HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN THỊ NINH ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI TRANG TRẠI CHĂN NUÔI LỢN TẠI XÃ CHI LĂNG, HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH Chuyên ngà
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ NINH
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP
XỬ LÝ CHẤT THẢI TRANG TRẠI CHĂN NUÔI LỢN TẠI XÃ CHI LĂNG, HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày… tháng 05 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ninh
Trang 3Tôi xin chân thành cám ơn tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Ban Chủ nhiệm khoa và các thầy cô giáo Bộ môn Vi sinh vật, Khoa môi trường - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Phòng Tài Nguyên
và Môi trường huyện Quế Võ, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Quế
Võ và UBND xã Chi Lăng đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày… tháng 05 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ninh
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ix
Trích yếu luận văn x
Thesis abstract xi
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1 Giới thiệu chung về tình hình chăn nuôi ở Việt Nam 3
2.1.1 Vai trò của ngành chăn nuôi trong nền kinh tế quốc dân 3
2.1.2 Thực trạng ngành chăn nuôi ở nước ta hiện nay 4
2.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải chăn nuôi và cơ sở khoa học xử lý chất thải chăn nuôi 14
2.2.1 Nguồn gốc phát sinh chất thải chăn nuôi 14
2.2.2 Cơ sở khoa học để xử lý chất thải chăn nuôi 15
2.2.3 Các biện pháp xử lý chất thải chăn nuôi 18
2.3 Tình hình chăn nuôi tại tỉnh Bắc Ninh 21
2.4 Thực trạng quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi ở nước ta 23
2.4.1 Cơ sở pháp lý về quản lý chất thải và bảo vệ môi trường trong chăn nuôi ở nước ta 23
2.4.2 Thực trạng quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi 24
2.4.3 Nghiên cứu về xử lý chất thải chăn nuôi lợn 25
2.5 Thực trạng quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi ở tỉnh Bắc Ninh 27
2.5.1 Thực trạng công tác quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi 27
Trang 52.5.2 Một số quy trình công nghệ và hiệu quả xử lý chất thải chăn nuôi trên địa
bàn tỉnh Bắc Ninh 27
PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30
3.2 Nội dung nghiên cứu 30
3.2.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 30
3.2.2 Tình hình chăn nuôi tại 3 trang trại nghiên cứu tại xã Chi Lăng 30
3.2.3 Khối lượng và hình thức xử lý chất thải chăn nuôi tại 3 trang trại nghiên cứu 31
3.2.4 Đánh giá của người dân về ảnh hưởng của chăn nuôi lợn đến môi trường và sức khỏe cộng đồng tại xã Chi Lăng 31
3.2 Phương pháp nghiên cứu 31
3.3.1 Phương pháp lựa chọn địa điểm nghiên cứu 31
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 32
3.3.3 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 32
3.3.4 Phương pháp ước tính nguồn thải 32
3.3.5 Phương pháp lấy mẫu và phân tích 33
3.3.6 Phương pháp so sánh với Quy chuẩn 35
3.3.7 Phương pháp xử lý số liệu 36
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
4.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 37
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 37
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 40
4.2 Tình hình phát triển chăn nuôi lợn của các trang trại tại khu vực nghiên cứu 42
4.2.1 Đặc điểm của các trang trại chăn nuôi lợn 42
4.2.2 Tình hình phát triển chăn nuôi tại khu vực nghiên cứu 49
4.3 Ước tính khối lượng chất thải và tình hình xử lý chất thải chăn nuôi tại 3 trang trại nuôi lợn được chọn nghiên cứu trên địa bàn xã Chi Lăng 51
4.3.1 Ước tính khối lượng chất thải tại khu vực nghiên cứu 51
Trang 64.3.2 Tình hình xử lý chất thải tại các trang trại chăn nuôi lợn trong khu vực
nghiên cứu 55
4.3.3 Đánh giá so sánh mức độ và hình thức xử lý chất thải chăn nuôi giữa các trang trại nghiên cứu 66
4.4 Đánh giá của người dân về thực trạng môi trường chăn nuôi và hình thức xử lý chất thải chăn nuôi lợn gây áp lực cho môi trường, cảnh quan và sức khỏe cộng đồng 70
4.5 Đề xuất giải pháp xử lý chất thải chăn nuôi gia súc nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường 72
4.5.1 Giải pháp trước mắt 72
4.5.2 Giải pháp lâu dài 73
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
5.1 Kết luận 76
5.2 Kiến nghị 77
Tài liệu tham khảo 78
Phụ lục 81
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
AC : Ao – Chuồng
BTBDHMT : Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung
BTNMT : Bộ Tài nguyên và Môi trường
BNN&PTNT : Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
TDMNPB : Trung du miền núi phía Bắc
TN : Tây Nguyên
UBND : Ủy ban nhân dân
VAC : Vườn – Ao – Chuồng
VC : Vườn – Chuồng
WHO : Tổ chức Y tế thế giới
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng gia súc, gia cầm ở nước ta giai đoạn 2005 - 2015 5
Bảng 2.2 Số lượng hộ chăn nuôi lợn và gà theo quy mô số con trên cả nước (thời điểm năm 2013) 8
Bảng 2.3 Sự phân bố số hộ chăn nuôi lợn và gà theo từng vùng trên cả nước (thời điểm năm 2013) 9
Bảng 2.4 Số lượng trang trại chăn nuôi đạt tiêu chí kinh tế trang trại (thời điểm năm 2012) 10
Bảng 2.5 Tỷ lệ các kiểu chuồng trại giữa hình thức chăn nuôi trang trại và chăn nuôi hộ gia đình 11
Bảng 2.6 Tỷ lệ các kiểu hệ thống chuồng trại theo quy mô đàn lợn nái 11
Bảng 2.7 Lượng chất thải rắn hàng năm từ vật nuôi 15
Bảng 2.8 Lượng phân lợn thải ra thay đổi theo lứa tuổi 16
Bảng 2.9 Lượng nước tiểu của một số loại gia súc 17
Bảng 2.10 Thực trạng quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi 25
Bảng 3.1 Các trang trại đại diện và quy mô nghiên cứu 31
Bảng 3.2 Tọa độ và vị trí lấy mẫu nước mặt và nước thải 34
Bảng 3.3 Các phương pháp phân tích chất lượng nước 35
Bảng 4.1 Hiện trạng sử dụng đất của xã Chi Lăng năm 2015 39
Bảng 4.2 Một số chỉ tiêu kết quả phát triển kinh tế giai đoạn 2010- 2020 40
Bảng 4.3 Phân bổ quỹ đất theo loại hình trang trại chăn nuôi lợn 48
Bảng 4.4 Khoảng cách trung bình từ chuồng nuôi đến một số khu vực nhạy cảm xung quanh các trang trại chăn nuôi lợn 49
Bảng 4.5 Tình hình chăn nuôi lợn tại Xã Chi Lăng giai đoạn 2012-2016 50
Bảng 4.6 Quy mô chăn nuôi trung bình của các trang trại chăn nuôi lợn 51
Bảng 4.7 Khối lượng chất thải rắn phát sinh từ bao bì đượng thức ăn 52
Bảng 4.8 Ước tính khối lượng phân phát sinh từ các trang trại chăn nuôi 53
Bảng 4.9 Ước tính lượng nước thải phát sinh từ các trang trại chăn nuôi 53
Bảng 4.10 Kết quả phân tích chất lượng nước thải sau bể biogas tại trang trại 1 56
Bảng 4.11 Kết quả phân tích chất lượng nước mặt trong ao nuôi cá tại trang trại 1 58
Trang 9Bảng 4.12 Kết quả phân tích chất lượng nước thải sau bể biogas tại trang trại 2 60 Bảng 4.13 Kết quả phân tích chất lượng nước mặt trong ao nuôi cá tại trang
trại 2 62 Bảng 4.14 Kết quả phân tích chất lượng nước thải sau bể biogas tại trang trại 3 64 Bảng 4.15 Kết quả phân tích chất lượng nước mặt tại ao bèo tại trang trại 3 66 Bảng 4.16 Kết quả chỉ tiêu đánh giá của người dân tại khu vực nghiên cứu 70
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ ảnh hưởng của chăn nuôi lợn đến môi trường 12
Hình 2.2 Sơ đồ xử lý nước thải bằng hầm biogas kết hợp ao sinh học 28
Hình 2.3 Sơ đồ xử lý nước thải bằng việc kết hợp nhiều hình thức 29
Hình 3.1 Vị trí lấy mẫu nước mặt và nước thải 34
Hình 4.1 Sơ đồ hành chính xã Chi Lăng huyện Quế Võ – Bắc Ninh 37
Hình 4.2 Tỷ lệ sử dụng hệ thống trang trại chăn nuôi tại xã Chi Lăng, 2016 43
Hình 4.3 Mô hình trang trại chăn nuôi lợn của ông Trần Văn Quang 44
Hình 4.4 Mô hình trang trại chăn nuôi của gia đình ông Nguyễn Đức Đoán 45
Hình 4.5 Mô hình trang trại chăn nuôi của gia đình ông Thân Đình Ngưng 46
Hình 4.6 Nguồn gốc đất tại các trang trại chăn nuôi lợn trong khu vực nghiên cứu 47
Hình 4.7 Sơ đồ xử lý chất thải trang trại số 1 55
Hình 4.8 Sơ đồ xử lý chất thải của trang trại số 2 59
Hình 4.9 Sơ đồ xử lý chất thải của trang trại số 3 63
Hình 4.10 So sánh các thông số phân tích sau bể biogas tại mùa khô của các trang trại nghiên cứu 67
Hình 4.11 So sánh các thông số quan trắc chất lượng nước mặt tại ao nuôi cá, ao tự nhiên vào mùa khô của các trang trại nghiên cứu 69
Hình 4.12 Thời gian hoạt động chăn nuôi của các trang trại gây ô nhiễm môi trường nhất trong năm 71
