1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tác dụng của chế phẩm probiotic bio triluc đến sinh trưởng và hình thái vi thể niêm mạc ruột gà j dabaco

60 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 3,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi các phát hiện về vi sinh vật sống trong đường tiêu hóa của vật nuôi có ảnh hưởng sâu sắc đến một vài quá trình sinh lý của vật chủ, sau đó các nghiên cứu về cơ chế tác động của hệ vi

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Bá Tiếp

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các nội dung nghiên cứu, số liệu tính, kết quả được thể hiện trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố cho việc bảo vệ một học vị nào trong và ngoài nước

Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ để thực hiện luận văn này đã được cảm ơn

và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thảo

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy cô giáo công tác tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam nói chung và các Thầy cô trong Khoa Thú Y nói riêng đã giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Đặc biệt, tôi xin cảm ơn TS.Nguyễn Bá Tiếp - Bộ môn Giải phẫu - Tổ chức, khoa Thú Y người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập và hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình, anh em, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thảo

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục hình vii

Trích yếu luận văn viii

Thesis abstract ix

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích của đề tài 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 3

2.1 Những khái niệm cơ bản về probiotic 3

2.1.1 Định nghĩa Probiotic 3

2.1.2 Cơ chế tác động của Probiotic 3

2.1.3 Ứng dụng của Probiotic 6

2.2 Yếu tố cơ thể vật nuôi đáp ứng với Probiotic 10

2.2.1 Đường tiêu hóa 10

2.2.2 Quá trình sinh trưởng 12

2.2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gia cầm 13

2.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng của gia cầm 16

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 18

3.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 18

3.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 19

3.2.1 Nội dung nghiên cứu 19

3.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 20

3.2.3 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 20

3.2.4 Phương pháp làm tiêu bản vi thể biểu mô ruột non ở gà 21

3.3 Phương pháp phân tích số liệu 22

Trang 5

Phần 4 Kết quả và thảo luận 23

4.1 Tác dụng của chế phẩm Bio Triluc đến các chỉ tiêu sản xuất của gà 23

4.1.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà J Dabaco từ sau nở đến 13 tuần tuổi 23

4.1.2 Khối lượng cơ thể của đàn gà J Dabaco thí nghiệm 27

4.2 Tác dụng của chế phẩm Bio Triluc đến chuyển hóa thức ăn 29

4.2.1 Lượng thức ăn thu nhận của gà J Dabaco 29

4.2.2 Tỷ lệ chuyển hóa thức ăn (FCR) 32

4.3 Ảnh hưởng của chế phẩm Bio Triluc đến hình thái biểu mô và kích thước lông nhung ruột non gà 34

4.3.1 Hình thái biểu mô ruột non gà 34

4.3.2 Kích thước lông nhung biểu mô 38

4.4 Hiệu quả sử dụng bổ sung Bio Triluc cho gà 41

Phần 5 Kết luận và đề nghị 44

5.1 Kết luận 44

5.2 Kiến nghị 44

Tài liệu tham khảo 45

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm 24

Bảng 4.2 Khối lượng cơ thể của đàn gà J Dabaco thí nghiệm (g/con) 27

Bảng 4.3 Lượng thức ăn thu nhận của gà J Dabaco 30

Bảng 4.4 Tỷ lệ chuyển hóa thức ăn 33

Bảng 4.5 Hiệu quả bổ sung Bio Triluc 42

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Cơ chế kháng vi sinh vật của Bacteriocin.(Cotter et al.,2005) 6

Hình 2.2 Cấu tạo ruột non 12

Hình 4.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà J Dabaco trong thời gian thí nghiệm 25

Hình 4.2 Gà J Dabaco 13 tuần tuổi được nuôi thí nghiệm 26

Hình 4.3 Khối lượng cơ thể của đàn gà J Dabaco thí nghiệm 29

Hình 4.4 Lương thức ăn thu nhận gà J Dabaco thí nghiệm 31

Hình 4.5a Không tràng của lợn con 28 ngày tuổi 34

Hình 4.5b Không tràng của gà trong thí nghiệm 34

Hình 4.6 Tá tràng của gà thuộc nhóm được bổ sung chế phẩm Bio Triluc và nhóm đối chứng 35

Hình 4.7 Không tràng của gà thuộc nhóm được bổ sung chế phẩm Bio Triluc và nhóm đối chứng 36

Hình 4.8 Hối tràng của gà thuộc nhóm được bổ sung chế phẩm Bio Triluc và nhóm đối chứng 37

Hình 4.9 Chiều cao và chiều rộng lông nhung biểu mô tá tràng 39

Hình 4.10 Chiều cao và chiều rộng lông nhung biểu mô không tràng 40

Hình 4.11 Chiều cao và chiều rộng lông nhung biểu mô hồi tràng 40

`

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Thị Thảo

Tên luận văn: Đánh giá tác dụng của Probiotic Bio Triluc đến sinh trưởng và hình thái

vi thể niêm mạc ruột gà J Dabaco

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp bố trí thí nghiệm một nhân tố đánh giá tác dụng của chế phẩm Bio Triluc chứa vi khuẩn dạng bào tử đến các chỉ tiêu về dinh dưỡng và tăng trưởng

- Phương pháp thường quy làm tiêu bản vi thể nhuộm HE

- Kích thước lông nhung được đo bằng phần mềm Infinity Analysis trên kính hiển vi Kniss MBL-2000T (Olympus, Japan)

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHÍNH

- Bổ sung Bio Triluc chứa vi khuẩn dạng bào tử trong nước uống làm giảm 1,35% tỷ lệ chết của gà con

- Bổ sung Bio Triluc làm tăng khả năng sinh trưởng của gà (3,96%), giảm tỷ lệ chuyển hóa thức ăn (1,23%) dẫn đến làm tăng khả năng tiêu hóa thức ăn của gà

- Các vi khuẩn dạng bảo tử bảo vệ biểu mô ruột non thể hiện ở sự toàn vẹn các lông nhung biểu mô, tăng chiều dài và chiều rộng của lông nhung từ đó giúp cải thiện khả năng hấp thu dinh dưỡng

- Bổ sung chế phẩm Bio Triluc làm giảm chi phí sản xuất (1,24%) qua đó làm tăng lợi nhuận cho người chăn nuôi

4 KẾT LUẬN CHỦ YẾU CỦA LUẬN VĂN

Những kết quả của nghiên cứu này góp phần chứng minh tác dụng tích cực của

vi khuẩn dạng bào tử trong chế phẩm Bio Triluc đến tăng trưởng và các chỉ tiêu trao đổi chất cũng như trên tế bào biểu mô ruột của gà J Dabaco Kết quả này có thể được coi là

cơ sở cho việc sử dụng các chế phẩm chứa bào tử vi khuẩn trong thành phần bổ sung vào thức ăn trong chăn nuôi gà bền vững

Trang 10

THESIS ABSTRACT

Author name: Nguyen Thi Thao

Thesis title: Evaluation of effects of Probiotic Bio Triluc on growth and mophology of intestinal mucosa in chicken J Dabaco

1 AIMS OF THE RESEARCH

Investigation of effects on the growth and intestinal epithelial villum measurements of

J Dabaco chickens of bacterial spores as a probiotic supplement Bio Triluc

2 METHODS

- One factor experimental design for assessing the effects of Bio Triluc containing bacterial spores on nutritional and growth parameters

- Routine methods for microscopic examination with HE staining slides

- Epithelial villum measurement was performed with Infinity Analysis software

o using Kniss MBL-2000T microscope (Olympus, Japan)

- Bacterial spores protected small intestinal epithelia shown in the epithelial integrity, higher and wider villa that led to positive effects on nutrition absorbability of Fayoumi layers

- Supplement of Bio Triluc reduces production costs (1,24%) that led to an increase in profitability for the chicken owners

4 CONLUSIONS

The results proved productive effects of baterial spores in Bio Triluc as probiotics on growth and metabolism parameters as well as on epithelial cells of J Dabaco chickens The study can be considered as additional evidence for using bacterial spore products as feed supplements in sustainable chicken farming

