WB Ngân hàng Thế giới.. Các chủ đề và chủ đề nhánh về Chỉ tiêu phát triển bền vững do Hội đồng PTBV của Liên Hợp Quốc đề xuất năm 2007 ... Dân số thành phố Hạ Long tại các phường qua c[r]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
BÙI VŨ HIỆP
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ ĐỀ XUẤT BỘ CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CHO THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: Môi trường trong Phát triển bền vững
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS TSKH TRƯƠNG QUANG HỌC
Hà Nội – Năm 2014
Trang 2i
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất, sâu sắc nhất tới GS.TSKH Trương Quang Học, người thầy đã tận tình hướng dẫn cũng như đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành bản Luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường- Đại học Quốc gia Hà Nội cùng các thầy, cô đã giảng dạy và truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ các phòng ban của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh đặc biệt là Trung tâm Quan trắc và Phân tích Môi trường đã tạo cho tôi điều kiện thuận lợi nhất, cung cấp số liệu để tôi thực hiện luận văn này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc gia đình, bạn bè, những người đã luôn quan tâm, động viên, chia sẻ và khuyến khích tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Quảng Ninh, ngày tháng năm 2014
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
BÙI VŨ HIỆP
Trang 3Quảng Ninh, ngày tháng năm 2014
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
BÙI VŨ HIỆP
Trang 4iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN I LỜI CAM ĐOAN II MỤC LỤC III DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT V DANH MỤC CÁC BẢNG VI DANH MỤC CÁC HÌNH VI
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa của đề tài 2
5 Cấu trúc của luận văn 2
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Các thuật ngữ 4
1.1.2 Khung lý thuyết xây dựng cơ sở khoa học PTBV và các chỉ số đánh giá PTBV cho thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh biến đổi khí hậu 7
1.2 Tổng quan tài liệu 11
1.2.1 Những nghiên cứu về phát triển bền vững và các chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững trên thế giới 11
1.2.2 Những nghiên cứu về phát triển bền vững và các chỉ sổ đánh giá phát triển bền vững ở Việt Nam 19
1.3 Tổng quan tình hình phát triển của thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 22
1.3.1 Tình hình phát triển kinh tế 22
1.3.2 Tình hình xã hội 23
1.3.3 Tình hình môi trường 34
CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 48
2.1 Địa điểm nghiên cứu 48
2.1.1 Vị trí địa lý 48
2.1.2 Địa hình, địa mạo 49
2.1.3 Khí hậu 49
Trang 5iv
2.1.4 Thủy văn 50
2.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 51
2.2.1 Phương pháp luận 51
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 51
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 56
3.1 Kinh tế xanh – cơ sở khoa học để phát triển bền vững cho thành phố Hạ Long trong bối cảnh biến đổi khí hậu 56
3.2 Đề xuất bộ chỉ tiêu PTBV cho thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh biến đổi khí hậu 75
3.2.1 Các chỉ tiêu đã ban hành và khả năng áp dụng cho thành phố Hạ Long 75
3.2.2 Đề xuất một số chỉ tiêu bổ sung 93
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 106
PHỤ LỤC 1 BỘ CHỈ TIÊU ĐẦY ĐỦ DO LIÊN HIỆP QUỐC ĐỀ XUẤT 106 PHỤ LỤC 2 BỘ CHỈ TIÊU PTBV ĐÔ THỊ Ở BA LAN 114
PHỤ LỤC 3 BỘ CHỈ TIÊU PTBV VÙNG VEN BIỂN ĐỊA TRUNG HẢI 116 PHỤ LỤC 4: BỘ 20 CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THỦY ĐIỂN 118
Trang 6v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
JICA Tổ chức hợp tác quốc tế Nhật Bản PTBV Phát triển bền vững
TNMT Tài nguyên môi trường
NN và PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
UNDP Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc
Trang 7vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các chủ đề về Chỉ tiêu do Hội đồng PTBV đề xuất năm 2007 15Bảng 1.2 Các chủ đề và chủ đề nhánh về Chỉ tiêu phát triển bền vững do Hội đồng PTBV của Liên Hợp Quốc đề xuất năm 2007 15Bảng 3.1 Dân số thành phố Hạ Long tại các phường qua các năm 23Bảng 3.2 Biến động diện tích bãi triều và rừng ngập mặn trong vịnh Cửa Lục 40Bảng 3.3 Các giá trị đầu vào đề tính chỉ số HDI 77
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Tháp phân cấp thông tin 6Hình 1.2 Khung lý thuyết xây dựng cơ sở khoa học cho phát triển bền vững 7Hình 1.3 Mô hình DPSIR đánh giá phát triển bền vững 8Hình 1.4 Khung lý thuyết đề xuất bộ chỉ tiêu phát triển bền vững cho thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh biến đổi khí hậu 10Hình 1.5 Một số mô hình phát triển bền vững 13Hình 3.1 Biến động dân số qua một số năm 25Hình 3.2 Sơ đồ phát triển bền vững (UNESCO) (A) và kinh tế xanh, con đường PTBV 63Hình 3.3 Một số loại cây lấy dầu đang thử nghiệm tại thành phố Hạ Long 72Hình 3.4 Vòng tuần hoàn của nhiên liệu diesel sinh học 74Hình 3.5 Biểu đồ đường cong Lorenz 82
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Hạ Long nằm ở trung tâm của tỉnh Quảng Ninh, có diện tích 271,95 km², với chiều dài bờ biển dài gần 50 km Phía đông Hạ Long giáp thành phố Cẩm Phả, tây giáp thị xã Quảng Yên, bắc giáp huyện Hoành Bồ, nam là vịnh
Hạ Long với bờ biển dài trên 20 km Với các điều kiện thuận lợi về địa lý, địa hình
và địa chất đã tạo cho thành phố Hạ Long những điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội như phát triển công nghiệp, du lịch, vận tải biển, cơ sở hạ tầng Tuy nhiên, song song với việc phát triển kinh tế xã hội đã tạo ra những vấn đề
về môi trường, xã hội như ô nhiễm nước biển, ô nhiễm không khí, suy thoái tài nguyên rừng, tài nguyên đất và việc làm Câu hỏi đặt ra là với những điều kiện ưu đãi của thiên nhiên như vậy làm sao có thể phát triển thành phố Hạ Long một cách bền vững trong điều kiện biến đổi toàn cầu như hiện nay
Để có thể phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu, trên tầm vực quốc tế cũng như quốc gia đã có những mô hình phát triển và tiêu chí đánh giá Tuy nhiên, với quy mô địa phương các mô hình cũng như tiêu chí của quốc tế cũng như quốc gia là khá rộng nên chưa phản ánh hết các đặc thù của từng địa phương Với mục tiêu nghiên cứu, tìm hiểu mô hình phát triển và các bộ chỉ tiêu phát triển bền vững trên thế giới và ở Việt nam trên cơ sở đó khái quát được tình hình phát triển bền vững của thành phố Hạ Long và đề xuất mô hình và bộ chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững cho thành phố Hạ Long trong bối cảnh biến đổi khí hậu tôi lựa chọn
đề tài luận văn thạc sĩ của mình là "Nghiên cứu cơ sở khoa học và đề xuất bộ chỉ tiêu phát triển bền vững cho thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh biến đổi khí hậu" với hi vọng sẽ bổ sung thêm một công cụ đánh giá góp phần vào
sự phát triển bền vững của thành phố Hạ Long trong bối cảnh biến đổi khí hậu