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Nguyễn Thị Ninh
Tên Luận văn: Đánh giá thực trạng và đề xuất biện pháp xử lý chất thải trang trại chăn nuôi lợn tại xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
Ngành: Khoa học Môi trường Mã số: 60.44.03.01
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu:
Đánh giá thực trạng chất thải trang trại chăn nuôi lợn tại Xã Chi Lăng, huyện Quế
Võ, tỉnh Bắc Ninh Từ đó, đề xuất một số biện pháp xử lý chất thải trang trại chăn nuôi lợn nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại địa bàn nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu:
Việc nghiên cứu thực trạng chất thải trang trại lợn tại xã Chi Lăng được thực hiện dựa trên việc thu thập các thông tin từ báo cáo cấp huyện, cấp tỉnh kết hợp với nguồn số liệu thứ cấp từ phiếu điều tra Để đánh giá thực trạng chất thải nghiên cứu đã dựa vào kết quả phân tích mẫu nước mang tính đại diện kết hợp với kết quả từ phiếu điều tra của chủ trang trại và người dân
PO43- đã vượt quá quy chuẩn cho phép từ 1 đến 9 lần Do đó, có thể gây ảnh hưởng đến con người và các sinh vật xung quanh Căn cứ vào điều kiện địa phương, nghiên cứu đã đưa ra các giải pháp chung trước mắt và lâu dài nhằm cải thiện chất lượng môi trường tại các khu vực trang trại chăn nuôi lợn trong khu vực nghiên cứu
Trang 12THESIS ABSTRACT Master candidate: Nguyen Thi Ninh
Thesis title: Assessing the situation and proposing waste treatment measures in pig farms in Chi Lang commune, Que Vo district, Bac Ninh province
Major: Environmental Sciences Code: 60.44.03.01
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research Objectives:
Assess the actual situation of pig farm waste in Chi Lang Commune, Que Vo District, Bac Ninh Province Based on the assessment, propose some measures to treat pig farm waste to reduce environmental pollution in the study area
Materials and Methods:
Main methods for this research include data based on the collection of information from district and provincial level reports combined with secondary data sources from survey questionnaires To assess the status of research waste based on representative water sample analysis combined with results from farmer and farmer survey questionnaires
Main findings and conclusions:
Research results show that livestock production in Chi Lang commune is increasing and moving to concentrated livestock farming with three types of farms: AC,
AC, C, where AC is the most popular Waste treatment measures are being applied to build biogas tanks, collect fertilizer for sale, apply / irrigate crops, use fish feed and compost in the traditional way From the results of the survey at three research farms, it
is found that the farms discharge about 60.9 - 768 kg / manure / farm every day and the volume of wastewater is about 1.35 - 17.05 m3 of water Waste / farm The quality of the water after the biogas of all three farms exceeded the permitted standards from one
to six times Surface water quality at the sources of animal waste containing BOD5, COD, NH4 +, PO43- has exceeded the permitted standards from 1 to 9 times Therefore, it can affect humans and surrounding organisms Based on local conditions, the study provides immediate and long-term solutions to improve environmental quality
in pig farm areas in the study area
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Chăn nuôi là hướng đi đúng với việc phát triển kinh tế ở vùng nông thôn Việt Nam với khoảng 66,9% dân số sống ở vùng nông thôn, phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn là một trong những mục tiêu được Đảng và nhà nước hết sức chú trọng, trong đó có phát triển kinh tế hộ gia đình thông qua các hoạt động phát triển chăn nuôi Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta
đã có những bước phát triển mạnh mẽ góp phần không nhỏ vào công cuộc xây dựng diện mạo nông thôn mới Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, ngành chăn nuôi năm 2015 đã có những bước chuyển dịch rõ ràng, từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi tập trung theo mô hình trang trại ứng dụng công nghệ khoa học kỹ thuật, tăng hiệu quả kinh tế Chăn nuôi hiện đang là một trong những mũi nhọn trong việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa đa dạng hóa vật nuôi, trong đó có chăn nuôi lợn Theo Cục chăn nuôi (2015), Việt Nam hiện có trên 10 triệu nông hộ chăn nuôi gần 27 triệu con lợn Chăn nuôi lợn đặc biệt đóng vai trò quan trọng trong kinh tế hộ gia đình và là một trong những nguồn thu chủ yếu của nông hộ
Hiện nay, bên cạnh phương thức chăn nuôi lợn truyền thống là chăn nuôi ở
hộ gia đình với quy mô nhỏ thì chăn nuôi lợn theo phương thức tập trung công nghiệp đang có xu hướng ngày càng phát triển mạnh mẽ dưới dạng các trang trại chăn nuôi lợn quy mô lớn Tính đến 01/7/2014, cả nước hiện có 10.044 trang trại chăn nuôi, trong đó có 4.238 trang trại chăn nuôi lợn theo tiêu chí trang trại của
Bộ Nông nghiệp & PTNT chiếm 42,2% (Tổng cục Thống kê, 2015) Hình thức chăn nuôi lợn theo quy mô trang trại mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần làm tăng sản lượng nông sản hàng hóa, tạo ra cho xã hội một nghề mang tính ổn định, góp phần cải thiện sinh kế cho người dân Các cơ sở chăn nuôi phát triển mạnh
mẽ kéo theo đó là lượng chất thải chăn nuôi cũng tăng lên không ngừng Do các
cơ sở chăn nuôi đều chỉ chú trọng đến nâng cao năng suất và chất lượng vật nuôi
mà quên đi việc xử lý chất thải chăn nuôi hoặc có xử lý nhưng không triệt để Nhiều nơi ở nông thôn nước thải chăn nuôi không qua xử lý được thải trực tiếp ra môi trường, mà nguồn tiếp nhận chính là hệ thống kênh mương, các ao hồ xung quanh khu dân cư Tại đây mùi hôi thối bốc lên không chỉ gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi trường xung quanh, mà còn tăng nguy cơ dịch bệnh cho vật nuôi, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, và ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi
Trang 14Hiện nay có rất nhiều các biện pháp để xử lý chất thải chăn nuôi như ủ phân yếm khí, nuôi giun Quế, hồ sinh học, xử lý bằng vi sinh vật, xử lý yếm khí bằng hầm ủ Biogas Trong thực tế, nhiều nơi chất thải chăn nuôi chất đống trên mặt đất, ứ đọng tại các kênh mương, dẫn đến thấm sâu vào trong đất gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, là nguy cơ gây bệnh tiềm ẩn tại các vùng nông thôn
Tại Xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh là một trong những huyện phát triển về chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn Năm 2013, toàn xã đã nuôi 2.798 con lợn nhưng đến năm 2016 số lượng lợn được nuôi đã tăng lên 3298 con Trong những năm qua, xã đang có xu hướng chuyển từ chăn nuôi lợn nhỏ lẻ sang chăn nuôi lợn trọng điểm tập trung, ngoài khu dân cư với các trang trại quy mô vừa và lớn Điều này đã làm gia tăng lượng chất thải chăn nuôi phát sinh vào môi trường Thêm vào đó, quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi tại nhiều trang trại, gia trại lợn còn hạn chế, bất cập dẫn đến nguồn thải không được xử lý triệt để, lượng thải vào môi trường lớn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường ở trong và xung quanh trang trại Trong khi đó, vấn đề nghiên cứu đánh giá chất lượng môi trường tại những khu vực trang trại chăn nuôi tại Chi Lăng chưa thực sự được chú trọng, quan tâm.Từ những vấn đề trên tôi đã thực hiện đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất biện pháp xử lý chất thải trang trại chăn nuôi lợn tại xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh” nhằm thấy được bức tranh tổng thể về chất lượng môi trường tại khu vực trang trại chăn nuôi lợn, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện môi trường, góp phần bảo vệ môi trường nói chung và phát triển bền vững ngành chăn nuôi lợn nước ta
1.2 MỤC TIÊU VÀ YÊU CẦU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng chất thải trang trại chăn nuôi lợn tại Xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
- Đề xuất một số biện pháp xử lý chất thải trang trại chăn nuôi lợn nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 1.2.2 Yêu cầu nghiên cứu
Chỉ ra được mức độ ô nhiễm môi trường từ phế thải, nước thải trang trại chăn nuôi tại Xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh;
