1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiện trạng chuyển đổi từ mô hình cấy lúa sang nuôi trồng thủy sản tại huyện phú xuyên thành phố hà nội

68 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài “Đánh giá hiện trạng chuyển đổi từ mô hình cấy lúa sang nuôi trồng thủy sản tại huyện Phú Xuyên, Tp Hà Nội”là công trình nghiên cứu

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài “Đánh giá hiện trạng chuyển đổi từ

mô hình cấy lúa sang nuôi trồng thủy sản tại huyện Phú Xuyên, Tp Hà Nội”là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác cho đến thời điểm này

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Lê Thị Hải

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sỹ này tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo TS Nguyễn Thị Diễn - Phó Trưởng khoa, Khoa Lý luận chính trị và Xã hội đồng cảm ơn PGS TS Trần Thị Nắng Thu - Phó Trưởng khoa, Khoa Thủy sản - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, động viên khích lệ, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo cùng các anh chị cán bộ Khoa Thủy sản, Ban Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Namđã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường trong hai năm qua

Xin chân thành cảm ơn các đồng chí là cán bộ, nhân viên thuộc Chi cục Thủy sản Hà Nội, phòng Kinh tế huyện Phú Xuyên, các đồng chí trong ban giám đốc HTX các hộ nuôi trồng thủy sản trên địa bàn các xã Tri Trung, Hoàng Long, Chuyên Mỹ - huyện Phú Xuyên cùng toàn thể đồng nghiệp trong cơ quan đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn người thân, bạn bè đã động viên và giúp đỡ trong suốt thời gian quá trình học tập và thực hiện tại học viện Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự đóng góp, chỉ bảo của hội đồng khoa học, các thầy cô và các bạn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Lê Thị Hải

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục iv

Danh mục chữ viết tắt vii

Danh mục bảng viii

Danh mục hình ix

PHẦN 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học hoặc thực tiến 2

PHẦN 2 Tổng quan tài liệu 4

2.1 Khái quát hiện trạng ntts và chuyển dịch kinh tế nông nghiệp của Việt Nam 4

2.1.1 Khái quát hiện trạng NTTS 4

2.1.2 Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp của Việt Nam 5

2.2 Tiềm năng và hiện trạng NTTS của Thành phố Hà Nội giai đoạn 2012 – 2016 6

2.2.1 Tiềm năng mặt nước NTTS 6

2.2.2 Tình hình phát triển nuôi trồng thuỷ sản 7

2.2.3 Tình hình nuôi trồng thủy sản của Huyện Phú Xuyên giai đoạn 2000 - 2016 10

PHẦN 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 12

3.1 Địa điểm nghiên cứu 12

3.2 Thời gian nghiên cứu 12

3.3 Đối tượng/vật liệu nghiên cứu 12

3.4 Nội dung nghiên cứu 12

3.4.1 Hiện trạng nuôi tại các mô hình chuyển đổi 12

3.4.2 Đánh giá hiện trạng NTTS tại các mô hình chuyển đổi 12

3.4.3 Đề xuất giải pháp hợp lý cho phát triển 12

3.5 Phương pháp nghiên cứu 12

Trang 5

3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 12

3.5.2 Phương pháp điều tra hộ gia đình 12

3.5.3 Phương pháp phỏng vấn sâu: 13

3.5.4 Chọn mẫu điều tra 13

3.5.6 Phương pháp xử lý số liệu và phân tích số liệu 14

PHẦN 4 Kết quả và thảo luận 15

4.1 Hiện trạng nuôi tại mô hình chuyển đổitại các mô hình chuyển đổi trên địa bàn huyên Phú Xuyên 15

4.2 Thông tin chung về các hộ được khảo sát 16

4.2.1 Tuổi chủ hộ: 16

4.2.2 Trình độ học vấn 16

4.2.3 Nghề chính 17

4.2.4 Lao động và kinh nghiệm NTTS của hộ được khảo sát 17

4.2.5 Lý do chuyển đổi sang NTTS 18

4.3 Thông tin về kỹ thuật 19

4.3.1 Mùa vụ thả giống và số vụ nuôi trong năm của các hộ NTTS trong vùng nghiên cứu 19

4.3.2 Thiết kế ao nuôi 20

4.3.3 Đối tượng nuôi, mật độ thả 21

4.3.4 Nguồn nước cấp, cải tạo ao, xử lý nước cấp, thoát, sử dụng thuốc 24

4.3.5 Tiếp cận kỹ thuật nuôi qua tài liệu, tập huấn 25

4.3.6 Thuận lợi và khó khăn trong quá trình NTTS 26

4.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế 27

4.5 Các giải pháp cơ bản về nâng cao hiệu quả kinh tế 29

4.5.1 Giải pháp về khoa học công nghệ và khuyến ngư 29

4.5.2 Giải pháp về cơ sở hạ tầng - vốn đầu tư: 31

4.5.3 Giải pháp về thị trường tiêu thụ: 32

4.5.4 Giải pháp về cơ chế chính sách: 32

4.5.5 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực và tổ chức sản xuất: 33

4.6 Khả năng nhân rộng mô hình chuyển đổi 34

PHẦN 5 Kết luận và kiến nghị 35

5.1 Kết luận 35

Trang 6

5.2 Kiến nghị 36

5.2.1 Đối với cấp Thành phố: 36

5.2.2 Đối với cấp huyện, xã: 37

5.2.3 Đối với các hộ nuôi NTTS 37

TÀI LIỆU THAM KHẢO 38

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

PTNT: Phát triển nông thôn

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Số hộ tại các xã trong khu vực điều tra 14

Bảng 4.1 Thông tin NTTS trên địa bàn các xã điều tra 15

Bảng 4.2 Thông tin chung của các chủ hộ ở địa bàn nghiên cứu 16

Bảng 4.3 Số lao động và kinh nghiệm nuôi của các hộ NTTS 18

Bảng 4.4 Một số thông số kỹ thuật trong NTTS 28

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1 Lý do chuyển đổi sang NTTS 19

Hình 4.2 Thời gian thả cá giống của các hộ trong vùng nghiên cứu 20

Hình 4.3 Số vụ NTTS trong năm 20

Hình 4.4 Máy móc, thiết bị phục vụ NTTS 21

Hình 4.5 Hình thức nuôi của các hộ NTTS 23

Hình 4.6 Nguồn gốc giống thủy sản 23

Hình 4.7 Cải tạo ao nuôi 24

Hình 4.8 Hiện trạng xử lý nước 25

Hình 4.9 Thuận lợi và khó khăn về cơ sở hạ tầng 26

Hình 4.10 Thuận lợi và khó khăn trong dịch vụ NTTS 27

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Từ tháng 7 năm 2016 đến tháng 01 năm 2017, tôi đã thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng chuyển đổi từ mô hình cấy lúa sang nuôi trồng thủy sản tại huyện Phú Xuyên, Tp Hà Nội” Đề tài tiến hành điều tra trên 107 hộ nuôi trồng thủy sản có diện tích chuyển đổi từ cấy lúa kém hiệu quả sang Nuôi trông thủy sản trên địa bàn 3 xã Tri Trung, Hoàng Long, Chuyên Mỹ thuộc huyện Phú Xuyên, Tp Hà Nội Kết quả nghiên cứu thể giúp người nuôi, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành xây dựng và triển khai các giải pháp quản lý, định hướng quy hoạch, hỗ trợ chính sách nhằm phát triển bền vững hơn

Nội dung cụ thể của đề tài gồm: Hiện trạng nuôi tại các mô hình chuyển đổi; Đánh giá hiện trạng NTTS tại các mô hình chuyển đổi gồm có: Đánh giá về kỹ thuật: Đánh giá về một số chỉ tiêu như: diện tích nuôi, đối tượng, mùa vụ nuôi, mật độ nuôi và dánh giá hiệu quả kinh tế; Đề xuất giải pháp hợp lý cho phát triển nuôi trồng thủy sản trên địa bàn huyện Phú Xuyên nói riêng và địa bàn thành phố Hà Nội nói chung

Kết quả cho thấy, Huyện Phú Xuyên là một trong những huyện có diện tích tiềm năng NTTS lớn với tổng diện tích khả năng NTTS và thủy sản kết hợp khoảng 3.600 ha trong đó: Ao hồ nhỏ: 510ha; Hồ chứa mặt nước lớn: 185ha; Ruộng trũng có khả năng chuyển đổi sang NTTS: 2.900ha Diện tích ruộng trũng trồng lúa kém hiệu quả là điều kiện thuận lợi để chuyển đổi sang NTTS để tăng năng suất, kinh tế cho nông hộ