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu các bộ chỉ tiêu PTBV trên thế giới và ở Việt Nam;
Trang 92
- Khái quát được tình hình PTBV của Tp Hạ Long trên cơ sở phân tích những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức của thành phố Hạ Long;
- Đề xuất được bộ tiêu chí đánh giá phát triển bền vững cho thành phố Hạ
Long trong bối cảnh biến đổi khí hậu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là các chỉ số bền vững cho các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế chính sách của thành phố Hạ Long
- Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: Khu vực thành phố Hạ Long
+ Về nội dung: tập trung vào các vấn đề i) Nghiên cứu cơ sở khoa học cho phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu; ii)Khái quát tình hình phát triển bền vững của thành phố Hạ Long trong bối cảnh biến đổi khí hậu; iii) Trên cơ sở nghiên cứu tình hình thành phố Hạ Long trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường
đề xuất một mô hình phát triển và bộ chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững cho
thành phố Hạ Long trong bối cảnh biến đổi khí hậu
4 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả của Luận văn góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc:
+ Đánh giá tình hình phát triển bền vững của thành phố Hạ Long
+ Nghiên cứu hoàn thiện các chỉ tiêu phát triển bền vững cho thành phố Hạ Long
- Ý nghĩa thực tiễn: Giúp cho các nhà quản lý hiểu rõ hơn tình hình phát triển bền vững của thành phố Hạ Long trong bối cảnh biến đổi khí hậu đồng thời bổ sung thêm một công cụ đánh giá tính bền vững của thành phố trong quá trình phát triển
5 Cấu trúc của luận văn
Kết cấu của Luận văn “ Nghiên cứu cơ sở khoa học và đề xuất bộ chỉ tiêu phát triển bền vững cho thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh biến đổi khí hậu” gồm những phần cơ bản như sau:
- Mở đầu
Trang 103
- Chương I: Cơ sở lý luận và tổng quan tài liệu
- Chương II: Địa điểm, thời gian, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Chương III: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
- Kết luận và Khuyến nghị
Trang 114
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Các thuật ngữ
Biến đổi khí hậu
Theo IPCC (2007), Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam: “BĐKH là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và
trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo”
Theo quan điểm của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO), BĐKH là sự vận động bên trong hệ thống khí hậu, do những thay đổi kết cấu hệ thống hoặc trong mối quan hệ tương tác giữa các thành phần dưới tác động của ngoại lực hoặc do hoạt động của con người
Biến đổi khí hậu mà trước hết là sự nóng lên toàn cầu và nước biển dâng hiện nay, là thách thức nghiêm trọng nhất đối với nhân loại trong thế kỷ XXI BĐKH đã thực sự tác động đến mọi lĩnh vực, bao gồm tài nguyên thiên nhiên, môi trường, kinh tế - xã hội và sức khỏe con người Thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan
và các hiện tượng khí hậu cực đoan như là hệ quả của BĐKH hiện đang hoành hành ngày càng nhiều và khốc liệt ở khắp mọi nơi trên thế giới BĐKH tác động trực tiếp tới các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và được coi là thách thức lớn cho PTBV
Phát triển bền vững (PTBV)
Thuật ngữ Phát triển bền vững (PTBV – Sustainable Development) lần đầu
tiên được sử dụng trong bản “Chiến lược bảo tồn thế giới” do IUCN đề xuất năm
1980 Mục tiêu tổng thể của Chiến lược là “đạt được sự PTBV bằng cách bảo vệ các tài nguyên sinh vật” và thuật ngữ PTBV ở đây được đề cập tới với một nội dung hẹp, nhấn mạnh tính bền vững của sự phát triển về mặt sinh thái, nhằm kêu gọi việc bảo tồn các tài nguyên sinh vật Năm 1987, trong báo cáo “Tương lai chung của
Trang 125
chúng ta”, Ủy ban Quốc tế về Môi trường và Phát triển lần đầu tiên đã đưa ra một
định nghĩa tương đối đầy đủ về PTBV là: “Sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương khả năng của các thế hệ tương lai trong việc thỏa mãn các nhu cầu của chính họ”
Nội hàm về PTBV được tái khẳng định ở Hội nghị Rio – 92 và được bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Johannesburg – 2002: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển Đó là: phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” Ngoài ba mặt chủ yếu này, có nhiều người còn đề cập tới những khía cạnh khác của phát triển bền vững như chính trị, văn hóa, tinh thần, dân tộc và đòi hỏi phải tính toán và cân đối chúng trong hoạch định các chiến lược và chính sách phát triển kinh tế - xã hội cho từng quốc gia, từng địa phương cụ thể [6]
Bộ chỉ tiêu PTBV
Bộ chỉ tiêu PTBV là một khái niệm không mới đối với nhiều nước, song trên thực tế dễ bị lầm lẫn Vì vậy, trước khi đề cập đến bộ chỉ tiêu, cần làm rõ một số khái niệm có liên quan
Dữ liệu thô: Toàn bộ thông tin định tính và định lượng có thể thu thập
được trong lĩnh vực quan tâm;
Số liệu thống kê: Toàn bộ số liệu thống kê được các cơ quan có thẩm quyền
thống kê theo định kỳ hoặc thu được qua các cuộc điều tra, tổng điều tra;
Các chỉ tiêu: Thông tin được tính toán từ số liệu thống kê thể hiện hướng
thay đổi hay một trạng thái nào đó của đối tượng nghiên cứu;
Bộ chỉ tiêu: Là những chỉ tiêu được nhóm thành một tập hợp liên quan tới
nhau theo nhiều chiều;
Chỉ số: Là một độ đo tổng hợp ở mức cao, được tính từ các chỉ tiêu và bộ
chỉ tiêu
Trang 136
Hình 1.1 Tháp phân cấp thông tin
Trong biểu đồ trên có thể thấy dưới cùng của hình tháp là dữ liệu thô với độ chi tiết cao Từ dữ liệu thô, một phần được thống kê phục vụ công tác nghiên cứu khoa học Trên cơ sở số liệu thống kê, các chỉ tiêu được tính toán Việc lựa chọn từ các chỉ tiêu này một nhóm chỉ tiêu phản ánh một vấn đề có mối quan hệ với nhau theo nhiều chiều (chẳng hạn vấn đề phát triển bền vững thể hiện mối quan hệ của kinh tế - xã hội - môi trường…) cho ta một bộ chỉ tiêu Từ bộ chỉ tiêu được lựa chọn, các chỉ số được tính toán nhằm đơn giản hóa tính phức tạp của hệ thống qua một con số, song vẫn phản ánh được bản chất của hệ thống này; những thông tin quan trọng được thể hiện thông qua các chỉ số nhằm phục vụ các nhà hoạch định chính sách
Việc xây dựng bộ chỉ tiêu PTBV nhằm đáp ứng các mục tiêu sau đây:
- Hiểu biết về sự bền vững: Các chỉ tiêu thường cung cấp các thông tin về xu thế, mô tả một trạng thái Các chỉ tiêu có thể giúp xác định các thành phần liên quan của sự PTBV, làm tăng cường sự hiểu biết về trạng thái của bền vững Việc chỉ ra mối quan hệ giữa hai chỉ tiêu hoặc sự phát triển theo thời gian của một chỉ tiêu nào
đó sẽ giúp mọi người hiểu biết thế nào là PTBV [14]
- Hỗ trợ các quyết định: Các chỉ tiêu có thể hỗ trợ việc ra quyết định một cách
hệ thống, minh bạch, toàn diện, kịp thời… Các chỉ tiêu giúp đo được sự bền vững