Đề xuất các biện pháp xử lý chất thải trang trại chăn nuôi lợn phù hợp và
có tính khả thi tại Xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
Trang 15PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI Ở VIỆT NAM 2.1.1 Vai trò của ngành chăn nuôi trong nền kinh tế quốc dân
Chăn nuôi là ngành cổ xưa nhất của nhân loại, nó cung cấp cho con người thực phẩm có dinh dưỡng cao (thịt, sữa, trứng) Khi xã hội phát triển thì nhu cầu tiêu dùng về các sản phẩm chăn nuôi ngày càng tăng lên một cách tuyệt đối so với các sản phẩm nông nghiệp nói chung Trong điều kiện lao động của nền kinh
tế và trình độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi cường độ lao động và lao động trí óc ngày càng cao thì nhu cầu từ sản phẩm từ động vật sẽ ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong những bữa ăn hàng ngày của người dân Chăn nuôi sẽ đáp ứng được yêu cầu đó Các sản phẩm chăn nuôi đều là các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, hàm lượng protein cao và giá trị sinh vật học của protein cao hơn các thức ăn có nguồn gốc thực vật Vì vậy, thực phẩm từ chăn nuôi luôn là các sản phẩm quý trong dinh dưỡng của con người
Chăn nuôi là nguồn cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp Các ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng (tơ tằm, lông cừu, da), cho công nghiệp thực phẩm (đồ hộp), dược phẩm, sản phẩm thời trang
và cho xuất khẩu Chăn nuôi cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi…
Ngành chăn nuôi còn cung cấp sức kéo cho canh tác, khai thác lâm sản, đi lại, vận chuyển hàng hóa trên các vùng núi cao, đặc biệt hiểm trở nhiều dốc Ngày nay nhu cầu cần sức kéo trong cày kéo có giảm đi, nhưng việc cung cấp sức kéo cho lĩnh vực khai thác lâm sản tăng lên Vận chuyển lâm sản ở cùng sâu, vùng cao nhờ sức kéo của trâu, bò, ngựa thồ, ngựa cưỡi phục vụ nhiệm vụ bảo vệ
an ninh, quốc phòng vùng viên giới, du lịch,…
Chăn nuôi là nguồn cung cấp phân bón cho trồng trọt, thức ăn cho nuôi trồng thủy sản Trong sản xuất nông nghiệp hướng tới canh tác bền vững không thể không kể đến vai trò của phân bón hữu cơ nhận được từ chăn nuôi Phân chuồng với tỷ lệ N.P.K cao và cân đối, biết chế biến và sử dụng hợp lý có ý nghĩa lớn trong cải tạo đất trồng trọt, nâng cao năng suất cây trồng Mỗi năm từ một con bò cho 8-10 tấn phân hữu cơ, một con trâu 10-12 tấn (kể cả độn chuồng), trong đó 2-4 tấn phân nguyên chất Phân trâu, bò, lợn sau khi xử lý có thể là thức
ăn tốt cho cá và các đối tượng môi trường thủy sản khác
Trang 16Chăn nuôi là một mắt xích quan trọng trong sản xuất nông nghiệp bền vững, tạo việc làm, tăng thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo Để đạt được một nền nông nghiệp bền vững và góp phần xóa đói giảm nghèo thì chăn nuôi và trồng trọt có mối quan hệ mật thiết với nhau, sự gắn bó của hai ngành này là do sự chế ước bởi quy trình công nghệ, những vấn đề kinh tế kỹ thuật của liên ngành này Chăn nuôi cung cấp cho trồng trọt nguồn phân bón hữu cơ quan trọng không chỉ có tác động tăng năng suất cây trồng mà còn có tác dụng cải tạo đất, tái tạo hệ vi sinh vật và bảo vệ cân bằng sinh thái Chăn nuôi tận dụng phụ phẩm của trồng trọt, thủy sản tạo nên hệ sinh thái nông nghiệp VAC (vườn, ao, chuồng) hoặc VACR (vườn,
ao, chuồng, rừng) có hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường sống Tận dụng nguồn lao động ở các vùng nông thôn, tham gia vào quá trình chăn nuôi, tạo thêm sản phẩm cho xã hội, tăng nguồn thu và mức sống cho mỗi gia đình
2.1.2 Thực trạng ngành chăn nuôi ở nước ta hiện nay
Chăn nuôi là một trong hai lĩnh vực kinh tế quan trọng trong nền nông nghiệp (chăn nuôi, trồng trọt) Đặc biệt nông nghiệp lại có ý nghĩa rất quan trọng đối với nước ta khi có tới gần 80% dân số sống phụ thuộc vào nông nghiệp Chăn nuôi đóng vai trò chủ yếu, chăn nuôi là nguồn cung cấp thực phẩm dinh dưỡng cao như thịt, trứng, sữa… cho đời sống của con người Khi đời sống của người dân được cải thiện nhu cầu về cuộc sống ngày càng cao, trong đó có nhu cầu về thực phẩm Phát triển chăn nuôi trang trại là hướng đi đúng đắn để đưa nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, có trang trại tập trung thì mới có điều kiện đầu tư các tiến bộ khoa học kỹ thuật, mới tạo ra được sản phẩm hàng hóa có chất lượng, thích ứng với cơ chế thị trường, góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống cho người nông dân Ngành chăn nuôi ở Việt Nam được xem
là một trong số ngành sản xuất chính trong nông nghiệp Trâu, bò, lợn, gia cầm các vật nuôi truyền thống không thể thiếu đối với nghề làm ruộng, trồng lúa nước của nông dân Việt Nam
2.1.2.1 Xu hướng phát triển chăn nuôi ở nước ta
Thực hiện chủ trương đường lối của Đảng và Nhà Nước, nền kinh tế nông nghiệp nước ta đang có sự chuyển biến vững chắc từ nền kinh tế nông nghiệp thuần nông sang nền kinh tế đa dạng với nhiều loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao Xã hội càng phát triển, mức tiêu dùng của người dân về các sản
Trang 17phẩm chăn nuôi ngày càng tăng lên cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu sản phẩm Do vậy mức đầu tư của xã hội cho ngành chăn nuôi ngày càng có xu hướng tăng nhanh ở hầu hết mọi nền nông nghiệp Sự chuyển đổi có tính qui luật trong đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp là chuyển dần từ sản xuất trồng trọt sang phát triển chăn nuôi, trong ngành trồng trọt, các hoạt động trồng ngũ cốc cũng chuyển hướng sang phát triển các dạng hạt và cây trồng làm thức ăn chăn nuôi Hiện nay, ngành chăn nuôi ngày càng có vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt khi vấn đề lương thực đã được giải quyết cơ bản, là một trong những mũi nhọn trong việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng hang hóa đa dạng vật nuôi Hình thức chăn nuôi hiện nay đang chuyển dần
từ chăn nuôi nông hộ sang chăn nuôi trang trại
Bảng 2.1 Số lượng gia súc, gia cầm ở nước ta giai đoạn 2005 - 2015
(Nghìn con)
Bò (Nghìn con)
Lợn (Nghìn con)
Gia cầm (Triệu con)
Từ bảng 2.1 cho ta thấy, số lượng gia súc trong giai đoạn 2005-2015 đều có
xu hướng giảm, số lượng gia cầm lại có xu hướng tăng lên Bên cạnh đó tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của trâu, bò, lợn đều giảm lần lượt là 1,46%; 0,32%; nhưng TTBQ của lợn lại ko có biến động nhiều, chỉ tăng nhẹ khoảng 0,11% Gia cầm cũng có TTBQ tăng 4,53% Từ đây có thể thấy, xu hướng chăn nuôi của nước ta hiện nay đang chuyển sang chăn nuôi gia cầm và lợn
Chăn nuôi bước đầu phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá nên việc
Trang 18nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi đã được Nhà nước và người chăn nuôi chú trọng Một số địa phương đã triển khai mạnh mẽ chương trình, dự án nghiên cứu và phát triển bò sữa, cải tạo đàn bò thịt, nuôi lợn hướng nạc, gà công nghiệp, vịt siêu trọng, siêu trứng Nhiều địa phương đã tích cực xây dựng, phổ biến và khuyến khích người chăn nuôi áp dụng các tiêu chuẩn vệ sinh
an toàn GAP (thực hành nông nghiệp tốt) trong chăn nuôi, góp phần giảm thiểu
sự lây lan dịch bệnh gia súc, gia cầm; đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả chăn nuôi
Theo tổng hội nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, cuối năm
2015 cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập, Hiệp định TPP kết thúc giai đoạn đàm phán Trong lĩnh vực nông nghiệp, chăn nuôi đang được coi là ngành kinh tế chịu tác động rất lớn khi nước ta tham gia một loạt các hiệp định thương mại Xem xét thực trạng ngành chăn nuôi của Việt Nam hiện nay, có thể nhận thấy ngành chăn nuôi trong giai đoạn vừa qua vẫn phát triển với quy mô nhỏ lẻ, thiếu tính thị trường, tốc độ tăng trưởng cũng đang chậm lại, vì vậy có khả năng ngành sẽ gặp nhiều bất lợi trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam
Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, ngành chăn nuôi năm 2015 đã có những bước chuyển dịch rõ ràng, từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi tập trung theo mô hình trang trại, gia trại, ứng dụng công nghệ khoa học kỹ thuật, tăng hiệu quả kinh tế Giá thức ăn chăn nuôi trong năm có xu hướng giảm nhưng chưa nhiều Bên cạnh sự phát triển đạt được, ngành chăn nuôi vẫn còn phải đối mặt với nhiều thách thức từ những dịch bệnh đã xảy ra và thực trạng sử dụng chất cấm, chất kháng sinh trong chăn nuôi đến những cạnh tranh khó khăn trên thị trường tiêu thụ khi nhiều mặt hàng thịt nhập khẩu đang có giá thấp hơn thịt gia cầm, gia súc trong nước Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi có mức tăng khá đạt 4,3% so với cùng 2 kỳ năm ngoái Mức tăng này là do đàn bò sữa tăng mạnh (tăng 20,9%) sản lượng sữa bò tươi tăng cao đạt khoảng 120% so với cùng kỳ năm trước Chăn nuôi lợn phát triển khá thuận lợi do dịch lợn tai xanh không xảy
ra và giá bán lợn hơi ở mức có lợi cho người chăn nuôi Đàn lợn của cả nước tại thời điểm điền tra 1/10 có 27,7 triệu con, tăng 3,7%; đàn gia cầm có 341,9 triệu con, tăng 4,3%
2.1.2.2 Hình thức tổ chức sản xuất chăn nuôi
Ở nước ta, chăn nuôi được tổ chức sản xuất theo 2 hình thức chính là chăn
Trang 19nuôi hộ gia đình và chăn nuôi trang trại tập trung Trong những năm gần đây, cùng với xu thế phát triển ngành chăn nuôi trên thế giới, nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi trong nước và xuất khẩu, hình thức chăn nuôi trang trại, gia trại đang thay thế dần mô hình chăn nuôi tận dụng nhỏ lẻ ở gia đình Đây
là một trong những định hướng quan trọng của chiến lược phát triển chăn nuôi Việt Nam đến năm 2020
a Hình thức chăn nuôi hộ gia đình
Đây là phương thức chăn nuôi truyền thống có hầu hết các vùng nông thôn Việt Nam Được hình thành từ lâu, hình thức chăn nuôi gia súc, gia cầm hộ gia đình đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo cho người nông dân ở khu vực nông thôn và góp phần xây dựng nông thôn mới
Hình thức chăn nuôi gia đình đã góp phần giải quyết nhu cầu thực phẩm tại chỗ, cải thiện kinh tế gia đình, tạo việc làm cho lao động ở khu vực nông thôn trong tỉnh Một trong những yếu tố giúp hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ phát triển mạnh là không cần nhiều vốn đầu tư, có khả năng kết hợp với trồng trọt để tận dụng các sản phẩm dư thừa của mùa vụ, dễ học, dễ làm, dễ truyền đạt…
Cho đến năm 2011, mới chỉ có 6.348 trang trại chăn nuôi/20.028 cá thể nông lâm thủy sản, đáp ứng chỉ 31,8% nhu cầu Riêng với chăn nuôi lợn, số nông
hộ nuôi 1-2 con lợn chiếm tới 51,88%, trong khi số hộ nuôi trên 50 con lợn chỉ chiếm 0,78% Với chăn nuôi gà, số hộ nuôi từ 1-19 con chiếm tới 55%, trong khi
số hộ nuôi trên 1000 con chỉ chiếm 0,21% (Tổng cục Thống kê, 2012) Các hộ dân ở nông thôn thường nuôi từ 2-5 con trâu, bò; 3-10 con lợn và 20-30 con gia cầm/hộ (Phùng Đức Tiến và cs., 2009) Theo kết quả điều tra, tính đến thời điểm 01/7/2011 (bảng 2.3), cả nước có trên 4,13 triệu hộ chăn nuôi lợn, 7,9 triệu hộ chăn nuôi gà (chiếm tương ứng khoảng 88,8% và 48,6% số hộ nông nghiệp) Trong đó, số hộ chăn nuôi quy mô dưới 10 con lợn và dưới 20 con gà lần lượt khoảng 3,57 triệu hộ (86,4%) và 4,3 triệu hộ (54,7%) Như vậy, chăn nuôi của các hộ gia đình ở nước ta phổ biến vẫn là nhỏ lẻ
Theo báo cáo của Sở NN & PTNT các tỉnh, ở nước ta chăn nuôi nông hộ vẫn chiếm chủ yếu về số đầu gia súc cũng như lượng thịt hơi cung cấp cho thị trường Hiện số lượng lợn được chăn nuôi theo phương thức nông hộ nhỏ lẻ chiếm tới 65% tổng đàn lợn, cung cấp hơn 1/2 sản lượng thịt lợn cho cả nước, số lượng hộ chăn nuôi dưới 20 con vẫn còn chiếm khoảng 60% Đàn trâu bò thì gần như 100% được nuôi tại nông hộ (Đình Tú và Thạch Bình, 2014)
Trang 20Bảng 2.2 Số lượng hộ chăn nuôi lợn và gà theo quy mô số con trên cả nước
(thời điểm năm 2013)
Số lượng hộ có chăn nuôi lợn
3-5 con
6-9 con
≥10 con
Dưới
20 con
20-49 con
50-99 con
≥100 con
Cả nước 4131,6 2144,0 1060,0 367,22 560,4 7864,7 4301,9 2745,0 562,9 255,0
TDMNPB 1204,3 615,5 351,0 120,6 117,2 1726,1 852,1 644,1 158,5 71,4 BTBDHMT 1238,8 709,9 343,4 95,5 90.0 2243,1 1288,7 763,1 143,0 48,3
b Hình thức chăn nuôi trang trại tập trung
Tuy hình thức chăn nuôi hộ mang lại hiệu quả kinh tế cho gia đình nhưng còn rất nhiều hạn chế như trình độ chăn nuôi lạc hậu, phát triển không tập trung, năng suất chăn nuôi thấp hơn chăn nuôi trang trại, ảnh hưởng xấu đến môi trường, công tác phòng tránh dịch bệnh khó kiểm soát và gây thiệt hại lớn nhất là khi tình hình dịch bệnh ngày càng phức tạp như hiện nay
Trang 21Cục chăn nuôi nhận định mặc dù hiện nay sản phẩm từ chăn nuôi nông hộ vẫn đang chiếm tỷ lệ cao, song chăn nuôi nhỏ lẻ trong nông hộ lại đang có xu hướng giảm dần Thay vào đó, phương thức chăn nuôi gia trại, trang trại đang có
xu hướng tăng lên Hình thức chăn nuôi trang trại tập trung tạo ra sản phẩm hàng hoá đang là vấn đề tất yếu của ngành chăn nuôi nói riêng trong giai đoạn đất nước ta đang bước vào thời kỳ hội nhập theo cơ chế thị trường Cụ thể, số lượng trang trại trong giai đoạn năm 2001 – 2008 tăng 50%, năm 2009 – 2010 tăng 13,2% so với giai đoạn năm 1995 – 2000 Năm 2014 cả nước có khoảng 12.642 trang trại chăn nuôi trên tổng số 23.774 trang trại, tốc độ tăng trưởng trang trại chăn nuôi tăng 37,2% so với năm 2013 (Tổng cục thống kê 2013, 2014)
2.1.2.3 Sự phân bố chăn nuôi
Do đặc điểm tự nhiên của từng vùng địa phương là khác nhau dẫn tới sự phân bố chăn nuôi trên cả nước không đồng đều Với nhiều điều kiện thuận lợi thích hợp cho phát triển chăn nuôi nên 3 vùng ở miền Bắc và miền Trung có số lượng hộ chăn nuôi lớn nhất cả nước, cụ thể chiếm khoảng 80,2% số hộ nuôi lợn
và 73,1% số hộ nuôi gà Số còn lại phân bố tại các vùng miền khác, thể hiện chi tiết tại bảng 2.3:
Bảng 2.3 Sự phân bố số hộ chăn nuôi lợn và gà theo từng vùng trên cả nước
(thời điểm năm 2013)
Vùng
Số hộ chăn nuôi lợn
Số hộ chăn nuôi gà
Số hộ (1000 hộ) %
Số hộ
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 1.238,8 30,0 2.243,1 28,5
Trang 22Bảng 2.4 Số lượng trang trại chăn nuôi đạt tiêu chí kinh tế trang trại
(thời điểm năm 2012)
cả nước là 453 trang trại (chiếm 5,6%)
2.1.2.4 Đặc điểm chuồng trại
Trong chăn nuôi, ngoài các yếu tố giống, thức ăn, việc thiết kế xây dựng hệ thống chuồng trại đúng tiêu chuẩn kỹ thuật và phù hợp cho từng loại gia súc là một yếu tố hết sức quan trọng Chuồng trại được thiết kế đúng sẽ đảm bảo cho việc phát huy tối đa tính ưu việt của phẩm giống, giảm thiểu tối đa dịch bệnh cho gia súc và ô nhiễm môi trường, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm
Chuồng trại chăn nuôi ở nước ta thường 3 kiểu: chuồng trại kiên cố, bán kiên cố và đơn giản Theo kết quả nghiên cứu của Phùng Đức Tiến và cs (2009),
tỷ lệ bố trí các chuồng trại chăn nuôi kiên cố, bán kiên cố và đơn giản là khá khác biệt giữa hình thức chăn nuôi trang trại và chăn nuôi hộ gia đình Tỷ lệ này cũng không đồng nhất trong chăn nuôi các loài gia súc, gia cầm Số liệu cụ thể được chỉ ra trong bảng 2.5 như sau:
Trang 23Bảng 2.5 Tỷ lệ các kiểu chuồng trại giữa hình thức chăn nuôi trang trại và
chăn nuôi hộ gia đình
Kiểu chuồng
trại
Đơn vị (%)
tư nhiều, quy mô chăn nuôi lớn và chú trọng đến xây dựng cơ sở hạ tầng hơn so với các hộ chăn nuôi gia đình Trong đó, các trang trại chăn nuôi lợn có tỷ lệ chuồng trại kiên cố cao nhất (71,88%), thấp nhất là trang trại gia cầm (10,71%) Tại hình thức chăn nuôi trang trại, chuồng trại được thiết kế theo 2 kiểu: hệ thống chuồng kín và hệ thống chuồng hở Trong hệ thống chuồng kín tồn tại 2 kiểu chuồng kín: Kiểu chuồng kín hoàn toàn và kiểu chuồng kín không hoàn toàn Theo kết quả điều tra quy mô đàn lợn nái và các kiểu chuồng kín - hở trên
cả nước cho thấy, tỷ lệ trang trại xây dựng chuồng kín hoàn toàn là thấp nhất (3,0%), tiếp đến là chuồng kín không hoàn toàn (21,0%) và nhiều nhất là chuồng
hở (76,0%)
Bảng 2.6 Tỷ lệ các kiểu hệ thống chuồng trại theo quy mô đàn lợn nái
Trang 24Kiểu chuồng kín không hoàn toàn được xây dựng chủ yếu đối với trang trại quy mô nhỏ hơn 50 nái do công ty CP đầu tư giai đoạn đầu khi mới vào nước ta Trong tổng số 21% trang trại được thiết kế kiểu chuồng kín không hoàn toàn, có khoảng 56% trang trại nằm ở miền Bắc, 41% trang trại ở miền Trung và 3% trang trại ở miền Nam Các trang trại ở miền Nam hầu như được thiết kế kiểu chuồng hở (98%) Kiểu thiết kế này cho thấy phù hợp với điều kiện khí hậu nóng quanh năm của miền Nam
Nhìn chung, điều kiện chuồng trại chăn nuôi tại các trang trại được đầu tư hoàn chỉnh và tốt hơn so với chuồng trại tại các nông hộ Các kiểu thiết kế chuồng trại tùy thuộc vào điều kiện, phương thức chăn nuôi của từng cơ sở chăn nuôi và điều kiện thời tiết của từng vùng địa phương trên cả nước
