Ngành: Khoa học môi trường Mã số: 60.44.03.01 Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu đặc điểm môi trường lao động trong các dây chuyền sản xuất
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THÀNH TRUNG
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG
VÀ SỨC KHỎE NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI MỘT SỐ
DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT XI MĂNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Trịnh Quang Huy
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 24 tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thành Trung
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn
bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc TS Trịnh Quang Huy đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian
và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,
Bộ môn Quản lý môi trường, Khoa Môi trường- Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ Bệnh viện Xây dựng; Trung tâm y học dự phòng nghành Xây dựng; Công ty xi măng Vicem Hoàng Thạch; Công ty
xi măng Vicem Tam Điệp đã giúp đỡvà tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày 24 tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thành Trung
Trang 4
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN II MỤC LỤC III DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VI DANH MỤC BẢNG VII DANH MỤC HÌNH IX PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 2
1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.4.1 Phạm vi thời gian 2
1.4.2 Phạm vi không gian 2
1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP SẢN XUẤT XI MĂNG TẠI VIỆT NAM 4
2.1.1 Tổng quan về nhu cầu cung và cầu ngành xi măng 4
2.1.2 Năng lực sản xuất 5
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đầu ngành 6
2.2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ TRONG SẢN XUẤT XI MĂNG TẠI VIỆT NAM 7
2.2.1 Trình độ công nghệ 7
2.2.2 Các nguyên liệu, nhiên liệu thay thế trong ngành công nghiệp xi măng 10
2.3 CÁC CHẤT GÂY Ô NHIỄM VÀ TÁC HẠI CỦA CHẤT Ô NHIỄM TỚI SỨC KHỎE NGƯỜI LAO ĐỘNG TỪ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT XI MĂNG 13
2.4 TỔNG QUAN CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỨC KHỎE NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRÁNH TRONG MÔI TRƯỜNG SẢN XUẤT 15
2.4.1 Điều kiện vi khí hậu 15
Trang 52.4.2 Tiếng ồn 21
2.4.3 Bụi và ảnh hưởng của bụi 25
2.4.4 Phòng chống nhiễm độc trong sản xuất 28
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 32
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 32
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 32
3.1.3 Thời gian nghiên cứu 32
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 32
3.3 PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU 32
3.3.1 Phương pháp điều tra 32
3.3.2 Đo đạc và phân tích môi trường làm việc của người lao động tại các địa điểm nghiên cứu 34
3.3.3 Phương pháp khảo sát tình trạng sức khỏe, cơ cấu bệnh tật, bệnh nghề nghiệp và liên quan đến nghề nghiệp 36
3.3.4 Phương pháp xác định bệnh nghề nghiệp 37
3.3.5 Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của môi trường lao động tới sức khỏe công nhân 39
3.3.6 Phương pháp xử lí số liệu 39
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
4.1 ĐẶC ĐIỂM SẢN XUẤT VÀ CÔNG NGHỆ TẠI 02 CÔNG TY SẢN XUẤT XI MĂNG 40
4.1.1 Công ty xi măng Vicem Hoàng Thạch 40
4.1.2 Công ty xi măng Vicem Tam Điệp 46
4.2 THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG LAO ĐỘNG TẠI 02 CÔNG TY 53
4.3 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC CÔNG TY SẢN XUẤT XI MĂNG 59
4.3.1 Đánh giá điều kiện vi khí hậu 59
4.3.2 Các yếu tố vật lý 60
4.3.3 Hơi khí độc 65
4.4 ẢNH HƯỞNG TỚI SỨC KHỎE VÀ BỆNH NGHỀ NGHIỆP CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI 02 CÔNG TY SẢN XUẤT XI MĂNG 67
Trang 64.5 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO VỆ SỨC KHỎE NGƯỜI LAO ĐỘNG72
TẠI CÁC CÔNG TY SẢN XUẤT XI MĂNG 72
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74
5.1 KẾT LUẬN 74
5.2 KIẾN NGHỊ 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 7Phân xưởng
Xi măng SXXM : Sản xuất xi măng
TCCP
BVMT
TPHCM
: : :
Tiêu chuẩn cho phép Bảo vệ môi trường Thành phố Hồ Chí Minh TCVSLĐ : Tiêu chuẩn vệ sinh lao động
Tổ chức y tế thế giới
Số thứ tự Sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh Sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội
Cổ phiếu công ty xi măng Bỉm Sơn
Cổ phiếu công ty xi măng Hoàng Mai Người lao động
Tai nạn lao động
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Năng lượng bức xạ và mức độ ảnh hưởng 17
Bảng 2.2 Biến đổi về cảm giác nhiệt da trán 19
Bảng 2.3 Thời gian tiếp xúc với mức âm tương đương 23
Bảng 3.1 Số lượng mẫu đo đạc phân theo khu vực sản xuất 34
Bảng 4.1 Cơ cấu lao động của Công ty xi măng Tam Điệp 52
Bảng 4.2 Phân loại lao động theo tuổi đời 53
Bảng 4.4 Phân loại công việc 54
Bảng 4.5 Học tập về an toàn lao động 54
Bảng 4.6 Tình trạng sử dụng các loại phương tiện bảo hộ lao động 55
Bảng 4.7 Đánh giá chủ quan về tình trạng sử dụng và tác dụng của các loại phương tiện bảo hộ lao động 55
Bảng 4.8 Thói quen trong làm việc và sinh hoạt 57
Bảng 4.9 Tiền sử về bệnh tật 57
Bảng 4.10 Một số biểu hiện sức khỏe (điều tra) 58
Bảng 4.11 Một số biểu hiện các dấu hiệu bệnh lý thần kinh 58
Bảng 4.12 Tình hình dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe ban đầu (khám sức khỏe định kỳ và khám bệnh nghề nghiệp cho người lao động) 59
Bảng 4.13 Các yếu tố vi khí hậu 59
Bảng 4.14 Độ chiếu sáng, cường độ tiếng ồn chung 60
Bảng 4.15 Cường độ tiếng ồn phân tích theo dải tần tại 02 đơn vị 62
Bảng 4.16 Nồng độ bụi tại 02 đơn vị 64
Bảng 4.17 Nồng độ hơi khí tại 02 đơn vị 65
Bảng 4.18 Tình hình khám sức khỏe của người lao động tại 2 đơn vị 67
Bảng 4.19 Phân bố bệnh tật 68
Bảng 4.20 Phân bố bệnh tật theo nhóm đối tượng 69
Bảng 4.21 Phân bố bệnh tật theo các đơn vị 69
Bảng 4.22 Phân bố bệnh đường hô hấp theo các nhóm đối tượng 70
Bảng 4.23 Bệnh đường tiêu hóa 70
Bảng 4.24 Các triệu chứng của bệnh tâm thần kinh 70
Trang 9Bảng 4.25 Bệnh về da 71
Bảng 4.26 Bệnh cơ khớp xương 71
Bảng 4.27 Kết quả chụp xquang phổi theo các đơn vị 71
Bảng 4.28 Kết quả đo chức năng hô hấp 72
Bảng 4.29 Kết quả đo thính lực sơ bộ 72
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Sản xuất tiêu thụ xi măng qua các năm (triệu tấn/năm) 5
Hình 2.2 Sơ đồ các công đoạn sản xuất xi măng dây chuyền công nghệ lò quay 10
Hình 2.3 Các dạng chất thải phát sinh trên từng công đoạn sản xuất xi măng 13
Hình 4.1 Sơ đồ dây chuyền công nghệ đang được áp dụng tại Công ty xi măng VICEM Hoàng Thạch 41
Hình 4.2 Giai đoạn chuẩn bị nguyên liệu 42
Hình 4.3 Dây chuyền nghiền nguyên liệu 43
Hình 4.4 Lò nung 43
Hình 4.5 Dây chuyền nghiền xi măng 44
Hình 4.6 Dây chuyền đóng bao xi măng 45
Hình 4.7 Khu xuất thủy và toàn cảnh nhà máy 46
Hình 4.8 Silo xi măng 46
Hình 4.9 Sơ đồ dây chuyền công nghệ đang được áp dụng tại Công ty xi măng VICEM Tam Điệp 48
Hình 4.10 Khu văn phòng làm việc Công ty xi măng Vicem Tam Điệp 52
Hình 4.11 Khu vực sản xuất Công ty xi măng Vicem Tam Điệp 53
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Thành Trung
Tên Luận văn: Đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường và sức khỏe người lao động tại một số doanh nghiệp sản xuất xi măng
Ngành: Khoa học môi trường Mã số: 60.44.03.01
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu đặc điểm môi trường lao động trong các dây chuyền sản xuất xi măng tại một số cơ sở sản xuất xi măng Đánh giá tình trạng sức khỏe và đặc điểm bệnh liên quan đến nghề nghiệp của người lao động tại một số cơ sở sản xuất xi măng.Môi trường làm việc của công nhân ngành xi măng khá độc hại, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến người lao động như yếu tố tâm lý (lao động căng thẳng), yếu tố vật lý (tiếng ồn, vi khí hậu, bụi, bức xạ, ánh sáng v.v…) Để bảo vệ quyền lợi thiết thực cho người lao động, đặc biệt với công nhân trong điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, thì việc tìm hiểu, phát hiện các bệnh da nghề nghiệp từ đó đề ra các biện pháp dự phòng, điều trị nhằm hạn chế các ảnh hưởng tới sức khỏe người lao động là vô cùng cần thiết Từ đó,
