng từ 25.000 tấn/ngày ( năm 1999) lên khoảng 30.000 tấn/ngày ( năm 2005), trong đó lượng chất thải rắn từ hoạt động công nghiệp có xu hướng gia tăng, phần lớn tập trung tại các KCN ở vùng KTTĐ Bắc Bộ và vùng KTTĐ phía Nam Trong những năm gần đây, cùng với sự mở rộng của các KCN, lượng chất thải rắn từ các KCN đã tăng đáng kể Trong đó lượng chất thải nguy hại gia tăng với mức độ khá cao Biểu đồ Theo số liệu tính toán, chất thải rắn phát sinh từ các KCN phía Nam chiếm tỷ trong lớn nhát so với các vùng khác trong toàn quốc, lên tới gần 3.000 tấn /ngày Lượng chất thải nguy hại phát sinh ở vùng KTTĐ phía Nam nhiều gấp

3 lần lượng chất thải nguy hại phát sinh ở vùng KTTĐ Bắc Bộ và nhiều gấp khoảng 20 lần lượng chất thải nguy hại phát sinh ở vùng KTTĐ miền Trung

Trang 30

Hàng năm các khu sản xuất, KCN thải ra khối lượng chất thải rất lớn Khối lượng chất thải phát sinh do quá trình sản xuất, sinh hoạt của công nhân viên nhà máy nếu như không được xử lý triệt để sẽ gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay để giảm bớt chi phí

xử lý cũng như do nhận thức về công tác BVMT của một số lãnh đạo các doanh nghiệp chưa tốt nên tình trạng xả thải chất thải trực tiếp chưa qua xử lý vào môi trường diễn ra khá phổ biến Chính điều này đã gây ảnh hưởng tới môi trường sinh thái cũng như ảnh hưởng tới đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân (Vũ Bình, 2013)

Chất thải không qua xử lý được thải trực tiếp ra ngoài môi trường không chỉ gây ô nhiễm môi trường nước mà còn gây ô nhiễm cả môi trường đất Đất bị

ô nhiễm chất độc hại sẽ được tích lũy dần trong cây trồng, thông qua chuỗi thức

ăn mà đi vào trong cơ thể con người và ảnh hưởng tới sức khỏe Ô nhiễm đất chính là một trong những vấn đề lớn, nó ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ em Thiệt hại cho não trong giai đoạn phát triển của trẻ em cũng là kết quả của ô nhiễm chì, thủy ngân làm hư hại thận và chức năng của gan bị ảnh hưởng rất nhiều bởi cyclodiene, một loại thuốc trừ sâu (Phạm Văn Sơn Khanh, 2011)

 Thực trạng việc thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý phế thải rắn tại các KCN:

Theo quy hoạch được duyệt, tất cả các KCN phải có khu vực phân loại và trung chuyển phế thải rắn Tuy nhiên, rất ít KCN triển khai hạng mục này Điều này đã khiến cho công tác quản lý phế thải rắn ở các KCN gặp không ít khó khăn Do hầu hết các KCN chưa có điểm tập trung thu gom phế thải rắn nên các công ty trong KCN thường hợp đồng với các Công ty môi trường đô thị tại địa phương, hoặc một số công ty có giấy phép hành nghề để thu gom và xử lý phế thải rắn Việc đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại cũng do các công ty chủ động đăng ký với Sở TN&MT cấp tỉnh

Việc thu gom, vận chuyển và xử lý phế thải rắn, chất thải nguy hại từ các KCN của các công ty đã được cấp giấy phép hành nghề vẫn còn nhiều vấn đề Nhiều công ty có chức năng thu gom và xử lý chất thải nguy hại đã triển khai các hoạt động tái chế thu lại tài nguyên có giá trị sử dụng từ những chất thải này Mục tiêu của những hoạt động tái chế này có thể là thu hồi nhiệt từ các chất thải

có nhiệt trị cao,thu hồi kim loại màu (Ni, Cu, Zn, Pb ), nhựa, dầu thải, dung môi, một số hóa chất Tuy nhiên do công nghệ chưa hoàn chỉnh, trong một số trường hợp là chưa phù hợp, nên hiệu quả thu hồi và tái chế chưa cao, có trường

Trang 31

hợp gây ô nhiễm thứ cấp, đặc biệt đối với dầu và dung môi Nghiêm trọng hơn một số công ty không thực hiện xử lý chất thải nguy hại mà sau khi thu gom lại