2.1.2.5 Ảnh hưởng của chất thải chăn nuôi đến môi trường và sức khỏe cộng đồng
Ảnh hưởng chất thải chăn nuôi đến môi trường
Chất thải chăn nuôi thải ra môi trường chủ yếu dưới 3 dạng chất thải rắn, chất thải lỏng và khí thải Trong đó, chất thải rắn và chất thải lỏng là 2 dạng có ảnh hưởng chính tới môi trường Ảnh hưởng của chất thải chăn nuôi được thể hiện rõ ở hình 2.1 bên dưới
Hình 2.1 Sơ đồ ảnh hưởng của chăn nuôi lợn đến môi trường
Chất thải chăn nuôi
Trang 25Trong những năm, qua ngành chăn nuôi phát triển khá bền vững và đạt kết quả đáng ghi nhận, đáp ứng cơ bản nhu cầu thực phẩm trong nướcngày càng cao của xã hội Ngày nay, ngành chăn nuôi nước ta đang có những dịch chuyển nhanh chóng từ chăn nuôi nông hộ sang chăn nuôi trang trại, công nghiệp; từ chăn nuôi nhỏ lẻ lên chăn nuôi quy mô lớn Đảng và Chính phủ quan tâm tới ngành chăn nuôi để cùng với ngành trồng trọt, thủy sản đảm bảo an ninh lương thực, thức phẩm thông quanhững chủ trương, chính sách nhằm định hướng và tạo
ra những cơ chế khuyến khích để ngành chăn nuôi phát triển nhanh, mạnh và vững chắc Tuy nhiên, mặt chưa được của chăn nuôi đó là vấn đề ô nhiễm môi trường Cộng đồng khoa học trong và ngoài nước đã chỉ rõ gây ô nhiễm môi trường lớn nhất trong nông nghiệp ở Việt Nam là từ trồng trọt và chăn nuôi Theo báo cáo của Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO), chất thải của gia súc toàn cầu tạo ra 65% lượng Nitơ oxit (N2O) trong khí quyển Đây là loại khí có khả năng hấp thụ năng lượng mặt trời cao gấp 296 lần so với khí CO2 Cùng với các loại khí khác như CO2, CH4,… gây nên hiệu ứng nhà kính làm trái đất nóng lên Theo số liệu của Tổng cục thống kê, năm 2014 đàn lợn nước ta có khoản 26,76 triệu con, đàn trâu bò khoảng 7,75 triệu con, đàn gia cầm khoảng 327,69 triệu con Trong đó chăn nuôi nông hộ hiện tại vẫn chiếm tỷ trọng khoảng 65-70% về số lượng và sản lượng Từ số đầu gia súc, gia cầm đó có quy đổi được lượng chất thải rắn (phân chất độn chuồng, các loại thức ăn thừa hoặc rơi vãi) đàn gia súc, gia cầm của thải ra khoảng trên 76 triệu tấn, và khoảng trên 30 triệu khối chất thải lỏng (nước tiểu, nước rửa chuồng, nước từ sân chơi, bãi vận động, bãi chăn) Phân của vật nuôi chứa nhiều chất chứa nitơ, phốt pho, kẽm, đồng, chì, Asen, Niken (kim loại nặng)…
và các vi sinh vật gây hại khác không những gây ô nhiễm không khí mà còn làm ô nhiễm đất, làm rối loạn độ phì đất, mặt nước mà cả nguồn nước ngầm
Đi kèm theo đó là gần 14,5 triệu tấn thức ăn chăn nuôi được sản xuất từ
203 nhà máy Quá trình sản xuất thức ăn chăn nuôi từ các nhà máy đã thải ra môi trường lượng rất lớn chất khí gây hiệu ứng nhà khí kính (GHG) và các chất thải khác gây ô nhiễm môi trường
Ngoài ra, ô nhiễm môi trường còn có thể xảy ra trong quá trình giết mổ,
sơ chế sản phẩm động vật; trong các cơ sở sản xuất thuốc thú y, chẩn đoán xét nghiệm bệnh động vật; trong quá trình xử lý các ổ dịch và xử lý xác động vật bị dịch bệnh…là không nhỏ Quá trình sinh sống của gia súc, gia cầm ngoài thải ra chất thải như nói trên thì còn bài thải các loại khi hình thành từ quá trình hô hấp
Trang 26của vật nuôi và thải ra các loại mầm bệnh, ký sinh trùng, các vi sinh vật có thể gây hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe con người và môi trường sinh thái như: E.Coli, Salmonella, Streptococcus fecalis, Enterobacteriae, …
Tóm lại, chăn nuôi phát triển có thể cũng sẽ tạo ra những rủi ro cho môi trường sinh thái và là một trong những nguyên nhân làm trái đất nóng lên nếu vấn đề môi trường chăn nuôi không được quản lý hiệu quả Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay phát triển chăn nuôi sẽ vẫn là sinh kế quan trọng của nhiều triệu nông dân,cung cấp thực phẩm bổ dưỡng cho con người, tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện điều kiện sống cho hầu hết người lao động Nếu các chất thải chăn nuôi đặc biệt phân chuồng không được xử lý hiệu quả sẽ
là một trong những nguồn gây ô nhiễm lớn cho môi trường, ảnh hưởng xấu đến đời sống, sức khoẻ của cộng đồng dân cư trước mắt cũng như lâu dài Vấn đề đặt
ra là phát triển chăn nuôi nhưng phải bền vững để hạn chế tối đa mức độ gây ô nhiễm và bảo vệ được môi trường sinh thái
Ảnh hưởng tới sức khỏe con người
Theo cục chăn nuôi (Bộ NN&PTNT), mỗi năm ngành chăn nuôi gia súc gia cầm thải ra môi trường khoảng 75 – 85 triệu tấn chất thải đã tác động đến môi trường và sức khỏe con người trên nhiều khía cạnh: Gây ô nhiễm môi trường nước mặt, nước ngầm, môi trường không khí, môi trường đất và các sản phẩm nông nghiệp Đây chính là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh về hô hấp, tiêu hóa, do trong chất thải chứa nhiều vi sinh vật gây bệnh, trứng giun
Tổ chứ Y tế Thế giới (WHO) đã cảnh báo, nếu không có biện pháp thu gom và
xử lý chất thải chăn nuôi một cách thỏa đáng sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe con người, vật nuôi, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Đặc biệt các virus biến thể từ các dịch bệnh như lở mồm long móng, dịch bệnh tai xanh, dịch cúm ở lợn có thể lây lan nhanh chóng và có thể cướp đi sinh mạng của rất nhiều người
2.2 NGUỒN GỐC PHÁT SINH CHẤT THẢI CHĂN NUÔI VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC XỬ LÝ CHẤT THẢI CHĂN NUÔI
2.2.1 Nguồn gốc phát sinh chất thải chăn nuôi
2.2.1.1 Chất thải dạng rắn
Các chất thải rắn phát sinh trong quá trình hoạt động của trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm được phân thành các nhóm theo tính chất ô nhiễm và biện pháp xử lý khác nhau:
Trang 27Nhóm thứ nhất: Bao gồm bao bì phế thải (thùng giấy, bao bì, …)
Nhóm thứ hai: Bao gồm phân thải của gia súc, gia cầm, cặn bùn sinh ra trong quá trình xử lý nước thải và gia súc, gia cầm bị mắc bệnh dịch, ốm, chết, thức ăn thừa của lợn…
2.2.1.2 Chất thải dạng lỏng
Chủ yếu là nước thải Nguồn gây chủ yếu do: Nước tiểu, nước vệ sinh chuồng trại, nước tắm rửa gia súc, gia cầm Thành phần chủ yếu của nước thải là chất rắn lơ lửng, các hợp chất hữu cơ hòa tan, vi sinh vật,… Các thông số ô nhiễm là pH, chất rắn lơ lửng, BOD5, COD, tổng N, Coliform,…
2.2.1.4 Chất thải khí:
Nguồn gây ô nhiễm không khí trong quá trình hoạt động của trang trại là các khí NH3, H2S, CH4, CO2, SO2, phát sinh từ phân, nước tiểu của lợn, khu xử
lý chất thải, tiêu hóa của vật nuôi, do ứ phân, chế biến thức ăn,
2.2.2 Cơ sở khoa học để xử lý chất thải chăn nuôi
2.2.2.1 Chất thải rắn
Chất thải rắn là hỗn hợp các chất vô cơ, hữu cơ, vi sinh vật, trứng ký sinh trùng có thể gây bệnh cho người và gia súc khác, gồm phân, thức ăn thừa của vật nuôi, vật liệu lót chuồng, xác súc vật chết… Chất thải rắn có độ ẩm từ 56-83% tùy theo phân của các loài gia súc gia cầm khác nhau và có tỷ lệ NPK cao (Trương Thanh Cảnh, 2010)
Tại Việt Nam, hiện trạng ô nhiễm do chăn nuôi gây ra đang ngày một gia tăng Tổng lượng chất thải rắn phát sinh từ vật nuôi qua một số năm được ước tính như trong (bảng 2.7)
Bảng 2.7 Lượng chất thải rắn hàng năm từ vật nuôi Loại gia súc Lượng phân thải bình quân Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Trâu (ngàn con)
Trang 28Loại gia súc Lượng phân thải bình quân Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Nguồn: Cục chăn nuôi, Bộ NN & PTNT (2014) Theo ước tính, khối lượng chất thải rắn (chỉ tính riêng lượng phân của vật nuôi) của mội số vật nuôi chính thải ra trong năm 2011 là 83,67 triệu tấn, năm
2012 là 81,89 triệu tấn và 75,9 triệu tấn năm 2013 nhưng chỉ khoảng 40% số chất thải này được xử lý, còn lại được xả thẳng ra môi trường
Phân gia súc:
Lượng phân gia súc thải ra trong một ngày đêm phụ thuộc vào giống, loại, tuổi, khẩu phần ăn, trọng lượng gia súc và phương thức chăn nuôi
Theo Vũ Đình Tôn và cộng sự, 2010, lợn ở các lứa tuổi khác nhau thì thải
ra lượng phân khác nhau (bảng 2.8)
Bảng 2.8 Lượng phân lợn thải ra thay đổi theo lứa tuổi
Trang 292.2.2.2 Chất thải lỏng
Nước thải chăn nuôi là hỗn hợp bao gồm cả nước tiểu, nước tắm gia súc, rửa chuồng Nước thải chăn nuôi còn có thể chứa một phần hay toàn bộ lượng phân được gia súc, gia cầm thải ra (Bùi Hữu Đoàn, 2012)
Nước thải là dạng chất thải chiếm khối lượng lớn nhất trong chăn nuôi Theo khảo sát của Trương Thanh Cảnh và Cs (2006), khảo sát trên gần 1000 trại chăn nuôi heo quy mô vừa và nhỏ ở một số tỉnh phía nam cho thấy, hầu hết các