Tổng diện tích chuyển đổi tại 3 xã Tri Trung, Hoàng Long, Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên là 382,89 ha với tổng số hộ nuôi là 403 hộ Các hộ nuôi chuyển đổi sang NTTS theo quy hoạch của huyện Phú Xuyên Đối tượng nuôi chủ yếu là cá truyền thống như cá Chép, cá Trắm, cá Mè, cá Trôi…Đây cũng là các đối tượng nuôi phổ biến trên địa bàn Tp Hà Nội

Diện tích trung bình của các hộ NTTS trên địa bàn 3 xã là 8504,62m2, độ sâu ao

từ 1,5-2,5 m Các hộ đã có công tác cải tạo ao nuôi trước khi đưa vào nuôi (công tác bón vôi, phơi đáy ao ) Hệ thống cấp, thoát nước chung với kênh mương nông nghiệp Con giống đưa vào nuôi được các hộ nuôi mua từ các thương lái khá cao hầu hết không có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, cá giống chưa được kiểm dịch

Mật độ thả: Đối với các hộ nuôi với hình thức thâm canh thả với mật độ trung bình từ 0,8-1 con/m2, nuôi bán thâm canh thả với mật độ 0,5-0,8 con/m2, nuôi quảng canh cải tiến mật độ dưới 0,5 con/m 2 Hệ số thức ăn trung bình của các hộ đạt 1,55 Đây

là mức hệ số phù hợp với hệ số thức ăn của các loài cá truyền thống hiện nay

Trang 11

Chưa có công tác xử lý nguồn nước trước khi xả ra môi trường Đây là nguyên nhân làm lây lan dịch bệnh thủy sản, khó khăn trong công tác phòng bệnh

Khó khăn chính của các hộ chuyển đổi: Nguốn giống, đường giao thông, tiêu thụ sản phẩm, vốn đầu tư

Hiệu quả kinh tế: trung bình lãi suất thu được trên 1 ha đạt 56,8 triệu đồng, cao nhất đạt 115,9 triệu và thấp nhất là 4,2 triệu đồng Trong khi đó trung bình đầu tư cho 1

ha trồng lúa mất 27,5 triệu đồng, lãi suất thu được 8,91 triệu đồng/ 1 ha Như vậy việc chuyển đổi từ trồng lúa kém hiệu quả sang mô hình nuôi cá truyền thống cho thu nhập cao hơn gấp 7 lần cho các hộ dân

Để NTTS Hà Nội phát triển, cần tạo điều kiện mở rộng diện tích, hỗ trợ đầu tư

hệ thống cơ sở hạ tầng, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật

Nhà nước cấn tiếp hỗ cho các cơ sở nghiên cứu, sản xuất giống sạch bệnh; tăng cường công tác quản lý sản xuất con giống, kiểm soát nguồn cung cấp cá giống an toàn cho nuôi thương phẩm, tránh tình trạng mua giống không rõ nguồn gốc, không qua kiểm dịch về nuôi

Cần áp dụng và thực hiệc tổng hợp các giải pháp đã đề xuất vào phát triển NTTS trên địa bàn Thành phố Thành phố cần quan tâm đến công tác đào tạo, tập huấn kỹ thuật cho các cơ sở sản xuất giống; xây dựng mô hình NTTS tốt (VietGAP) để bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế dịch bệnh, đảm bảo an toàn thực phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, hướng tới phát triển bền vững

Trang 12

EXTRACT THE DOCTRINE

From July 2016 to January 2017, I carried out the project "Assessing the status

of conversion from rice cultivation to aquaculture in Phu Xuyen district, Hanoi city" The subject of survey on 107 aquaculture households converted from inefficient rice culture to aquaculture in 3 communes of Tri Trung, Hoang Long, Chuyen My of Phu Xuyen district, Hanoi city Research results can help farmers, specialized state management agencies develop and implement management solutions, planning orientation, policy support for sustainable development

The specific content of the topic is: Status of farming in the transformation models; Assessing the status of aquaculture in the conversion models includes: Technical assessment: Assessment of some indicators such as: area, target, breeding season, stocking density and marking Economic results; Proposing reasonable solutions for aquaculture development in Phu Xuyen district in particular and Hanoi city

in general

The results show that Phu Xuyen District is one of the districts with large area of aquaculture potential with a total area of aquaculture and fishery capacity of about 3,600

ha, including: small lake: 510ha; Large reservoir: 185ha; The lowland area is likely to

be converted to aquaculture: 2,900 ha Poor paddy field area is a favorable condition for conversion to aquaculture to increase productivity and economy for farmers

The total conversion area in 3 communes of Tri Trung, Hoang Long, Chuyen

My, Phu Xuyen district is 382.89 ha with a total of 403 households Households converted to aquaculture under the planning of Phu Xuyen district The main fish species are traditional fish such as carp, carp, sesame carp, tilapia These are also popular objects in Hanoi

The average area of aquaculture households in the 3 communes is 8504.62m2, pond depth from 1.5-2.5 m Farmers have improved ponds before putting them into operation (liming, drying ponds .) Water supply and drainage system together with agriculture canal Breeds introduced into the breeding are purchased from the high-level traders, most of which have no clear origin, fish seeds have not been quarantined

Stocking density: For households with intensive stocking with an average stocking density of 0.8-1 individuals / m2, semi-intensive culture stocking density of 0.5-0.8 fish / m2 Extensive improved density of less than 0.5 individuals / m2 The average feed ratio of households was 1.55 This is the level of coefficient that is consistent with the feed conversion ratio of traditional fish species

Trang 13

There is no water treatment before being discharged into the environment This causes the spread of aquatic animal diseases, the difficulty in disease prevention

Main difficulty of the conversion households: breed, roads, product consumption, investment capital

Economic efficiency: average interest on one hectare reached 56.8 million, the highest reached 115.9 million and the lowest is 4.2 million Meanwhile, the average investment for 1 hectare of rice crop is VND 27.5 million, the interest rate is VND 8.91 million per hectare Thus, the shift from inefficient paddy cultivation to traditional fish farming gives income seven times higher for households

Economic efficiency: average interest on one hectare reached 56.8 million, the highest reached 115.9 million and the lowest is 4.2 million Meanwhile, the average investment for 1 hectare of rice crop is VND 27.5 million, the interest rate is VND 8.91 million per hectare Thus, the shift from inefficient paddy cultivation to traditional fish farming gives income seven times higher for households

In order to develop aquaculture in Hanoi, it is necessary to create favorable conditions to expand the area, support investment in infrastructure system, transfer scientific and technical advances

The State must support research and disease-free production facilities; Strengthen the management of seed production, control the supply of fingerlings safely for commercial growers, avoid buying seeds of unknown origin, not quarantine on farming

It is necessary to apply and synthesize proposed solutions to aquaculture development in the city The city should pay attention to the training and technical training of seed production facilities; To build a good aquaculture model (VietGAP) to protect the ecological environment, limit epidemics, ensure food safety, improve product quality and aim for sustainable development

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong những năm gần đây phong trào NTTS ở thành phố Hà Nội nói riêng

và cả nước nói chung phát triển rất nhanh Điều này một mặt do hiện nay khai thác thuỷ sản tự nhiên càng ngày càng giảm cả về sản lượng lẫn chất lượng, nguồn lợi thuỷ sản bị suy giảm nghiêm trọng nên người dân chuyển sang nuôi trồng là rất lớn Hơn nữa trong sản xuất nông nghiệp chuyển đổi từ diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản cũng đang là xu thế phát triển của người dân ở những vùng có diện tích trồng lúa lớn

Thành phố Hà Nội là một tỉnh thành thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng

có nhiều lợi thế để phát triển nuôi trồng thủy sản Trước năm 2008 diện tích đất nông nghiệp dành cho nuôi trồng thủy sản của Hà Nội là rất thấp nhưng từ khi sáp nhập địa giới hành chính giữa Hà Tây và Hà Nội, diện tích Hà Nội được mở rộng từ đó lợi thế cho ngành nuôi trồng thủy sản trên địa bàn thành phố cũng tăng theo.Tổng diện tích mặt nước có thể đưa vào nuôi trồng thủy sản khoảng 30.840

ha Trong những năm qua ngành thủy sản Hà Nội đang trên đà phát triển tính đến năm 2016 thì tổng diện tích đưa vào nuôi trồng thủy sản là 21.131,6 ha trong đó một phần diện tích vùng trũng chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản là rất lớn: 10.098 ha Sản lượng đạt 100.261 tấn, năng xuất trung bình đạt 4,7 tấn/ha Nhiều vùng nuôi tập trung hình thành, áp dụng công nghệ khoa học tiên tiến và một số đối tượng có giá trị kinh tế cao đã được đưa vào nuôi thủy sản, góp phần thay đổi kinh tế của gia đình; giải quyết việc làm cho các lao động nông nhàn ở nông thôn

từ đó nâng cao đời sống của người nuôi trông thủy sản, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội vùng nông thôn