và do vậy quản lý được Các chỉ tiêu đang được sử dụng nhiều hơn cho việc xác định các mục tiêu và tiêu chuẩn
Chỉ số
Bộ chỉ tiêu Các chỉ tiêu
Số liệu thống kê
Dữ liệu thô
Trang 147
- Chỉ đạo: Kết hợp theo dõi, đánh giá, làm sáng tỏ những phát hiện và lưu ý về hướng dẫn và kiểm tra hoạt động hướng tới mục tiêu Việc chỉ đạo diễn ra trong giai đoạn triển khai Những khía cạnh liên quan của PTBV được xác định, các chỉ tiêu được xây dựng và sử dụng nhằm cung cấp sự phản hồi về sự tiến triển.- Giải quyết các mâu thuẫn và xây dựng sự đồng thuận Các chỉ tiêu tạo nên một ngôn ngữ chung để trao đổi và xác định các điểm giống và khác nhau Các chỉ tiêu có thể chỉ
ra những ưu điểm và nhược điểm của các phương án và giúp tìm ra phương án tối
1.1.2 Khung lý thuyết xây dựng cơ sở khoa học PTBV và các chỉ số đánh giá PTBV cho thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh biến đổi khí hậu
1.1.2.1 Khung lý thuyết xây dựng cơ sở khoa học để phát triển bền vững
Hình 1.2 Khung lý thuyết xây dựng cơ sở khoa học cho phát triển bền vững
Đánh giá Tình hình xã hội
Đánh giá Tình hình môi trường
Xây dựng cơ
sở khoa học PTBV cho tp
Hạ Long
Trang 158
Đánh giá tình hình kinh tế, xã hội, môi trường và cơ chế chính sách dựa trên
mô hình đánh giá DPSIR Phương pháp Đánh giá Tổng hợp DPSIR do Tổ chức Môi trường Châu Âu (EEA) xây dựng vào năm 1999 là một mô hình nhận thức dùng để xác định, phân tích và đánh giá các chuỗi quan hệ nguyên nhân – kết quả: nguyên nhân gây ra các vấn đề môi trường, hậu quả của chúng và các biện pháp ứng phó cần thiết Cấu trúc của mô hình bao gồm các thông số chỉ thị về điều kiện tự nhiên – kinh tế– xã hội của vùng nghiên cứu, dựa vào đặc điểm và bản chất, các thông số này được chia thành 5 hợp phần (Hình 1.3):
Hình 1.3 Mô hình DPSIR đánh giá phát triển bền vững
Các thông số thể hiện các động lực chi phối đặc điểm và chất lượng môi trường vùng (DRIVER indicatos): Các động lực này thường là một số yếu tố đặc trưng cho địa hình, hình thái, thuỷ văn, khí hậu,… cũng như các hoạt động sản xuất phát triển kinh tế– xã hội chính diễn ra trong vùng như cở sở hạ tầng, nông nghiệp, công nghiệp, vận tải thuỷ, phát điện, du lịch,…
Các thông số thể hiện áp lực (PRESSURE indicators) Ví dụ, các thông số áp lực thường cung cấp các thông tin định tính và định lượng về nước thải của các nhà máy, khu đô thị, diện tích canh tác, lượng phân bón thuốc trừ sâu được sử dụng, sản lượng đánh bắt cá, lượng khách du lich hàng năm,… Rõ ràng là cường độ của các
Trang 16Các thông số phản ánh các tác động tiêu cực tới đa dạng sinh học, tới sức khoẻ
và sự ổn định, phồn vinh của cộng đồng (IMPACT indicators)
Các thông số thể hiện các biện pháp đối phó với các hậu quả môi trường và xã hội (RESPONSE indicators)
Như thể hiện ở Hình 1.3 các hợp phần có mối quan hệ tương tác qua lại theo
hai chiều: chiều thuận và chiều phản hồi Với cách xây dựng mô hình nhận thức theo chuỗi như vậy, DPSIR là một công cụ hiệu quả để xác định, phân tích và đánh giá các mối quan hệ rất phức tạp của hệ thống môi trường tự nhiên và hệ thống kinh tế– xã hội Vì vậy, phương pháp này thường được áp dụng cho xây dựng quy hoạch
và chiến lược quản lý môi trường vùng và quốc gia nhằm đảm báo phát triển bền vững
Dựa trên những phân tích và đánh giá từ mô hình DPSIR cho thành phố Hạ Long sẽ chỉ ra được những khó khăn, thuận lợi, cơ hội và thách thức mà thành phố đang phải đối mặt sẽ xây dựng lên cơ sở khoa học để thành phố phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu
Trang 17Yêu cầu của một bộ chỉ tiêu tốt là cần phải thể hiện được mọi khía cạnh của PTBV nhưng lại phải gọn, không rườm rà với nhiều chỉ tiêu và định lượng, do được
sự PTBV Để đạt được yêu cầu này, các bộ chỉ tiêu thường được xây dựng theo một
mô hình khái niệm nhất định Các mô hình này sẽ giúp cho hệ thống chỉ tiêu có
Đề xuất bộ chỉ tiêu PTBV cho thành phố Hạ Long
Nghiên cứu các bộ
chỉ tiêu PTBV trên
thế giới
Nghiên cứu các bộ chỉ tiêu PTBV ở Việt Nam
Bộ chỉ tiêu ban hành cho địa phương
Tình hình thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Trang 1811
được một cấu trúc rõ ràng, đầy đủ, không trùng lặp về ý nghĩa và cân bằng giữa các chỉ tiêu Tùy theo mục đích xây dựng các bộ chỉ tiêu, các mô hình khái niệm được
sử dụng rộng rãi là: Mô hình nhân quả (Causal based framework), mô hình theo chủ
đề (Theme based) và mô hình theo mục đích (Goal based) [2]
Trên thực tế, thường phải sử dụng một vài chỉ tiêu để phản ánh ‘Sức ép’,
‘Thực trạng’ và ‘Phản ứng’, mặc dù chỉ phản ánh nội dung trọng tâm nhất của chủ
đề về môi trường, xã hội và kinh tế Phương pháp đánh giá theo chủ đề cần đảm bảo
về dữ liệu, vì thế trước khi áp dụng cần kiểm tra lại các cơ sở dữ liệu, chỉ sau khi kiểm tra mới quyết định được có theo chủ đề đã chọn hay không Trong trường hợp thiếu số liệu thì cần nâng cấp mức độ khái quát của chủ đề Trong trường hợp thiếu
số liệu nghiêm trọng, thì chỉ nên đưa ra ba lĩnh vực: Kinh tế, xã hội và môi trường Ngược lại, có tương đối đầy đủ dữ liệu thì đưa ra nhiều cấp chủ đề nhánh chi tiết hơn
Hiện nay, Chiến lược PTBV Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đã được phê duyệt, trong đó có 20 định hướng ưu tiên phát triển bền vững, vì thế, hệ thống chủ
đề chung cho địa phương cũng cần có đủ 20 chủ đề như chiến lược PTBV Việt Nam
1.2 Tổng quan tài liệu
1.2.1 Những nghiên cứu về phát triển bền vững và các chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững trên thế giới
Thuật ngữ Phát triển bền vững (PTBV – Sustainable Development) lần đầu
tiên được sử dụng trong bản “Chiến lược bảo tồn thế giới” do IUCN đề xuất năm
1980 Mục tiêu tổng thể của Chiến lược là “đạt được sự PTBV bằng cách bảo vệ các tài nguyên sinh vật” và thuật ngữ PTBV ở đây được đề cập tới với một nội dung hẹp, nhấn mạnh tính bền vững của sự phát triển về mặt sinh thái, nhằm kêu gọi việc bảo tồn các tài nguyên sinh vật Năm 1987, trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”, Ủy ban Quốc tế về Môi trường và Phát triển lần đầu tiên đã đưa ra một
định nghĩa tương đối đầy đủ về PTBV là: “Sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương khả năng của các thế hệ tương lai trong việc thỏa
Trang 1912
mãn các nhu cầu của chính họ”
Nội hàm về PTBV được tái khẳng định ở Hội nghị Rio – 92 và được bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Johannesburg – 2002: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển Đó là: phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” Ngoài ba mặt chủ yếu này, có nhiều người còn đề cập tới những khía cạnh khác của phát triển bền vững như chính trị, văn hóa, tinh thần, dân tộc và đòi hỏi phải tính toán và cân đối chúng trong hoạch định các chiến lược và chính sách phát triển kinh tế - xã hội cho từng quốc gia, từng địa phương cụ thể Trong nỗ lực thực hiện phát triển bền vững, Viện nghiên cứu quốc tế về phát triển bền vững (IISD) đã đưa ra 10 nguyên tắc thực hiện là: (1) phải có tầm nhìn và mục tiêu; (2) có phương pháp luận cụ thể; (3) quan tâm đến các yếu tố chính là dân số, hệ sinh thái và sự phát triển kinh tế; (4) phạm vi nghiên cứu phải đầy đủ; (5) Tập trung thực hiện các mục tiêu; (6) các phương pháp
