1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu lực của vacxin cúm vô hoạt tái tổ hợp h5 nhị giá chủng re 6 + re 8 sử dụng ở gà, vịt chống lại virus cúm

88 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 16,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hồi cứu về tình hình dịch cúm gia cầm tại Việt Nam từ 2014 đến nay b.Thí nghiệm công cường độc đánh giá hiệu lực vacxin Re-6 + Re-8 chống lại virus H5N6 clade 2.3.4.4 Gà, vịt được chọn

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

TRẦN THỊ ĐÔNG

ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC CỦA VACXIN CÚM VÔ HOẠT TÁI TỔ HỢP H5 NHỊ GIÁ CHỦNG RE-6 + RE-8

SỬ DỤNG Ở GÀ, VỊT CHỐNG LẠI VIRUS CÚM A/H5N6

PHÂN LẬP TẠI VIỆT NAM NĂM 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

- Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

- Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa được

sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 24 tháng 05 năm 2017

Tác giả luận văn

Trần Thị Đông

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt 2 năm học tập và hoàn thành luận văn, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể, cho phép tôi được tỏ lòng biết ơn và cảm ơn chân thành tới:

Ban Giám hiệu Học Viện Nông nghiệp Việt Nam, Ban Đào tạo, Ban Chủ nhiệm Khoa Thú y, Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung Ương, các thầy cô giáo khoa Thú y đã giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi học tập, tiếp thu kiến thức của chương trình học

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn khoa học: PGS.TS Tô Long Thành và PGS.TS Nguyễn Thị Lan

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân cùng bạn bè và đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài

Một lần nữa, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và lời cảm ơn chân thành tới những tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập

Hà Nội, ngày 24 tháng 05 năm 2017

Tác giả luận văn

Trần Thị Đông

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục từ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục hình vii

Trích yếu luận văn viii

Thesis abstract x

Phần 1: Mở đầu 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu đề tài 2

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài 2

Phần 2: Tổng quan tài liệu 3

2.1 Sơ lược về bệnh cúm gia cầm 3

2.1.1 Khái niệm về bệnh cúm gia cầm 3

2.1.2 Lịch sử bệnh cúm gia cầm 3

2.1.3 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới 4

2.1.4 Tình hình dịch bệnh cúm gia cầm ở Việt Nam 6

2.1.5 Dịch tễ học bệnh cúm gia cầm 10

2.1.6 Triệu chứng, bệnh tích bệnh cúm gia cầm 10

2.1.7 Miễn dịch chống bệnh của gia cầm 11

2.1.8 Phương pháp chẩn đoán cúm gia cầm 16

2.2 Virus cúm gia cầm 16

2.2.1 Đặc điểm hình thái, cấu trúc của virus cúm type A 17

2.2.2 Đặc tính kháng nguyên của virus cúm 19

2.2.3 Độc lực virus 20

2.2.4 Sức đề kháng của virus 20

2.2.5 Sự tiến hóa của virus cúm 21

2.3 Một số loại vacxin phòng bệnh cúm gia cầm 24

2.3.1 Các loại vacxin được dùng hiện nay 24

Trang 5

2.3.2 Tình hình sử dụng vacxin cúm gia cầm trên thế giới 24

2.3.3 Tình hình sử dụng vacxin cúm gia cầm tại Việt Nam 25

Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu 27

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 27

3.1.1 Thời gian nghiên cứu 27

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 27

3.2 Nguyên liệu, đối tượng dùng trong nghiên cứu 27

3.2.1 Đối tượng, vật liệu 27

3.2.2 Các loại dung dịch, môi trường 27

3.3 Trang thiết bị máy móc, dụng cụ trong phòng thí nghiệm 27

3.4 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 28

3.4.1 Nội dung 28

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu 28

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 35

Phần 4: Kết quả và thảo luận 36

4.1 Tình hình dịch cúm gia cầm trong những năm gần đây 36

4.1.1 Nguyên nhân dịch tại Việt Nam 36

4.2.1 Phân bố các chủng virus cúm gia cầm 39

4.2.2 Lưu hành virus 40

4.3 Kết quả xác định hiệu giá kháng thể của vacxin tiêm cho đàn gà, vịt thí nghiệm 41

4.3.1 Hiệu giá kháng thể của gà khi được tiêm vacxin Re-6 + Re-8 41

4.3.2 Hiệu giá kháng thể của vịt khi được tiêm vacxin Re-6 + Re-8 44

4.4 Kết quả theo dõi lâm sàng sau khi công cường độc 47

4.4.1 Kết quả theo dõi lâm sàng 47

4.4.2 Kết quả xét nghiệm virus bài thải cơ, các cơ quan nội tạng, não 58

4.4.4 So sánh hiệu giá kháng thể trung bình và tỷ lệ bảo hộ lâm sàng giữa gà và vịt khi sử dụng vacxin Cúm vô hoạt tái tổ hợp H5 nhị giá chủng Re-6 + Re-8 62

Phần 5: Kết luận và kiến nghị 65

5.1 Kết luận 65

5.2 Kiến nghị 66

Tài liệu tham khảo 67

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

ADN or DNA (Acid Deoxyribo Nucleic) : Axit deoxyribonucleic

AI (Avian influenza) : Bệnh CGC

ARN or RNA (Acid Ribonucleic) : Axit ribonucleic

ATSH : An toàn sinh học

Bộ NN&PTNT : Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn CEF (Chicken Embryo Fibroblast) : Tế bào sơ phôi gà

CT (Cycle threshold ) : Giá trị ngưỡng vòng của phản ứng ELISA (Enzyme-Linked immunosorbent

assay) : Xét nghiệm miễn dịch gắn men

FAO (Food and Agriculture Organnization) : Tổ chức Nông Lương thế giới

GMT (Geometric Mean Titre) : Hiệu giá Trung bình lượng giác

HA (Haemagglutination assay) : Phản ứng ngưng kết hồng cầu

HI (Haemagglutination inhibition) : Phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu HPAI (Highly pathogenic avian influenza) : Cúm gia cầm thể độc lực cao

LPAI (Low pathogenic avian influenza) : Cúm gia cầm thể độc lực thấp

MDCK cell (Madin-Darby Cannie Kidney

cell) : Tế bào thận chó

OIE (Office Internationale des Epizooties) : Tổ chức Thú y thế giới

PBS (Phosphate-Buffered Saline) : Dung dịch đệm phôt phát

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Bố trí thí nghiệm kiểm tra hiệu lực vacxin 29

Bảng 4.1 Tình hình dịch cúm gia cầm từ năm 2014 - 2016 37

Bảng 4.2 So sánh tình hình cúm gia cầm năm từ 2015 đến 2016 38

Bảng 4.3 Phân bố mức hiệu giá kháng thể trong nhóm gà tiêm vacxin Re-6 + Re-8 với kháng nguyên H5N1 calde 2.3.2.1 42

Bảng 4.4 Phân bố mức hiệu giá kháng thể trong nhóm gà tiêm vacxin Re-6 + Re-8 với kháng nguyên H5N6 clade 2.3.4.4 43

Bảng 4.5 Phân bố mức hiệu giá kháng thể trong nhóm vịt tiêm vacxin Re-6 + Re-8 với kháng nguyên H5N1 calde 2.3.2.1 44

Bảng 4.6 Phân bố mức hiệu giá kháng thể trong nhóm vịt tiêm vacxin Re-6 + Re-8 với kháng nguyên H5N6 clade 2.3.4.4 45

Bảng 4.7 Kết quả theo dõi lâm sàng đàn gà thí nghiệm sau khi công cường độc với H5N6 clade 2.3.4.4 49

Bảng 4.8 Kết quả theo dõi lâm sàng đàn vịt thí nghiệm sau khi công cường độc với H5N6 clade 2.3.4.4 51

Bảng 4.9 Kết quả phát hiện virus cúm A/H5N6 clade 2.3.4.4 trên gà 54

Bảng 4.10 Kết quả phát hiện virus cúm A/H5N6 clade 2.3.4.4 trên vịt 56

Bảng 4.11 Kết quả mổ khám trên gà 58

Bảng 4.12 Kết quả mổ khám trên vịt 60

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc virus cúm type A 17

Hình 2.2 Sự tiến hóa của các clade virus H5N1 theo thời gian 21

Hình 2.3 Gia hệ virus cúm gia cầm năm 2015 - 2016 23

Hình 4.1 Biểu đồ so sánh diện tích cúm gia cầm 37

Hình 4.2 Phân bố dịch cúm gia cầm 40

Hình 4.3 Mức phân bố hiệu giá kháng thể ở gà với kháng nguyên H5N1 calde 2.3.2.1 42

Hình 4.4 Mức phân bố hiệu giá kháng thể ở gà với kháng nguyên H5N6 clade 2.3.4.4 43

Hình 4.5 So sánh hiệu giá kháng thể trên gà 44

Hình 4.6 Mức hiệu giá kháng thể trong nhóm vịt tiêm vacxin Re-6 + Re-8 với kháng nguyên H5N1 calde 2.3.2.1 45

Hình 4.7 Phân bố mức hiệu giá kháng thể trong nhóm vịt tiêm vacxin 6 + Re-8 với kháng nguyên H5N6 clade 2.3.4.4 46

Hình 4.8 So sánh hiệu giá kháng thể trên vịt 46

Hình 4.9 Tỉ lệ sống sót của gà sau công cường độc 50

Hình 4.10 Tỉ lệ sống sót của vịt sau công cường độc 52

Hình 4.11 Mức độ bài thải virus ở nhóm gà 54

Hình 4.12 Mức độ bài thải virus ở nhóm vịt 57

Hình 4.13 So sánh hiệu giá kháng thể trung bình và tỉ lệ bảo hộ giữa gà và vịt 62

Hình 4.14 So sánh mức độ bài thải giữa gà và vịt 63

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Trần Thị Đông

Tên luận văn: “Đánh giá hiệu lực vacxin cúm vô hoạt tái tổ hợp H5 nhị giá chủng Re-6 + Re-8 sử dụng ở gà, vịt chống lại virus cúm A/H5N6 phân lập tại Việt Nam năm 2016’’

2 Phương pháp nghiên cứu

a Hồi cứu về tình hình dịch cúm gia cầm tại Việt Nam từ 2014 đến nay

b.Thí nghiệm công cường độc đánh giá hiệu lực vacxin Re-6 + Re-8 chống lại virus H5N6 clade 2.3.4.4

Gà, vịt được chọn từ đàn sạch bệnh, chưa được tiêm phòng vacxin CGC và không có kháng thể kháng kháng nguyên cúm H5 Gà, vịt được lấy máu trước khi tiêm vacxin (khoảng 30% tổng đàn) để kiểm tra kháng thể kháng cúm gia cầm bằng phương pháp HI với kháng nguyên H5N1

Bố trí tiêm vacxin cho gà như sau: Tổng số 50 gà được chia thành lô Vacxin (30 con) và lô Đối chứng (20 con) Tiêm vacxin cho 30 gà lô Vacxin với liệu trình 1 mũi lúc

03 tuần tuổi với liều 0,3ml/con Gà thuộc lô Đối chứng không được tiêm

Bố trí tiêm vacxin cho vịt như sau: Tổng số 50 vịt được con chia thành lô Vacxin (30 con) và lô Đối chứng (20 con) Tiêm vacxin cho 30 vịt lô Vacxin với liệu trình 1 mũi lúc 3 tuần tuổi với liều 0,3 ml/con và nhắc lại lúc 6 tuần tuổi với liều 0,5ml/con Vịt thuộc lô Đối chứng không được tiêm

Ba tuần sau khi tiêm vacxin, gà và vịt được lấy máu và đánh giá hiệu giá kháng thể bằng phương pháp HI với các kháng nguyên tương đồng với chủng vacxin

Công cường độc vào lúc 6 tuần tuổi đối với gà và 9 tuần tuổi đối với vịt, tức là

03 tuần sau khi hoàn tất liệu trình vacxin, liều 106TCID 50 /100µl/con

Theo dõi lâm sàng trong 10 ngày sau khi gây nhiễm, lấy mẫu swab họng vào ngày thứ 3 và thứ 10 hoặc khi gia cầm chết để định lượng virus bài thải bằng phương pháp rRT-PCR Đối với gà chết, vịt mổ khám để đánh giá bệnh tích đại thể

Trang 10

3 Kết quả chính

- Tình hình dịch bệnh cúm trên đàn gia cầm Việt Nam từ năm 2014 đến nay

- Sự phân bố và lưu hành các chủng virus cúm gia cầm trên địa bàn cả nước

- Đánh giá đáp ứng miễn dịch ở gia cầm được tiêm vacxin

- Đánh giá mức độ bảo hộ lâm sàng của vacxin đối với gia cầm được tiêm phòng khi thử thách cường độc với virus H5N6 clade 2.3.4.4B

- Đánh giá tác dụng làm giảm bài thải virus ở gia cầm được tiêm phòng

4 Kết luận

Từ các nghiên cứu cho thấy: bệnh cúm gia cầm diễn biến phức tạp, xảy ra liên tục ở nước ta từ năm 2014 đến nay, đặc biệt có xuất hiện chủng virus H5N6 mới Virus cúm H5N1 clade 2.3.2.1c chủ yếu lưu hành ở các tỉnh phía Nam Các virus H5N6 thuộc về clade 2.3.4.4 và phân thành 2 nhánh phụ là 2.3.4.4A (dòng Trung Quốc) và 2.3.4.4B (dòng Lào) lưu hành chủ yếu ở các tỉnh Phía Bắc và Bắc Trung bộ