đổ lẫn vào cùng chất thải thông thường hoặc lén lút đổ xả ra môi trường

2.4 CÔNG TÁC QUẢN LÝ PHẾ THẢİ RẮN, NƯỚC THẢİ KCN TẠI VIỆT NAM VÀ THANH HÓA

2.4.1 Hệ thống quản lý môi trường tại các KCN

Trong những năm gần đây công nghiệp phát triển mạnh mẽ, Nhà nước đã

có những chiến lược quy hoạch phát triển các KCN, đa dạng hóa các ngành nghề sản xuất để đáp ứng nhu cầu của thị trường và nâng cao tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường trong sản xuất kinh doanh

Thực trạng quản lý môi trường (QLMT) trong sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ngoài nguyên nhân chủ yếu là do công nghệ sản xuất lạc hậu thì yếu kém trong công tác quản lý môi trường cũng là một nguyên nhân không kém phần quan trọng Công tác QLMT vẫn còn nhiều bất cập, đội ngũ cán

bộ quản lý còn thiếu quá nhiều không đủ để có thể giám sát và kiểm tra được đầy

đủ các hoạt động của các cơ sở sản xuất đang hoạt động Bên cạnh đó, do hạn chế về trình độ hiểu biết và kỹ năng thực hành của đội ngũ kỹ sư, cán bộ kỹ thuật

và công nhân vận hành yếu kém nên hiệu suất sử dụng các loại máy móc thiết bị thực tế trong các cơ sở sản xuất công nghiệp chỉ đạt tối đa 70-80% công suất, nhiều dây chuyền thiết bị đã qua sử dụng có ứng dụng công nghệ tự động điều khiển cũng chỉ đạt hiệu suất sử dụng 50 – 60%

Hiện nay, nước ta đã có chính sách phát triển công nghiệp gắn liền với bảo

vệ môi trường Các văn bản pháp luật, pháp quy có liên quan về quản lý môi trường, QLMT trong và ngoài KCN đã được ban hành, có sự phân cấp quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong KCN Một số công cụ kinh tế đã được áp dụng như: thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, phế thải rắn, thuế tài nguyên và thuế môi trường; thực hiện việc thanh kiểm tra, giám sát chất lượng môi trường theo định kỳ trong năm

Theo Luật Bảo vệ môi trường (2014) và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật, liên quan đến quản lý môi trường KCN có các đơn vị sau: Bộ TN&MT (đối với các KCN và các dự án trong KCN có quy mô lớn); UBND tỉnh (đối với KCN và các dự án trong KCN có quy mô thuộc thẩm quyền phê duyệt của tỉnh), UBND

Trang 32

huyện (đối với một số dự án quy mô nhỏ) và một số Bộ, ngành khác (đối với một số

dự án có tính đặc thù)

Bên cạnh đó, cũng theo Luật Bảo vệ môi trường và các Nghị định của Chính phủ, liên quan đến bảo vệ môi trường và quản lý môi trường của các KCN còn có: Ban quản lý các KCN; chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng kỹ thuật KCN; các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong KCN phối hợp với Bộ TN&MT, Sở TN&MT thực hiện việc thanh tra và xử lý vi phạm về bảo

vệ môi trường trong KCN

Sở TN&MT thực hiện chức năng quản lý nhà nước về môi trường, chủ trì công tác thanh tra việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường và các nội dung của Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM theo thẩm quyền; chủ trì hoặc phối hợp với BQL các KCN tiến hành kiểm tra công tác bảo vệ môi trường trong KCN; phối hợp giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về bảo vệ môi trường KCN…

Hình 2.8 Sơ đồ hệ thống quản lý môi trường KCN tại Việt Nam

Nguồn: Bộ TNMT (2009)

Công ty Phát triển hạ tầng KCN có chức năng xây dựng và quản lý cơ sở

hạ tầng KCN; quản lý và vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung, các công trình thu gom, phân loại và xử lý phế thải rắn theo đúng kỹ thuật; theo dõi, giám sát hoạt động xả thải của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ đổ vào hệ thống

xử lý nước thải tập trung của KCN

Trang 33

2.4.2 Chính sách và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý môi trường khu, cụm công nghiệp

Ngày 02/12/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 theo Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg Một trong những mục tiêu cụ thể của Chiến lược là đến năm