Phú Xuyên là một huyện thuộc Thành phố Hà Nội có tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản, có diện tích ruộng trũng lớn Trong những năm vừa qua nuôi trồng thủy sản của huyện đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ trong năng suất cũng như sản lượng nuôi trồng thủy sản Diện tích nuôi trồng hàng năm ngày càng tăng chủ yếu hiện nay là do chuyển đổi từ diện tích cấy lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản, cùng với đó thì số hộ tham gia nuôi trồng thuỷ sản ngày càng nhiều

Trang 15

Tuy nhiên sự phát triển từ mô hình chuyển đổi từ cấy lúa kém hiệu quả sang NTTS của trong những năm qua của huyện còn mang tính tự phát mà vẫn còn quy hoạch chưa đồng bộ, quan tâm đầu tư phát triển của các cấp, hình thức nuôi còn đơn giản chỉ mang tính quảng canh cải tiến hoặc bán thâm canh, mức độ thâm canh còn rất ít, năng suất nuôi còn thấp và chưa ổn định, cùng với đó sự ô nhiễm môi trường và dịch bệnh phát triển gây nhiều khó khăn cho người nuôi trồng thủy sản trong huyện Việc đánh giá hiệu quả từ mô hình nuôi trồng thủy sản này còn rất ít được quan tâm, vì vậy để có những đánh giá cụ thể về hiện trạng nuôi cũng như hiệu quả của mô hình nuôi trồng thủy sản này, phục vụ cho định hướng phát triển thủy sản của huyện cũng như Thành phố trong những năm tới tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá hiện trạng chuyển đổi từ mô hình cấy lúa sang nuôi trồng thủy sản tại huyện Phú Xuyên, Tp Hà Nội” làm đề tài tốt nghiệp cho luận văn của mình Đề tài sẽ làm rõ được các hiệu quả tác động tích cực về kinh tế, xã hội, đồng thời chỉ ra được những yếu kém, hạn chế, các nguyên nhân, các bài học kinh nghiệm của việc chuyển đổi sang NTTS, trên cơ

sở đó đề ra những giải pháp để phát huy hiệu quả tác động tích cực, giảm thiểu các yếu tố rủi ro của việc chuyển đổi sang NTTS tại Tp Hà Nội, làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách, chiến lược và quy hoạch góp phần phát triển bền vững và nhân rộng mô hình ra các xã, huyện lân cận

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

+ Đánh gía hiện trạng NTTS của mô hình chuyển đổi từ cấy lúa kém hiệu quả sang NTTS tìm ra những thuận lợi và khó khăn trong phát triển nuôi trồng thủy sản của huyện Phú Xuyên

+ Đưa ra các giải pháp hợp lý để phát triển NTTS của huyện nhằm nâng cao năng suất sản lượng nuôi trồng và hiệu quả kinh tế

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Các hộ NTTS trên địa bàn 3 xã: xã Tri Trung, xã Hoàng Long, xã Chuyên

Mỹ thuộc huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC HOẶC THỰC TIẾN

Việc chuyển đổi ruộng trũng có năng suất và hiệu quả kinh tế thấp sang nuôi trồng thủy sản tại các địa phương tại thành phố Hà Nội là rất lớn Phú Xuyên là huyện có tiềm năng phát triển NTTS và có diện tích ruộng trũng lớn, tuy nhiên, việc chuyển đổi sang NTTS còn mang tính tự phát, chưa có quy

Trang 16

hoạch đồng bộ, đầu tư bài bản để thúc đẩy phát triển NTTS Kết quả của nghiên cứu góp phần đem lại bức tranh tổng thể về khả năng chuyển đổi và xây dựng được nhóm giải pháp hợp lý để nhân rộng mô hình, phát triển NTTS tại huyện Phú Xuyên

Trang 17

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 KHÁI QUÁT HIỆN TRẠNG NTTS VÀ CHUYỂN DỊCH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM

2.1.1 Khái quát hiện trạng NTTS

Việt Nam có tổng diện tích tiềm năng cho NTTS, khai thác thủy sản nước ngọt và nghề cá, hồ chứa ước tính khoảng 1,7 triệu ha (FICEN) Trong đó, khoảng 120.000 ha là hồ ao nhỏ, sông đào; 340.000 ha là diện tích của các hồ chứa lớn; 580.00 ha diện tích các ruộng lúa có thể sử dụng cho mục đích nuôi trồng thủy sản Cùng với sự phát triển của dân tộc Việt Nam, nghề cá nước ta hình thành hàng nghìn năm gắn liền với truyền thống chống thiên tai, dịch bệnh, chống ngoại xâm, bảo vệ non sông của toàn dân tộc, cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho bữa ăn hàng ngày của nhân dân, đóng góp vào phát triển kinh tế của đất nước Năm 1990, tổng sản lượng thủy sản đã vượt qua ngưỡng 1 triệu tấn, đứng vào hàng ngũ những nước có sản lượng khai thác hải sản trên 1 triệu tấn kể từ năm 1997 Đến năm 2016, tổng sản lượng thủy sản đã tăng hơn 6,5 lần so với năm 1990, đạt hơn 6,7 triệu tấn Cơ cấu sản lượng thủy sản có bước chuyển dịch tích cực Năm 2007, lần đầu tiên sản lượng nuôi trồng thủy sản vượt sản lượng khai thác thủy sản Tỷ trọng sản lượng nuôi trồng tăng từ hơn 23% năm 1990 lên gần 54% năm 2016 Từ mức kim ngạch xuất khẩu 500 triệu USD năm 1995, đến năm 2016, giá trị kim ngạch xuất khẩu đã vượt mức 7 tỷ USD Sản phẩm thủy sản Việt Nam đã có mặt tại hơn 160 quốc gia và vùng lãnh thổ

Sự tăng trưởng ổn định của ngành thủy sản trong thời gian qua khăng định được

vị thế quan trọng trong cộng đồng nghề cá thế giới, đứng thứ 8 về sản lượng khai thác thủy sản, thứ 3 về sản lượng nuôi thủy sản và thứ 3 về giá trị xuất khẩu thủy

Song song với sự phát triển của NTTS nước lợ, mặn thì sự phát triển NTTS nước ngọt cũng diễn ra mạnh mẽ khắp cả nước Hình thức nuôi đa dạng như nuôi cá ao hồ nhỏ, nuôi lồng, bè trên sông, hồ chứa để tận dụng diện tích mặt nước, nuôi luân canh, xen canh cá - lúa, nuôi thâm canh, bán thâm canh Đối tượng nuôi phong phú như: các loài cá truyền thống (cá chép, trắm, trôi ) các loài có giá trị xuất khẩu như: cá tra, cá rophi, tôm càng xanh

Trang 18

2.1.2 Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp của Việt Nam Diện tích nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam ngày tăng nhanh (năm 2012 là 1.039 nghìn ha đến năm 2015 đã tăng lên 1.058 nghìn ha) Một phần lớn diện tích canh tác nông nghiệp kém hiệu quả đã được chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản Nguyên nhân của hiện tượng này là do giá thuỷ sản trên thị trường thế giới những năm gần đây tăng đột biến, trong khi giá các loại nông sản xuất khẩu khác của Việt Nam lại bị giảm sút dẫn đến nhu cầu chuyển đổi cơ cấu diện tích giữa nuôi trồng thủy sản và nông nghiệp càng trở nên cấp bách Chính phủ đã đưa ra nghị quyết 09/NQ-CP ngày 15/6/2000 về chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và đó cũng là yếu tố giúp cho quá trình chuyển đổi diện tích nuôi trồng thuỷ sản càng diễn ra nhanh, mạnh và rộng khắp hơn Quá trình chuyển đổi diện tích, chủ yếu từ lúa kém hiệu quả, sang nuôi trồng thuỷ sản diễn ra mạnh mẽ nhất vào các năm 2000-2002: hơn 200.000 ha diện tích được chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản hoặc kết hợp nuôi trồng thủy sản, tuy nhiên từ 2003 đến nay ở nhiều vùng vẫn tiếp tục chuyển đổi mạnh, năm