Thử nghiệm hiệu lực vacin cúm vô hoạt tái tổ hợp H5 nhị giá chủng 6 +

Re-8 cho thấy: Hiệu giá kháng thể trung bình (GMT) của gà tiêm vacxin Re-6 + Re-Re-8 là 5,2 log2 với kháng nguyên 2.3.2.1 và đạt 3,7 log2với kháng nguyên 2.3.4.4; của vịt tiêm vacxin Re-6 + Re-8 là 7,2 log2 với kháng nguyên 2.3.2.1 và đạt 4,3 log2với kháng nguyên 2.3.4 Tỉ

lệ bảo hộ lâm sàng của vacxin Re-6 + Re-8 đối với gà và vịt đều đạt mức 90%, gà đối chứng không tiêm

vacxin tỷ lệ chết 100% sau 5 ngày, vịt đối chứng tỷ lệ chết 40% sau 10 ngày theo dõi Đến thời điểm 10 ngày sau công cường độc, gà và vịt thuộc lô vacxin hầu như không bài thải virus hoặc bài thải rất ít (gà 39,95, vịt 40) Vì vậy, có thể sử dụng vacxin Re-6 + Re-8 để phòng bệnh cúm gia cầm do virus Lao- like A/H5N6 2.3.4.4 gây ra

Trang 11

THESIS ABSTRACT

Author: Tran Thi Dong

Thesis title: "Evaluation of effectiveness of Reassortant AIV H5 subtype vaccine, strain Re-6 + strain Re-8 used in chickens and ducks against a virulent strain

of HPAI H5N6 isolated in Vietnam in 2016 ''

Major: Animal Health Code: 60.64.01.01

Training institutions: Vietnam National University of Agriculture

1 Purpose of the study

Evaluate the effectiveness of Reassortant AIV H5 subtype vaccine, strain Re-6 + strain Re-8 used in chickens and ducks against a virulent strain of HPAI H5N6 clade 2.3.4.4B (Lao-like)

2 Research Methodology

a Review of avian influenza endemic in Vietnam from 2014 to the present

b Evaluation of Re-6 + Re-8 vaccine in the challenge experiment using H5N6 clade 2.3.4.4B virus strain

Chickens and ducks are chosen from healthy, non-vaccinated and H5 antibody negative flocks Poultry blood samples are collected before vaccination (about 30%) to test for antibody against H5N1 antigen by HI method

Vaccine schedule for chickens as follows: A total of 50 chickens were divided into Vaccine (30 heads) and Control (20 heads) groups Give vaccine to 30 chickens of Vaccine group with a dose of 0.3 ml at 3 week-old Control group are not vaccinated

Vaccine schedule for ducks as follows: A total of 50 ducks were divided into Vaccine (30 heads) and Control (20 heads) groups Give vaccine to 30 ducks of Vaccine group with a dose of 0.3 ml at 3 week-old and repeat with a dose of 0.5 ml at 6 week- old Control group are not vaccinated

Three weeks after vaccination, poultry blood samples are collected and tested for antibody titer by HI method using homologous antigens with vaccine strains

Chickens (6 week-old) and ducks (9 week-old) are challenge with H6N5 clade 2.3.4.4B virus strain with the dose of 106 TCID50/ 100 ul/ head

Clinical monitoring are carried out in 10 days after inoculation Oro-pharyngeal swab samples are collected at day 3 and 10, or day of death to quantify excreeted viruses by rRT-PCR method Dead poultry are autopsied for necropsy exams

Trang 12

3 Main results

- Avian influenza endemic in Vietnam from 2014 to the present

- The distribution and circulation of the avian influenza virus strains in the whole country

- Evaluation of the immune respond against H5 in vaccinated poultry

- Evaluation of protective rate of vaccinated poultry in challenge experiment using H5N6 clade 2.3.4.4B virus strain

- Evaluation of the efficacy in reducing amount of excreted virus between vaccinated and non-vaccinated poultry

4 Conclusion

Review of avian influenza endemic in Vietnam showed that: HPAI endemic countinues orcuring complicatedly, repeatedly and locally in Vietnam from 2014, especially with the appearance of new H5N6 virus strain In the south area, H5N1 clade 2.3.2.1C kept circulating In the north and north-mid of country, new H5N6 virus strains introduced and circulated with 2 devided groups such as 2.3.4.4A (China-like) and 2.3.4.4B (Lao-like)

Evaluation of Re-6 + Re-8 vaccine experiment showed that: The geometric mean antibody titer (GMT) of vaccinated chickens were 5.2 log2 with H5N1 clade 2.3.2.1 HI antigen and 3.7 log2 with H5N6 clade 2.3.4.4 HI antigen In vaccinated ducks, GMT were 7.2 log2 with H5N1 clade 2.3.2.1 HI antigen and 4.3 log2 with H5N6 clade 2.3.4.4 HI antigen In challenge experiment using HPAI H5N6 clade 2.3.4.4B, the protective percentage was 90% with both vaccinated chickens and ducks in comparison with 100% chicken controls died within 5 dpi and 40% duck controls died within 10 dpi Survived vaccinated chickens and ducks excreted mostly no virus The conclusion was there is possible to use that vaccine in preventing HPAI caused by H5N6 clade 2.3.4.4B (Lao-like) virus

Trang 13

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Chăn nuôi gia cầm giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Nông nghiệp Việt Nam Những năm gần đây, chăn nuôi là một trong những ngành có bước phát triển mạnh, ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xoá đói giảm nghèo và làm giàu trong nông thôn

Tuy nhiên, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu đã và đang dẫn đến sự gia tăng và diễn biến phức tạp của dịch bệnh Những năm gần đây, rất nhiều dịch bệnh mới nổi và tái nổi giữa người và động vật khiến cộng đồng phải lo lắng Trong những dịch bệnh đó phải kể đến bệnh CGC CGC là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm có tốc độ lây lan nhanh với tỷ lệ chết cao trong đàn gia cầm khi bị nhiễm bệnh Bệnh xảy ra ở khắp nơi trên thế giới, gây thiệt hại về kinh tế và có ảnh hưởng lớn đến tình hình chính trị xã hội Năm 2003, bệnh CGC type A/H5N1 lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam với khả năng lây lan nhanh, tỷ lệ chết cao và đặc biệt là lây từ gia cầm sang người Trong 5 năm gần đây dịch bệnh

đã gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi gà, đặc biệt xảy ra nhiều ở quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ, chưa được tiêm phòng Người ta còn lo ngại về sự biến chủng của virus này Mới đây, năm 2014 tại Việt Nam đã phát hiện chủng virus CGC type A/H5N6 tại một số tỉnh như Lạng Sơn, Hà Tĩnh, Lào Cai, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Bắc Giang, Phú Thọ, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam Cho đến nay tại Việt Nam chưa ghi nhận trường hợp mắc H5N6 trên người, nhưng mức độ nguy hiểm của H5N6 trên đàn gia cầm là rất lớn Trước tình hình trên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có Chỉ thị số 9897/CT-BNN-TY ngày 9/12/2014 về tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm, cảnh báo trong thời gian tới do thời tiết thay đổi chuyển lạnh, việc buôn bán, vận chuyển, giết

mổ gia cầm tăng cao là điều kiện thuận lợi cho virus CGC có thể xuất hiện, lây lan và gây thành dịch lớn

Theo quan điểm của OIE, FAO, WHO, tiêm phòng cho đàn gia cầm có thể được coi như một giải pháp, một công cụ hỗ trợ tích cực để ngăn chặn, khống chế

và thanh toán bệnh cúm gia cầm ở những vùng có bệnh (OIE, 1992) Trên cở sở

đó, từ cuối năm 2005, Việt Nam đã tiến hành tiêm phòng vacxin cúm cho đàn gia

Trang 14

cầm và thu được những kết quả tích cực trong phòng chống bệnh cúm gia cầm Câu hỏi đặt ra là liệu những loại vacxin hiện đang sử dụng tại Việt Nam có thể phòng loại virus cúm H5N6 mới này hay không

Đánh giá đáp ứng miễn dịch của gia cầm đối với vacxin cúm và khảo sát khả năng bảo hộ của vacxin là một yêu cầu quan trọng nhằm tìm hiểu hiệu quả sử dụng vacxin, từ đó có thể giúp các nhà quản lý đưa ra những chiến lược phòng chống bệnh phù hợp Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó, chúng tôi tiến hành đề tài:

“Đánh giá hiệu lực vacxin cúm vô hoạt tái tổ hợp H5 nhị giá chủng Re-6 + Re-8 sử dụng ở gà, vịt chống lại virus cúm A/H5N6 phân lập tại Việt Nam năm 2016’’

1.2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI

Đánh giá hiệu lực của vacxin cúm vô hoạt tái tổ hợp H5 nhị giá chủng Re-6 + Re-8 khi sử dụng ở gà, vịt để chống lại chủng virus cúm gia cầm cường độc H5N6 clade 2.3.4.4B (Lao-like)

1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN ĐỀ TÀI

- Hiểu biết rõ hơn về bệnh CGC, về virus CGC, đặc biệt là chủng virus cúm Lao- like A/H5N6 2.3.4.4B

- Các kết quả thu được là cơ sở đánh giá hiệu quả sử dụng vacxin hiện hành trong phòng bệnh CGC do chủng virus cúm mới xuất hiện

Trang 15

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 SƠ LƯỢC VỀ BỆNH CÚM GIA CẦM

2.1.1 Khái niệm về bệnh cúm gia cầm

Bệnh cúm ở gia cầm (CGC) (Avian Influenza) còn gọi là bệnh cúm gà hay cúm của loài chim Đây là một bệnh truyền nhiễm gây ra bởi virus cúm type A thuộc họ Orthomyxoviridae Đây là những retrovirus, mang vật liệu di truyền là những đoạn phân tử RNA, sợi đối mã (sợi âm tính)

Virus CGC gây bệnh cho gà, vịt, ngan, ngỗng, gà tây, chim cút, đà điểu, các loài chim cảnh và chim hoang dã Nguy hiểm hơn, bệnh có thể lây sang người và một số loài thú khác

Trước đây, bệnh này còn được gọi là bệnh dịch hạch gà (fowl plague) nhưng từ Hội nghị Quốc tế lần thứ nhất về bệnh CGC tại Beltsville - Mỹ năm

1981, bệnh đã được thay thế với tên gọi là bệnh CGC độc lực cao (Highly Pathogenic Avian Inluenza - HPAI) để chỉ các virus cúm type A có độc lực mạnh, gây lây lan nhanh, tỷ lệ tử vong cao

Bệnh CGC HPAI là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có tốc độ lây lan rất nhanh với tỉ lệ chết cao trong đàn gia cầm nhiễm bệnh Virus gây bệnh CGC chủ yếu là loại H5, H7 và H9, gây bệnh cho gà, vịt, ngan, ngỗng, đà điểu, các loại chim Virus còn gây bệnh cho cả người và có thể thành đại dịch, vì thế bệnh CGC đang ngày càng trở nên nguy hiểm hơn bao giờ hết (Lê Văn Năm, 2004; Cục Thú y, 2005)

2.1.2 Lịch sử bệnh cúm gia cầm

Năm 412 trước công nguyên, Hippocrate đã mô tả về bệnh cúm Năm

1680 một vụ đại dịch cúm đã được mô tả kỹ và từ đó đến nay đã xảy ra 31 vụ đại dịch Trong hơn 100 năm qua đã xảy ra 4 vụ đại dịch cúm vào các năm 1889,

1918, 1957, 1968 (Cục Thú y, 2004)

Đến năm 1901, virus bệnh nguyên được Centany và Savonuzzi xác định là một tác nhân virus qua lọc Nhưng phải đến năm 1955, người ta mới xác định được virus đó chính là virus cúm type A (H7N1 và H7N7) gây chết nhiều gà, gà tây và các loài khác

Từ sau khi phát hiện ra virus cúm type A, các nhà khoa học đã tăng cường nghiên cứu và thấy virus cúm còn có ở nhiều loài chim hoang dã và gia cầm nuôi

Trang 16

ở những vùng khác nhau trên thế giới và bệnh dịch nghiêm trọng nhất xảy ra đối với gia cầm là những chủng gây bệnh độc lực cao thuộc subtype H5 và H7, như ở Scotland năm 1959 là A/H5N1 (Franklin and Wecker, 1950)

Năm 1963, virus cúm type A được phân lập từ gà tây ở Bắc Mỹ do loài thuỷ cầm di trú xâm nhập vào đàn gà Những nghiên cứu về subtype H1N1 đều cho rằng virus cúm type A đã có ở lợn và truyền lây cho gà tây Ngoài ra, virus cúm subtype H1N1 ở vịt còn truyền cho lợn (Trần Hữu Cổn và Bùi Quang Anh, 2004;Trương Văn Dung và Nguyễn Viết Không, 2004;Trương Văn Dung, 2008)