2010, 70% các KCN, KCX có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường Định hướng đến năm 2020 là 100% KCN, KCX có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường Rất nhiều các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành quy định nội dung quản lý môi trường KCN nhằm phục

vụ cho Chiến lược Các căn cứ pháp lý và căn cứ kỹ thuật trong quản lý môi trường khu, cụm công nghiệp bao gồm:

Căn cứ pháp lý

- Luật số 55/2014/QH13 ngày 23/06/2014 Luật Bảo vệ môi trường

- Nghị định số 29:2008/NĐ-CP ngày 14/03/2008 của Chính phủ quy định

về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế; Nghị định số 164:2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 29:2008/NĐ-CP

- Nghị định số 80:2014/NĐ-CP ngày 06/08/2014 của Chính phủ quy định

- Thông tư số: 36/2015/TT-BTNMT, ngày 30/06/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại

- Thông tư liên tịch số 45:2010/TTLT-BTC-BTNMT ngày 30/3/2010 giữa Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và môi trường về việc hướng dẫn việc quản

lý kinh phí sự nghiệp môi trường

- Quyết định số 105:2009/QĐ-TTg ngày 19/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý Cụm công nghiệp

- Quyết định số 1419/QĐ –TTg ngày 07/09/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020”

Trang 34

- Quyết định số 269:2015/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 02/03/2015 về việc Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Giang đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

- TCVN 6706:2000: Chất thải nguy hại - Phân loại

- TCVN 6707:2009: Chất thải nguy hại - Dấu hiệu cảnh báo

- TCVN 6696:2009: Chất thải rắn - Bãi chôn lấp hợp vệ sinh - Yêu cầu chung về bảo vệ môi trường

Đánh giá về công tác triển khai và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật

về quản lý môi trường KCN cho thấy nhìn chung vẫn chưa có sự thống nhất các văn bản Đến nay hầu hết các văn bản liên quan tới KCN đều tập trung vào các vấn đề cải thiện môi trường đầu tư còn hành lang pháp lý về QLMT khu công nghiệp rất chậm được ban hành Tại một số địa phương, vấn đề bảo vệ môi trường KCN chưa được quan tâm đúng mức, nhiều vi phạm môi trường diễn ra thường xuyên, nhiều năm nhưng không được xử lý cương quyết Đặc biệt Quyết định 62/QĐ-BKHCNMT vẫn còn nhiều hạn chế như chưa nhất quán trong các quy định và nội dung của quản lý tập trung nước thải Do vậy, thực tiễn đang đặt

ra rất nhiều vấn đề cần điều chỉnh, cụ thể hơn trong các quy định quản lý môi trường KCN

2.4.3 Tình hình quản lý môi trường tại các khu công nghiệp ở Việt Nam

Hiện tại các doanh nghiệp trong KCN chịu quản lý trực tiếp của cả Sở TNMT (công tác thanh tra, kiểm tra môi trường); BQL các KCN (cấp phép đầu

tư và thẩm định ĐTM); chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN (mua bán, cho thuê dịch vụ môi trường) Tuy nhiên các doanh nghiệp trong KCN

có chức năng BVMT trong hàng rào doanh nghiệp và mỗi doanh nghiệp cần bố

Trang 35

trí cán bộ kiểm tra theo dõi công tác BVMT Tùy theo từng loại hình sản xuất trong KCN mà có các biện pháp quản lý môi trường phù hợp cho từng KCN (Tổng cục môi trường, 2009)

Tại các KCN đã triển khai, xây dựng và vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các KCN Bên cạnh đó, cũng có các KCN chưa triển khai, xây dựng

hệ thống xử lý nước thải tập trung hay hiệu quả chưa cao Điển hình như ở Hải Dương, hiện có 9 KCN Trong đó KCN Nam Sách và KCN Đại An, mặc dù đã đầu tư kinh phí xây dựng hệ thống nước thải tập trung, song không đồng bộ hoặc

hệ thống xử lý không tương xứng với lượng nước thải của các doanh nghiệp thải

ra nên chưa vận hành được, 5 KCN khác đã được cấp giấy phép nhưng chưa KCN nào hoàn thành hệ thống xử lý nước thải tập trung (theo Tổng Cục môi trường, 2009)