và dữ liệu thực hiện được cập nhật tới tất cả các cá nhân liên quan; (7) Tuyên truyền hiệu quả; (8) không ngừng tăng cường sự tham gia của các bên liên quan; (9) quá trình đánh giá PTBV phải được thực hiện liên tục; (10) tăng cường năng lực cho các chính quyền địa phương [16] Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới năm 2001 cũng
đã đưa ra 07 bước thực hiện để đánh giá sự PTBV là: (1) xác định mục tiêu đánh giá; (2) định nghĩa hệ thống và mục tiêu; (3) phân loại phạm vi và xác định các nhân tố và đối tượng; (4) lựa chọn các chỉ tiêu và tiêu chuẩn thực hiện; (5) thu thập
dữ liệu và bản đồ chỉ số; (6) liên kết các chỉ tiêu và bản đồ chỉ số; (7) xem xét lại kết quả và đánh giá mức độ hoàn thành [17]
Trang 2013
Hình 1.5 Một số mô hình phát triển bền vững
Nguồn: [6]
Dự thảo đầu tiên tập hợp các chỉ tiêu phát triển bền vững đã được phát triển để thảo luận chung của Phòng phát triển bền vững (DSD) và Phòng Thống kê, đều nằm trong Ban Kinh tế và Xã hội của Liên Hợp Quốc Dự thảo gồm một bộ 134 chỉ số
đã được xây dựng Trong năm 1995 và 1996, các tổ chức trong Liên Hợp Quốc đã tham gia vào các cuộc tham vấn dự thảo phương pháp luận cho từng chỉ số và xuất bản cuốn sách “Chỉ tiêu phát triển bền vững: Khuôn khổ và phương pháp luận” (UN, 1996) và được phổ biến rộng rãi
Từ 1996-1999, 22 quốc gia từ khắp nơi trên thế giới tự nguyện thử nghiệm xây dựng các chỉ tiêu PTBV cho mình dựa trên bộ Chỉ tiêu do Liên Hợp Quốc đề xuất
Hệ thông môi trường
y
Societal Sustainability Economical
Sustainabilit
y
Sustainabili
ty Institutional
Trang 2114
Từ 1999-2000, các kết quả thử nghiệm của các quốc gia được thảo lận và đáng giá
Ý kiến chung đều cho rằng bộ chỉ tiêu ban đầu do Hội đồng Phát triển bền vững của LHQ đặt ra là quá lớn, và đề nghị rút bới còn 58 chỉ số nhằm thích hợp trong khuôn khổ chính sách theo định hướng chủ đề và các tiểu chủ đề Các chỉ số này đã được trình lên Hội đồng PTBV vào năm 2001, và sau đó được công bố như một phần của
ấn phẩm biên tập lần thứ hai của Tài liệu “Chỉ tiêu phát triển bền vững: Hướng dẫn
và phương pháp luận” [20]
Năm 2005, các chỉ tiêu của Hội đồng Phát triển bền vững bắt đầu được xem xét đánh giá Sau 5 năm thử nghiệm kể từ phiên bản năm 2001, đã có những quan điểm và các chỉ tiêu mới được đề xuất Do hai lý do: i) Một mặt, dựa trên các chỉ tiêu của Hội đồng Phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc, nhiều nước đã phát triển
bộ chỉ tiêu quốc gia riêng của mình; ii) Mặt khác, kể từ khi thông qua Tuyên bố Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc vào năm 2000, nhiều quốc gia thành viên và các
tổ chức trong hệ thống Liên Hợp Quốc đã xây dựng và sử dụng các chỉ tiêu này để
đo lường tiến bộ đạt được trong các Mục tiêu thiên nhiên kỷ [18] Kết quả là tại cuộc họp thứ hai vào tháng 10 năm 2006, nhóm chuyên gia đã hoàn thành việc xem xét và hoàn thiện danh sách sửa đổi các chỉ tiêu phát triển bền vững của Hội đồng PTBV của Liên Hợp Quốc Hội đồng đã công bố Phiên bản thứ ba về “Chỉ tiêu phát triển bền vững: Hướng dẫn và phương pháp luận” (UN, 2007)
Trong hơn 2 năm (2005-2006) xem xét đánh giá việc áp dụng Bộ tiêu chí phát triển bền vững ở các nước theo đề xuất của Hội đồng PTBV của Liên Hợp Quốc năm 2001 (UN, 2001), Hội đồng đã tổng kết và cập nhật một bộ tài liệu gồm hai cuốn: i) Chỉ tiêu phát triển bền vững - Hướng dẫn và phương pháp luận (Indicators
of Sustainable Development: Guidelines and Methodologies) và ii) Tiêu chí phát triển bền vững - Hướng dẫn và phương pháp luận Các tờ miêu tả phương pháp luận (Indicators of Sustainable Development: Guidelines and Methodologies, Methodology sheets) Đây là bộ tài liệu cập nhật nhất nhằm giúp cho các nhà hoạch định chính sách xây dựng mới hoặc cập nhật Bộ chỉ tiêu phát triển bền vững cho quốc gia mình
Trang 2215
Những Chỉ tiêu mới được chỉnh sửa bao gồm 50 Chỉ tiêu chính, là một phần trong Bộ chỉ tiêu lớn hơn gồm 96 chỉ tiêu Những chỉ tiêu chính này thỏa mãn 3 tiêu chí, đó là: i) Những vấn đề liên quan đến phát triển bền vững phù hợp với phần lớn các nước trên thế giới; ii) Cung cấp những thông tin thiết yếu nhất không có ở những Bộ chỉ tiêu khác; iii) Có thể dễ dàng tính toán được trong hầu hết các nước trên thế giới
Bộ chỉ tiêu này, về cơ bản, vẫn giữ khung logic các chủ đề và chủ đề nhánh như đã đề xuất trong năm 2001 (UN, 2001), nhưng có bổ sung thêm một số chủ đề mới, như Thiên tai (Natural hazards), hay kết hợp các chủ đề khác như Quản trị (Governance) thay cho Khung thể chế và Năng lực thể chế (Bảng 12.2) Các chủ đề lần này (năm 2007) là 14 so với 15 chủ đề được Liên Hợp Quốc đề xuất năm 2001
Bảng 1.1 Các chủ đề về Chỉ tiêu do Hội đồng PTBV đề xuất năm 2007
Nghèo đói Thiên tai Phát triển kinh tế
Quản trị Khí quyển Đối tác kinh tế toàn cầu
Sức khỏe Đất đai Hình thái tiêu thụ và sản xuất Giáo dục Đại dương, biển và vùng
và sản xuất được thể hiện rõ ràng hơn
Trang 23Tỷ lệ biết chữ
Du lịch
6 Thiên tai Tính dễ bị tổn thương tới thiên tai
Mức độ sẵn sàng và ứng phó với thiên tai
Suy thoái tầng ozon Chất lượng không khí
Sa mạc hóa Nông nghiệp Rừng
9 Đại dương, biển, vùng duyên hải Vùng duyên hải
Nghề cá Môi trường biển
Công nghệ thông tin và truyền thông Nghiên cứu và phát triển
Du lịch
13 Đối tác kinh tế toàn cầu Thương mại
Tài chính đối ngoại
14 Cấu trúc tiêu dùng và sản xuất Tiêu dùng vật chất
Sử dụng năng lượng Sản sinh và quản lý chất thải Giao thông
Nguồn: [6]
Trang 2417
Tài liệu của Hội đồng PTBV năm 2007 còn nhấn mạnh đến mối liên quan giữa các chỉ tiêu với các chủ đề (UN, 2007:16-20), vì rằng những chỉ tiêu phát triển bền vững phải đo đạc sự phát triển bền vững trong tính tổng thể, bao gồm cả bản chất đa chiều và sự lồng ghép của phát triển bền vững Vì thế, một chỉ tiêu có thể liên quan đến nhiều chủ đề, và một chủ đề liên quan đến nhiều chỉ tiêu
Hiện nay, đã có khoảng 120 nước trên thế giới xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự 21 về PTBV cấp quốc gia và gần 7.000 Chương trình nghị sự 21 cấp địa phương Dưới đây trình bày khái quát Một số bộ chỉ tiêu PTBV địa phương trên thế giới [1]
i) Giám sát của chiến lược phát triển bền vững của Milanówek
Duy trì và hoàn thiện thành phố vườn Milanówek là mục tiêu chính trong chiến lược phát triển bền vững Milanówek Chương trình hoạt động và lựa chọn các chỉ tiêu PTBV đã được đề xuất theo sáu mục tiêu chiến lược Bộ chỉ tiêu PTBV thị trấn gồm 37 chỉ tiêu, phản ánh 6 mục tiêu chiến lược phát triển: 1) Hiện đại hóa đô thị - Nhanh chóng hiện đại hóa đô thị Milanówek; 2) Sinh thái học – Nâng cao trình