cơ sở căn nuôi đều sử dụng một khối lượng lớn cho gia súc Cứ 1kg chất thải do lợn thải ra được pha thêm với 20 – 49 kg nước Việc sử dụng nước tắm cho gia súc hay rửa chuồng làm tăng lượng nước thải đáng kể, gây khó khăn cho việc thu gom, xử lý sau này
Lượng nước tiểu phát sinh phụ thuộc vào loại vật nuôi, khẩu phần ăn của chúng Dưới đây là lượng nước tiểu của một số loại gia súc
Bảng 2.9 Lượng nước tiểu của một số loại gia súc
và giàu chất hữu cơ nên khả năng bị phân hủy vi sinh vật rất cao Chúng có thể tạo ra các sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm cho cả môi trường đất, nước và không khí
2.2.2.3 Khí thải
Chăn nuôi được xác định là một trong những ngành thải ra môi trường chất thải lớn nhất, đó là sự hỗn tạp các chất thải ở dạng rắn, lỏng hoặc khí … (Bùi Hữu Đoàn, 2011) Theo tính toán của FAO, ngành chăn nuôi của thế giới phát thải tới 18% tổng số khí nhà kính quy đổi theo CO2 Trong đó, khoảng 65%
Trang 30lượng NO, 37% lượng CH4 và 64% lượng NH3 Đây là những chất phát thải chính gây hiệu ứng nhà kính Dự báo trong các năm tới lượng khí thải từ chăn nuôi sẽ tiếp tục gia tăng do sự phát triển của ngành chăn nuôi tiếp tục tăng Vì vậy, việc hạn chế tác động xấu của chất thải vật nuôi đến môi trường là mối quan tâm của rất nhiều quốc gia, trong đó có nước ta
Chăn nuôi là một ngành sản xuất tạo ra nhiều loại khí thải nhất, điển hình là các khí CO2, CH4, NH3, NO2, N2O, NO, H2S, indol, schatol mecaptan… và hàng loạt các khí gây mùi khác Hầu hết các khí thải chăn nuôi có thể gây độc cho gia súc cho con người và môi trường (Vũ Chí Cương, 2010)
2.2.3 Các biện pháp xử lý chất thải chăn nuôi
Nhiều biện pháp xử lý kỹ thuật khác nhau đã được áp dụng nhằm giảm thiểu những tác động xấu đến trường do ô nhiễm từ chất thải chăn nuôi Trong
đó, việc quy hoạch và giám sát quy hoạch cả tổng thể và chi tiết chăn nuôi theo quốc gia, miền, vùng sinh thái, cụm tỉnh cho từng chủng loại gia súc, gia cầm, với số lượng phù hợp để không quá tải gây ô nhiễm môi trường là biện pháp quan trọng có tầm chiến lược Kỹ thuật xử lý chất thải chăn nuôi là áp dụng các phương pháp lý học, hóa học và sinh học để giảm thiểu ô nhiễm môi trường Thông thường người ta kết hợp giữa các phương pháp với nhau để xử lý chất thải chăn nuôi hiệu quả và triệt để hơn
2.2.3.1 Ủ làm phân bón
Có thải chất thải bằng hữu cơ (Compost) là sử dụng chủ yếu bã phế thải thực vật, phân của động vật mà thông qua hoạt động trực tiếp hay gián tiếp của vi sinh vật phân hủy và làm tăng cao chất lượng của sản phẩm, tạo nên phân bón hữu cơ giàu chất dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng Người ta chọn chỗ đất không ngập nước, trải một lớp rác hoặc bã phế thải trồng trọt dày khoảng 20cm, sau đó lót một lớp phân gia súc hoặc gia cầm khoảng 20-50% so với rác (có thể tưới nếu phân lỏng, mùn hoai), tưới nước để có độ ẩm đạt 45-50% rồi lại lại trải tiếp một lớp rác, bã phế thải trồng trọt lên trên… đến khi đống ủ đủ chiều cao (không sử dụng cỏ tranh, cỏ gấu để ủ) Dùng tấm ni lông, bạt… đủ lớn để che kín đống phân ủ Cứ khoảng một tuần đảo đều đống phân ủ và bổ xung nước cho đủ
độ ẩm khoảng 45-50%, che ni long, bạt kín lại như cũ Ủ phân bằng phương pháp này hoàn toàn nhờ sự lên men tự nhiên, không cchất thải bằ hữu cơ (Compost) là
sử dụng chủ yếu (tuy nhiên nếu được bổ sung men vào đống ủ thì tốt hơn)
Trang 31Nhờ quá trình lên men và nhiệt độ tự sinh của đống phân ủ sẽ tiêu diệt được phần lớn các mầm bệnh nguy hiểm, thậm chí ủ phân có thể phân hủy được cả xác động vật chết khi lượng phế thải thực vật đủ lớn Trong phân ủ có chứa chất mùn làm đất tơi xốp, tăng dung lượng hấp thụ khoáng của cây trồng, đồng thời có tác dụng tốt đến hệ vi sinh vật có ích trong đất Phân ủ còn có tác dụng tốt đối với tính chất lý hoá học và sinh học của đất, không gây ảnh hưởng xấu đến người, động vật và giải quyết được vấn đề ô nhiễm môi trường sinh thái
2.2.3.2 Xử lý chất thải bằng chế phẩm sinh học
a Xử lý môi trường bằng men sinh học
Từ đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước người ta đã sử dụng các chất men để giảm ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi được gọi là “Chế phẩm EM (Effective Microorganisms) có nghĩa là vi sinh vật hữu hiệu” Ban đầu các chất này được nhập từ nước ngoài nhưng ngày nay các chất men đã được sản xuất nhiều ở trong nước Các men nghiên cứu sản xuất trong nước cũng rất phong phú và có ưu điểm là phù hợp hơn với điều kiện tự nhiên, khí hậu nước ta Người ta sử dụng men sinh học rất đa dạng như: Dùng bổ sung vào nước thải, dùng phun vào chuồng nuôi, vào chất thải để giảm mùi hôi, dùng trộn vào thức ăn…
b Chăn nuôi trên đệm lót sinh học
Chăn nuôi trên đệm lót sinh học là sử dụng các phế thải từ chế biến lâm sản (phôi bào, mùn cưa…) hoặc phế phụ phẩm trồng trọt (thân cây ngô, đậu, rơm, rạ, trấu, vỏ cà phê…) cắt nhỏ để làm đệm lót có bổ sung chế phẩm sinh học Sử dụng chế phẩm sinh học trên đệm lót là sử dụng “bộ vi sinh vật hữu hiệu” đã được nghiên cứu và tuyển chọn chọn thuộc các chi Bacillus, Lactobacillus, Streptomyces, Saccharomyces, Aspergillus…với mong muốn là tạo ra lượng vi sinh vật hữu ích đủ lớn trong đệm lót chuồng nhằm tạo vi sinh vật có lợi đường ruột, tạo các vi sinh vật sinh ra chất ức chế nhằm ức chế và tiêu diệt vi sinh vật có hại, để các vi sinh vật phân giải chất hữu cơ từ phân gia súc gia cầm, nước giải giảm thiểu ô nhiễm môi trường Trên cơ sở nghiên cứu gốc chế phẩm EM của Nhật Bản, tiến sĩ Lê Khắc Quảng đã nghiên cứu, chọn tạo cho ra các sản phẩm
EM chứa nhiều chủng loại vi sinh vật đã có mặt trên thị trường Ngoài ra nhiều
cơ sở khác cũng đã nghiên cứu và chọn tạo ra nhiều tổ hợp vi sinh vật (men) phù hợp với các giá thể khác nhau và được thị trường chấp nhận như chế phẩm sinh học Balasa No1 của cơ sở Minh Tuấn; EMIC (Công ty CP Công nghệ vi sinh và
Trang 32môi trường); EMC (Công ty TNHH Hóa sinh Việt Nam); GEM, K, P1 (Trung tâm Tư vấn CTA)… Thực chất của quá trình này cũng là xử lý chất thải chăn nuôi bảo vệ môi trường bằng men sinh học
GEM-Công nghệ đệm lót sinh học đầu tiên được ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp ở Nhật Bản từ đầu những năm 1980 Ngày nay đã có nhiều nước ứng dụng như Trung Quốc, Hồng Kông, Hoa Kỳ, Anh, Thái Lan, Hàn Quốc… Ở nước ta từ năm 2010 công nghệ này đã bắt đầu du nhập vào và phát triển Ngày
22 tháng 5 năm 2014 tại thành phố Phủ Lý, Bộ NN & PTNT đã tổng kết 3 năm ứng dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi 2011-2013 và đã có thông báo số 2560/TB-BNN-VP ngày 30 tháng 5 năm 2014 ý kiến kết luận của Thứ trưởng Vũ Văn Tám: “…Công nghệ chăn nuôi trên đệm lót sinh học là hướng đi mới và thu được những kết quả bước đầu đã được khẳng định là không gây ô nhiễm môi trường, giảm chi phí, giảm bệnh tật, lợn tăng trưởng nhanh, chất lượng thịt được người ưa chuộng, giá bán cao hơn, vì vậy mà hiệu quả hơn, phù hợp với quy mô chăn nuôi gà, lợn nông hộ”
Theo kết luận trên thì chăn nuôi trên đệm lót sinh học giảm gây ô nhiễm môi trường vàphù hợp nhất đối với mô hình chăn nuôi nông hộ Tuy nhiên điều đáng lưu ý là đệm lót sinh học kỵ nước, sinh nhiệt nên địa hình cao ráo và việc làm mát, tản nhiệt khi thời tiết nóng cần phải được quan tâm
2.2.3.3 Ủ Biogas
Theo cục chăn nuôi, Ủ Biogas là một trong những biện pháp được áp dụng nhiều nhất trong việc xử lý chất thải chăn nuôi Trong thực tiễn, tùy điều kiện từng nơi, từng quy mô trang trại có thể sử dụng loại hầm (công trình) khí sinh học (KSH) cho phù hợp Xử lý chất thải chăn nuôi bằng công trình khí sinh học (KSH) được đánh giá là giải pháp hữu ích nhằm giảm khí thải methane (Khí có khả năng gây hiệu ứng nhà kính) và sản xuất năng lượng sạch Đến năm 2014, với trên 500.000 công trình KSH hiện có trên cả nước đã sản xuất ra khoảng 450 triệu m3 khí gas/năm Theo thông báo quốc gia lần 2, tiềm năng giảm nhẹ phát thải khí nhà kính của phương án này khoảng 22,6 triệu tấn CO2, chi phí giảm đối với vùng đồng bằng là 4,1 USD/tCO2, đối với miền núi 9,7 USD/tCO2, mang lại giá trị kinh tế khoảng 1.200 tỷ đồng về chất đốt Hiện nay, việc sử dụng hầm Biogas đang được người chăn nuôi quan tâm vì vừa bảo vệ được môi trường vừa