Tổ chức các đợt thanh tra, kiểm tra, giám sát môi trường của KCN của Bộ TN&MT và Sở TN&MT Áp dụng các công cụ kinh tế vào việc xử phạt các doanh nghiệp vi phạp các văn bản về bảo vệ môi trường Ngoài ra còn sử dụng các công cụ thông tin hay công cụ khác để quản lý KCN

 Kinh nghiệm quản lý môi trường trong KCN

Tại Thừa Thiên- Huế

Tỉnh đã quy hoạch phát triển 6 KCN với tổng diện tích 2168,76 ha, gồm: KCN Phú Bài (giai đoạn I, II, III và IV), thị xã Hương Thủy có diện tích 818,76 ha; KCN Phong Điển, huyện Phong Điển (400 ha); KCN Tứ Hạ, thị xã Hương Trà (250 ha); KCN La Sơn, huyện Phú Lộc (300 ha); KCN Phú Đa, huyện Phú Vang (250 ha) và KCN Quang Vinh, huyện Quảng Điền (150 ha) Đến nay, các KCN đã thu hút 77 dự án đầu tư, tổng số vốn đăng ký là 9.093 tỷ đồng, vốn thực hiện ước đạt 4.053,8 tỷ đồng đạt 44% so với đăng ký, tập trung chủ yếu ở KCN Phú Bài và Phong Điển Các dự án đấu tư vào các KCN đã được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (DIM) và bản cam kết BVMT

Tổng lượng nước thải phát sinh tại các KCN đã được thu gom và xử lý đảm bảo theo tiêu chuẩn quy định Các hoạt động sản xuất của KCN Phú Bài phát sinh lượng nước thải khoảng 2.500 m3/ngày/đêm; toàn bộ khối lượng nước thải này đã được thu gom và xử lý tại Nhà máy xử lý nước thải tập trung, công suất: 4.000 m3/ngày/đêm trước khi xả thải ra môi trường, đạt tỷ lệ 100% (Châu Loan, 2013)

Trang 36

Tại KCN Phong Điền, khối lượng nước thải đạt khoảng 150 m3/ ngày/đêm, khối lượng này cũng đã được thu gom, để xử lý Tại KCN này, Nhà máy xử lý nước thải tập trung cũng đang được xây dựng với công suất: 4.000 m3/ngày/đêm

Ngoài ra, 2 dự án đang hoạt động tại các KCN có sử dụng công nghệ đốt

lò hơi để thu nhiệt phục vụ sản xuất, hầu hết các hoạt động này phát sinh khí thải gây ô nhiễm môi trường Đến nay, tỷ lệ xử lý lượng khí thải đạt 40%

Về công tác thu gom và xử lý chất thải rắn, chất thải nguy hại, lượng chất thải rắn phát sinh tại các KCN hiện nay đạt khoảng 3,5 tấn/ngày/đêm, hầu hết đã được các doanh nghiệp thu gom và hợp đồng với đơn vị có chức năng để xử lý,

tỷ lệ đạt 95% Khối lượng phát sinh chất thải nguy hại khoảng 0,25 tấn/ngày/đêm, tỷ lệ xử lý đạt 70% (Châu Loan, 2013)

Tỉnh đã tiến hành giám sát, quan trắc việc thực hiện các nội dung đã cam kết trong báo cáo ĐTM, cam kết BVMT đã được phê duyệt Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các biện pháp BVMT cũng như việc tuân thủ các quy định về pháp luật BVMT đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh trong các KCN, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật BVMT; đồng thời, không cấp phép cho các dự án, các cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến hệ sinh thái

Ngoài ra, còn tăng cường thu hút đầu tư vào các KCN, CCN theo hướng

ưu tiên những ngành công nghiệp sạch, ít ô nhiễm, đảm bảo cơ cấu ngành nghề phù hợp với khả năng và thực tế giải quyết ô nhiễm của địa phương, thu hút có trọng điểm để phát triển các ngành kinh tế chủ lực cũng như tạo điều kiện thuận lợi trong bố trí nhà máy, xây dựng phương án BVMT Cuối cùng có cơ chế ưu đãi, khuyến khích các doanh nghiệp trong các KCN, CCN thực hiện tốt công tác BVMT (Châu Loan, 2013)