đề xuất giải pháp quản lý môi trường và các giải phápdự phòng các bệnh liên quan đến tiếp xúc nghề nghiệp cho người lao động thuộc ngành xi măng
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra
- Đo đạc và phân tích môi trường làm việc của người lao động tại các địa điểm nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát tình trạng sức khỏe, cơ cấu bệnh tật, bệnh nghề nghiệp
và liên quan đến nghề nghiệp
- Phương pháp xác định bệnh nghề nghiệp và bệnh liên quan với nghề nghiệp
- Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của môi trường lao động tới sức khỏe công nhân
- Phương pháp xử lí số liệu
Kết quả chính và kết luận
- Quan nghiên cứu về thực trạng công nghệ và tình hình lao động của các công ty sản xuất xi măng trong nghiên cứu cho thấy đặc trưng của ngành xi măng: Khối lượng máy móc thiết bị dây chuyền sản xuất xi măng là lớn và nhiều nên đòi hỏi phải một số lượng lao động tương ứng để vận hành và theo dõi, do đó lực lượng
Trang 12công nhân kỹ thuật của công ty chiếm trên 50% tổng sống lao động Mặt khác, đây
là ngành công nghiệp nặng, mức độ độc hại cao, thời gian làm việc 3 ca liên tục nên thông thích hợp với lao động nữ do đó số lao động nữ trong công ty chiếm 15% mà phần lớn là khối hành chính và các đơn vị phụ trợ
- Kết quả khảo sát về vi khí hậu cho thấy các vị trí này đều có nhiệt độ cao hơn TCVSCP, có tới 40/60 mẫu đo vượt TCVSLĐ từ 1,6-2oC.Cường độ ồn chung của Công ty xi măng Vicem Tam Điệp và Công ty xi măng Vicem Hoàng Thạch đều vượt tiêu chuẩn từ 6,6-6,8 dBA Nồng độ bụi hô hấp và bụi toàn phần tổng số đo 60 mẫu có 37 mẫu không đạt TCVSCP, hầu hết các mẫu vượt TC đều ở các vị trí khu vực nghiền Hàm lượng silic từ 2,1-3,2% Nồng độ hơi khí CO, CO2 trong tổng số
30 mẫu có 14 mẫu vượt TCVS tập trung ở 2 công ty Nồng độ SO 2 và NO 2 trong tổng số 30 mẫu đo, có 8 mẫu không đạt tiêu chuẩn vệ sinh
- Kết quả trên cho thấy sức khỏe người lao động của các đơn vị này tương đối tốt, tuy nhiên đối tượng thuộc sức khỏe loại I tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi đời từ 20-
40 tuổi.Phân loại lao động theo tuổi đời cho thấy ở độ tuổi từ 31-40 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất 39,3% Tuổi đời trên 50 tuổi chỉ có 7,3%.Đa số người lao động có tuổi đời từ 31-
40 và ≤30 chiếm tỉ lệ cao là (39,3% và 35,5%) Nhóm có tuổi đời ≥50 tuổi chiếm tỉ lệ rất thấp 7,3% Nhìn chung đối tượng nghiên cứu ở lứa tuổi còn trẻ, đang trong độ tuổi lao động sung sức Nhóm công nhân có tuổi nghề ≥5-10 và <20 năm chiếm tỉ lệ cao nhất 56%; Nhóm có tuổi nghề >20 năm chiếm tỉ lệ thấp nhất 15,3%; Nhóm lao động có tuổi nghề dưới 5 năm cũng chiếm tỉ lệ khá cao 28,7%
- Trong số 300 đối tượng nghiên cứu có 258 là nam giới chiếm 86% và 42 là nữ và chiếm 14% Trong công nghiệp sản xuất xi măng là nghề nặng nhọc độc hại, được xếp vào lao động loại V Công việc này chỉ phù hợp với nam giới hơn là nữ
- Từ các kết quả nghiên cứu, đề tài đã đưa ra được các nhóm giải pháp gồm: Giải pháp về biện pháp kỹ thuật; Giải pháp về biện pháp tổ chức lao động; Giải pháp về giám sát y tế và sức khỏe; Các giải pháp về phương tiện bảo hộ lao động cá nhân
Trang 13THESIS ABTRACT
Full name: Nguyen ThanhTrung
Thesis title: Assessment of the environmental quality's current status of and worker's health at some cement factories
Major: Environmental Science Code: 60.44.03.01
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture
Research Objectives
Research on the working environment characteristics of cement production lines
at some cement factories Assess the health status and characteristics of occupational diseases of employees at some cement factories The working environment of workers
in the cement industry is quite toxic, with many factors affecting workers such as psychological factors (labor stress), physical factors (noise, microclimate, dust, Radiation, light, etc.) In order to protect the practical interests of workers, especially workers in heavy, hazardous or dangerous working conditions, the investigation and detection of occupational skin diseases to find out prophylaxis, treatment to limit the impact on the health of workers is extremely necessary From that, propose solutions to environmental management and preventive measures related to occupational exposure
to workers in the cement industry
Materials and Methods:
- Method of investigation
- Measure and analyze the working environment of the employees at the study sites
- Method of surveying health status, morbidity, industrial diseases and occupational disease
- Method to identify industrial diseases and occupational diseases
- Method of assessing the impact of the working environment on workers' health
- Data processing method
Main results and conclusions
- Research on the current state of technology and labor situation of the cement companies shows characteristics of the cement industry: The volume of machinery and equipment of cement production lines is huge that requires a corresponding number of employees to operate and monitor, so the company's technical workers account for more than 50% of total labor On the other hand, this is a heavy industry with high levels of
Trang 14toxicity and working time of 3 consecutive shifts which should not be suitable for female workers Therefore, the number of female employees in the company accounts for 15% who mainly work for administrative and supportive units
- Microclimate survey results show that these sites have higher temperature than TCVSC, up to 40/60 samples exceeded TCV from 1.6-2oC The noise intensity of Vicem Tam Diep Cement Company and Vicem Hoang Thach Cement Company both exceeds the standard of 6.6-6.8 dBA Of Concentration of total respirators and dusts of
60 samples, there were 37 samples which failed to meet hygienic allowed standards, most of them were in the grinding area Silicon content is from 2.1 to 3.2% Concentration of CO, CO2 in total of 30 samples with 14 samples exceeded the standard of hygiene in 2 companies Of 30 samples with SO2 and NO2 concentrations,
8 samples do not meet hygiene standards
- The above results show that the health of the employees of these units is relatively good, however, subjects in I health category mainly focus on the age group of 20-40 years old Classification of labor by age shows that the highest proportion is 39- 40% in the age group of 31-40 The age of over 50 is only 7.3% Most of the workers aged 31-40 and ≤30 accounts for a high proportion (39.3% and 35.5%) The age group
≥50 years old accounts for a very low 7.3% In general, man power is young and in working age Groups of workers having working seniority ≥5-10 and <20 years accounted for the highest rate of 56%; Groups with seniority > 20 years occupied the lowest rate of 15.3%; The group of workers working less than 5 years occupies a high rate of 28.7%
Of the 300 subjects studied, 258 were males, accounting for 86% and 42 females, accounting for 14% In industry, cement production is a heavy, hazardous occupation, classified as Class V This job is more suitable for men than for women
- From the results of research, the topic has given the groups of solutions, including: Solutions to technical measures; Solutions to labor organization measures; Solutions to medical and health surveillance; Solutions to personal protective equipment
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngành công nghiệp xi măng của Việt Nam đã có lịch sử phát triển trên 100 năm, bắt đầu từNhà máy xi măng Hải Phòng được thành lập năm 1899 Từ năm
1991 đến nay là giai đoạn phát triển mạnh nhất của ngành xi măng Việt Nam Sau
19 năm, tổng công suất thiết kế đã gấp 13 lần và Việt Nam trở thành nước đứng đầu khối ASEAN về sản lượng xi măng Năm 2010, tổng công suất thiết kế các nhà máy xi măng đạt 63 triệu tấn, năng lực sản xuất 53 triệu tấn, về cơ bản cung đã vượt cầu Theo định hướng quy hoạch phát triển ngành xi măng Việt Nam, tổng công suất năm 2015 là 84 triệu tấn và đến năm 2025 là 121 triệu tấn