có thể thay thế chất đốt hoặc có thể được sử dụng cho chạy máy phát điện, tạo ra
Trang 33điện sinh hoạt gia đình và điện phục vụ trang trại
Công trình khí sinh học góp phần giảm phát thải theo 3 cách sau:
- Thứ nhất: Giảm phát thải khí methane từ phân chuồng
- Thứ hai: Giảm phát thải khí nhà nhà kính do giảm sử dụng chất đốt truyền thống
- Thứ ba: Giảm phát thải khí nhà kính do sử dụng phân từ phụ phẩm KSH thay thế phân bón hóa học
Như vậy nhờ có công trình khí sinh học mà lượng lớn chất thải chăn nuôi trong nông hộ sẽ được xử lý tạo ra chất đốt và chính điều đó sẽ góp phần giảm phát thải khí nhà kính rất hiệu quả
- Xử lý nước thải bằng oxi hóa: phương pháp này thường được dùng đối với các bể lắng nước thải
2.3 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI TẠI TỈNH BẮC NINH
Theo báo cáo của các địa phương năm 2015: toàn tỉnh có 455 trang trại chăn nuôi lợn với quy mô nuôi 68,3 ngàn con/năm Chăn nuôi gia cầm có 473 trang trại với quy mô nuôi hơn 1,23 triệu con/năm; chăn nuôi trâu bò có 62 trang trại Tuy nhiên chăn nuôi nhỏ theo phương thức tận dụng trong nông hộ còn chiếm tỷ trọng lớn (có 97,4% số trâu bò, 83,1% đàn lợn và 72,4% tổng đàn gia cầm được chăn nuôi theo quy mô hộ)
Thực trạng trên cho thấy, ngành chăn nuôi Bắc Ninh đa phần là hình thức chăn nuôi sản xuất nhỏ lẻ, phụ thuộc phần lớn và việc nhập khẩu giống và thức
ăn từ nước ngoài Tình trạng bệnh tật còn phổ biến trong các hộ chăn nuôi, khả năng và ý thức bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường còn chưa cao Cũng do hình thức chăn nuôi quy mô nhỏ, phân tán, gây khó khăn cho các
cơ quan chức năng trong việc quản lý dịch bệnh và vệ sinh an toàn thực phẩm trong quản lý giết mổ, môi trường bị ô nhiễm… vẫn là hiện tượng khá phổ biến trong chăn nuôi lợn, gà, trâu, bò tại các địa phương hiện nay Những đặc điểm
Trang 34này không những khiến cho năng suất và sản lượng của ngành chăn nuôi đều thấp, mà ngay cả vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm cũng khá nan giải, đây là yếu điểm khi hội nhập
Tuy nhiên với chủ trương và chính sách thúc đẩy chăn nuôi trên toàn tỉnh Tính đến nay, tỉnh Bắc Ninh đã hình thành được 30 vùng chăn nuôi lợn hướng nạc tập trung chủ yếu ở các huyện Yên Phong, Từ Sơn, Gia Bình với số lượng trên 30 hộ nuôi tập trung từ 50 đến 250 con, đạt mức thu nhập từ 50 đến 150 triệu đồng/năm
Tại những vùng này, các hộ dân đã áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào các khâu chọn con giống, phòng trừ dịch bệnh, xây dựng hệ thống chuồng trại sạch sẽ, thoáng mát, đảm bảo các điều kiện cho chăn nuôi Nhiều hộ nông dân ở các huyện Gia bình, Yên Phong, Lương Tài….do nhạy bén, nắm bắt nhu cầu thị trường đã mạnh dạn đầu tư hàng trăm triệu đồng xây dựng các khu chăn nuôi khép kín với tổng đàn lên tới từ 100 đến 250 con, đồng thời tận dụng nguồn phân chuồng nuôi thả các loại cá kết hợp trồng các loại cây ăn quả như đu đủ, xoài, nhãn…nâng tổng thu nhập trên 100 triệu đồng/năm Hầu hết các hộ chăn nuôi có quy mô tổng đàn hàng chục con trở nên đều đầu tư xây dựng 1- 2 bể biogas làm nguồn chất đốt và hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường Ở các xã Xuân Lai, Quỳnh Phú, Nhân Thắng…thuộc huyện Gia Bình, trên 100 hộ dân đã thường xuyên nuôi từ 50 con lợn trở nên Huyện Yên Phong là huyện có phong trào chăn nuôi lợn hướng lạc mạnh nhất tỉnh, tập trung ở 11 xã, thị trấn với hàng trăm hộ nuôi từ 10 đến 60 con lợn nái và hàng trăm con lợn thịt siêu nạc Ở các huyện Lương Tài, Thuận Thành, Quế võ, Tiên Du… có hàng trăm hộ nuôi với quy mô lớn đạt giá trị thu nhập cao hàng trăm triệu đồng mỗi năm Nhờ chăn nuôi phát triển, nhiều hộ đã trở thành những hộ điển hình về làm ăn có hiệu quả
- Hộ ông Nguyễn Văn Ái ở xã Hòa Tiến (Yên Phong) có trang trại chăn nuôi trên diện tích 3.000 m2 nuôi 40 con lợn nái, 150 con lợn thịt Ông Nguyễn Văn Doanh ở Thuận Thành đầu tư gần 1 tỷ đồng với hàng ngàn con gia cầm và các loại cá trên diện tích 3ha
- Trong đó phải kể đến là mô hình trang trại của ông Phạm Văn An (Phó chủ tịch UBND thị trấn Thứa, Lương Tài), mô hình VAC kết hợp Đến nay trang trại của ông đã có 10.000 con gà, 2.000 con ngan, 4 mẫu ao nuôi cá, đà điểu 150 con cả nuôi sinh sản và nuôi lấy thịt, 800 cây nhãn
Trang 35- Trang trại chăn nuôi lợn tập trung theo hướng hàng hóa của anh Nguyễn Văn Đẩu (phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn) với hệ thống trang thiết bị hiện đại, 2 khu trang trại trên diện tích 6 ha của gia đình anh đang có quy mô nuôi 900 lợn nái ngoại, 30 lợn đực và hơn 4.000 lợn thịt thương phẩm; xung quanh chuồng trại là các bể biogas liên thông xử lý nước thải và ao cá điều hòa không khí, trung bình mỗi năm, gia đình anh xuất bán khoảng từ 1.200-1.400 tấn lợn hơi thương phẩm, doanh thu đạt 70-80 tỷ đồng/năm
2.4 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI CHĂN NUÔI Ở NƯỚC TA
2.4.1 Cơ sở pháp lý về quản lý chất thải và bảo vệ môi trường trong chăn nuôi ở nước ta
Hiện nay ở nước ta, vấn đề môi trường đã và đang được Đảng và Nhà nước chú trọng và quan tâm Hệ thống văn bản pháp lý quản lý nhà nước về môi trường được ban hành tương đối nhiều, tuy nhiên chỉ có một số văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực môi trường chăn nuôi
- Thông tư số 11/2017/TT-BNNPTNT về Sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Quyết định số 1895/QĐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thuộc Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020
- Nghị định số 39/2017/NĐ-CP về quản lý thức ăn chăn nuôi, thủy sản
- Thông tư số 09/2015/BNNPTNT về Hướng dẫn thực hiện điểm a khoản 1 Điều 6 Quyết định số 50/2014/QĐ-TTG ngày 04 tháng 9 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2015-2020
- Thông tư số 02/2011/TT-BNNPTNT về Hướng dẫn nhiệm vụ quản lý nhà nước về chăn nuôi
- QCVN 62-MT:2016/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải chăn nuôi
- QCVN 01 - 14: 2010/BNNPTNT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện trang trại chăn nuôi lợn an toàn sinh học
Trang 362.4.2 Thực trạng quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi
Nhìn chung hiện nay, chất thải chăn nuôi ở nước ta chưa được tiến hành thu gom và xử lý triệt để Tỷ lệ chất thải chăn nuôi được xử lý còn thấp và đây là nguyên nhân chính gây ra những vấn đề ô nhiễm môi trường tại các khu chăn nuôi (Hồ Thị Lam Trà và cs., 2008; Cao Trường Sơn và cs., 2010) Việc quản lý
và xử lý chất thải chăn nuôi lại chưa được quan tâm đúng mức Hiện mới khoảng 70% hộ chăn nuôi có chuồng trại, tỷ lệ hộ gia đình có chuồng trại chăn nuôi hợp
vệ sinh cũng chỉ chiếm khoảng 10%; hộ có công trình khí sinh học (hầm biogas) chỉ đạt 8,7%; khoảng 23% số hộ chăn nuôi không xử lý chất thải vật nuôi Tuy nhiên, tỷ lệ hộ có cam kết bảo vệ môi trường chỉ chiếm 0,6%
Về phía các trang trại chăn nuôi tập trung, mặc dù phần lớn đã có hệ thống
xử lý chất thải nhưng hiệu quả xử lý chưa triệt để, số trang trại chăn nuôi có hệ thống xử lý chất thải bằng biogas khoảng 67%; số trang trại có đánh giá tác động môi trường chiếm chưa đầy 14%; 37,2% hộ chăn nuôi thâm canh và 36,2% chăn nuôi thời vụ không có biện pháp xử lý chất thải Tình trạng trên đã gây ra ô nhiễm nghiêm trọng môi trường đất, nước, không khí ở nông thôn Ước tính, hiện
có tới 80% các bệnh nhiễm trùng ở nông thôn có liên quan tới nguồn nước bị nhiễm vi sinh vật như giun sán, tả, bệnh ngoài da, mắt…
Hiện nay ở nước ta, phần lớn chất thải chăn nuôi được sử dụng làm phân bón, việc xử lý chất thải chăn nuôi có sự khác nhau theo quy mô chăn nuôi Với quy mô chăn nuôi trang trại thì việc xử lý chất thải chăn nuôi được coi trọng hơn, còn tại các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ gắn liền với sản xuất nông nghiệp, chất thải chăn nuôi chủ yếu được trực tiếp bón cho cây trồng, làm thức ăn cho cá Vì vậy, việc
xử lý và quản lý chất thải vật nuôi ở nước ta gặp nhiều khó khăn (Attar A.J; J.T Brake, 1988) Những năm qua, chất thải vật nuôi trong nông hộ được xử lý bằng các biện pháp chủ yếu: trực tiếp xả ra kênh mương và ao, hồ; ủ làm phân bón; xử
lý bằng công nghệ khí sinh học (biogas) Bên cạnh đó, còn có một số phương pháp khác như xử lý bằng sinh vật thủy sinh (cây muỗng nước, bèo lục bình…),
hồ sinh học, ủ phân truyền