KCN Hoà Xá - tỉnh Nam Định

Công ty Phát triển và Khai thác hạ tầng KCN tỉnh Nam Định được thành lập năm 2003 với diện tích 300ha, là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ban Quản lý các KCN tỉnh Nam Định có chức năng, nhiệm vụ quản lý đầu tư xây dựng và khai thác sử dụng hạ tầng các KCN do Nhà nước và tỉnh đầu tư xây dựng theo tinh thần Nghị định 36/CP của Chính phủ, nhằm tạo ra một cú hích cho sự nghiệp phát triển công nghiệp tỉnh nhà Được sự lãnh đạo trực tiếp của Ban Quản lý các KCN tỉnh, sự ủng hộ của các ngành, nhất là sự quan tâm chỉ đạo quyết liệt của

Trang 37

lãnh đạo tỉnh và các bộ, ngành trung ương, Công ty đã hoàn thành nhiều nhiệm

vụ được giao (Trần Minh Oánh, 2013)

Quản lý đầu tư xây dựng các công trình kỹ thuật hạ tầng KCN Hoà Xá với tổng khối lượng hoàn thành và đã được cấp kinh phí đến nay là 243 tỷ đồng, trong đó bao gồm kinh phí giải phóng mặt bằng; 16 km đường giao thông nội bộ

đã được xây dựng, kèm theo là hệ thống biển báo, bảng chỉ dẫn, cống thoát nước, cây xanh bóng mát, thảm cỏ; hệ thống thu gom và trạm xử lý nước thải giai đoạn

1 công suất 4.500m3/ngày đêm đi vào vận hành từ tháng 4/2013; gần một nửa KCN (phía Đông Quốc lộ 10) có hệ thống điện chiếu sáng công; bao quanh KCN Hoà Xá, ở những đoạn xung yếu đã có hệ thống tường rào cứng, được xây dựng

bổ sung dần hàng năm

Từ quý III/2008, theo chỉ đạo của UBND tỉnh, Công ty đã tổ chức thu hàng chục tỷ đồng sử dụng hạ tầng KCN từ các nhà đầu tư nộp về ngân sách tỉnh, đồng thời đã bám sát mặt bằng, tổ chức duy tu bảo dưỡng, duy trì hệ thống cây xanh thảm cỏ, đảm bảo vệ sinh môi trường chung, duy trì điện chiếu sáng các tuyến đường giao thông gần một nửa KCN Hoà Xá

Cùng Ban Quản lý các KCN tỉnh phối hợp với các cơ quan liên quan đảm bảo vệ sinh môi trường, an ninh trật tự, hưởng ứng phong trào phòng chống cháy

nổ, vệ sinh an toàn thực phẩm và các phong trào khác ở KCN Song song với việc hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn chính trị được giao, Công ty đã không ngừng củng cố và từng bước xây dựng đội ngũ, tổ chức của đơn vị ngày càng vững mạnh, đáp ứng yêu cầu công tác chuyên môn

Nhiệm vụ trước mắt cũng là nhiệm vụ trọng tâm của Công ty trong giai đoạn tới là: quản lý khai thác tốt các hạng mục hạ tầng kỹ thuật KCN, quản lý mặt bằng, đảm bảo vệ sinh môi trường, duy trì chăm sóc cây xanh, hệ thống giao thông, hệ thống thoát nước, hệ thống điện chiếu sáng ; quản lý sử dụng vận hành an toàn, hiệu quả trạm xử lý nước thải, trong đó chú ý khâu quản lý, đôn đốc đấu nối thu gom nước thải đảm bảo yêu cầu kỹ thuật Thu - nộp kịp thời phí

sử dụng hạ tầng và xử lý nước thải để tỉnh có kinh phí cấp cho hoạt động duy trì

hệ thống công trình kỹ thuật hạ tầng, đặc biệt là duy trì hoạt động của Trạm xử lý nước thải (Trần Minh Oánh, 2013)

2.4.4 Tình hình quản lý môi trường tại các khu công nghiệp ở Thanh Hóa

Công tác bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp trong các KCN trong những năm gần đây đã có những bước chuyển biến tích cực, các doanh nghiệp đã