Trang 11

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong ngành công nghiệp gia cầm, thuốc kháng sinh được sử dụng trên toàn thế giới để phòng bệnh và cải thiện năng suất chăn nuôi Tuy nhiên, bổ sung kháng sinh trong thức ăn dẫn đến nhiều ảnh hưởng như phát triển của vi khuẩn kháng thuốc, dư lượng thuốc kháng sinh trong cơ thể gia cầm và sự mất cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột Do sự xuất hiện của vi khuẩn kháng kháng sinh, từ tháng 1 năm 2006 Ủy ban Châu Âu đã cấm sử dụng kháng sinh làm chất kích thích sinh trưởng (chỉ thị 1831/2003/EEC) Ở Việt Nam, sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi đang ngày càng được quản lý chặt chẽ Đến 15 tháng 7 năm 2016, số lượng các loại kháng sinh được cho phép có mặt trong thức ăn chỉ còn 15 loại (Bộ NN&PTNT, 2016) và sẽ cấm hoàn toàn vào năm 2018 Trong những năm qua tầm quan trọng của chế phẩm sinh học đã liên tục tăng lên và ngày càng được quan tâm trong lĩnh vực dinh dưỡng động vật Từ lâu đã có những nhà khoa học quan tâm đến việc tìm ra các chất có bản chất thiên nhiên hay những loài vi sinh vật có lợi có thể thay thế tác dụng của kháng sinh trong chăn nuôi Khi các phát hiện về vi sinh vật sống trong đường tiêu hóa của vật nuôi có ảnh hưởng sâu sắc đến một vài quá trình sinh lý của vật chủ, sau đó các nghiên cứu về cơ chế tác động của hệ vi khuẩn ở đường ruột gia cầm, gia súc được đặc biệt quan tâm Ở trạng thái bình thường, trong đường ruột có sự cân bằng giữa các loài vi khuẩn có lợi và vi khuẩn bất lợi Nó bị ảnh hưởng bởi sự tương tác, quan hệ cộng sinh và cạnh tranh Hệ vi khuẩn đó không chỉ bảo vệ hệ tiêu hóa mà còn tăng khả năng sinh trưởng phát triển và sức sản xuất cho động vật chủ

Từ đó, để có được thực phẩm sạch đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, ngành chăn nuôi các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam có thể tìm thấy lời giải cho việc thay thế sử dụng kháng sinh, chất kích thích sinh trưởng bằng các chế phẩm probiotic kết hợp với các loại enzyme để hỗ trợ tiêu hóa mang lại hiệu quả cao hơn và an toàn đối với loài sử dụng và sức khỏe người tiêu dùng

Probiotics là những vi sinh vật sống, được cho là có lợi cho vật chủ Các

vi khuẩn probiotic cố định vào niêm mạc ruột, tạo thành một rào cản vi khuẩn

Trang 12

gây bệnh Các phương thức hoạt động của chế phẩm sinh học trong chăn nuôi gia cầm bao gồm việc duy trì hệ vi sinh đường ruột bằng cơ chế cạnh tranh và đối kháng với vi sinh vật có hại, làm thay đổi sự trao đổi chất bằng cách tăng hoạt động của enzyme tiêu hóa và giảm sản xuất amoniac; cải thiện tiêu hóa và trung hòa độc tố đồng thời kích thích hệ miễn dịch

Dòng sản phẩm vi sinh vật thế hệ 1 thường sử dụng các vi khuẩn sống Một số quan điểm chưa được thống nhất về sử dụng vi khuẩn trong chế phẩm bổ sung bao gồm (i) các vi khuẩn sống có thể bị chết do tác động của pH thấp ở axit

dạ dày, (ii) chưa có xác định được vi khuẩn có bị đột biến khi bổ sung vào hệ tiêu hóa hay không và (iii) khả năng chịu nhiệt và các tác động lý hóa của vi khuẩn kém sẽ giảm số lượng vi khuẩn vào tới đường ruột

Để khắc phục được những hạn chế trên, thế hệ hai của chế phẩm sinh học

ra đời đó là sử dụng các probiotic chứa các vi sinh vật ở dạng bào tử Với khả năng đề kháng cao với nhiệt độ và các tác nhân lý hóa khác, chế phẩm thế hệ mới đảm bảo bào tử sẽ vượt qua môi trường dạ dày, giữ được tính toàn vẹn và số lượng trong quá trình sản xuất thức ăn cho vật nuôi

Tuy nhiên, tác động của các chế phẩm bổ sung chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: loài, giống, sức khỏe của vật nuôi Để đánh giá tác dụng của chế phẩm chứa vi khuẩn ở dạng bào tử bổ sung vào thức ăn trong chăn nuôi gà J-Dabaco đối tượng gia cầm được nuôi phổ biến tại địa phương, chúng tôi thực hiện đề tài: "Đánh giá tác dụng của chế phẩm Probiotic Bio Triluc đến sinh trưởng và hình thái vi thể niêm mạc ruột của gà J Dabaco"

1.2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

Đánh giá tác dụng probiotic dạng bào tử đến hiệu suất tăng trưởng trên gà

J Dabaco, là cơ sở khuyến cáo sử dụng chế phẩm vi sinh vật dạng bào tử trong chăn nuôi gà góp phần hạn chế tồn dư kháng sinh và phát triển ngành chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học tiến tới chăn nuôi gà bền vững

Trang 13

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ PROBIOTIC

cơ thể động vật thông qua thức ăn hoặc nước uống tạo nên những ảnh hưởng có lợi cho động vật Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO, 2001): “probiotic là các vi sinh vật sống khi được đưa vào một lượng cần thiết vào cơ thể sẽ đem lại hiệu quả có lợi cho cơ thể”

2.1.2 Cơ chế tác động của Probiotic

Cơ chế tác động của probiotic trên gia cầm bao gồm: (i) duy trì sự ổn định

hệ vi sinh vật đường ruột bằng cạnh tranh loại trừ- cạnh tranh vị trí bám dính và đối kháng; (ii) điều chỉnh quá trình trao đổi chất bằng gia tăng hoạt tính của các enzyme tiêu hóa và làm giảm hoạt tính của các enzyme của các vi sinh vật có hại cũng như vi sinh vật sản sinh amonia; (iii) cải thiện lượng thức ăn thu nhận và tăng cường khả năng hấp thu thức ăn; (iv) tăng cường sức đề kháng ( Kabir, 2009) 2.1.2.1 Duy trì sự ổn định hệ vi sinh vật đường ruột

Probiotic và loại trừ cạnh tranh- hay cạnh tranh vị trí đã và đang được định hướng sử dụng như một trong các giải pháp khống chế các đại dịch hoặc dịch địa phương trên gia cầm Theo cách hiểu thông thường, sử dụng các vi sinh vật có lợi trong giai đoạn úm như các probiotics có tác dụng cạnh tranh với vi khuẩn gây hại cho chăn nuôi gia cầm, Nurmi and Rantala (1973); Rantala and Nurmi (1973) lần đầu tiên ứng dụng ý tưởng này để kiểm soát một đợt bùng phát nhiễm Staphylococcus infantis trên đàn gà thịt ở Phần Lan Theo các tác giả, liều gây bệnh rất thấp bằng Salmonella (1 - 10 vi khuẩn/diều gà) đã có khả năng tạo

ra nhiễm trùng salmonellosis trên gà Thêm vào đó, họ cũng chứng minh được rằng trong tuần đầu tiên ngay sau khi ấp nở là giai đoạn gà mẫn cảm nhất với sự

Trang 14

xâm nhiễm của Salmonella Việc sử dụng chủng Lactobacillus đã không đủ khả năng để kiểm soát vi sinh vật gây bệnh, các tác giả phải đánh giá một nhóm các

vi khuẩn đường ruột đã được phân lập từ gà trưởng thành có khả năng đề kháng với Staphylococcus infantis trước đó Sử dụng theo đường uống hỗn hợp này, đã cho kết quả tốt trong việc ức chế Salmonella Quy trình này sau đó đã được đặt tên là nguyên lý Nurmi hoặc khái niệm “cạnh tranh loại trừ” Cơ chế cạnh tranh loại trừ là kết quả của việc cấy vào gà con 01 ngày tuổi hệ vi sinh vật từ gà trưởng thành Các thử nghiệm này đã chứng minh được tầm quan trọng của hệ vi sinh vật đường ruột với sinh trưởng và sức đề kháng của gà (Nisbet et al., 1998) Phương pháp cạnh tranh loại trừ bên cạnh các loại vi khuẩn có lợi cổ điển

có thể xác định cơ chế hoạt động và hiệu quả của các chủng vi sinh vật này Cạnh tranh loại trừ là giải pháp hữu hiệu để bảo vệ gà mới nở, gà con, chim cút, ngỗng và các loại chim cảnh không bị mắc bệnh do Salmonella và các tác nhân nhiễm trùng qua tiêu hóa khác (Schneitz, 2005)