2003 đạt 49.000 ha và năm 2004 đạt 65.400 ha Có thể nói nuôi trồng thủy sản đã phát triển với tốc độ nhanh, thu được hiệu quả kinh tế - xã hội đáng kể, từng bước góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế ở các vùng ven biển, nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo và làm giàu cho nông dân Tại nhiều vùng nông thôn, phong trào nuôi cá ruộng trũng phát triển mạnh mẽ Đây là hình thức nuôi cho năng suất

và hiệu quả khá lớn, được đánh giá là một trong những hướng chuyển đổi cơ cấu trong nông nghiệp, góp phần làm tăng thu nhập cho người lao động và xoá đói giảm nghèo ở nông thôn Tính đến nay, tổng diện tích ruộng trũng có thể đưa vào nuôi cá theo mô hình cá - lúa là 446.151 ha Năm 2001, diện tích đã nuôi được xác định là 239.379 ha, con số này vẫn tiếp tục tăng trong những năm tiếp theo

Việc chuyển đổi ruộng trũng, đất hoang hóa sang NTTS nước ngọt tại một

số tỉnh như Nam Định, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang được đánh giá có hiệu quả cao gấp nhiều lần so với làm lúa Bởi vậy, phong trào nuôi cá nước ngọt

và việc quy hoạch, thiết kế, xây dựng các vùng NTTS tập trung đã và đang được đẩy mạnh Nhiều địa phương đã tạo điều kiện cho các nông dân thực hiện việc chuyển đổi ruộng trũng cấy lúa kém hiệu quả sang NTTS Đối tượng và sản phẩm nuôi cũng được chú trọng đa dạng hóavà mở rộng Các đối tượng nuôi mới như Rô phi đơn tính, chép lai cũng được đưa vao sản xuất và mở rộng để nâng cao hiệu quả kinh tế, nâng cao đời sống của nông dân

Trang 19

Theo kết quả điều tra của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản (VIFEP, 2008) tại Hải Dương đã có 23 vùng được chuyển đổi từ đất hoang hóa, đát ruộng trũng sang NTTS tập trung (quy mô 30-70ha/vùng) với tổng diện tích được chuyển đổi 1.020 ha đến năm 2005) trong đó có 3 vùng đất trũng được sử dụng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước (ngân sách của tỉnh) để xây dựng cơ sở hạ tầng, đường giao thông, đưa điện, đưa cơ giới, cơ khí hóa về nông thôn, còn lại

16 vùng (với diện tích 1.288 ha) đang ược trình các cấp ban hành trong tỉnh để được tiếp tục chuyển đổi Nhiều đại phương của tỉnh Hải Dương đã chuyển đổi sang phát triển theo mô hình trang trại như huyện Gia Lộc, Ninh Giang, Tứ Kỳ

và Thanh Hà

Tại địa bàn tỉnh Nam Định thực hiện Quyết định của Chính phủ về chương trình phát triển NTTS giai đoạn 1999 - 2010, tỉnh đã triển khai thực hiện 40 dự án chuyển đổi từ đất trồng lúa, trồng cói, sản xuất muối kém hiệu quả sang NTTS Tổng diện tích của 40 dự án chuyển đổi là 2.918,3 ha với tổng mức đầu tư 498 tỷ 883 triệu đồng Trong đó vốn ngân sách đầu tư là 168 tỷ 106 triệu đồng, tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng cấp I cho vùng dự án chuyển đổi như kênh cấp và thoát nước cấp I, cống và trạm bơm lớn, đường giao thông chính, điện; vốn huy động trong nhân dân là 198 tỷ 105 triệu đồng cho cả 2 vùng NTTS vùng mặn lợ và nước ngọt (Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam, 2011)

Việc chuyển dịch cơ cấu sang NTTS diễn ra mạnh nhất ở ĐBSCL với diện tích chiếm % diện tích chuyển đổi cả nước, trong đó lớn nhất là chuyển đổi

từ đất trồng lúa với 297.178 ha Quá trình chuyển đổi mạnh nhất trong năm

2001 với 131.889 ha (42,43% cả thời kỳ 1999-2005) Đối tượng NTTS được lựa chọn là tôm Sú, cá Tra, cá Ba sa và các loại cá truyền thống, tôm càng xanh 2.2 Tiềm năng và hiện trạng NTTS của Thành phố Hà Nội giai đoạn

2012 – 2016

2.2.1 Tiềm năng mặt nước NTTS

Hà Nội có tiềm năng phát triển NTTS lớn với tổng diện tích nuôi trồng mặt nước có khả năng nuôi trồng thuỷ sản là 30.840 ha, trong đó:

- Ao, hồ nhỏ: 6.706ha

- Hồ chứa mặt nước lớn: 4.327ha

- Ruộng trũng: 19.807ha

Trang 20

Ngoài ra, còn một số con sông có khả năng phát triển nuôi cá lồng bè như sông Đà, sông Hồng, sông Tích, sông Bùi, sông Đáy…

Các vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung, có diện tích chuyển đổi sang NTTS lớn tại một số huyện: Phú Xuyên, Ứng Hoà, Mỹ Đức, Chương Mỹ, Ba Vì, Thanh Trì, Thanh Oai, Sóc Sơn (Sở Nông nghiệp & PTNT Hà Nội, 2016) 2.2.2 Tình hình phát triển nuôi trồng thuỷ sản

2.2.2.1 Diện tích nuôi trồng thuỷ sản

Diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn Thành phố Hà Nộitính đến năm 2016 là 21.131,6 Diện tích nuôi trồng thuỷ sản giai đoạn 2009 – 2014 tăng bình quân 9% năm do đã chuyển đổi ruộng trũng cấy lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản

Về nuôi cá lồng trên một số hồ chứa, sông năm 2010 là 162 lồng , năm

2015 là 366 lồng (tăng gần 126 % so với năm 2010), năm 2016 là 406 lồng và tập trung chủ yếu ở các huyện như: Đan Phượng, Mỹ Đức, Mê Linh,…

Hiện tại, hồ chứa mặt nước lớn (4.327ha) chiếm 14% tổng diện tích tiềm năng, song nhiệm vụ chính của các hồ chứa là giữ nước phục vụ công tác thuỷ nông và một phần kết hợp du lịch, dịch vụ như hồ Quan Sơn, hồ Suối Hai, hồ Đồng Mô, hồ Tây, hồ Đồng Sương, hồ Văn Sơn,…vì vậy khả năng khai thác về nuôi trồng thuỷ sản hạn chế(Chi cục thủy sản Hà Nội, 2010-2016)

1.2.2.2 Năng suất nuôi trồng thuỷ sản

Năng suất nuôi bình quân: năm 2012 đạt 3,12 tấn/ha, năm 2013 đạt 3,61 tấn/ha, năm 2014 đạt 3,58 tấn/ha, năm 2015 đạt 4,19 tấn/ha, năm 2016 đạt 5,2 tấn/ha Trong đó:

- Nuôi vùng chuyển đổi: 6-8 tấn/ha/năm Đặc biệt có một số mô hình nuôi thâm canh: cá Chép lai đạt 8 – 10 tấn/ha/vụ nuôi; rô phi đơn tính đạt 10 -12tấn/ha/vụ nuôi,

- Nuôi ao hồ nhỏ: 3,5 – 5 tấn/ha/năm

- Nuôi ruộng trũng 1 lúa – 1 cá: đạt 2,5 – 3,5 tấn/ha/năm

- Nuôi hồ chứa đạt 0,5 tấn/ha/năm

Diện tích tăng 18%, sản lượng tăng 17,6% so với năm 2006 do diện tích nuôi thâm canh tăng đầu tư cho NTTS, năng suất đã được cải thiện

Đối tượng nuôi chủ yếu vẫn là các loài cá truyền thống trôi, mè, Trắm cỏ,

Trang 21

chép lai, Rô phi, chiếm 80% còn các loại thủy đặc sản chiếm 15 -20% gồm ba

ba, Điêu Hồng, ếch, Trắm giòn, Chép giòn, cá lăng

Hình thức nuôi chủ yếu hiện nay vẫn là quảng canh, quảng canh cải tiến, bán thâm canh năng suất tăng lên xong còn khiêm tốn một số nơi đã nuôi theo hình thức thâm canh đối với cá truyền thống năng suất đạt từ 8 - 10 tấn, Rô phi đạt 15- 20 tấn/ha (Chi cục Thủy sản Hà Nội, 2012-2016)

2.2.2.4 Về thức ăn, thuốc thú y thuỷ sản

* Về thức ăn: khoảng 15% diện tích nuôi trồng thuỷ sản của Hà Nội sử dụng thức ăn công nghiệp (15.000 tấn), 85% diện tích sử dụng các sản phẩm phụ nông nghiệp làm thức ăn Nguồn thức ăn công nghiệp chủ yếu do một số công ty lớn sản xuất, cung ứng cho các cơ sở nuôi trồng thuỷ sản thông qua các đại lý