Trang 38

bắt đầu có ý thức hơn trong công tác bảo vệ môi trường, khoảng 81% doanh nghiệp đã chấp hành nghiêm chỉnh các thủ tục hành chính về môi trường, bên cạnh đó gần 20% doanh nghiệp vẫn chưa thực sự quan tâm tới lĩnh vực bảo vệ môi trường, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và các doanh nghiệp 100% vốn đầu

tư trong nước và một số các doanh nghiệp nước ngoài… (Sở TN&MT tỉnh Thanh Hóa, 2013)

* Tình hình về thanh tra, kiểm tra

Hiện nay, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát chất lượng môi trường tại các KCN chưa phát huy được hiệu quả Hàng năm, số lượng các cơ sở sản xuất được cơ quan quản lý môi trường Trung Ương, địa phương thực hiện thanh tra, kiểm tra không nhiều Thêm vào đó còn có những hạn chế trong việc làm rõ hành vi gây ô nhiễm, mức độ gây ô nhiễm của các cơ sở sản xuất, các chủ đầu tư KCN Từ

đó dẫn đến việc xử phạt chưa thoả đáng đối với các chủ nguồn thải Nguyên nhân của tình trạng này là do nguồn lực cán bộ quản lý môi trường chưa được đầu tư thích đáng, chưa đáp ứng nhu cầu chuyên môn và thực tế sản xuất hiện nay

Việc tuân thủ các quy định về BVMT như lập báo cáo ĐTM, thực hiện giám sát nguồn thải (quan trắc tuân thủ) từ các KCN chưa được triển khai; Hàng năm, số lượng các cơ sở sản xuất thực hiện quan trắc tuân thủ là rất ít; việc xây dựng các hệ thống xử lý chất thải hầu như không được thực hiện Các chất thải gây ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí thải trực tiếp ra môi trường gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn tiếp nhận (Sở TN&MT tỉnh Thanh Hóa, 2010)

Công tác thanh tra: Đầu năm 2013 đến nay chưa thực hiện thanh tra về công tác bảo vệ môi trường tại các doanh nghiệp

Tình hình kiểm tra: UBND tỉnh giao Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Ban quản lý các KCN kiểm tra theo kế hoạch 30 doanh nghiệp trong các KCN về việc chấp hành các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường

* Tình hình xử phạt vi phạm hành chính

Năm 2013 Sở Tài nguyên và Môi trường đã xử lý vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường đối với 07 cơ sở với tổng mức phạt là 362 triệu đồng, trong đó Chánh thanh tra Sở ra quyết định xử phạt đối với 02 cơ sở với mức phạt là 10 triệu đồng; UBND tỉnh ra quyết định xử phạt đối với 05 cơ sở với mức phạt là

352 triệu đồng (BQL các KCN tỉnh Thanh Hóa, 2013)

* Hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các KCN

Trang 39

KKT Nghi Sơn: đã xây dựng và đưa vào vận hành trạm xử lý nước thải (giai đoạn 1) công suất 2.000 m3/ngđ; đưa vào vận hành năm 2007 và đã được UBND tỉnh cấp Giấy phép xả thải nước thải đã qua xử lý vào Kênh tiêu của xã; hiện nay, Công ty ĐTPT hạ tầng Viglacera đã hoàn thành và đưa vào hoạt động giai đoạn 2 nâng công suất trạm xử lý nước thải tập trung lên 4.000 m3/ngày đêm.(Công suất thực tế đang xử lý khoảng 2.200 m3/ngđ) Ngoài ra còn có 01 Công ty CP bia và nước giải khát Thanh Hoa được cấp phép xả thải riêng (lượng nước thải khoảng 700 m3/ngày đêm)

KCN Lễ Môn: đã xây dựng và đưa vào vận hành trạm xử lý nước thải công suất 2.200 m3/ngđày.đêm từ năm 2010

KCN xã Đồng Tiến: chưa xây trạm xử lý nước thải tập

KCN Lam Sơn: đã xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung công suất 1.500 m3/ngđ, công suất xử lý thực tế khoảng 300 m3/ngày đêm

* Áp dụng sản xuất sạch hơn và công nghệ thân thiện môi trường

Ban quản lý các KCN Thanh Hoá ngay từ khi cấp phép chú trọng tập trung thu hút các doanh nghiệp sản xuất sạch, công nghệ hiện đại, theo kết quả quan trắc định kỳ do Trung tâm quan trắc và phân tích môi trường thực hiện, chất lượng môi trường tại các khu công nghiệp hiện nay còn ở trạng thái sạch, ngoại trừ thông số bụi tại một số vị trí vượt tiêu chuẩn cho phép do quá trình xây dựng

hạ tầng (Sở TN&MT tỉnh Thanh Hóa, 2013)