Năm 1971, Beard đã mô tả khá kỹ virus gây bệnh và đặc điểm bệnh lý lâm sàng của gà trong các ổ dịch cúm gà, gà tây khá lớn xảy ra ở Mỹ mà chủng gây bệnh là H7N1 Từ năm 1960 - 1979 bệnh được phát hiện ở Canada, Mehico, Achentina, Braxin, Nam Phi, ý, Pháp, Anh, Hà Lan, Australia, Hồng Kông, Nhật Bản, các nước vùng Trung Cận Đông, các nước thuộc liên hiệp Anh và Liên Xô Các công trình nghiên cứu có hệ thống về bệnh CGC lần lượt được công bố ở Australia (1975), ở Anh (1979), ở Mỹ (1983-1984), ở Ailen (1983-1984) về đặc điểm sinh học, bệnh học và dịch tễ học, các phương pháp chẩn đoán miễn dịch và biện pháp phòng chống bệnh (Đào Yến Khanh, 2005)

2.1.3 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới

Virus CGC phân bố khắp toàn cầu, vì vậy dịch bệnh đã xảy ra ở nhiều nước trên thế giới.Chủng virus cúm A/H5N1 được phát hiện lần đầu tiên gây bệnh dịch trên gà tại Scotland vào năm 1959 và có thể là biến chủng H5N1 đầu tiên trên thế giới (Wu et al., 2008) Năm 1977 ở Minesota đã phát hiện dịch ở gà tây do chủng H7N7 Năm 1983 - 1984 ở Mỹ, dịch cúm gà xảy ra do chủng virus H5N2 ở 3 bang Pensylvania, Virginia, Newtersey làm chết và tiêu huỷ hơn 19 triệu gà (Phạm Sỹ Lăng, 2004) Cũng trong thời gian này tại Ireland người ta đã phải tiêu huỷ 270 nghìn con vịt tuy không có triệu chứng lâm sàng nhưng đã phân lập được virus cúm chủng độc lực cao (HPAI) để loại trừ bệnh một cách hiệu quả, nhanh chóng Năm 1986 ở Australia dịch cúm gà xảy ra tại bang Victoria do chủng H5N2 gây nên

Năm 1997 ở Hồng Kông dịch cúm gà xảy ra do virus cúm type A subtype H5N1 Toàn bộ đàn gia cầm của lãnh thổ này đã bị tiêu diệt vì đã gây tử vong cho con người (Trần Hữu Cổn và Bùi Quang Anh, 2004) Như vậy đây là lần đầu tiên virus CGC đã vượt “rào cản về loài” để lây cho người ở Hồng Kông làm cho

Trang 17

18 người nhiễm bệnh, trong đó có 6 người chết (Nguyễn Hoài Tao và Nguyễn Tuấn Anh, 2004) Năm 2003 ở Hà Lan dịch CGC đã xảy ra với quy mô lớn do chủng H7N7, 30 triệu gia cầm bị tiêu hủy, 83 người lây nhiễm và 1 người chết, gây thiệt hại về kinh tế hết sức nghiêm trọng (Phạm Sỹ Lăng, 2004) Cuối năm

2003 đầu năm 2004 đã có 11 quốc gia ở Châu Á là: Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Lào, Campuchia, Indonesia, Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Việt Nam

và Pakistan đã thông báo bùng phát dịch CGC thể độc lực cao ở gà và vịt Sự lây lan nhanh chóng dịch CGC xảy ra đồng thời ở một số nước đã trở thành mối quan tâm lớn trên toàn cầu (Tô Long Thành, 2004) Ngoài các ổ dịch do virus cúm H5N1 nêu trên, còn có 7 nước và vùng lãnh thổ khác có các ổ dịch CGC do các chủng khác là Pakistan (H7N3 và H9N2), Canada (H7N3), Mỹ (H7N2), Nam Phi (H6 và H5N2), Ai Cập (H10N7) và Triều Tiên (H7) (Tô Long Thành, 2007)

Năm 2007, có 30 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới báo cáo xuất hiện dịch CGC do virus H5N1, đặc biệt là tại Indonesia, dịch CGC dây dưa kéo dài, tại một số quốc gia Châu Phi - nơi được cho là virus CGC có nguy cơ biến đổi cũng đã phát dịch Các nước khác trong khu vực như: Lào, Campuchia, Myanma, Malaysia, Trung Quốc, Thái Lan cũng đã tái phát dịch Các quốc gia có ngành chăn nuôi tiên tiến như: Hàn Quốc, Nhật Bản và một số quốc gia ở Châu Âu như: Nga, Hung-ga-ri, Ru-ma-ni, Anh, cũng ghi nhận có các ổ dịch trên gia cầm

Năm 2008: Dịch CGC phát ra tại 28 quốc gia và vùng lãnh thổ bao gồm: Bangladesh, Benin, Cămpuchia, Canada, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ai Cập, Đức Đặc khu hành chính Hồng Kông, Ấn Độ, Israel, Iran, Nhật Bản, Lào, Myanma, Nigeria, Pakistan, Ba Lan, Ru-ma-ni, Nga, Ả - rập Xê-út, Thụy Sĩ, Thái Lan, Togo, Thổ Nhĩ Kỳ, Ukraine, Vương quốc Anh và Việt Nam

Năm 2009: Dịch CGC phát ra tại 17 quốc gia và vùng lãnh thổ bao gồm: Afghanistan, Bangladesh, Cămpuchia, Trung Quốc, Đức, Đặc khu hành chính Hồng Kông, Ấn Độ, Nhật Bản, Lào, Mông Cổ, Nepal, Nigeria, Nga, Tây Ban Nha, Thái Lan, Togo và Việt Nam Riêng tại Trung Quốc đã có 7 ca nhiễm virus cúm ở người

Năm 2010: Tám tháng đầu năm 2010 dịch CGC phát ra tại 16 quốc gia và vùng lãnh thổ bao gồm: Bangladesh, Bhutan, Bun-ga-ri, Campuchia, Trung Quốc, đặc khu hành chính Hồng Kông, Ấn Độ, Israel, Lào, Mông Cổ, Myanma, Nepal, Ru-ma-ni, Nga, Tây Ban Nha và Việt Nam

Trang 18

Tính đến tháng 4/2012 đã có tổng số 55 nước, vùng lãnh thổ bùng phát dịch cúm làm 250 triệu gia cầm chết hoặc bị tiêu huỷ bắt buộc

Đợt dịch CGC năm 2016 nổ ra đầu tiên ở Nigeria từ đầu tháng 3 vừa rồi

và đến nay, đã có thêm các quốc gia khác cũng khai báo dịch là Đài Loan, Trung Quốc và Pháp

Trong năm 2016, dịch CGC đã xảy ra ở nhiều nước trên thế giới, cụ thể: Cúm A/H5N1 tại Lào, Lebanon, Bangladesh, Burkini Faso, Cam-pu-chia, My-an-ma, Nigeria, Cameroon, Ghana, Ấn Độ, Pháp; Cúm A/H5N6 tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Hong Kong - Trung Quốc; Cúm A/H5N2 tại Pháp, Mỹ; Cúm A/H5N8 tại Hà Lan, Đức, Pháp, Áo, Ca-na-da, Ba Lan, Ro-ma-ni-a, Croatia, Đan Mạch, Thụy Điển, Hung-ga-ry, Thụy Sĩ, Hy Lạp, Phần Lan, Ấn Độ, I-ran, Israel, Hàn Quốc, Nga; Cúm A/H5N9 tại Pháp; Cúm A/H7N8 tại Mỹ; Cúm A/H7N3 tại Me-hi-co; Cúm A/H7N7 tại I-ta-ly Riêng Trung Quốc đã phát hiện được một số chủng virus cúm như A/H5N1, A/H5N2, A/H5N6, A/H5N8, A/H5N3

Theo thống kê số người bị nhiễm CGC H5N1 của các nước báo cáo với

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) từ tháng 12/2003 đến 01/2014, đã có tới 649 trường hợp mắc cúm H5N1, trong số đó 385 trường hợp đã tử vong chiếm tới 59% Indonesia, Việt Nam và Ai Cập là 3 nước có số người tử vong và nhiễm cao nhất do virus cúm H5N1 trên thế giới, và đang được Tổ chức Y tế Thế giới-WHO xác định là quốc gia “điểm nóng” có thể xảy ra dịch cúm mới ở người trong tương lai cần được quan tâm ngăn chặn, do virus cúm H5N1 có được các điều kiện thuận lợi để tiến hoá thích nghi và lây nhiễm trên người

Theo thông báo của Tổ chức Y tế Thế giới, trong năm 2016, phát hiện ca bệnh Cúm A/H5N1 tại Ai Cập với 8 người mắc bệnh, trong đó có 1 ca tử vong

Cho đến nay, virus cúm A/H7N9 mới chỉ được phát hiện trên người và gia cầm tại Trung Quốc Năm 2016, Trung Quốc đã ghi nhận 33 ca bệnh Cúm A/H7N9 trên người, trong đó có 1 ca tử vong

2.1.4 Tình hình dịch bệnh cúm gia cầm ở Việt Nam

Cuối năm 2003, dịch CGC lần đầu xuất hiện tại Việt Nam ở trại gà giống của Công ty C.P (Thái Lan) xã Thuỷ Xuân Tiên, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây, khiến 100.000 gà bị tiêu hủy Dịch đã nhanh chóng lay lan ra hầu hết các tỉnh trong cả nước

Để thuận lợi cho việc đánh giá về dịch tễ học có thể chia quá trình dịch từ khi xuất hiện vào cuối năm 2003 đến nay thành những đợt dịch sau:

Trang 19

* Đợt dịch thứ nhất từ tháng 12/2003 đến 30/3/2004: Cuối tháng 12 năm

2003, dịch CGC thể độc lực cao với tác nhân gây bệnh là virus CGC H5N1 Đây

là lần đầu tiên bệnh xuất hiện tại Việt Nam và vì thế nó có thể được coi là một bệnh mới ở gia cầm Đặc điểm của đợt dịch thứ nhất này là dịch lây lan một cách nhanh chóng với nhiều ổ bệnh xuất hiện cùng một lúc ở nhiều địa phương khác nhau đã gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi gia cầm Ngay cả các trại gia cầm nằm ở những vùng không có dịch cũng gặp phải những khó khăn trong việc duy trì đàn gia cầm dẫn đến việc phải tiêu hủy Chỉ trong vòng 2 tháng, đến ngày 27/02/2004 dịch đã xuất hiện ở 2.574 xã, phường (chiếm 24,6%) thuộc 381 huyện, quận, thị xã (chiếm 60%) của 57 tỉnh, thành phố trong cả nước Tổng số gia cầm bị mắc bệnh, chết và tiêu hủy hơn 43,9 triệu con, chiếm 16,8% tổng đàn, trong đó gà 30,4 triệu con, thủy cầm 13,5 triệu con Ngoài ra còn có 14,76 triệu con chim cút và các loại chim khác bị chết và bị tiêu huỷ Theo thống kê cho đến cuối đợt dịch, đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là những khu vực có tỷ lệ số xã có gia cầm bị mắc bệnh cao nhất (Trần Hữu Cổn và Bùi Quang Anh, 2004)

* Đợt dịch thứ 2 từ tháng 4/2004 đến 11/2004: Dịch CGC thể độc lực cao

đã tái xuất hiện vào giữa tháng 4 năm 2004 ở một số tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long Bệnh chủ yếu xuất hiện ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ và hầu như không

có trại chăn nuôi qui mô lớn nào bị nhiễm bệnh Dịch có khuynh hướng xuất hiện

ở những vùng có chăn nuôi nhiều thủy cầm Dịch đã xảy ra ở 46 xã phường của

32 quận, huyện, thị xã thuộc 17 tỉnh Thời gian cao điểm nhất là tháng 7 sau đó giảm dần, đến tháng 11 năm 2004 cả nước chỉ có 1 điểm phát dịch Tổng số gia cầm bị tiêu hủy trong thời gian này là 84.078 con, trong đó có 55.999 gà, 8.132 vịt và 19.947 chim cút (Bùi Quang Anh và Văn Đăng Kỳ, 2004)

* Đợt dịch thứ 3 từ tháng 12/2004 đến 5/2005: Trong thời gian này dịch

đã xuất hiện ở 670 xã của 182 huyện thuộc 36 tỉnh, thành phố (15 tỉnh phía Bắc,

21 tỉnh phía Nam) Dịch xuất hiện nhiều nhất vào tháng 1/2005 với 143 ổ dịch xảy ra trên 31 tỉnh thành phố, số gia cầm tiêu hủy là 470.495 gà, 825.689 vịt, ngan và 551.029 chim cút Bệnh xuất hiện ở tất cả các tỉnh, thành phố thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long (Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch cúm gia cầm, 2005)

* Đợt dịch thứ 4 từ ngày 06/12/2006 đến 07/3/2007: Sau gần 1 năm (từ ngày 15/12/2005 đến ngày 05/12/2006) khống chế thành công dịch CGC, ngày

Trang 20

06/12/2006 dịch CGC đã tái phát tại Cà Mau, Bạc liêu, sau đó dịch xuất hiện ở 6 tỉnh khác (Hậu Giang, Cần Thơ, Trà Vinh, Vĩnh Long, Kiên Giang và Sóc Trăng) thuộc đồng bằng sông Cửu Long và 3 tỉnh (Hà Nội, Hà Tây cũ và Hải Dương) thuộc đồng bằng Sông Hồng (Ninh Văn Hiểu, 2006) Đợt này, dịch đã xảy ra ở