* Về thuốc thú y thuỷ sản

- Hiện tại, trên địa bàn Hà Nội có một số công ty và đại lý cung ứng các loại thuốc phòng, trị bệnh trong nuôi trồng thuỷ sản, song một số hộ nuôi thâm canh thuỷ sản ít nên việc sử dụng thuốc thú y thuỷ sản chưa nhiều

- Quản lý thuốc thú y thuỷ sản: hiện nay trên địa bàn Hà Nội đã có các cửa hàng chuyên kinh doanh thuốc thú y thuỷ sản đóng trên địa bàn huyện Ba

Vì, Ứng Hòa, Phú Xuyên (Chi cục Thủy sản Hà Nội, 2016)

2.2.2.5 Môi trường và dịch bệnh

* Về môi trường

Theo số liệu nghiên cứu của Sở Tài Nguyên và Môi Trường Hà Nội, lượng nước thải của Thành Phố đang tăng cả về lưu lượng và nồng độ chất ô nhiễm Lượng nước thải đổ thẳng ra sông, hồ năm 2015 là 510.000m3/ngày Môi trường nước ở các con sông như sông Nhuệ, sông Đáy và một số hồ ở Hà Nội đã

bị ô nhiễm tới mức báo động nhất là ô nhiễm các chất hữu cơ gây ra nước sông bốc mùi hôi thối.Bên cạnh đó ảnh hưởng chất thải từ sản xuất Nông Nghiệp như thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ dẫn đến nguồn nước trong nuôi trồng thuỷ sản bị ô nhiễm Hàm lượng amoni trong nước các ao hồ dao động thấp nhất là 0,58mg/l

Trang 22

và cao nhất là 51,5mg/l, trong khi tiêu chuẩn cho phép là 1mg/l; hàm lượng BOD dao động trong khoảng 13mg/l - 68mg/l, trong khi tiêu chuẩn là 25mg/l

Theo Tổng Cục thống kê Việt Nam, mỗi ngày, cư dân Hà Nội thải ra khoảng 600.000m3 nước thải sinh hoạt với khoảng 250 tấn ra các sông Thêm vào

đó là một lượng lớn chất thải từ các bệnh viện và các khu công nghiệp Ước tính

có khoảng 260.000m3 chất thải công nghiệp mỗi ngày và chỉ có khoảng dưới 10% lượng nước thải này là được xử lý trước khi đổ ra các con sông, các bệnh viện thải ra khoảng 7.000m3 nước thải mỗi ngày và chỉ có khoảng 30% là được

xử lý Hầu hết các vùng nuôi trồng thuỷ sản của Hà Nội đều bị ảnh hưởng của nước thải Thành phố

* Về dịch bệnh

- Sản lượng nuôi trồng thủy sản thiệt hại do rét đậm, rét hại đầu năm 2016

là 478,897 tấn với diện tích 303,86 ha Các đối tượng thủy sản bị thiệt hại chủ yếu là cá Rophi, cá Chim trắng

- Thiệt hại do dịch bệnh là 311,1 tấn với tổng diện tích là 664,607 ha Tập trung tại các huyện như Ba Vì, Mỹ Đức, Thanh Oai

- Nguyên nhân: Thời tiết có nhiều diễn biến bất thường, môi trường nước

có chiều hướng suy giảm về chất lượng (Chi cục Thủy sản Hà Nội, 2016 )

2.2.2.6 Tình hình sản xuất giống phục vụ nuôi trồng

- Toàn Thành phố hiện có 14 cơ sở sản xuất nhân tạo giống cá, 02 cơ sở sản xuất ếch giống

- Con giống sản xuất tại chỗ chủ yếu là các đối tượng truyền thống như: cá

Mè, cá Trôi, cá Trắm, cá Chép, rô phi và các loài thủy đặc sản như: Ếch, Ba ba,

cá Trắm đen,

- Sản lượng giống: đạt 1.500 triệu cá bột; 500 triệu cá giống các loại (Tăng

so với năm 2015 sản xuất 1.123 triệu cá bột, 377 triệu cá giống các loại) Sản lượng cá bột tăng do nhu cầu về con giống của người nuôi thủy sản tăng

- Các loại cá giống đáp ứng 55 – 60% về số lượng nhưng chất lượng con giống chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu về phát triển nuôi trồng thuỷ sản do

cá bố mẹ của một số cơ sở giống tư nhân trên địa bàn chủ yếu vẫn được tuyển chọn ở tại cơ sở và các ao nuôi thương phẩm nên không tránh khỏi hiện tượng cận huyết, làm giảm chất lượng con giống Ngoài ra cơ chế thị trường cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng con giống (Chi cục Thủy sản Hà Nội, 2016)

Trang 23

2.2.2.7 Về tiêu thụ và chế biến thuỷ sản

Hiện nay, sản phẩm thủy sản được tiêu thụ chủ yếu dưới dạng tươi sống

và tập trung theo thời vụ, thị trường tiêu thụ chủ yếu là nội thành và một số tỉnh xung quanh Hà Nội, phần lớn do tư thương và thị trường tiêu thụ tự do Hiện Hà Nội có nhiều chợ thuỷ sản đầu mối lớn về mua bán sản phẩm thuỷ sản như chợ

cá Yên Sở…

Hiện tại trên địa bàn thành phố Hà Nội chưa có cơ sở chế biến sản phẩm thuỷ sản nước ngọt

2.2.2.8 Hệ thống tổ chức quản lý chuyên ngành thuỷ sản:

Cấp Thành phố: sau khi Hà Nội mở rộng địa giới hành chính, Chi cục thuỷ sản Hà Nội được thành lập theo Quyết định 1897/QĐ-UBND ngày 07/11/2008 của UBND thành phố Hà Nội, với chức năng tham mưu thực hiện một số nhiệm vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực thuỷ sản trên địa bàn thành phố

Hà Nội, UBND thành phố đã quyết định thành lập 5 trạm thuỷ sản (trực thuộc Chi cục thuỷ sản Hà Nội) theo các cụm trên địa bàn Hà Nội, song chưa có trụ sở làm việc và trang thiết bị

Cấp Quận, huyện, thị xã: hiện tại 4 huyện (Thanh Trì, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Thường Tín) có cán bộ thuỷ sản, ở các quận, huyện, thị xã còn lại cán bộ phòng Kinh tế kiêm nghiệm (Chi cục Thủy sản Hà Nội, 2016)

2.2.3 Tình hình nuôi trồng thủy sản của Huyện Phú Xuyên giai đoạn

2000 - 2016

Huyện Phú Xuyên là đơn vị hành chính của Thủ đô, nằm ở phía Nam thành phố Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô 40km; phía Bắc giáp huyện Thường Tín; phía Nam giáp huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam; phía Đông giáp sông Hồng

và huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên; phía Tây giáp huyện Ứng Hòa, Hà Nội Phú Xuyên có dân số gần 20 vạn người, tỷ lệ người lao động trong khu vực sản xuất nông nghiệp chiếm 60% tổng số lao động; bình quân mỗi năm tăng thêm khoảng 2000 lao động

Huyện Phú Xuyên là một trong những huyện có diện tích tiềm năng NTTS lớn với tổng diện tích khả năng NTTS và thủy sản kết hợp khoảng 3.600

ha trong đó:

Ao hồ nhỏ: 510ha

Trang 24

Hồ chứa mặt nước lớn: 185ha

Ruộng trũng có khả năng chuyển đổi sang NTTS: 2.900ha

Kết quả sản xuất thủy sản của huyện: tổng diện tích NTTS của huyện năm

2000 mới chỉ có 581ha, đến năm 2005 là 1.265ha và đến năm 2016 là 1.890,47

ha, diện tích NTTS tăng thêm chủ yếu là do chuyển đổi từ ruộng những diện tích ruộng trũng sang NTTS và nuôi thủy sản kết hợp với trồng lúa (Báo cáo của UBND huyện Phú Xuyên năm 2000, 2005, 2016)

Về sản lượng: năm 2000 đạt 1.315,3 tấn các loại, đến năm 2005 là 4.200 tấn, năm 2010 là 5.294 tấn đến năm 2016 đạt 7.705 tấn Đối tượng nuôi chủ yếu

là các loại cá truyền thống như: trắm cỏ, chép lai, mè…ngoài ra còn một số loài đặc sản như: ba ba, ếch, cá trắm đen…

Tình hình chuyển đổi: từ năm 2000 thì huyện phú xuyên đã xuất hiện mô hình chuyển đổi diện tích từ cấy lúa kém hiệu quả sang NTTS, thủy sản kết hợp Năm 2006 diện tích chuyển đổi là 672ha, đến năm 2015 diện tích này đã tăng lên

757 ha, riêng trong năm 2016 thì diện tích chuyển đổi tăng thêm 160 ha và diện tích vẫn có xu hướng tăng trong những năm tới