2.1.2.2 Điều chỉnh quá trình trao đổi chất

Sau khi vào đường tiêu hóa, vi khuẩn có lợi sẽ cung cấp rất nhiều vi sinh vật sản sinh acid lactic vào đường ruột Những loại vi sinh vật này được cho là đã thay đổi môi trường đường ruột và cung cấp các loại enzymes, các thành phần hữu ích khác (Marteau et al., 1993) Việc bổ sung Lactobacillus acidophilus hoặc hỗn hợp môi trường nuôi cấy Lactobacillus cho gà đã cho thấy hiệu quả làm tăng hàm lượng amylase sau 40 ngày cho ăn (Jin et al., 2000) Kết quả này cũng thống nhất với các kết quả được công bố bởi Collington và cộng sự Theo Collington et al(1990), việc sử dụng thể vùi của vi khuẩn có lợi ( là hỗn hợp gồm nhiều chủng Lactobacillus spp và Streptococcus faecium) cho thấy sự gia tăng của các men phân giải đường có hoạt tính trên ruột non lợn con Quần thể lactobacilli trên ruột non có thể đã tiết Enzyme, dẫn đến làm tăng amylase hoạt tính (Duke, 1977) Nó cũng xác nhận lợi khuẩn có thể thay đổi pH đường tiêu hóa và hệ vi sinh vật bình thường của đường ruột (enzym có hoạt tính và phân giải các chất dinh dưỡng (Dierck, 1989) Hơn nữa, vi khuẩn probiotic có thể tham gia vào việc cải thiện sức khỏe đàn gà bằng cách làm giảm sản sinh ammonia trong đường ruột (Chiang et al., 1995) Vi sinh vật có lợi là một khái niệm phổ thông và các sản phẩm có chứa nấm men, vi hoặc cả 02 loại này, có thể kích thích khả năng của vi sinh vật trong việc biến đổi môi trường đường ruột có lợi cho sức khỏe và cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn (Dierck, 1989)

Trang 15

2.1.2.3 Cải thiện lượng thức ăn thu nhận và tăng cường khả năng hấp thu thức ăn

Cơ chế của vi sinh vật có lợi trong cải thiệu quả sử dụng thức ăn bao gồm sửa đổi hệ vi sinh vật đường ruột, tăng cường sự phát triển của vi khuẩn yếm khí không có hại và vi khuẩn gram dương sản sinh acid lactic, hydrogen peroxide, ức chế sự phát triển của vi sinh vật có hại, và thúc đẩy quá trình tiêu hóa và tối ưu dinh dưỡng (Yeo et al 1977) Cũng vì vậy, một trong tác dụng chính của việc sử dụng vi sinh vật có lợi bao gồm cải thiện sức sinh trưởng (Yeo et al., 1977), giảm

tỷ lệ chết (Kumprecht et al., 1998), và cải thiện tỷ lệ chuyển hóa thức ăn (Yeo et al., 1977 ) Những kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với các nghiên cứu được thực hiện trước đây bởi Tortuero and Fernandez (1995), khi bổ sung lợi khuẩn trong khẩu phần đã giúp gia tăng tỷ lệ chuyển đổi thức ăn hữu hiệu

2.1.2.4 Tăng cường sức đề kháng

Hệ vi sinh mới sau khi đưa vào trong đường ruột vật nuôi đã tác động tới

sự hình thành đáp ứng miễn dịch (Mc Cracken et al., 1999) Cơ chế chính xác miễn dịch trung gian của vi khuẩn probiotic chưa được hiểu rõ Tuy nhiên nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng vi khuẩn probiotic đã kích thích một tập hợp nhiều loại các tế bào miễn dịch khác nhau để tạo ra cytokines, điều này đã dẫn tới sự tham gia vào vai trò của trong việc nhận diện và các đáp ứng miễn dịch (Christensen, 2002) Sự kích hoạt tế bào đơn nhân ngoại biên ở người với Lactobacillus rhamnosus chủng GG trong điều kiện invitro đã xác nhận việc tạo ra interleukin

4 (IL-4), IL-6, IL-10, tumor necrosis factor alpha, và gamma interferon (Schultz

et al., 2003) Nhiều nghiên cứu khác cũng xác nhận tác dụng đến Th2 cytokines,

ví dụ như IL-4 và IL-10, dưới tác dụng của lactobacilli (Christensen et al., 2002) Kết quả của việc sản sinh Th2 cytokines là sự hình thành của lympho B và các immunoglobulin, những yếu tố cần thiết để hình thành nên kháng thể Sự hình thành IgA yếu tố miễn dịch tại chỗ là đáp ứng phụ thuộc vào các loại cytokines khác như các nhân tố gây chuyển dạng - transforming growth factor β (Lebman, 1999) Tầm quan trọng, chủng loại của các lactobacilli đều có khả năng tạo ra transforming growth factor β, mặc dù ở các mức độ khác nhau (Blum et al., 2002) Vi sinh vật có lợi mà đặc biệt là lactobacilli, có thể giúp kích hoạt hệ thống phòng thủ miễn dịch của gà (Kabir et al., 2004)

Vi sinh vật probiotic làm giảm số lượng vi khuẩn gây bệnh để ngăn chặn các mầm bệnh bằng cách tiết ra các chất kháng khuẩn ức chế cả vi khuẩn Gram dương và Gram âm Đó là các acid hữu cơ như: Acid lactic, acid acetic…và đặc

Trang 16

biệt là Bacteriocin - nhóm peptide hay protein được tổng hợp nhờ ribosome có hoạt tính kháng vi sinh vật (Hình 2.1)

Những hợp chất này có thể làm giảm không chỉ những sinh vật mang mầm bệnh mà còn ảnh hưởng đến sự trao đổi chất của vi khuẩn và sự tạo ra các độc tố Điều này được thực hiện bằng cách giảm pH đường ruột thông qua sự tạo

ra các acid béo đơn giản dễ bay hơi, chủ yếu là acid acetic, acid propionic, và acid butyric, nhất là acid lactic

Hình 2.1 Cơ chế kháng vi sinh vật của Bacteriocin.(Cotter et al., 2005) Bacteriocin class I ( đại diện: nisin của Lactococcus lactis), gắn vào lớp lipid II, ngăn cản sự vận chuyển các tiểu đơn vị peptiddoglycan từ tế bào chất đến vách tế bào, do đó ngăn cản tổng hợp vách tế bào hoặc bám vào lớp lipid II, các phân tử nisin tạo lỗ xuyên màng tế bào dẫn đến tiêu bào Bacteriocin class II (đại diện là sakacin của Lactobacillus sake) là các peptide lưỡng tính có khả năng xuyên màng tế bào tạo kênh, lỗ trên màng Bacteriocin class III (còn gọi là bacteriolysin như lysostaphin), protein không bền nhiệt, tác động trực tiếp lên vách tế bào đích

2.1.3 Ứng dụng của Probiotic

Tác dụng tích cực của probiotic được chứng minh thông qua khả năng kích thích tính thèm ăn (Nahashon et al., 1994), cải thiện, thiết lập cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột (Fuller, 1989), cải thiện chức năng tiêu hóa (Collins et al.,

Trang 17

1999) Ngoài ra, probiotic kích thích hệ miễn dịch (Perdigon et al.,1999; Collins

et al.,1999) Patterson (2003) đã tổng kết các ảnh hưởng có lợi của probiotic gồm tác dụng làm thay đổi cấu trúc quần thể vi sinh vật đường ruột theo chiều hướng

có lợi cho vật chủ; tăng cường khả năng miễn dịch, giảm phản ứng viêm, ngăn cản sự xâm nhập và ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh, tăng sản xuất các axit béo bay hơi, tăng cường quá trình sinh tổng hợp các vitamin nhóm B, tăng hấp thu chất khoáng, giảm cholesterol trong máu, tăng năng suất vật nuôi và giảm hàm lượng amoniac và urê trong chất thải

