1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn lòng chi trả của khách hàng đối với dịch vụ huấn luyện thú cưng tại tiền giang

91 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 5,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH--- ∞0∞--- PHẠM MINH TRỌNG NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ SẴN LÒNG CHI TRẢ CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ HUẤN LUY

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- ∞0∞ -

PHẠM MINH TRỌNG

NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ SẴN LÒNG CHI TRẢ CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ HUẤN LUYỆN THÚ CƯNG

TẠI TIỀN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- ∞0∞ -

PHẠM MINH TRỌNG

NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ SẴN LÒNG CHI TRẢ CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ HUẤN LUYỆN THÚ CƯNG

TẠI TIỀN GIANG

Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh

Mã số chuyên ngành: 60340102

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH Giảng viên hướng dẫn: TS NGUYỄN THANH NGUYÊN

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độclập – Tự do – Hạnhphúc

GIẤY XÁC NHẬN

Tôi tên là: Phạm Minh Trọng

Ngày sinh: 20/02/1984 Nơi sinh: Cai Lậy, Tiền Giang

Chuyên ngành: Quản Trị Kinh Doanh Mã học viên: 1683401020058

Tôi đồng ý cung cấp toàn văn thông tin luận văn tốt nghiệp hợp lệ về bản quyền cho Thư viện trường đại học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh Thư viện trường đại học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh sẽ kết nối toàn văn thông tin luận văn tốt nghiệp vào hệ thống thông tin khoa học của sở khoa học và công nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh

Ký tên

Phạm Minh Trọng

Trang 4

.w ceNG HoA xA Her crru NcHia vrET NAM

D6c Iip - Tu do - Hanh phric

,,

y titin oiua giSo vi6n hucmg d6n v€ viQc cho ph6p hoc vi6n.

dugc b6o vQ lufln v5n trudc HQi d6ng:

,| ^ O- I ^ \ r_,D \ 1 A

J-rd* \eJh- ff-.4.1- rKL cA*: .fri !xh$

^) _{J

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn lòng chi trả của khách hàng đối với dịch vụ huấn luyện thú cưng tại Tiền Giang”

là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thanh Nguyên

Các số liệu trong đề tài này được thu thập và sử dụng một cách hoàn toàn trung thực Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này không sao chép của bất cứ luận văn nào và cũng chưa được trình bày hay công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu nào khác trước đây

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về pháp lí trong quá trình nghiên cứu khoa học của luận văn này

Tác giả

Phạm Minh Trọng

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô trường Đại học Mở TP

Hồ Chí Minh đã trang bị cho tôi kiến thức và truyền đạt cho tôi những kinh nghiệm quý báu làm nền tảng cho việc thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Thanh Nguyên đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo để tôi có thể hoàn thành luận văn cao học này

Cuối cùng Tôi gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình, những người thân đã luôn tin tưởng, động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi học tập

Tác giả

Phạm Minh Trọng

Trang 7

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Với đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn

lòng chi trả của khách hàng đối với dịch vụ huấn luyện thú cưng tại Tiền Giang” Luận văn đã đạt được những mục tiêu sau:

(i) Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của khách hàng đối với dịch vụ huấn luyện thú cưng tại Tiền Giang

(ii) Lượng hóa mức tác động của các nhân tố đến mức sẵn lòng chi trả của người tiêu dùng đối với dịch vụ huấn luyện thú cưng tại Tiền Giang

(iii) Dựa vào kết quả phân tích và kiểm định, tác giả đề xuất các giải pháp

và kiến nghị nhằm phát triển dịch vụ huấn luyện thú cưng tại Tiền Giang

Luận văn xử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng Tác giả sử dụng phần mềm Stata 13.0 để ước lượng mô hình hồi quy kiểm duyệt Tobit và sử dụng phần mềm SPSS 23.0 để nhập và thống kê mô tả dữ liệu khảo sát

Kết quả nghiên cứu đã tìm được 10 biến độc lập có ảnh hưởng đến sự sẵn lòng chi trả của khách hàng đối với dịch vụ huấn luyện thú cưng tại Tiền Giang là: Giới tính; Tuổi; Học vấn; Thu nhập; Tình trạng hôn nhân; Số thành viên; Cân nặng; Giống chó; Năng lực tài chính; Tăng tuổi

Với kết quả ước lượng mô hình Tobit cho thấy về kiểm duyệt dữ liệu Theo đó, trong 200 quan sát thì có 13 quan sát bị kiểm duyệt trái khi sự sẵn lòng chi trả (MCT) nhỏ hơn hoặc bằng 1 triệu đồng/tháng và chỉ có 2 quan sát không

bị kiểm duyệt phải khi sự sẵn lòng chi trả (MCT) lớn hơn hoặc bằng 5 triệu đồng/tháng Do đó, tổng cộng có 185 quan sát không bị kiểm duyệt trong số 200 quan sát của tập dữ liệu Căn cứ vào kết quả nghiên cứu tác giả đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm gia tăng sự sẵn lòng chi trả của khách hàng đối với dịch vụ huấn luyện thú cưng tại Tiền Giang

Từ khóa: Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn lòng chi trả; sẵn lòng chi trả;

Dịch vụ huấn luyện thú cưng; Dịch vụ huấn luyện thú cưng tại Tiền Giang

Trang 8

ABSTRACT

With the research topic: "Studying factors affecting customers' willingness to

pay for pet training services in Tien Giang" The thesis has achieved the

The research results have found 10 independent variables that affect customers' willingness to pay for pet training services in Tien Giang: Sex; Year old; Education; Income; Marital status; Number of member; Weight; Dog breeds; Financial capacity; Increasing age

With the Tobit model estimation results show about data censorship Accordingly, of the 200 observations, 13 were censored left when the willingness

to pay (MCT) was less than or equal to 1 million VND / month and only 2 observations were uncensored right when the willingness to pay Pay (MCT) is greater than or equal to 5 million VND / month Therefore, a total of 185 uncensored observations out of 200 observations of the dataset Based on the research results, the author proposes some administrative implications to increase the willingness of customers to pay for pet training services in Tien Giang

Keywords: Factors affecting willingness to pay; willing to pay; Pet

training service; Pet training service in Tien Giang

Trang 9

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT LUẬN VĂN iii

ABSTRACT iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC BẢNG BIỂU ix

DANH MỤC HÌNH ẢNH x

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU x

1.1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

1.5 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 3

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 4

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

2.1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHO NGHIÊN CỨU 5

2.1.1 Khái niệm về Thú cưng 5

2.1.2 Mức sẵn lòng chi trả (Willingness to pay –WTP) 5

2.1.2.1 Khái niệm mức sẵn lòng chi trả 7

2.1.2.2 Các phương pháp đánh giá mức sẵn lòng chi trả 7

2.1.3 Các loại thú cưng tại Tiền Giang 9

2.1.4 Phương pháp định giá ngẫu nhiên 9

2.1.4.1 Nội dung của phương pháp 9

2.1.4.2 Các bước thực hiện CVM 12

2.1.4.3 Phương pháp hỏi giá sẵn lòng trả 13

2.2 KHẢO LƯỢC CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 14

2.2.1 Các nghiên cứu trong nước 14

2.2.2 Các nghiên cứu nước ngoài 18

Trang 10

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 22

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 24

3.2 MÔ HÌNH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 25

3.2.1 Mô hình hồi quy 25

3.2.2 Giả thuyết nghiên cứu 25

3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

3.3.1 Phương pháp định tính 29

3.3.1.1.Mục tiêu nghiên cứu định tính 29

3.3.1.2 Kết quả nghiên cứu định tính 30

3.3.2 Phương pháp định lượng 31

3.3.2.1 Thiết kế mẫu 31

3.3.2.2 Thu thập dữ liệu mẫu điều tra 31

3.3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 32

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 32

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33

4.1 THÔNG KÊ MÔ TẢ CÁC BIẾN SỐ TRONG MÔ HÌNH HỒI QUY TOBIT 33

4.1.1 Cơ cấu mẫu theo giới tính 36

4.1.2 Cơ cấu mẫu theo độ tuổi 36

4.1.3 Cơ cấu mẫu theo trình độ học vấn 37

4.1.4 Cơ cấu mẫu theo thu nhập 38

4.1.5 Cơ cấu mẫu theo số thành viên trong hộ gia đình 38

4.1.6 Cơ cấu mẫu theo cân nặng của thú cưng 39

4.1.7 Cơ cấu mẫu theo giống chó 40

4.1.8 Cơ cấu mẫu theo năng lực tài chính 40

4.1.9 Cơ cấu mẫu theo mức sẵn sàng chi trả cho dịch vụ huấn luyện thú cưng 41

4.2 HỒI QUY TOBIT 42

4.2.1 Ma trận tương quan 43

4.2.2 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy Tobit 45

Trang 11

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 48

CHƯƠNG 5 49

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49

5.1 KẾT LUẬN 49

5.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 50

5.3 HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 52

TÓM TẮT CHƯƠNG 5 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 12

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1 CVM Phương pháp định giá ngẫu nhiên Customer value maximization

