TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Luận văn này cung cấp thông tin khoa học về một số đặc điểm dịch tễ của các bệnh gan thận mủ do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri và bệnh xuất huyết do vi khuẩn Aeromonas
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
BÙI THỊ VIỆT HẰNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ CỦA BỆNH GAN THẬN MỦ VÀ BỆNH XUẤT HUYẾT TRÊN CÁ TRA NUÔI TẠI TỈNH BẾN TRE VÀ AN GIANG NĂM 2016
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Long
TS Kim Văn Vạn
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ bất kỳ học vị nào khác
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Bùi Thị Việt Hằng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn TS Nguyễn Văn Long và TS Kim Văn Vạn đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy cô trong khoa Thủy sản, Học viện Nông nghiệp Việt Nam và quý thầy cô từ các Viện nghiên cứu, các Trường đại học
đã dày công chỉ bảo, truyền đạt kiến thức cho tôi trong thời gian qua
Tôi chân thành cám ơn Lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp ở Cục Thú y, Cơ quan Thú y vùng VI, VII, Chi cục Chăn nuôi và Thú y, các doanh nghiệp và người nuôi cá tra tại các tỉnh An Giang, Bến Tre đã tạo điều kiện rất tốt, tận tình giúp đỡ và hỗ trợ tôi trong quá trình triển khai thực hiện đề tài
Cám ơn các bạn bè và Lớp cao học Nuôi trồng thủy sản khóa 24 đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến bố mẹ, chồng và 2 con cùng các anh chị em trong gia đình đã dành rất nhiều thời gian giúp đỡ, động viên, khuyến khích và chia sẻ với tôi trong những năm tháng qua, giúp tôi có thêm nghị lực trong suốt khóa học này
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Bùi Thị Việt Hằng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN ix
THESIS ABSTRACT x
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 2
1.5 Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 TÌNH HÌNH NUÔI VÀ XUẤT KHẨU CÁ TRA 3
2.1.1 Tình hình sản xuất giống và nuôi cá tra 3
2.1.2 Tình hình xuất khẩu cá tra 4
2.2 TỔNG QUAN VỀ BỆNH GAN THẬN MỦ TRÊN CÁ TRA 6
2.2.1 Lịch sử bệnh 6
2.2.2 Tên bệnh 6
2.2.3 Tác nhân gây bệnh 7
2.2.4 Một số đặc điểm dịch tễ 7
2.2.5 Dấu hiệu bệnh lý 8
2.2.6 Tình hình bệnh gan thận mủ tại Việt Nam 9
2.3 TỔNG QUAN VỀ BỆNH XUẤT HUYẾT TRÊN CÁ TRA 10
2.3.1 Lịch sử bệnh 10
2.3.2 Tên bệnh 10
2.3.3 Tác nhân gây bệnh 10
2.3.4 Một số đặc điểm dịch tễ 10
2.3.5 Triệu chứng, bệnh tích 11
Trang 52.3.6 Tình hình bệnh xuất huyết tại Việt Nam 11
2.4 TÌNH HÌNH NUÔI VÀ DỊCH BỆNH TRÊN CÁ TRA TẠI BẾN TRE VÀ AN GIANG 12
2.4.1 Tình hình nuôi cá tra giai đoạn 2014 - 2016 12
2.4.2 Tình hình dịch bệnh trên cá tra giai đoạn 2014 – 2016 14
2.5 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH GAN THẬN MỦ VÀ BỆNH XUẤT HUYẾT TRÊN CÁ TRA 16
2.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 16
2.5.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 21
PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 23
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 23
3.2.1 Nội dung nghiên cứu 23
3.2.2 Thời gian thực hiện 23
3.2.3 Vật liệu nghiên cứu 23
3.2.4 Phương pháp nghiên cứu 24
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ CỦA BỆNH GAN THẬN MỦ VÀ BỆNH XUẤT HUYẾT TRÊN CÁ TRA TẠI BẾN TRE VÀ AN GIANG 29
4.1.1 Phân tích đặc điểm dịch tễ theo không gian 29
4.1.2 Phân tích đặc điểm dịch tễ theo thời gian 32
4.1.3 Phân tích đặc điểm dịch tễ về đối tượng 38
4.2 CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ LIÊN QUAN ĐẾN SỰ LƯU HÀNH CÁC BỆNH TRÊN CÁ TRA TẠI BẾN TRE VÀ AN GIANG 40
4.2.1 Phân tích nhị biến 40
4.2.2 Phân tích đa tầng – nhiều biến 45
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
5.1 Kết luận 48
5.2 Kiến nghị 48
5.2.1 Đối với người sản xuất giống, nuôi cá tra: 49
5.2.2 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước: 49
5.2.3 Các đề xuất nghiên cứu tiếp theo: 49
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO 50 PHỤ LỤC 57 Phụ lục 1: PHIẾU THU THẬP THÔNG TIN VỀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ TẠI
CƠ SỞ NUÔI CÁ TRA 57 Phụ lục 2: PHIẾU THU THẬP THÔNG TIN VỀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ TẠI
CƠ SỞ SẢN XUẤT GIỐNG CÁ TRA 61 Phụ lục 3: MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN 65 Phụ lục 4: SƠ ĐỒ XÉT NGHIỆM ĐỐI VỚI MẪU GIÁM SÁT 69
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NN&PTNN Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Thị trường xuất khẩu cá tra của Việt Nam từ năm 2011 - 2016 4 Bảng 2.2 Phạm vi xuất hiện bệnh gan thận mủ trên cá tra 9 Bảng 2.3 Phạm vi xuất hiện bệnh xuất huyết trên cá tra 12 Bảng 2.4 Tình hình dịch bệnh trên cá tra ở các địa phương giai đoạn
2014 - 2016 14 Bảng 2.5 Tần suất báo cáo bệnh gan thận mủ và xuất huyết tại An Giang từ năm
2014 - 2016 16 Bảng 3.1 Số lượng cá thu/mẫu để xét nghiệm bệnh 26 Bảng 4.1 Kết quả phân tích mô tả về lưu hành bệnh gan thận mủ và xuất huyết ở
cá tra tại Bến Tre và An Giang năm 2016 35 Bảng 4.2 Kết quả phân tích nhị biến các yếu tố nguy cơ liên quan đến lưu hành
bệnh gan thận mủ và xuất huyết tại Bến Tre và An Giang năm 2016 40 Bảng 4.3 Kết quả phân tích đa tầng, nhiều biến định lượng các yếu tố nguy cơ
có liên quan đến lưu hành bệnh gan thận mủ và bệnh xuất huyết 45
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Tình hình nuôi và xuất khẩu cá tra từ năm 2001 - 2015 4 Hình 2.2 Phạm vi và mức độ mắc bệnh trên cá tra từ năm 2012 - 2014 9 Hình 2.3 Phạm vi và mức độ bệnh GTM trên cá tra từ năm 2012 - 2014 tại
ĐBSCL 9 Hình 4.1 Bản đồ phân bố các cơ sở nuôi cá tra phát hiện bệnh gan thận mủ và
bệnh xuất huyết tại tỉnh Bến Tre 30 Hình 4.2 Nuôi cấy vi khuẩn A hydrophila trên thạch máu (khuẩn lạc gây dung
huyết) 31 Hình 4.3 Nuôi cấy vi khuẩn A hydrophila trên môi trường thạch chuyên biệt
(Aeromonas agar) 31 Hình 4.4 So sánh tỷ lệ lưu hành của bệnh gan thận mủ và bệnh xuất huyết
giữa các huyện giám sát 32 Hình 4.5 So sánh tỷ lệ lưu hành của bệnh gan thận mủ và bệnh xuất huyết
giữa các đợt giám sát 33 Hình 4.6 Bản đồ phân bố mầm bệnh gan thận mủ và xuất huyết theo không
gian (a, b: Bến Tre; c, d: An Giang) 34 Hình 4.7 Đường cong ROC với giá trị AUC là 0,75 cho thấy mô hình phân
tích đa biến là đủ mạnh và kết quả đáng tin cậy 47
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Luận văn này cung cấp thông tin khoa học về một số đặc điểm dịch tễ của các bệnh gan thận mủ do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri và bệnh xuất huyết do vi khuẩn Aeromonas hydrophila trên cá tra nuôi Kết quả có thể giúp người nuôi cá tra và các cơ quan chuyên ngành thú y xây dựng và triển khai các giả phòng, chống dịch bệnh trên cá tra nuôi phù hợp và hiệu quả hơn
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong giai đoạn từ tháng 1-12/2016, tổng số 89,74% cơ sở sản xuất cá tra giống và nuôi cá tra thương phẩm nhiễm ít nhất một trong hai hoặc cả hai tác nhân gây bệnh gan thận mủ (E ictaluri) và bệnh xuất huyết (A hydrophila) Trong đó, 100% cơ sở sản xuất cá tra giống và 87,88% cơ sở nuôi cá tra thương phẩm có ít nhất một trong hai tác nhân gây bệnh
Tỷ lệ lưu hành bệnh xuất huyết là 8,83%, trong đó cá tra giống được sản xuất và ương nuôi là 8,60% và cá tra nuôi thương phẩm là 7,61% Các huyện của tỉnh An Giang
có tỷ lệ lưu hành trung bình là 10,58%, cao hơn nhiều so với các huyện của tỉnh Bến Tre 4,42%; Tỷ lệ lưu hành gan thận mủ là 3,36%, trong đó cá tra giống được sản xuất
và ương nuôi là 2,56% và cá tra nuôi thương phẩm là 3,01% Các huyện của tỉnh An Giang có tỷ lệ lưu hành trung bình là 2,07%, thấp hơn nhiều so với các huyện của tỉnh Bến Tre 3,98%