độ của chính quyền địa phương, doanh nghiệp và hành động của người dân để phát triển bền vững thị trấn; 3) Văn hóa, du lịch, giải trí - Phát triển các chức năng văn hóa, du lịch và giải trí của thành phố dựa trên truyền thống và lịch sử địa phương; 4)
Cư dân - Thường xuyên được dịch vụ theo tiêu chuẩn đời sống cao; 5) Xã hội dân
sự - hình thành xã hội dân sự; 6) Doanh nghiệp - Phát triển các dự án kinh doanh mới trong Milanówek và củng cố các doanh nghiệp hiện tại
ii) Bộ chỉ tiêu giám sát PTBV vùng bờ biển Địa Trung Hải
Khuyến khích sử dụng các chỉ số phát triển bền vững là một trong những Kế hoạch xanh, chương trình hành động của khu vực Địa Trung Hải trên cả hai mặt: quốc gia và các vùng ven biển
Sử dụng các chỉ tiêu PTBV cho phép các nhà chính trị ra quyết định:
- PTBV trở thành nhận thức, nếu cần thiết khi phải đánh đổi giá trị kinh tế với giá trị sinh thái vùng ven biển
- Hiểu rõ hơn về các vấn đề cụ thể của phát triển bền vững của các
Trang 2518
khu vực thông qua số liệu chính "cung cấp bằng cách tính toán các chỉ tiêu;
Bộ chỉ tiêu bao gồm 52 chỉ tiêu phát triển bền vững ở các vùng ven biển Địa Trung Hải, xác định theo mô hình khái niệm vấn đề, trong đó có 42 vấn đề được xem xét
iii) Bộ chỉ tiêu phát triển bền vững vùng nông thôn Thụy Điển
Bộ chỉ tiêu PTBV nông thôn Thụy Điển bao gồm bốn lĩnh vực là kinh tế, xã hội, môi trường và công bằng xã hội Mỗi lĩnh vực có 5 chỉ tiêu, tổng số là 20 chỉ tiêu Một số chỉ tiêu được phân tổ thành 2 hoặc 3 chỉ tiêu (Ingo Mose, Erik Westholm (2009))
Trong lĩnh vực kinh tế có 5 chỉ tiêu, gồm: 1 Lao động; 2 Trình độ học vấn; 3 Chi phí sinh hoạt; 4.Kinh tế sống động; 5 Huy động nguồn lực Trong đó, chỉ tiêu
về lao động được phân tổ thành lao động thất nghiệp và đa dạng việc làm Chỉ tiêu
về sự phát triển kinh tế sống động phân tổ thành số doanh nghiệp mới thành lập so với số doanh nghiệp phá sản và thói quan đi lại Chỉ tiêu huy động nguồn lực phân thành sở hữu xe riêng va truy cập Internet
Trong lĩnh vực xã hội có 5 chỉ tiêu, gồm: 1 Cơ cấu dân số; 2 Phát triển dân số; 3.Y tế phân tổ thành 3.a Sự thay đổi mẫu bệnh lý theo mùa và 3.b Tuổi thọ trung bình; 4.Văn hóa phân tổ thành chi tiêu công cho hoạt động văn hóa và số sự kiện văn hóa trong năm; 5 Tỉ lệ người mắc vào tội phạm
Trong lĩnh vực môi trường có 5 chỉ tiêu, gồm: 1 Mật độ dân số; 2 Sử dụng đất; 3 Bảo vệ tài nguyên phân tổ thành 3.a Đa dạng sinh học và 3.b Diện tích tự nhiên được bảo vệ; 4.môi trường nâng cao nhận thức phân tổ thành 4.a Sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, 4.b Các biện pháp tiết kiệm tài nguyên và 4.c Phân loại chất thải tại nguồn; 5 Năng lượng và nước tiêu thụ phân tổ thành 5.a Năng lượng tiêu thụ và 5.b Lượng nước tiêu thụ
Trong lĩnh vực công bằng xã hội có 5 chỉ tiêu, gồm: 1 Bình đẳng giới phân tổ thành 1.a Vị trí lãnh đạo và 1.b Sự khác biệt về lương giữa nam/nữ; 2 Chất lượng cuộc sống; 3.Truy cập vào thiết bị; 4 Chất lượng Giao thông vận tải Công; 5 Cử tri
đi bầu cử
Trang 26và Phát triển, Chương trình nghị sự 21 toàn cầu… đồng thời cam kết thực hiện phát triển bền vững
Trong 20 năm thực hiện phát triển bền vững đất nước, nhất là sau khi Định hướng chiến lược phát triển bền vững (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) được ban hành (ngày 17 tháng 8 năm 2004), Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường được thể hiện trên các mặt sau [8]:
- Về kinh tế: Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong số các nước đang phát triển đã đạt được những thành tựu nổi bật trong cải cách kinh tế hướng tới tăng trưởng và giảm nghèo Tốc độ tăng GDP bình quân hàng năm đạt 7,85% trong giai đoạn 2000 - 2008 Quy mô của nền kinh tế và năng lực sản xuất các ngành đều tăng GDP bình quân đầu người năm 2011 là trên 1200 đô la Mỹ, tăng gấp 3 lần so với năm 2000 Việt Nam đã từ vị trí nhóm nước nghèo bước sang nhóm nước có mức thu nhập trung bình
- Về xã hội: Công tác xoá đói giảm nghèo, dân số, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe người dân, giáo dục - đào tạo và tạo việc làm cho người lao động đều đạt được những thành tựu bước đầu đáng khích lệ An sinh xã hội được chú trọng nhằm đảm bảo ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân, đặc biệt trong tình hình lạm phát cao, nhiều thiên tai Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học theo chuẩn phổ cập của quốc gia vào năm 2000 Tỷ lệ nghèo giảm mạnh từ 28,9% năm 2002 xuống còn 9,45% năm 2010, bình quân cả nước mỗi năm giảm 2% số hộ nghèo Chỉ số bình đẳng giới của Việt Nam khá cao so với các quốc gia có cùng mức độ phát triển và thu nhập Chỉ số HDI cũng được cải thiện qua các năm
Trang 27Đánh giá một cách tổng thể, những thành tựu phát triển kinh tế thời gian qua
đã tạo nguồn lực cho việc giải quyết thành công hàng loạt các vấn đề xã hội: xoá đói giảm nghèo, phát triển giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, hoàn thành các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống người dân Các hoạt động phát triển KT - XH trong thời gian qua đã bước đầu gắn kết với BVMT về các mặt thể chế chính sách, tổ chức - quản lý, xã hội hoá và hợp tác quốc
tế Bằng việc lồng ghép các mục tiêu PTBV vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển KT - XH và của các ngành, tính bền vững của sự phát triển hay nói cách khác là sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa 3 mặt: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường bước đầu được xác lập và khẳng định mạnh mẽ trong thực tế
Bộ chỉ tiêu về PTBV đã được các nhà khoa học về môi trường ở nước ta quan tâm nghiên cứu trong khoảng 10 năm trở lại đây Năm 1998, bộ chỉ tiêu được Cục Môi trường ban hành thử nghiệm được phân chia thành 3 lĩnh vực là i) Môi trường (44 chỉ tiêu); ii) Kinh tế - Xã hội (20 chỉ tiêu), và iii) Quản lý môi trường (16 chỉ tiêu) với 9 nhóm chủ đề bao gồm 80 chỉ tiêu (Lê Thành và Lê Thạc Cán, 2003) Bộ chỉ tiêu này đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực môi trường, chiếm đến gần 50% (44/90)
số chỉ tiêu chí được đề xuất
Trong khuôn khổ dự án Hỗ trợ xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự 21 quốc gia Việt Nam - VIE/01/021 triển khai tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, bộ chỉ tiêu
Trang 2821
PTBV đã được nghiên cứu và đề xuất Bộ chỉ tiêu gồm 30 chỉ tiêu bao quát 3 lĩnh vực: kinh tế (4 chỉ tiêu), xã hội (15 chỉ tiêu) và môi trường (11 chỉ tiêu)
Bộ chỉ tiêu PTBV được nhóm các nhà khoa học nghiên cứu trong khuôn khổ
đề tài khoa học của Hội Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam (Lê Thành
và Lê Thạc Cán, 2003) Bộ chỉ tiêu này gồm 42 chỉ tiêu của 4 lĩnh vực: Kinh tế (5 chỉ tiêu), xã hội (16 chỉ tiêu), môi trường (17 chỉ tiêu) và Đáp ứng đảm bảo PTBV (4 chỉ tiêu)
Cũng trong tài liệu này, bộ chỉ tiêu rút gọn cũng đã được đề xuất, gồm 25 chỉ tiêu của 4 lĩnh vực: Kinh tế (4 chỉ tiêu), xã hội (9 chỉ tiêu), môi trường (10 chỉ tiêu)
và Đáp ứng đảm bảo PTBV (3 chỉ tiêu)