Trang 13

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Giả thuyết nghiên cứu 28 Bảng 4.1: Chỉ tiêu thống kê trung bình các biến trong mô hình hồi quy Tobit 33 Bảng 4.2: Đặc điểm mẫu nghiên cứu 35 Bảng 4.3 Kết quả hồi quy tobit 42 Bảng 4.4 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến 44 Bảng 4.5 Bảng ước lượng Tobit về sự sẵn lòng chi trả của khách hàng đối với các dịch vụ huấn luyện thú cưng 46

Trang 14

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 2.1 Các phương pháp hỏi chính trong phương pháp định giá ngẫu nhiên13

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu của tác giả 24

Biểu đồ 4.1 Cơ cấu mẫu theo giới tính 36

Biểu đồ 4.2: Cơ cấu mẫu theo độ tuổi 37

Biểu đồ 4.3: Cơ cấu mẫu theo trình độ học vấn 37

Biểu đồ 4.4: Cơ cấu mẫu theo thu nhập 38

Biểu đồ 4.5: Cơ cấu mẫu theo số thành viên trong hộ gia đình 39

Biểu đồ 4.6: Cơ cấu mẫu theo cân nặng của thú cưng 39

Biểu đồ 4.7: Cơ cấu mẫu theo giống chó 40

Biểu đồ 4.8: Cơ cấu mẫu theo năng lực tài chính 41

Biểu đồ 4.9: Cơ cấu mẫu theo mức sẵn chi trả cho DV huấn luyện thú cưng 41

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Cuộc sống ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng gia tăng Theo đó, các loại thú nuôi được các chủ nhân của nó ngày càng quan tâm đến việc chăm sóc về vấn đề sức khỏe, dinh dưỡng cũng như huấn luyện đào tào các loại thú đó Đáp ứng nhu cầu làm thân với những "người bạn bốn chân", ngành công nghiệp thú cưng ở các nước cũng bắt đầu phát triển Tại Mỹ cũng như các nước châu Âu với tỷ lệ sinh đẻ thấp, vật nuôi đã và đang ngày một phổ biến Theo số liệu từ American Pet Products Association, có đến 68% hộ gia đình

sở hữu thú cưng tại Mỹ trong năm 2016

Ở Nhật Bản, từ năm 2003, lượng thú cưng thậm chí đã vượt hơn số trẻ em dưới 16 tuổi tại đất nước này Hàn Quốc, tính đến cuối năm 2015, đã có hơn 10 triệu người sở hữu thú cưng Còn tại Trung Quốc, năm nay, số lượng chó cảnh cũng tăng đến 27,4 triệu con, đứng thứ ba trên thế giới sau Mỹ và Brazil

Với số liệu nghiên cứu thị trường của IDTechEx, (2019) thì thị trường đồ dùng dành cho thú cưng sẽ đạt mức 2,6 tỷ USD Riêng tại nước Mỹ năm 2015 tổng chi phí mà người tiêu dùng chi tiêu dành cho thú cưng, vật nuôi đạt tới hơn

100 tỷ USD Tại Hàn Quốc chi tiêu dành cho thú cưng, vật nuôi đạt 3 tỷ USD, dự kiến đến năm 2020 chi tiêu dành cho thú cưng, vật nuôi đạt tại nước này sẽ đạt 5

tỷ USD Tại Trung Quốc chi tiêu dành cho thú cưng, vật nuôi đạt 14,2 tỷ USD trong năm 2015 Theo kết quả nghiên cứu của Euromonitor International, (2019)

thì: “Thị trường Đông Nam Á xếp tiếp theo với giá trị đạt 1 tỷ USD, thị trường châu Á - Thái Bình Dương đạt mức tăng trưởng chậm nhưng ổn định trong nhiều năm qua”

Theo số liệu của Statista, doanh thu thị trường thức ăn thú cưng tại Việt Nam có tốc độ tăng trưởng hằng năm 7,3% (CAGR 2019-2023) Nhiều nhà sản xuất thức ăn thú cưng nước ngoài như InVivo NSA, Smart Heart, Royal Canin đang tập trung vào việc xây dựng hệ thống phân phối thức ăn vật nuôi tại Việt Nam

Tại Việt Nam trong những năm qua cũng đã chứng kiến các mô hình kinh doanh dịch vụ huấn luyện thú cưng tại các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ

Trang 16

Chí Minh Riêng đối với Tiền Giang, địa phương thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long thì cũng đã có những thay đổi khá lớn trong thu nhập của người dân và các dịch vụ như huấn luyện thú cưng ngày càng được quan tâm Theo đánh giá của Công ty Euromonitor (2019) tại thị trường Tiền Giang Trung bình 1 lần đi spa, 3 chú chó giống Toy Poodle là Shushi, Pizza, Angels của khách hàng tốn khoảng 1-1,5 triệu đồng tiền phí dịch vụ Giá chăm sóc cún thường dao động từ 250.000-500.000 đồng, tùy vào cân nặng, định kỳ 2 tháng lại đi spa một lần Tại Tiền

Giang nhiều gia đình nhỏ hoặc những bạn trẻ độc thân chọn cách nuôi một chú

cún hoặc một chú mèo con để bầu bạn Vì thế, dịch vụ dành cho thú cưng cũng ngày càng đa dạng và phong phú như chăm sóc làm đẹp, khám và trị bệnh, phối giống, giữ cún, bán thức ăn và vật dụng chăm sóc cún Tuy nhiên, dịch vụ dành cho thú cưng vẫn là mảnh đất màu mỡ Thấy được tiềm năng của thị trường dịch

vụ thú cưng tại Việt Nam, vấn đề cần phân tích đánh giá là việc định giá các sản phẩm, dịch vụ này sao cho hợp lý để thu hút ngày càng nhiều người chủ có nhu cầu đến với dịch vụ cũng như đảm bảo yêu cầu cầu chi trả của chủ nhân thú cưng

Chính vì những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Nghiên cứu các yếu tố

ảnh hưởng đến sự sẵn lòng chi trả của khách hàng đối với dịch vụ huấn luyện thú cưng tại Tiền Giang” để làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của khách hàng đối với dịch vụ huấn luyện thú cưng tại Tiền Giang

- Lượng hóa mức tác động của các nhân tố đến mức sẵn lòng chi trả của người tiêu dùng đối với dịch vụ huấn luyện thú cưng tại Tiền Giang

- Dựa vào kết quả phân tích và kiểm định, tác giả đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển dịch vụ huấn luyện thú cưng tại Tiền Giang

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Để đạt được những mục tiêu đã đề ra, luận văn cần phải trả lời những câu hỏi sau:

- Mức sẵn lòng chi trả của KH đối với dịch vụ huấn luyện thú cưng tại Tiền Giang là bao nhiêu?

Trang 17

- Các nhân tố nào ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của khách hàng đối với dịch vụ huấn luyện thú cưng tại Tiền Giang?

- Các giải pháp và kiến nghị nào nhằm phát triển dịch vụ huấn luyện thú cưng tại Tiền Giang?

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về mức sẵn lòng chi trả của khách hàng đối với dịch vụ huấn luyện thú cưng tại Tiền Giang và các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của khách hàng

Đối tượng khảo sát: Khách hàng đã và đang sử dụng dịch vụ huấn luyện thú cưng tại Tiền Giang

Phạm vi nghiên cứu: Tại các cơ sở huấn luyện chó trên địa bàn tỉnh Tiền Giang

1.5 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài lời cảm ơn, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục thì Luận văn được trình bày thành 5 chương, bao gồm:

Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Chương này tác giả trình bày lý do chọn đề tài; Mục tiêu nghiên cứu; Câu hỏi nghiên cứu; Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn và kết cấu của đề tài

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương này tác giả trình bày cơ sở lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu; Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan tới đề tài làm

cơ sở cho tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương này tác giả trình bày các phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận văn, quy trình nghiên cứu, phương pháp xử lý dữ liệu

Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Tác giả trình bày kết quả nghiên cứu và thực hiện thảo luận kết quả nghiên cứu thông qua phần mềm Stata 13.0 để ước lượng mô hình hồi quy kiểm duyệt Tobit và sử dụng phần mềm SPSS 23.0 để nhập và thống kê mô tả dữ liệu điều tra

Trang 18

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Chương này tác giả đưa ra kết luận; kiến nghị cho luận văn; Trình bày hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu tiếp theo cho các nghiên cứu về sau

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Chương này tác giả trình bày những nội dung liên quan đến: Lý do chọn

đề tài; Mục tiêu nghiên cứu; Câu hỏi nghiên cứu; Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn và kết cấu của đề tài