Kết quả phân tích đa biến cho thấy có 6 yếu tố có liên quan đến nguy cơ phát sinh dịch bệnh, điển hình như nguy cơ bị bệnh của các cơ sở không được chứng nhận vệ sinh thú y là 2,10 (95% CI 1,45 - 3,04) lần so với cơ sở được chứng nhận vệ sinh thú y Các yếu tố ở cấp cơ sở chiếm 91% trong tổng số nguy cơ bị bệnh; các yếu tố ở cấp độ tỉnh chỉ đóng vai trò là 9%
Trong số 22 kháng sinh được thử, có 20 (chiếm 91%) loại kháng sinh kháng với
vi khuẩn A hydrophila và 15 (chiếm 68%) loại kháng sinh kháng với vi khuẩn E ictaluri Các kết quả nêu trên cho thấy, các giải pháp phòng, chống cần tập trung tại các
cơ sở sản xuất, nuôi cá tra và việc thực hiện của chủ cơ sở đóng vai trò quan trọng, quyết định vào kết quả phòng, chống dịch bệnh
Trang 11THESIS ABSTRACT
This thesis provides scientific evidence accounted for epidemiology of diseases caused by Edwardsiella ictaluri and Aeromonas hydrophila in pangasisus Findings of this thesis may help catfish producers and aquatic animal health authorities to develop and carry out more proper intervention measures
Results of the repeated cross-sectional study conducted from January to December 2016 indicated that 89.74% hatcheries and commercial pangasius farms were infected with at least one of the two mentioned pathogens All (100%) pangasius hatcheries and 87.88% commercial pangasius farms were infected with the diseases
The overall prevalence of A hydrophila was 8.83%, of which 8.60% pangasius hatcheries and 7.61% commercial pangasius farms were positive Districts of An Giang province had the prevalence of 10.58% is much higher than that recorded for districts of Ben Tre province (4.42%) The prevalence of E ictaluri was 3.36%, of which 2.56% pangasius hatcheries and 3.01% commercial pangasius farms were positive Districts of
An Giang province had the prevalence of 2.07% is lower than that recorded for districts
of Ben Tre province (3.98%)
Multivariable analysis indicated that 6 risk factors were significantly associated with infection risk of the two diseases, in particularly the odds of the two disease infection in farms without certification of veterinary hygiene was 2.10 (95% CI 1.45 - 3.04) times the odds of the two disease infection in farms with certification of veterinary hygiene The proportion of variance at the farm level was 91% compared with that recorded for the district level was only 9%
Of the 22 tested antibiotics, 20 (91%) antibiotics were resisted by A hydrophila and 15 (68%) antibiotics were resisted by E ictaluri These findings convince that the intervention measures should be strictly implemented at the farm level and cooperation
of farm owners plays the most important role in the success of prevention and control of diseases
Trang 12PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Cá tra là một trong những đối tượng nuôi chủ lực tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long Trong đó, Bến Tre (có diện tích nuôi khoảng 700 ha) và An Giang (có diện tích nuôi khoảng 1280 ha) là những tỉnh trọng điểm về nuôi cá tra, với diện tích nuôi chiếm trên 26% tổng diện tích nuôi cá tra của cả nước (khoảng 5.100 ha vào năm 2016); năng suất nuôi cá tra của hai tỉnh đạt khoảng 369.840 tấn, chiếm 30% tổng sản lượng cá tra cả nước (Tổng cục Thủy sản, 2016)
Báo cáo của các địa phương cho thấy trong năm 2015, dịch bệnh trên cá tra đã xảy ra tại 89 xã của 24 huyện thuộc 4 tỉnh (Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long và Hậu Giang) với tổng diện tích bị thiệt hại là 542 ha Trong đó, bệnh gan thận mủ do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri và bệnh xuất huyết do vi khuẩn Aeromonas hydrophila là hai bệnh xảy ra nhiều nhất và gây thiệt hại nghiêm trọng cho người nuôi cá tra Ngoài ra, còn một số bệnh khác như vàng da, trắng mang - trắng gan, bệnh đỏ mang và bệnh ký sinh trùng cũng gây ảnh hưởng đáng
kể hiệu quả kinh tế trong nuôi cá tra
Việt Nam là nước xuất khẩu cá tra lớn nhất thế giới, cá tra và sản phẩm cá tra đã được xuất bán ở trên 161 quốc gia, vùng lãnh thổ Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nhiều thị trường nhập khẩu đã đưa ra các rào cản kỹ thuật nhằm hạn chế, thậm chí ngừng nhập khẩu sản phẩm cá tra của Việt Nam Một trong các rào cản chính là các nước nhập khẩu yêu cầu Việt Nam phải xây dựng, tổ chức giám sát tình hình dịch bệnh trên cá tra và định kỳ báo cáo kết quả thực hiện (Cục Thú y, 2015) Do đó, để hạn chế tối đa thiệt hại do dịch bệnh và đáp ứng yêu cầu của các nước nhập khẩu, Cục Thú y đã xây dựng và trình Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Quyết định số 4995/QĐ-BNN-TY ngày 20/11/2014 phê duyệt “Kế hoạch quốc gia phòng, chống dịch bệnh trên
cá tra giai đoạn 2015-2020” Sau đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục ban hành Công văn số 7270/BNN-TY ngày 04/9/2015 gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh Bến Tre, Đồng Tháp và An Giang (vì đây là 3 tỉnh có tổng diện tích nuôi lớn nhất, chiếm trên 70% diện tích của cả nước và thường xuyên có dịch bệnh trên cá tra xuất hiện) về việc tổ chức phòng, chống và kiểm soát các loại nguyên vật liệu đầu vào; trong đó có nội dung giám sát dịch bệnh trên cá tra Tuy
Trang 13nhiên, do điều kiện khách quan nên ngày 09/3/2016 Chi cục Thú y Đồng Tháp đã
có Công văn số 275/TY-DT gửi Cục Thú y báo cáo chưa triển khai hoạt động giám sát chủ động phát hiện bệnh trên cá tra như kế hoạch
Để có cơ sở khoa học nhằm giúp các địa phương xây dựng và triển khai đồng bộ, có hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch bệnh trên cá tra; đồng thời được sự hỗ trợ và bố trí kinh phí của Cục Thú y, sự phối hợp của Chi cục Chăn nuôi và Thú y các tỉnh Bến Tre và An Giang, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh gan thận mủ và bệnh xuất huyết trên cá tra nuôi tại tỉnh Bến Tre và An Giang năm 2016”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xác định mức độ lưu hành và một số đặc điểm dịch tễ của bệnh gan thận
mủ do vi khuẩn E ictaluri và bệnh xuất huyết do vi khuẩn A hydrophila; xác định
và lượng hóa các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến mức độ lưu hành bệnh nhằm đề xuất các biện pháp phòng, chống dịch bệnh trên cá tra hiệu quả và kịp thời
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh gan thận mủ và bệnh xuất huyết trên cá tra nuôi tại tỉnh Bến Tre và An Giang năm 2016
1.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Xác định được mức độ lưu hành và một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh gan thận mủ do vi khuẩn E ictaluri và bệnh xuất huyết do vi khuẩn A hydrophila; xác định khả năng mẫn cảm, kháng kháng sinh của vi khuẩn đã lựa chọn
1.5 Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Cung cấp bức tranh tổng thể về tình hình nuôi cá tra, tình hình dịch bệnh, mức độ lưu hành bệnh gan thận mủ và xuất huyết
Xác định được các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến lưu hành bệnh gan thận
mủ và xuất huyết nhằm đề xuất các biện pháp phòng, chống dịch bệnh trên cá tra kịp thời, hiệu quả và khả thi tại hai tỉnh Bến Tre và An Giang
Giúp người nuôi trồng thủy sản đưa ra biện pháp phòng bệnh hiệu quả; lựa chọn thuốc điều trị theo đúng nguyên tắc sử dụng kháng sinh tránh gây ra các dòng vi khuẩn kháng thuốc gây ô nhiễm môi trường và hạn chế được tồn dư kháng sinh trong cá sản phẩm cá tra, đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng và đáp ứng yêu cầu của các thị trường xuất khẩu.ư
Trang 14PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TÌNH HÌNH NUÔI VÀ XUẤT KHẨU CÁ TRA
2.1.1 Tình hình sản xuất giống và nuôi cá tra
Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) là một trong những đối tượng cá nuôi nước ngọt chính của Việt Nam, cung cấp thực phẩm trong nước và là mặt hàng xuất khẩu thủy sản quan trọng Việt Nam là nước sản xuất và xuất khẩu cá tra lớn nhất thế giới Cá tra được nuôi tập trung chủ yếu tại 10 tỉnh ĐBSCL, gồm: Đồng Tháp, An Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Tiền Giang, Vĩnh Long, Hậu Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang và Trà Vinh
Từ năm 2009 - 2016, diện tích nuôi, sản lượng và giá trị xuất khẩu cá tra
ít biến động, nhưng đang có xu hướng giảm dần (từ 6.022 ha xuống còn 5.100
ha, giảm khoảng 17% diện tích nuôi) So với cùng kỳ năm 2015, mặc dù số lượng giống thả nuôi giảm 11,1%, diện tích thả nuôi tăng 3,1%, nhưng sản lượng tăng 8,9% Sản lượng thu hoạch tăng do kích cỡ cá thu hoạch để tiêu thụ sang thị trường Trung Quốc tăng hơn so với năm 2015 Các tỉnh có diện tích thả nuôi tăng so với cùng kỳ năm 2015 gồm: Đồng Tháp (diện tích tăng 85 ha, sản lượng tăng 23.970 tấn); Bến Tre (diện tích tăng 22 ha, sản lượng tăng 13.420 tấn) và An Giang (diện tích tăng 75 ha, sản lượng tăng 11.168 tấn) (Tổng cục Thủy sản, 2016)
Năm 2016, tổng diện tích thả nuôi cả nước đạt khoảng 5.100 ha, với sản lượng 1.150.000 tấn Mặc dù vậy, về tổng thể cho thấy tốc độ tăng trưởng trong ngành hàng cá tra là rất cao, có vai trò rất quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh
tế chung của ngành Nông nghiệp Về sản xuất giống, đến nay cả nước có 230 cơ
sở sản xuất giống cá tra, hơn 4.000 hộ ương dưỡng cá giống với diện tích hơn 2.250 ha, sản xuất được khoảng 25 - 28 tỷ con cá bột (hơn 2,0 tỷ cá tra giống), tập trung chủ yếu ở các tỉnh Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Tiền Giang và cung cấp đủ cho nhu cầu thả nuôi của người dân (Tổng cục Thủy sản, 2016)
Tuy nhiên, như một qui luật tự nhiên, khi hoạt động nuôi phát triển thì dịch bệnh cũng xuất hiện Theo báo cáo của các địa phương trong những năm gần đây cho thấy tình hình dịch bệnh trên cá tra có chiều hướng gia tăng mạnh, tác động tiêu cực đến quá trình nuôi, xuất khẩu cá tra của nước ta Đã có một số nước yêu cầu Việt Nam phải có kế hoạch phòng, chống dịch bệnh trên cá tra, nhất là các bệnh như gan thận mủ, xuất huyết (Bùi Thị Việt Hằng và cs., 2016)
Trang 152.1.2 Tình hình xuất khẩu cá tra
Diện tích nuôi và sản lượng cũng như giá trị kim ngạch xuất khẩu từ cá tra có
xu hướng tăng liên tục từ năm 2001 - 2009 (Tổng cục Thủy sản, 2016) (Hình 2.1)
Năm 2016, tổng diện tích nuôi cá tra của cả nước là 5.050 ha, đạt 99% so với kế hoạch Sản lượng thu hoạch là 1,15 triệu tấn (Tổng cục Thủy sản, 2016)
Cá tra và sản phẩm cá tra đã được xuất sang trên 140 quốc gia (tăng thêm 04 thị trường so với 2015) và vùng lãnh thổ thuộc châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi
và châu Đại Dương, trong đó Mỹ và EU là hai thị trường lớn nhất (Bảng 2.1)
Nguồn: Tổng cục Thủy sản (2016)
Hình 2.1 Tình hình nuôi và xuất khẩu cá tra từ năm 2001 - 2015
Bảng 2.1 Thị trường xuất khẩu cá tra của Việt Nam từ năm 2011 - 2016
Trang 16Tuy nhiên, tình hình xuất khẩu cá tra đang ngày một trở nên khó khăn do các nước liên tục đưa ra các rào cản kỹ thuật để bảo hộ sản xuất trong nước như Liên bang Nga, Brazil và mới đây là Hoa Kỳ Cụ thể, từ ngày 20-31/10/2014, Cơ quan Giám sát và Kiểm dịch Động Thực vật Liên bang Nga (FSVPS) đã cử đoàn thanh tra sang Việt Nam để thanh tra các doanh nghiệp đăng ký xuất khẩu thủy sản từ Việt Nam vào Liên minh Hải quan Nga - Kazakstan - Belarus và Liên bang Nga Sản phẩm cá tra của nhiều doanh nghiệp Việt Nam không xuất khẩu được vào thị trường Liên bang Nga do không đạt yêu cầu an toàn thực phẩm, an toàn vệ sinh thú y của Liên minh Hải quan và Liên bang Nga và một trong các nguyên nhân là đã phát hiện cá tra bị nhiễm mầm bệnh xuất huyết do Aeromonas, bệnh gan thận mủ do E ictaluri và Pseudomonas; tại các trang trại đoàn đến thanh tra, đã không có hoạt động giám sát dịch bệnh chủ động, đây cũng là “lỗ hổng” lớn nhất của Việt Nam trong việc chứng minh kiểm soát tốt cũng như đảm bảo an toàn dịch bệnh
Tương tự Liên bang Nga, để nhập khẩu các sản phẩm cá tra, Bộ Thủy sản
và Nuôi trồng thủy sản của Bra-xin (MPA) đã sang Việt Nam đánh giá hệ thống kiểm soát dịch bệnh trên cá tra và cơ sở nuôi cá tra trong thời gian từ 04-15/3/2013 Sau đó, MPA đã yêu cầu Việt Nam phải xây dựng và thực hiện kế hoạch quốc gia về kiểm soát và ngăn chặn các bệnh do Edwardsiella spp., Flavobacterium spp., Aeromonas spp và Streptoccus spp tại các cơ sở sản xuất, ương và nuôi cá tra
Ngày 02/12/2015, Cơ quan Kiểm tra An toàn thực phẩm (FSIS) thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ đã thông báo chính thức về chương trình thanh tra bắt buộc đối với các loài cá thuộc Bộ Siluriformes (cá da trơn) và các sản phẩm của chúng trong Luật Nông trại năm 2014 (Farmbill) của Hoa Kỳ Trong đó phía Hoa Kỳ đã đưa ra lộ trình đánh giá tương đương giữa cá da trơn Việt Nam và cá da trơn Mỹ (áp dụng thời gian chuyển đổi là 18 tháng) cho đến khi Luật này được áp dụng đầy đủ từ ngày 01/9/2017 Sau thời hạn này tất cả các lô hàng cá tra từ Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ đều phải được lấy mẫu kiểm tra 100% trước khi cho vào thị trường Có thể thấy, để đạt được sự tương đương với Hoa Kỳ là vô cùng khó khăn và phức tạp Hiện nay, Chính phủ đang chỉ đạo Bộ Công Thương, Bộ NN&PTNT cùng các Bộ Ngành có liên quan khẩn trương xây dựng kế hoạch ứng phó kịp thời, hiệu quả Tuy không đề cập nhiều đến yêu cầu an toàn dịch bệnh
Trang 17nhưng Cơ quan thẩm quyền Mỹ cũng như chúng ta đều hiểu, để có sản phẩm an toàn, cần có quá trình nuôi đảm bảo an toàn dịch bệnh, có an toàn dịch bệnh, người nuôi mới không sử dụng thuốc, kháng sinh, sản phẩm sẽ không có tồn dư hóa chất, kháng sinh và đảm bảo sản phẩm an toàn cho người sử dụng
2.2 TỔNG QUAN VỀ BỆNH GAN THẬN MỦ TRÊN CÁ TRA
2.2.1 Lịch sử bệnh
Vi khuẩn E ictaluri được phân lập đầu tiên trên cá nheo nuôi tại châu Mỹ (Ictalurus punctatus) và được xác định là nguyên nhân gây bệnh ESC (Enteric septicaemia of catfish) (Hawke, 1979; Hawke et al., 1981) Còn ở Việt Nam E ictaluri gây bệnh trên cá tra được gọi bệnh mủ gan (gan thận mủ) Bệnh được ghi nhận đầu tiên ở ĐBSCL vào cuối năm 1998 trên cá tra nuôi bè với dấu hiệu bệnh
có nhiều nốt trắng trên gan (Ferguson et al., 2001) Tại vùng ĐBSCL bệnh gan thận mủ xuất hiện đầu tiên ở các tỉnh nuôi cá tra thâm canh phát triển mạnh như
An Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ, sau đó bệnh lây lan sang các vùng lân cận (Từ Thanh Dung và cs., 2004) Đặc biệt những năm gần đây bệnh cũng xuất hiện
ở một số tỉnh mới phát triển nuôi cá tra như Trà Vinh, Bến Tre và Sóc Trăng
Bệnh gan thận mủ xuất thường xuất hiện vào mùa lũ, cao điểm vào tháng
7, 8 và 9 (Từ Thanh Dung và cs., 2016) Trong một chu kỳ nuôi, bệnh có thể xuất hiện từ 3 - 5 lần, đặc biệt trong những năm gần đây, bệnh xuất hiện hầu như quanh năm và ở hầu hết các tỉnh nuôi cá tra ở Việt Nam Bệnh xuất hiện ở tất cả các giai đoạn phát triển của cá tra với tỷ lệ hao hụt lớn nhất ở giai đoạn giống, có thể gây chết từ 10 - 50% tùy thuộc chế độ chăm sóc, quản lý Bệnh gây thiệt hại lớn cho người nuôi cá tra, tăng tỷ lệ hao hụt và chi phí do điều trị (Ferguson et al., 2001; Từ Thanh Dung và cs., 2004)
Mạng lưới các Trung tâm Nuôi trồng thủy sản ở châu Á - Thái Bình Dương (NACA) đã liệt kê bệnh gan thận mủ vào danh sách các bệnh có ảnh hưởng lớn đến nghề nuôi cá da trơn và là một trong những bệnh phải báo cáo Tại Việt Nam, bệnh này thuộc Danh mục các bệnh thủy sản phải công bố dịch (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2016)
2.2.2 Tên bệnh
Bệnh gan thận mủ ở cá tra
Trang 182.2.3 Tác nhân gây bệnh
Do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri thuộc
Ngành : Proteobacterria Lớp : Gammaproteobaterria