83 xã, phường của 33 huyện, quận thuộc 11 tỉnh, thành phố Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là hơn 100 ngàn con Các ổ dịch xảy ra chủ yếu ở đàn vịt chăn nuôi nhỏ lẻ, dưới 3 tháng tuổi, ấp nở trái phép và chưa được tiêm phòng

* Đợt dịch thứ 5 từ ngày 01/5/2007 đến 23/8/2007: Dịch tái phát ở Nghệ

An, sau đó dịch lây lan và được phát hiện tại 167 xã, phường của 70 huyện, quận, thuộc 23 tỉnh Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu huỷ là 294,85 ngàn con (gà chiếm 7,31% và thuỷ cầm chiếm gần 93%) Sau hơn một tháng khống chế thành công dịch CGC trong phạm vi cả nước, từ ngày 1/10/2007 dịch đã tái phát tại 15 xã, phường của 9 huyện, thị thuộc 6 tỉnh Tổng số gia cầm mắc bệnh chết

và tiêu huỷ 7.488 con (1.024 gà, chiếm 13,71 % và 6.464 vịt chiếm 86,28%)

Từ sau đợt dịch thứ 5, ở Việt Nam trở thành dịch lưu hành, các ổ dịch nhỏ,

lẻ xuất hiện rải rác quanh năm

* Năm 2008: Dịch CGC đã xuất hiện tại 80 xã thuộc 54 huyện, quận, thị

xã của 27 tỉnh, thành phố Tổng số gia cầm chết và buộc phải tiêu hủy là 106.508 con (gồm 40.525 con gà, 61.027 con vịt và 4.506 con ngan) Chỉ xuất hiện các điểm dịch ở những đàn gia cầm quy mô từ 100 - 2000 con, không được tiêm phòng vaccine (44,59%), hoặc đàn thuỷ cầm mới tiêm phòng một mũi (16,21%),

ổ dịch trên thủy cầm chiếm 52,70% Các ổ dịch xuất hiện thường được địa phương bao vây, xử lý ngay nên hầu như không có hiện tượng lây lan

* Năm 2009: Cả nước đã có 129 ổ dịch tại 71 xã, phường, thị trấn của 35 huyện, thị xã thuộc 17 tỉnh, thành phố phát dịch CGC là: Bạc Liêu, Bắc Ninh, Cà Mau, Điện Biên, Đồng Tháp, Hậu Giang, Khánh Hòa, Nghệ An, Ninh Bình, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Quảng Trị, Sóc Trăng, Thái Nguyên, Thanh Hóa, TP

Hà Nội, Vĩnh Long và Cao Bằng Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu huỷ là 105.601 con, trong đó gà 23.733 con (chiếm 22,51 %), vịt 79.138 con (chiếm 74,94 %) và ngan 2.690 con (chiếm 2,55 %) (Tống Xuân Độ, 2009)

* Năm 2010: Dịch CGC đã xảy ra ở 56 xã, 33 huyện, quận thuộc 20 tỉnh, thành phố là Bắc Cạn, Bắc Ninh, Bến Tre, Cà Mau, Điện Biên, Đồng Tháp, Hà

Trang 21

Giang, Hà Tĩnh, Kon Tum, Đắc Lắc, Khánh Hòa, Lạng Sơn, Nam Định, Nghệ

An, Quảng Ninh, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Sóc Trăng, Tuyên Quang và Thái Nguyên Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu huỷ là 36.902 con gà (chiếm 32,97 %), 74.308 con vịt (chiếm 66,39 %) và 709 ngan con (chiếm 0,64%)

* Năm 2011: đã xuất hiện 92 ổ dịch tại 71 xã thuộc 40 huyện của 21 tỉnh làm 99.780 con gia cầm mắc bệnh (37.558 gà; 61.171 vịt và 1.051 ngan), tiêu huỷ 132.667 con gia cầm các loại

* Năm 2013, dịch CGC H5N1 đã xảy ra tại 50 xã (giảm 83% so với năm 2012), phường của 23 huyện, quận (giảm 81% so với năm 2012) thuộc 7 tỉnh (giảm 78% so với năm 2012), làm 59.829 con gia cầm mắc bệnh; tổng số gia cầm chết và tiêu hủy là 79.522 con (giảm 88% so với năm 2012) (HNCTY, 2013)

* Năm 2014: Theo báo cáo của chi cục thú y, trong 6 tháng đầu năm 2014 dịch bệnh cả nước vẫn tiếp tục có diễn biến phức tạp: 34 Tỉnh, Thành có dịch CGC, số gia cầm tiêu hủy là 135.742 con

* Năm 2015: So với năm 2014, diện dịch và mức độ dịch CGC nói chung giảm nhiều, dịch chỉ xảy ra ở 11 tỉnh, thành với số gia cầm bị tiêu hủy là 45.025 con (HNCTY, 2015)

* Năm 2016: dịch cúm A/H5N1 xảy ra tại 07 xã, phường của 06 huyện, thị

xã thuộc 03 tỉnh, thành phố (Nghệ An, thành phố Cần Thơ và Cà Mau) So với năm 2015, tình hình dịch bệnh CGC A/H5N1 đã giảm cả về diện dịch và mức độ dịch, cụ thể: số xã có dịch giảm 2,57 lần, số huyện có dịch giảm 2,83 lần, số tỉnh

có dịch giảm 3,67 lần, số gia cầm chết và tiêu huỷ giảm 2,6 lần Dịch cúm A/H5N6 dịch xảy ra tại 07 xã, phường của 06 huyện, thị xã thuộc 05 tỉnh, thành phố (Tuyên Quang, Lạng Sơn, Nghệ An, Quảng Ngãi, Kon Tum)

So năm 2015, tình hình dịch bệnh CGC A/H5N6 đã giảm cả về diện dịch

và mức độ dịch, cụ thể: số xã có dịch giảm 3 lần, số huyện có dịch giảm 2,83 lần,

số tỉnh có dịch giảm 2,2 lần và số gia cầm chết và tiêu huỷ giảm 2,13 lần

* Tình hình dịch đến ngày 1/3/2017: Hiện nay, cả nước có các ổ dịch CGC xảy ra tại 15 hộ chăn nuôi thuộc 11 xã của 07 tỉnh chưa qua 21 ngày (Cúm A/H5N1 xảy ra tại 10 hộ của 08 xã và Cúm A/H5N6 xảy ta tại 05 hộ chăn nuôi của 03 xã (Cục thú y, 2016)

Trang 22

Bệnh có thể phát ra ở gà mọi lứa tuổi với tỷ lệ mắc bệnh và chết khác nhau, phụ thuộc vào loại mầm bệnh, lứa tuổi mắc và độc lức của virus Trong trường hợp virus gây bênh có động lực cao, gà có thể mắc và chết tới 100% 2.1.6 Triệu chứng, bệnh tích bệnh cúm gia cầm

2.1.6.1 Triệu chứng

Virus CGC độc lực cao thường gây bệnh rất trầm trọng cho gia cầm và thông thường tỷ lệ tử vong cao đặc biệt là với gia cầm cạn Các loài thủy cẩm, dã cầm và một số loài lông vũ khác có thể có độ mẫn cảm thấp hơn, nhưng có thể trở thành động vật mang trùng (Lê Văn Năm, 2004)

Triệu chứng trên gà: Triệu chứng có thể thay đổi, nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: loài nhiễm bệnh, công tác chăm sóc nuôi dưỡng, chủng virus gây bệnh (chủng độc lực thấp hay cao).Triệu chứng lâm sàng có thể bao gồm: Gà sốt cao, uống nhiều nước; mệt mỏi, ủ rũ, lông xù, mất tính thèm ăn; ào tích tím bầm; phù và sưng đầu, mào, tích và khuỷu chân; sản lượng trứng giảm đột ngột; tiêu chảy phân xanh vàng, phân xanh, phân lẫn máu; con vật vẹo cổ, mất thăng bằng, đi lại xiêu vẹo, hoặc bại liệt, không đứng hay đi được; uất huyết dưới da bàn chân và cẳng chân; gà khó thở, há mỏ thở

Triệu chứng trên thủy cầm (vịt, ngan): Ủ rũ, bỏ ăn, tiêu chảy, triệu chứng thần kinh, quay cuồng, co giật, mắt màu khói, đục, năng suất trứng giảm, có thể chết đột ngột Những con khỏi bệnh yếu ớt, có thể đẻ trứng trở lại vài tuần sau khi khỏi bệnh.Tỷ lệ tử vong có thể tới 100%

Triệu chứng bệnh ở người: Đối với con người CGC gây ra các triệu chứng tương tự như của các loại cúm khác, đó là: sốt, ho, đau họng, đau nhức cơ bắp, viêm kết mạc Những trường hợp nghiêm trọng có thể gây suy giảm hô hấp và

Trang 23

viêm phổi, dẫn đến tử vong Mức độ nghiêm trọng của bệnh phụ thuộc vào thể trạng sức khỏe, khả năng miễn dịch, tiền sử tiếp xúc virus của người bị nhiễm 2.1.6.2 Bệnh tích của gia cầm mắc cúm gia cầm

* Bệnh tích đại thể

Bệnh tích đại thể ở các loài khác nhau có biểu hiện khác nhau Đối với

gà, bệnh tích thường gặp là mào, tích sưng to, tím tái phù quanh mí mắt Thể nhẹ, bệnh tích ở các xoang trong cơ thể đặc trưng bởi viêm ca ta, lắng đọng fibrin Xuất huyết dưới da ống chân hoặc kẽ ngón chân thành vệt đỏ rất rõ Xuất huyết điểm trên bề mặt niêm mạc và tương mạc nội tạng Xuất huyết hầu hết toàn bộ đường tiêu hóa, đặc biệt thấy rõ ở manh tràng và dạ dày tuyến Túi fabricius xung huyết và xuất huyết Nói chung, các bệnh tích rất giống với bệnh tích của bệnh Newcastle Các biến đổi bệnh lý đại thể của bệnh CGC trên ngan

và và vịt cơ bản cũng giống trên gà Tuy nhiên tần suất biến đổi tập trung chủ yếu ở phổi, túi khí, tim, buồng trứng, xương lồng ngực và đường ruột (Lê Văn Năm, 2004)

* Bệnh tích vi thể

Bệnh tích vi thể chủ yếu là xung huyết, xuất huyết, thâm nhiễm bạch cầu đơn nhân ở não và một số cơ quan khác Mạch quản của các cơ quan như mào, tích, gan, lách, phổi, thận, cơ tim, cơ vân, não và một số cơ quan khác bị giãn rộng và thâm nhiễm tế bào xung quanh mạch quản (Lê Văn Năm, 2004)

2.1.7 Miễn dịch chống bệnh của gia cầm

Miễn dịch là trạng thái đặc biệt của cơ thể không mắc phải tác động có hại của yếu tố gây bệnh, trong khi đó các cơ thể khác cùng loài hoặc khác loài lại bị tác động trong điều kiện sống như nhau (Vũ Triệu An, 2008)

Những tế bào miễn dịch hiện diện ở các cơ quan lympho sơ cấp hoặc các

cơ quan lympho thứ cấp Tuyến ức và túi Fabricius là cơ quan sơ cấp, tại đó tiền tế bào T và tiền tế bào B biệt hóa và trải qua quá trình chín Giống như trong tuyến ức, các lympho bào được tập trung ở vùng vỏ ngoại vi và ở phần tủy trung tâm

Những tế bào lympho chức năng rời cơ quan lympho sơ cấp và cư trú ở cơ quan lympho thứ cấp, những khu vực diễn ra các phản ứng miễn dịch do kích thích của kháng nguyên Cơ quan lympho thứ cấp, được xác định bởi sự tụ hợp của các lympho bào và các tế bào trình diện kháng nguyên, phân tán rải rác khắp

cơ thể Cơ quan lympho thứ cấp bao gồm lách, tuyến harder, hạch phổi, mô

Trang 24

lympho ruột (hạch ruột) Túi Fabricius cũng hoạt động như một cơ quan lympho thứ cấp Gia cầm thiếu một số hạch bạch huyết tương đương của động vật có vú nhưng có một số hạch nhỏ dạng bạch huyết dọc theo mạch bạch huyết

Miễn dịch chống bệnh cúm bao gồm 2 loại là miễn dịch không đặc hiệu và miễn dịch đặc hiệu

2.1.7.1 Miễn dịch không đặc hiệu

Khi mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể, gia cầm được bảo vệ trước hết bằng miễn dịch không đặc hiệu nhằm ngăn cản hoặc giảm số lượng và khả năng gây bệnh của chúng Miễn dịch không đặc hiệu có vai trò quan trọng khi miễn dịch đặc hiệu chưa phát huy tác dụng Hệ thống miễn dịch không đặc hiệu của gia cầm rất phát triển bao gồm:

- Hàng rào vật lý như da, niêm mạc và các dịch tiết có tác dụng bảo vệ cơ thể ngăn cản tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể

- Khi mầm bệnh qua hàng rào da và niêm mạc nó gặp phải hàng rào hóa học là kháng thể dịch thể tự nhiên không đặc hiệu