Việt Nam đang trong quá trình đô thị hóa nên nhu cầu xây dựng dân dụng, công nghiệp, giao thông cần rất nhiều xi măng Mặt khác, nước ta rất dồi dào về nguyên liệu (đá vôi, đá sét, phụ gia) và có điều kiện tiếp cận với những công nghệ, thiết bị mới nhất Đặc biệt, với đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật của Việt Nam được đào tạo liên tục, được hỗ trợ từ nguồn vốn vay trong và ngoài nước là nền tảng thuận lợi cho sự phát triển
Khác với nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam cứ ở đâu có nhà máy xi măng là ở đó hình thành các cụm dân cư xung quanh, vấn đề quan hệ nhà sản xuất với cộng đồng dân cư trở nên rất quan trọng Do đó, ngành xi măng đang góp phần phá vỡ môi trường cảnh quan và ô nhiễm tại các khu dân cư Từ những thực tế trên, đòi hỏi ngành xi măng phải có những biện pháp tích cực nhằm sử dụng hiệu quả tài nguyên, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi truờng (BVMT) Tuy nhiên, thách thức lớn hiện nay của ngành xi măng là phải tìm được giải pháp quản lý cũng như áp dụng công nghệ phù hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng tiết kiệm năng lượng trong quá trình sản xuất clinker - xi măng, góp phần giảm giá thành sản phẩm trong khi vẫn đảm bảo được chất lượng sản phẩm và BVMT, sức khỏe con người
Môi trường làm việc của công nhân ngành xi măng khá độc hại, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến người lao động như yếu tố tâm lý (lao động căng thẳng), yếu tố vật lý (tiếng ồn, vi khí hậu, bụi, bức xạ, ánh sáng v.v…), yếu tố hóa học (hóa chất, sơn, hơi khí độc: CO, CO2 , H2, NO2, NO3, C6H6 v.v…) Để bảo vệ quyền lợi thiết thực cho người lao động, đặc biệt với công nhân trong điều kiện
Trang 16lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, thì việc tìm hiểu, phát hiện các bệnh da nghề nghiệp từ đó đề ra các biện pháp dự phòng, điều trị nhằm hạn chế các ảnh hưởng tới sức khỏe người lao động là vô cùng cần thiết
Cho tới nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu về tác động môi trường lao động tới sức khỏe của người làm việc Vì vậy để đánh giá đúng thực trạng bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe của công nhân ngành xi măng, trên cơ sở đó để đưa ra các biện pháp phòng chống các yếu tố tác động đến sức khỏe là việc làm rất cần thiết Chính vì lý do trên chúng tôi thực hiện đề tài:
“Đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường và sức khỏe người lao động tại một số doanh nghiệp sản xuất xi măng”
1.2 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Môi trường lao động của công nhân ngành xi măng không đảm bảo và có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến người lao động
1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu đặc điểm môi trường lao động trong các dây chuyền sản xuất xi măng tại một số cơ sở sản xuất xi măng
- Đánh giá tình trạng sức khỏe và đặc điểm bệnh liên quan đến nghề nghiệp của người lao động tại một số cơ sở sản xuất xi măng
- Đề xuất giải pháp quản lý môi trường và các giải pháp dự phòng các bệnh liên quan đến tiếp xúc nghề nghiệp cho người lao động thuộc ngành xi măng
1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI
Đề tài góp phần cung cấp cơ sở khoa học về hiện trạng môi trường lao động và sức khỏe của người lao động trong ngành sản xuất xi măng Những kết
Trang 17quả điều tra của đề tài có tính đại diện nên có độ tin cậy để hỗ trợ quá trình đưa
ra những giải pháp nâng cao việc bảo vệ sức khỏe người lao động ngành sản xuất
xi măng tại một số doanh nghiệp
Ngoài ra, những số liệu phân tích cũng giúp cảnh báo về mức độ an toàn của môi trường lao động, sức khỏe người lao động, giúp giảm thiểu được các rủi
ro xấu có thể xảy ra
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu của đề tài các nhà sử dụng lao động, các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà khoa học có thể tham khảo để áp dụng vào các nhiệm vụ mà mình triển khai
Trang 18PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP SẢN XUẤT XI MĂNG TẠI VIỆT NAM
2.1.1 Tổng quan về nhu cầu cung và cầu ngành xi măng
Hiện nay có 46 doanh nghiệp tham gia sản xuất và kinh doanh trong ngành xi măng, với tổng công suất lên đến 68.5 triệu tấn/năm, trong đó gồm có:
68 dây chuyền lò quay với tổng công suất thiết kế 67.32 triệu tấn/năm và 13 dây chuyền xi măng lò đứng với tổng công suất thiết kế 1.18 triệu tấn/năm Trong khi
đó nhu cầu tiêu thụ trong nước liên tục bị sụt giảm Năm 2012 toàn ngành công nghiệp xi măng tiêu thụ 53.61 triệu tấn xi măng và clinker Trong đó xi măng tiêu thụ nội địa đạt 45.5 triệu tấn giảm 8% so với năm 2011, xuất khẩu đạt 8.1 triệu tấn clinker và xi măng (trong đó xi măng đạt 1.6 triệu tấn) Như vậy cung đã vượt cầu khá nhiều Về cơ cấu tiêu thụ sản phẩm theo vùng miền thì thị trường miền Bắc chiếm tỷ trọng lớn nhất 41 - 46%, miền Nam 31 -33 %, miền Trung chiếm tỷ lệ thấp nhất 21 - 25% Bên cạnh đó, do tính chất ngành xây dựng có tính mùa vụ nên tiêu thụ xi măng trong quý 2 và quý 4 là cao nhất (sau tết và mùa khô
ở miền Nam) Vì vậy ảnh hưởng rất lớn đến lượng hàng tồn kho và doanh thu của công ty xi măng Ngành xi măng trong những năm gần đây đang trong giai đoạn rất khó khăn, cung vượt cầu vì vậy mức độ cạnh tranh trong ngành khá khốc liệt trong khi thị trường bất động sản lại đóng băng, nhiều dự án phải dừng hoạt giãn tiếp độ nên nhu cầu tiêu thụ xi măng càng sụt giảm Các nhà máy chỉ hoạt động cầm chừng, giá nguyên liệu đầu vào lại cao, chi phí lãi vay lớn do đầu tư xây dựng nhà máy xi măng khá tốn kém, nhiều doanh nghiệp đứng bên bờ vực phá sản như XM Đồng Bành, XM Hạ Long, XM Quang Sơn… Sản xuất và tiêu thụ6 tháng đầu năm 2013, tình hình tiêu thụ xi măng có những tín hiệu khá lạc quan, tăng so với cùng kỳ năm ngoái Cụ thể cả nước đã tiêu thụ 29.5 triệu tấn sản phẩm, trong đó tiêu thụ nội địa đạt 22.7 triệu tấn, xuất khẩu 6.8 triệu tấn Tiêu thụ nội địa giảm 4% so với cùng kỳ tuy nhiên xuất khẩu lại tăng 210% Tình hình tiêu thụ trong nước khó khăn nên nhiều doanh nghiệp xi măng đẩy mạnh tìm kiếm thị trường xuất khẩu Thị trường xuất khẩu xi măng chủ yếu như Đài Loan, Singapore, Indonesia, Campuchia… với giá xuất khẩu từ 40-42 USD/tấn Giá xuất khẩu này vẫn thấp hơn giá xi măng bình quân của thế giới khoảng 8-10 USD/tấn Xuất khẩu tăng giúp lượng xi măng tồn kho tháng 6 giảm so với tháng
Trang 195-2013, lượng tồn kho hiện chỉ còn khoảng 2.6 triệu tấn, chủ yếu là clinker Thị trường xi măng được nhận định có diễn biến tích cực hơn so với cùng kỳ năm ngoái Tuy nhiên, nhìn một cách tổng quan, những doanh nghiệp tiêu thụ tốt vẫn
là các thương hiệu quen thuộc như VICEM, FICO, Nghi Sơn, Chinfon, Holcim, Cẩm Phả…, trong khi nhiều đơn vị khác vẫn gặp rất nhiều khó khăn
Hình 2.1 Sản xuất tiêu thụ xi măng qua các năm (triệu tấn/năm) 2.1.2 Năng lực sản xuất
Tổng công suất thiết kế của các nhà máy xi măng Việt Nam là 68.5 triệu tấn Trong đó 11 công ty xi măng lớn chiếm hơn 50%, Hà Tiên 1 có công suất thiết kế lớn nhất với 7.3 triệu tấn/năm STT Nhà máy xi măng,địa điểm,công suất hiện tại (ngàn tấn) 1 Hoàng Thạch Hải Dương 4,000; 2 Nghi sơn Thanh Hóa 4,300; 3 Bỉm Sơn Thanh Hóa 4,000; 4 Chinfon Hải Phòng 4,500; 5 Bút sơn Hà Nam 3,000;6 Hoàng Mai Nghệ An 1,400; 7 Tam Điệp Ninh Bình 1,400; 8 Hải Phòng Hải Phòng 1,400; 9 Phúc Sơn Hải Dương 4,000; 10 Holcim Kiên Giang 3,600;11 Hà Tiên 1 TP HCM 7,300; Tổng công suất 38,900 Theo Hiệp hội Xi măng Việt Nam, năm 2013 sẽ có 6 nhà máy xi măng với công suất 6.72 triệu tấn
đi vào hoạt động, tổng công suất cả nước lên trên 75 triệu tấn/năm Đó là Nhà máy XM X18 công suất 1,000 tấn/ngày; Nhà máy XM 12/9 Nghệ An (XM Dầu khí) công suất 0.6 triệu tấn/năm; Nhà máy XM Trung Sơn - Bình Minh (Hòa Bình) 0.91 triệu tấn/năm; Nhà máy XM Hương Sơn 0.35 triệu tấn/năm; XM Mai
Trang 20Sơn (Sơn La) 0.91 triệu tấn/năm; XM Công Thanh 2 (Thanh Hóa) 3.6 triệu tấn/năm
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đầu ngành
Công ty Cổ phần Xi Măng Hà Tiên 1