Trang 19

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHO NGHIÊN CỨU

2.1.1 Khái niệm về Thú cưng

Thú cưng (hay còn gọi là vật cưng hay thú kiểng, thú cảnh) là: “Những loài động vật được nuôi để làm cảnh, ôm ấp, nâng niu chăm sóc của con người trái ngược với động vật dùng để lao động (lấy sức kéo như trâu, bò, lừa, ngựa, chó kéo xe) trong thể thao (chó, bò, ngựa), trong phòng thí nghiệm (chuột bạch, thỏ nhà) hay những loài vật được nuôi để lấy thịt, trứng và các sản phẩm từ chúng” (Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia1)

Thú cưng phổ biến nhất là “chó, mèo và thỏ nhà, con vật nhỏ nhắn mà con người dành nhiều tình cảm hơn Một số loài gặm nhấm như chuột nhảy, chuột đồng, chinchillas, chuột cảnh và chuột lang nhà, vật cưng là gia cầm như chim hoàng yến, chim yến hót, vẹt, vật cưng loài bò sát, chẳng hạn như rùa, thằn lằn và rắn, vật cưng thủy sản chẳng hạn như cá cảnh và ếch và vật cưng động vật chân đốt như nhện và cua, thậm chí có người còn nuôi hổ như là vật cưng”

(Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

Hiện nay thú cưng được coi là vật nuôi quan trọng đối với con người, nó tạo ra niềm vui, sự an ủi cho chủ nhân của nó Ngoài ra, thú cưng còn giúp cho chủ của nó, đặc biệt là những người lớn tuổi, họ ít va chạm, tương tác với xã hội

họ có điều kiện được giải tỏa về tâm lý, cảm xúc và giúp cho họ đỡ buồn hơn trong cuộc sống hàng ngày

2.1.2 Các loại thú cưng tại Tiền Giang

Tại Việt Nam nói chung và tỉnh Tiền Giang nói riêng thì trào lưu nuôi thú cưng (pet) đang nở rộ trong khoảng 10 năm trở lại đây Không chỉ bó buộc trong

2 loại pet truyền thống là chó và mèo, thú cưng hiện nay được bổ sung thêm rất nhiều loại khác nhau, trong đó có cả các giống rất “độc và dị”, thậm chí gây kinh hãi với nhiều người

Trang 20

công nhận bởi FCI (Hiệp hội chó giống quốc tế) và có khoảng hơn 50 giống đang được nuôi ở Việt Nam Ngoài các giống chó Tây đang rất được yêu thích như Poodle, Phốc, Phốc Sóc, Becgie, Pitbull, Bulldog,… dân chơi chó trong nước cũng bắt đầu quay trở lại với các giống chó nội địa quý hiếm như Xoáy Phú Quốc, H’mong cộc đuôi, Bắc Hà, Dingo,…

Giá cả của mỗi chú chó cảnh cũng rất đa dạng, chia thành nhiều mức giá khác nhau Từ vài trăm ngàn đến 1 triệu thường là các giống chó lai Từ 1 triệu –

3 triệu có thể kể đến giống chó Bắc Kinh, Pug, Shar Pei, Chihuahua, Lạp Xưởng, Phốc Hươu Từ 3 – 5 triệu có Becgie, Labrador, Shih Tzu,…

Mèo Cảnh

Với những người có quỹ thời gian eo hẹp thì mèo là sự lựa chọn tốt hơn chó rất nhiều Mèo không cần ra ngoài tập thể dục nhiều, ăn rất ít, sạch sẽ và dễ dạy đi vệ sinh đúng chỗ,… Hầu hết các giống mèo cũng rất nhỏ gọn và thích hợp với các phòng hoặc căn hộ nhỏ ở thành phố Ở Việt Nam các giống mèo Tây rất được ưa chuộng, nổi tiếng nhất có mèo Ba Tư mặt tịt, Exotic (Ba Tư lông ngắn), mèo Anh lông dài (ALD), Anh lông ngắn (ALN), mèo Xiêm, Maine Coon, Ragdoll, mèo Nga, mèo Ankara,…

Dựa vào mục đích nuôi, mèo cảnh cũng được chia ra làm 2 loại phổ biến

là nuôi để nhân giống và nuôi làm pet Những người nuôi làm pet sẽ được triệt sản từ nhỏ và có giá thành rẻ hơn những người nuôi nhân giống Tùy thuộc vào từng giống mèo và mục đích nuôi, giá mỗi con có thể dao động từ 2 – 10 triệu

Thỏ, Hamster và nhím

So với chó mèo, thỏ, hamster và nhím cực kỳ dễ nuôi, chúng rất nhỏ, ăn rất ít và không cần phải tập thể dục Chỉ cần một không gian nhỏ vài m² và vài món đồ chơi xinh xắn người nuôi đã có thể nuôi cả đàn hamster Một đặc điểm khiến những người nuôi thỏ và hamster rất thích là chúng sinh sản rất nhiều, từ 1 cặp hamster ban đầu, sau 1 năm có thể sở hữu đàn lên đến hàng chục hamster

Không giống với chó mèo, thỏ, hamster và nhím hầu hết đều rất rẻ, chỉ từ vài chục – vài trăm ngàn/con, nằm trong khả năng của hầu hết mọi người Nhìn chung nuôi 3 giống này rất dễ, tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng, tuyệt đối tránh

Trang 21

nuôi chung với các giống mèo và các giống chó săn để tránh xảy ra chuyện đáng tiếc

Giá các các giống bò sát rất đa dạng, từ vài chục ngàn cho đến chục triệu

Kỹ thuật nuôi bò sát phức tạp hơn so với các giống thú cảnh khác do đây là sinh vật biến nhiệt, lại là vật nuôi khá mới mẻ ở Việt Nam và gần như không thể huấn luyện

Các loại thú cưng khác

Có một vài loại thú cưng khác được nuôi rất phổ biến trên thế giới nhưng vẫn còn khá xa lạ ở Việt Nam như: ếch, nhện, lợn, chồn, bọ cạp,… Chim và gà cũng được nuôi rất phổ biến tuy nhiên đây được coi là những giống thú cảnh, không phải thú cưng

2.1.2 Mức sẵn lòng chi trả (Willingness to pay –WTP)

2.1.2.1 Khái niệm mức sẵn lòng chi trả

Theo Turner Pearce và Batemen (1995), cho rằng: “Mức sẵn lòng chi trả

đo lường bằng sở thích của một cá nhân riêng lẻ hay xã hội đối với một thứ hàng hóa hay dịch vụ nào đó”

Theo Wedgwood và Sansom (2003), “mức sẵn lòng chi trả là số tiền tối

đa mà một cá nhân, họ sẵn sàng trả cho một hàng hóa hay dịch vụ tốt”

“Mức sẵn lòng chi trả (WTP) thường được định nghĩa là mức giá tối đa một người mua sẵn sàng trả tiền cho một số lượng nhất định của một sản phẩm hoặc dịch vụ” (Wertenbroch và Skiera, 2002)

“Mức sẵn lòng trả tiền là mức giá cao nhất một cá nhân sẵn sàng chấp nhận trả tiền cho một số dịch vụ tốt” (Breidert và Christoph, 2005)

2.1.2.2 Các phương pháp đánh giá mức sẵn lòng chi trả

Trang 22

Hiện nay có nhiều phương pháp khác nhau được thực hiện khi xác định mức sẵn lòng chi trả, một số phương pháp như:

Theo Turner, Pearce và Bateman (1995): “có 02 nhóm phương pháp cơ bản để xác định là: phương pháp đánh giá hàng hóa thông qua đường cầu (cách của Marshall hoặc Hicks) và phương pháp đánh giá hàng hóa không thông qua đường cầu”

- Các phương pháp không thông qua đường cầu: “phương pháp này không thể cung cấp thông tin đánh giá, các đo lường về lợi ích thực nhưng vẫn là công

cụ tìm tòi hữu ích để thẩm định chi phí lợi ích của các dự án sản xuất” Bao gồm các phương pháp:

+ Phương pháp Thay đổi năng suất (Changes in Productivity): “được sử dụng để xác định giá trị kinh tế của sự thay đổi sản lượng Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện vì có thể xác định được trực tiếp giá trị kinh tế, dựa trên các thông tin dễ thu thập và quan sát được về giá và các mức sản lượng trên thị trường Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này gặp phải vấn đề nhất định chẳng hạn như sản lượng, giá trị hàng hóa có thể bị phản ánh sai trong một số tình huống thay đổi hoặc hàng hóa sử dụng đa mục đích cần có sự đánh đổi về giá trị…”

+ Phương pháp Chi phí thay thế (Substitue Cost Method): “được sử dụng

để tính các chi phí để sử dụng biện pháp thay thế hoặc phục hồi để loại bỏ hoặc giảm lược các tác động bất lợi chẳng hạn như tác động của ô nhiễm không khí đối với cơ sở hạ tầng là cầu đường, nhà cửa…Phương pháp này khá đơn giản trong ứng dụng do không phải thực hiện các cuộc điều tra chi tiết nhưng việc xác định các biện pháp thay thế hoặc phục hồi đôi khi rất khó khăn dẫn đến tính toán chi phí không chính xác”