Những kết quả tích cực trong phát triển NTTS và chuyển đổi mô hình canh tác sang NTTS đó là:

- Vừa khai thác được thế mạnh và tiềm năng sẵn có ở vùng trũng, phá thế độc canh cây lúa, chuyển đổi đất Nông Nghiệp trồng trọt kém hiệu quả sang NTTS, vừa nâng cao hiệu quả trên một đơn vị diện tích Đã tạo ra một khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn có giá trị thu nhập cao cho người nông dân

- Vừa thúc đẩy chăn nuôi phát triển và khi chăn nuôi lại thúc đẩy phát triển thủy sản

- Ở vùng trũng trồng trọt kém hiệu quả sang phát triển NTTSlà một hướng

đi đúng, hiệu quả, phù hợp với vùng sinh thái, phù hợp với quy luật phát triển khai thác thế mạnh ở vùng lợi thế Xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ NTTS, phát triển kinh tế khu vực và tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho nhân dân, khai thác có hiệu quả tiềm năng của vùng ruộng trũng; giúp ổn định đời sống kinh tế, ổn định trật tự xã hội và thúc đẩy các ngành dịch vụ khác phát triển, thủy sản hàng hóa Tạo cho nông dân cơ hội và điều kiện xóa đói giảm nghèo, làm giàu

Trang 25

PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu trên 3 xã Tri Trung, Hoàng Long và Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên, Tp Hà Nội

Nghiên cứu hiện trạng NTTScủa mô hình chuyển đổi diện tích đất trũng dùng để cấy lúa kém hiệu quả chuyển sang NTTS

3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Thời gian nghiên cứu: từ tháng 7/2016 - 01/2017

3.3 ĐỐI TƯỢNG/VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

Các hộ NTTS có diện tích ruộng trũng cấy lúa kém hiệu quả chuyển sang NTTS trên địa bàn 3 xã: xã Tri Trung, xã Hoàng Long, xã Chuyên Mỹ thuộc huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội

3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.4.1 Hiện trạng nuôi tại các mô hình chuyển đổi

3.4.2 Đánh giá hiện trạng NTTS tại các mô hình chuyển đổi

3.4.2.1 Đánh giá về kỹ thuật: Đánh giá về một số chỉ tiêu như: diện tích nuôi, đối tượng, mùa vụ nuôi, mật độ nuôi

3.4.2.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế

3.4.3 Đề xuất giải pháp hợp lý cho phát triển

3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Thu thập tài liệu và thông tin liên quan đến các nội dung của đề tài từ Sở Nông Nghiệp và PTNT Thành phố, Chi cục Thủy sản Hà Nội, Phòng Kinh Tế huyện, trạm Khuyến Nông, UBND các xã điều tra, trên internet, sách, báo, tạp chí Các thông tin thu thập gồm:

- Thông tin về hiện trạng NTTSViệt Nam, Thành phố Hà Nội, huyện, xã nghiên cứu

- Số liệu về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của huyện

3.5.2 Phương pháp điều tra hộ gia đình

Sử dụng phiếu câu hỏi để các hộ gia đình là các hộ nuôi thủy sản trên diện

Trang 26

tích chuyển đổi từ vùng trũng sang NTTS tại 3 xã Tri Trung, Hoàng Long và Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên, Tp Hà Nội Bộ câu hỏi được lập và chuẩn hóa các thông tin cần thu thập liên quan đến mục đích của đề tài như sau:

+ Thông tin về cơ bản về chủ hộ (tuổi, trình độ học vấn, số năm kinh nghiệm nuôi, thời gian bắt đầu chuyển đổi từ cấy lúa sang nuôi trồng thủy sản)

+ Những thông tin hiện hành về gia đình nuôi trồng thủy sản (diện tích nuôi, điều kiện ao nuôi, công tác chuẩn bị ao, đối tượng nuôi, nguồn giống, hình thức nuôi, mật độ thả, tỷ lệ thả, kỹ thuật chăm sóc, ….)

+ Những thông tin về năng suất và hiệu quả kinh tế

+ Thông tin về thị trường tiêu thụ sản phẩm

+ Thông tin về khó khăn thuận lợi trong quá trình nuôi

+ Thông tin về định hướng phát triển của gia đình

3.5.3 Phương pháp phỏng vấn sâu:

Phỏng vấn cán bộ xã: Giám đốc, phó giám đốc HTX nông nghiệp, thủy sản trên địa bàn xã Nội dung bảng phỏng vấn gồm:

+ Thông tin người phỏng vấn, chức vụ công tác

+ Tổng diện tích, tổng số hộ chuyển đổi từ cấy lúa sang NTTS trên địa bàn xã

+ Thông tin về đối tượng nuôi, năm bắt đầu chuyển đổi

3.5.4 Chọn mẫu điều tra

Huyện Phú Xuyên có tổng số 2 thị trấn và 26 xã, trong đó có 11 xã nằm trong vùng trũng, có khả năng chuyển đổi sang NTTS Trong phạm vi đề tài này chúng tôi tiến hành điều tra 3 xã là vùng NTTS tập trung có diện tích chuyển đổi lớn nằm trong vùng quy hoạch NTTS (theo quyết định số 1836/QĐ-UBND ngày 25/2/2013 của UBND thành phố Hà Nội về phê duyệt Quy hoạch phát triển thủy sản thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030) của huyện Lựa chọn các nông hộ để phỏng vấn theo phương pháp ngẫu nhiên trong số các nông hộ thuộc các xã có diện tích chuyển đổi từ trồng lúa sang NTTS ở 3 xã Tri Trung, Hoàng Long, Chuyên Mỹ của huyện Phú Xuyên Tổng số hộ nuôi được phỏng vấn là 107 hộ Cụ thể như sau:

Trang 27

Bảng 3.1 Số hộ tại các xã trong khu vực điều tra

3.5.6 Phương pháp xử lý số liệu và phân tích số liệu

Sau khi thu số liệu kiểm tra số liệu, mã hoá nhập số liệu, xử lý và phân tích số liệu trên phần mềm Excel

- Sử dụng thống kê mô tả: Các chỉ số trung bình, lớn nhất, nhỏ nhất, độ lệch chuẩn, phần trăm tỷ lệ

- Hoạch toán kinh tế sơ bộ hộ điều tra, tính lợi nhuận dựa vào tổng thu và tổng chi phí

Lợi nhuận = Tổng thu -Tổng chi phí Trong đó:

+ Tổng chi gồm các khoản: thuế ao, giống, thức ăn, chi khác (vôi, xăng dầu, điện…)

+ Tổng thu gồm: thu cá và thu từ nguồn khác

Trang 28

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 HIỆN TRẠNG NUÔI TẠI MÔ HÌNH CHUYỂN ĐỔITẠI CÁC MÔ HÌNH CHUYỂN ĐỔI TRÊN ĐỊA BÀN HUYÊN PHÚ XUYÊN

* Thông tin về các xã được khảo sát

Huyện Phú Xuyên là đơn vị hành chính của Thủ đô, nằm ở phía Nam thành phố Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô 40km; phía Bắc giáp huyện Thường Tín; phía Nam giáp huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam; phía Đông giáp sông Hồng

và huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên; phía Tây giáp huyện Ứng Hòa, Hà Nội Với diện tích đất tự nhiên 17.104,6ha; trong đó, đất canh tác trồng trọt là 11.329,9ha chiếm 66,24%; đất ở 1.120,9ha chiếm 6,95%; đất chuyên dùng chiếm 3.235,9ha chiếm 18,92%; còn lại là đất chưa sử dụng

Phú Xuyên có dân số gần 20 vạn người, tỷ lệ người lao động trong khu vực sản xuất nông nghiệp chiếm 60% tổng số lao động; bình quân mỗi năm tăng thêm khoảng 2000 lao động

Các xã được khảo sát thuộc vùng NTTS tập trung thuộc quy hoạch của thành phố (theo quyết định số 1836/QĐ-UBND ngày 25/2/2013 của UBND thành phố Hà Nội về phê duyệt Quy hoạch phát triển thủy sản thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030), đây là những vùng trũng cấy lúa kém hiệu quả có khả năng chuyển sang NTTS để tăng hiệu quả kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống

Theo thông tin được cung cấp bởi cán bộ xã được điều tra, ban đầu cho thấy:

Bảng 4.1 Thông tin NTTS trên địa bàn các xã điều tra

Tổng diện tích chuyển đổi (ha)

Tổng

số hộ nuôi

Năm bắt đầu chuyển đổi theo quy hoạch Đối tượng nuôi chủ yếu

Nguồn: Thống kê của UBND xã Tri Trung, Hoàng Long, Chuyên Mỹ, huyện Phú

Xuyên, TP Hà Nội (2016)