+ Bổ thể: Các bổ thể là phần quan trọng và nhạy cảm của hệ thống phòng thủ chống lại mầm bệnh hiện diện trong huyết tương của gia cầm Bổ thể có tác dụng làm tan màng vi khuẩn, làm tăng khả năng thực bào của đại thực bào, (opsonin hóa), ngoài ra bổ thể cũng có vai trò nhất định trong cơ chế đáp ứng miễn dịch đặc hiệu (nhiều trường hợp sự tương tác giữa kháng nguyên và kháng thể cần sự có mặt của bổ thể) (Nguyễn Như Thanh và Lê Thanh Hoà, 1997)

+ Interferon (IFN): Do nhiều loại tế bào tiết ra nhưng nhiều nhất là tế bào diệt tự nhiên (NK) Khi Interferon được sản sinh ra, nó gắn vào tế bào bên cạnh

và cảm ứng tế bào đó sản sinh ra protein AVP (antivirus protein), do đó khi virus xâm nhập vào tế bào nhưng không nhân lên được

- Hàng rào tế bào, gồm:

+ Tiểu thực bào, quan trọng nhất là bạch cầu đa nhân trung tính chiếm 60 – 70% tổng số bạch cầu ở máu ngoại vi, nó thực bào những phân tử nhỏ và vi khuẩn ngoài tế bào

+ Đại thực bào là các tế bào lớn có khả năng thực bào, khi được hoạt hóa

nó sẽ nhận biết và loại bỏ các vật lạ, ngoài ra nó còn giữ vai trò quan trọng trong

sự trình diện kháng nguyên tới tế bào T và kích thích tế bào T sản sinh ra IL - 1

Trang 25

Đại thực bào còn tiết ra Interferon có hoạt tính kháng virus, Lysozyme và các yếu

Người ta chia miễn dịch đặc hiệu ra làm 2 loại: Miễn dịch dịch thể và miễn dịch qua trung gian tế bào

+ Miễn dịch dịch thể

Do các tế bào lympho B đảm nhiệm Các lympho bào bắt nguồn từ tế bào nguồn ở tủy xương đi tới túi Fabricius Ở đây chúng được biệt hóa để trở thành các lympho B, sau đó di tản tới các cơ quan lympho ngoại biên Các tế bào lympho B khu trú ở các tâm điểm mầm và vùng tủy của lách, hạch lâm ba Trong hạch lâm ba các tế bào lympho B có thể gặp một kháng nguyên và nhận biết kháng nguyên đó bởi các kháng thể có trên bề mặt của chúng Tế bào B có thể nhận biết được khi nó tương tác với globulin miễn dịch nhô ra trên bề mặt tế bào (Tizard., 1982)

Sau khi đã nhận biết kháng nguyên và được kích thích bởi các cytokines

do tế bào T tiết ra, các tế bào lympho B được biệt hóa thành tương bào (plasmosis) để sản sinh kháng thể (Tizard., 1982) Chúng tiết ra các loại globulin miễn dịch (Ig) gồm 3 lớp chính là IgM, IgG, IgA

Đáp ứng của cơ thể khi gặp kháng nguyên đầu tiên được gọi là đáp ứng tiên phát Sau khi xuất hiện vài ngày hàm lượng kháng thể trong máu tăng và các kháng thể đầu tiên chủ yếu là IgM Đáp ứng tiên phát cũng có thể có IgG nhưng với hàm lượng thấp

Trang 26

Kháng thể dịch thể chỉ có tác dụng với virus khi nó còn ở ngoài tế bào Lớp IgM và IgG kết hợp với virus với sự tham gia của bổ thể làm tiêu diệt virus Hai lớp kháng thể này còn ngăn virus không cho kết hợp với thụ thể trên bề mặt

tế bào vật chủ, ngăn cản sự hòa màng giữa vỏ virus và màng tế bào

Kháng thể dịch thể có thể hiện diện trong các loại dịch trong cơ thể nhưng thường được xác định trong huyết thanh Gia cầm có 3 lớp Ig chính đó là IgA, IgG và IgM

Một đáp ứng miễn dịch điển hình của gia cầm bắt đầu bằng việc sản xuất

ra IgM, sau đó đáp ứng miễn dịch chuyển sang sản xuất IgY IgG là kháng thể chính sinh ra trong miễn dịch thứ phát và chiếm ưu thế trong máu gia cầm Kháng thể IgM có thể phát hiện ở gia cầm chỉ sau khi bị nhiễm 5 ngày trong khi kháng thể IgG chỉ được phát hiện ở 7 đến 9 ngày sau khi bị nhiễm Kháng thể IgA dường như rất yếu

+ Miễn dịch qua trung gian tế bào

Quá trình đáp ứng miễn dịch đặc hiệu qua trung gian tế bào do các tế bào lympho T đảm nhiệm Từ tuyến ức lympho được huấn luyện di chuyển đến các

cơ quan lympho ngoại vi Khi đại thực bào đưa các thông tin đến các lympho T, chúng tiếp nhận và biệt hóa trở thành nguyên bào lympho T rồi thành tế bào mẫn cảm với kháng nguyên có chức năng như một kháng thể đặc hiệu gọi là kháng thể tế bào

2.1.7.3 Miễn dịch chủ động

Là đáp ứng miễn dịch của cơ thể vật chủ sau khi tiếp xúc với mầm bệnh và các kháng nguyên của chúng Miễn dịch chủ động có đặc điểm là cơ thể phục hồi nhanh hơn và sức đề kháng (miễn dịch) mạnh hơn sau khi tiếp xúc với chính mầm bệnh đó vào những lần sau (trí nhớ miễn dịch) Miễn dịch chủ động được chia thành:

- Miễn dịch chủ động tự nhiên: Là các đáp ứng miễn dịch được hình thành sau khi cơ thể bị nhiễm mầm bệnh, chủ yếu là virus hoặc vi khuẩn

- Miễn dịch chủ động nhân tạo: Là các đáp ứng của cơ thể động vật và người được hình thành sau khi dùng vacxin

+ Các đặc điểm của đáp ứng miễn dịch chủ động

Khi các tế bào có thẩm quyền miễn dịch lần đầu tiên tiếp xúc với một kháng nguyên, giữa tế bào và kháng nguyên sẽ diễn ra một chuỗi các sự kiện rất

Trang 27

phức tạp, trong đó có kháng nguyên sẽ bị “bắt giữ”, được “chế biến” và được trình diện tới các tế bào lympho bào có các thụ cảm quan nhận biết kháng nguyên tương ứng ở con vật chưa bao giờ tiếp xúc với một kháng nguyên nào Số lượng

tế bào có phản ứng với kháng nguyên là rất nhỏ và đáp ứng lần đầu tiên với kháng nguyên diễn ra từ từ với cường độ thấp Đáp ứng đó được gọi là đáp ứng miễn dịch tiên phát

Khi tiếp xúc với kháng nguyên tương tự lần thứ hai và những lần sau đó, các tế bào này nhận biết nhanh hơn và quần thể tế bào này củng trở nên lớn hơn Đáp ứng miễn dịch với kháng nguyên sẽ diễn ra với thời gian nhanh hơn và cường độ lớn hơn và được gọi là đáp ứng miễn dịch thứ phát

2.1.7.4 Miễn dịch thụ động

Là trạng thái miễn dịch của một cơ thể nhờ các kháng thể chuyển từ ngoài vào, không phải do cơ thể tự sản xuất được Miễn dịch thụ động cũng có 2 loại, bao gồm:

+ Miễn dịch thụ động tự nhiên

Khi kháng thể được truyền một cách tự nhiên từ cơ thể này sang cho cơ thể khác Ví dụ như mẹ truyền kháng thể sang cho con qua nhau thai (đối với gia súc) hoặc qua lòng đỏ trứng (đối với gia cầm)

+ Miễn dịch thụ động nhân tạo

Khi kháng thể được con người đưa vào cơ thể gia súc, gia cầm, ví dụ khi dùng liệu pháp huyết thanh (serotherapy), tức là tiêm kháng huyết thanh hoặc kháng thể triết xuất từ kháng huyết thanh hoặc lòng đỏ trứng vào cơ thể để tạo kháng thể thụ động nhằm mục đích phòng và chữa bệnh cho con vật

2.1.7.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kháng thể

Các yếu tố chính ảnh hưởng đến sự hình thành kháng thể là:

- Bản chất kháng nguyên: Kháng nguyên có bản chất là protein và có tính sinh miễn dịch cao sẽ kích thích sinh kháng thể tốt

- Đường xâm nhập của kháng nguyên: Tốt nhất là dưới da và bắp thịt

- Liều lượng kháng nguyên: Lượng kháng nguyên đưa vào vừa đủ sẽ kích thích

cơ thể sản sinh miễn dịch ở mức tối đa mà không gây ức chế và tê liệt miễn dịch

- Số lần đưa kháng nguyên vào cơ thể: Tiêm nhắc lại vacxin có tác dụng tốt, kháng thể sinh ra nhiều hơn và được duy trì trong thời gian dài hơn

Trang 28

- Chất bổ trợ: Chất bổ trợ cho vào khi chế vacxin với mục đích giữ và duy trì lượng kháng nguyên lâu trong cơ thể nhờ đó tạo kích thích liên tục, đều đặn các cơ quan có thẩm quyền miễn dịch tạo ra kháng thể ở mức cao và duy trì được lâu hơn Những chất bổ trợ thường dùng là keo phèn, nhũ tương, dầu khoáng, dầu thực vật

- Trạng thái sức khỏe, dinh dưỡng, cân đối acid amin trong khẩu phần, yếu

tố stress có hại

2.1.8 Phương pháp chẩn đoán cúm gia cầm

2.1.8.1 Chẩn đoán dựa vào dịch tễ học

Căn cứ vào các yếu tố dịch tễ như bệnh lây lan nhanh, gia cầm mọi lựa tuôi, nhiều loại gia cầm mắc bệnh, tỷ lệ chết cao lên tới 100% số gia cầm mắc bệnh, những vùng có ổ dịch cũ, những nơi gia cầm chưa được tiêm phòng vacxin cúm hoặc tiêm phòng chưa đủ thời gian đáp ứng miễn dịch, hoặc đã tiêm phòng nhưng qua khảo sát hiệu giá kháng thể bảo hộ chỉ đạt mức thấp

2.1.8.2 Chẩn đoán dựa vào triệu chứng và bệnh tích

Căn cứ vào các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích để chẩn đoán Căn cứ những bệnh tích điển hỉnh như phổi, gan, thận lách sưng to Trong trường hợp gia cầm chết cấp tính thì biểu hiện bệnh tích thường không điển hình

2.1.8.3 Chẩn đoán phòng thí nghiệm

Chẩn đoán virus học: nuôi cấy, phân lập virus trên trứng gà có phôi ấp

9-10 ngày hoặc trên môi trường tế bào xơ phôi Giám định virus trong dịch nuôi cấy bằng các phản ứng HA, HI

Chẩn đoán và giám định virus bằng kỹ thuật Real time RT-PCR Hiện nay

kỹ thuật này đã được ứng dụng rộng rãi và thường quy ở Việt nam, cũng như nhiều nước trên thế giới

Chẩn đoán huyết thanh học

Ngoài ra có thể dùng phản ứng ELISA để phát hiện kháng thể

2.2 VIRUS CÚM GIA CẦM

Căn nguyên gây bệnh là virus cúm type A thuộc họ Orthomyxoviridae, bao gồm các nhóm virus cúm A, nhóm virus cúm B, nhóm virus cúm C và nhóm Thogovirus

Trang 29

Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc virus cúm type A 2.2.1 Đặc điểm hình thái, cấu trúc của virus cúm type A

Virus cúm type A (influenza A virus) thuộc họ Orthomyxoviridae, là họ virus đa hình thái, có vỏ ngoài, genome là ARN đơn âm, phân đoạn

Chúng có kích thước trung bình, đường kính 80 - 120 nm, trọng lượng phân tử khoảng 250 triệu Dalton, trên kính hiển vi điện tử tương phản âm có dạng gần như hình cầu hoặc các hạt mỏng, một số ít virus có dạng hình sợi có thể dài một vài nm, có vỏ bọc là lớp lipid có gắn các glycoprotein gây ngưng kết hồng cầu (kháng nguyên bề mặt) - Haemagglutinin (viết tắt là H) và protein enzym có thụ thể - Neuraminidae (viết tắt N) đây là những kháng nguyên có vai trò quan trọng trong miễn dịch bảo hộ và có tính đa dạng cao (Alexander, 1996;Capua and Marrangon, 2000)

- ARN của virus là một sợi đơn, âm chia 8 đoạn kế tiếp nhau mang 10 ORF (open reading frames) cho 10 loại virion protein khác nhau: HA, NA, NP, M1, M2, PB1, PB2, PA, NS1 và NS2 Các phân đoạn của hệ gen virus cúm A nối với nhau bằng các cầu nối peptide tạo nên vòm (loop) tại giới hạn cuối của mỗi phân đoạn, và tạo thành một sợi RNA duy nhất có tổng độ dài từ 10.000 - 15.000

bp (tuỳ theo từng chủng virus CGC), chứa đựng khoảng 13,5 kilobase thông tin

di truyền và có cấu trúc xoắn α bên trong vỏ virus

- HA (Hemagglutinin) là một glycoprotein thuộc protein màng type I, có khả năng gây ngưng kết hồng cầu gà trong ống nghiệm

Phân tử HA có dạng hình trụ, dài khoảng 130 ăngstron (Å), cấu tạo gồm 3 đơn phân (trimer), mỗi đơn phân (monomer) được tạo thành từ hai “tiểu đơn vị HA1” và “ tiểu đơn vị HA2” , liên kết với nhau bởi các cầu nối disulfide (-S-S-) Các đơn phân sau khi tổng hợp sẽ được glycosyl hóa (hay glycosylation là quá trình gắn kết các phân tử protein với nhau dưới tác động của enzym) như sau :

Trang 30

+ “Tiểu đơn vị HA1” sẽ gắn vào mặt ngoài vỏ capsid.