+ Phương pháp chi phí phòng ngừa (Preventive Cost Method): “Để tránh các thiệt hại có thể nhìn thấy trước, các biện pháp phòng ngừa thường được sử dụng với chi phí thấp hơn thiệt hại thực tế xảy ra Chi phí phòng ngừa này được dùng làm cơ sở tính toán chi phí thiệt hại Phương pháp này đơn giản và có chi phí thấp hơn thực tế thiệt hại nhưng chi phí phòng ngừa luôn bị hạn chế bởi thu nhập Chẳng hạn như việc tiêm chủng phòng bệnh, chi phí xây dựng đê điều,…”

Trang 23

+ Phương pháp chi phí y tế (Cost of Illness): “được sử dụng trong trường hợp phát sinh chi phí do sức khỏe con người bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm môi trường Chi phí về dịch vụ y tế chẳng hạn như chi phí khám chữa bệnh, thuốc men, chi phí do năng suất lao động giảm … được tính là chi phí do ô nhiễm môi trường tác động đến sức khỏe con người”

- Phương pháp thông qua đường cầu: “cung cấp các thông tin đánh giá và các đo lường về lợi ích, giá trị thặng dư tiêu dùng” Bao gồm các phương pháp:

+ Phương pháp đo lường mức thỏa dụng (Hedonistic Pricing Method):

“được sử dụng để ước tính giá trị của môi trường ẩn trong giá trị của các hàng hóa, dịch vụ thông thường như giá trị của khung cảnh bờ sông ẩn trong giá bán của mảnh đất ven sông Giá bán của mảnh đất ven sông sẽ cao hơn giá bán của mảnh đất không có khung cảnh bờ sông, mức chênh lệch giữa hai mảnh đất này

là cơ sở để tính giá trị kinh tế của khung cảnh bờ sông”

+ Phương pháp chi phí du lịch (Travel Cost Method): “được sử dụng để đánh giá giá trị giải trí tại các địa điểm có khách tham quan như công viên, khu bảo tồn thiên nhiên, bãi biển…Giá vé vào cửa mà khách tham quan phải bỏ ra khi đến thăm công viên, khu bảo tồn… thường rất rẻ, không phản ánh đúng giá trị giải trí nơi đó nhưng có thể dùng dữ liệu tổng chi phí du lịch khách tham quan phải chi trả để đến khu bảo tồn, công viên… để xem xét Ưu điểm của phương pháp này là dễ được chấp nhận vì dựa trên sự chấp nhận chi trả thực tế của khách tham quan nhưng việc này đòi hỏi phải có điều tra quy mô rộng, phân tích thống

kê phức tạp và vấn đề đa mục đích khi du khách tham quan nhiều địa điểm trong cùng một chuyến đi”

+ Phương pháp định giá ngẫu nhiên (Contigent Valuation Method): “là phương pháp thực hiện khảo sát, đưa tra nhiều câu hỏi về sản phẩm cũng như các đặc điểm kinh tế xã hội, tạo nên tình huống giả định, đề xuất một hoặc nhiều phương án bán sản phẩm với nhiều mức giá khác nhau cho người tiêu dùng lựa chọn Phương pháp này phức tạp và tốn kém hơn, đòi hỏi thực hiện phân tích thống kê phức tạp”

2.1.3 Phương pháp định giá ngẫu nhiên

2.1.3.1 Nội dung của phương pháp

Trang 24

- Phương pháp CVM: “Phương pháp CVM dùng các kỹ thuật phỏng vấn

cá nhân để định giá loại hàng hóa hay dịch vụ môi trường vốn không có thị trường Phương pháp CVM là một hình thức nghiên cứu thị trường, ở đó “sản phẩm” là sự thay đổi trong môi trường CVM khác với nghiên cứu thị trường chung là ở chỗ nó đề cập đến một sự kiện mang tính giả thiết” (Phan Thị Giác Tâm, 2008)

- Phương pháp CVM bao gồm “các cuộc phỏng vấn cá nhân, các cuộc điều tra bằng thư và các cuộc điều tra điện thoại để biết được WTP của người tiêu dùng về các hàng hóa không có trên thị trường dựa trên một kịch bản giả định để đo lường các giá trị liên quan đến các hàng hóa không có mặt trên thị trường như chất lượng nước, săn bắn, sự giải trí, chất lượng không khí và chất thải độc hại Theo Carson và cộng sự (1994), đã có hơn 1.600 nghiên cứu sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên Do đó, các nhà nghiên cứu CVM có một nền tảng vững chắc để nghiên cứu CVM chính xác hơn” (Phan Thị Giác Tâm, 2008)

- Ưu điểm của CVM: “ít tốn chi phí hơn so với phương pháp thử nghiệm thực tế thị trường (Misra và cộng sự, 1991), không cần dựa vào nguồn dữ liệu thứ cấp như các phương pháp khác (Anderson và Bishop 1986, Cummings và cộng

sự, 1986) và CVM có thể áp dụng cho giá trị sử dụng (chất lượng nước, nhìn thấy những động vật hoang dã, hưởng thụ trực tiếp cảnh quan) và những giá trị không

sử dụng (giá trị tồn tại)” (Phan Thị Giác Tâm, 2008)

- Nhược điểm của CVM: “Khi sử dụng phương pháp CVM, kết quả điều tra phụ thuộc vào các điều kiện của thị trường giả định, cách đặt vấn đề của người điều tra, cách chọn mẫu làm cho câu trả lời của các cá nhân không đúng với giá trị thực Theo Turner (1995) có một số trở ngại tiềm ẩn đối với nhà phân tích thiếu thận trọng sẽ làm sai lệch”:

+ Nói ít đi mức sẵn lòng chi trả (WTP): “cho rằng bản chất giả thuyết của phương pháp CVM làm cho câu trả lời của các cá nhân không đúng với sự thật,

có xu hướng nói bớt đi cái giá mà người ta sẽ thực sự trả Tuy vậy phần bớt này tương đối nhỏ nên không phải vấn đề nghiêm trọng”;

Trang 25

+ WTP hay WTA (Mức sẵn lòng chấp nhận): “Bạn sẵn lòng trả bao nhiêu WTP để có dịch vụ chăm sóc thú cưng hoặc bạn sẵn lòng nhận bao nhiêu WTA

để bồi thường cho việc từ bỏ dịch vụ chăm sóc thú cưng này Khi đem so sánh giữa WTP và WTA bao giờ WTA cũng cao hơn WTP rất nhiều”

Theo Turner, Pearce, Bateman (1995) “khi đem so sánh 2 dạng trên các nhà phân tích cho rằng WTA cao hơn WTP rất nhiều, trên lý thuyết WTP và WTA có giá trị tương đương nhưng thực tế khác nhau hoàn toàn.WTP được thể hiện mức độ ưa thích của một cá nhân về một mặt hàng nào đó Ở đây mặt hàng

đó là dịch vụ huấn luyện thú cưng Còn WTA là ngược lại khi họ không thích một điều gì đó, họ cũng sẽ sẵn lòng trả một mức giá nào đó để tránh nó hoặc sẵn lòng chấp nhận mức đền bù nào đó để chịu đựng điều mà họ không thích”

So sánh khi hỏi về WTP, người được hỏi thường trả lời WTP tối thiểu, nhưng khi hỏi về WTA họ sẽ trả lời mức chấp thuận tối đa, vì WTP chịu ảnh hưởng bởi giới hạn thu nhập của người được phỏng vấn còn WTA thì không bị ảnh hưởng Điều này có thể được giải thích rằng sự ưa thích là lựa chọn của con người không hoàn toàn giống nhau (Phan Thị Giác Tâm, 2008)

Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: “thường được áp dụng nhiều trong tất

cả các nghiên cứu, nhất là trong phương pháp định giá ngẫu nhiên, nó giúp người điều tra và người được phỏng vấn gần gũi thân thiện dễ dàng trao đổi các thông tin, đưa ra nhiều tình huống giả định, đồng thời kết hợp nhiều dẫn chứng, minh họa để chứng minh tình huống nào tốt nhất để người được hỏi so sánh lựa chọn, kết quả chất lượng cuộc phỏng vấn được tốt hơn Hạn chế của phương pháp này đòi hỏi người đi điều tra phải nắm vững chuyên môn yêu cầu mục đích của việc điều tra, các tình huống giả định để phân tích, tốn nhiều thời gian, chi phí và công sức”

+ Thiên lệch một phần – toàn phần: “Nếu người lần đầu tiên được hỏi WTP cho một phần tài sản và sau đó được hỏi đánh giá cho toàn bộ thì số tiền được phát biểu là như nhau vì tổng ngân sách của họ ổn định, do đó dễ sai lệch khi hỏi quy mô rộng lớn”

+ Thiên lệch điểm khởi đầu: “Do ban đầu gợi ý cho người trả lời đưa ra mức trả khởi đầu từ thấp đến cao hoặc từ cao xuống thấp, thì việc lựa chọn mức