Trong đường tiêu hóa, các vi sinh vật có lợi, tế bào biểu mô, và hệ thống miễn dịch cung cấp sức đề kháng chống lại các tác nhân gây bệnh đường ruột Dữ liệu gần đây cho thấy rằng sức đề kháng không phải là yếu tố duy nhất,

mà sự trao đổi giữa các thành phần trong đường ruột cũng tham gia vào điều chỉnh sức đề kháng này Sự ức chế mầm bệnh bằng hệ vi sinh vật đường ruột được gọi là sự đối kháng của vi khuẩn, sự can thiệp của vi khuẩn,hàng rào đặc hiệu, chống sự xâm nhập và ngăn chặn sự cạnh tranh Các cơ chế để vi khuẩn đường ruột ức chế mầm bệnh bao gồm cạnh tranh các vị trí xâm nhiễm, cạnh tranh các chất dinh dưỡng, sản sinh các chất độc hoá học, hoặc kích thích hệ miễn dịch Sử dụng những thực phẩm lên men và các vi khuẩn lactic (lactobacilli

và bifidobacteria) đã kéo theo sự loại trừ những tác nhân gây bệnh cho sức khỏe Nghiên cứu trong thế kỷ qua đã chỉ ra rằng vi khuẩn lactic và một số vi sinh vật khác có thể làm tăng sức đề kháng đối với bệnh tật và vi khuẩn lactic có thể nhân lên và phát triển được trong đường ruột bằng cách hấp thu carbohydrate Tăng sức đề kháng từ kháng thể và các sản phẩm tiết của vi sinh vật có lợi trong cơ thể giúp cộng đồng và chính phủ trong việc kiên quyết loại trừ sử dụng, điều trị bằng chất kháng sinh trong chăn nuôi Probiotic đã mở ra một hướng an toàn sinh học hơn trong chăn nuôi và sẽ nhanh chóng trở thành một biện pháp thay thế hữu hiệu cho việc dùng các chất cấm

Trong chăn nuôi

Việc sử dụng chế phẩm probiotic như là nguồn thức ăn bổ sung trong chăn nuôi tạo được sự bảo hộ tốt đối với hệ sinh thái đường ruột, giúp cho hệ VSV trong đường tiêu hóa duy trì được sự cân bằng theo hướng có lợi cho vật chủ Trên cơ sở này ngăn ngừa sự rối loạn tiêu hóa là một mắt xích quan trọng gây ra bệnh đường ruột làm ảnh hưởng đến tăng sức đề kháng và tốc độ sinh trưởng của vật nuôi

Trang 18

Nghiên cứu sản xuất chế phẩm vi sinh, probiotic bổ sung vào thức ăn chăn nuôi đang được phát triển mạnh mẽ trên thế giới do những hiệu qủa to lớn của nó trong việc tăng năng xuất vật nuôi, nâng cao hiệu qủa sử dụng thức ăn, hạ giá thành sản xuất và bảo đảm vệ sinh an toàn sản phẩm Những lòai vi khuẩn, nấm men như: Lactobacillus acidophillus, Lactobacillus platarum, Bacillus subtilis, Bacillus megaterium, Treptococcus faecium, Saccharomyce boulardii, Sacchromyces serevisiae Đã được phân lập, nuôi cấy và bào chế dưới dạng chế phẩm vi sinh, probiotic, prebiotic bổ sung vào thức ăn nhằm cải thiện khả năng năng tiêu hóa, hấp thu; nâng cao sức đề kháng và thay thế sử dụng kháng sinh, hóa dược trong thức ăn chăn nuôi (Simon, 2001)

Nghiên cứu của Maxwell et al (1983); Hong et al (2002) cho rằng bổ sung probiotic chứa Lactobacillus sp có tác động tốt đến khả năng tiêu hóa Một

số nghiên cứu khác lại cho rằng bổ sung probiotic có chứa Lactobacillus hoặc Bacillus không ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa của lợn thí nghiệm (Hale et al., 1979; Kornegay et al., 1996)

Martin Král (2012) và nhiều nghiên cứu khác về ứng dụng các chế phẩm probiotic trong chăn nuôi gia cầm cho thấy hỗn hợp Lactobacillus cidophilus với Streptocccus faecium, Lactobacillus casei, L.fermentum và L plantarum đã làm giảm sự bài thải E.coli trong phân

Nghiên cứu của Lưu Thị Uyên (1999) sử dụng Bacillus spp trong phòng ngừa và điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn giúp làm giảm số lượng vi khuẩn E.coli trong phân

Nghiên cứu của Nguyễn Duy Hoan và Trần Thị Kim Oanh (2001) sử dụng Sacchromyces ssp, Aspergillus ssp, Lactobacillus ssp trong chăn nuôi gà thả vườn giúp làm tăng tỷ lệ thịt, giảm mùi hôi của chuồng và giảm tiêu tốn thức ăn Cải thiện số ngày đẻ trứng, hệ số chuyển biến thức ăn, trọng lượng trứng

và chất lượng lòng đỏ (Tortuero and Fernandez, 1995)

Chủ yếu các nghiên cứu đã tuyển chọn và phân lập vi sinh vật sản xuất chế phẩm Bên cạnh đó có các nghiên cứu ứng dụng các sản phẩm trên lợn, gà, thủy sản Nhằm phòng tránh tỷ lệ mắc bệnh đường ruột như: bệnh phân trắng lợn con, tiêu chảy, tăng tỷ lệ đẻ, tăng khả năng cho thịt

Những nghiên cứu trên gia cầm tại các trường đại học của Maryland và phía Bắc bang Carolina, sử dụng một sản phẩm Primalac cho thấy là probiotic

Trang 19

hạn chế bệnh do E.coli, Salmonella sp và Clostridium sp ở những vị trí lông nhung của ruột non, nơi mà vi khuẩn có hại sẽ phá hủy lông nhung Probiotic gia tăng sự kháng bệnh bằng cách tăng độ cao của lông nhung và tăng độ sâu của các khe nằm giữa lông nhung, theo cách đó sẽ gia tăng được diện tích bề mặt hấp thu chất dinh dưỡng Vì vậy sẽ gia tăng hiệu quả hấp thụ thức ăn Nghiên cứu cũng cho thấy Primalac giúp động vật chống lại sự lây nhiễm cầu trùng (Eimeria acervulina)

Trong nuôi trồng thủy sản

Probiotic tác dụng đến khả năng miễn dịch, khả năng kháng bệnh và các chỉ số hoạt động khác của động vật thủy sản bao gồm những vi khuẩn họ Bacillus, Enterococcus, Streptococcus Các vi khuẩn này có thể được bổ sung trong khẩu phần ăn để giúp củng cố số lượng vi khuẩn có lợi qua đó thiết lập cơ chế phòng ngừa mầm bệnh hữu hiệu bằng cách cạnh tranh nơi ở và dinh dưỡng với vi khuẩn gây bệnh Hơn nữa việc tăng cường các vi khuẩn có lợi trong đường ruột giúp cải thiện quá trình tiêu hóa nguồn dinh dưỡng và năng lượng của các loài thủy sản

Trên người

Probiotic có vai trò kháng khuẩn, cả Gram (+) và Gram (-), cạnh tranh với các nguồn bệnh bám vào ruột và cạnh tranh dinh dưỡng cần thiết cho sự sống sót của mầm bệnh

Probiotic tác động trên mô biểu bì ruột tăng gắn kết các tế bào biểu mô, giảm kích thích bài tiết và những hậu quả do bị viêm nhiễm vi khuẩn, tạo ra các phân tử phòng vệ

Probiotic giúp tăng cường miễn dịch, giảm dị ứng và cải thiện hệ vi sinh vật đường ruột, ngăn ngừa tiêu chảy và táo bón Probiotic tác động đến vi khuẩn đường ruột tạo nên sự cân bằng hệ sinh thái và điều hòa trao đổi chất, giảm pH của bộ phận tiêu hóa, gây cản trở tiết enzyme của vi sinh vật đường ruột, tăng dung nạp lactose, tăng vi khuẩn có lợi và giảm vi khuẩn gây hại

Ngoài ra Probiotic còn có vai trò chống di ứng, cung cấp cho cơ thể nhiều

vi chất quan trọng (acid folic, roboflavin,vitamin B6 và B12), giảm nguy cơ ung thư ruột và bàng quang, khử chất độc gây ung thư, làm chậm phát triển u bướu, giảm Cholesterol, giảm huyết áp, giúp huyết áp, giúp nhanh bình phục sau tiêu chảy và dùng kháng sinh