+ “Tiểu đơn vị HA2” (phần đầu tự do hình chỏm cầu) chứa đựng vị trí gắn với thụ thể thích hợp trên bề mặt màng tế bào đích

Trên bề mặt capsid của một virus có khoảng 400 phân tử HA với 2 chức năng chính là : Nhận diện và gắn virus với tế bào đích của vật chủ tương thích (ví

dụ như các tế bào thuộc đường hô hấp trên và tế bào hồng cầu của động vật có xương sống) Sau đó khởi động quá trình xâm nhiễm của virus vào tế bào chủ đồng thời làm kết dính, ngưng kết hồng cầu hay dung hợp các tế bào bị nhiễm

Có 18 nhóm HA (H1-H18), trong đó có 16 nhóm (H1-H16) đã được xác nhận Mỗi nhóm HA có khả năng kết hợp với một nhóm NA để tạo ra các chủng virus khác nhau, ví dụ như H5N6 (xem chi tiết cách phân chủng ở phần dưới)

Protein HA còn là kháng nguyên bề mặt quan trọng của virus cúm A và được coi là protein vừa quyết định tính kháng nguyên, vừa quyết định độc lực của virus HA là đích của hệ thống miễn dịch, nó kích thích cơ thể sinh ra đáp ứng miễn dịch dịch thể đặc hiệu với từng typee HA , và tham gia vào phản ứng trung hòa virus, nhằm ngăn chặn sự xâm nhiễm của virus ở cơ thể nhiễm; từ đó là

cơ sở điều chế các vacxin phòng cúm hiện nay

- Protein neurominidase (NA) còn gọi là sialidase, là một protein enzyme

có bản chất là glycoprotein được gắn trên bề mặt capsid của virus cúm, mang tính kháng nguyên đặc trưng theo từng phân type NA.Có 9 phân type (từ N1 đến N10) được phát hiện chủ yếu ở virus CGC Trên bề mặt capsid virus có khoảng

100 phân tử NA xen giữa các phân tử HA

Phân tử NA có dạng nút lồi hình nấm, đầu tự do (chứa vùng hoạt động) gồm 4 dưới đơn vị giống như hình cầu nằm trên cùng một mặt phẳng, và phần kị nước gắn vào vỏ capsid NA là một kháng nguyên bề mặt của virus, tham gia kích thích hệ thống miễn dịch của cơ thể vật chủ, sinh ra kháng thể đặc hiệu với kháng nguyên NA của các chủng virus đương nhiễm có tác dụng phong tỏa protein NA

Như vậy, kháng nguyên NA cùng với kháng nguyên HA của virus là các đích chủ yếu của cơ chế bảo hộ miễn dịch của cơ thể với virus cúm, và là cơ sở điều chế các vacxin phòng cúm hiện nay cho người và gia cầm, nhằm ngăn chặn dịch cúm ở gia cầm và hạn chế lây truyền sang người

Trang 31

- Protein kênh ion (M2) bao gồm 3 phân đoạn protein với tổng cộng là 97 amino acid M2 là một kênh proton, nghĩa là nó điều hòa sự vận chuyển các ion H+ đi qua màng virus khi điều kiện PH môi trường có sự thay đổi Cụ thể, khi virus đi vào trong một tế bào vật chủ, PH môi trường giảm xuống kích thích kênh M2 mở ra và các proton (H+) từ nguyên sinh chất của tế bào vật chủ đi qua màng vào trong virus, điều này làm khởi phát quá trình phân ly của vỏ virus và cho phép các ARN của virus tự do phiên mã thành protein virus

- Protein nền M1 là một trong số các protein ma trận của virus cúm Tất

cả các phân tử M1 xếp sát với nhau tạo thành một lớp áo khoác bên trong lớp màng lipid và là cầu nối giữa lớp màng với nhân ARN của virus Đồng thời nó cũng giữ những chức năng quan trọng trong quá trình tái tạo, lắp ráp và nhân lên của virus

2.2.2 Đặc tính kháng nguyên của virus cúm

Yếu tố ngưng kết hồng cầu (Haemagglutinin viết tắt là HA) và enzym trung hoà (Neuraminidase viết tắt là NA) là những kháng nguyên có vai trò quan trọng trong miễn dịch bảo hộ Có tất cả 16 biến thể HA (H1 đến H16) và 9 biến thể NA (N1 đến N9) HA được coi là yếu tố vừa quyết định tính kháng nguyên, vừa quyết định độc lực của virus cúm A Từ cấu trúc 8 đoạn gen của hạt virus cúm A, về lý thuyết 2 virus có thể xuất hiện 256 kiểu tổ hợp của virus thế hệ sau Mỗi một hợp thể kháng nguyên HA và NA tạo nên một subtyp

Khi xâm nhiễm vào cơ thể động vật, virus cúm A kích thích cơ thể sản sinh ra kháng thể đặc hiệu, trong đó quan trọng hơn cả là kháng thể kháng HA, chỉ có kháng thể này mới có vai trò trung hòa virus cho bảo hộ miễn dịch Một

số kháng thể khác có tác dụng kìm hãm sự nhân lên của virus, kháng thể kháng M2 ngăn cản chức năng M2 không cho quá trình bao gói virus xảy ra (Klenk et al., 1983)

Kháng thể đặc hiệu của kháng nguyên HA có khả năng trung hòa các loại virus tương ứng, chúng là kháng thể trung hòa có khả năng triệt tiêu virus gây bệnh Nó có thể phong tỏa sự ngưng kết bằng cách kết hợp với kháng nguyên HA Do vậy thụ thể của hồng cầu không bám vào được để liên kết tạo thành mạng ngưng kết Người ta gọi phản ứng đặc hiệu KN - KT có hồng cầu tham gia là phản ứng ngăn cản ngưng kết hồng cầu HI (Hemagglutination inhibition test)

Trang 32

Phản ứng ngưng kết hồng cầu (HA) và phản ứng huyết thanh ngăn cản ngưng kết hồng cầu (HI) được sử dụng trong chẩn đoán CGC

2.2.3 Độc lực virus

Theo quy định của Tổ chức Thú y Thế giới (OIE), virus nào có chỉ số IVPI

từ 1,2 trở lên thuộc loại có độc lực cao (OIE, 1992; Nguyễn Tiến Dũng, 2004)

- Virus có độc lực cao: Sau khi tiêm tĩnh mạch 10 ngày phải làm chết 75 - 100% số gà thực nghiệm Virus gây bệnh CGC phải làm chết 20% số gà mẫn cảm thực nghiệm và phát triển tốt trên tế bào xơ phôi gà trong môi trường nuôi cấy không có trypsin

- Virus có độc lực trung bình: Là những chủng virus gây dịch CGC với triệu chứng lâm sàng rõ rệt nhưng gây chết không quá 15% số gà bị nhiễm bệnh

tự nhiên hoặc không gây quá 20% số gà mẫn cảm thực nghiệm

- Virus có độc lực thấp (nhược độc): Là những virus phát triển tốt trong

cơ thể gà, có thể gây ra dịch nhưng không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt, không tạo ra bệnh tích đại thể và không làm chết gà

Trong thực tế người ta chia virus CGC ra làm 2 loại: Loại virus có độc lực thấp - LPAI Loại virus có độc lực cao- HPAI Các vụ dịch lớn đều do virus HPAI gây ra thường là virus có kháng nguyên H5, H7 và H9 Riêng H5 và H7 thông thường bắt nguồn từ virus độc lực thấp, sau quá trình lây truyền trên gà và chim cút độc lực tăng lên rất nhanh và gây ra các vụ dịch lớn Cho đến nay người

ta thừa nhận chỉ có 2 biến chủng virus có cấu trúc kháng nguyên H5 và H7 được coi là loại có độc lực cao gây bệnh ở gia cầm, nhưng không phải tất cả các chủng mang gen H5, H7 đều gây bệnh (Horimoto and Kawaoka, 2001)

2.2.4 Sức đề kháng của virus

Virus CGC tương đối nhạy cảm với các tác nhân vật lý, hóa học: dễ dàng bị tiêu diệt ở 560C trong 3h, 600C trong 3 phút, 700C virus chết ngay Tuy nhiên virus tồn tại khá lâu trong các vật chất hữu cơ như trong phân gia cầm ít nhất 3 tháng, 30 - 35 ngày ở nhiệt độ 40C, 7 ngày ở nhiệt độ 200C Trong phủ tạng gia cầm, virus tồn tại từ 24 - 39 ngày Trong thức ăn, nước uống bị ô nhiễm virus có khả năng tồn tại hàng tuần Đây chính là nguồn mang mầm bệnh nguy hiểm và tiềm tàng để làm lây lan dịch bệnh (Lê Văn Năm, 2004)

Ở môi trường axit, độc tính của virus giảm nhanh hơn ở môi trường kiềm Dưới ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp virus chỉ sống được 40 giờ, tia cực tím có thể diệt virus dễ dàng

Trang 33

Vius mẫn cảm với các chất dung môi, chất tẩy rửa như formalin, axit, ete, β – propiolacton Người ta dùng các hóa chất này như các chất sát trùng hữu hiệu để tẩy

uế chuồng trại, dụng cụ và các thiết bị chăn nuôi (Capua and Marrangon, 2000)

2.2.5 Sự tiến hóa của virus cúm

Năm 1996, H5N1 được phân lập từ ngỗng tại một ổ dịch ở Quảng Đông, chủng này được coi là chủng nguyên thủy tạo nên các dòng virus gây bệnh CGC trong những năm qua Chủng virus nguyên thủy này, lúc đó cung cấp nguồn gen HA(H5) cho tiến trình tái tổ hợp tạo nên các biến chủng gây dịch bệnh trên gia cầm và người ở Hong Kong năm 1997, và nguồn gen khung khác của virus cúm A/H5N1 Hong Kong được kiến tạo từ virus cúm A có ở chim cút (Guan và cs, 2002) Riêng nguồn gen NA(N1) còn chưa biết được lấy từ đâu, nhưng cấu trúc của gen có hiện tượng xóa đi 57 nucleotide mã hóa cho 19 amino acid, tại vùng đầu N của protein neuraminidase, và đột biến “xóa gen” này của N1 liên quan đến tính thích ứng của virus cúm từ thuỷ cầm lên gia cầm trên cạn và người Đối với gen HA(H5) đột biến giãn nở chuỗi nối giữa HA1 và HA2 mã hóa cho các amino acid kiềm (Arginine và Lysine) có liên quan đến tiến trình tăng cường độc lực, và ở các chủng thuộc dòng Quảng Đông (Guangdong-like sublineage), các amino acid thông thường là -RRRKK- (Matrosovich et al., 1999)

Hình 2.2 Sự tiến hóa của các clade virus H5N1 theo thời gian

Nguồn: Zhao ZM và cs (2012)

Trong các năm 1997 - 2002, một số biến chủng virus cúm A/H5N1 mang nhiều đặc tính kháng nguyên khác nhau của subtype H5 được hình thành tạo nên nhóm kháng nguyên (clade) 1 có độc lực cao với gà nhưng thấp đối với vịt Tiếp tục, trong năm 2002 - 2003, gen HA(H5) có những đột biến mới do hậu quả của

Trang 34

hiện tượng lệch kháng nguyên (antigenic drift), để rồi tạo nên biến chủng có tính gây bệnh cực kỳ cao, đặc biệt đối với vịt, và lây sang người Đặc tính thích ứng gây bệnh trên người càng ngày càng cao dần, cùng với độc lực tăng cường đối với đa vật chủ bao gồm vịt, gà, ngan, ngỗng, chim cút, chim hoang dã và người,

để rồi hình thành nhiều biến chủng xâm nhập các nước phía Nam châu Á trong

đó có Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Lào, Campuchia…(Guan et al., 2002)

Virus A/H5N1 gây nên dịch CGC ở Việt Nam từ cuối năm 2003 Tuy nhiên, qua điều tra, người ta đã từng phát hiện thấy virus A/H5N1 có mặt ở chợ gia cầm sống Việt Nam từ năm 2001 (Nguyen và cs, 2005) Qua nghiên cứu bằng phân tích phát sinh loài các virus cúm đã từng phát hiện ở Việt Nam từ năm 2001-2007, đã phát hiện thấy ít nhất có sáu clade (nhánh) HA khác nhau của virus cúm H5N1 độc lực cao từng xuất hiện và lưu hành ở Việt Nam Sáu clade