Công ty Cổ phần Xi măng Hà Tiên 1 tiền thân là Nhà máy Xi măng Hà Tiên thành lập vào năm 1960 Năm 2007 chuyển sang hoạt động theo mô hình cổ phần hóa và niêm yết trên sàn Hose Công ty chuyên sản xuất và kinh doanh các loại xi măng (Xi măng PC 40; Xi măng hỗn hợp PCB40; Xi măng MS-PCB40…) tổng công suất 7.3 triệu tấn năm với 2 nhà máy và 4 trạm nghiền HT1 là đơn vị chủ lực của Tổng Công ty Xi măng Việt Nam tại Miền Nam với tổng vốn điều lệ 1,980 tỷ đồng
Công ty Cổ phần Xi măng Bỉm Sơn
Công ty Cổ phần Xi măng Bỉm Sơn tiền thân là nhà máy xi măng Bỉm Sơn thành lập vào năm 1980 Chính thức hoạt động theo mô hình cổ phần hóa
từ 05/2006, đến tháng 11/2006 niêm yết trên sàn HNX, hiện hoạt động với vốn điều lệ 956 tỷ đồng BCC thuộc Tổng Công ty Xi măng Việt Nam, chuyên sản xuất xi măng Portland hỗn hợp PCB30, PCB40 mang thương hiệu xi măng “con voi” với tổng công suất 4 triệu tấn/năm BCC đã khẳng định được vị thế của mình trên thị trường phía Bắc Các nhà máy của BCC đặt gần các nguồn nguyên liệu đá vôi, đất sắt để sản xuất clinker giúp BCC kiểm soát được chi phí sản xuất khá hiệu quả
Công ty cổ phần Xi măng Vicem Bút Sơn
Công ty cổ phần Xi măng VicemBút Sơn là doanh nghiệp nhà nước thành lập năm 1997 Hoạt động theo mô hình cổ phần hóa vào 23/03/2006, đến 05/12/2006 chính thức niêm yết trên sàn Hnx, hiện đang hoạt động với vốn điều
lệ 1,090 tỷ đồng BTS thuộc Tổng Công ty Xi măng Việt Nam Các loại sản phẩm chính của công ty là xi măng Portland PC40, PC50, xi măng Portland hỗn hợp PCB30, PCB40 với tổng công suất 3 triệu tấn/năm Công ty cổ phần Xi măng VicemBút Sơnmang thương hiệu “Quả địa cầu” với hàm ý chất lượng và dịch vụ quốc tế BTS có quy trình sản xuất khép kín, chủ động được nguồn nguyên liệu Đây là lợi thế cạnh tranh của BTS so với các doanh nghiệp khác cùng ngành
Trang 21Công ty Cổ phần Xi măng và Xây dựng Quảng Ninh
Công ty Cổ phần Xi măng và Xây dựng Quảng Ninh tiền thân là là Xí nghiệp Than Uông Bí thành lập vào năm 1987 Hoạtđộng kinh doanh ban đầu chỉ
là sản xuất than, sau đó mở rộng sang lĩnh vực sản xuất xi măng và xây lắp Đến năm 1998, UBND tỉnh quảng Ninh đã sáp nhập một số đơn vị vào xí nghiệp Uông Bí để thành lập Công ty Xi măng và Xây Dựng Quảng Ninh Tháng 3/2005 doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa và niêm yết trên sàn vào ngày 17/01/2008, hiện đang hoạt động với vốn điều lệ 184 tỷ đồng Trong cơ cấu doanh thu năm
2012, sản xuất và kinh doanh xi măng mang lại doanh thu lớn nhất cho QNC, chiếm 93% với thương hiệu xi măng Lam Thạch Tổng công suất các nhà máy của QNC là 1.3 triệu tấn/năm HOM - Công ty cổ phần Xi măng Vicem Hoàng Mai: Công ty Cổ phần Xi măng Vicem Hoàng Mai tiền thân là công ty Xi măng Nghệ An thành lập năm 1995 Tháng 04/2008 công ty thực hiện cổ phần hóa đến 07/2009 Công ty Xi măng Hoàng Mai chính thức lên sàn Hnx, hiện đang hoạt động với vốn điều lệ 720 tỷ đồng HOM thuộc Tổng Công ty Xi măng Việt Nam Công ty đã đầu tư công nghệ và thiết bị của Cộng hòa Pháp, công suất 4,000 tấn clinker/ngày (tương đương 1.4 triệu tấn xi măng/năm) HOM chuyên sản xuất các sản phẩm xi măng PCB 30, PCB 40, PC 40…Thế mạnh của HOM là nguồn nguyên liệu dồi dào Hiện tại Công ty đang khai thác nguyên vật liệu trên Mỏ đá Hoàng Mai B với trữ lượng 132,646,000 tấn và Mỏ sét Quỳnh Vinh với trữ lượng 4,297,000 tấn đủ nguyên liệu cho các nhà máy hoạt động liên tục trên 80 năm với chất lượng ổn định
2.2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ TRONG SẢN XUẤT XI MĂNG TẠI VIỆT NAM
2.2.1 Trình độ công nghệ
Số nhà máy xi măng trên toàn Việt Nam được chia thành 3 nhóm chính: nhóm trực thuộc Tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam, các đơn vị liên doanh với nước ngoài và các nhà máy xi măng được những tập đoàn và công ty
tư nhân tự đầu tư xây dựng Tổng cộng trên cả nước có gần 100 nhà máy sản xuất
xi măng Trình độ công nghệ của ngành lạc hậu cũ kỹ thừa hưởng của Nga, Pháp, Trung Quốc những năm 50 của thế kỷ trước vẫn còn được sử dụng Hiện nay với các dự án dây chuyền, nhà máy xi măng lớn sẽ thay thế công nghệ cũ, giúp năng lực sản xuất được tăng lên gấp nhiều lần Cung vượt cầu là tình trạng mà ngành
Trang 22xi măng đang phải đối mặt Vì vậy xuất khẩu xi măng được coi là giải pháp giúp ngành vượt qua giai đoạn khó khăn này Tuy nhiên để nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh chính là tăng chất lượng sản phẩm Chủ trương của chính phủ, đến năm 2015 chấm dứt hoạt động của tất cả hệ thống xi măng lò đứng và chuyển sang xi măng lò quay và đến năm 2015 tất cả các nhà máy phải tự túc ít nhất 20% năng lượng điện từ việc tận dụng nguồn nhiệt khí thải thừa
Xi măng được làm bằng đá vôi kết hợp với với hàm lượng nhỏ các nguyên liệu khác (như đất sét) được nung trong lò ở nhiệt độ tới 1450°C Chất rắn ra lò, được gọi là “clinker”, được nghiền với một lượng nhỏ thạch cao thành một hỗn hợp bột có tên “xi măng portland thông thường” - đây là loại xi măng được sử dụng phổ biến nhất (thường gọi là OPC) Nhiều người sử dụng đòi hỏi
xi măng phải có những đặc tính riêng biệt, điều này có thể tạo ra bằng cách nghiền thêm một số thành phần khác để trộn lẫn với clinker Phụ gia điển hình bao gồm xỉ, tro bay, phụ phẩm từ lò cao hoặc sản xuất điện năng Một loại khác
có tên pozzolana, được làm từ xỉ núi lửa nghiền mịn, sau khi trộn với vôi bột sẽ
có tính năng như OPC và tạo hồ trong nước Do tính năng sử dụng trong xây dựng, xi măng được sản xuất theo những tiêu chuẩn ngặt nghèo Những tiêu chuẩn này có thể khác nhau theo vùng và đặt ra giới hạn về loại và lượng phụ gia được sử dụng
* Công đoạn gia công sơ bộ nguyên nhiên liệu phụ gia: Đá vôi có kích thước ≤ 300mm được kẹp hàm đến kích thước ≤ 60mm, đập búa đến cỡ hạt ≤ 20mm và vận chuyển đến các Silô chứa Phụ gia, khoáng hoá (nếu sử dụng) được kẹp hàm đến cỡ hạt yêu cầu, được vận chuyển đến Silô chứa phụ gia khoáng hoá Đất sét, than, phụ gia điều chỉnh phối liệu được đập, cân đạt tiêu chuẩn, được vận chuyển đến các Silô riêng biệt
* Công đoạn nghiền phối liệu: Đá vôi, sét, phụ gia, khoáng hoá, than ở các Silô được cân định lượng theo tỷ lệ quy định tạo thành hỗn hợp được vận chuyển vào máy nghiền bi, được nghiền mịn độ 6 - 12%, được vận chuyển lên các silô chứa phối liệu
* Công đoạn chứa và đồng nhất phối liệu: Phối liệu trong các silô được trộn đều đồng nhất theo các tỷ lệ quy định
Trang 23* Công đoạn nung Clinker: Sau khi trộn đều, phối liệu được vận chuyển lên bunke qua cấp liệu vít định lượng, trộn đều đến độ ẩm 12 - 14% thì vê viên 6 - 10mm rải vào lò nung đến kết khối ở 1400-1450oC thành clinker
* Công đoạn tháo vận chuyển chứa clinker: Clinker được quay trong lò
“xoay” đến kích thước ≤ 100mm, tháo ra là bằng cấp liệu nung hoặc băng tải tấm, được làm lạnh bằng không khí và nước, được kẹp hàm đến cỡ hạt ≤ 15mm, chuyển vào kho hoặc vận chuyển lên các silô chứa
* Vận chuyển nghiền clinker xi măng: Clinker, thạch cao, phụ gia khoáng tháo từ silô chứa được cân định lượng theo tỷ lệ và được nghiền mịn trên máy nghiền bi, qua máy phân li cỡ hạt đến độ 6 - 12% còn lại trên sàn 0,08 và vận chuyển lên các silô chứa xi măng bột
* Công đoạn đóng bao và xuất xi măng: Xi măng bột được tháo, vận chuyển lên các két chứa trung gian, qua sàng lọc bỏ tạp vật, qua máy đóng bao
để đóng vào các bao giấy có khối lượng 50 ± 0,5 kg vận chuyển băng chuyền đến máng xuất xuống ô tô, xà lan, tàu hỏa, số xi măng chưa được tiêu thụ thì chuyển vào kho chờ tiêu thụ Mọi quy trình sản xuất xi măng ở bất kỳ nhà máy nào đều được tóm tắt theo sơ đồ hình trên:
+ Thợ khoan, bắn mìn tại xưởng mỏ: khai thác nguyên liệu
+ Lái xe, máy (ủi, xúc) tại xưởng mỏ, xưởng xe máy: khai thác và vận chuyển đất đá
+ VH máy (đập, nghiền, đóng bao, băng tải và các thiết bị vận chuyển, lò, nén khí ) tại các xưởng nguyên liệu, nghiền xi măng, lò, đóng bao, nước
+ Thợ cơ khí: sửa chữa và gia công các thiết bị phục vụ sản xuất
+ Thợ điện: vận hành trạm điện, sửa chữa điện
+ Thợ xây dựng thuộc xưởng sửa chữa công trình có nhiệm vụ xây dựng các công trình phụ trợ, sửa chữa bảo dưỡng lò
+ Lao động thủ công: làm vệ sinh máy móc, nhà xưởng
Trang 24