Bộ : Enterobacteriales
Họ : Enterobacteriaceae Giống : Edwardsiella
Vi khuẩn E ictaluri là tác nhân chính gây ra bệnh gan thận mủ (Ferguson
et al., 2001; Crumlish et al., 2002) E ictaluri gây bệnh chủ yếu ở cá da trơn nuôi thâm canh E ictaluri được phân lập lần đầu tiên ở cá nheo Mỹ (Ictalurus furcatus) gây bệnh nhiễm trùng máu (Hawke, 1979; Hawke et al., 1981), cá trê trắng (Clarias batrachus) ở Thái Lan (Kasornchandra et al., 1987), cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) ở Việt Nam (Ferguson et al., 2001; Crumlish et al., 2002; Từ Thanh Dung và cs., 2004), ở Indonesia (Yuasa et al., 2003) và trên một số loài cá da trơn khác E ictalluri là vi khuẩn Gram âm, có dạng que, mảnh
và có kích thước biến đổi (0,75 × 1,5 - 2,5 µm), phát triển tốt ở 26 - 28oC, khả năng di động kém hoặc không di động khi ở nhiệt độ > 30oC (Từ Thanh Dung và cs., 2016)
Kết quả điều tra của Từ Thanh Dung và cs (2005) cho thấy bệnh mủ gan thường bắt đầu xuất hiện vào tháng 5 và phát triển mạnh nhất vào khoảng tháng 7 đến tháng 10 rồi giảm xuống ở các tháng còn lại Đặc biệt bệnh gan thận mủ xuất hiện cao nhất vào thời gian lũ về với tỉ lệ 85,4% số hộ nuôi cá ở An Giang bị
Trang 19nhiễm bệnh (Trần Anh Dũng, 2005) Lê Thị Bé Năm (2002) cũng cho rằng bệnh xuất hiện mạnh vào mùa lũ trong năm, nước đục mang nhiều phù sa, chất lượng nước biến động, đồng thời nước chảy mạnh làm cá dễ bị sốc, giảm khả năng đề kháng đối với mầm bệnh Ngoài ra, nhiệt độ nước dao động trong khoảng 26 -
28oC là điều kiện tốt cho vi khuẩn E ictaluri phát triển và gây bệnh (Trương Quốc Phú, 2004)
- Vùng xuất hiện bệnh: Bệnh xảy ra ở hầu hết các vùng ương giống và nuôi cá tra thâm canh ở các tỉnh ĐBSCL
- Phương thức truyền lây: Bệnh lây truyền theo chiều ngang, trực tiếp từ
cá bệnh sang cá khỏe qua phân, môi trường nước (Từ Thanh Dung và cs., 2004) Vi khuẩn trong nước có thể qua đường mũi của cá xâm nhập vào cơ quan khứu giác và di chuyển vào dây thần kinh khứu giác, sau đó vào não, bệnh lan rộng từ màng não đến sọ và da E ictaluri cũng có thể xâm nhiễm qua đường tiêu hoá qua niêm mạc ruột vào máu gây nhiễm trùng máu Cá cũng có thể nhiễm E ictaluri qua đường miệng gây nhiễm khuẩn ruột Bệnh tiến triển gây viêm ruột, viêm gan và viêm cầu thận trong vòng 2 tuần sau khi nhiễm bệnh (Shotts et al., 1986)
2.2.5 Dấu hiệu bệnh lý
- Thể cấp tính: Cá chết nhanh sau vài ngày
- Thể mạn tính: Cá chết rải rác trong vài tuần hoặc kéo dài hơn
- Triệu chứng: Ở giai đoạn đầu, triệu chứng của bệnh chưa rõ ràng hay nói cách khác là không có dấu hiệu bất thường bên ngoài Ở giai đoạn mới chớm bệnh cá vẫn còn bắt mồi Tuy nhiên ở giai đoạn này nếu không phát hiện sớm và môi trường nuôi quá bẩn thì bệnh cá sẽ trở nên trầm trọng hơn và rất khó khăn trong điều trị Khi bị bệnh nặng hơn, cá tách đàn, bơi lờ đờ, giảm ăn hoặc bỏ ăn hoàn toàn, ít phản ứng với những tác động xung quanh Giai đoạn tiếp theo, cá bệnh có hiện tượng da nhợt nhạt; mặc dù bên ngoài không có những biểu hiện bệnh rõ ràng nhưng bên trong nội tạng xuất hiện nhiều đốm trắng (ổ mủ) trên gan, thận và lách Cá bị bệnh xuất hiện nhiều đốm trắng đục kích cỡ 1 - 3 mm trên gan, thận và tỳ tạng (Nguyễn Quốc Thịnh và cs., 2003) Quan sát mô bệnh học nhuộm H&E (Haematoxylin & Eosin) dưới kính hiển vi ở gan, thận và tỳ tạng cho thấy các vết tổn thương đặc trưng bởi sự hoại tử nội tạng gan thận tỳ tạng, nhiều vùng bị xung huyết ở động mạch và tĩnh mạch gan Nhiều cụm vi
Trang 20khuẩn xuất hiện ở rìa các vết thương ở các cơ quan nội tạng này Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu của bệnh thì những đốm trắng nhỏ li ti chỉ xuất hiện trên thận hoặc
tỳ tạng của cá (Từ Thanh Dung và cs., 2016)
2.2.6 Tình hình bệnh gan thận mủ tại Việt Nam
Từ năm 2013 đến năm 2015, bệnh có xu hướng giảm về diện tích nhưng tăng về phạm vi ảnh hưởng (Cục Thú y, 2015) Năm 2013, có 88 ha cá tra mắc bệnh tại 14 xã thuộc 3 huyện tại tỉnh Đồng Tháp; năm 2014, diện tích cá tra mắc bệnh tăng mạnh lên 729 ha tại tỉnh Đồng Tháp với 56 xã có cá mắc bệnh; năm
2015, diện tích bệnh giảm chỉ còn 77 ha tại 45 xã của 16 huyện thuộc 4 tỉnh (Bảng 2.2) Tình hình dịch bệnh trên cá tra trong 3 năm từ 2012 - 2014 được thể hiện ở Hình 2.2; phạm vi và mức độ xuất hiện của bệnh gan thận mủ được thể hiện ở Hình 2.3
Bảng 2.2 Phạm vi xuất hiện bệnh gan thận mủ trên cá tra
Trang 212.3 TỔNG QUAN VỀ BỆNH XUẤT HUYẾT TRÊN CÁ TRA
2.3.1 Lịch sử bệnh
Bệnh xuất hiện trên tất cả các loài cá nuôi và cá tự nhiên trên khắp thế giới
từ các nước châu Âu như Liên Xô, Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan, Hung-ga-ri đến các nước châu Á như Trung Quốc, Thái Lan, In-đô-nê-xi-a,, Việt Nam Ngoài ra bệnh này còn xuất hiện trên cá ba sa, cá sấu, ếch, tôm càng xanh (Từ Thanh Dung và cs., 2016)
Tại Việt Nam, bệnh được ghi nhận từ trước năm 1993 (Bộ NN&PTNT, 2016) Hiện nay, bệnh xuất hiện ở hầu khắp các vùng nuôi cá nước ngọt và gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người nuôi ở các tỉnh ĐBSCL
Bộ : Enterobacteriales
Họ : Aeromonadales Giống : Aeromonas Các loài vi khuẩn di động thuộc giống Aeromonas gây bệnh xuất huyết trên cá tra là vi khuẩn Gram âm, hình que ngắn, kích thước 0,5 × 1,0 - 1,5 µm, hai đầu hơi tròn, đầu có 1 tiêm mao, di động, không có nha bào Trong điều kiện nuôi cấy vi khuẩn phát triển tốt nhất ở nhiệt độ từ 28 - 30oC (Inglis et al., 1993;
Từ Thanh Dung và cs., 2016) Vi khuẩn A hydrophila di động, có khả năng gây bệnh trên hầu hết các loài động vật thủy sản nước ngọt
Trang 22xảy ở giai đoạn cá giống, cá nuôi thịt Bệnh lây lan nhanh, tỷ lệ chết có thể lên đến 90%, có thể xuất hiện nhiều lần trong một vụ nuôi, đặc biệt ở giai đoạn cá từ 500g trở lên bệnh thường kéo dài và gây thiệt hại lớn
Mùa vụ xuất hiện bệnh: Ở Việt Nam, bệnh xuất huyết do A hydrophila xảy ra quanh năm, tập trung vào đầu mùa mưa ở ĐBSCL, đặc biệt là khi cá bị stress như sau các cơn mưa
Vùng xuất hiện bệnh: Bệnh xuất hiện ở hầu hết trên các loài cá nuôi lồng,
bè và ao hồ nước ngọt
Phương thức truyền lây: Bệnh lây theo chiều ngang từ cá bệnh sang cá khỏe trong cùng ao Mầm bệnh tồn tại trong môi trường có thể gây bệnh trực tiếp cho cá khỏe qua môi trường nước, phân, dụng cụ chăm sóc (như thau, vợt, lưới) 2.3.5 Triệu chứng, bệnh tích
Bệnh tích: Ruột có thể chứa đầy hơi và hoại tử; xoang bụng xuất huyết, gan tái nhợt, mật sưng to, thận sưng, xuất huyết Trường hợp cấp tính, khi mổ cá thấy nhiều dịch đỏ lẫn máu ở xoang bụng, xuất huyết nội tạng, cá chết nhiều trong thời gian ngắn
2.3.6 Tình hình bệnh xuất huyết tại Việt Nam
Bệnh có xu hướng tăng cả về diện tích mắc và phạm vi xảy ra bệnh trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2015 (Cục Thú y, 2015) Diện tích cá tra mắc
Trang 23bệnh năm 2013 là 55 ha, năm 2014 diện tích này tăng lên 983 ha (gấp 18,36 lần
so với năm 2013), sau đó giảm xuống còn 353 ha vào năm 2015 Năm 2013 có
12 xã tại 3 huyện thuộc 1 tỉnh xuất hiện bệnh nhưng đến năm 2015 số xã bị bệnh tăng lên là 67 xã thuộc 17 huyện tại 4 tỉnh xuất hiện bệnh (Bảng 2.3)
Bảng 2.3 Phạm vi xuất hiện bệnh xuất huyết trên cá tra
2.4 TÌNH HÌNH NUÔI VÀ DỊCH BỆNH TRÊN CÁ TRA TẠI BẾN TRE
VÀ AN GIANG
Trong giai đoạn 2014 – 2016, tổng diện tích nuôi cá tra trung bình tại hai tỉnh Bến Tre và An Giang là 999 ha, chiếm 20% tổng diện tích nuôi cá tra của cả nước; tổng sản lượng cá tra thu hoạch được là 220.015 tấn, chiếm 19% tổng sản lượng cá tra của cả nước, cụ thể như sau:
2.4.1 Tình hình nuôi cá tra giai đoạn 2014 - 2016
2.4.1.1 Tình hình sản xuất, nuôi cá tra tại tỉnh Bến Tre
- Về nuôi cá tra thương phẩm: Trong các năm 2014 - 2016, diện tích nuôi