HA khác nhau này khi phân tích theo hệ thống danh pháp quốc tế rất tương đồng với các virus A/H5N1 tiền thân đã được xác định trước đó: clade 0 - giống virus HK97(A/HK/483/97); clade 1 - giống virus HK821(A/Dk /HK/821/02); clade 2.3.2 - giống virus E319 (A/Dk/China/E319-2/03); clade 2.3.4 - giống virus FJ584 (A/Ck/Fujian/584/05); clade 3 - giống virus GX22 (A/Dk/GX/22/01); clade 5 - giống virus F1(A/swine/Fujian/F1/01) Sáu clade virus này nằm cùng nhóm với các virus tiền thân được phân lập trước đây tại Trung Quốc và Hồng Công và các virus tiền thân này có thể được coi là tổ tiên của các dòng virus CGC độc lực cao xâm nhập vào Việt Nam (Wallace et al., 2007)

Năm 2007, có 2 clade virus A/H5N1 chủ yếu lưu hành ở Việt Nam là clade 1 và clade 2.3.4 Trong đó clade 1 xuất hiện từ năm 2003/2004 phân bố trong cả nước, nhưng chủ yếu lưu hành ở phía miền Nam từ năm 2007 cho đến nay; còn clade 2.3.4 xuất hiện từ năm 2007, trước đó đã lưu hành rộng rãi ở phía Nam Trung Quốc và xuất hiện phân bố và lưu hành chủ yếu ở miền Bắc Việt Nam, và đã thay thế cho clade 1 kể từ năm 2007 (Wallace et al., 2007)

Trang 35

VN14(02/14) A/CK/QuangNgai(NghiaHanh)/14-A458/2014 2344 KP286085.1 A/chicken/Shenzhen/1061/2013(H5N6)

KP765796.1 A/duck/Guangzhou/41227/2014(H5N6) VN14(11/02) A/Ck/LangSon/14-A526(H5N6) KJ754145.1 A/duck/Guangdong/GD01/2014(H5N6) KP286109.1 A/chicken/Dongguan/3363/2013(H5N6) KP285317.1 A/goose/Shantou/1763/2014(H5N6) KM496977 A/duck/Laos/XBY004/2014(H5N6) KM4969065 A/chicken/Laos/LPQ001/2014 (H5N6) LC028192.1 A/duck/Vietnam/LBM751/2014(H5N6) VN15(09) A/chicken/Vietnam/Lao Cai/NCVD-15A125/2015(H5N6) cdc VN16(01) A/Ck/Vietnam/Lao Cai/NCVD-16A1/2015 (H5N6) VN15(11) A/Ck/Vietnam/Nghe An/NCVD-15A202/2015 VN15(08) A/CK/Vietnam/Lao Cai/NCVD-15A59/2015 (H5N6) VN15/04/16) A/chicken/Vietnam/Ha Nam/NCVD-15A120/2015 cdc VN15(04/22)A/Goose/Vietnam(Ha Nam)/NCVD15-A27/2015(H5N6) 2344b VN15(08) A/Ck/Vietnam/Ha Nam/NCVD-15A122/2015

VN15(08) A/xx/Vietnam/Hai Phong/NCVD-15A62/2015 VN15(10) A/mduck/Vietnam/Lao Cai/NCVD-15A140/2015(H5N6) cdc VN15(09) A/Ck/Vietnam/Lai Chau/NCVD-15A130/2015 (H5N6) VN16(01) A/Ck/Vietnam/Tuyen Quang/NCVD-16A2/2015 (H5N6) VN15(12) A/Ck/Vietnam/Quang Ninh/NCVD-15A200/2015 VN15(11) A/Ck/Vietnam/Lai Chau/NCVD-15A186/2015 (H5N6) VN15(10) A/Ck/Vietnam/Lao Cai/NCVD-15A171/2015 (H5N6) VN15(11) A/Ck/Vietnam/Ha Tinh/NCVD-15A172/2015 (H5N6) VN15(10) A/duck/Vietnam/Nam Dinh/NCVD-15A146/2015(H5N6) cdc VN15(10) A/MDk/Vietnam/Quang Ninh/NCVD-15A196/2015 VN15(07)A/Mkd/Vietnam(Nghe An)/NCVD15-A52/2015 (H5N6) 2344b VN15(10) A/poultry/Vietnam/Thai Binh/NCVD-15A148/2015(H5N6) cdc VN15(08) A/ck/Vietnam/Hoa Binh/NCVD-15A55/2015 (H5N6)

Clade 2.3.4.4 b

KM504101 A/duck/Shandong/Q1/2013(H5N8) KP735806 A/goose/Shandong/k1201/2009(H5N1)

507673 A/mallard duck/Shanghai/SH-9/2013|EPI ISL 156815 KJ476669 A/duck/Zhejiang/W 24/2013(H5N8)

KJ413834 A/breeder duck/Korea/Gochang1/2014(H5N8) KJ508961 A/Baikal teal/Korea/H52/2014(H5N8) KM251463.1 A/chicken/Sichuan/NCJPL1/2014(H5N6) KM251467.1 A/duck/Sichuan/NCXJ24/2014(H5N6) KM251468.1 A/environment/Sichuan/NCLL1/2014(H5N6) CN14(04) A/Sichuan/26221/2014 HA

VN14(04/22) A/Ck/LangSon(TrangDinh)/14-A324/2014 2344 KJ807779.1 A/chicken/Zhejiang/6C2/2013(H5N6)

VN14(12/26) A/CK/LangSon/NCVD14-A540(H5N6)2344 KJ938658.1 A/environment/Zhenjiang/C13/2013(H5N6) VN14(02/12) A/CK/QuangNgai(DucPho)/14-A456/2014 2344 VN14(08/08) A/Pheasant/LaoCai/14-A367/2014(H5N6)2344 VN15(03/13)A/Chicken/Vietnam(Thanh Hoa)/NCVD15-A17/2015 VN14(08/25) A/Dk/QuangNgai/NCVD14-A415/2014(H5N6)2344 cdc VN14(08/25) A/DK/QuangTri/14-A418/2014(H5N6)2344 VN14(02/10) A/CK/KonTum(KonTum)/14-A452/2014(H5N6) 2344 VN15(08) A/CK/Vietnam/Dak Nong/NCVD-15A61/2015 VN15(08) A/Dk/Vietnam/Quang Ngai/NCVD-15A70/2015 VN14(08/27) A/Dk/QuangNgai/P140818-14A421/2014(H5N6)2344 LC041319 A/duck/Vietnam/1511/2014(H5N6)

VN15(08) A/Dk/Vietnam/Hanoi/NCVD-15A57/2015 (H5N6) VN15(03/03) A/duck/Vietnam/Quang Ngai/NCVD-15A63/2015 cdc

VN14(12/01) A/CK/TraVinh(CauKe-PhongPhu)/NCVD14-A536/2014(H5N1)2321c VN14(11/28) A/CK/VinhLong(TraOn-HoaBinh)/NCVD14-A535/2014(H5N1)2321c VN15(03) A/duck/Vietnam/Vinh Long/NCVD-15A153/2015 cdc

VN15(08) A/Dk/Vietnam/Dak Lak/NCVD-15A60/2015 VN15(05/12) A/duck/Vietnam/Ninh Thuan/NCVD-15A79/2015 cdc VN14(06/30)/Dk/NinhBinh(H.HoaLu-x.NinhXuan)/14-A340/2014(H5N1)2321c VN14(02/10) A/CK/QuangNgai(DucPho)/14-A455/2014

VN15(03/11/)A/Chicken/Vietnam(Ba vi)/NCVD15-A16/2015 AB828693.1 A/muscovy duck/Quang Ninh/49/2013(H5N1) VN14(05/19) A/Dk/BacNinh(H.QueVo-x.VietHung)/14-A331(H5N1)2321c VN15(01/24) A/Muscoviduck/Vietnam(Nghe An)/NCVD15-A12/2015 VN15(11) A/Ck/Vietnam/Nghe An/NCVD-15A190/2015 VN15(09) A/Ck/Vietnam/Ha Tinh/NCVD-15A133/2015 VN15(09) A/duck/Vietnam/Ha Tinh/NCVD-15A137/2015 cdc KP097910.1 A/duck/Vietnam/NCVD-KA324/2012(H5N1)2.3.2.1c Lee Ek 2015 VN15(01/08) A/CK/CanTho(PhongDien-TruongLong)/NCVD15-A005(H5N1)2321c VN15(01/15) A/CK/KienGiang(HonDat-ThoSon)/NCVD15-A007(H5N1)2321c VN15(02/26) A/quail/Vietnam/Tien Giang/NCVD-15A77/2015 cdc VN15(01/16) A/Dk/CaMau(NgocHien-KienGiang)/NCVD15-A008(H5N1)2321c VN15(09) A/duck/Vietnam/Vinh long/NCVD-15A164/2015 cdc

VN14(05/06) A/CK/KienGiang(GiongRieng-HoaHung)/14-A384/2014(H5N1)2321c VN15(01/05) A/DK/CaMau(ThoiBinh-TanPhu)/NCVD15-A004(H5N1)2321c VN15(03/03) A/chicken/Vietnam/Long An/NCVD-15A78/2015 cdc VN15(02) A/chicken/Vietnam/Soc Trang/NCVD-15A152/2015 cdc VN15(07/30) A/duck/Vietnam/Tien Giang/NCVD-15A106/2015 cdc VN15(04/22) A/duck/Vietnam/Tien Giang/NCVD-15A85/2015 cdc VN15(01/20) A/chicken/Vietnam/Tien Giang/NCVD-15A75/2015 cdc VN15(07/xx) A/poultry/Vietnam/Ben Tre/NCVD-15A116/2015 cdc VN15(08) A/chicken/Vietnam/Tra Vinh/NCVD-15A159/2015 cdc

Clade 2.3.2.1 c

Clade 1

Clade 7 AF144305.1|A/Goose/Guangdong/1/96(H5N1)

Từ năm 2009-2010, virus A/H5N1 thuộc clade 2.3.2 cũng đã xuất hiện ở Việt Nam và về mặt di truyền những virus này tương tự các virus A/H5N1 ở chim hoang và gia cầm của nhiều nước ở Đông Âu, Hồng Công, Trung Quốc, Hàn Quốc Một số virus H5N1 thuộc clade 7 được phân lập ở biên giới phía Bắc

và một số chợ gia cầm sống ở phía Bắc Việt Nam

Theo kết quả xét nghiệm năm 2015 của Trung tâm Chẩn đoán và các Cơ

Trang 36

quan Thú y vùng, tất cả các virus cúm subtype H5N1 đều thuộc clade 2.3.2.1C và chủ yếu lưu hành ở các tỉnh miền Nam Các virus H5N6 thuộc về 2 clade là 2.3.4.4A (dòng Trung Quốc) và 2.3.4.4 B (dòng Lào) lưu hành chủ yếu ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung Đặc biệt, clade 2.3.4.4 B xuất hiện nhiều hơn trong năm 2015 và đầu năm 2016.

2.3 MỘT SỐ LOẠI VACXIN PHÒNG BỆNH CÚM GIA CẦM

2.3.1 Các loại vacxin được dùng hiện nay

- Vacxin vô hoạt đồng chủng: Là vacxin được sản xuất chứa kháng nguyên của chủng virus gây bệnh cúm thực địa (field strain) từng sử dụng tại Mexico, Pakistan và gần đây là ở Trung Quốc Một trong những vacxin thuộc loại này đang được sử dụng hiện nay là vacxin của Aventis Pasteur, Nobilis, và Weike Harbin Nhược điểm cơ bản của vacxin này là không thể phân biệt được gia cầm tiêm vacxin và gia cầm nhiễm cúm thực địa khi kiểm tra kháng thể

- Vacxin vô hoạt dị chủng: Là những vacxin được sản xuất tương tự như vacxin đồng chủng, điểm khác biệt là các chủng virus vacxin có cùng kháng nguyên H với chủng virus thực địa nhưng có kháng nguyên N dị chủng, nhờ thế

có thể phân biệt được cá thể tiêm phòng với cá thể nhiễm virus khi thực hiện giám sát huyết thanh học Vacxin loại này đang được sử dụng tại Trung Quốc, một số nước Châu Âu và Châu Mỹ

- Vacxin tái tổ hợp: Một vài loại vacxin tái tổ hợp virus cúm với virus đậu

gà đã được sử dụng Với vacxin này, virus gây bệnh đậu được sử dụng như một vector để ghép gene mã hóa cho kháng nguyên H và N của virus cúm vì vậy sử dụng vacxin này cho phép phân biệt được gia cầm tiêm vacxin và gia cầm nhiễm cúm.Vacxin này chủ yếu được sử dụng rộng rãi ở Mexico và bắt đầu được sử dụng ở Trung Quốc từ tháng 1 năm 2005 (Tô Long Thành, 2005)

2.3.2 Tình hình sử dụng vacxin cúm gia cầm trên thế giới

Sử dụng vacxin đã được sử dụng trên thực địa chưa được các thông báo cụ thể, nhưng có một số nguồn thông tin cho rằng Mexico đã sử dụng 1 tỷ 300 triệu liều virus vô hoạt và 850 triệu liều vacxin tái tổ hợp đậu gà trong chương trình sử dụng vacxin chống bệnh cúm từ đầu tháng 1/1995 và đã thanh toán được bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao do virus H5N2 và tháng 6/1995, mặc dù virus H5N2 chủng độc lực thấp vẫn lưu hành Indonexia cũng sử dụng vacxin AI H5 vô hoạt