Hình 2.2 Sơ đồ các công đoạn sản xuất xi măng dây chuyền
công nghệ lò quay 2.2.2 Các nguyên liệu, nhiên liệu thay thế trong ngành công nghiệp xi măng
Ngành công nghiệp xi măng có rất nhiều cơ hội thay thế một phần các loại nguyên liệu và nhiên liệu truyền thống bằng các sản phẩm phụ và chất thải từ các ngành công nghiệp khác Các hợp chất thay thế này có thể được sử dụng làm nguyên liệu, nhiên liệu hoặc là thành phần của xi măng
Nhiều loại chất thải hoặc sản phẩm phụ có thể tận dụng nhiệt lượng để thay thế cho các nhiên liệu truyền thống như than, dầu Các chất thay thế có loại
sử dụng được ngay, có loại phải qua sơ chế, nhưng phần lớn đều phải chế biến, pha trộn để đảm bảo sự đồng nhất và không thay đổi tính chất nhiệt
XM rời
Đất, đá
Khai thác VC
Nguyên liệu thô
Đập nghiền, sàng
Nguyên liệu mịn
Trang 25Các nguyên liệu và nhiên liệu thay thế được lựa chọn có chứa hàm lượng khoáng có ích như silic, canxi, nhôm và sắt có thể được sử dụng như nguyên liệu trong lò thay thế cho đất sét, đá sét hoặc đá vôi Một số nguyên liệu vừa chứa các khoáng có ích vừa có nhiệt trị nên việc phân biệt giữa nhiên liệu và nguyên liệu thay thế trong một số trường hợp là không rõ ràng Ví dụ như bùn thải có nhiệt trị thấp, khi cháy trong lò, tro của nó có chứa một số khoáng có ích tham gia vào thành phần clinker
Một số nguyên liệu được trộn cùng với clinker nghiền mịn có thể tạo
ra các loại xi măng với các tính năng khác nhau Chúng có thể điều chỉnh thời gian đóng rắn của xi măng (thạch cao nhân tạo); chúng có thể có hoạt tính xi măng (xỉ lò cao); chúng có thể là các chất trơ hoàn toàn Sử dụng các hợp chất thay thế là rất quan trọng trong việc làm giảm tác động đối với môi trường, giảm chi phí năng lượng đồng thời giảm đáng kể lượng khí thải CO2
phát thải trên 1 tấn xi măng sản xuất ra
Năng lượng và các khoáng thu hồi từ các chất thải sử dụng trong lò xi măng
Hệ thống lò trong các nhà máy xi măng có một số đặc điểm đặc biệt phù hợp cho việc tận dụng thu hồi các khoáng xi măng và năng lượng có hiệu quả từ các nguồn nguyên, nhiên liệu thải:
• Nhiệt độ trong lò cao, nhiệt độ ngọn lửa tại vòi đốt chính là 2000oC, nhiệt độ hình thành clinker là 1450oC, và nhiệt độ tại calciner 1000-1200oC Thời gian lưu của khí cháy trong các lò xi măng khoảng trên 5 giây với nhiệt độ lớn hơn 1000oC, trong khi đó thời gian lưu khí cháy của các lò đốt chất thải chỉ có 2 giây Thời gian lưu trong lò của các nguyên liệu rắn từ hàng chục phút đến một giờ tùy thuộc vào công nghệ sản xuất xi măng
• Các quá trình nhiệt trong lò xảy ra ở môi trường oxi hóa
• Điều kiện oxi hóa và hoạt động ổn định trong lò sẽ đảm bảo để các hợp chất hữu cơ trong chất thải được phân hủy hoàn toàn và chuyển thành nhiệt năng cung cấp cho các quá trình công nghệ
• Các nguyên liệu thải trong lò được tiếp xúc với lượng lớn nguyên liệu kiềm mà có khả năng khử các khí tiềm ẩn axit thoát ra từ quá trình cháy
• Các hợp chất vô cơ, bao gồm hầu hết các kim loại nặng, tro của nó sau khi cháy sẽ nằm lại trong các hợp chất clinker và xi măng (*)
Trang 26• Quá trình cháy hoàn toàn và tro thì nằm lại trong clinker nên có thể coi quá trình công nghệ tận dụng các nhiên liệu thải hầu hết là không sinh ra tro (**)
(*): Một số kim loại nặng dễ bay hơi không nằm lại trong clinker cần được đánh giá và điều chỉnh hàm lượng của nó trong các chất thải tận dụng
(**): Hợp chất clo, kiềm sinh ra ở dạng bụi hoặc khí từ các nguyên liệu truyền thống trong hệ thống lò được tuần hoàn tách ra ngoài hoặc bị khử
Căn cứ vào sự khác nhau giữa các công đoạn của quá trình công nghệ, điều quan trọng là phải đưa các nguyên liệu thải vào đúng vị trí để các chất thải được sử dụng trong điều kiện thuận lợi và hiệu quả nhất, đảm bảo quá trình cháy
là hoàn toàn, tránh sự hình thành cũng như phân hủy các chất không mong muốn
Ví dụ, với nguyên liệu là hợp chất hữu cơ dễ bay hơi được đưa vào lò xi măng ở vòi đốt chính, ống đứng hoặc tại buồng tiền ung (precalciner), và không được đưa vào cùng các nguyên liệu khác, trừ khi có các kết quả kiểm tra phân tích và chứng minh khí thoát ra không gây ảnh hưởng xấu
Sử dụng các lò xi măng để đốt chất thải
Ở một số nước, các nhà máy xi măng cung cấp dịch vụ xã hội hoặc dịch
vụ công nghiệp qua việc đốt chất thải, mặc dù một số rác thải mang lại ít hoặc không hiệu quả về mặt năng lượng cũng như thành phần khoáng trong clinker Tại một số khu vực và các quốc gia, việc đốt rác thải được thực hiện do chính phủ yêu cầu hoặc do nhu cầu tiêu hủy ở địa phương Xử lý chất thải tại các hệ thống lò xi măng là khả thi do nhiệt độ trong lò cao, môi trường oxi hóa, thời gian lưu trong lò dài và khả năng điều chỉnh linh hoạt, hiệu suất thiêu hủy cao
Các lò xi măng đã được sử dụng để đốt các chất thải từ nhiều năm nay tại một số nước không có nhiều diện tích để làm các bãi rác như: Nhật Bản, Na Uy, Thụy Sĩ Tại Na Uy, các chất thải PCBs (là một nhóm các hợp chất hữu cơ nhân tọa, bền vững và rất khó phân hủy, có khả năng gây nguy hại cho con người và môi trường) đã được thiêu hủy từ hơn 10 năm Gần đây, các lò hiện đại đã được
sử dụng để thiêu hủy chất thải ở một số nước đang phát triển là những nước thiếu
cơ sở hạ tầng cho xử lý chất thải, do đó việc sử dụng lò xi măng là sự lựa chọn hiệu quả kinh tế nhất Ngay cả một số khu vực có sẵn cơ sở thiêu hủy thì việc xử
lý chất thải tại các nhà máy xi măng vẫn có ý nghĩa nhất định do nó làmtăng năng suất tiêu hủy trong trường hợp nhu cầu và lượng rác thải tăng cao
Trang 272.3 CÁC CHẤT GÂY Ô NHIỄM VÀ TÁC HẠI CỦA CHẤT Ô NHIỄM TỚI SỨC KHỎE NGƯỜI LAO ĐỘNG TỪ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT XI MĂNG
Đặc trưng cho ô nhiễm môi trường do hoạt động của ngành sản xuất xi măng chủ yếu là ô nhiễm môi trường không khí và tiếng ồn Các yếu tố gây ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất xi măng có thể gây ảnh hưởng đến sức khoẻ người lao động chủ yếu là bụi lơ lửng, khí độc SO2, CO, CO2 và tiếng ồn
- Bụi: Bụi sinh ra ở hầu hết các công đoạn trong dây chuyền sản xuất: + Vận chuyển, bốc dỡ nguyên liệu, nhiên liệu, phụ gia
+ Gia công đập, sấy, nghiền nguyên liệu, nhiên liệu và vận chuyển
+ Đồng nhất tháo vận chuyển, phối liệu nạp vào lò
+ Theo khói lò trong quá trình nung và vận chuyển clinker
+ Quá trình nghiền, đóng bao và vận chuyển xi măng
Hình 2.3 Các dạng chất thải phát sinh trên từng
ông đoạn sản xuất xi măng
Trang 28Bụi thải ra trong quá trình sản xuất xi măng là bụi nguyên liệu nhiên liệu, clinker và xi măng Nơi thải ra bụi nhiều và phát tán xa là các ống thông gió của các máy nghiền, máy sấy và ống khói lò nung clinker
Tuỳ thuộc vào công xuất, công nghệ sản xuất, trang thiết bị, kiến trúc nhà xưởng của từng cơ sở sản xuất mà lượng bụi thải ra môi trường nhiều hay ít Càng thủ công thì mức độ bụi càng lớn
Bụi xi măng có tính kiềm (chứa vôi những hạt mịn ≤ 5m có khả năng đông kết trong hệ thống hô hấp nên dễ gây ra các bệnh viêm nhiễm dị ứng ở mũi, họng, phế quản và phổi như viêm họng mãn tính, viêm mũi, viêm xoang, viêm phế quản phổi
Bụi than vào phổi gây kích thích cơ học làm xơ hoá phổi Bụi bột đọng ở răng gây các bệnh viêm lợi, cao răng và các bệnh về mắt như viêm kết mạc, viêm giác mạc, sạn vôi kết mạc, viêm màng tiếp hợp
Trong bụi xi măng còn có dioxitsilic (SiO2) có thể gây bệnh bụi phổi silic Hàm lượng silic tự do trong bụi càng cao thì nguy cơ mắc bệnh càng lớn
Ngoài ra bụi còn gây các bệnh về da như mụn nhọt, lở loét, viêm da
- Khí thải SO2, CO2, CO: Trong quá trình sấy nguyên, nhiên liêu đặc biệt
là khi nung clinker do sử dụng nhiên liệu là than, các nguyên tố hoá học có trong nhiên liệu, phụ gia khi cháy sẽ tác dụng với oxy không khí sinh ra một lượng khí độc hại thoát theo ống thải gây ô nhiễm môi trường [14] Đặc trưng cho các loại khí thải này là SO2, CO2, CO Các loại khí thải này nếu vượt quá tiêu chuẩn cho phép sẽ có hại tới sức khoẻ con người, gây nên các bệnh về đường hô hấp
+ SO2 gây nhiễm độc qua da, khi nhiễm vào máu gây rối loạn chuyển hoá protein và đường gây thiếu vitamin B và vitamin C