2.4.5 Các vấn đề còn tồn tại trong hệ thống quản lý KCN

Nghị định 29/2008/NĐ-CP là văn bản pháp lý quan trọng, làm cơ sở cho việc thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với các KKT, KCN Tuy nhiên, quá trình triển khai áp dụng Nghị định 29 nói riêng cũng như các cơ chế chính sách trong công tác quản lý nhà nước trong các KKT, KCN nói chung cho thấy còn tồn tại một số điểm bất cập cần khắc phục Cụ thể:

*Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật áp dụng cho việc triển khai xây dựng và hoạt động của các KCN, KKT còn chồng chéo, thiếu tính nhất quán và

kế thừa, hoặc chưa được quy định đầy đủ, rõ ràng

Trong lĩnh vực đầu tư, thương mại:

Việc điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài bổ sung mục tiêu kinh doanh: Theo Điều 37 Nghị định 29/2008/NĐ-CP, Ban quản

lý các KKT, KCN được cấp Giấy phép kinh doanh đối với hoạt động mua bán

Trang 40

hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa cho công ty

có vốn đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào KCN, KKT sau khi có ý kiến chấp thuận bằng văn bản của Bộ Công thương Trong khi Nghị định 23/2006/NĐ-CP quy định, đối với các nhà đầu tư đã có dự án hoạt động tại KCN, KKT thì cùng với ý kiến chấp thuận của Bộ Công thương, Ban quản lý chỉ thực hiện điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư (bổ sung ngành nghề, mục tiêu hoạt động) sau khi UBND tỉnh cấp Giấy phép kinh doanh thương mại

Do đó, trong trường hợp đề nghị điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư này, nhà đầu

tư phải thêm một khâu đề nghị UBND tỉnh cấp Giấy phép kinh doanh

Chính sách ưu đãi đầu tư đối với các dự án đầu tư vào KKT, KCN: Thứ nhất là thiếu nhất quán, chồng chéo giữa các văn bản luật (Nghị định 124/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế TNDN chỉ quy định ưu đãi thuế TNDN cho công ty thành lập mới từ dự án đầu tư, Nghị định 29/2008/NĐ-CP quy định ưu đãi thuế TNDN cho các dự án đầu tư mới và

dự án đầu tư tư mở rộng; Luật Đầu tư quy định ưu đãi đối với dự án nhưng Luật Thuế TNDN chỉ quy định cho pháp nhân)

Thứ hai, phạm vi hưởng ưu đãi đối với các công ty trong KCN ngày càng thu hẹp: Nghị định 108/2006/NĐ- CP quy định Các khu công nghiệp được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ thuộc danh mục Địa bàn ưu đãi đầu tư Nghị định 124/2008/NĐ-CP đã loại bỏ Các KCN được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ra khỏi Danh mục địa bàn ưu đãi thuế thu nhập công ty

- Việc ủy quyền cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa chưa đầy đủ: Theo Nghị định 29 thì Ban quản lý được cấp các loại Giấy chứng nhận xuất xứ cho hàng hóa sản xuất trong các KKT, KCN Nhưng đến nay, các Ban quản lý mới được Bộ Công thương ủy quyền cấp C/O form D

Việc thực hiện chuyển nhượng cổ phần, góp vốn của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài trong KCN, KKT chưa được quy định rõ ràng, dẫn đến khó khăn trong hoàn thiện hồ sơ cấp Giấy chứng nhận đầu tư, Giấy chứng nhận điều chỉnh của công ty Ví dụ như quy định v/v cung cấp tài liệu, văn bản chứng minh công ty đã hoàn thành quá trình chuyển nhượng

Trong lĩnh vực hoạt động của công ty: Nghị định 04/2013/NĐ-CP (ban hành 7/1/2013, có hiệu lực thi hành từ 25/2/2013) quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng đã bãi bỏ quy định tại Nghị định