Từ năm 1995, Pakistan cũng sử dụng vacxin phòng cúm ở cả ổ dịch H7N3 thể

Trang 37

độc lực cao Các vacxin vô hoạt chế từ chủng virus H9N2 độc lực thấp đã và đang được sử dụng ở một số nước châu Á, vùng Cận Đông và Đông Âu Gần đây, vacxin vô hoạt nhũ dầu H7 đã được dùng cho các vùng nguy cơ cao ở phía Bắc Italia và tại một công ty nuôi gà con một ngày tuổi ở Mỹ

Trung Quốc là nước sử dụng nhiều vacxin cúm nhất Trung Quốc đã có bản tường trình về kết quả của các loại vacxin đang được sử dụng tại nước này, bao gồm:

- Vacxin vô hoạt chủng H5, N-28: được phê chuẩn từ tháng 12/2003 và được sử dụng rộng rãi ở Trung Quốc trong các ổ dịch cúm gia cầm thể độc lực cao vào đầu năm 2004

- Vacxin vô hoạt virus cúm tái tổ hợp (subtype H5N1, chủng Re-1): được phê chuẩn tháng 1/2005 Vacxin được đánh giá là rất có hiệu quả trong tạo miễn dịch chống cúm với hiệu giá kháng thể cao và thời gian bảo hộ dài hơn Thuỷ cầm được tiêm vacxin này không bị nhiễm và bài thải virus cúm

- Vacxin sống virus đậu tái tổ hợp phòng cúm gia cầm H5: được phê chuẩn tháng 1/2005 và được nhiều nước sử dụng như Trung Quốc, Mexico sử dụng loại vacxin này có thể phân biệt được miễn dịch do tiêm phòng vacxin hay

bị nhiễm tự nhiên

- Hiện Trung Quốc đã và đang đưa vào sử dụng vacxin dạng vô hoạt nhũ dầu H5N1 chủng Re-5 và vacxin H5N1 chủng Re-6 và gần đây nhất là vacxin nhị giá Re-6 + Re-8

2.3.3 Tình hình sử dụng vacxin cúm gia cầm tại Việt Nam

Một số loại vacxin được sử dụng ở Việt Nam như:

- Vacxin nhũ dầu vô hoạt H5N2 (Trung Quốc): là loại vacxin dị chủng bất hoạt, sử dụng chủng virus A/Turkey/England/N28/73 (H5N2)

- Vacxin tái tổ hợp vô hoạt phòng bệnh cúm gia cầm H5N1 chủng Re-1

- Vacxin tái tổ hợp vô hoạt phòng bệnh cúm gia cầm H5N1 chủng Re-5

- Vacxin tái tổ hợp vô hoạt phòng bệnh cúm gia cầm H5N1 chủng Re-6

- Vacxin Nobilis Influenza H5 (Hà Lan): đây là loại vacxin dị chủng, sử dụng chủng virus A/chicken/Mexico/232/94/CPA

- Vacxin Trovac AIV H5 (vacxin đậu-cúm dạng sống, đông khô): là vacxin chứa virus đậu gà sống làm vectơ có mang gen virus cúm gia cầm chủng

Trang 38

OIE đã khuyến cáo, đối với bệnh CGC, việc sử dụng, tiêm chủng vacxin như một giải pháp, một công cụ hỗ trợ tích cực để ngăn chặn, khống chế và tiến đến thanh toán bệnh CGC ở vùng nhiễm bệnh

Trang 39

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

3.1.1 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu từ tháng 11/2015 đến tháng 4/2016

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu

- Phòng thí nghiệm Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung Ương (TTCĐ)

- Khu nuôi động vật ATSH của TTCĐ

3.2 NGUYÊN LIỆU, ĐỐI TƯỢNG DÙNG TRONG NGHIÊN CỨU

3.2.1 Đối tượng, vật liệu

3.2.2 Các loại dung dịch, môi trường

- Môi trưởng bảo quản swabs

- Dung dịch PBS

- Hồng cầu gà 1%

- Bộ kit chiết tách ARN, kit nhân gen qRT-PCR

- Prime, Probe, đối chứng dương H5N6

3.3 TRANG THIẾT BỊ MÁY MÓC, DỤNG CỤ TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM

- Buồng cấy an toàn sinh học cấp 2, máy ly tâm lạnh, tủ lạnh âm sâu 800C,

Trang 40

tủ lạnh âm 200C, hệ thống bơm hút chân không dùng trong chiết tách RNA, máy Real time PCR (RT-PCR),…

- Phòng thí nghiệm ATSH cấp 2 để phân lập virus

- Phòng nuôi động vật ATSH cấp 2+ để công cường độc

3.4 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.4.1 Nội dung

- Tình hình dịch bệnh cúm trên đàn gia cầm tại Việt Nam

- Nghiên cứu sự phân bố và lưu hành các chủng virus cúm gia cầm trên địa bàn cả nước

- Đánh giá hiệu giá kháng thể của vacxin Re-6 + Re-8 khi tiêm cho đàn gà, vịt thí nghiệm

+ Hiệu giá kháng thể của vacxin Re-6 +Re-8 sau khi tiêm phòng trên gà với kháng nguyên H5N1 clade 2.3.2.1

+ Hiệu giá kháng thể của vacxin Re-6 +Re-8 sau khi tiêm phòng trên gà với kháng nguyên H5N6 clade 2.3.4.4

+ Hiệu giá kháng thể của vacxin Re-6 +Re-8 sau khi tiêm phòng trên vịt với kháng nguyên H5N1 clade 2.3.2.1

+ Hiệu giá kháng thể của vacxin Re-6 +Re-8 sau khi tiêm phòng trên vịt với kháng nguyên H5N6 clade 2.3.4.4

- Nghiên cứu triệu chứng lâm sàng, bệnh tích và mức độ bài thải virus của

gà thí nghiệm sau khi công cường độc

+ Nghiên cứu các triệu chứng lâm sàng của gia cầm sau công cường độc + Xét nghiệm virus bài thải

+ So sánh hiệu giá kháng thể trung bình và tỉ lệ bảo hộ lâm sàng của lô gà

và vịt

+ Bệnh tích đại thể của đàn gà, vịt sau khi công cường độc

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu

3.4.2.1 Bố trí thí nghiệm

- Gà, vịt được chọn từ đàn sạch bệnh, chưa được tiêm phòng vacxin CGC

và không có kháng thể kháng kháng nguyên cúm H5 Gà, vịt được lấy máu trước

Ngày đăng: 10/03/2021, 15:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bùi Quang Anh và Văn Đăng Kỳ (2004). Bệnh CGC: lưu hành bệnh, chẩn đoán và kiểm soát dịch bệnh Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y. 11(3). tr. 69 -75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh CGC: lưu hành bệnh, chẩn đoán và kiểm soát dịch bệnh
Tác giả: Bùi Quang Anh, Văn Đăng Kỳ
Nhà XB: Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y
Năm: 2004
6. Cục Thú y (2015), Báo cáo tóm tắt kết quả công tác thú y 2015 và kế hoạch công tác năm 2016, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt kết quả công tác thú y 2015 và kế hoạch công tác năm 2016
Tác giả: Cục Thú y
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2015
7. Cục thú y (2016), Báo cáo tóm tắt kết quả công tác thú y 2016 và kế hoạch công tác năm 2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt kết quả công tác thú y 2016 và kế hoạch công tác năm 2017
Tác giả: Cục thú y
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2016
8. Cục thú y (2017), Thông tin về dịch cúm gia cầm và tai xanh. Truy cập ngày 1/4/2017, tại http://www.cucthuy.gov.vn/Pages/thong-tin-ve-tinh-hinh-dich-cum-gia-cam-lmlm-va-tai-xanh-ngay-31-3-2017.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin về dịch cúm gia cầm và tai xanh
Tác giả: Cục thú y
Năm: 2017
11. HNCTY (2013), Hội nghị tổng kết công tác năm 2013 và triển khai kế hoạch năm 2014, Cục Thú y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị tổng kết công tác năm 2013 và triển khai kế hoạch năm 2014
Tác giả: HNCTY
Nhà XB: Cục Thú y
Năm: 2013
12. HNCTY (2015), Hội nghị tổng kết công tác năm 2015 và triển khai kế hoạch năm 2016- Cục Thú y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị tổng kết công tác năm 2015 và triển khai kế hoạch năm 2016
Tác giả: HNCTY
Nhà XB: Cục Thú y
Năm: 2015
14. Lê Văn Năm (2007). Đại dịch CGC và nguyên tắc phòng chống Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y. 14. tr. 91-94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại dịch CGC và nguyên tắc phòng chống
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y
Năm: 2007
15. Nguyễn Hoài Tao và Nguyễn Tuấn Anh (2004). Một số thông tin về dịch cúm gia cầm Chăn nuôi. 3. tr. 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số thông tin về dịch cúm gia cầm
Tác giả: Nguyễn Hoài Tao, Nguyễn Tuấn Anh
Nhà XB: Chăn nuôi
Năm: 2004
16. Nguyễn Tiến Dũng (2004). Nguồn gốc virus CGC H5N1 tại Việt Nam năm 2003 – 2004 Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y. 11(3). tr. 6 - 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc virus CGC H5N1 tại Việt Nam năm 2003 – 2004
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y
Năm: 2004
18. Tô Long Thành (2004). Thông tin cập nhật về tái xuất hiện bệnh cúm gia cầm tại các nước Châu Á Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y. 11(4). tr. 87- 93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin cập nhật về tái xuất hiện bệnh cúm gia cầm tại các nước Châu Á
Tác giả: Tô Long Thành
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y
Năm: 2004
20. Tô Long Thành (2007). Các loại vaccine cúm gia cầm và đánh giá hiệu quả tiêm phòng Tạp chí KHKT thú y. 15(2). tr. 84-90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loại vaccine cúm gia cầm và đánh giá hiệu quả tiêm phòng
Tác giả: Tô Long Thành
Nhà XB: Tạp chí KHKT thú y
Năm: 2007
22. Trần Hữu Cổn và Bùi Quang Anh (2004). Bệnh cúm gia cầm và biện pháp phòng chống. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh cúm gia cầm và biện pháp phòng chống
Tác giả: Trần Hữu Cổn, Bùi Quang Anh
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004
23. Trương Văn Dung (2008). Những Kết quả nghiên cứu đã đạt đợc về bệnh cúm gia cầm ở Việt Nam Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y. 15(4). tr. 5-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những Kết quả nghiên cứu đã đạt đợc về bệnh cúm gia cầm ở Việt Nam
Tác giả: Trương Văn Dung
Nhà XB: Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
Năm: 2008
24. Trương Văn Dung và Nguyễn Viết Không (2004). Một số hoạt động nghiên cứu khoa học của Viện Thú y Quốc gia về bệnh cúm gia cầm và giải pháp khoa học công nghệ trong thời gian tới Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y. 11(3). tr. 62-68.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số hoạt động nghiên cứu khoa học của Viện Thú y Quốc gia về bệnh cúm gia cầm và giải pháp khoa học công nghệ trong thời gian tới
Tác giả: Trương Văn Dung, Nguyễn Viết Không
Nhà XB: Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
Năm: 2004
25. Alexander. D. J (1996). A review of avian in different bird species. Vet. Microbiol. (74). pp. 3–13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A review of avian in different bird species
Tác giả: Alexander. D. J
Nhà XB: Vet. Microbiol.
Năm: 1996
26. Capua I. &. Marrangon S. (2000). “Review article: "The avian influenza epidermic in Italy”, 1999-2000. Avian Pathol., 29. pp. 289-294 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Review article: "The avian influenza epidermic in Italy”, 1999-2000
Tác giả: Capua I., Marrangon S
Nhà XB: Avian Pathology
Năm: 2000
30. Klenk, Hniemann R and Geyer R. T Schwarz (1983). The characterization of influenza viruses by carbohydrate analysis Curr top Microbiol Immuno. 104. pp.247-257 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The characterization of influenza viruses by carbohydrate analysis
Tác giả: Klenk, Hniemann R, Geyer R, T Schwarz
Nhà XB: Curr top Microbiol Immuno
Năm: 1983
31. Matrosovich M, Zhou N, Kawaoka Y, Webster R (1999). The surface glycoproteins of H5 influenza viruses isolated from humans, chickens, and wild aquatic birds have distinguishable properties. J Virol 73. pp. 1146-1155 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The surface glycoproteins of H5 influenza viruses isolated from humans, chickens, and wild aquatic birds have distinguishable properties
Tác giả: Matrosovich M, Zhou N, Kawaoka Y, Webster R
Nhà XB: J Virol
Năm: 1999
33. Wallace, R.G., Hodac, H., Lathrop, R.H., Fitch,W.M (2007). A statistical phylogeography of influenza A H5N1. Proc. Natl. Acad. Sci. 104. 4473–4478 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A statistical phylogeography of influenza A H5N1
Tác giả: R.G. Wallace, H. Hodac, R.H. Lathrop, W.M. Fitch
Nhà XB: Proc. Natl. Acad. Sci.
Năm: 2007
1. Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch cúm gia cầm (2005), Báo cáo tổng kết công tác 2 năm (2004-2005) phòng chống dịch cúm gia cầm, Hội nghị Tổng kết 2 năm phòng chống dịch cúm gà, Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w