Trang 26

khởi đầu này sẽ ảnh hưởng đến sự trả lời WTP của họ Ở đây ta hỏi từ mức cao xuống mức thấp và mức khởi đầu đã được tính toán trên phương tiện đầu tư và cả khu vực”

+ Thiên lệch theo phương tiện: “Khi xây dựng câu hỏi WTP người thiết kế điều tra phải xác định rõ phương tiện đóng góp Với mỗi phương tiện đóng góp khác nhau như: bằng tiền mặt, bằng tài khoản thì mức WTP cũng khác nhau Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể mà chúng ta xác định phương tiện đóng góp hay sử

Bước 2: Bước này cần phải nhận dạng được đối tượng tham gia quá trình phỏng vấn: “Nhận dạng đối tượng cần phỏng vấn, quyết định chi tiết về quá trình điều tra (quy mô mẫu, bảng hỏi, phương pháp điều tra, ) Xác định kích thước mẫu, đối tượng được phỏng vấn, đối tượng chi trả cho hàng hóa hay dịch vụ đó, các câu hỏi liên quan”

Bước 3: Thực hiện xây dựng bảng câu hỏi và thực hiện điều tra, khảo sát:

“Thiết kế bảng câu hỏi và tiến hành khảo sát thông qua phỏng vấn trực tiếp, bằng điện thoại hoặc gửi thư, Thiết kế bảng phỏng vấn và cách tiến hành khảo sát: cá nhân và thảo luận nhóm Phần mở đầu hoặc giới thiệu của bảng câu hỏi, bao gồm thông tin chung về địa điểm nghiên cứu, xây dựng hệ thống kịch bản giản định, đưa ra mức sẵn lòng trả hoặc khả năng chi trả, phương thức chi trả, điều tra thử nghiệm bảng hỏi”

Bước 4: Tiến hành phỏng vấn thực tế bằng cách: “xác định cách lấy mẫu, xác định địa điểm, thời điểm, cách thức phỏng vấn, tiến hành phỏng vấn”

Bước 5: Thu thập kết quả khảo sát, tổng hợp kết quả, xử lý kết quả và thực hiện phân tích và thảo luận về kết quả nghiên cứu

Trang 27

2.1.3.3 Phương pháp hỏi giá sẵn lòng trả

Mục tiêu chính của “CVM” nhằm để: Suy ra giá trị mà người ta gán cho

loại “hàng hoá” đang nghiên cứu và khả năng chi trả thực tế Hỏi các cá nhân về

số tiền tối đa mà họ sẵn lòng trả để sử dụng hay bảo tồn hàng hóa, dịch vụ nào đó

hay số tiền đền bù mà họ sẵn lòng chấp nhận để từ bỏ hàng hóa, dịch vụ

Hình 2.1 Các phương pháp hỏi chính trong phương pháp định giá

ngẫu nhiên

Nguồn: Trích lược từ Champ và cộng sự (2012)

Xác định cách hỏi mức WTP/WTA

- Câu hỏi mở: “Người trả lời được yêu cầu nói WTP tối đa của họ, phỏng

vấn viên không đưa ra một mức giá nào cụ thể Câu hỏi mở tạo cho người trả lời

sự tự do diễn đạt ý tưởng của họ chứ không trả lời theo khuôn mẫu định sẵn Tuy

nhiên, một số người không có khả năng trả lời một số câu hỏi sẽ dẫn đến kết quả

thiếu thông tin Câu hỏi mở giúp tránh được thiên lệch từ phía người hỏi nhưng

có thể bị thiên lệch từ phía người trả lời Thông tin phong phú nhưng xử lý thông

tin và phân tích dữ liệu khó hơn” (Champ và cộng sự, 2012)

- Bidding games: “Phỏng vấn viên đưa ra mức giá đầu tiên và yêu cầu

người được phỏng vấn trả lời Nếu được trả lời (có), phỏng vấn viên sẽ đưa ra giá

ngày càng cao cho đến khi người được phỏng vấn trả lời (không) và ngược lại

Trang 28

Đây chính là WTP tối đa của người trả lời Với cách hỏi này, thông thường trong các nghiên cứu, người tổ chức thường chia số mẫu phỏng vấn thành nhiều nhóm

và mỗi nhóm sẽ có một mức giá khởi đầu khác nhau

Nhược điểm lớn nhất của phương pháp này là các sai lệch xảy ra trong mức giá khởi đầu Mức giá khởi đầu quá cao hay quá thấp đều ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng của nghiên cứu” (Champ và cộng sự, 2012)

- Payment card: “Một loạt các mức giá được viết lên thẻ và người trả lời được yêu cầu chọn một mức giá Cách hỏi này thường đem lại WTP thấp, vì trong một loạt mức giá được ghi trên thẻ thì các mức giá thấp thường được người trả lời chú ý hơn”

- Câu hỏi đóng: Đối với dạng câu hỏi đóng thì có những cách hỏi như sau:

Single - bounded dichotomous choice: “Tiến hành phân khoản từ mức WTP kì

vọng cao nhất đến WTP kì vọng thấp nhất Tại mỗi mức giá này, sẽ tiến hành hỏi một nhóm đối tượng phỏng vấn, người được phỏng vấn sẽ trả lời (đồng ý) hay (không đồng ý) với mức giá này

Ưu điểm: giúp người trả lời dễ quyết định

Nhược điểm: phải đảm bảo mức độ tin cậy trong việc lấy mẫu ngẫu nhiên

Double - bounded dichotomous choice: “Trong phương pháp này, người

được phỏng vấn sẽ được hỏi một câu hỏi (có – không) về việc họ sẵn lòng trả một khoản tiền nhất định cho mục đích mà nó đã được mô tả Nếu họ trả lời “có” thì câu hỏi này sẽ được lặp lại với một số tiền lớn hơn, nếu họ trả lời “không” thì câu hỏi thứ hai sẽ hỏi với một khoản tiền nhỏ hơn Điều này được lặp lại cho đến khi WTP cuối cùng được xác định”

2.2 KHẢO LƯỢC CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

2.2.1 Các nghiên cứu trong nước

Tác giả Phan Đình Hùng (2011) thực hiện nghiên cứu đề tài: “Mức sẵn lòng chi trả của người dân đối với dịch vụ cấp nước sạch tại Thành phố Cao Lãnh” Tác giả đã sử dụng PP nghiên cứu “Định giá ngẫu nhiên CVM, thực hiện

điều tra phỏng vấn 172 mẫu ngẫu nhiên là các hộ gia đình đang sống trên địa bàn thành phố Cao Lãnh (Đồng Tháp) ở khu vực chưa có hệ thống cấp nước Nghiên cứu dùng phương pháp định lượng xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính sử dụng

Trang 29

phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS) để phân tích, đánh giá, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của các hộ gia đình” Mô hình được nghiên cứu đưa ra như sau:

“WTP = f(GT, TUOI, KV, TĐHV, NN, SN, ĐL, TTN, NGN, LN, NT)”

trong đó: “TP là mức sẵn lòng chi trả của người dân đối với dịch vụ cấp nước sạch, GT: giới tính chủ hộ, TUOI: tuổi của chủ hộ, KV: khu vực sống của chủ hộ ở thành thị hay nông thôn, TĐHV: trình độ học vấn của chủ hộ, NN: nghề nghiệp của chủ hộ SN: số người trong hộ, ĐL: số người đi làm trong hộ, TTN: tổng thu nhập của hộ, NGN: nguồn nước hộ gia đinh đang dùng, LN: lượng nước

sử dụng trong tháng của hộ gia đình, NT: nhận thức về môi trường đối với các nguồn nước Kết quả phân tích hồi quy của nghiên cứu đã chỉ ra rằng một số biến độc lập như giới tính của chủ hộ (GT), tuổi của chủ hộ (TUOI), nghề nghiệp của chủ hộ (NN) không có ý nghĩa thống kê Các biến độc lập còn lại có ảnh hưởng (58%) đến biến phụ thuộc là mức sẵn lòng chi trả của người dân WTP Nghiên cứu cũng đưa ra kết quả khảo sát về mức sẵn lòng chi trả của chủ hộ cho 1m3

nước sạch khi cấp đến từng hộ gia đình, mức sẵn lòng chi trả trung bình là 4.956 đồng/ m3, hơn 50% số người dân có mức sẵn lòng trả dưới mức 5.000 đồng/ m3

nước sạch So sánh kết quả nghiên cứu và thực tế tại địa phương, tác giả đã đề xuất các chính sách và giải pháp để nâng cao mức sẵn lòng chi trả và nhận thức của người dân đối với dịch vụ nước sạch, giữ gìn và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên nước, chống ô nghiễm môi trường”