cá tra ở Bến Tre tăng so với cùng kỳ các năm trước, cụ thể: năm 2014, diện tích nuôi cá tra là là 711 ha, năm 2015 là 730 ha và năm 2016 đạt 760 ha Cá tra được nuôi tập trung chủ yếu ở các huyện Chợ Lách, Châu Thành, Giồng Trôm và Bình Đại Về sản lượng, năm 2015 tăng so với 2014 là 6,74% nhưng năm 2016 lại giảm 1,64% so với 2015 cụ thể, sản lượng cá tra năm 2016 toàn tỉnh đạt 167.212 tấn trong khi năm 2015 đạt 170.000 tấn
- Về sản xuất cá tra giống: Trên địa bàn tỉnh, số cơ sở sản xuất cá tra giống giảm dần qua các năm, từ 2014 với 05 cơ sở, 2015 có 4 cơ sở và 2016 chỉ còn 3 cơ sở sản xuất giống cá tra chất lượng cao để cung ứng cho các vùng nuôi của doanh nghiệp, hộ nuôi Nguyên nhân là do giá cá tra giống liên tục ở mức thấp trong những năm qua Mặc dù giống cá tra sản xuất trong tỉnh chỉ đáp ứng 7,6% so với nhu cầu của các khu nuôi trong tỉnh Vì vậy, phần lớn phải thu mua
Trang 24con giống từ các tỉnh lân cận như An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tiền Giang,…để thả nuôi
Các cơ sở nuôi cá tra ở Bến Tre chủ yếu là các doanh nghiệp đầu tư với quy mô lớn Tính đến hết 2016, toàn tỉnh đã có 33 khu sản xuất giống và nuôi cá tra thương phẩm áp dụng thực hành nuôi trồng thủy sản tốt theo các tiêu chuẩn (VietGAP, GlobalGAP, ASC, BAP, AquaGAP), với tổng diện tích mặt nước 243,1 ha Trong đó có 02 khu sản xuất giống cá tra, với diện tích 12,4 ha và 21 khu nuôi cá tra thâm canh, với diện tích mặt nước 230,7 ha, chiếm khoảng 43% tổng diện tích mặt nước nuôi cá tra trên địa bàn tỉnh Kế hoạch năm 2017, diện tích nuôi dự kiến là 770 ha với năng suất khoảng 175.000 tấn (Sở NN&PTNT tỉnh Bến Tre, 2014; Sở NN&PTNT tỉnh Bến Tre, 2015; Sở NN&PTNT tỉnh Bến Tre, 2016)
2.4.1.2 Tình hình sản xuất, nuôi cá tra tại tỉnh An Giang
- Về nuôi cá tra thương phẩm: Diện tích nuôi cá tra của An Giang tương đối ổn định qua các năm từ 2014 – 2016, năm 2014: diện tích nuôi là 1218 ha,
2015 tăng 75 ha so với 2014 và 2016 đạt 1281 ha Cá tra được nuôi ở tất cả các huyện, thị và thành phố thuộc tỉnh An Giang, tập trung chủ yếu ở 5 huyện, gồm: Chợ Mới, Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn và Phú Tân Sản lượng cá tra cao nhất là năm 2014 với 308.425 tấn Riêng diện tích sản xuất giống cá tra năm
2016 ước đạt 398,36 ha, bằng 85,59% so với cùng kỳ năm 2015, sản lượng con giống cá tra sản xuất năm 2016 ước đạt 385 triệu con, bằng 82,26% (giảm 83 triệu con so với năm 2015) Hiện nay, toàn tỉnh có 28 cơ sở/vùng nuôi và 165,26
ha được chứng nhận các tiêu chuẩn chất lượng GAP (Chi cục Thủy sản An Giang, 2017)
- Về sản xuất cá tra giống: An Giang có 16 cơ sở sản xuất cá tra bột với tổng đàn cá tra bố mẹ là 23.743 con, công suất sản xuất 2.200 triệu cá tra bột/năm cung cấp đủ nhu cầu ương nuôi trong tỉnh và cung cấp số lượng lớn cho các tỉnh lân cận thuộc khu vực ĐBSCL Đàn cá tra bố mẹ hậu bị được nhập từ Cambodia và 4.000 con từ Viện Nghiên cứu NTTS II (Sở NN&PTNT tỉnh An Giang, 2014) Năm 2016, tổng đàn cá tra F1 nhận từ Viện Nghiên cứu NTTS II hiện nay còn lại là 3.969 con Do giá cá giống xuống rất thấp người ương nuôi không có lãi, không tiêu thụ được cá tra giống nên các cơ sở sản xuất cá tra bột tạm ngừng sản xuất hoặc sản xuất cầm chừng để giữ khách hàng, một số cơ sở
Trang 25thiếu vốn đầu tư nuôi vỗ nên cho cá tra bố mẹ ăn cầm chừng để chờ giá và không thực hiện đúng theo quy trình nuôi vỗ đàn cá tra bố mẹ nên ảnh hưởng đến chất
2.4.2 Tình hình dịch bệnh trên cá tra giai đoạn 2014 – 2016
Phân tích số liệu về dịch bệnh trên cá tra do các tỉnh báo cáo về Cục Thú y trong giai đoạn 2014 - 2016 cho thấy một số đặc điểm dịch tễ như sau:
Trong các năm 2014 - 2016, dịch bệnh trên cá tra đã xuất hiện tại 71 xã của 21 huyện tại 5 tỉnh: Đồng Tháp, An Giang, Bến Tre, Tiền Giang và Hậu Giang với tổng diện tích bị thiệt hại là 356,69 ha, số liệu cụ thể được tóm tắt thể hiện ở Bảng :
Bảng 2.4 Tình hình dịch bệnh trên cá tra ở các địa phương
Ghi chú: Có một số diện tích nuôi bị từ 2 bệnh/nguyên nhân trở lên, do vậy có sự sai khác giữa tổng diện
tích bị bệnh theo từng nguyên nhân với tổng diện tích thiệt hại thực tế
Năm 2016, cả nước có 79,26 ha cá tra bị bệnh gan thận mủ, trong đó tại
An Giang 62,66 ha nuôi cá tra thương phẩm và 2,2 ha ương giống; Đồng Tháp là 8,2 ha trong đó có 1,7 ha ương giống, Bến Tre là 1,1 ha, Hậu Giang là 4,5 ha và Tiền Giang có 0,6 ha Bệnh xuất huyết xảy ra tại 313,21 ha nuôi cá tra, trong đó tại An Giang là 123,10 ha thương phẩm và 7,7 ha ương giống; Đồng Tháp là 81,41 ha (trong đó 26,08 ha ương giống) và Hậu Giang là 01 ha Bệnh ký sinh trùng được báo cáo xuất hiện trên diện tích 79,89 ha, cụ thể Đồng Tháp có 79,49
ha bị bệnh (gồm 24,53 ha ương giống) và An Giang là 0,4 ha
Ngoài ra, có một số bệnh xảy ra trên diện hẹp gây thiệt hại không đáng kể như bệnh vàng da đã gây thiệt hại cho 15 ha và bệnh chướng hơi xuất hiện trên
01 ha nuôi cá tra tại tỉnh Đồng Tháp; bệnh trắng gan, trắng mang xuất hiện tại 5,39 ha, trong đó An Giang (5,19 ha) và Đồng Tháp (0,2 ha) Thiệt hại không rõ nguyên nhân được báo cáo trên diện tích 1,26 ha nuôi cá tra thương phẩm tại
Trang 26Đồng Tháp (0,01 ha) và Bến Tre (1,25 ha) Có 0,4 ha nuôi cá tra thương phẩm tại Hậu Giang bị thiệt hại do các yếu tố môi trường
Nhận định: So với cùng kỳ năm 2015, diện tích thiệt hại trên cá tra năm
2016 giảm 35,26% về diện tích bị bệnh và phạm vi hẹp hơn 1,25 lần
2.4.2.1 Phân tích đặc điểm dịch tễ theo không gian
* Tại tỉnh An Giang
Theo báo cáo tổng hợp từ Chi cục Thú y tỉnh An Giang, từ năm 2014
-2016 tại An Giang bệnh gan thận mủ xảy ra ở 46 xã, 10 huyện với tổng diện tích 212,87 ha; bệnh xuất huyết xảy ra ở 58 xã thuộc 10 huyện với tổng diện tích 588,35 ha
2.4.2.2 Phân tích đặc điểm dịch tễ theo thời gian, đối tượng
Do thông tin báo cáo dịch bệnh của tỉnh Bến Tre thiếu nên ở đây chúng tôi chỉ tập trung phân tích đặc điểm dịch tễ của tỉnh An Giang
Dịch bệnh trên cá tra xuất hiện quanh năm, thường bắt đầu từ lúc thả cá được 2 ngày tuổi (đối với bệnh XH) và 7 ngày tuổi sau thả (đối với bệnh GTM) đến khi thu hoạch (trên 270 ngày tuổi) Tỷ lệ mắc cao nhất là cá ở giai đoạn từ 30
- 60 ngày tuổi
Trang 27Bảng 2.5 Tần suất báo cáo bệnh gan thận mủ và xuất huyết
tại An Giang từ năm 2014 - 2016
Huyện
(lần/tháng) Báo cáo
Tần suất (lần/tháng)
Trang 28Bảng 2.5 cho thấy tần suất xuất hiện bệnh gan thận mủ trong 3 năm từ 2014 -
2016 là 6 lần/tháng, ở các huyện khác nhau tần suất xuất hiện cũng khác nhau, cao nhất ở huyện Phú Tân (An Giang), là một trong hai huyện triển khai đề tài với tỷ lệ 1,31 lần/tháng Riêng tại huyện Châu Phú, tần suất xuất hiện là 0,92 lần/tháng Đối với bệnh xuất huyết, tần suất xuất hiện bệnh cao hơn, với tỷ lệ 14,22 lần/tháng, trong đó hai huyện Châu Phú và Phú Tân xuất hiện từ 1,64 - 4,72 lần/tháng
2.5 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH GAN THẬN MỦ VÀ BỆNH XUẤT HUYẾT TRÊN CÁ TRA
2.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trang Trường Nhẫn và Đỗ Thị Hòa (2010) đã thực hiện nghiên cứu “Hiện trạng kỹ thuật và tình hình bệnh trong ao ương giống cá tra (Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878) ở 3 huyện: Tân Châu, Châu Phú và Phú Tân - tỉnh An Giang” Kết quả cho thấy: (1) Có 4 loại bệnh thường xuất hiện trong quá trình ương với các triệu chứng và tần suất xuất hiện như sau: Bệnh “đỏ mỏ - đỏ kỳ” có tần suất xuất hiện là 82,9%, bệnh “lắc đầu” có tần suất xuất hiện là 76,2%, bệnh gan thận mủ có tần suất xuất hiện là 68,6% và bệnh trắng gan - trắng mang,
có tần suất xuất hiện là 38,1% Thời gian xuất hiện các dạng bệnh trên ở cá tra giống hầu như quanh năm, nhưng thời gian xuất hiện bệnh nhiều vào mùa mưa:
từ tháng 4 đến tháng 11 dương lịch; (2) Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa các biện pháp kỹ thuật và sự xuất hiện bệnh trong ao ương cá tra cho thấy, nếu thả ương ở mật độ nuôi thấp (<1.000 con/m2) thì nguy cơ bị bệnh xuất huyết ở cá tra giống đã giảm 5,4 lần so với ương nuôi ở mật độ cao (> 1.000 con/m2); việc sử dụng vôi có tác dụng giảm thiểu nguy cơ xuất hiện bệnh xuất huyết ở cá tra giống
là 3,4 lần so với không dùng vôi trong quá trình cải tạo ao trước khi thả cá Nếu không phơi đáy trong trong quá trình cải tạo ao có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh gan thận mủ ở cá tra giống lên 4,73 lần so với ao có phơi đáy khi ương cá tra trong ao đất
Kết quả điều tra đã chỉ ra vẫn còn 56,2% số hộ chưa thực hiện xử lý nước
ao trước khi thả giống Nếu có vét bùn đáy ao, bón vôi, phơi nắng đáy ao mà không quan tâm đến việc xử lý nguồn nước cấp thì mầm bệnh có thể theo nước cấp vào ao và cá ương có nhiều khả năng bị nhiễm bệnh và làm giảm đi tác dụng của công tác cải tạo ao trước khi thả cá Có 94,2% hộ ương cấp nước trực tiếp
Trang 29vào ao ương mà không qua xử lý Đây cũng có thể là một nguyên nhân làm cho dịch bệnh có điều kiện lây lan từ môi trường ngoài vào ao ương
Hầu hết các hộ ương đều không có biện pháp xử lý nước thải Có đến 100% số hộ thải nước thải của ao ương trực tiếp ra môi trường ngoài mà không qua xử lý, trong đó có 10,5% số hộ thải nước ao ương trực tiếp ra sông, kênh rạch Nếu trong nguồn nước thải này có chứa mầm bệnh thì mầm bệnh có thể sẽ phát tán ra môi trường ngoài và lây nhiễm theo nguồn nước cấp sang các ao ương lân cận
Tuy nhiên, nghiên cứu này mới dừng lại ở kết quả điều tra, khảo sát trên quy mô nhỏ, không thực hiện thu mẫu giám sát chủ động nên không đánh giá được “thực chất” tỷ lệ lưu hành bệnh; số liệu bệnh thu được đều là cảm quan, nhận biết thông qua dấu hiệu bệnh của người nuôi Có thể thấy mỗi loại bệnh sẽ
có sự sai khác nhất định về tỷ lệ lưu hành theo không gian, thời gian và đối tượng nên để có khuyến cáo chính xác, cần có chương trình giám sát, điều tra bài bản, cần thiết phải lặp lại trong vài năm để đưa ra nhận định chính xác theo quan điểm của dịch tễ học
Đã có một số nghiên cứu về phương pháp chẩn đoán tác nhân gây bệnh gan thận mủ và xuất huyết trên cá tra, đặc biệt là các chẩn đoán ứng dụng công nghệ sinh học phân tử Quy trình PCR phát hiện đồng thời vi khuẩn E ictaluri và
A hydrophila nhiễm trên thận cá tra (P hypophthalmus) được thực hiện và chuẩn hóa Mồi xuôi EiFd-1 và mồi ngược EiRs được sử dụng để khuếch đại đoạn đặc hiệu trên gen 16S RNA của E ictaluri với sản phẩm PCR là 407 bp Mồi xuôi AeroFd và mồi ngược AeroRs được sử dụng để khuếch đại gen Aerolysin của A hydrophila với sản phẩm PCR là 209 bp (Panangala et al., 2007) Độ nhạy của quy trình là 100 pg DNA chiết tách từ thận cá tra cho E ictaluri và 1ng cho A hydrophila Tính đặc hiệu của quy trình được kiểm tra với vi khuẩn phổ biến trong thuỷ sản là Vibrio harveyi, V alginolyticus, V cholerae, A sobria; A carviae, Pseudomonas putida, Eschericchia coli, Bacillus subtilis Quy trình có ứng dụng tốt để phát hiện nhanh, nhạy và đặc hiệu đồng thời E ictaluri và A hydrophila nhiễm trên cá tra (Lê Hữu Thôi và cs., 2010)
Quy trình chiết tách DNA từ máu cá tra và các quy trình PCR phát hiện các loài vi khuẩn E ictaluri, A hydrophila và F columnare được chuẩn hóa và ứng dụng Quy trình PCR phát hiện E ictaluri cho sản phẩm PCR đặc hiệu là
Trang 30407 bp với độ nhạy phát hiện là 4.5 × 104 CFU/ml vi khuẩn trong 100 µl máu cá Qui trình PCR phát hiện A hydrophila cho sản phẩm PCR đặc hiệu là 209 bp với
độ nhạy phát hiện là 4,5 × 106 CFU/ml vi khuẩn trong 100 µl máu cá Các quy trình trên được sử dụng để phát hiện các vi khuẩn tương ứng trong mẫu máu cá cảm nhiễm vi khuẩn Kết quả cho thấy các quy trình có thề phát hiện nhanh, nhạy
và đặc hiệu mẫu máu cá tra nhiễm khuẩn nhưng vẫn giữ sống mẫu xét nghiệm (Trần Nguyễn Diễm Tú và Đặng Thị Hoàng Oanh, 2012)
Vi khuẩn A hydrophila hầu như hiện diện ở khắp nơi, có thể phân lập được từ cá có triệu chứng bệnh xuất huyết cũng như cá khỏe, nước và bùn đáy
ao Bệnh xuất huyết do A hydrophila là bệnh liên quan đến stress, thường bùng phát khi thời tiết thay đổi, khi cá tra đã nhiễm với tác nhân gây bệnh chính là E ictaluri hay khi cá nhiễm kí sinh trùng Qua điều tra nhiệm vụ quan trắc của Viện Nghiên cứu NTTS II cho thấy, năm 2007 là năm dịch bệnh trên cá tra xảy ra nhiều nhất cho thấy bệnh gan thận mủ xảy ra nhiều trong mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 11, bệnh ký sinh trùng chủ yếu từ cá tra lớn hơn 3 tháng tuổi, xảy ra vào đầu mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 8 và bệnh xuất huyết xảy ra trong suốt mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 Qua khảo sát nguồn nước cũng cho thấy khu vực nước ngọt thuộc nhánh sông Tiền báo động nhiễm Aeromonas spp (mật độ rất cao 5 - 23 × 103 CFU/ml) ở 3 trong 4 đợt quan trắc là các tháng 4, 7 và 9 năm
2.5.1.1 Tổng quan về vi khuẩn E ictaluri
Vi khuẩn E ictaluri là tác nhân chính gây bệnh mủ gan trên cá tra (P hypophthalmus), đã gây thiệt hại lớn cho người nuôi, tăng tỷ lệ hao hụt và chi phí
do việc điều trị Bệnh gan thận mủ xảy ra ở tất cả các giai đoạn phát triển của cá,
Trang 31tập trung vào mùa lũ, cao điểm là từ tháng 7 - 9 hàng năm, với tỷ lệ hao hụt lớn nhất ở giai đoạn giống, có thể gây chết từ 10 - 50% tùy thuộc chế độ chăm sóc, quản lý (Ferguson et al., 2001; Từ Thanh Dung và cs., 2004; Tu Thanh Dung et al., 2008; Từ Thanh Dung và cs., 2010)
Một nghiên cứu cắt ngang (cross-sectional study) do Bùi Thị Việt Hằng và
cs (2016) tiến hành từ ngày 20/9/2014 - 10/12/2014 để nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh gan thận mủ ở cá tra tại 600 cơ sở nuôi cá tra tại 23 huyện thuộc 2 tỉnh An Giang và Đồng Tháp cho thấy: (1) Đây là 2 tỉnh có diện tích nuôi
cá tra cao nhất cả nước với tổng diện tích tại Đồng Tháp là 2.071 ha và An Giang
là 1.269 ha Tuy nhiên, công tác quy hoạch của các địa phương chậm, công tác quản lý vùng nuôi và giám sát môi trường gặp nhiều khó khăn; (2) dịch bệnh gan thận mủ có xuất hiện tại An Giang vào năm 2014 nhưng địa phương không báo cáo số liệu theo quy định Kết quả điều tra cũng cho thấy, dịch bệnh xuất hiện ở hầu hết các huyện điều tra của cả hai tỉnh; thường xuất hiện từ tháng 5 đến tháng
11 hàng năm Trung bình dịch bệnh gan thận mủ xuất hiện tại 45,8% (95% CI 41,78 - 49,86%) hộ điều tra; tỷ lệ ao điều tra có bệnh là 37,30% (95% CI 34,57 - 40,08%); tỷ lệ diện tích thả nuôi bị bệnh là 34,63% (95% CI 31,43 - 37,95%); (3) kết quả phân tích tố nguy cơ cho thấy ở mật độ trên 200 con/m2, tỷ số chênh nguy cơ xảy ra dịch bệnh là 5,01 (95% CI 2,18 - 12,95) lần so với cơ sở nuôi với mật độ từ 10-50 con/m2; tỷ số chênh nguy cơ xảy ra dịch bệnh của cơ sở thả nuôi không vét bùn đáy ao là 2,21 (95% CI 1,40 - 3,55) lần so với cơ sở nuôi nuôi có vét bùn đáy ao; tỷ số chênh nguy cơ xảy ra dịch bệnh của cơ sở nuôi không khử trùng dụng cụ nuôi là 3,58 (95% CI 2,34 - 5,48) lần so với cơ sở nuôi có khử trùng dụng cụ
Theo Nguyễn Thành Tâm và cs (2013) tại Việt Nam những năm gần đây vắc-xin trên cá tra cũng được sử dụng nhiều như vắc-xin chống lại vi khuẩn E ictaluri (ALPHA JECT ® Panga 1) Sử dụng Glyxerin-andehyt-3-photphat-dehydrogenaza (GAPDH) “một sản phẩm màng ngoài của tế bào vi khuẩn E ictaluri”, vắc-xin protein GAPDH tái tổ hợp, để kháng lại bệnh Edwardsielloisis trên cá rô phi vằn do E tarda gây ra Vắc-xin protein GAPDH tái tổ hợp được xem như một vắc xin có khả năng trong phòng ngừa vi khuẩn gây bệnh Edwardsielloisis trên cá rô phi do E tarda gây ra (Cao Thanh Trung and Chih Chu Chen, 2013) Ở Việt Nam, hiện nay đã nghiên cứu thành công vắc xin đơn