Bộ chỉ tiêu phát triển bền vững do tác giả Lê Anh Sơn và Nguyễn Công Mỹ (2006) chủ trì trong khuôn khổ dự án “Hỗ trợ xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự 21 quốc gia Việt Nam (VIE/01/021) do Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện, gồm 44 chỉ tiêu cho cấp độ quốc gia ( kinh tế -12 chỉ tiêu, xã hội – 17 chỉ tiêu, tài nguyên-môi trường - 12 chỉ tiêu, thể chế - 3 chỉ tiêu) là Bộ chỉ tiêu được đề xuất đầy
đủ nhất dựa trên đánh giá thực trạng trên thế giới và ở Việt Nam
Ngoài ra tác giả còn đề xuất 29 chỉ tiêu sử dụng cho các địa phương, bao gồm: kinh tế (7 chỉ tiêu), xã hội (14 chỉ tiêu), tài nguyên-môi trường (6 chỉ tiêu), thể chế (2 chỉ tiêu)
Trong Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 được phê duyệt tại Quyết định số 432/Ttg ngày 12/4/2012 của Thủ tướng chính phủ đã đưa ra 30 chỉ tiêu giám sát và đánh giá phát triển bền vững Việt nam giai đoạn 2011 – 2020 trong đó có 3 chỉ tiêu tổng hợp, 11 chỉ tiêu về kinh tế, 10 chỉ tiêu về xã hội
và 6 chỉ tiêu về môi trường
Ngày 11/11/2013 chính phủ đã ban hành Quyết định số 2157/QĐ-Ttg về việc ban hanh bộ chỉ tiêu giám sát, đánh giá phát triển bền vững địa phương giai đoạn
2013 – 2020 bao gồm 43 chỉ tiêu giám sát, trong đó có 1 chỉ tiêu chung, chỉ tiêu kinh tế, 11 chỉ tiêu xã hội 9 chỉ tiêu môi trường và 15 chỉ tiêu đặc thù vùng
Trang 2922
1.3.1 Tình hình phát triển kinh tế
1.3.1.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 5 năm qua (2006-2010) luôn duy trì ở mức cao và ổn định, tổng sản phẩm (GDP) năm 2010 ước đạt 11.968 tỷ đồng (giá thực tế), tăng 2,06 lần so với năm 2005, bình quân 5 năm (2006-2010) tăng 15,55%/năm, vượt chỉ tiêu Đại hội đề ra; GDP bình quân đầu người năm 2010 (giá thực tế) ước đạt 2.680 USD, bằng 1,61 lần năm 2005
- Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp - du lịch và dịch
vụ - nông nghiệp, đúng với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010 đã được phê duyệt Năm 2006: Tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng : 54,7%, ngành dịch vụ và du lịch: 44,0%, ngành nông lâm ngư nghiệp: 1,3% Đến năm
2010, duy trì với tỷ trọng trong cơ cấu nền kinh tế tương ứng là công nghiệp và xây dựng chiếm 54,8%, dịch vụ chiếm 44,2% và nông - lâm - thủy sản chiếm 1% Đưa
tỷ trọng bình quân giai đoạn (2006 - 2010) là ngành công nghiệp và xây dựng: 55,14% (kế hoạch là 53-56%), ngành dịch vụ và du lịch: 43,7%
1.3.1.2 Tình hình phát triển các ngành kinh tế
a Khu vực kinh tế nông nghiệp
Trong những năm qua mặc dù diện tích đất nông nghiệp bị giảm nhiều do phát triển đô thị, song Thành phố đã quan tâm đầu tư các hệ thống thủy lợi nội đồng, hỗ trợ phát triển các vùng trồng rau an toàn, hoa chất lượng cao, ứng dụng khoa học kỹ thuật trong phát triển sản xuất, đầu tư chuyển đổi cơ cấu cây trồng, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích đất sản xuất Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp trung bình 5 năm giai đoạn (2006-2010) đạt 6,54%, trong đó: Nông nghiệp tăng 3,9%, ngư nghiệp tăng 8,3%, lâm nghiệp tăng 32,8%
b Khu vực công nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) năm 2010 đạt 13.500 tỷ đồng, tăng bình quân hàng năm 16,5% Trong đó công nghiệp địa phương ước đạt 814 tỷ
Trang 30ký Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ năm 2010 ước đạt 12.036 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân 17,45%/năm
1.3.2 Tình hình xã hội
1.3.2.1 Dân số, lao động và việc làm
- Dân số thành phố năm 2006 là 202.839 người đến năm 2010 là 234.592 tăng 31.753 người so với năm 2006, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2006 là 1,005% đến năm 2010 là 1,102%, và tỷ lệ tăng dân số tự nhiên cả giai đoạn 2006-2010 trung bình là 1,051%
Bảng 1.3 Dân số thành phố Hạ Long tại các phường qua các năm
Trang 31- Mật độ dân cư trên toàn thành phố năm 2006 là 820 người/km2, đến năm
2010 mật độ dân cư tăng lên 834 người/km2
- Số lao động năm 2010 được giải quyết việc làm năm 2006 là 51.967 người đến năm 2010 số lao động được giải quyết việc làm ước đạt 50.500 người trong đó
tỷ lệ lao động qua đào tạo là 70%
- Năm 2010 thu nhập bình quân đầu người ước đạt 2.680 USD/năm (giá thực tế)
Trang 3225
234.592 229.122
223.474
202.839
218.238
180.000 190.000 200.000 210.000 220.000 230.000 240.000
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Hình 1.6 Biến động dân số qua một số năm
Nguồn: [10]
1.3.2.2 Đô thị và các khu vực nông thôn
- Thành phố Hạ Long được xây dựng và phát triển trên nền thị xã Hồng Gai, hình thành do công nghiệp khai thác là chủ yếu Trong quá trình phát triển đến nay, đến nay thành phố đã thực sự thay đổi về chất, từ một thành phố than đã trở thành thành phố du lịch, công nghiệp, cảng biển và thương mại của vùng Đông bắc Tổ quốc Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long cùng với giá trị đa dạng sinh thái đã khẳng định vẻ đẹp thiên nhiên kỳ vĩ, mang lại cho thành phố nguồn lợi nhuận lớn về
du lịch, đồng thời tao ra một thách thức lớn về bảo vệ môi trường tự nhiên
Đô thị Hạ Long gồm có 20 phường, dân số là 234592 người, theo báo cáo kiểm kê đất đai đến 01/01/2010 tổng diện tích 27195,03 ha, bao gồm các loại sau:
* Nhóm đất nông nghiệp: 9568,74 ha, trong đó:
+ Đất sản xuất nông nghiệp: 1373,56 ha bằng 5,05% đất đô thị
+ Đất lâm nghiệp có rừng: 7073,62 ha bằng 26,01% đất đô thị
Trang 3326
+ Đất nuôi trồng thuỷ sản: 1121,41 ha bằng 4,12% đất đô thị
+ Đất nông nghiệp khác : 0,15 ha
* Nhóm đất phi nông nghiệp: 16278,76 ha, trong đó:
+ Đất ở: 2281,49 ha bằng 8,39% đất đô thị
+ Đất chuyên dùng: 11028,14 ha bằng 40,55% đất đô thị
+ Đất tôn giáo, tín ngưỡng: 3,10 ha bằng 0,01% đất đô thị
+ Đất nghĩa trang, nghĩa địa: 73,16 ha bằng 0,27% đất đô thị
+ Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng: 2892,83 ha bằng 10,64% đất đô thị
+ Đất phi nông nghiệp khác: 0,04 ha
* Nhóm đất chưa sử dụng: 1347,53 ha bằng 4,96% diện tích đất đô thị Trong nhóm đất nông nghiệp, nhiều nhất là đất lâm nghiệp có rừng 7073,62
ha, đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 1121,41 ha, đất trồng cây hàng năm 242,53
ha đây là đất để sản xuất, cung cấp thực phẩm rau quả phục vụ tại chỗ cho đô thị Đất lâm nghiệp có rừng chiếm 26,01% đất đô thị, đây là tỷ lệ rất thấp so với
đô thị loại II Trong đó đất cho an ninh quốc phòng 1192,54 ha bằng 4,38%, đất xây dựng các cơ sở sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp 2736,90 ha bằng 10,05%, diện tích đất đô thị còn lại là các loại đất khác
Diện tích đất ở đô thị của thành phố là 2281,49 ha, bình quân 96m2/người đây là tỷ lệ tương đối đảm bảo cho sinh hoạt của nhân dân, tuy nhiên trong thực tế
sự chênh lệch về đất ở còn lớn giữa những người thu nhập thấp, so với mặt bằng chung
Đất chưa sử dụng trong đô thị còn khá lớn chiếm tới 4,96% diện tích đất đô
thị chủ yếu là đất trống đồi núi trọc và mặt nước chưa sử dụng Cần có biện pháp
khai thác hợp lý quỹ đất này
1.3.2.3 Tình hình phát triển cơ sở hạ tầng
a Hệ thống giao thông
Hệ thống giao thông, vận tải của thành phố phát triển khá đồng bộ: đường bộ, sắt, thủy và hệ thống cảng biển Giao thông vận tải thành phố Hạ Long có rất nhiều
Trang 3427
thuận lợi vừa có điều kiện thông thương với các nước trong khu vực và thế giới thông qua cảng Cái Lân, với các tỉnh trong nước thông qua hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt là tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hạ Long nói chung và phát triển dịch vụ giao thông vận tải nói riêng
- Về đường bộ: Mạng lưới đường giao thông của thành phố Hạ Long rất thuận lợi cho việc giao lưu với thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Phòng, các tỉnh vùng đồng bằng Sông Hồng, các tỉnh miền núi phía bắc và cửa khẩu biên giới của tỉnh như: Đường quốc lộ 18A, quốc lộ 18B, hiện nay đã thi công xây dựng xong cầu Bãi Cháy đi ngang vịnh Cửa Lục và hệ thống đường dẫn vào hai đầu cầu Bãi Cháy Thành phố Hạ Long nằm trên trục đường QL 18A, cách Hà Nội 165 km về phía tây, cách Hải Phòng 70 km về phía tây nam, có một vị trí địa lý và kinh tế - xã hội quan trọng, đặc biệt là trung tâm du lịch không những của tỉnh mà còn của cả nước
+ Quốc lộ 18A qua thành phố dài 47,8 km đã nâng cấp đạt tiêu chuẩn đường cấp III đồng bằng, các đoạn đi qua thành phố đã xây dựng thành đường đô thị + Việc đầu tư và đưa vào sử dụng nhiều công trình giao thông quan trọng trên địa bàn như cầu Bãi Cháy, cầu Bang, bến xe khách Kênh Đồng, mở tuyến phà Tuần Châu - Gia Luận (Cát Hải, Hải Phòng), đã làm thay đổi cơ bản hạ tầng giao thông của thành phố Cùng với việc phát triển hệ thống xe buýt liên tuyến đi các huyện và các tuyến xe buýt nội thị phát triển mạnh các loại hình vận tải bằng xe khách, xe tải, tàu khách du lịch đã đáp ứng phần lớn nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa Nhìn chung, hệ thống giao thông đường bộ của thành phố Hạ Long có nhiều thuận lợi trong việc phát triển kinh tế - xã hội nói chung, phát triển công nghiệp - thủ công nghiệp thành phố nói riêng
-Về đường thuỷ: Hệ thống cảng và bến tàu du lịch nằm trong Vịnh Hạ Long hoàn toàn có điều kiện và sẵn sàng đón nhận các loại tàu nội địa và tàu viễn dương
có trọng tải lớn
Hệ thống cảng biển gồm có:
+ Cảng nước sâu Cái Lân
Trang 3528
+ Cảng Hòn Nét - Hạ Long
+ Cảng Hòn Gai hiện nay là cảng du lịch quốc tế
+ Cảng Nam Cầu Trắng được sử dụng chuyên dùng cho vận chuyển than thay thế cho cảng Hòn Gai
+ Cảng Xăng dầu B12 chủ yếu để chuyển xăng dầu cho khu vực phía bắc + Cảng du lịch Bãi Cháy: Được mở rộng, quy hoạch một số bến đỗ tàu du lịch, tàu cao tốc tại khu vực Bãi Cháy, Hùng Thắng, Tuần Châu Phục vụ vận chuyển khách du lịch tham quan vịnh Hạ Long
- Về đường sắt:
Hiện tại Quảng Ninh nói chung, Hạ Long nói riêng mới chỉ có tuyến đường sắt từ Kép - Bãi Cháy dài hơn 166 km, (tuyến đường sắt Kép - Bãi Cháy qua địa bàn thành phố dài 14,5 km tới ga Hạ Long), và một số đường sắt chuyên dùng, tuyến đường này chỉ chủ yếu vận chuyển than và một lượng hàng hoá không đáng
kể từ Bãi Cháy vào trong nội địa
Hiện nay thành phố đang nỗ lực triển khai xây dựng 5 km đường chuyên dụng
từ ga Hạ Long đến cảng Cái Lân, khổ đường 1000 mm, đảm bảo tốc độ lớn và ứng dụng nhiều công nghệ hiện đại, nhằm đáp ứng nhu cầu vận tải hàng hóa cảng biển Đến nay tuyến đường này vẫn đang trong quá trình triển khai đầu tư và hiện ga Hạ Long chưa đưa vào hoạt động Đoạn Hạ Long - Cái Lân thuộc dự án tuyến đường sắt Yên Viên - Phả Lại - Hạ Long - Cái Lân, nối từ Yên Viên (Hà Nội) tới Cái Lân trong chương trình hợp tác “một vành đai - hai hành lang kinh tế” giữa Việt Nam và Trung Quốc Tuyến mới khi đến địa phận Quảng Ninh cơ bản theo tuyến đường sắt hiện tại Kép-Uông Bí-Hạ Long
b Thông tin liên lạc
Mạng lưới thông tin liên lạc đã được nâng cấp và trải rộng trên toàn địa bàn Thành phố vẫn tiếp tục thực hiện theo quy hoạch: mở rộng hệ thống bưu điện và các dịch vụ bưu điện, điện thoại tới các phường, khuyến khích tạo mọi điều kiện cho nhân dân khai thác và sử dụng, đầu tư phát triển mạng điện thoại, bưu điện phục sản xuất kinh doanh và sinh hoạt
Trang 3629
Ngoài hệ thống thông tin liên lạc đường dây còn có hệ thống thông tin liên (TTLL) không dây của VINAPHONE, MOBIPHONE, VIETTEL, S-PHONE phủ sóng khắp Thành phố và khu vực vịnh Hạ Long, đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho phục vụ khách du lịch cũng như nhân dân Thành phố Thành phố có một bưu cục trung tâm, một tổng đài có hơn 80.000 số hòa mạng lưới quốc gia, đảm bảo TTLL trong nước và quốc tế, các dịch vụ bưu chính viễn thông ngày càng đa dạng, tuyến đường cáp quang nối với Hà Nội đã được xây dựng, dịch vụ internet cũng được phát triển rất nhanh, đáp ứng được nhu cầu hiện đại hóa TTLL
Hệ thống thông tin phát thanh, truyền hình phát triển nhanh, số lượng thiết bị nghe nhìn tăng cao đáp ứng đời sống tinh thần của nhân dân Thành phố đầu tư nâng cấp trang thiết bị Đài truyền thanh truyền hình thành phố và truyền thanh phường (Thành phố đã đầu tư 450 loa truyền thanh; 20/20 phường được đầu tư trạm truyền thanh không dây; 159 khu phố đã có thiết bị phát thanh không dây đạt 98%
số khu phố trên địa bàn)
Tỷ lệ phủ sóng phát thanh truyền hình đạt trên 95%; 100% phường, xã có điện thoại và internet
c Hệ thống thủy lợi, cấp và thoát nước
Hệ thống thủy lợi
- Thành phố Hạ long có hồ Yên Lập nằm ở địa phận 2 phường Đại Yên và Việt Hưng có diện tích mặt nước khoảng 600 ha với dung tích 144triệu m3, phục vụ nước tưới và sinh hoạt trên địa bàn 2 phường và các phường lân cận Ngoài hồ Yên Lập còn có một số hồ đập nhỏ như: hồ Khe Cá (phường Hà Phong), hồ Cái Mắm (Phường Việt Hưng), hồ Cái Tần (phường Tuần Châu), hồ Khu 5 (phường Hà Lầm), hồ Khe Lởi (phường Việt Hưng) các hồ này có khả năng dự trữ nước mùa mưa, tưới cho cây trồng vào mùa khô
- Trên địa bàn thành phố hiện có các tuyến đê, kè như: Tuyến đê Minh Khai, Yên Cư, Quỳnh Nhung thuộc phường Đại Yên Các tuyến đê này đều có kết cấu đất đắp
Trang 3730
Nhìn chung các công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố đều rơi vào tình trạng bị xuống cấp nghiêm trọng cần được sửa chữa nâng cấp Chủ trương đầu tư xây dựng và nâng cấp, sửa chữa các công trình thủy lợi của thành phố đều nhận được sự ủng hộ của nhân dân Tuy nhiên do thủ tục chuẩn bị đầu tư kéo dài, do ảnh hưởng biến động giá cả nguyên vật liệu và Nhà nước điều chỉnh một số chính sách
về xây dựng cơ bản đã khiến tiến độ triển khai các dự án bị chậm so với kế hoạch đề
ra
Hệ thống cấp nước
Là thành phố có nguồn nước mặt rất hạn chế, không có hệ thống sông lớn nào chảy qua, chỉ có một số sông nhỏ, lưu lượng từ vài chục đến trên dưới 100m3/s, không đủ cấp nước cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nhất là về mùa khô
- Hàng năm nguồn vốn đầu tư vào ngành nước để phục vụ nước sạch cho các