Trang 20

Việc sử dụng probiotics trong thực phẩm được để xuất rằng có thể làm giảm nguy cơ gây bệnh từ thực phẩm sang người Năm 2003, Ủy ban khoa học châu Âu (EC) về dinh dưỡng động vật đã khuyến cáo rằng: những giống vi khuẩn trước đây có thể chấp nhận như một probiotic động vật thì bản chất của gen đề kháng kháng sinh phải được xác định và những chủng mang gen đề kháng kháng sinh được sử dụng trong y dược thì không nên bổ sung vào thức ăn chăn nuôi trừ khi vi khuẩn đó có đột biến trên gen đề kháng kháng sinh Chính sách này sẽ ngăn chặn được việc sử dụng các vi khuẩn có khả năng truyền gen kháng kháng sinh sang các vi khuẩn khác làm probiotic bổ sung vào thức ăn chăn nuôi Điều này cũng hạn chế ứng dụng của probiotic cho người

Việc sử dụng probiotic ở động vật và nuôi trồng thủy sản được đánh giá cao Probiotic giúp cải thiện sức khỏe của động vật, giúp tăng trọng, giảm tỉ lệ chết non và ngăn chặn tác nhân gây bệnh Sự lạm dụng kháng sinh trong ngành chăn nuôi và khả năng đề kháng kháng sinh đã làm tăng mối quan tâm đến probiotics

Thực tế thì probiotic cần thiết được bổ sung vào thức ăn chăn nuôi trong nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và an toàn đối với con người Sự bám dính lên niêm mạc đường tiêu hóa của vi khuẩn probiotic được xem là cơ chế quan trọng

để ngăn các tác nhân gây bệnh

2.2 YẾU TỐ CƠ THỂ VẬT NUÔI ĐÁP ỨNG VỚI PROBIOTIC

2.2.1 Đường tiêu hóa

Về mặt đại thể, hệ tiêu hóa của gà gồm ống tiêu hóa và các tuyến tiêu hóa lớn Ống tiêu hóa gồm: miệng, hầu, thực quản, dạ dày (dạ dày tuyến và dạ dày cơ), phần ruột trước (ruột non) , ruột sau (ruột già bao gồm cả hai manh nang)

mở ra ở ổ nhớp Các tuyến tiêu hóa lớn có gan và tụy Mỗi đoạn có cấu tạo phù hợp với chức năng

Ruột non giữ vai trò quan trọng trong quá trình biến đổi thức ăn, hấp thu chất dinh dưỡng và tạo phân Những chức năng này phản ánh rõ trên cấu tạo của ruột non Ruột có tuyến tiết dịch tiêu hóa và các phần hấp thu đặc biệt như nếp gấp, lông nhung và vi nhung

Số lượng lông nhung ở tá tràng nhiều hơn so với không tràng và hồi tràng Lông nhung làm tăng diện tích bề mặt của ruột non lên 10 lần và cách nhau bởi

Trang 21

những rãnh hẹp.Vi nhung là sự biến đổi phần đỉnh của màng nguyên chất của tế bào biểu mô phủ trên bề mặt lông nhung, chúng giúp gia tăng diện tích hấp thu của ruột non lên 20 lần

Tế bào hình đài: nằm xen giữa những tế bào mâm khía Đây là những tế bào phần giữa phình to, hai đầu thon lại

Tế bào ưa crôm và ưa bạc: có dạng một cái chai, đáy nằm trên đáy của biểu mô Thường gặp tế bào này ở phần đỉnh lông nhung

Lớp đệm: được cấu tạo bởi tổ chức liên kết có nhiều lưới sợi, đại thực bào, lâm ba cầu Ngoài ra, trong lớp đệm còn có nang kín lâm ba chiếm cả chiều cao niêm mạc và xuống cả phần dưới niêm mạc Một vài nơi nang kín lâm ba tập họp lại thành mảng rộng gọi là mảng Payer

Lớp cơ niêm: cấu tạo bởi tổ chức cơ trơn gồm lớp cơ vòng bên trong và lớp cơ dọc bên ngoài

Lớp hạ niêm mạc

Là tổ chức liên kết mềm chứa nhiều mạch quản, thần kinh và nang lâm ba Trong lớp đệm và tầng dưới niêm mạc ruột non có hai loại tuyến: tuyến Lieberkuhn và tuyến Brunner Tuyến Lieberkuhn là tuyến ống đơn, thành của tuyến được cấu tạo từ tế bào hấp thu, tế bào đài và tế bào nội tiết đường ruột được thấy ở tất cả các đoạn ruột và nằm trong niêm mạc Tuyến Brunner ở tá tràng , ở tầng niêm mạc và tầng dưới niêm mạc

Lớp áo cơ

Cấu tạo lớp áo cơ là tổ chức cơ trơn Lớp cơ vòng phía trong dày, lớp cơ dọc phía ngoài mỏng Giữa hai lớp có tổ chức liên kết thần kinh và mạch quản Lớp áo ngoài

Lớp áo ngoài là tổ chức liên kết

Như vậy, khi bổ sung sản phẩm probiotic vào thức ăn sẽ làm cấu tạo long

Trang 22

nhung thay đổi Số lượng lông nhung được tăng lên và được bảo vệ, tránh các tác động từ các vi khuẩn có hại Từ đó làm tăng khả năng chuyển hóa và hấp thu thức ăn

Hình 2.2 Cấu tạo ruột non

Ghi chú: Intestine = ruột; Muscle layers = lớp cơ; Hepatic portal vein = tĩnh mạch cửa gan; To liver

= đến gan; Villi = lông nhung; Capillary bed = lưới mao mạch; Lacteal = ống dưỡng chấp; Microvilli = vi nhung; Epithelium = biểu mô

2.2.2 Quá trình sinh trưởng

Sinh trưởng là sự tăng trưởng về kích thước tế bào, số lượng tế bào và dịch thể tế bào Campbell John et al (1969) Về mặt sinh hóa, sinh trưởng được xem là quá trình tổng hợp protein Vì thế, khi đánh giá quá trình sinh trưởng người ta thường dựa vào khối lượng cơ thể Tuy nhiên, khối lượng có thể tăng lên là do tích lũy nước, tích lũy mỡ mà không có sự phát triển của mô cơ

Sự sinh trưởng của gia cầm sau nở được chia làm hai thời kỳ:

Thời kỳ gà con

Trong thời kỳ này số lượng tế bào tăng nhanh cả về số lượng, kích thước

và khối lượng nên gia cầm có tốc độ sinh trưởng nhanh với cường độ mạnh Một

số cơ quan nội tạng chưa phát triển hoàn chỉnh, đặc biệt là hệ tiêu hoá Các men tiêu hoá chưa đầy đủ, gà con dễ bị ảnh hưởng của thức ăn và nuôi dưỡng Do đó, chất lượng thức ăn và kỹ thuật nuôi dưỡng ở thời kỳ này ảnh hưởng rất lớn tới tốc độ sinh trưởng của gia cầm Gà con rất nhậy cảm với sự thay đổi của điều kiện nuôi dưỡng, đặc biệt là nhiệt độ Trong những ngày đầu thì nhiệt độ ảnh

Trang 23

hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng của gà con, do thân nhiệt chưa ổn định Cũng trong thời kỳ này diễn ra quá trình thay lông Đây là quá trình sinh lý quan trọng của gia cầm, nó làm tăng quá trình trao đổi chất, quá trình tiêu hoá, hấp thu, tuần hoàn, do đó cần chú ý tới hàm lượng các chất dinh dưỡng đặc biệt là các xít amin hạn chế như: Lyzin, Methionin, Tryptophan…

Thời kỳ gà trưởng thành

Thời kỳ này các cơ quan trong cơ thể gia cầm gần như đã phát triển hoàn thiện Số lượng tế bào tăng chậm, chủ yếu là quá trình phát dục Quá trình tích luỹ của gia cầm một phần để duy trì sự sống và một phần để tích luỹ mỡ, tốc độ sinh trưởng chậm hơn thời kỳ gà con Vì vậy giai đoạn này cần xác định thời điểm giết

mổ hợp lý (khi tốc độ sinh trưởng giảm) để cho hiệu quả kinh tế cao nhất

Trong chăn nuôi gia cầm, việc nghiên cứu sinh trưởng đầu tiên là chú ý đến vấn đề xác định khối lượng cơ thể ở một tuần tuổi nào đó Khối lượng cơ thể