Trang 32giá phòng bệnh gan thận mủ và đang khảo nghiệm giai đoạn triển khai thực địa với vắc xin đa giá phòng hai bệnh với tác nhân E ictaluri và A hydrophila 2.5.1.2 Tổng quan về vi khuẩn A hydrophila
Nguyễn Thị Hiền và Lê Hồng Phước (2015) đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu di truyền học các chủng Aeromonas hydrophila gây bệnh cá tra” thuộc chương trình Công nghệ sinh học của Bộ NN&PTNT Mục tiêu của đề tài là xác lập các chủng A hydrophila độc lực cao để phát triển vắc xin phòng bệnh nhiễm trùng máu xuất huyết (haemorrhagic septicaemia) cho cá tra Có tổng số 266 mẫu (gồm 195 mẫu cá bệnh, 30 mẫu cá không có biểu hiện bệnh và 41 mẫu nước) được thu tại các tỉnh thuộc ĐBSCL để phân lập các chủng A hydrophila Kết quả phân lập được 100 mẫu khuẩn lạc A hydrophila và qua kiểm tra sinh hóa bằng kít API20E cho thấy các mẫu vi khuẩn A hydrophila khá đa dạng về sinh hóa với
18 mã số ID khác nhau
Qui trình PCR phát hiện vi khuẩn A hydrophila nhiễm trên thận cá tra (P hypophthalmus) được thực hiện và chuẩn hóa Trong qui trình này mồi xuôi AeroFd và mồi ngược AeroRs được sử dụng để khuếch đại gen Aerolysin của A hydrophila với sản phẩm PCR là 209 bp (Panangala et al., 2007) Độ nhạy của qui trình là 100 pg DNA chiết tách từ thận cá tra Tính đặc hiệu của qui trình được kiểm tra với vi khuẩn phổ biến trong thủy sản là Vibrio alginolyticus, V harveyi, E.ictaluri, Escherichia coli, Pseudomonas putida Qui trình có thể ứng dụng để phát hiện nhanh và nhạy A hydrophila nhiễm trên cá tra so với phương pháp sinh hóa truyền thống (Nguyễn Hà Giang và cs., 2010)
2.5.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
2.5.2.1 Những nghiên cứu về E ictaluri
Vào năm 1976, các nhà nghiên cứu đã phát hiện một loài vi khuẩn gây bệnh nhiễm trùng máu (Enteric Septicemia of Catfish) trong các ao sản xuất giống cá nheo Mỹ (Ictalurus punctatus) tại các bang Mississippi, Arkansas, Idaho, Colorado, Indiana và Maryland (Hoa Kỳ) Đây là loại vi khuẩn đặc thù gây bệnh chủ yếu trên cá da trơn nuôi công nghiệp Vi khuẩn E ictaluri cũng là tác nhân gây bệnh nhiễm trùng máu ở cá nheo Mỹ, gây hao hụt trên 60% và hằng năm thiệt hại trên 50 triệu USD (Mitchell, 1997) Bệnh thường xuất hiện vào mùa xuân, khi nhiệt độ nước từ 22 - 28oC (Tucker and Stickeny, 1987)
Trang 33Sau đó E ictaluri được phân lập và định danh trên cá nheo, là vi khuẩn gram âm, hình que, kích thước 1 × 2-3 μm, không sinh bào tử, là vi khuẩn yếm khí tùy ý, phản ứng catalase dương tính, oxidase âm tính, lên men glucose (Hawke, 1979)
Ngoài ra, vi khuẩn E ictaluri cũng gây bệnh trên cá trê trắng (Ameiurus catus) ở Thái Lan (Kasornchandra et al., 1987) E ictaluri còn được phân lập từ gan, thận, lách trên cá Pangasius bệnh ở Thái Lan (Crumlish et al., 2002)
2.5.2.2 Tổng quan nghiên cứu về A hydrophila
Bệnh cá là một trong những nhân tố gây rủi ro trong ngành nuôi trồng thủy sản quy mô công nghiệp và gây thất thoát hàng tỷ đô la (Fang et al., 2000) Trong số các vi khuẩn gây bệnh xuất huyết ở cá thì A hydrophila là vi khuẩn đã được công bố nhiều nhất, có khả năng gây bệnh trên nhiều loài cá nước ngọt trên khắp thế giới với dấu hiệu bệnh lý ở cá nhiễm vi khuẩn gồm nhiễm trùng máu, xuất huyết, lở loét (Austin and Adam, 1996) Sự lây nhiễm A hydrophila là hậu quả của việc nuôi cá nước ngọt trên những khu vực có khí hậu ấm áp (Torres et al., 1990; Rahman et al., 2001; Hu et al., 2005), đặc biệt là ở Trung Quốc và Ấn
Độ (Karunasagar et al., 1989; Change et al., 1992) Đây cũng là tác nhân gây bệnh quan trọng cho những người tiêu thụ các sản phẩm cá và giáp xác bị nhiễm
A hydrophila (Vivekanandhan et al., 2005)
Vi khuẩn A hydrophila tồn tại trong những hệ thống nuôi thủy sản trên toàn cầu, điều này thể hiện cho sự thích ứng của vi khuẩn trong môi trường nước (Hazen et al., 1978; Williams and LaRock, 1985) A hydrophila hiện diện trong môi trường nước chảy nhiều hơn trong môi trường nước tĩnh (Hazen et al., 1978) Vi khuẩn này cũng là tác nhân gây ra một số bệnh truyền lây giữa người
và động vật và là một trong những nguyên nhân gây ra sự hư thối trên thực phẩm tươi sống bao gồm cả cá và hải sản (Rustigian and Stuart, 1943; Amend and Fender, 1976; Daskalov, 2006)
Bệnh do A hydrophila gây ra được gọi là bệnh “đốm đỏ” (Huizinga et al., 1979) Trong điều kiện bình thường, A hydrophila không gây bệnh đối với các sinh vật sống, nhưng khi môi trường ô nhiễm, cá bị stress, thay đổi sinh lý đột ngột hay bị nhiễm những mầm bệnh khác thì A hydrophila là tác nhân gây bệnh tiềm tàng (Plumb et al., 1976; Fang et al., 2000) A hydrophila trở thành một tác
Trang 34nhân gây bệnh trầm trọng trong nghề nuôi cá thâm canh do tăng sức tải môi trường, sinh lý cá nuôi bị rối loạn (Shaw and Squires, 1984) Khi điều kiện môi trường thuận lợi A hydrophila tăng sinh rất nhanh và sản sinh ra nhiều độc tố ECP, đây là nguyên nhân gây bệnh đột ngột cho cá và thậm chí làm cá chết ngay (Allan and Stevenson, 1981; Yadav et al., 1992; Vivas et al., 2004)
Trang 35PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Triển khai hoạt động giám sát, điều tra tại các cơ sở sản xuất cá tra giống
và cơ sở nuôi cá tra thương phẩm thuộc 02 huyện Chợ Lách và Châu Thành thuộc tỉnh Bến Tre và 02 huyện Châu Phú và Phú Tân thuộc tỉnh An Giang
Xét nghiệm bệnh các mẫu (cá tra, bùn, nước) tại Phòng thử nghiệm Cơ quan Thú y vùng VI (có trụ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh) và Cơ quan Thú y vùng VII (có trụ sở tại Thành phố Cần Thơ)
Tổng hợp, phân tích số liệu tại Cục Thú y (Hà Nội)
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.2.1 Nội dung nghiên cứu
3.3.1.1 Một số đặc điểm dịch tễ của bệnh gan thận mủ và bệnh xuất huyết trên
cá tra tại Bến Tre và An Gıang
3.3.1.2 Các yếu tố nguy cơ lıên quan đến sự lưu hành các bệnh trên cá tra tại Bến Tre và An Gıang
3.2.2 Thời gian thực hiện
Từ tháng 1/2016 đến tháng 12/2016
3.2.3 Vật liệu nghiên cứu
- Số liệu diện tích sản xuất, nuôi cá tra trên địa bàn hai tỉnh Bến Tre và An Giang do các Chi cục Thú y báo cáo về Cục Thú y từ năm 2014 - 2016
- Số liệu diện tích nuôi cá tra bị dịch bệnh của tỉnh Bến Tre và An Giang
do các Chi cục Thú y báo cáo về Cục Thú y từ năm 2014 - 2016
- Các nguyên vật liệu lấy mẫu, bảo quản, mẫu xét nghiệm, làm kháng sinh đồ
- Bộ phiếu điều tra do Cục Thú y thiết kế và hướng dẫn các cán bộ thú y của 2 tỉnh trực tiếp gặp người dân để thu thập thông tin nuôi và dịch bệnh (Phụ lục 3)
- Số liệu địa lý chi tiết đến cấp xã năm 2011 do Nhà xuất bản Tài nguyên Môi trường và Bản đồ Việt Nam xây dựng và cung cấp (Nhà xuất bản Tài nguyên Môi trường và Bản đồ Việt Nam, 2012)
Trang 36- Phần mềm vẽ bản đồ ArcGIS 9.3 và phần mềm phân tích thống kê R (R Development Core Team, 2012) và các gói phân tích tương ứng như epiR (Stevenson, 2012), lme4 (Bates and Sarkar, 2007)
3.2.4 Phương pháp nghiên cứu
3.2.4.1 Nghiên cứu, phân tích hiện trạng nuôi, dịch bệnh (gan thận mủ, xuất huyết) trên cá tra tại hai tỉnh An Giang và Bến Tre từ năm 2014 - 2016
- Để đánh giá đặc điểm tình hình nuôi và dịch bệnh trên cá tra, các số liệu
về diện tích nuôi và số liệu về dịch bệnh trên cá tra được thu thập từ cấp xã, huyện và tỉnh của các tỉnh Bến Tre bằng biểu mẫu do Cục Thú y ban hành (Công văn số 1245/TY-TS ngày 24/6/2016 và Công văn số 113/TY-TS ngày 20/01/2017)
- Các phương pháp dịch tễ học mô tả được sử dụng để tổng hợp, phân tích
và đánh giá tình hình nuôi và tình hình dịch bệnh trên cá tra
3.2.4.2 Đánh giá một số đặc điểm dịch tễ của bệnh gan thận mủ và bệnh xuất huyết trên cá tra tại Bến Tre và An Giang; đánh giá các yếu tố nguy cơ liên quan đến sự lưu hành các bệnh trên cá tra tại Bến Tre và An Giang
Đề nghiên cứu xác định mức độ lưu hành và đánh giá các yếu tố nguy cơ