+ CO làm giảm khả năng vận chuyển oxy của máu tới tế bào, chiếm chỗ oxy trong máu gây các chứng chóng mặt, đau đầu, buồn nôn và nồng độ cao có thể làm rối loạn nhịp tim, ngất, tử vong
+ CO2 nồng độ vượt tiêu chuẩn cho phép gây rối loạn hô hấp và tế bào do chiếm cho của oxy, gây khó thở, choáng, ngất
- Tiếng ồn: Công nghiệp sản xuất xi măng có nhiều khâu phải gia công cơ học như các máy đập, nghiền, quạt gió lò và các thiết bị vận chuyển nên gây nhiều tiếng ồn Cường độ tiếng ồn phụ thuộc tính năng, công xuất thiết bị Thiết
bị gây ồn ào là máy đập búa, kẹp hàm, đặc biệt là các máy nghiền
Trang 29Nếu tiếng ồn cao vượt tiêu chuẩn cho phép liên tục gây mệt mỏi, kém tập trung tư tưởng làm giảm năng xuất lao động, dễ gây các tai nạn sản xuất Làm việc lâu dài ở khu vực có tiếng ồn cao có thể bị mắc bệnh điếc nghề nghiệp
- Nguồn ô nhiễm nhiệt và vikhí hậu: Công nghệ sản xuất xi măng tiêu tốn khá nhiều nhiệt năng, đặc biệt là các lò nung, nhiệt độ lên tới hàng ngàn oC Các máy nghiền cũng sinh nhiệt do va đập và ma sát Các máy sấy, quay sấy nguyên liệu, than, phụ gia toả nhiệt ra môi trường Nguồn gây ô nhiễm nhiệt này góp phần với nhiệt độ không khí, độ ẩm, tốc độ gió và ánh sáng hình thành yếu tố vi khí hậu, ảnh hưởng trực tiếp tới điều kiện làm việc sức khoẻ của công nhân và sự phát tán của các chất thải ô nhiễm ra môi trường
Thực tại cho thấy ở môi trường sản xuất xi măng thường hay gặp những bệnh về đường hô hấp (viêm họng mãn tính, các bệnh về phổi, phế quản), các bệnh về răng, lợi (viêm lợi, cao răng), các bệnh về mắt (đau mắt, sạn vôi)
Tác động của các yếu tố ô nhiễm phát sinh trong quá trình sản xuất xi măng ảnh hưởng trực tiếp đến công nhân sản xuất, gây giảm sút sức khoẻ, lâu dài rất có nguy cơ mắc các bệnh nghề nghiệp Thực trạng này đặt ra cho các nhà nghiên cứu sức khoẻ môi trường đặc biệt là môi trường sản xuất xi măng cẩn có những biện pháp để bảo vệ sức khoẻ cho người lao động bằng việc xây dựng môi trường làm việc lành mạnh, an toàn Từ đó đưa ra được nhiều lợi ích cho các nhà quản lý như tăng hài lòng với công việc, tăng sức khoẻ, tăng năng suất lao động, giảm nghỉ việc, giảm chi phi bảo hiểm Công nhân khoẻ hiển nhiên là công nhân hữu ích, họ là yếu tố quan trọng đối với sự thành công củadoanh nghiệp và đặt nền móng cho một nền kinh tế thịnh vượng
2.4 TỔNG QUAN CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỨC KHỎE NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRÁNH TRONG MÔI TRƯỜNG SẢN XUẤT
2.4.1 Điều kiện vi khí hậu
2.4.1.1 Các yếu tố ảnh hưởng
a.Vi khí hậu
Vi khí hậu là trạng thái lý học của không khí trong khoảng không gian thu hẹp gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ nhiệt và vận tốc của không khí Điều
Trang 30khí hậu của khu vực Về mặt vệ sinh lao động, vi khí hậu có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ người lao động Chẳng hạn trong điều kiện vi khí hậu lạnh, độ ẩm cao
có thể gây ra các bệnh thấp khớp, viêm đường hô hấp, viêm phổi
Tuỳ theo tính chất toả nhiệt của quá trình sản xuất, chia ra ba loại vi khí hậu sau:
- Vi khí hậu tương đối ổn định, nhiệt toả ra khoảng 20 kcal/m3.h, như ở phân xưởng cơ khí, dệt
- Vi khí hậu nóng toả nhiều nhiệt hơn 20 kcal/m3.h ở xưởng đúc, rèn, cán thép
- Vi khí hậu lạnh, nhiệt toả ra dưới 20 kcal/m3.h ở các xưởng lên men rượu bia, nhà lạnh chế biến thực phẩm Các yếu tố vi khí hậu:Nhiệt độ là yếu tố quan trọng trong sản xuất, phụ thuộc vào các quá trình sản xuất và nguồn phát nhiệt: lò nung, ngọn lửa, năng lượng điện, cơ biến thành nhiệt, phản ứng hóa học sinh nhiệt, bức xạ nhiệt của mặt trời, nhiệt do NLĐ sinh ra.Những nguồn nhiệt này có thể làm cho nhiệt độ không khí lên đến 50, 600C Khi nhiệt độ tăng
cơ thể người có các hiện tượng: tăng sự mệt mỏi, giảm khả năng lao động, tim đập nhanh, huyết áp tăng, giảm hoạt động các cơ quan tiêu hóa, tăng sự phân bổ máu ở da, tăng sự bài tiết mồ hôi Điều lệ vệ sinh quy định nhiệt độ tối đa cho phép ở nơi làm việc của công nhân về mùa hè là 320C và không được vượt quá nhiệt độ cho phép từ 3¸50C Nơi sản xuất nóng như xưởng rèn, xưởng đúc, xưởng cán, xưởng luyện thép nhiệt độ không quá 400C Lao động ở nhiệt độ lạnh dễ gây bệnh thấp khớp, viêm đường hô hấp, viêm phế quản, khô niêm mạc gây cảm lạnh
b Bức xạ nhiệt
Phát sinh từ các vật nung nóng, khi t = 5000C thì vật sinh ra tia hồng ngoại, t = 18000C - 20000C phát ra tia tử ngoại, đến 30000C tia tử ngoại càng phát ra nhiều Cường độ xạ nhiệt được biểu thị bằng cal/m2.phút được đo bằng nhiệt kế cầu hay actinometre, chẳng hạn ở xưởng đúc, rèn, cán thép có cường độ bức xạ đến 5-10 kcal/m2.phút Tiêu chuẩn vệ sinh cho phép là 1 kcal/m2.phút Bảng 2-3 là sự tác động tương quan giữa thời gian và năng lượng bức xạ
Trang 31Bảng 2.1 Năng lượng bức xạ và mức độ ảnh hưởng
Nguồn: Dương Quốc Dũng (2013)
c Độ ẩm
Độ ẩm tuyệt đối là lượng hơi nước có trong không khí biểu thị bằng gam trong một mét khối không khí hoặc bằng sức trương hơi nước tính bằng mm cột thủy ngân Độ ẩm cực đại là lượng hơi nước bảo hòa có trong không khí ở một nhiệt độ nhất định Độ ẩm tương đối là tỷ lệ phần trăm giữa độ ẩm tuyệt đối ở một thời điểm nào đó so với độ ẩm cực đại ứng với cùng nhiệt độ Về mặt vệ sinh người ta thường sử dụng độ ẩm tương đối để biểu thị mức độ ẩm cao hay thấp Độ ẩm là nhân tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến sức khỏe của công nhân Điều
lệ vệ sinh quy định độ ẩm tương đối nơi sản xuất nên trong khoảng 75-85% Khi
độ ẩm quá cao, lượng oxy mà cơ thể hút vào phổi bị giảm do hàm lượng hơi nước trong không khí tăng, làm cho cơ thể thiếu oxy, sinh ra uể oải, phản xạ chậm, dễ gây tai nạn Khi độ ẩm cao còn làm tăng sự đọng nước, làm cho việc đi lại trên nền xi măng bị trơn, dễ ngã Độ ẩm cao còn tăng khả năng truyền dẫn điện, dễ chạm mát đối với mạch điện của các máy điện và truyền điện vào môi trường ẩm, gây ra tai nạn điện giật Khi độ ẩm quá cao có thể bố trí hệ thống thông gió với lượng không khí khô thích hợp để điều chỉnh độ ẩm Khi độ ẩm thấp, không khí hanh khô, da khô nẻ, nhất là những người tiếp xúc với dầu mỡ, lớp mỡ trên da bị dầu mỡ hòa tan càng làm mặt da khô cứng, càng dễ bị khô nứt Các vết nứt nẻ trên da làm cho chân tay bị đau đớn, giảm độ linh hoạt và đó cũng
là nguyên nhân xảy ra các TNLĐ
d Vận tốc chuyển động của không khí V(m/s)
Theo tiêu chuẩn vệ sinh quy định vận tốc chuyển động của không khí V ≤
Trang 32giá tác dụng tổng hợp các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm và vận tốc gió của môi trường không khí đối với cảm giác nhiệt của cơ thể con người Nhiệt độ hiệu quả tương đương (thqtđ) của không khí có nhiệt độ, độ ẩm ϕ và vận tốc của không khí V là nhiệt độ của không khí bão hoà hơi nước có ϕ = 100% và không có gió (V = 0)
mà gây ra cảm giác nhiệt giống như cảm giác gây ra bởi không khí với t, ϕ, V đã cho Với trị số tk >36,50C thì cơ thể người không phải ở trường hợp mất nhiệt nữa mà thu nhiệt từ môi trường, lúc đó nếu vận tốc chuyển động của không khí càng lớn thì con người cảm thấy nóng bức bởi vì trao đổi nhiệt đối lưu sẽ tăng khi độ ẩm tăng Đối với người Việt Nam có thể lấy vùng ôn hòa dễ chịu về mùa
hè thqtđ = 23¸270C và mùa đông thqtđ = 20¸250C trong đó dễ chịu nhất là 250C
về mùa hè và 230C về mùa đông
Ảnh hưởng của vi khí hậu nóng: Thân nhiệt của người có nhiệt độ không đổi trong khoảng 370C ± 0,50C là nhờ hai quá trình điều nhiệt do trung tâm chỉ huy điều nhiệt điều khiển Để duy trì cân bằng thân nhiệt trong điều kiện vi khí hậu nóng, cơ thể thải nhiệt thừa bằng cách tiết mồ hôi Chuyển 1 lít máu từ nội tạng ra ngoài da thải được khoảng 2,5 kcal và nhiệt độ hạ được 30C, một lít mồ hôi bay hơi hoàn toàn thải được 580 kcal Còn trong điều kiện vi khí hậu lạnh, cơ thể tăng cường quá trình sinh nhiệt và hạn chế quá trình thải nhiệt để duy trì sự cân bằng nhiệt
- Điều nhiệt hoá học là quá trình biến đổi sinh nhiệt do sự ôxy hoá các chất dinh dưỡng Biến đổi chuyển hoá thay đổi theo nhiệt độ không khí bên ngoài
và trạng thái lao động hay nghỉ ngơi của cơ thể Quá trình chuyển hoá tăng khi nhiệt độ bên ngoài thấp và lao động nặng, ngược lại quá trình giảm khi nhiệt độ môi trường cao và cơ thể ở trạng thái nghỉ ngơi