ở tuần tuổi nào đó là một chỉ tiêu sử dụng rất quen thuộc để đánh giá sự sinh trưởng vì chỉ tiêu này đơn giản, dễ thực hiện Vì vậy ta nên theo dõi khối lượng của cơ thể ở các tuần tuổi và tính mức độ tăng khối lượng vì tính trạng này liên quan đến hiệu quả sử dụng thức ăn

2.2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gia cầm

Sinh trưởng của gia cầm là quá trình sinh học phức tạp, chịu nhiều ảnh hưởng của nhiều yếu tố về di truyền và ngoại cảnh như: Dòng, giống, giới tính, tốc độ mọc lông, khối lượng bộ xương, sự phát triển của xương lưỡi hái, chế độ dinh dưỡng, khả năng kháng bệnh, điều kiện chăn nuôi và nhiều yếu tố khác

Ảnh hưởng của dòng, giống

Các giống, các dòng khác nhau thì có tốc độ sinh trưởng khác nhau Gà hướng thịt, có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà hướng trứng Theo tài liệu của Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) , sự khác nhau về khối lượng giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hướng trứng khoảng 500 - 700g (13 - 30%) Theo Trần Long (1994) , kết quả nghiên cứu tốc độ sinh trưởng trên

3 dòng thuần (dòng V1, V3, V5) của giống gà Hybro HV85 cho thấy tốc độ sinh trưởng 3 dòng hoàn toàn khác nhau ở 42 ngày tuổi Gà trống có khả năng tăng trọng cao nhất vào 7 - 8 tuần tuổi, gà mái vào lúc 6 - 7 tuần tuổi

Letner et al (1983) đã so sánh tốc độ sinh trưởng của các giống gà Leghorn trắng và Plymouth Rock tới 24 tuần tuổi cho thấy gà Plymouth Rock sinh trưởng nhanh hơn gà Leghorn 2 - 6 tuần tuổi và sau đó không có sự khác nhau

Trang 24

Ảnh hưởng của tính biệt

Do có sự khác nhau về đặc điểm và chức năng sinh lý nên quá trình sinh trưởng và phát triển giữa gà trống và gà mái không giống nhau

Theo Bùi Đức Lũng (1992), khối lượng cơ thể gà broiler trống và mái V135 khác nhau ngay từ lúc một ngày tuổi và mức độ khác biệt rõ hơn theo lứa tuổi gà

Trần Đình Miên và cs (1994) cho thấy lúc mới nở gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng sự sai khác càng lớn, ở 2 tuần tuổi sự sai khác về khối lượng giữa gà trống và gà mái là hơn 5%, 3 tuần tuổi 11% và 8 tuần tuổi hơn 27% Godfrey et al (1952) cho rằng: kiểu di truyền về khối lượng cơ thể do 15 cặp gen quy định, trong đó ít nhất có một cặp gen liên kết giới tính (nằm trên nhiễm sắc thể X) do đó dẫn đến sự sai khác về khối lượng cơ thể giữa gà trống và gà mái, trong cùng một giống gà trống nặng hơn gà mái từ 24 - 32% Ở gà trống gen này hoạt động mạnh hơn gà mái do gà trống có hai nhiễm sắc thể giới tính còn gà mái có một nhiễm sắc thể giới tính

Theo Godfrey et al (1952), sự di truyền các tính trạng về khối lượng cơ thể

do 15 cặp gen tham gia trong đó ít nhất có một gen về sinh trưởng liên kết giới tính (nằm trên nhiễm sắc thể X) Vì vậy có sự sai khác về khối lượng cơ thể giữa con trống và con mái trong cùng một giống, gà trống nặng hơn gà mái 24 - 32%

Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng

Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn tới tốc độ sinh trưởng của gia cầm

Vì vậy, phải cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng nếu không sẽ làm giảm khả năng sinh trưởng và khả năng sản xuất của gia cầm, đồng thời không phát huy hết tiềm năng của giống

Dinh dưỡng không chỉ ảnh hưởng đến sự khác nhau của các tổ chức trong cơ thể như: Hệ thần kinh, cơ quan sinh sản, xương, cơ, mô, mỡ…mà còn ảnh hưởng tới

sự phát triển của mô này tới mô khác Dinh dưỡng không chỉ ảnh hưởng tới sinh trưởng mà còn ảnh hưởng tới biến động di truyền sinh trưởng

Theo Trần Đình Miên và cs (1975), nuôi dưỡng có tác dụng rất lớn đối với sự phát triển của gia súc, gia cầm Khẩu phần đầy đủ chất dinh dưỡng sẽ thúc đẩy quá trình sinh trưởng phát dục Ngược lại nếu thức ăn thiếu protein, vitamin, khoáng thì quá trình sinh trưởng sẽ chậm lại Theo Rovimen (1994), các mức protein và năng lượng trong khẩu phần đã ảnh hưởng đến khả năng tăng khối lượng và chuyển hóa thức ăn của gà broiler Ross - 208

Trang 25

Theo Bùi Đức lũng và Lê Hồng Mận (1995), để phát huy khả năng sinh trưởng của gia cầm không những phải cung cấp đầy đủ thức ăn với đầy đủ chất dinh dưỡng mà còn phải đảm bảo sự cân bằng giữa chúng, đặc biệt là cân bằng giữa năng lượng và protein, sự cân bằng giữa các axit amin Nghiên cứu khác của tác giả (1992) cho thấy để phát huy khả năng sinh trưởng cần phải cung cấp thức

ăn tối ưu với đầy đủ chất dinh dưỡng được cân bằng nghiêm ngặt giữa protein và các axit amin với năng lượng, ngoài ra trong thức ăn hỗn hợp cần được bổ sung hàng loạt các chế phẩm sinh học kích thích sinh trưởng làm tăng chất lượng thịt Tác giả Lê Hồng Mận và cs (1995) cho biết đã xác định được nhu cầu protein thích hợp nuôi gà Broiler cho năng suất cao, còn theo Trần Công Xuân và cs (1995), khi nghiên cứu chế độ dinh dưỡng nuôi gà Broiler AV - 35 gồm 9 lô thí nghiệm với 3 mức năng lượng và protein khác nhau cho thấy khối lượng gà ở 56 ngày tuổi khác nhau rõ rệt

Dinh dưỡng của gia cầm gồm có nhiều thành phần, mỗi thành phần dinh dưỡng đều có tầm quan trọng và ý nghĩa riêng

Protein cấu tạo lên mô bào, là thành phần chính của các enzim cho các quá trình biến đổi vật chất trong cơ thể Do vậy những giống vật nuôi sinh trưởng càng nhanh thì nhu cầu protein càng cao Trong mỗi giống, dòng, mỗi cá thể ở các giai đoạn sinh trưởng phát triển khác nhau nhu cầu protein khác nhau Sự thiếu hụt các axit amin trong khẩu phần sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng

và hiệu quả sử dụng thức ăn của gia cầm Khi khẩu phần dư thừa protein thì gia cầm giảm sinh trưởng, giảm tích luỹ mỡ và tăng hàm lượng axit uric trong máu

Cũng như protein, năng lượng được đưa vào cơ thể để duy trì và sản xuất Nếu năng lượng trong khẩu phần thấp thì gà ăn nhiều hơn song hiệu quả sử dụng thức ăn kém hơn

Ảnh hưởng của mật độ nuôi

Mật độ nuôi ảnh hưởng tới hàm lượng khí độc sinh ra trong chuồng nuôi, khí độc trong chuồng nuôi sinh ra từ sự phân hủy phân, nước tiểu, nước thải, thức

làm lượng kiềm dự trữ trong máu tăng, gia cầm bị trúng độc kiềm Theo Đỗ Ngọc Hòe (1995), khi hàm lượng NH3 trong chuồng là 25ppm sẽ làm giảm lượng hemoglobin trong máu, giảm sự trao đổi khí, giảm hấp thu dinh dưỡng và làm giảm tăng trọng của gà tới 4% Còn theo Coldhaft (1971) cùng với NH3, khí

Trang 26

H2S cũng là khí độc ảnh hưởng tới sinh trưởng, H2S kết hợp với Na trong dịch

H2S, tác động tới thần kinh, gây trúng độc cho gia cầm Nếu nồng độ H2S lớn hơn 1mg/l, gà sẽ bị chết vì bị liệt trung khu hô hấp (Đỗ Ngọc Hòe, 1995)

Mật độ nuôi ảnh hưởng tới khả năng điều hòa thân nhiệt vì mật độ nuôi làm thay đổi nhiệt độ, độ ẩm của tiểu khí hậu chuồng nuôi, giảm mật độ nuôi góp phần làm tỏa nhiệt từ cơ thể gà dễ dàng hơn Với điều kiện khí hậu ở nước ta, khi