có liên quan đến lưu hành bệnh gan thận mủ và bệnh xuất huyết trên cá tra, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang (cross-sectional study) để tiến hành tại các cơ sở sản xuất, nuôi cá tra trên địa bàn hai tỉnh An Giang và Bến Tre, cụ thể như sau:
* Phương pháp chọn mẫu cơ sở:
Phương pháp lấy mẫu nhiều giai đoạn (multistage sampling) được áp dụng như sau:
- Giai đoạn 1: Tại mỗi tỉnh, lựa chọn có chủ đích 02 huyện dựa trên những tiêu chí (1) Là vùng trọng điểm về nuôi cá tra; (2) Thường xuyên xuất hiện dịch bệnh Cụ thể:
+ Tỉnh Bến Tre: Chọn có chủ đích huyện Chợ Lách và huyện Châu Thành; + Tỉnh An Giang: Chọn có chủ đích huyện Châu Phú và huyện Phú Tân
- Giai đoạn 2: Tại mỗi huyện, lựa chọn ngẫu nhiên 15 cơ sở nuôi cá tra thương phẩm nuôi theo hình thức thâm canh, bán thâm canh phục vụ xuất khẩu
và 05 cơ sở sản xuất cá tra giống, cụ thể:
Trang 37+ Tỉnh Bến Tre: Tổng số cơ sở sản xuất cá tra giống và cá tra nuôi thương phẩm của 2 huyện được lựa chọn để làm giám sát là 35 cơ sở (bao gồm 01 cơ sở sản xuất giống và 34 cơ sở nuôi cá tra thương phẩm), do đó toàn bộ 35 cơ sở này
đã được lựa chọn để lấy mẫu
+ Tỉnh An Giang: Mỗi huyện lựa chọn ngẫu nhiên 15 cơ sở nuôi cá tra thâm canh, bán thâm canh phục vụ xuất khẩu và 05 cơ sở sản xuất giống
Kết quả thực tế, tại 2 tỉnh đã lựa chọn ngẫu nhiên được 76 cơ sở (bao gồm
64 cơ sở nuôi cá tra thương phẩm và 11 cơ sở sản xuất cá tra giống)
Số lượng cơ sở tại mỗi tỉnh cần giám sát được tính theo công thức:
2
2 1
1 e
z
Trong đó:
- P: Là giá trị lưu hành ước tính ở cấp độ cơ sở là 10%;
- e: Là sai số tuyệt đối (giữa giá trị ước tính và giá trị thực) là 10%;
- z: Chỉ số thể hiện khoảng tin cậy 95% (z = 1,96)
- Giai đoạn 3: Tại mỗi cơ sở giám sát, lựa chọn ngẫu nhiên 02 ao nuôi cá
để lấy mẫu Các ao này có thể khác nhau ở các lần lấy mẫu, nhưng phải bảo đảm các ao thuộc cơ sở đã được lựa chọn Trong trường hợp cơ sở chỉ có 01 ao thì chọn thêm 01 ao của hộ liền kề để lấy mẫu Trong quá trình giám sát, nếu cơ sở không tiếp tục nuôi hoặc không tiếp tục tham gia thì chọn cơ sở thay thế trên cùng vùng nuôi đó
* Triển khai giám sát bị động:
- Hướng dẫn các cở sở sản xuất giống, nuôi cá tra lập sổ theo dõi hàng ngày về tình hình sản xuất và dịch bệnh
- Hướng dẫn chủ cơ sở nuôi cá tra báo cáo cho Trạm Thú y và lấy mẫu gửi
về phòng xét nghiệm của Cơ quan Thú y vùng VI (đối với tỉnh Bến Tre) và Cơ quan Thú y vùng VII (đối với tỉnh An Giang) khi có nghi ngờ xuất hiện bệnh
* Triển khai giám sát chủ động và lấy mẫu như sau:
Trang 38- Mẫu nước, bùn trong ao nuôi: Lấy 05 mẫu nước và 05 mẫu bùn ở tầng đáy tại 05 vị trí khác nhau trong ao (mỗi vị trí lấy 100 ml) Sau đó, 05 mẫu nước được trộn thành 01 mẫu và 05 mẫu bùn được trộn thành 01 mẫu
- Mẫu thức ăn tươi sống: Tại các cơ sở sản xuất cá tra giống lấy 02 mẫu thức ăn tươi sống
Tất cả các loại mẫu cần được bảo quản lạnh để vận chuyển về phòng thí nghiệm của Cơ quan Thú y vùng VI (đối với tỉnh Bến Tre) và Cơ quan Thú y vùng VII (đối với tỉnh An Giang) để xét nghiệm Tại phòng thí nghiệm, mẫu được bảo quản ở nhiệt độ từ 4 - 8 oC, xét nghiệm phát hiện tác nhân gây bệnh gan thận mủ bằng phương pháp Real-time PCR và bệnh xuất huyết bằng phương pháp nuôi cấy, định danh vi khuẩn
- Mẫu cá tra: Tại mỗi cơ sở sản xuất cá tra giống hoặc cơ sở nuôi cá tra thương phẩm lấy số lượng cá như Bảng 3.1 để xét nghiệm (Phụ lục 3)
Bảng 3.1 Số lượng cá thu/mẫu để xét nghiệm bệnh
TT Thời gian sau khi thả
cá (tháng)
Số lượng cá tra (con/ao)
Số lượng mẫu gộp xét nghiệm (mẫu/ao)
Ghi chú: Mẫu cá có thể lấy nguyên con hoặc nếu cá trên 4 tháng chỉ cần lấy gan, thận, lách bảo quản theo
quy định rồi vận chuyển về phòng xét nghiệm
- Lấy mẫu, bảo quản và vận chuyển mẫu giám sát: Thực hiện theo QCVN 01-83:2011/BNNPTNT ban hành kèm theo Thông tư số 71/2011/TT-BNNPTNT ngày 25/10/2011 của Bộ NN&PTNT
- Tần suất lấy mẫu: Lấy mẫu tại các cơ sở sản xuất cá tra giống và nuôi cá tra thương phẩm với tần suất 2 tuần/lần; lấy liên tục trong vòng 05 tháng, kể từ tháng 03/2016
- Kiểm tra các chỉ số môi trường nước ao nuôi giám sát: Định kỳ 1 ngày/lần, chủ cơ sở sản xuất, nuôi cá tra đo các chỉ số về nhiệt độ, pH và ôxy hòa tan
Trang 39* Thu thập thông tin về các yếu tố nguy cơ
Mỗi lần lấy mẫu đều phải thu thập (điều tra) thông tin theo phiếu điều tra (Phụ lục 1, 2), kể cả trong trường hợp thông tin giống nhau giữa các lần lấy mẫu
Một số hình ảnh thu được trong quá trình thực hiện đề tài được thể hiện ở Phụ lục 3
* Quản lý và phân tích số liệu:
- Kết quả xét nghiệm và dữ liệu thu từ thực địa được nhập vào file MS Excel 2010
- Phân tích mô tả tình hình nuôi cá tra, dịch tễ học mô tả (theo không gian, thời gian và theo đối tượng) theo các phương pháp dịch tễ, thống kê thường quy
- Tỷ lệ các cơ sở nuôi cá tra bị bệnh được tính theo phương pháp của Fleiss (Fleiss, 1981) So sánh tỷ lệ các cơ sở bị bệnh được phân tích, dựa vào chỉ
số Chi-square
- Phân tích đa tầng nhiều biến (multilevel analysis) được áp dụng để định lượng các yếu tố nguy cơ theo các phân tầng khác nhau (Dohoo et al., 2001; Dohoo, 2003; Long, 2013), cụ thể theo các bước sau:
+ Bước 1: Xác định “Đầu ra” là cơ sở có cá tra bị bệnh xuất huyết hoặc gan thận mủ
+ Bước 2: Phân tích sàng lọc (bivarriate analyses) để xác định mối liên hệ giữa “Đầu ra” và từng yếu tố nguy cơ Phương pháp kiểm tra của Wald (Agresti, 2007) được sử dụng để xác định mối liên hệ giữa các biến nguy cơ với “Đầu ra” Tất cả các biến nguy cơ có mối liên hệ với “Đầu ra” về mặt thống kê, sinh học và
có giá trị P < 0,2 được giữ lại để đưa vào phân tích đa biến (Bước 3) Những biến nguy cơ có mối liên hệ với với “Đầu ra” ở giá trị P > 0,2 thì được loại bỏ, theo nguyên tắc, loại bỏ các biến có giá trị P cao nhất cho đến khi chỉ còn các biến có
P < 0,2
Trang 40+ Bước 3: Phân tích đa biến (multivariable analyses): Tất cả các biến có P
< 0,2 được xác định tại Bước 2 được đưa vào mô hình đa biến và chạy mô hình phân tích Chỉ những biến nguy cơ nào có mối liên hệ về mặt thống kê, sinh học với “Đầu ra” và có giá trị P < 0,05 thì giữ lại để tính ảnh hưởng của các biến đa cấp tại Bước 4
+ Bước 4: Các yếu tố ảnh hưởng ngẫu nhiên cũng được đưa vào mô hình hồi quy logic hỗn hợp (mixed-effects logistic regression model) để phân tích và đánh giá mức độ ảnh hưởng không thể đo được của các yếu tố ở cấp cơ sở nuôi
cá tra, cấp xã và cấp tỉnh lên khả năng một cơ sở nuôi cá tra bị bệnh xuất huyết, gan thận mủ Dựa trên cách tiếp cận này, chuyển dạng logic (logit transform) cơ
sở bị bệnh i ở xã j tại tỉnh k, pijk, được mô hình hóa theo chức năng tuyến tính của một loạt các yếu tố ảnh hưởng m là β1… βm và ảnh hưởng của các yếu tố nguy cơ
ở các cấp độ cơ sở nuôi nuôi, cấp xã Xj và tỉnh Pk được tính theo công thức sau:
ijk k j mijk m
i
m ijk
ijk
PXx
1log
Kết quả của mô hình cuối cùng được thể hiện bởi tỷ số chênh đã được điều chỉnh cho mỗi biến nguy cơ Tỷ số chênh (odds ratio, OR) lớn hơn 1 cho thấy cơ sở nuôi cá tra khi phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ có khả năng bị bệnh tăng lên Ngược lại, nếu OR < 1 cho thấy nguy cơ sở nuôi cá tra bị bệnh giảm đi
OR = 1 cho thấy không có ảnh hưởng của các yếu tố lên nguy cơ các cơ sở nuôi
bị bệnh
Đường cong đặc trưng thể hiện hoạt động của bộ thu nhận (Receiver Operating Characteristic, ROC) được vẽ để biểu thị khả năng dự đoán của mô hình logic Vùng dưới đường cong ROC có giá trị dao động từ 0 - 1 để mô tả khả năng dự đoán của mô hình đối với một cơ sở bị bệnh hoặc không bị bệnh Giá trị dưới đường cong ROC càng lớn, cho thấy khả năng mô hình phỏng đoán chính xác càng cao (Hosmer and Lemeshow, 2000) Phân tích thống kê được tiến hành bằng cách sử dụng bộ phân tích thống kê lme4 package (Bates and Sarkar, 2007)
ở chương trình R 3.2.1 (R Development Core Team, 2012)