Trang 29

4.2 THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁC HỘ ĐƯỢC KHẢO SÁT

4.2.1 Tuổi chủ hộ

Số liệu điều tra ở bảng 4 cho thấy: Độ tuổi của chủ hộ tại xã Tri Trunglớn nhất là 60 tuổi, nhỏ nhất là 38 tuổi, trung bình là 53,5 tuổi; xã Hoàng Long, độ tuổi lớn nhất của chủ hộ là 60, nhỏ nhất là 38, trung bình là 49,6 tuổi; xã Chuyên

Mỹ độ tuổi lớn nhất là 60 tuổi, nhỏ nhất là 37, trung bình là 49,9 tuổi

Nhìn chung tuổi của chủ hộ tại các xã được điều tra đều nằm trong độ tuổi lao động chính của hộ, không có sự khác biệt lớn về tuổi của chủ hộ tại 3 xã được điều tra

Bảng 4.2 Thông tin chung của các chủ hộ ở địa bàn nghiên cứu

Nội dung Tri Trung Hoàng Long Chuyên Mỹ Trung bình

Do trình độ học vấn của các chủ hộ liên quan đến việc tiếp thu khoa học

kỹ thuật nên việc điều tra trình độ văn hóa là cần thiết Số liệu về trình độ văn hóa của các chủ hộ trong vùng nghiên cứu được thể hiện ở bảng 4 Nhìn vào bảng trên ta thấy được cả 3 xã khảo sát không có hộ nào mù chữ, đại học và cao đẳng Phổ biến các hộ ở độ tuổi THCS ở cả 3 xã Trình độ TH cao nhất là ở xã Tri Trung, thấp nhất là ở xã Hoàng Long Trình độ THPT cao nhất là ở xã Hoàng Long, thấp nhất ở xã Tri Trung Tuy trình độ học vấn liên quan đến khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, nhưng thực tế điều tra cho thấy các hộcó kinh nghiệm

Trang 30

NTTS rất lớn đồng thời đã qua tập huấn về kỹ thuật NTTS và luôn tiếp thu khoa học kỹ thuật mới do đó cập nhật được các cách nuôi đạt năng suất và thu được lợi nhuận cao hơn

4.2.3 Nghề chính

Theo đánh giá của các hộ được điều tra, ngành nghề chính của các hộ gia đình trong vùng nghiên cứu được phân bổ như bảng 4 Có thể thấy các xã thuộc huyện Phú Xuyên là một huyện có diện tích NTTS lớn của thành phố, thu nhập

từ NTTS đang dần trở thành nguồn thu nhập chính cho các hộ nông dân trong xã Người nông dân đã và đang đầu tư về con giống, thức ăn, kỹ thuật để thu được một vụ nuôi có kết quả cao nhất Điển hình tại xã Tri Trung, các hộ coi NTTS là nghề chính, mang lại thu nhập chủ yếu cho gia đình, bên cạnh đó các hộ vẫn làm thêm 1 số nghề phụ khác như chăn nuôi, trồng lúa Tại xã Hoàng Long thì có 43,75% các hộ coi NTTS là nghề chính Tại Chuyên Mỹ có 40 % các hộ coi NTTS là nghề chính thấp nhất trong 3 xã còn lại60 % là các nghề khác như trồng lúa, chăn nuôi, đặc biệt trên địa bàn xã có là nghề khảm trai rất phát triển Tỷ lệ nghề nuôi thủy sản tại các xã quyết định rất nhiều đến hình thức nuôi của hộ gia định.Các hộ coi NTTS là nghề chính hầu hết cho biết có đầu tư trang thiết bị, kỹ thuật, con giống vào nuôi trủy sản để đạt năng xuất cao

4.2.4 Lao động và kinh nghiệm NTTS của hộ được khảo sát

4.2.4.1 Lao động

Qua số liệu ở bảng 5 cho thấy: Số lao động của các hộ ở cả 3 xã chiếm tỉ

lệ lớn ở mức 2 lao động/hộ (cao nhất là ở Tri Trung chiếm 70%, thấp nhất là ở Chuyên Mỹ chiếm 62,86 %) Số lao động từ 3-4 tại Tri Trung chiếm 22,5%, tại

xã Hoàng Long chiếm 25%, tại xã Chuyên Mỹ số lao động trong khoảng này chiếm 31,43% Số lao động trên 5 lao động/hộ là ít nhất (tại Tri Trung chiếm 2,5%, tại xã Hoàng Long chiếm 3,13%, tại xã Chuyên Mỹ là 3,78%) Thực tế cho thấy, tỉ lệ số hộ có 2 lao đông lớn nhất tại cả 3 xã rấtphù hợp cho sản xuất nông

hộ gia đình chỉ có 2 vợ chồng tham gia NTTS.Không thấy sự sai khác về tỉ lệ số lao động ở 3 xã

Trong gia đình có 2 vợ chồng tham gia sản xuất thì có sự phân công lao động trong gia đình khá rõ ràng (tỷ lệ nữ giới đóng vai trò chủ hộ rất ít, 5,6%/3

xã khảo sát) Hiện này phần lớn nam giới đảm nhiệm công việc có trách nhiệm cao như đầu tư, con giống, trang thiết bị Nữ giới chịu trách nhiệm công việc

Trang 31

nhẹ nhàng như chăm sóc cá hàng ngày, cho cá ăn, cắt cỏ Từ đó có thể thấy rằng cần quan tâm hơn nữa đến lực lượng phụ nữ, đặc biệt cần tạo điều kiện để họ tham gia trực tiếp vào các khóa tập

Bảng 4.3 Số lao động và kinh nghiệm nuôi của các hộ NTTS

là Chuyên Mỹ (18,75%) Có thể thấy các hộ nuôi thủy sản trên địa bàn khảo sát

có kinh nghiệm NTTS khá cao đây là thuận lợi cho quá trình NTTS của hộ gia đình Năm 2001 sau khi có nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ngày 15/6/2000 của chính phủ về 1 số chủ trương, chính sách về chuyển dịch cơ cấu và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp tuy nhiên việc tự phát chuyển đổi đã có từ nhiều năm trước

Từ năm 2005, 2006, UBND huyện Phú Xuyên đã có quyết định phê duyệt các hộ chuyển đổi vùng trũng sang NTTS, từ đây phong trào NTTS diễn ra mạnh và các câu lạc bộ, HTX Thủy sản thành lập (năm 2013 thành lập HTX Chăn nuôi Thủy sản Tri Phú tại xã Tri Trung, huyện Phú Xuyên với 25 thành viên, tổng diện tích

là hơn 30 ha)

4.2.5 Lý do chuyển đổi sang NTTS

Qua điều tra, phỏng vấn các hộ cho thấy: Có nhiều lý do để các hộ chuyển đổi từ trồng lúa kém hiệu quả sang NTTS Kết quả tại hình 3cho thấy 100 % các

hộ cho rằng chuyển đổi do nằm trong vùng quy hoạch, có diện tích mặt nước có sẵn Điều này phù hợp với tình hình điều kiện tự nhiên và quy hoạch của địa

Trang 32

phương Ngoài ra do thấy hiệu quả kinh tế đem lại từ việc chuyển đổi từ trồng lúa sang NTTS là rất cao nên có 80,73% các hộ chuyển đổi, các hộ NTTS đã nhận thức được rằng để nâng cao đời sống sinh hoạt của các thành viên trong gia đình thì cần thay đổi nghề chính, từ cấy lúa sang NTTS Lý do là tận dụng các loại phụ phẩm như rau, cỏ, khoai, bột cám để chuyển đổi chiếm tỷ lệ nhỏ nhất (13,08%) để thấy rằng, khi có mục tiêu chuyển đổi các hộ không tận dụng nguồn phụ phẩm có sẵn mà có kế hoạch nuôi rõ ràng

Hình 4.1 Lý do chuyển đổi sang NTTS 4.3 THÔNG TIN VỀ KỸ THUẬT

4.3.1 Mùa vụ thả giống và số vụ nuôi trong năm của các hộ NTTS trong vùng nghiên cứu

4.3.1.1 Mùa vụ thả

Kết quả điều tra thả giống ở 3 xã thuộc huyện Phú Xuyên cho thấy:Thời gian thả giống tập chung nhiều vào tháng 3, tháng 4 Điều này phù hợp với tình hình nuôi chung của toàn thành phố bởi vì đây là mùa mưa bắt đầu và là mùa sinh sản cho tất cả các loại cá nên thuận lợi về con giống và nguồn nước trong khi nuôi

Bên cạnh đó do số hộ thả 1,5 vụ/năm tập chung thả vụ thứ 2 vào tháng 9 khá nhiều (45,79%)