Ảnh hưởng của tốc độ mọc lông

Tốc độ mọc lông của gà liên quan chặt chẽ với tốc độ sinh trưởng Theo Kushner (1974) , tốc độ mọc lông có quan hệ chặt chẽ tới tốc độ sinh trưởng, thường gà lớn nhanh thì mọc lông nhanh và đều hơn ở gà chậm lớn

Brandsch et al (1978), tốc độ mọc lông là tính trạng di truyền có liên quan tới đặc điểm trao đổi chất, sinh trưởng và phát triển của gia cầm

Phan Cự Nhân và Trần Đình Miên (1998) cho biết tốc độ mọc lông là tính trạng di truyền liên kết với giới tính, trong cùng một dòng gà thì gà mái có tốc độ mọc lông đều hơn gà trống, đó là hormone tác dụng ngược chiều với gen liên kết giới tính Trong cùng một giống, cùng giới tính, ở gà có tốc độ mọc lông nhanh

có tốc độ sinh trưởng, phát triển tốt hơn

Hayer et al (1970) đã xác định trong cùng một giống thì gà mái mọc lông đều hơn gà trống và tác giả cho rằng ảnh hưởng của hoocmon có tác dụng ngược chiều với gen liên kết với giới tính quy định tốc độ mọc lông

Ảnh hưởng của môi trường

Ngoài các yếu tố kể trên ra, những yếu tố môi trường như: Nhiệt độ, ẩm

độ, ánh sáng, sự thông thoáng,…cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng của gia cầm 2.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng của gia cầm

Khối lượng cơ thể (sinh trưởng tích luỹ)

Sinh trưởng tích lũy là khối lượng cơ thể gia cầm qua các giai đoạn nuôi (thường xác định theo tuần tuổi) Đơn vị tính bằng kg/con hoặc g/con Đối với gà thịt, sinh trưởng tích luỹ là chỉ số năng suất quan trọng nhất làm căn cứ để so sánh các cá thể, các dòng hoặc giống với nhau

Trang 27

Sinh trưởng tuyệt đối

Sinh trưởng tuỵêt đối là sự tăng lên về khối lượng kích thước, thể tích cơ thể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát (T.C.V.N 2.39, 1997 Sinh trưởng tuyệt đối được tính bằng g/con/ngày hoặc g/con/tuần Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao hiệu quả kinh tế càng lớn

Sinh trưởng tương đối

Sinh trưởng tương đối: là tỷ lệ phần trăm (%) tăng lên của khối lượng, kích thước và thể tích cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát (T.C.V.N 2.40, 1997), đơn vị tính là %

Trang 28

PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 VẬT LIỆU, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

- Vật liệu nghiên cứu: Chế phẩm probiotic – Bio Triluc do công ty TNHH Dinh dưỡng và dịch vụ thú y cung cấp

Bio Triluc chứa các chủng Bacillus dạng bào tử được Royal University

UK nghiên cứu và phát triển Trong 1 kg chế phẩm chứa:

Chất mang đặc biệt vừa đủ 1kg

là có các đặc tính sinh học tốt, phù hợp với hệ tiêu hóa của gà thịt Bào tử có khả năng nảy mầm trong hệ tiêu hóa và phát huy các đặc tính sinh học có lợi

Hình 3.1 Chế phẩm Bio Triluc Theo khuyến cáo của nhà sản xuất Bio Triluc có chứa các chủng Bacillus subtilis, Bacillus licheniformis, Bacillus coagulans, Bacillus indicus sản sinh Enzyme protease, amylase, cellulase, phytase giúp gia càm thịt tiêu hóa triệt để các thành phần dinh dưỡng trong thức ăn, giảm FCR, cải thiện tăng trọng bình

Trang 29

quân trên ngày Các thành phần dinh dưỡng được tiêu hóa triệt để giúp giảm mùi

phân khô tơi, tạo khuôn phân Các Bacillus subtilis, Bacillus licheniformis, Bacillus coagulans sản sinh subtilin, coagulin ức chế các vi khuẩn có hại (E.coli, Salmonella, Clostridium perfringens), nâng cao miễn dịch đường ruột, hạn chế viêm ruột tiêu chảy Chủng Bacillus coagulans sản sinh acid lactic tạo môi trường pH thuận lợi giúp vi khuẩn lactic phát triển (Lactobacillus, Bifidobacterium), ổn định và cân bằng hệ vi sinh đường ruột cho gà thịt

Bio Triluc có chứa hàm lượng cao chủng Bacillus indicus đặc biệt có khả năng sinh β-carotenoid và sinh nhiều loại enzyme hàm lượng cao giúp nâng cao khả năng tiêu hóa, cải thiện màu sắc và chất lượng thân thịt

Tuy nhiên tác dụng của bất kỳ một chế phẩm sinh học nào cũng cần được thử nghiệm, khảo nghiệm và đánh giá trên các đối tượng khác nhau, ở các điều kiện chăn nuôi khác nhau

- Địa điểm: Trại chăn nuôi gà Xuân Lai- Gia Bình- Bắc Ninh

- Thời gian: từ tháng 6/2016 đến tháng 1/2017

3.2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.2.1 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá tác dụng của việc sử dụng chế phẩm Bio Triluc đến các chỉ tiêu sản xuất:

+ Tỷ lệ nuôi sống của gà

+ Khối lượng cơ thể gà

- Đánh giá tác dụng của việc sử dụng chế phẩm Bio Triluc đến tiêu tốn thức ăn:

+ Lượng thức ăn thu nhận

+ Tỷ lệ chuyển hóa thức ăn

- Đánh giá tác dụng của việc sử dụng chế phẩm Bio Triluc đến cấu trúc biểu mô ruột:

+ Hình thái biểu mô

+ Kích thước lông nhung

- Hiệu quả của việc bổ sung Bio Triluc trong thức ăn cho gà J Dabaco

Trang 30

3.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Gà mới nở được nuôi trong trại thí nghiệm, đảm bảo điều kiện nuôi như nhau giữa các dãy chuồng thí nghiệm Gà được nuôi trên nền xi măng lót trấu làm chất độn chuồng với độ dày khoảng 6 – 8 cm

Hình 3.2 Gà J Dabaco 1 ngày tuổi được kiểm tra và phân nhóm thí nghiệm Giai đoạn đầu gà từ 1 - 7 ngày tuổi, nhiệt độ trong chuồng được điều chỉnh

Quy trình kỹ thuật chăn nuôi và phòng bệnh được thực hiện theo quy trình chăn nuôi gà thịt công nghiệp, đảm bảo sinh trưởng và phát triển tốt cho gà thử nghiệm Thí nghiệm được lặp lại 03 lần Số gà cho mỗi lần thí nghiệm là 50 con được phân thành 02 nhóm: nhóm đối chứng (được nuôi bằng khẩu phần cơ sở) và nhóm thí nghiệm (được bổ sung chế phẩm vào nước uống với liều lượng 01g/02 lít nước uống)

3.2.3 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu

Sinh trưởng tích lũy: Cân gà lúc sau nở và cân theo từng tuần tuổi từ 1 -

tuần tuổi cân bằng cân đồng hồ loại 1kg có độ chính xác ± 2,5g, từ 5 - 7 tuần tuổi cân bằng cân đồng hồ loại 2kg có độ chính xác ± 5g, từ 8- 13 tuần tuổi cân bằng cân đồng hồ loại 5kg có độ chính xác ± 10g Tiến hành cân từng con một vào thời gian 7h - 7h30 sáng, cân trước khi cho ăn và cân cố định một ngày trong tuần

Xác định lượng thức ăn thu nhận qua các giai đoạn:

Ngày đăng: 10/03/2021, 15:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1995). Thức ăn và nuôi dưỡng gia cầm. Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn và nuôi dưỡng gia cầm
Tác giả: Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1995
3. Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (2016). Thông tư số 06/2016/TT- BNNPTNT ngày 31 tháng 5 năm 2016 về việc hàm lượng kháng sinh được phép sử dụng trong thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm, nhằm mục đích kích thích sinh trưởng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 06/2016/TT- BNNPTNT ngày 31 tháng 5 năm 2016 về việc hàm lượng kháng sinh được phép sử dụng trong thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm, nhằm mục đích kích thích sinh trưởng
Tác giả: Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn
Năm: 2016
6. Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng và Phạm Quang Hoán (1995). Nghiên cứu yêu cầu protein trong thức ăn hỗn hợp gà Broiler nuôi tách trống từ 1- 63 ngày tuổi. Thông tin gia cầm. tr 17- 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu yêu cầu protein trong thức ăn hỗn hợp gà Broiler nuôi tách trống từ 1- 63 ngày tuổi
Tác giả: Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng, Phạm Quang Hoán
Nhà XB: Thông tin gia cầm
Năm: 1995
8. Nguyễn Duy Hoan và Trần Kim Oanh (2001). Nghiên cứu chế phẩm EM trong chăn nuôi gà thả vườn giống Kabir tại Thái Nguyên. Tạp chí KHKTTY. 15, tr 55-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chế phẩm EM trong chăn nuôi gà thả vườn giống Kabir tại Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan, Trần Kim Oanh
Nhà XB: Tạp chí KHKTTY
Năm: 2001
9. Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Bùi Hữu Đoàn và Nguyễn Thị Mai (1994). Chăn nuôi gia cầm. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội. tr 104- 170 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Bùi Hữu Đoàn, Nguyễn Thị Mai
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1994
10. Nguyễn Thị Mai, Bùi Hữu Đoàn và Hoàng Thanh (2009). Giáo trình chăn nuôi gia cầm. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội. tr 66- 169 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Thị Mai, Bùi Hữu Đoàn, Hoàng Thanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2009
11. Nguyễn Đình Trình, Nguyễn Thị Dung, Nguyễn Bá Tiếp, Phạm Kim Đăng (2017). Tác dụng của Probiotic bacillus dạng bào tử chịu nhiệt đến sinh trưởng và hình thái vi thể biểu mô đường ruột lợn con trước và sau cai sữa. Tạp chí Khoa học kỹ thuật chăn nuôi. 219. tr 48-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác dụng của Probiotic bacillus dạng bào tử chịu nhiệt đến sinh trưởng và hình thái vi thể biểu mô đường ruột lợn con trước và sau cai sữa
Tác giả: Nguyễn Đình Trình, Nguyễn Thị Dung, Nguyễn Bá Tiếp, Phạm Kim Đăng
Nhà XB: Tạp chí Khoa học kỹ thuật chăn nuôi
Năm: 2017
12. Nguyễn Thị Thơm, Nguyễn Đình Trình, Trần Minh Hải, Nguyễn Bá Tiếp và Phạm Kim Đăng (2017). Ảnh hưởng của probiotic bacillus dạng bào tử chịu nhiệt đến sinh trưởng, một số vi khuẩn và hình thái vi thể biểu mô đường ruột gà Ross 308.Tạp chí Khoa học kỹ thuật chăn nuôi. 220.tr 26-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của probiotic bacillus dạng bào tử chịu nhiệt đến sinh trưởng, một số vi khuẩn và hình thái vi thể biểu mô đường ruột gà Ross 308
Tác giả: Nguyễn Thị Thơm, Nguyễn Đình Trình, Trần Minh Hải, Nguyễn Bá Tiếp, Phạm Kim Đăng
Nhà XB: Tạp chí Khoa học kỹ thuật chăn nuôi
Năm: 2017
13. Phạm Kim Đăng, Đặng Đình Trình, Nguyễn Hoàng Thịnh, Nguyễn Thị Phương Giang và Nguyễn Bá Tiếp (2016). Ảnh hưởng của probiotic Bacillus dạng bào tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của probiotic Bacillus dạng bào tử
Tác giả: Phạm Kim Đăng, Đặng Đình Trình, Nguyễn Hoàng Thịnh, Nguyễn Thị Phương Giang, Nguyễn Bá Tiếp
Năm: 2016
15. Phùng Đức Tiến, Nguyễn Thị Mười, Lê Thu Hiền (1999). Một số tính trạng sản xuất của gà Ai Cập. Chuyên san chăn nuôi gia cầm, Hội chăn nuôi Việt Nam. Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số tính trạng sản xuất của gà Ai Cập
Tác giả: Phùng Đức Tiến, Nguyễn Thị Mười, Lê Thu Hiền
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1999
18. Trần Đình Miên, Nguyễn Hải Quân và Vũ Kính Trực (1975). Chọn giống và nhân giống gia súc. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội. tr.75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn giống và nhân giống gia súc
Tác giả: Trần Đình Miên, Nguyễn Hải Quân, Vũ Kính Trực
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1975
19. Trần Đình Miên, Phan Cự Nhân, Nguyễn Văn Thiện, Trần Đình Đạt (1994). Di truyền chọn giống động vật. Giáo trình cao học - NXB Nông nghiệp, Hà Nội. Tr.42 - 74, 86 - 120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền chọn giống động vật
Tác giả: Trần Đình Miên, Phan Cự Nhân, Nguyễn Văn Thiện, Trần Đình Đạt
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1994
20. Trần Công Xuân, Bùi Quang Tiến, Phùng Đức Tiến và Võ Văn Sự (1995). Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của gà Ross 208 V35 và AV 35. Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật gia cầm và động vật mới nhập. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội. tr. 60- 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của gà Ross 208 V35 và AV 35
Tác giả: Trần Công Xuân, Bùi Quang Tiến, Phùng Đức Tiến, Võ Văn Sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1995
20. Awad W. A., J Bửhm, E Razzazi-Fazeli, K Ghareeb and J Zentek (2006). Effect of addition of a probiotic microorganism to broiler diets contaminated with deoxynivalenol on performance and histological alterations of intestinal villi of broiler chickens. Poult. Sci. Vol 85. pp. 974- 979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of addition of a probiotic microorganism to broiler diets contaminated with deoxynivalenol on performance and histological alterations of intestinal villi of broiler chickens
Tác giả: Awad W. A., J Bửhm, E Razzazi-Fazeli, K Ghareeb, J Zentek
Nhà XB: Poult. Sci.
Năm: 2006
22. Campbell J. R. and J.F Lasey (1969). The science of Animal that server Mankind. In, (eds.), Chapter, pp. 183 - 277 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The science of Animal that server Mankind
Tác giả: Campbell J. R., J.F Lasey
Năm: 1969
23. Chiang S.H and W. M Hsieh (1995). Effect of direct feed microorganisms on broiler growth performance and litter ammonia level. Asian Aust. J. Anim. Sci.Vol 8. pp. 159-162 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of direct feed microorganisms on broiler growth performance and litter ammonia level
Tác giả: S.H. Chiang, W. M. Hsieh
Nhà XB: Asian Australasian Journal of Animal Sciences
Năm: 1995
25. Collington G. K, D. S Parker and D. G. Armstrong (1990). The influence of inclusion of either an antibiotic or a probiotic in the diet on the development of digestive enzyme activity in the pig.Br. J. Nutr. Vol 64.pp.59-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The influence of inclusion of either an antibiotic or a probiotic in the diet on the development of digestive enzyme activity in the pig
Tác giả: Collington G. K, D. S Parker, D. G. Armstrong
Nhà XB: Br. J. Nutr.
Năm: 1990
27. Dierck N. A (1989). Biotechnology aids to improve feed and feed digestion: Enzymes and fermentation.Arch. Anim.Nutr. Berl. Vol 39. pp. 241-261 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biotechnology aids to improve feed and feed digestion: Enzymes and fermentation
Tác giả: Dierck N. A
Nhà XB: Arch. Anim. Nutr. Berl.
Năm: 1989
28. Duke G.E (1977). Avian digestion. In Physiology of Domestic Animals, 9th ed.; Duke, G.E., Ed.;Cornell University Press: Ithaca, NY, USA. pp. 313-320 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Physiology of Domestic Animals
Tác giả: Duke G.E
Nhà XB: Cornell University Press
Năm: 1977
29. Erfani Majd N., M. Mayahi and A. Sadeghi Moghadam (2013). The effect of alphamune and biomin on histomorphological structure of small intestine and caecal tonsil lymphoid tissue in broiler chicken. Iranian Journal of Veterinary Research, Shiraz University IJVR, 2014. Vol 15.1 (46). pp. 30-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effect of alphamune and biomin on histomorphological structure of small intestine and caecal tonsil lymphoid tissue in broiler chicken
Tác giả: Erfani Majd N., M. Mayahi, A. Sadeghi Moghadam
Nhà XB: Iranian Journal of Veterinary Research, Shiraz University
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w