Ngày đăng: 10/03/2021, 16:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011). Báo cáo môi trường quốc gia: Phế thải rắn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo môi trường quốc gia: Phế thải rắn
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2011
9. Lưu Đức Hải (2005). Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững, NXB ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững
Tác giả: Lưu Đức Hải
Nhà XB: NXB ĐHQGHN
Năm: 2005
10. Nguyễn Xuân Thành và cs (2014). Bài giảng Công nghệ sinh học xử lý phế vànước thải công nghiệp chống ô nhiễm môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Công nghệ sinh học xử lý phế và nước thải công nghiệp chống ô nhiễm môi trường
Tác giả: Nguyễn Xuân Thành, cs
Năm: 2014
13. Nguyễn Xuân Thành và cs. (2015). Bài giảng: Công nghệ sinh học trong bảo vệ môi trường (dành cho hệ Cao học), NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng: Công nghệ sinh học trong bảo vệ môi trường (dành cho hệ Cao học)
Tác giả: Nguyễn Xuân Thành, cs
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2015
14. Trịnh Quang Huy và CS Bài giảng xử lý phế thải rắn nâng cao, Hà Nội 2014 15. Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hóa (2016). Báo cáo hiện trạng môitrường KCN Lễ Môn, tỉnh Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng xử lý phế thải rắn nâng cao
Tác giả: Trịnh Quang Huy, CS
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2014
16. Trần Thanh Lâm (2006). Quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế, NXB Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế
Tác giả: Trần Thanh Lâm
Nhà XB: NXB Lao Động
Năm: 2006
19. Viện Chiến lược và Phát triển và Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2014). Số liệu tình hình phát triển các KCN năm 2013 và Kế hoạch phát triển năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu tình hình phát triển các KCN năm 2013 và Kế hoạch phát triển năm 2014
Tác giả: Viện Chiến lược và Phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2014
1. Mạnh Cường (2010). Chính sách bảo vệ môi trường ở Việt Nam: Mức xử lý vẫn nhẹ, cập nhật ngày 09/10/2008.http://thethaovanhoa.vn/xa-hoi/chinh-sach-bao-be-moi-truong-o-viet-nam-muc-xu-ly-van-nhe-n200810090420331.htm# Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách bảo vệ môi trường ở Việt Nam: Mức xử lý vẫn nhẹ
Tác giả: Mạnh Cường
Năm: 2010
2. Nước thải từ khu công nghiệp có thể gây ra thảm hoạ môi trường ở Việt Nam, Báo khoa học phổ thông, 03/06/2010.http://www.khoahocphothong.com.vn/news/detail/4494/nuoc-thai-tu-khu-cong- nghiep-co-the-gay-ra-tham-hoa-moi-truong-o-viet-nam.htmlTiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nước thải từ khu công nghiệp có thể gây ra thảm hoạ môi trường ở Việt Nam
Nhà XB: Báo khoa học phổ thông
Năm: 2010
1. Báo cáo kết quả giám sát chất lượng môi trường Công ty TNHH MTV sữa Lam Sơn lần 2 năm 2016 Khác
2. Báo cáo kết quả giám sát chất lượng môi trường Công ty xuất nhập khẩu thủy sản Thanh Hóa lần 2 năm 2016 Khác
3. Báo cáo kết quả giám sát chất lượng môi trường nhà máy sản xuất giầy SUNJADE lần 2 năm 2016 Khác
4. Bộ Kế hoạch và đầu tư (2006). Tình hình và phương hướng phát triển các khu công nghiệp nước ta thời kỳ (2006 – 2020) Khác
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009). Báo các môi trường quốc gia: Môi trường KCN Việt Nam Khác
8. Lê Thế Giới (2008). Hệ thống đánh giá phát triển bền vững các khu công nghiệp Việt Nam". Tạp chí Khoa học và Công nghệ, số 4(27). Đại học Đà Nẵng Khác
12. Nguyễn Bình Giang (2012). Tác động xã hội vùng của các Khu công nghiệp, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Khác
17. Trần Văn Huy. Đánh giá thực trạng công tác quản lý môi trường tại một số công ty thuộc khu công nghiệp Đồng Văn II, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, Luận văn Thạc sĩ Khoa học môi trường, Học viện Nông nghiệp Việt Nam Khác
18. Trung tâm nghiên cứu kinh tế miền nam – Viện chiến lược phát triển (2014) Khác
20. Luật Bảo vệ Môi trường năm 2008 và Nghị định hướng dẫn thi hành, Nhàxuất bản Chính trị Quốc Gia, Hà nội.Tài liệu internet Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w