Nguyễn Duy Chính và Nguyễn Thanh Sơn (2017) sử dụng phương pháp thí nghiệm lựa chọn để phân tích sự ưa thích của người dân địa phương đối với

hệ thống Metro tại TP.HCM Tính sẵn có của ghế ngồi, thời gian di chuyển, và mức độ tiết kiệm chi phí khi sử dụng Metro là các nhân tố tác động đến việc sử dụng Metro của người dân Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra hành khách sẵn sàng trả thêm 0,61 đồng cho việc giảm 1 phút thời gian di chuyển và 4,11 đồng cho việc có thể lựa chọn ghế ngồi trên toa xe Tổng giá trị phúc lợi mà mỗi hành khách đạt được khi chuyển sang sử dụng Metro là 64.300 đồng Giá vé được khuyến cáo ở mức 1.350 đồng mỗi km để 50% hành khách chuyển sang sử dụng Metro

Trang 30

Lê Thanh Loan và Lê Tuấn Anh (2017) thực hiện nghiên cứu “Mức sẵn lòng trả của người tiêu dùng cho tuyến Metro số 1 tại TP Hồ Chí Minh” Nghiên cứu ước lượng mức sẵn lòng trả của người tiêu dùng tiềm năng cho tuyến Metro

số 1 của dự án tàu điện ngầm tại TP Hồ Chí Minh bằng phương pháp định giá ngẫu nhiên và đánh giá thực trạng giao thông tại thành phố Mức sẵn lòng trả trung bình ước lượng là 9.320 đồng/hành khách/lượt và khung giá vé được lựa chọn nhiều nhất là từ 8.000–12.000 đồng/hành khách/lượt Yếu tố tác động tích cực đến mức sẵn lòng trả gồm lợi ích của tuyến Metro số 1 đối với người tiêu dùng (tính linh động và thời gian di chuyển của tuyến Metro số 1), chi phí di chuyển hiện tại, thu nhập, và giới tính Lợi ích xã hội và môi trường của tuyến Metro số 1 mặc dù được đánh giá cao nhưng không có ý nghĩa thống kê trong việc tác động đến mức sẵn lòng trả Nghiên cứu cung cấp khung giá vé phổ biến

và mức sẵn lòng trả làm căn cứ xây dựng chính sách giá để khai thác hiệu quả tuyến Metro số 1 Đồng thời, chiến lược quảng bá nên ưu tiên vào yếu tố về hiệu quả của tuyến Metro số 1 đối với người tiêu dùng

Tác giả Nguyễn Văn Song & ctg (2011) thực hiện nghiên cứu “Xác định mức sẵn lòng chi trả của các hộ nông dân về dịch vụ thu gom, quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở địa bàn thị trấn Trâu Quỳ và xã Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, Hà Nội” Nghiên cứu sử dụng phương pháp “định giá ngẫu nhiên CVM, thực hiện điều tra trên 116 hộ dân đang sinh sống trên địa bàn Nghiên cứu giả định chất lượng hàng hóa dịch vụ môi trường sẽ được cải thiện đáng kể như có nhiều chuyến chuyên chở chất thải rắn sinh hoạt hơn, đường phố có thêm nhiều cây xanh và luôn sạch đẹp nhằm tạo cảnh quan, môi trường xanh sạch thì mức sẵn lòng chi trả cho sự cải thiện dịch vụ đó là bao nhiêu Bên cạnh đó, các

hộ dân còn được hỏi về mức sẵn lòng chi trả của mình khi tham gia mua hàng hóa dịch vụ môi trường có cảnh quan xanh sạch đẹp Nghiên cứu đưa ra các mức chi trả được của 1 người với mức chi trả thấp nhất là 0 đồng, cao nhất là 20.000 đồng/ tháng” Nghiên cứu xây dựng mô hình hồi quy như sau:

“WTPi = β0 + β1 Geni + β2 Edui + β3 Inci + β4 D1i + β5 D2i + β6 D3i + β7 D4i

+ β8 Age + β9 Nf+ ui”

Trang 31

trong đó: “WTP là mức sẵn lòng chi trả của 1 người dân (đơn vị tính: nghìn đồng); Inc: biến thu nhập (đơn vị tính: triệu đồng); Edu: biến trình độ học vấn (đơn vị tính: số năm đi học); Age: số tuổi của người được phỏng vấn; Nf: số người trong một hộ gia đình; Gen: giới tính, D1, D2, D3, D4 là các biến giả thể hiện nghề nghiệp của người được phỏng vấn tương ứng lần lượt với buôn bán, công chức nhà nước, nông nghiệp và sản xuất nhỏ Sai số ui tuân theo phân phối chuẩn và độc lập, giá trị trung bình bằng không” Sau khi thực hiện phỏng vấn các hộ dân trên địa bàn khảo sát, nghiên cứu đưa ra mô hình ước lượng:

“WTP = 1.7758 + 0.6180 Gen + 0.1062 Edu + 0.0028 Inc + 0.4972 D1 + 0.5183

D2 + 0.7770 D3 + 0.2753 D4 + 0.0282 Age - 1.0042 Nf”

Kết quả nghiên cứu: “Với hệ số tương quan bình phương của mô hình Rsquare nhận giá trị 0.5112, mô hình đã giải thích 51.12% sự thay đổi của mức WTP, 48.8% còn lại là do các yếu tố khác chưa đưa vào mô hình Nghiên cứu đã tính toán được mức sẵn lòng chi trả bình quân của một hộ nông dân cho dịch vụ thu gom, quản lý, xử lý rác thải là 6.000 đồng/ tháng Nghiên cứu cũng đã phân tích sự ảnh hưởng của từng yếu tố đến mức sẵn lòng chi trả của người dân Biến thu nhập có ảnh hưởng lớn nhất, tỷ lệ thuận với mức sẵn lòng chi trả của cá nhân Các cá nhân có thu nhập 3 triệu đồng trở lên có mức sẵn lòng chi trả là 20 ngàn đồng, các cá nhân có thu nhập dưới 1 triệu đồng có mức sẵn lòng chi trả bằng 0 chiếm 50% Tùy thuộc từng nghề nghiệp khác nhau mà mức WTP của người dân khác nhau Người làm trong khu vực nhà nước có mức WTP là 8.500 đồng/ tháng, kế đến là người làm buôn bán có mức WTP là 6.800 đồng/ tháng, người làm sản xuất nhỏ là 6.400đồng/tháng và có mức WTP thấp nhất là những người làm nông nghiệp với 3.800 đồng/ tháng Trình độ học vấn càng cao thì mức WTP càng cao, nam giới có mức WTP cao hơn nữ giới (6.673 đồng so với 5.390 đồng), người có độ tuổi càng cao càng có ý thức bảo vệ môi trường, hộ gia đình nào có nhiều người thì người được phỏng vấn có mức WTP thấp hơn với các yếu

tố khác như nhau là những nhận xét tiếp theo được nghiên cứu đưa ra”

Nghiên cứu của Hoàng Thị Hương (2008) tìm hiểu mức sẵn lòng chi trả của người dân về việc thu gom xử lý rác thải bằng phương pháp tạo dựng thị trường tại khu vực Xuân Mai – Chương Mỹ, thành phố Hà Nội Tác giả tiến hành

Trang 32

phỏng vấn trực tiếp 377 người tại thị trấn Xuân Mai và xã Đông Sơn, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội Hàm hồi quy tuyến tính được sử dụng để phân tích, đánh giá và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến WTP của hộ dân và thẻ thanh toán cũng được sử dụng để xác định WTP, với WTP thấp nhất là 3.000 đồng/tháng và mức cao nhất là trên 28.000 đồng/tháng Mô hình nghiên cứu được sử dụng là WTP = f (GIOITINH, TRINHDO, NGHENGHIEP, THUNHAP) Kết quả nghiên cứu xác định các yếu tố giới tính, trình độ học vấn, thu nhập, nghề nghiệp có ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của người dân trong khu vực, trong đó yếu tố thu nhập và nghề nghiệp có ảnh hưởng lớn nhất Bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất, tác giả tính được mức sẵn lòng chi trả bình quân là 12.300 đồng/tháng

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Huệ (2011) với đề tài “Phân tích ý kiến của HGĐ và các yếu tố ảnh hưởng đến WTP đối với dịch vụ thu gom RTSH ở quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả cũng sử dụng phương pháp CVM để ước lượng WTP cho dịch vụ thu gom RTSH cải thiện Kết quả khảo sát

137 hộ trong quận Bình Tân chỉ có 125 hộ sẵn lòng chi trả cho dịch vụ thu gom

và xử lý chất thải cải tiến Nghiên cứu đã xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến WTP cho dịch vụ cải tiến là: nhận thức (nhận thức của người dân về thu gom, phân loại rác tại nguồn, xử lý rác thải), trình độ học vấn, lệ phí hộ phải trả hàng tháng, thu nhập của hộ, số người trong hộ Kết quả cũng đã tìm ra WTP tăng thêm khoảng 7.800 đồng/hộ/tháng