- Điều nhiệt lý học là tất cả các quá trình biến đổi thải nhiệt của cơ thể gồm truyền nhiệt, đối lưu, bức xạ và bay mồ hôi Thải nhiệt bằng truyền nhiệt là hình thức mất nhiệt của cơ thể khi nhiệt độ của không khí và các vật thể mà ta tiếp xúc có nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ của da Cơ thể của người cũng như các vật thể xung quanh có thể sinh ra bức xạ nhiệt Trường hợp da người có nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ của các vật thể xung quanh thì người ta sẽ nhận bức xạ và ngược lại Khi nhiệt độ không khí lớn hơn 340C (lớn hơn nhiệt độ da) cơ thể sẽ thải nhiệt bằng bay hơi mồ hôi Nhiệt độ không khí và sự lưu chuyển không khí quyết định
sự trao đổi nhiệt bằng đối lưu, bề mặt các vật rắn như tường, trần, sàn nhà, máy,
Trang 33thiết bị tạo ra sự trao đổi nhiệt bằng bức xạ, độ ẩm không khí và nhiệt độ tạo ra
sự trao đổi nhiệt bằng bay hơi mồ hôi
Biến đổi về sinh lý: Nhiệt độ da (đặc biệt là da trán) rất nhạy cảm với nhiệt độ không khí bên ngoài Thân nhiệt (ở dưới lưỡi) nếu thấy tăng thêm 0,3 -
10C là cơ thể có sự tích nhiệt Thân nhiệt ở 38,50C được coi là nhiệt báo động nguy hiểm (như chứng say nóng)
Bảng 2.2.Biến đổi về cảm giác nhiệt da trán
Nguồn: Dương Quốc Dũng (2013)
Chuyển hoá nước: Hàng ngày, cơ thể có sự cân bằng giữa lượng nước uống vào và thải ra Uống vào 2,5 - 3 lít nước và thải ra 1,5 lít qua thận, 0,2 lít qua phân, lượng còn lại theo hơi thở và mồ hôi ra ngoài Làm việc trong điều kiện nóng bức, lượng mồ hôi tiết ra có khi từ 5 - 7 lít trong một ca làm việc, trong
đó mất đi một lượng muối ăn khoảng 20 gram, một số muối khoáng gồm các ion
Na, K, Ca, Fe, I và một số sinh tố C, B1, PP Do mất nhiều nước, tỷ trọng máu tăng lên, tim phải làm việc nhiều để thải lượng nhiệt thừa của cơ thể Vì thế, nước qua thận còn 10 - 15% so với mức bình thường, nên chức phận thận bị ảnh hưởng Mặt khác, do phải uống nước bổ sung nên dịch vị loãng ra, làm mất cảm giác thèm ăn và ăn mất ngon, chức năng thần kinh bị ảnh hưởng, phản xạ giảm,
dễ xảy ra tai nạn
Ảnh hưởng của vi khí hậu lạnh: Lạnh làm cho cơ thể mất nhiều nhiệt, nhịp tim, nhịp thở giảm và tiêu thụ oxy tăng Lạnh làm cho các cơ co lại gây hiện tượng nổi da gà, mạch máu co thắt sinh cảm giác tê cóng chân tay Vi khí hậu lạnh dễ sinh ra các bệnh viêm khớp, viêm phế quản, hen
Ảnh hưởng của bức xạ nhiệt: Trong các phân xưởng nóng, các dòng bức
xạ nhiệt chủ yếu là các tia hồng ngoại có bước sóng λ = 10µm Khi hấp thụ tia này toả nhiệt, bức xạ nhiệt phụ thuộc vào độ dài bước sóng, cường độ bức xạ, thời gian chiếu xạ, diện tích bề mặt bị chiếu, vùng bị chiếu, gián đoạn hay liên tục Các tia hồng ngoại vùng ánh sáng thấy được và các tia hồng ngoại có bước sóng đến 1,5 µm có khả năng thấm sâu vào cơ thể, ít bị da hấp thụ Vì thế, lúc
Trang 34hộp sọ nung nóng màng não và các tổ chức Những tia bức xạ có bước sóng 3 µm gây bỏng da mạnh nhất Tia hồng ngoại còn gây ra giảm thị lực mắt, đau mắt Tia tử ngoại có 3 loại:
+ Loại A có bước sóng từ 400 - 315 nm
+ Loại B có bước sóng từ 315 - 280 nm
+ Loại C có bước sóng nhỏ hơn 280 nm
Tia tử ngoại A xuất hiện ở nhiệt độ cao hơn, thường có trong tia lửa hàn, đèn dây tóc, đèn huỳnh quang; tia tử ngoại B thường xuất hiện trong các đèn thuỷ ngân, lò hồ quang Tia tử ngoại gây cảm giác như giảm thị lực, bỏng da, ung thư
da Tia laser cũng gây ra bỏng da, võng mạc
2.4.1.2 Biện pháp phòng chống
a Vi khí hậu nóng
- Tổ chức lao động hợp lý: việc tổ chức lao động dựa trên cơ sở các tiêu chuẩn vệ sinh lao động từ việc lập kế hoạch sản xuất đến tiến trình thực hiện sản xuất
- Quy hoạch nhà xưởng thiết bị theo các tiêu chuẩn vệ sinh lao động
- Hệ thống thông gió, đặc biệt là những phân xưởng toả nhiều nhiệt như phân xưởng đúc hay rèn
- Đổi mới trang thiết bị và công nghệ: ở những nơi làm việc độc hại có thể tăng cường cơ khí hoá và tự động hoá hoặc trang thiết bị thu nhiệt, dùng các biện pháp cách nhiệt tốt, dùng màn chắn nhiệt
- Làm nguội: có thể tạo nên các màng chắn nước trước cửa lò luyện gang,
để có thể hấp thụ 80 - 90% năng lượng bức xạ, hoặc phun nước với cỡ hạt 50 -60
µm đảm bảo độ ẩm 13 - 14g/m3, hoặc thay đổi vận tốc gió để tản nhiệt tốt
- Trang bị phòng hộ cá nhân tốt: điều cần lưu ý là các trang bị phòng hộ cá nhân phải có tính năng sử dụng cao
- Chế độ uống cho người lao động cần được lưu ý, cần cho công nhân uống nước có pha thêm các loại muối khoáng như K, Na, Ca, P và các vitamin
B, C hoặc dùng các loại nước uống thảo mộc
b Vi khí hậu lạnh
Người lao động phải mặc đủ ấm để phòng mất nhiệt, cần chú ý đến chế độ
Trang 35ăn phải đảm bảo đủ năng lượng tiêu hao trong lao động với điều kiện vi khí hậu lạnh như tăng lượng dầu mỡ trong khẩu phần ăn
2.4.2 Tiếng ồn
Tiếng ồn là tập hợp các âm thanh có cường độ và tần số khác nhau gây cảm giác khó chịu cho con người trong điều kiện làm việc cũng như nghỉ ngơi
- Các thông số chính của tiếng ồn:
+ Tần số (Hz): Là số dao động của sóng âm trong một đơn vị thời gian và đặc trưng cho độ trầm hay bổng của âm thanh Tần số thấp âm trầm, tần số cao âm bổng
+ Cường độ tiếng ồn (dB): Đặc trưng cho độ mạnh hay yếu của âm thanh Cường độ càng lớn nghe càng rõ, cường độ càng nhỏ nghe càng bé Cường độ phụ thuộc vào mức áp suất âm đơn vị là dB Thang đo cường độ ồn có mức áp suất âm từ 0 - 130dB Mức áp suất âm lớn hơn 130dB gây cảm giác chói tai, lớn hơn 140dB có thể gây thủng màng nhĩ
+ Ốcta: Là khoảng tần số mà âm đầu có tần số bằng nửa âm cuối Tần số trung tâm của ốcta là tần số trung bình nhân Trong thực tế đo ồn có phân tích các giải tần số cần đo 8 tần số trung tâm của ốcta từ 63Hz đến 8000Hz
2.4.2.1 Phân loại tiếng ồn
a Theo đặc tính của nguồn ồn
- Tiếng ồn cơ học do chuyển động của các bộ phận máy
- Tiếng ồn do va chạm như quá trình rèn, dập, tán
- Tiếng ồn khí động do hơi chuyển động với tốc độ cao: tiếng động cơ phản lực, tiếng máy nén hút khí
- Tiếng nổ hoặc xung khi động cơ đốt trong hoặc Diesel làm việc
b Theo tần số âm thanh
- Hạ âm có tần số dưới 20Hz (tai người không nghe thấy)
- Âm tai người nghe được có tần số từ 20Hz đến 16kHz
- Siêu âm có tần số trên 20kHz (tai người không nghe thấy)
c Theo dải tần số
- Tiếng ồn tần số cao khi f > 1000Hz
Trang 36- Tiếng ồn tần số trung bình khi f từ 300 - 1000Hz
- Tiếng ồn tần số thấp khi f < 300Hz Trong môi trường lao động có nhiều nguồn ồn (n nguồn), thì mức ồn không phải là tổng số mức ồn từng nguồn Mức
ồn tổng cộng ở một điểm cách đều nhiều nguồn ồn được xác định theo công thức:
Lz = L1 + 10.lgn (dB) Mức ồn tổng cộng được đo theo thang A của máy đo tiếng ồn gọi là mức âm dBA
2.4.2.2 Tác hại của tiếng ồn
a Ảnh hưởng tới cơ quan thính giác
Tai là cơ quan thính giác giúp con người nhận biết được âm thanh xung quanh Tai người cấu tạo gồm 3 phần:
- Tai ngoài gồm vành tai và lỗ tai
- Tai giữa gồm ống xương đã được bao đỡ bởi xương chũm, ở khu vực này gồm bó thần kinh, mạch máu đi qua, âm thanh được phân tích tác động tới màng nhĩ,
- Tai trong bộ phận Corti gồm xương đe, xương búa và bó thần kinh, đây
là cơ quan cảm nhận, phân tích âm và truyền về các trung tâm thần kinh ở não, chỉ đạo các phản xạ có điều kiện được thực hiện Tác hại của tiếng ồn phụ thuộc chủ yếu vào tính chất vật lý do mức ồn quyết định Tiếng ồn phổ liên tục gây khó chịu hơn tiếng ồn phổ không liên tục, tiếng ồn tần số cao gây khó chịu hơn tiếng
ồn tần số thấp, thời gian bị kích thích bởi tiếng ồn càng dài càng có hại Tác động
có hại còn phụ thuộc vào hướng của năng lượng âm tới, thời gian tiếp xúc của người lao động, mức độ nhạy cảm, cơ địa đáp ứng của từng cơ thể, giới tính đối với tác động của tiếng ồn Dưới tác động của tiếng ồn kéo dài, thính lực giảm dần, độ nhạy cảm của thính giác giảm rõ rệt, nếu tác động kéo dài các hiện tượng mệt mỏi thính giác không có khả năng phục hồi và phát triển biến đổi bệnh lý Giai đoạn đầu của bệnh, người lao động bị giảm thính lực, nghe kém đi, nói to hơn Nếu không có biện pháp điều trị tích cực, một thời gian tiếp xúc tiếng ồn kéo dài sẽ gây bệnh điếc nghề nghiệp Với âm tần từ 2000 - 4000Hz, mệt mỏi bắt đầu từ 80dB, 5000 - 6000Hz bắt đầu từ 60dB, ở dải tần số này, khả năng gây bệnh nghề nghiệp cho người lao động là rất cao Diễn biến của bệnh có thể tiến triển theo từng giai đoạn Giai đoạn đầu, có cảm giác đau đầu và ù tai đôi khi có cảm giác chóng mặt và buồn nôn Sau đó, xuất hiện nặng tai, màng nhĩ dày lên