hộ trong địa bàn thành phố là khá lớn; trong 5 năm giai đoạn (2006-2010) là 182.727 triệu đồng, sản lượng nước tiêu thụ trong 5 năm 116 triệu m3, doanh thu ước đạt 587.438 triệu đồng, tỷ lệ hộ dùng nước chiếm 98% năm 2009 và năm 2010 ước đạt 98,5%
- Thành phố được chia thành 2 khu vực cấp nước riêng biệt, cả 2 mạng lưới đều sử dụng nước mặt kết hợp nước ngầm
+ Khu vực Hòn Gai được cấp khoảng 20.000 m3/ngày.đêm từ nhà máy nước Diễn Vọng (công suất thiết kế 60.000 m3/ngày.đêm cấp cho khu vực Hòn Gai và Cẩm Phả) Do lượng nước thất thoát lớn, lên tới 30% lượng nước sản xuất, nên lượng nước thực cấp chưa thỏa mãn nhu cầu dùng nước Trung bình dân nội thị được cấp khoảng 100 lít/người/ngày.đêm và khoảng 80% dân nội thị dùng nước máy số còn lại dùng nước giếng khơi hay giếng khoan
+ Khu vực Bãi Cháy được cấp 13.000m3/ngày.đêm từ nhà máy nước Đồng Ho (công suất thiết kế 20.000m3/ngày.đêm) Chất lượng nước nguồn tốt, không mùi, trong và mềm, độ pH thấp (6-6,5) Nguồn nước mặt: nguồn nước cấp cho nhà máy nước là nước mặt đập Thác Nhồng sông Đồng Ho, cách Bãi Cháy khoảng 10 km Nguồn nước ngầm: đang sử dụng nguồn nước ngầm lấy từ các giếng khoan
Trang 38 Hệ thống thoát nước thải
Nước thải sinh hoạt, thương mại, du lịch, dịch vụ của thành phố Hạ Long phần lớn chưa được xử lý và thải ra sông, suối, ao, hồ rồi đổ ra vịnh Cửa Lục vịnh Hạ Long
Hiện nay trên địa bàn thành phố đã có một số nhà máy xứ lý nước thải (XLNT) đã hoạt động và đang được triển khai xây dựng như:
- Nhà máy XLNT Cái Dăm tại Bãi Cháy có công xuất 3500 m3/ngày.đêm phục vụ XLNT sinh hoạt cho khu vực Bãi Cháy
- Trạm xử lý nước thải sinh hoạt công suất 2500 m3/ngày tại khu vực Vườn Đào xử lý nước thải cho khu vực du lịch Bãi Cháy
- Đang xây dựng nhà máy XLNT Hà Khánh bên khu vực Hòn Gai có công xuất khoảng 7000 m3/ngày.đêm sẽ phục vụ XLNT cho các phường Hòn Gai, Bạch Đằng, Hưng Đạo, Hồng Hải, Cao Thắng
- Nhà máy xử lý nước thải trong khu công nghiệp Cái Lân do nhà máy xi măng quản lý có công suất 3000 m3/ngày.đêm
Xử lý chất thải rắn
Trước năm 2006 công ty môi trường đô thị thành phố Hạ Long chịu trách nhiệm gom và xử lý rác thải trên địa bàn toàn thành phố tính từ 500m nước biển vào đất liền Kể từ năm 2006 nhiệm vụ này dần được chuyển giao một phần cho công ty INDEVCO thực hiện Hiện nay công tác thu gom, xử lý chất thải trên địa bàn thành phố Hạ Long do các đơn vị công ty môi trường đô thị thành phố Hạ Long và công
ty INDEVCO thực hiện Khoảng 97000 tấn rác thải được thu gom từ các khu dân cư
Hạ Long và mang đi chôn lấp hàng năm
d Giáo dục và đào tạo
Trang 3932
Trong những năm gần đây ngành giáo dục - đào tạo thành phố đã có những bước phát triển mới, nhiều năm liền là đơn vị dẫn đầu ngành giáo dục - đào tạo tỉnh Quảng Ninh Sự nghiệp giáo dục - đào tạo của thành phố không ngừng phát triển về
số lượng, chất lượng ở các bậc hệ mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông Hệ thống các trường nội trú phát huy hiệu quả, góp phần đào tạo, bổ xung cán bộ cho vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc
Toàn thành phố có 25/61 trường đạt tiêu chuẩn quốc gia tăng 8 trường so với đầu nhiệm kỳ Chất lượng giáo dục, đào tạo ở các bậc học và trình độ của đội ngũ giáo viên không ngừng được nâng cao, tỷ lệ học sinh đạt khá và giỏi trên 80%; 100% giáo vên đạt chuẩn, 65% giáo vên đạt trên chuẩn; liên tục nhiều năm là địa phương đứng đầu toàn tỉnh về chất lượng giáo dục đào tạo; tỷ lệ học sinh các bậc học lên lớp đạt từ 99-99,8%; tỷ lệ tốt nghiệp trung học cơ sở hàng năm đạt từ 99-100%
Thực hiện chủ trương xã hội hóa trong giáo dục, thành phố đã khuyến khích
và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư trong lĩnh vực giáo dục Trên địa bàn thành phố đến nay đã có 04 trường THPT dân lập (Lê Thánh Tông, Văn Lang, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hạ Long) được xây dựng với tổng mức đầu tư trên 57 tỷ đồng; Đầu tư mới 5 trường mầm non ngoài công lập với tổng mức đầu tư gần 60 tỷ đồng, trong đó trường mầm non Quốc Tế Hạ Long đầu tư đang trong giai đoạn xây dựng với tổng mức đầu tư trên 40 tỷ đồng
e Y tế
- Các cơ sở y tế trên địa bàn được đầu tư xây dựng mới và sắm trang thiết bị hiện đại với tổng mức đầu tư từ năm 2006 đến nay ước đạt 470,3 tỷ đồng, như Bệnh viện tỉnh, Bệnh viện Lao và Phổi, Bệnh viện Y Dược cổ truyền, Bệnh viện Đa Khoa khu vực Bãi Cháy, trung tâm y tế Thành phố, các trạm y tế phường đội ngũ cán bộ
y tế ngày càng được tăng cường về số lượng và chất lượng, từng bước đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh của nhân dân Đến hết năm 2010 có 20/20 trạm y tế phường đạt chuẩn Quốc gia về y tế cơ sở, 100% trạm y tế phường có bác sĩ Trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin chiếm 100%
Trang 4033
- Các cơ sở y tế tư nhân phát triển nhân rộng trên khắp địa bàn thành phố năm
2006 số cơ sở y tế tư nhân là 17 đến năm 2010 có thêm 18 cơ sở được cấp phép thêm nâng tổng số cơ sở y tế tư nhân trên địa bàn thành phố lên là 35 cơ sở
- Đã tập trung chỉ đạo và phối hợp tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu y tế, chủ động phòng chống dịch bệnh, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm Việc phòng chống các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, HIV/AIDS được chỉ đạo chú trọng tập trung chỉ đạo, kiên quyết xử lý
f Văn hóa – thể thao
Việc thực hiện nếp sống mới, xây dựng các khu văn hoá phát triển mạnh mẽ trên toàn thành phố, với khẩu hiệu “ Người Hạ Long nói lời hay, cử chỉ đẹp” Từ năm 2006 đến nay, thành phố đã đầu tư mới và cải tạo 05 sân vui chơi cho thanh thiếu niên các phường với tổng giá trị đầu tư trên 3 tỷ đồng
Ngày 08/9/2006 UBND thành phố đã ban hành Quyết định số 799/QĐ-UB phê duyệt Đề án xây dựng nhà Sinh hoạt cộng đồng (SHCĐ) khu thôn trên địa bàn thành phố (giai đoạn 2006-2009), với lộ trình: Năm 2006 xây dựng 12 nhà SHCĐ
và năm 2008-2009 xây dựng các nhà còn lại Đến nay trên địa bàn có 105/163 nhà SHCĐ đạt tỷ lệ 64,4% số thôn khu có nhà sinh hoạt cộng đồng; Giai đoạn (2006-2009), đã đầu tư 41 nhà SHCĐ với giá trị đầu tư 16,5 tỷ đồng, năm 2010 tiếp tục đầu tư thêm 15 nhà SHCĐ, nâng tổng số nhà SHCĐ trên địa bàn thành phố lên 120/163 nhà đạt 74% mục tiêu Còn 43 thôn khu chưa đầu tư nhà SHCĐ nguyên nhân do chưa tìm được địa điểm xây dựng Mặt khác, một số thôn khu trên địa bàn như các thôn khu thuộc phường Việt Hưng, Đại Yên đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, số hộ nghèo chiếm tỷ lệ lớn, đồng thời mật độ dân cư còn thấp nên việc huy động vốn xã hội hoá còn nhiều khó khăn
Trong những năm qua phong trào thể dục thể thao quần chúng được phát triển rộng từ các cụm dân cư, tổ dân khối phố, các câu lạc bộ, cơ quan xí nghiệp, phường, trường học, lực lượng vũ trang Đến nay toàn thành phố đã có gần 100 câu lạc bộ thể thao, tập trung ở các môn: Cầu lông, bóng bàn, đá cầu, bơi, thể dục dưỡng sinh
Từ năm 2006 đến nay thành phố đã đầu tư mới và cải tạo 05 sân vui chơi cho thanh