Đây là kết quả được thực hiện dựa trên thực tế là đã có sẵn hệ thống thu gom RTSH , tác giả muốn nghiên cứu, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng để đưa ra các khuyến cáo cho các nhà làm chính sách về cải thiện dịch vụ thu gom và xử lý CTR sinh hoạt trên địa bàn quận Bình Tân, bao gồm: đẩy mạnh công tác tuyên truyền, triển khai sâu rộng việc phân loại rác tại nguồn và thay đổi hình thức thu gom rác hiện nay Nghiên cứu này chỉ sử dụng 2 mức giá đưa ra cho việc xác định giá trị WTP là 25.000 và 30.000 đồng/hộ/tháng, do đó có thể đã bị nhược điểm thiên lệch điểm khởi đầu và khoảng cách giữa các mức phí không nhiều làm giảm độ tin cậy của mức WTP được ước tính

2.2.2 Các nghiên cứu nước ngoài

Trang 33

Afroz và đồng sự (2009) sử dụng phương pháp CVM để ước lượng WTP của người trả lời để cải tiến hệ thống thu gom CTR ở thành phố Dhaka, Banglasdesh Mục tiêu của nghiên cứu là ước lượng WTP khác nhau giữa những người đồng ý và không đồng ý thu gom rác thải tại nhà Người được phỏng vấn

sẽ đánh giá hệ thống thu gom cải tiến và đưa ra mức giá sẵn lòng trả để thực hiện chương trình này Câu hỏi “Double bounded dichotomous question” được sử dụng trong nghiên cứu này Một tập hợp gồm 4 mức giá sẽ được chọn để xác định WTP và mỗi các nhân được phỏng vấn sẽ nhận ngẫu nhiên một mức giá trong bốn mức giá trên Tập hợp mức giá đầu tiên là 10, 15, 25 và 35 Taka (1 Taka khoảng 254 VNĐ) Nếu người phỏng vấn trả lời “đồng ý” với mức giá đưa

ra thì họ sẽ được hỏi lặp lại câu hỏi này với một tập hợp mức giá cao hơn (15, 25,

35 và 50 Taka), ngược lại nếu người phỏng vấn trả lời “không đồng ý” thì họ cũng sẽ được hỏi lặp lại câu hỏi này nhưng với một tập hợp mức giá thấp hơn (5,

10, 15 và 25 Taka) Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố ảnh hưởng đến WTP đối với người đồng ý và không đồng ý thu gom rác thải tại nhà là giới tính, độ tuổi, số thành viên trong gia đình, trình độ, thu nhập, mối quan tâm về quản lý rác thải, mức thỏa mãn đối với dịch vụ thu gom rác và mức độ đồng ý phân loại rác thải Đối với dịch vụ thu gom rác tại nhà thì WTP trung bình của người phỏng vấn là 15,8 Taka Đối với dịch vụ không thu gom rác tại nhà thì WTP trung bình của người phỏng vấn là 12 Taka Tính trung bình cho cả hai hình thức thu gom rác thì WTP cho dịch vụ thu gom rác thải là 13 Taka, chiếm 0,12% thu nhập của họ WTP trung bình của người dân ở khu vực có dịch vụ thu gom rác tại nhà cao hơn ở khu vực không có, nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê Tổng giá trị WTP của những phỏng vấn ở thành phố Dhaka là 7,6 triệu Taka (khoảng 0,1 triệu USD)

lhassan và Mohammed (2008) sử dụng phương pháp CVM để đánh giá nhu cầu của 200 HGĐ đối với dịch vụ thu gom CTR tốt hơn ở thành phố New Juaben, Ghana Nghiên cứu sử dụng mô hình Probit để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến WTP Các biến độc lập trong nghiên cứu được xác định có tác động đến WTP là độ tuổi, giới tính, trình độ, số thành viên trong gia đình, mức độ thỏa mãn đối với dịch vụ thu gom hiện tại, thu nhập của người được phỏng vấn, thời

Trang 34

gian đi từ HGĐ đến nơi đổ rác và số năm sinh sống của người được phỏng vấn ở nơi cư trú hiện tại Kết quả nghiên cứu cho thấy mức WTP trung bình của HGĐ

là 3,67 GHC (khoảng 21.000 VNĐ)

Johnson và ctg (2006) thực hiện nghiên cứu về “Mức sẵn lòng chi trả cho các hoạt động giải trí và thể thao không chuyên” của người dân tại thành phố Alberta (Canada) Nghiên cứu sử dụng phương pháp “định giá ngẫu nhiên và lý thuyết hành vi theo kế hoạch (Theory of Planned Behavior) để xác định mức sẵn lòng chi trả cho thể thao và giải trí ở Alberta và các tiêu chuẩn đạo đức cá cược

có ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả này không Khảo sát sử dụng kết quả điều tra trả lời của 967 người Đối tượng khảo sát được đưa ra hai kịch bản giả thuyết, một liên quan đến thể thao và một liên quan đến nghệ thuật Kịch bản về thể thao cho rằng chính quyền Alberta dường như đề nghị mở rộng các chương trình giải trí và thể thao không chuyên, nhưng cũng đòi hỏi gia tăng thuế thu nhập địa phương Kịch bản về nghệ thuật cũng được đưa ra tương tự Mỗi kịch bản được khảo sát trên 50% đối tượng khảo sát của nghiên cứu” Mô hình WTP đối với các chương trình giải trí và thể thao tại Alberta được các tác giả xây dựng:

“WTP = f($TAX, SCOPE, FIRST, MALE, RURAL, INCOME, MORAL)”

với $TAX: mức gia tăng thuế thu nhập hàng năm đối tượng khảo sát bị yêu cầu trả; SCOPE: điểm phần trăm gia tăng khi tham gia, FIRST: biến giả chỉ

ra rằng kịch bản giải trí và thể thao được giới thiệu trước, MALE: giới tính (nam hoặc nữ), RURAL: khu vực sống, INCOME: thu nhập hàng năm các hộ gia đình, MORAL: là biến tỷ lệ chỉ sự gia tăng độ ổn định đạo đức khi sử dụng tiền cá cược để gây quĩ chương trình giải trí và thể thao Kết quả khảo sát ước tính mức sẵn lòng chi trả ước tính hàng năm là 18.33$ trên một hộ dân tại Alberta (Canada) cho việc nâng cấp nhỏ các chương trình giải trí và thể thao không chuyên vượt xa mức sẵn lòng chi trả ước tính của các hộ gia đình tại Mỹ để tránh gây tổn hại cho các đội tuyển thể thao tham gia giải chuyên nghiệp Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng nhận xét các tiêu chuẩn đạo đức cá cược không ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của người dân

Trang 35

Zaiton Samdin (2008) “thực hiện nghiên cứu mức sẵn lòng chi trả giá vé của khách du lịch khi đến tham quan Công viên quốc gia Taman Negara (TNNP) tại Malaysia để sử dụng các hàng hóa phi thị trường là vẻ đẹp phong cảnh, rừng nhiệt đới và cuộc sống hoang dã Khảo sát sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên CVM, thu thập số liệu bằng cách đưa ra bảng câu hỏi phỏng vấn 180 khách

du lịch tại công viên Khảo sát sử dụng lấy mẫu phân tầng với các mẫu được đặt trong 2 nhóm dựa trên quốc tịch là người Malaysia (gồm có 80 khách) và quốc tế (gồm có 100 khách) Bảng câu hỏi được chia thành 3 phần: đặc điểm của chuyến thăm, đặc điểm chi trả và đặc điểm xã hội - nhân khẩu học Phần đầu tiên được thiết kế để có thông tin về các đặc điểm liên kết với TNNP chẳng hạn như các nguồn thông tin về TNNP và lý do của chuyến thăm Phần thứ hai được thiết kế

để xác định đặc điểm của việc chi trả và giá trị trung bình của mức sẵn lòng chi trả đối với phí vào cửa TNNP Phần này hỏi đối tượng khảo sát có sẵn lòng chi trả nếu phí vào cửa hiện nay tăng lên hay không? Câu hỏi được đưa ra để khám phá sự sẵn lòng của khách hàng để trả phí cao hơn Cách tiếp cận này được gọi là (trò chơi đấu thầu) với 3 mức giá khác nhau là thấp, trung bình và cao được chọn phù hợp với cả khách người Malaysia và khách quốc tế mang lại cho họ cơ hội phản ứng câu hỏi cho đến khi họ có mức sẵn lòng chi trả tối đa Phần cuối cùng của bảng câu hỏi đề cập đến các thông tin nhân khẩu học của khách tham quan như quốc tịch, tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, học vấn và thu nhập Kết quả khảo sát thu được: (i) về đặc điểm chi trả: khảo sát cho rằng khách tham quan sẵn lòng cho trả mức phí vào cửa cao hơn Tỷ lệ đồng ý chi trả của khách giảm dần khi phí vào cửa tăng lên 80.6% khách đồng ý trả phí vào cửa ở mức phí thấp (3RM), chỉ có 15% khách đồng ý mức phí vào cửa cao (30RM), 23.9% khách tham quan trả tiền để vào cửa và sử dụng các thiết bị giải trí, 11.1% trả tiền để

sử dụng các thiết bị giải trí tốt hơn, 56.1% trả tiền vào cửa để tham quan và hướng đến việc bảo tồn công viên; (ii) về giá trị sẵn lòng chi trả trung bình: mức sẵn lòng chi trả trung bình của khách tham quan là 13.06RM, khách quốc tế sẵn lòng chi trả phí vào cửa 18.47 RM, con số của khách Malaysia là 6.32 RM; (iii)

về đặc điểm nhân khẩu học của khách tham quan, kết quả khảo sát thu được là 60% khách tham quan nam giới, 53.3% đã kết hôn, khách tham quan có độ tuổi