Quy hoạch

Thu nhập Lao động S mặt

nước có sẵn

Thực phẩm Phụ phẩm

Trang 33

Hình 4.2 Thời gian thả cá giống của các hộ trong vùng nghiên cứu 4.3.1.2 Số vụ NTTS trong năm của các hộ trong vùng nghiên cứu

Qua điều tra nghiên cứu tại các hộ NTTS trên địa bàn 3 xã thấy có khá nhiều hộ nuôi thả giống 1,5 hộ/năm Lớn nhất là địa bàn xã Tri Trung, số vụ nuôi 1,5 vụ/năm chiếm 87,5 %, xã Hoàng Long số hộ thả 1,5 vụ/năm chiếm 43,75%,

xã Chuyên Mỹ là 37,14 %, còn lại là nuôi 1 vụ/năm tùy thuộc vào khả năng đầu

tư, chăm sóc, nguồn nước, chuẩn bị con giống Cụ thể như hình 3

Hình 4.3 Số vụ NTTS trong năm 4.3.2 Thiết kế ao nuôi

Theo số liệu điều tra tại vùng nghiên cứu.Diện tích trung bình của các hộ nuôi đạt 8504,62 m2 Trong đó xã Tri Trung có diện tích trung bình là 10.236,02 m2 (diện tích lớn nhất là 1.896 m2, lớn nhất là 28.785 m2), xã Hoàng Long là 7558,75 m2(diện tích lớn nhất là 2600 m2, lớn nhất là 36.000m2), xã Chuyên Mỹ diện tích trung bình của các hộ nuôi là 7.719,8 m2 (diện tích lớn nhất là 2.000

Trang 34

m2, lớn nhất là 21.600m2) Độ sâu đạt từ 1,5-2,5 m, phù hợp cho việc nuôi các đối tượng cá truyền thống như cá Trắm, cá Chép, cá Mè, cá Trôi Các ao nuôi chủ yếu là hình chữ nhật thuận tiện cho quá trình chăm sóc và quản lý ao nuôi.Những đặc điểm trên là điều kiện thuận lợi để phát triển thành vùng nuôi thủy sản thâm canh tập trung của thành phố Hà Nội

Tại 3 xã điều tra, hình thức nuôi thâm canh khá lớn, các hộ đầu tư đã đầu

tư trang thiết bị phục vụ cho NTTS như máy bơm nước (100% hộ nuôi), máy quạt nước ( 48,59 % hộ nuôi) Việc đầu tư máy móc thiết bị trên giúp cho người nuôi có thể nuôi cá ở mật độ cao, thuận lợi trong quá trình quản lý và phòng trị bệnh cho cá Các thiết bị khác như cân, lưới kéo các hộ chủ yếu mượn của nhau khi cần thiết

Hình 4.4 Máy móc, thiết bị phục vụ NTTS 4.3.3 Đối tượng nuôi, mật độ thả

Qua điều tra cho thấy đối tượng nuôi tại các hộ điều tra là các loại cá truyển thống như cá Trắm, cá Chép, cá Mè, Trôi, cá Rôphi với hình thức nuôi ghép tất cả các đối tượng trên với đối tượng nuôi chính là cá Chép, cá Trắm còn

cá Trôi, cá Mè chỉ là đối tượng nuôi tận dụng không gian sống, thức ăn dư thừa của các đối tượng nuôi chính Cá thả với kích cỡ ban đầu trung bình là từ 3-5 con/kg, riêng cá rô phi từ 80-100 con/kg

Nhìn vào hình 5 ta thấy có sự khác biệt giữa các xã được điều tra Cụ thể như sau:

Tại xã Tri Trung: các hộ nuôi với hình thức thâm canh là chủ yếu (chiếm 87,5%) còn lại là bán thâm canh Các hộ NTTS tại xã Tri Trung coi NTTS là nghề chính, đem lại thu nhập chính cho hộ gia đình Các hộ có kinh nghiệm nuôi

100%

48.59%

0 20

Ngày đăng: 10/03/2021, 16:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chính phủ, 2000. Một số chủ trương, chính sách về chuyển dịch cơ cấu và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chủ trương, chính sách về chuyển dịch cơ cấu và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2000
2. UBND Thành phố Hà Nội, 2009. Quyết định về việc phê duyệt “Chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản thành phố Hà Nội, giai đoạn 2009 – 2015 và định hướng đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định về việc phê duyệt “Chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản thành phố Hà Nội, giai đoạn 2009 – 2015 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: UBND Thành phố Hà Nội
Năm: 2009
5. Chi cục Thủy sản Hà Nội 2010, “Báo cáo tình hình phát triển thủy sản thành phố Hà Nội năm 2009 và kế hoạch năm 2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình phát triển thủy sản thành phố Hà Nội năm 2009 và kế hoạch năm 2010
6. Chi cục Thủy sản Hà Nội 2011, “Báo cáo tình hình phát triển thủy sản thành phố Hà Nội năm 2010 và kế hoạch năm 2011” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình phát triển thủy sản thành phố Hà Nội năm 2010 và kế hoạch năm 2011
7. Chi cục Thủy sản Hà Nội 2012, “Báo cáo tình hình phát triển thủy sản thành phố Hà Nội năm 2011 và kế hoạch năm 2012” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình phát triển thủy sản thành phố Hà Nội năm 2011 và kế hoạch năm 2012
8. Chi cục Thủy sản Hà Nội 2013, “Báo cáo tình hình phát triển thủy sản thành phố Hà Nội năm 2012 và kế hoạch năm 2013” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình phát triển thủy sản thành phố Hà Nội năm 2012 và kế hoạch năm 2013
9. Chi cục Thủy sản Hà Nội 2014, “Báo cáo tình hình phát triển thủy sản thành phố Hà Nội năm 2013 và kế hoạch năm 2014” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình phát triển thủy sản thành phố Hà Nội năm 2013 và kế hoạch năm 2014
Tác giả: Chi cục Thủy sản Hà Nội
Năm: 2014
10. Chi cục Thủy sản Hà Nội 2015, “Báo cáo tình hình phát triển thủy sản thành phố Hà Nội năm 2014 và kế hoạch năm 2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình phát triển thủy sản thành phố Hà Nội năm 2014 và kế hoạch năm 2015
Tác giả: Chi cục Thủy sản Hà Nội
Năm: 2015
11. Chi cục Thủy sản Hà Nội 2016, “Báo cáo tình hình phát triển thủy sản thành phố Hà Nội năm 2015 và kế hoạch năm 2016” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình phát triển thủy sản thành phố Hà Nội năm 2015 và kế hoạch năm 2016
12. Phòng kinh tế huyện Phú Xuyên 2012, “Báo cáo tình hình NTTS huyện Phú Xuyên năm 2011 và kế hoạch năm 2012” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình NTTS huyện Phú Xuyên năm 2011 và kế hoạch năm 2012
13. Phòng kinh tế huyện Phú Xuyên 2013, “Báo cáo tình hình NTTS huyện Phú Xuyên năm 2012 và kế hoạch năm 2013” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình NTTS huyện Phú Xuyên năm 2012 và kế hoạch năm 2013
14. Phòng kinh tế huyện Phú Xuyên 2014, “Báo cáo tình hình NTTS huyện Phú Xuyên năm 2013 và kế hoạch năm 2014” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình NTTS huyện Phú Xuyên năm 2013 và kế hoạch năm 2014
15. Phòng kinh tế huyện Phú Xuyên 2015, “Báo cáo tình hình NTTS huyện Phú Xuyên năm 2014 và kế hoạch năm 2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình NTTS huyện Phú Xuyên năm 2014 và kế hoạch năm 2015
16. Phòng kinh tế huyện Phú Xuyên 2016, “Báo cáo tình hình NTTS huyện Phú Xuyên năm 2015 và kế hoạch năm 2016” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình NTTS huyện Phú Xuyên năm 2015 và kế hoạch năm 2016
17. Website Tổng cục Thống kê http://www.gso.gov.com.vn Link
18. Website Cục Thống kê thành phố Hà Nội http://www.thongkehanoi.gov.vn Link
19. Website Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội http://www.tnmtnd.hanoi.gov.vn/ Link
3. UBND Thành phố Hà Nội, 2013. Quyết định về việc phê duyệt “Quy hoạch phát triển thủy sản thành phố Hà Nội đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 Khác
4. Sở Nông Nghiệp và PTNT Thành phố Hà Nội, 2010. Báo cáo tình hình nuôi trồng thủy sản, định hướng phát triển giai đoạn 2011 – 2015 và những năm tới của Thành phố Hà Nội Khác
21. Định mức kỹ thuật của Trung tâm Khuyến nông quốc gia Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w