Trang 37Bảng 2.10 Thực trạng quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi
Quản lý và xử lý chất thải vật nuôi
Chăn nuôi trang trại Chăn nuôi nông hộ
SL mẫu điều tra Tỷ lệ %
SL mẫu điều tra Tỷ lệ %
Có xử lý chất thải truyền thống
Nguồn: Báo cáo công tác BVMT trong chăn nuôi của 55 tỉnh/thành phố (2009)
Do nhiều nguyên nhân khiến công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động chăn nuôi vẫn còn nhiều mặt tiêu cực, tình trạng gây ô nhiễm môi trường của một
số cơ sở chăn nuôi lớn và chăn nuôi trong khu dân cư vẫn chưa được khắc phục triệt để và có chiều hướng gia tăng (Barnett J et al., 2001)
Theo báo cáo lực lượng Cảnh sát PCTP về môi trường, từ năm 2010 đến nay đã phát hiện và xử lý 288 vụ vi phạm pháp luật về môi trường trong lĩnh vực chăn nuôi tập trung, sản xuất thức ăn chăn nuôi; xử phạt 6,167 tỉ đồng Các vi phạm về bảo vệ môi trường chủ yếu trong lĩnh vực này là xả nước thải, khí thải vượt tiêu chuẩn, quản lý chất thải nguy hại không đúng quy định, vi phạm về hồ
sơ thủ tục môi trường và thực hiện không đúng, đầy đủ các nội dung cam kết trong báo cáo bảo cáo đánh giá tác động môi trường, cam kết BVMT
2.4.3 Nghiên cứu về xử lý chất thải chăn nuôi lợn
Việc đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, xử lý chất thải trong chăn nuôi đang là vấn đề cấp bách hiện nay Góp phần giải quyết vấn đề này, năm 2015, nhóm nghiên cứu đứng đầu là TS Trần Văn Tựa, Viện Công nghệ Môi trường đã nghiên cứu và ứng dụng thành công công nghệ tiên tiến phù hợp với điều kiện Việt Nam để xử lý ô nhiễm môi trường kết hợp với tận dụng chất thải của các trang trại chăn nuôi lợn
Đây là đề tài nghiên cứu thuộc Chương trình Nghiên cứu khoa học công nghệ phục vụ phòng tránh thiên tai, bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài
Trang 38nghiên thiên nhiên, Mã số KC08.04/11-15, nhằm xác lập cơ sở khoa học và xác định qua thực nghiệm các chỉ số kỹ thuật - kinh tế chủ yếu của một số công nghệ tiên tiến áp dụng cho xử lý nước thải (các công nghệ vi sinh yếm khí và thiếu khí; công nghệ sinh thái), chất thải rắn và mùi trong trang trại chăn nuôi lợn Đánh giá tính phổ cập và xây dựng phương án ứng dụng các công nghệ này trên thực tế Xây dựng được mô hình ứng dụng các công nghệ xử lý hiệu quả chất thải đáp ứng QCVN 40:2011/BTNMT loại B cho nước thải công nghiệp trên cơ sở kết hợp áp dụng đồng bộ 3 khâu công nghệ xử lý nước thải, công nghệ xử lý chất thải rắn và không khí
Trên cơ sở nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã xây dựng và đưa và hoạt động
mô hình đồng bộ xử lý chất thải chăn nuôi lợn trang trại gồm 3 hạng mục:
Xử lý nước thải: Do nước thải chăn nuôi lợn trang trại ô nhiễm rất cao Trong nước thải chăn nuôi, hàm lượng chất hữu cơ, nitơ (N), phốt pho (P), coliform rất cao nên gây ô nhiễm nặng cho môi trường Vì vậy, nước thải được
xử lý 3 bước kế tiếp, không thay thế và hỗ trợ lẫn nhau là xử lý yếm khí với kỹ thuật ABR để loại phần lớn chất hữu cơ (COD), tiếp theo là xử lý bằng kỹ thuật lọc sinh học Hiếu khí - Thiếu khí loại bỏ tiếp COD và phần lớn N và P và cuối cùng là xử lý bổ xung bằng CNST sử dụng TVTS loại bỏ tiếp COD, N và P đến mức chấp nhận về mặt môi trường
Xử lý chất thải rắn (Phân, rác thải hữu cơ và bùn thải sinh học): Xử lý bằng bùn ủ với chế phẩm VSV ưa nhiệt do nhóm nghiên cứu tạo ra để sản xuất phân bón hữu cơ chất lượng cao đáp ứng tiêu chuẩn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Xử lý mùi chuồng bằng kỹ thuật phun sương dung dịch siêu ô xy hóa thân thiện với môi trường Với kỹ thuật này, mùi chuồng nuôi giảm trên 70%
Các công nghệ ứng dụng trong mô hình là tiên tiến và phù hợp với điều kiện Việt Nam Công nghệ không những không quá phức tạp về xây dựng, trang thiết bị, vận hành, đầu tư không cao, hiệu quả xử lý chất ô nhiễm khá cao mà còn
có thể áp dụng cho các trang trại quy mô trung bình và lớn Ngoài ra, nhóm nghiên cứu đã làm chủ được công nghệ, có thể tư vấn, thiết kế và triển khai ứng dụng công nghệ này vào thực tế Mô hình công nghệ này có thể sử dụng để xử lý chất thải chăn nuôi đại gia súc đặc biệt cho các trang trại chăn nuôi bò sữa quy
mô lớn Chất lượng nước thải và chất thải rắn sau xử lý có thể tái sử dụng nước cho trang trại và sản xuất phân bón hữu cơ chất lượng cao có thương hiệu
Trang 392.5 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI CHĂN NUÔI Ở TỈNH BẮC NINH
2.5.1 Thực trạng công tác quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi
Những năm vừa qua nhờ chính sách đổi mới, nông nghiệp có tốc độ phát triển cao, đóng góp đáng kể vào phát triển KT-XH của đất nước Bên cạnh sự phát triển với tốc độ nhanh như vậy đã dẫn đến những quan ngại về môi trường, đặc biệt chăn nuôi ở quy mô trang trại, nông hộ Nhưng quy hoạch tổng thể vẫn chưa thống nhất, phân bố, mật độ trang trại có sự khác biệt lớn giữa các vùng, năng suất lao động không cao, các công nghệ xử lý môi trường chưa thực sự được quan tâm Do đó, quy mô chăn nuôi nông hộ cho năng suất thấp, khó cạnh tranh, quy mô phân tán, nhỏ lẻ gây khó khăn trong việc quản lý dịch bệnh Theo những thống kê gần đây của Sở NN&PTNT tỉnh Bắc Ninh, việc xử lý chất thải rắn (bao gồm: phân, thức ăn thừa, xác gia súc…) trong chăn nuôi vẫn còn khoảng
40 – 70% được ủ làm phân bón, khoảng 30 – 60% xả thải trực tiếp ra môi trường hoặc phần nhỏ được xử lý bằng biogas Hầu hết các cơ sở chăn nuôi không có nhà máy xử lý hoàn chỉnh, đạt tiêu chuẩn TCVN 37775 – 83 Các chất thải rắn khác như dụng cụ chăn nuôi, vật tư thú y,… hầu như chưa được xử lý
Bên cạnh đó, việc xử lý chất thải lỏng (bao gồm: nước tiểu, nước tắm cho vật nuôi, nước rửa chuồng trại, nước từ các lò giết mổ gia súc, gia cầm) có khoảng 30% xử lý qua hầm Biogas, 30% bằng hồ sinh học, 40% còn lại là dùng trực tiếp tưới hoa màu, nuôi cá hoặc đổ ra môi trường Ngoài ra, chất thải khí (bao gồm CO2, NH4+, CH4, H2S,…) gây ô nhiễm môi trường và mùi
2.5.2 Một số quy trình công nghệ và hiệu quả xử lý chất thải chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Theo thống kê của sơ NN & PTNT hiện nay, trên địa bàn toàn tỉnh Bắc Ninh có khoảng 455 trang trại Hầu hết các trang trại trên địa bàn toàn tỉnh đều
áp dụng các mô hình VAC, AC kết hợp với hầm biogas để xử lý chất thải chăn nuôi lợn Điển hình như một số trang trại sau:
Trang trại chăn nuôi lợn của ông Nguyễn Văn Chất nằm tại Thị trấn Thứa – huyện Lương Tài – tỉnh Bắc Ninh có tổng diện tích khoảng 6 ha với quy mô chăn nuôi như sau:
Nuôi lợn: 3 khu với quy mô 3.600 con/vụ x 2vụ/năm nhưng hiện tại trang trại mới tiến hành chăn nuôi với quy mô 2.400 con /vụ (2vụ/năm)
Trang 40Nuôi cá: 4 ha mặt nước nuôi cá
Trang trại này có lượng chất thải tương đối lớn, vì vậy trang trại đã sử dụng quy trình xử lý chất thải chăn nuôi như sau:
Nguồn: Báo cáo tình hình chăn nuôi tỉnh Bắc Ninh ( 2014) Hình 2.2 Sơ đồ xử lý nước thải bằng hầm biogas kết hợp ao sinh học Nước thải chăn nuôi lợn của trạng trại vào khoảng 200m3/ngày dùng để tắm, rửa chuồng và cho lợn uống Nguồn nước dùng cho chăn nuôi lấy từ kênh thủy lợi của hệ thống thủy nông Nam Đuống Sau khi sử dụng cho chăn nuôi nước thải được đưa vào bể biogas (8 bể biogas dung tích 120 m3) sau đó xả ra ao bèo trong trang trại trước khi xả ra kênh tưới
Trang trại của ông Đào Viết Xuê, thôn Phù Lang, xã Phù Lương, huyện Quế Võ được thành lập từ năm 2002 có tổng diện tích 7ha chuyên thả cá và chăn nuôi lợn giống, lợn thịt đạt doanh thu 10 tỷ/năm, tạo việc làm cho 5 lao động thường xuyên và 30 lao động thời vụ Với diện tích trên 3 ha, trang trại của ông
Lê Đắc Vinh, thôn Thượng, xã Cảnh Hưng, huyện Tiên Du chuyên chăn nuôi lợn thịt với trên 2.000 con, lợi nhuận hàng năm đạt từ 500 – 700 triệu đồng, tạo việc làm cho 7 – 12 lao động Ngoài chăn nuôi lợn thịt, trang trại còn chăn nuôi thêm
bò sữa và là cơ sở thu gom, tiêu thụ sữa bò cho các hộ chăn nuôi trong vùng Bên cạnh những lợi ích kinh tế đem lại, trang trại này đứng trước một lượng chất thải khổng lồ Trang trại đã áp dụng VAC và kết hợp nhiều hình thức xử lý chất thải chăn nuôi để mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn và bảo vệ môi trường trong và xung quanh trang trại chăn nuôi Dưới đây là sơ đồ mô hình xử lý chất thải chăn nuôi của trang trại
Nước thải
chăn nuôi
Hầm biogas
Ao sinh học
Mương tiêu nước thải