và dây thần kinh thính giác trong cơ quan Corti bị tổn thương Trung tâmthính
Trang 37giác dưới não điều hoà dinh dưỡng của tai rối loạn Thậm chí có thể nhận biết các tổn thương thực thể bằng đo thính lực và phát hiện tổn thương ở xương đe, xương búa như: mẻ, vỡ xương, khuyết xương Tiếng ồn gây điếc nghề nghiệp ở tai trong, đối xứng và không hồi phục, giảm ngưỡng nghe vĩnh viễn và có đặc điểm giảm thính lực rõ rệt ở tần số 4000Hz
b Ảnh hưởng tới các cơ quan khác
- Tiếng ồn cường độ cao và trung bình kích thích mạnh hệ thần kinh trung ương, gây rối loạn nhịp tim Tiếp xúc trực tiếp và lâu dài với tiếng ồn có thể gây bệnh cao huyết áp và các bệnh tim mạch khác
- Tiếng ồn làm rối loạn chức năng bình thường của dạ dày, giảm dịch
vị, giảm độ toan ảnh hưởng tới độ co bóp của dạ dày Tác động này có thể làm rối loạn tiêu hoá, giảm hấp thu dinh dưỡng thậm chí lâu dài có thể gây viêm loét dạ dày
- Tiếng ồn che lấp các tín hiệu âm thanh giảm độ tập trung, giảm năng suất lao động Tiếng ồn cao làm độ rõ của tiếng nói giảm Cụ thể, cường độ ồn trên 70dB, tiếng nói nghe không rõ, đặc biệt đối với các lao động trí óc ảnh hưởng tiếng ồn làm chất lượng công việc giảm đi rõ rệt
Theo tiêu chuẩn vệ sinh cho phép, mức âm liên tục hoặc mức tương đương tại nơi làm việc không quá 85dBA trong 8 giờ Thời gian làm việc trong môi trường lao động có cường độ tiếng ồn cao ít thì mức âm cho phép tiếp xúc có thể cao hơn nhưng phải qui định ngưỡng Nếu thời gian tiếp xúc với tiếng ồn giảm 1/2 thì mức ồn tiếp xúc cho phép tăng thêm 5dB
Bảng2.3 Thời gian tiếp xúc với mức âm tương đương
Nguồn: Dương Quốc Dũng (2013)
Trang 38có thể gây nên điếc đột ngột, điếc cả hai tai và không hồi phục
- Thời gian còn lại trong ngày chỉ được tiếp xúc với tiếng ồn dưới 66 - 80dBA Lưu ý rằng độ giảm thính lực tỷ lệ thuận với thời gian làm việc.Tiếp xúc trực tiếp với tiếng ồn, mức độ ồn càng cao mức độ giảm thính lực càng nhanh
c Biện pháp phòng chống
Phòng chống tác hại tiếng ồn trong môi trường lao động là công việc khó khăn phụ thuộc nhiều vào qui trình công nghệ, khả năng kinh tế của doanh nghiệp Để giảm thiểu tiếng ồn cải thiện điều kiện lao động có thể thực hiện một
số giải pháp sau:
- Tuân thủ các qui định bảo dưỡng định kỳ máy móc, công nghệ luôn đảm bảo thiết bị còn hoạt động tốt, đảm bảo an toàn và phát sinh tiếng ồn cường độ nhỏ nhất khi vận hành
- Cách ly bao kín các nguồn ồn bằng vật liệu kết cấu hút âm, cách âm phù hợp, sử dụng các kết cấu tấm, buồng tiêu âm hiệu quả Các loại vật liệu về nhà xưởng được lựa chọn phù hợp nhằm giảm tiếng ồn Chủ yếu áp dụng các nguyên tắc hút âm và cách âm Sự phản xạ và hút năng lượng âm phụ thuộc vào tần số và góc tới của sóng âm, vào tính chất vật lý của kết cấu phân cách như độ rỗng, độ cứng, bề dày… Vật liệu hút âm được phân thành 4 loại:
âm của kết cấu đó càng tốt bấy nhiêu Để cách âm thông thường người ta làm vỏ bọc cho động cơ, máy nén và các thiết bị công nghiệp khác Vật liệu làm vỏ cách
âm thường là bằng kim loại, gỗ, chất dẻo, kính và các vật liệu khác Để giảm dao động truyền từ máy vào vỏ bọc, liên kết giữa chúng không làm cứng, thậm chí làm vỏ hai lớp giữa là không khí
- Áp dụng các biện pháp qui hoạch, xây dựng nhà xưởng chống tiếng ồn,
bố trí khoảng cách hợp lý giữa các xưởng, trồng cây xanh, chọn hướng gió hợp lý tránh phát tán, ảnh hưởng của tiếng ồn giữa các xưởng sản xuất với nhau
Trang 39- Áp dụng các biện pháp giảm thiểu tiếng ồn tại nguồn Hiện đại hoá sử dụng thiết bị phát ra tiếng ồn cường độ nhỏ, hoàn chỉnh các qui trình công nghệ
sử dụng kỹ thuật tự động hoá, điều khiển từ xa giảm thiểu thời gian tiếp xúc tiếng
ồn với người lao động
- Bố trí hợp lý thời gian làm việc ở các phân xưởng có nguồn ồn cường độ lớn và hạn chế người lao động tiếp xúc với tiếng ồn, giảm thiểu ảnh hưởng có hại của tiếng ồn tới người lao động
- Sử dụng hợp lý các phương tiện bảo vệ cá nhân chống tiếng ồn như: nút tai, bao tai chống tiếng ồn có hiệu quả, yêu cầu bắt buộc phải sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân đối với người lao động ở các phân xưởng có cường độ tiếng ồn vượt quá tiêu chuẩn vệ sinh cho phép Bịt tai làm bằng chất dẻo, có hình dáng cố định dùng để cho vào lỗ tai, có tác dụng hạ thấp mức âm ở tần số 125 - 500 Hz, mức hạ âm là 10dB, ở tần số 2000Hz là 24dB và ở tần số 4000Hz là 29dB Che tai có tác dụng tốt hơn nút bịt tai Thường dùng cho công nhân gò, mài và công nhân ngành hàng không Bao
ốp tai dùng trong trường hợp tiếng ồn lớn hơn 120dB Bao ốp tai có thể che kín cả tai và phần xương sọ quanh tai
- Khám sức khoẻ định kỳ, xác định biểu đồ thính lực cho công nhân để kịp thời phát hiện mức giảm thính lực và xử lý, chuyển đổi công việc, điều trị bệnh… 2.4.3 Bụi và ảnh hưởng của bụi
Bụi là tập hợp của nhiều hạt có kích thước lớn nhỏ khác nhau tồn tại lâu trong không khí dưới dạng bụi bay hay bụi lắng, hơi khói mù Bụi bay nằm lơ lửng trong không khí
2.4.3.1 Phân loại bụi
- Theo nguồn gốc: như bụi hữu cơ từ lụa, len, dạ, tóc bụi vô cơ như bụi kim loại, amiăng, bụi vôi bụi nhân tạo từ nhựa hoá học, cao su
- Theo kích thước hạt bụi: hạt bụi có kích thước nhỏ hơn 10µm gọi là bụi bay, hạt bụi có kích thước lớn hơn 10µm gọi là bụi lắng, hạt bụi có kích thước từ 0,1 - 10µm gọi là mù, hạt bụi có kích thước từ 0,001 - 0,1 µm gọi là khói
Hạt bụi có kích thước lớn hơn 50µm chỉ bám ở lỗ mũi mà không gây tác hại cho phổi, hạt bụi từ 10 - 50µm vào sâu hơn, nhưng vào phổi không đáng kể, các hạt bụi có kích thước nhỏ hơn 10µm có tác hại nhiều nhất đối với phổi
Trang 40- Theo tác hại của bụi: Bụi gây nhiễm độc (Pb, Hg, benzen ), bụi gây
dị ứng, viêm mũi, hen, viêm họng như: bụi bông, gai, len, phân hoá học, bụi
gỗ, bụi gây ung thư như nhựa đường, phóng xạ, các hợp chất brôm, bụi gây nhiễm trùng như: bụi lông, bụi xương, một số bụi kim loại , bụi gây xơ phổi như: bụi silic, amiăng
2.4.3.2 Tính chất của bụi
- Độ phân tán của bụi: Là trạng thái của bụi trong không khí, phụ thuộc vào kích thước, trọng lượng hạt bụi vào sức cản của không khí Với hạt bụi có kích thước nhỏ hơn 0,1µm thì có chuyển động Brao trong không khí
- Sự nhiễm điện của bụi: Dưới tác động của một điện trường mạnh các hạt bụi sẽ bị nhiễm điện và sẽ bị cực của điện trường hút với những vận tốc khác nhau phụ thuộc vào kích thước hạt bụi Tính chất này của bụi được ứng dụng để lọc bụi bằng điện
- Tính lắng trầm nhiệt của bụi: Cho một luồng khói bụi đi qua một ống dẫn từ vùng nóng chuyển sang vùng lạnh hơn, phần lớn khói bị lắng trên bề mặt ống lạnh, hiện tượng này là do các phần tử khí giảm vận tốc từ vùng nóng sang vùng lạnh Sự lắng trầm của bụi được ứng dụng để lọc bụi
2.4.3.3 Tác hại của bụi
Đối với da và niêm mạc: Bụi bám vào da làm sưng lỗ chân lông dẫn đến bệnh viêm da, còn bám vào niêm mạc gây ra viêm niêm mạc Đặc biệt có 1 số loại bụi như len dạ, nhựa đường còn có thể gây dị ứng da Đối với mắt: Bụi bám vào mắt gây ra các bệnh về mắt như viêm màng tiếp hợp, viêm giác mạc Nếu bụi nhiễm siêu vi trùng mắt hột sẽ gây bệnh mắt hột Bụi kim loại có cạnh sắc nhọn khi bám vào mắt làm xâyxát hoặc thủng giác mạc, làm giảm thị lực của mắt Nếu
là bụi vôi khi bắn vào mắt gây bỏng mắt Đối với tai: Bụi bám vào các ống tai gây viêm, nếu vào ống tai nhiều quá làm tắc ống tai Đối với bộ máy tiêu hoá: Bụi vào miệng gây viêm lợi và sâu răng Các loại bụi hạt to nếu sắc nhọn gây ra xây xát niêm mạc dạ dày, viêm loét hoặc gây rối loạn tiêu hoá Đối với bộ máy
hô hấp: Vì bụi thường bay lơ lững trong không khí nên tác hại lên đường hô hấp
là chủ yếu Bụi trong không khí càng nhiều thì bụi vào trong phổi càng nhiều.Bụi
có thể gây ra viêm mũi, viêm khí phế quản, gây ra các loại bệnh bụi phổi như bệnh bụi silic (bụi cóchứa SiO2 trong vôi, ximăng, ), bệnh bụi than (bụi than), bệnh bụi nhôm (bụi nhôm) Đối với toàn thân: Nếu bị nhiễm các loại bụi độc như