Trang 36

từ 26 đến 35 chiếm 41.7%, độ tuổi từ 18 đến 25 chiếm 31.7%, 55,6% là khách quốc tế, 27.2% khách tham quan có trình độ tốt nghiệp trung học, 26.7% tốt nghiệp đại học và 23.9% có trình độ học vấn sau đại học, 52.8% khách tham quan có thu nhập dưới 1000 đô la, 17.2% khách có thu nhập từ 1001 - 2000 đô la; (iv) về đặc điểm của chuyến tham quan: thông tin về TNNP được tìm hiểu thông qua sách hướng dẫn du lịch có 95 phản hồi, 91 phản hồi thông qua gia đình và bạn bè, hầu hết khách tham quan (158 phản hồi) liên tưởng TNNP với rừng nhiệt đới, 93 phản hồi liên tưởng với sự đa dạng động vật thực vật, 93 phản hồi liên tưởng với cuộc sống hoang dã 25.4% khách tham quan đến TNNP bằng xe cá nhân, 23% bằng xe tham quan, 21% bằng xe công cộng và 12.2% bằng thuyền”

Nhận xét:

Qua lược khảo các nghiên cứu liên quan cho thấy hiện nay chưa có nghiên cứu nào đề cập đến sự sẵn lòng chi trả của khách hàng cho dịch vụ huấn luyện thú cưng nói chung và có nghiên cứu về sự sẵn lòng chi trả của khách hàng cho dịch vụ huấn luyện thú cưng tại tỉnh Tiền Giang, cả các nghiên cứu trong nước

và quốc tế Tuy nhiên, dựa vào các mô hình nghiên cứu của các nghiên cứu trước, tác giả kế thừa, điều chỉnh và phát triển những nhân tố mới thông qua thảo thuận nhóm với chuyên gia và dựa vào đặc điểm kinh tế xã hội tại tỉnh Tiền Giang để đề xuất mô hình nghiên cứu Và đây cũng là điểm mới của luận văn

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn lòng chi trả của khách hàng đối với dịch vụ huấn luyện thú cưng tại Tiền Giang là như vậy, đối tượng khách hàng sẵn lòng chi trả cho dịch vụ huấn luyện thú cưng sẽ gồm các đặc điểm cơ bản sau: Giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, mức thu nhập, tình trạng hôn nhân,

số thành viên trong gia đình, cân nặng của thú cưng, giống chó, năng lực tài chính của người nuôi, mức độ tăng tuổi thọ của người nuôi thú cưng

TÓM TẮT CHƯƠNG 2

Chương này tác giả trình bày cơ sở lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu gồm: Khái niệm về Thú cưng; Mức sẵn lòng chi trả (Willingness to pay –WTP); Các loại thú cưng tại Tiền Giang; Phương pháp định giá ngẫu nhiên Ngoài ra tác giả còn trình bày lược thảo các nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu gồm các nghiên cứu nước ngoài và nghiên cứu trong nước làm cơ sở cho tác giả xây

Trang 37

dựng mô hình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn lòng chi trả của khách hàng đối với dịch vụ huấn luyện thú cưng tại Tiền Giang

Trang 38

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu của tác giả

(Nguồn: Tác giả, 2020)

Trang 39

3.2 MÔ HÌNH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

3.2.1 Mô hình hồi quy

Phân tích hồi quy trong kinh tế lượng nhằm “tìm ra mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và biến độc lập Thông thường chúng ta thường gặp các biến phụ thuộc ở dạng liên tục hoặc không liên tục Tuy nhiên, trong thực tế xảy ra nhiều trường hợp mà biến phụ thuộc không phải là một biến liên tục, nó là biến định tính Biến định tính nhận hai giá trị như: có đồng ý/không đồng ý, có ý định/không ý định, có đóng góp/không đóng góp Theo Ramu Ramanathan (2000), đối với loại biến này, các loại mô hình rời rạc như mô hình xác suất tuyến tính, mô hình đơn vị xác suất (mô hình Probit), mô hình Logit sẽ rất phù hợp”

Để tìm hiểu mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập được đưa vào mô hình nên tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy kiểm duyệt Tobit để đưa vào nghiên cứu

Y = β0 + β1X1 + β2X2 + + βkXk + ε

Trong đó:

- β1, β2 … βk là “các hệ số hồi quy của mô hình”

- X1, X2 Xk là “các yếu tố dự kiến tác động đến WTP của khách hàng đối với dịch vụ huấn luyện thú cưng tại Tiền Giang”

- ε là “sai số ngẫu nhiên”

Mô hình hồi quy kiểm duyệt Tobit xác định các yếu tố ảnh hưởng đến xác xuất đồng ý sử dụng dịch vụ huấn luyện thú cưng tại Tiền Giang của khách hàng trong đề tài nghiên cứu được viết lại như sau:

Y = β0 + β1gioitinh + β2tuoi + β3hocvan + β4thunhap + β5tthn + β6sotv +

β7cannang + β8giongcho + β9nltc + β10tangtuoi

3.2.2 Giả thuyết nghiên cứu

Mô hình hồi quy gồm 01 biến phụ thuộc và 10 biến độc lập (trong đó 07 biến định lượng và 02 biến giả) Cụ thể:

Biến phụ thuộc Y là biến giả (dummy), “quyết định đồng ý tham gia sử dụng dịch vụ huấn luyện thú cưng, nhận giá trị 1 khi người được phỏng vấn trả lời đồng ý tham gia sử dụng dịch vụ huấn luyện thú cưng và nhận giá trị 2 khi

Trang 40

người được phỏng vấn trả lời không đồng ý tham gia sử dụng dịch vụ huấn luyện thú cưng”

Các biến độc lập Xk như sau:

- Biến giới tính (gioitinh): “là biến giả thể hiện giới tính của khách hàng Biến nhận giá trị 1 nếu là nam và giá trị 2 nếu là nữ Biến này được kỳ vọng là có mối tương quan thuận (+) với quyết định sử dụng dịch vụ huấn luyện thú cưng Nhưng từ lược khảo tài liệu và kết quả thảo luận nhóm cho thấy, đa phần nữ giới

có sở thích nuôi thú cưng hơn nam giới nên giới tính là nữ sẽ có WTP cao hơn giới tính nam”

- Biến tuổi (tuoi): “là biến định lượng thể hiện số tuổi của khách hàng được khảo sát Biến này được kỳ vọng là có mối tương quan thuận (+) với quyết định tham gia sử dụng dịch vụ huấn luyện thú cưng Dựa vào lược khảo tài liệu

và kết quả thảo luận nhóm cho thấy, người có độ tuổi cao thường ít giao tiếp, cô đơn nên có mức chi trả cho dịch vụ huấn luyện thú cưng cao hơn những người trẻ tuổi”

- Biến trình độ học vấn (hocvan): “là biến định lượng thể hiện trình độ học vấn của khách hàng và được đo lường bằng số năm đi học của khách hàng Biến này được kỳ vọng là có mối tương quan thuận (+) với quyết định tham gia sử dụng dịch vụ huấn luyện thú cưng Dựa vào lược khảo tài liệu và kết quả thảo luận nhóm cho thấy, người có trình độ học vấn cao hơn sẽ nhận thức được sự cần thiết của một dịch vụ huấn luyện thú cưng thực sự chuyên nghiệp để giúp thú cưng của họ có thể khỏe mạnh, do đó khả năng chi trả cho việc sử dụng dịch vụ huấn luyện thú cưng sẽ cao hơn”

- Biến thu nhập (thunhap): “là biến định lượng thể hiện tổng thu nhập hàng tháng của khách hàng (triệu đồng/tháng) Biến này được kỳ vọng là có mối tương quan thuận (+) với quyết định tham gia sử dụng dịch vụ huấn luyện thú cưng Dựa vào lược khảo tài liệu và kết quả thảo luận nhóm cho thấy, khi khách hàng có mức thu nhập tăng lên thì họ quan tâm đến vấn đề sở thích cá nhân nhiều hơn, mức sống nâng cao nên họ sẵn lòng trả nhiều hơn cho dịch vụ huấn luyện thú cưng”

- Tình trạng hôn nhân (tthn): “là biến giả thể hiện tình trạng hôn nhân của

Ngày đăng: 10/03/2021, 15:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm