1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thành phần sâu hại và thiên địch trên rau họ hoa thập tự, đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp hóa học phòng trừ sâu xanh bướm trắng (pieris rapae linnaeus) năm 2016 2017 tại văn giang, hưng yên

87 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 5,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM BÙI TIẾN DŨNG THÀNH PHẦN SÂU HẠI VÀ THIÊN ĐỊCH TRÊN RAU HỌ HOA THẬP TỰ, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI VÀ BIỆN PHÁP HOÁ HỌC PHÒNG TRỪ SÂU XANH BƯỚM TRẮNG P

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

BÙI TIẾN DŨNG

THÀNH PHẦN SÂU HẠI VÀ THIÊN ĐỊCH TRÊN RAU

HỌ HOA THẬP TỰ, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI

VÀ BIỆN PHÁP HOÁ HỌC PHÒNG TRỪ SÂU XANH BƯỚM TRẮNG (PIERIS RAPAE LINNAEUS) NĂM

2016 - 2017 TẠI VĂN GIANG, HƯNG YÊN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Kim Oanh

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là hoàn toàn trung thực, có được qua các thí nghiệm do bản thân tiến hành và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan các thí nghiệm để thu thập số liệu trong khóa luận đã được chính bản thân tôi tiến hành tại phòng thí nghiệm Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Hưng Yên với sự đồng ý và hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Thị Kim Oanh - giáo viên hướng dẫn và các kỹ thuật viên phụ trách phòng thí nghiệm

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã được cảm

ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Bùi Tiến Dũng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoá luận tốt nghiệp ngành Bảo vệ thực vật, khoa Nông học, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu từ phía các thầy

cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp người thân…

Với tấm lòng chân thành và sự biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin được gửi lời cảm ơn đặc biệt tới PGS TS Nguyễn Thị Kim Oanh, người hướng dẫn tôi từ những bước đầu làm nghiên cứu khoa học, là người thầy đã rất tận tâm và nhiệt tình hướng dẫn tôi suốt thời gian làm đề tài khóa luận tốt nghiệp

Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong bộ môn Côn trùng, các kỹ thuật viên phòng thí nghiệm nơi tôi thực hiên thí nghiệm và nông dân xã

Mễ Sở, Văn Giang, Hưng Yên đã tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất cũng như những

sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý kiến cho tôi trong suốt quá trình làm đề tài

Xin được gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình, họ hàng và tất cả bạn bè, những người đã có sự hỗ trợ thiết thực cho tôi cả về mặt tinh thần, vật chất và công sức để tôi có thể hoàn thành tốt đề tài luận văn của mình

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Bùi Tiến Dũng

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN x

THESIS ABSTRACT xii

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU ĐỀ TÀI 2

1.2.1 Mục đích nghiên cứu 2

1.2.2 Yêu cầu 2

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4

2.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC 5

2.2.1 Nghiên cứu về thành phần sâu hại và thiên địch trên rau họ hoa thập tự 5

2.2.2 Nghiên cứu về sâu xanh bướm trắng Pieris rapae L 9

2.3 NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC 17

2.3.1 Nghiên cứu về thành phần sâu hại và thiên địch trên rau họ thập tự 17

2.3.2 Nghiên cứu về sâu xanh bướm trắng 18

2.3.3 Kết quả nghiên cứu biện pháp phòng trừ sâu xanh bướm trắng((P rapae) trên rau họ hoa thập tự 22

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

3.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 25

3.2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ DỤNG CỤ NGHIÊN CỨU 25

3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 25

3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

Trang 5

3.4.1 Điều tra thành phần sâu hại và thiên địch của chúng trên rau họ hoa

thập tự tại Mễ Sở, Văn Giang, Hưng Yên năm 2016 - 2017 26

3.4.2 Điều tra diễn biến mật độ và tỷ lệ hại của sâu xanh bướm trắng (P.rapae) 26

3.4.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài sâu xanh bướm trắng P.rapae L 28

3.4.4 Thí nghiệm đánh giá hiệu quả của một số loại thuốc BVTV trong phòng thí nghiệm 29

3.5 CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI 30

3.5.1 Các chỉ tiêu ngoài đồng ruộng 30

3.5.2 Các chỉ tiêu trong phòng 30

3.5.3 Phương pháp xử lí số liệu 31

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 THÀNH PHẦN SÂU HẠI TRÊN RAU HỌ THẬP TỰ NĂM 2016-2017 TẠI MỄ SỞ, VĂN GIANG, HƯNG YÊN 32

4.2 THÀNH PHẦN THIÊN ĐỊCH TRÊN RAU HỌ THẬP TỰ NĂM 2016-2017 TẠI MỄ SỞ, VĂN GIANG, HƯNG YÊN 35

4.3 DIỄN BIẾN MẬT ĐỘ SÂU XANH BƯỚM TRẮNG (P RAPAE) HẠI RAU Ở XÃ MẾ SỞ , VĂN GIANG, HƯNG YÊN 38

4.3.1 Diễn biến mật độ sâu xanh bướm trắng (P rapae) trên ruộng su hào vụ đông xuân 2016 - 2017 tại Văn Giang, Hưng Yên 38

4.3.2 Diễn biến mật độ sâu xanh bướm trắng (P rapae) trên ruộng cây cải canh và cải ngọt 39

4.4 THÍ NGHIỆM TÌM HIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ TRỒNG BẮP CẢI ĐẾN MẬT ĐỘ SÂU XANH BƯỚM TRẮNG TRÊN BẮP CẢI 40

4.5 DIỄN BIẾN MẬT ĐỘ SÂU XANH BƯỚM TRẮNG TRÊN RUỘNG RAU AN TOÀN VÀ RUỘNG CANH TÁC TRUYỀN THỐNG 42

4.6 THÍ NGHIỆM TÌM HIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA GIỐNG BẮP CẢI ĐẾN MẬT ĐỘ SÂU XANH BƯỚM TRẮNG 44

4.7 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CỦA SÂU XANH BƯỚM TRẮNG PIERIS RAPAE LINNAEUS 45

4.8 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA SÂU XANH BƯỚM TRẮNG (P RAPAE) 50

4.8.2 Thời gian phát dục và vòng đời của sâu xanh bướm trắng (P rapae) 52

Trang 6

4.8.3 Sức đẻ trứng của trưởng thành sâu xanh bướm trắng (P rapae) 54

4.8.4 Tỷ lệ giới tính của sâu xanh bướm trắng (P.rapae) 56

4.8.5 Thời gian sống của trưởng thành SXBT P.rapae trên các loại thức ăn thêm khác nhau 57

4.8.6 Mức độ gây hại của sâu xanh bướm trắng Pieris rapae L 58

4.9 THÍ NGHIỆM TÌM HIỂU HIỆU LỰC CỦA THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT TRỪ SÂU XANH BƯỚM TRẮNG TRÊN RAU HỌ HOA THẬP TỰ 60

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62

5.1 KẾT LUẬN 62

5.2 KIẾN NGHỊ 63

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 4 1 Thành phần sâu hại rau họ hoa thập tự năm 2016 - 2017 tại Mễ Sở, Văn

Giang, Hưng Yên 32 Bảng 4.2 Thành phần thiên địch bắt mồi của sâu hại rau họ hoa thập tự tại Mễ Sở,

Văn Giang, Hưng Yên 201-2017 36 Bảng 4.3 Diễn biến mật độ sâu xanh bướm trắng (P rapae) trên su hào vụ đông

xuân 2016 - 2017 tại Văn Giang, Hưng Yên 38 Bảng 4.4 Diễn biến mật độ sâu xanh bướm trắng Pieris rapae trên cây cải canh

và cải ngọt vụ đông xuân 2016 - 2017 tại Văn Giang, Hưng Yên 39 Bảng 4.5 Ảnh hưởng của mật độ trồng bắp cải NS cros đến mật độ của sâu

xanh bướm trắng vụ đông xuân 2016 - 2017 tại Văn Giang, Hưng Yên 41 Bảng 4.6 Diễn biến mật độ của sâu xanh bướm trắng trên Bắp cải NS cros trên

ruộng rau an toàn và SX theo canh tác truyền thống vụ đông xuân

2016 - 2017 tại Văn Giang, Hưng Yên 43 Bảng 4.7 Ảnh hưởng của giống bắp cải đến diễn biến mật độ sâu xanh bướm

trắng vụ đông xuân 2016 - 2017 tại Văn Giang, Hưng Yên 44 Bảng 4.8 Kích thước các pha phát triển của sâu xanh bướm trắng (P rapae) 47 Bảng 4.9 Thời gian phát dục của loài sâu xanh bướm trắng (P rapae) trong 2

điều kiện nhiệt độ và độ ẩm khác nhau 53 Bảng 4.10 Sức đẻ trứng của trưởng thành sâu xanh bướm trắng (P rapae) 54 Bảng 4.11 Tỷ lệ giới tính của sâu xanh bướm trắng (P rapae) 56 Bảng 4.12 Thời gian sống của trưởng thành đực, cái P.rapae trên các thức ăn

thêm khác nhau 58 Bảng 4.13 Diện tích lá bị sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae ) gây hại 58 Bảng 4.14 Khối lượng lá bị sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae ) gây hại 59 Bảng 4.15 Hiệu lực của thuốc bảo vệ thực vật đối với sâu xanh bướm trắng

Pieris rapae trên bắp cải tại Văn Giang, Hưng Yên 60

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1 Sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae Linnaeus) 33

Hình 4.2 Sâu róm nâu (Amsacta lactinea Cramer) 33

Hình 4.3 Sâu tơ (Plutella xylostella Linnaeus) 33

Hình 4.4 Sâu khoang (Spodoptera litura Fabricius) 33

Hình 4.5 Sâu đo (Plusia eriosoma Doub.) 33

Hình 4.6 Bọ nhảy sọc cong (Phyllotreta striolata Fabr.) 33

Hình 4.7 Rệp cải Brevicoryne brassicae L 34

Hình 4.8 Bọ phấn Bemisia tabaci (Gennadius) 34

Hình 4.9 Bọ bầu vàng (Aulacophora femoralis Mots.) 34

Hình 4.10 Cào cào Atractomorpha sinensis Bolivar 34

Hình 4.11 Bọ rùa 6 vằn (Menochilus sexmaculatus Fabricius) 37

Hình 4.12 Bọ đuôi kìm đen (Euborellia annulata Fabr ) 37

Hình 4.13 Nhện sói Lycosa pseudoannulata B et Str 37

Hình 4.14 Bọ rùa đỏ (Micraspis discolor Fabricius) 37

Hình 4.15 Bọ cánh cộc nâu Paederus fuscipes Curt 37

Hình 4.16 Bọ ngựa (Mantis sp) 37

Hình 4.17 Diễn biến mật độ sâu xanh bướm trắng (P rapae) trên su hào sớm và su hào muộn vụ đông xuân 2016 - 2017 tại Văn Giang, Hưng Yên 39

Hình 4.18 Ảnh hưởng của mật độ trồng bắp cải NS cros đến mật độ của sâu xanh bướm trắng vụ đông xuân 2016 - 2017 tại Văn Giang, Hưng Yên 42

Hình 4.19 Diễn biến mật độ của sâu xanh bướm trắng trên Bắp cải NS cros trên ruộng rau an toàn và canh tác truyền thống vụ đông xuân 2016 - 2017 tại Văn Giang, Hưng Yên 43

Hình 4.20 Ảnh hưởng của giống bắp cải đến diễn biến mật độ sâu xanh bướm trắng vụ đông xuân 2016 - 2017 tại Văn Giang, Hưng Yên 45

Hình 4.21 Trứng của sâu xanh bướm trắng (P rapae) 46

Hình 4.22 Hình ảnh các pha phát dục của sâu xanh bướm trắng (P rapae) 48

Hình 4.23 Hình ảnh các pha phát dục của sâu xanh bướm trắng (P rapae) 49

Hình 4.24 Hoạt động giao phối của trưởng thành sâu xanh bướm trắng (P rapae) 51

Hình 4.25 Triệu chứng gây hại của sâu xanh bướm trắng (P rapae) 51

Trang 10

Hình 4.26 Nhịp điệu đẻ trứng của trưởng thành sâu xanh bướm trắng (P rapae) 55 Hình 4.27 Tỷ lệ giới tính của trưởng thành sâu xanh bướm trắng (P rapae)

trong hai đợt thí nghiệm 57 Hình 4.28 Hiệu lực của các loại thuốc BVTV đối với sâu xanh bướm trắng

Pieris rapae trên su hào (giống B40) 61

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Bùi Tiến Dũng

Tên luận văn: “Thành phần sâu hại và thiên địch trên rau họ hoa thập tự, đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp hoá học phòng trừ sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae Linnaeus) năm 2016 - 2017 tại Văn Giang, Hưng Yên”

Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật Mã số: 60.62.01.12

Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu của luận văn

Trên cơ sở điều tra thành phần sâu hại và thiên địch trên cây rau họ hoa thập tự, nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và thử nghiệm biện pháp hóa học phòng trừ sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae L.) năm 2016 - 2017 tại Mễ Sở, Văn Giang, Hưng Yên nhằm xác định biện pháp phòng trừ đạt hiệu quả cao

Các phương pháp nghiên cứu chính đã sử dụng

Điều tra thành phần sâu hại và thiên địch trên rau họ hoa thập tự theo QCVN 38: 2010 của Bộ Nông Nghiệp và PTNT

01-Các kết quả nghiên cứu chính đã đạt được

- Thành phần sâu hại rau họ hoa thập tự tại vùng sản xuất rau Mễ Sở, Văn Giang Hưng Yên năm 2016-2017 gồm 18 loài sâu hại thuộc 7 bộ và 13 họ khác nhau Ở đầu

vụ, sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae Linnaeus), sâu khoang (Spodoptera litura Fabr),

bọ nhảy sọc cong (Phyllotreta striolata Fabr) là đối tượng sâu hại xuất hiện nhiều trên ruộng và xuyên suốt cả vụ Sâu tơ (Plutella xylostella Linneaus) cũng xuất hiện nhiều ở các lần điều tra

-Thành phần thiên địch bắt mồi của sâu hại rau họ hoa thập tự tại Mễ Sở, Văn Giang, Hưng Yên gồm 14 loài thuộc 6 bộ và 12 họ khác nhau Trong đó, phổ biến nhất là loài bọ cánh cộc nâu (Paederus fuscipes Curt), bọ rùa đỏ (Micraspis discolor Fabr), bọ xít bắt mồi (Orius sauterri)

- Thời gian vòng đời của sâu xanh bướm trắng khi nuôi ở 24,3 o C và ẩm độ 82,6% là 26,19 ± 0,45 ngày; tỷ lệ đực:cái là 1 :1,09 Trong khi đó vòng đời của sâu khi nuôi ở 30,1 o C và ẩm độ 85,7% là 23,66± 0,45 ngày và tỷ lệ đực:cái là 1 :1,68 Vòng đời nuôi ở hai đợt nuôi với nhiệt độ khác nhau là khác nhau mức ý nghĩa 95%

Sức đẻ trứng của trưởng thành sâu xanh bướm trắng trong điều kiện nhiệt độ 24,30C và độ ẩm là 82,6%, một cặp trưởng thành đẻ được trung bình là 97,13 ± 3,22 quả; trong đó, cặp đẻ ít nhất là 35 quả rồi chết và cặp đẻ nhiều nhất là 237 quả Trưởng thành đẻ trứng rải rác trong thời gian từ 6 - 15 ngày, trung bình 11,33 ngày và mỗi ngày trưởng thành cái đẻ được 8,84 ± 1,11 trứng /ngày/con

Trang 12

Trong điều kiện nhiệt độ 31,50C và độ ẩm 85,7%, sức đẻ trứng của trưởng thành sâu xanh bướm trắng cao hơn, mỗi cặp đẻ được 150,4 ± 26,19 quả, cặp đẻ ít nhất là 32 quả và nhiều nhất là 384 quả Trưởng thành đẻ trứng rải rác trong 6 - 11 ngày, trung bình 8,26 ± 0,33 ngày và mỗi trưởng thành cái đẻ được 19,06 ± 3,4 trứng/ngày/con

- Diễn biến mật độ sâu xanh bướm trắng trên ruộng bắp cải trồng theo người dân cao hơn ruộng rau trồng theo an toàn; giống rau KK cross bị hại nặng hơn so với giống NS cross (khi cây 45 ngày sau trồng ở giống KK cross là 3,9 con/cây, giống NS Cross là 3,5 con/cây) Mật độ trồng dày bị hại nặng hơn (giai đoạn cây 45 ngày sau trồng và 70 ngày sau trồng ở công thức 1 và công thức 2 mật độ dao động từ 3,28 - 4,9 con/cây; cao nhất là ở công thức 3 5,7 con/cây)

- Thuốc hoá học (Abatin 5.4EC) có hiệu lực trừ sâu xanh bướm trắng cao (đạt hiệu lực 100% sau phun 7 ngày) Dylan 2EC là thuốc có nguồn gốc sinh học tuy hiệu lực chưa cao ở ngày đầu tiên (47,30%) nhưng sau 5 ngày đạt 92,46% và sau 7 ngày cũng đạt (100%) Riêng thuốc trừ sâu sinh học Hetsau 0.4EC có hiệu lực trừ sâu xanh bướm trắng có kém hơn nhưng cũng đạt 89,35 % sau phun thuốc 7 ngày

Trang 13

THESIS ABSTRACT Author: Bui Tien Dung

Thesis title: The insect pests and natural enemies on Cruciferous vegetables, biological characteristics, ecology and chemical measures to prevent Pieris rapae Linnaeus from

2016 to 2017 in Van Giang, Hung Yen

Major: Plant Protection Code: 60.62.01.12

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Research Objectives: Based on the survey of insect pests and their natural enemies on the vegetables belonging Cruciferae, the study of biological, ecological characteristics and the chemical testing of the Pieris rapae Linnaeus in 2016 - 2017 in Me So, Van Giang, Hung Yen determine effective measures to prevent

The main research methods

Investigation of insect pests and their natural enemies on Cruciferous vegetables

in accordance with QCVN 01-38: 2010 of the Ministry of Agriculture and Rural Development

Key research results

The insect pests of the cruciferous vegetables in the Me So vegetable production area in Van Giang Hung Yen in 2016-2017 included 18 pest species belong 7 orders and

13 different families At the beginning of the crop, Pieris rapae Linnaeus, Spodoptera litura Fabr., Phyllotreta striolata Fabr were the most common pests in the field and throughout the crop Plutella xylostella Linneaus also appeared in surveys

- The natural enemies of these insects of the cruciferous vegetables in Me So, Van Giang, Hung Yen includes 14 species belonging to 6 orders and 12 different families The most common are Paederus fuscipes Curt., Micraspis discolor Fabr , Orius sauterri

- The life cycle of the Pieris rapae Linnaeus was 26,19 ± 0,45 days at 24.3oC and 82.6% of moisture content and the male: female ratio was 1: 1.09 While the life cycle

of the worm at 30.1°C and 85.7% moisture content was 23.66 ± 0.45 days and the male:female ratio was 1: 1.68 Two life cycles differed significantly by 95%

At a temperature of 24.3 o C and humidity was 82.6%, one pair of mature Pieris rapae Linnaeus spawned an average of 97.13 ± 3.22 eggs; Particularly , 35 were the minimum numbers of eggs were born and 237 eggs were maximum The insect

Trang 14

spawning period was from 6 to 15 days The average was 11.33 days and each mature female insect spawned 8.84 ± 1.11 eggs/ day/ female

Under conditions of 31.5 o C and 85.7% of moisture content, Pieris rapae Linnaeus spawning ability were higher with 150.4 ± 26.19 eggs in each insect pair, the minimum were 32 eggs and the maximum were 384 eggs The mature insect spawned from 6 to 11 days The average was 8.26 ± 0.33 days and an average of 19.06 ± 3.4 eggs / day/ female

- Density of Pieris rapae Linnaeus in cabbage fields grown by farmers is higher than that follow safe method growing; KK cross varieties were more damaged than NS cross varieties (when 45 days after planting, at KK cross, there were 3.9 insects/tree, NS Cross had 3.5 insects/tree) If the tree was grown thicker, the density was significantly worse (at 45 days and 70 days after planting in formula 1 and formula 2, the range were from 3.28 to 4.9 insects/tree, while there were 5.7 insects/tree in fomula 3)

- The pesticide (Abatin 5.4EC) was effective with Pieris rapae Linnaeus (reaching high effective-100% after 7 days) Dylan 2EC was not effective in the first day after spraying (47.30%) but after 5 days it was 92.46% and after 7 days it was 100% Particularly, the Hetsau 0.4EC bio-pesticide had a lower effective, but was also 89.35% after spraying for 7 days

Trang 15

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, ngoài những món ăn giàu hàm lượng protein thì món ăn được làm từ rau rất quan trọng cho sức khoẻ con người, là loại thực phẩm cần thiết cho bữa ăn hàng ngày và thức ăn ưa thích của nhiều người Hiện nay, khi lương thực và chất đạm đã đáp ứng được nhu cầu thì việc dùng rau hàng ngày có tác dụng rất lớn trong việc cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ Rau cung cấp nhiều chất dinh dưỡng cho cơ thể như Vitamin, axit hữu cơ, protein và các chất khoáng Ngoài ra, rau còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao

và nguồn thức ăn chăn nuôi gia súc

Những năm gần đây, để đáp ứng nhu cầu sử dụng rau của người tiêu dùng, diện tích trồng rau của cả nước tăng lên nhanh chóng và ngày càng có tính chuyên canh cao Tính đến năm 2005, tổng diện tích trồng rau các loại trên cả nước đạt 635,8 ngàn ha sản lượng 9640,3 ngàn tấn, so với năm 1999 diện tích tăng 175,5 ngàn ha (tốc độ tăng bình quân 3,61% năm) sản lượng tăng 3071,5 ngàn tấn (tốc độ tăng bình quân 7,55% năm) Với đặc điểm khí hậu đa dạng, miền Bắc có đầy đủ bốn mùa xuân, hạ, thu, đông là điều kiện thuận lợi để phát triển đa dạng các sản phẩm rau từ các loại rau nhiệt đới như rau cải, rau ngót,… đến các loại rau xứ lạnh su hào, bắp cải, suplơ,…Trong đó, đồng bằng sông Hồng được đánh giá là vùng sản xuất rau lớn nhất cả nước chiếm 24,9% diện tích và 29,6% sản lượng Vùng đồng bằng sông Cửu Long do có điều kiện tự nhiên ưu tiên cho phát triển cây ăn quả nên sản xuất rau chỉ đứng thứ hai cả nước chiếm 25,9% về diện tích và 28,3% sản lượng rau, đứng thứ ba là khu vực Trung Bộ chiếm 10,8% diện tích và 6,95% sản lượng cả nước

Ở Hưng Yên, rau cũng là loại cây trồng chủ lực đem lại nguồn thu nhập chính cho người dân của nhiều vùng như Yên Mỹ, Văn Giang, Văn Lâm,… Diện tích trồng rau ở huyện Văn Giang là 320 ha trong đó phần diện tích trồng rau chuyên canh là 85,8 ha tập trung các xã ngoại thành như xã Mễ Sở, Long Hưng,… Năng suất bình quân của các loại rau là 248 tạ/ha và cơ cấu gồm rau họ hoa Thập tự chiếm 90%, các loại rau khác 10% Những năm gần đây, việc sản xuất rau tại huyện Văn Giang thường xuyên bị một số loài sâu hại chính tấn công như sâu xanh bướm trắng

P rapae, sâu khoang Spdoptera litura, sâu tơ Plutella xylostella, bọ nhảy (Phyllotreta striolata) gây hại đầu vụ đến cuối vụ gây những tổn thất nặng nề Có

Trang 16

những ruộng rau bị sâu phá hoại nghiêm trọng nên hầu như không cho thu hoạch đặc biệt là ruộng rau bắp cải, rau cải xanh bị sâu xanh bướm trắng (P.rapae) gây hại

Để phòng trừ các loài sâu hại trên rau, người nông dân sử dụng biện pháp hoá học là chủ yếu Do quá lạm dụng biện pháp hoá học, người dân đã không ngừng tăng cường sử dụng thuốc hoá học để giảm thiểu thiệt hại bất chấp những nguy cơ tiềm tàng của nó gây ra những hậu quả đáng lo ngại Việc làm này đã gây ảnh hưởng đến môi trường, phát sinh tính kháng thuốc và để lại dư lượng các chất độc hại trong sản phẩm Sự tác động đúng mức của con người vào mối quan

hệ tự nhiên sẽ tránh được những hậu quả của thuốc hoá học và tạo ra các sản phẩm thực sự an toàn, đồng thời còn thể hiện tính chiến lược hiệu quả lâu dài Điều này càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết khi kinh tế Việt Nam hội nhập nền kinh tế thế giới WTO, rau không chỉ giải quyết vấn đề thực phẩm trong nước

mà còn là mặt hàng vươn ra thị trường thế giới

Việc phòng trừ sâu bệnh hại sẽ được thực hiên tốt hơn, hiệu quả hơn khi có những hiểu biết cụ thể về thành phần loài, đặc điểm sinh học, sinh thái của các đối tượng sâu bệnh hại chính trên mỗi loại cây trồng Trong nhiều năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về sâu bệnh hại và thiên địch trên cây rau hoa Thập

tự Tuy nhiên, những nghiên cứu đó đang dừng lại ở một số vùng trồng rau lớn trong cả nước Hà Nội, TP HCM, Đà Lạt,

Để đáp ứng những yêu cầu thực tiễn trên, được sự đồng ý của khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Thành phần sâu hại và thiên địch trên rau họ hoa thập tự, đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp hoá học phòng trừ sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae Linnaeus) năm 2016 - 2017 tại Văn Giang, Hưng Yên”

1.2 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU ĐỀ TÀI

1.2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở điều tra thành phần sâu hại và thiên địch của chúng trên cây rau họ hoa thập tự, nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và thử nghiệm biện pháp hóa học phòng trừ sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae L) trong năm 2016 - 2017 tại Mễ

Sở, Văn Giang, Hưng Yên nhằm xác định biện pháp phòng trừ đạt hiệu quả cao 1.2.2 Yêu cầu

- Điều tra thành phần sâu hại và thiên địch trên rau họ hoa thập tự, xác định mức độ phổ biến của chúng tại Mễ Sở, Văn Giang, Hưng Yên năm 2016-2017

Trang 17

- Điều tra diễn biến mật độ của loài sâu xanh bướm trắng (P rapae) hại rau

họ hoa thập tự dưới ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái tại Mễ Sở, Văn Giang, Hưng Yên năm 2016-2017

- Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh vật học của loài sâu xanh bướm trắng (P rapae)

loại thuốc BVTV

Trang 18

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

Đối với cây rau nói chung, rau họ hoa thập tự nói riêng có vai trò rất quan trọng trong đời sống hàng ngày của con người Bởi rau là nguồn cung cấp nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể như prôtêin, axit hữu cơ, vitamin và các chất khoáng, ngoài ra rau còn là nguyên liệu và mặt hàng xuất khẩu có giá trị (Tạ Thu Cúc, 1997)

Rau xanh gồm nhiều họ khác nhau trong đó rau họ Hoa thập tự (Cruciferae) chiếm tới 50% sản lượng rau và xuất hiện quanh năm trên thị trường Điều này

có nghĩa rằng rau họ Hoa thập tự được trồng quanh năm quay vòng nhanh, thâm canh tăng vụ trồng gối lên nhau và hậu quả tất yếu kéo theo sự gây hại mạnh mẽ của dịch hại như sâu xanh bướm trắng, sâu tơ, bọ nhảy, sâu khoang,… gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và phẩm chất rau

Những năm gần đây, việc sản xuất rau ở huyện Văn Giang thường xuyên phải đối phó với một số loài sâu hại, đặc biệt là sâu hại rau họ hoa Thập tự Rau thuộc họ hoa Thập tự (Crucifereae) như cải bắp, cải xanh, su hào, súplơ, cải củ,…thường chiếm diện tích gieo trồng lớn ở các vùng chuyên sản xuất rau Chúng có đặc điểm thời gian sinh trưởng ngắn, được trồng gối vụ liên tục trong năm để tăng hệ số quay vòng đất điều này đã tạo điều kiện cho sâu bệnh phát sinh gây hại mạnh Cùng với đặc điểm của nhóm rau có thân lá mềm, chứa nhiều chất dinh dưỡng kết hợp với điều kiện khí hậu nóng ẩm của vùng, rau

họ hoa Thập tự bị nhiều loài sâu phá hoại như sâu tơ, sâu xanh bướm trắng, sâu khoang, bọ nhảy,… gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới năng suất và chất lượng rau Thực tế sản xuất rau tại một số vùng cho thấy, trong suốt các mùa vụ trồng rau bắp cải và rau cải xanh, cải ngọt thường xuyên thấy xuất hiện sâu xanh bướm trắng gây hại nghiêm trọng dẫn đến không cho thu hoạch Có thể nói, sâu xanh bướm trắng (P rapae) được coi là sâu hại chính trên rau họ hoa Thập tự của vùng rau Mễ Sở, Văn Giang Để bảo vệ cây rau và tăng năng suất người dân trồng rau ở đây chủ yếu vẫn đang sử dụng biện pháp hoá học Do sâu gây hại mạnh và khó phòng trừ nên người dân dùng thuốc hoá học có độ độc cao, không rõ nguồn gốc và tăng số lần phun lên 4 - 15 lần/vụ rau bắp cải, khoảng cách các lần phun từ 5 - 15 ngày, gây hậu quả nghiêm trọng tới sức khoẻ người tiêu dùng, môi trường và vật nuôi nơi đây

Trang 19

Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, đời sống được nâng cao thì yêu cầu

về sử dụng rau an toàn của người dân càng cần thiết hơn bao giờ hết Do đó, công tác phòng trừ sâu hại cần phải được các nhà khoa học quan tâm hơn nữa để tìm ra biện pháp phòng trừ hiệu quả cho việc sản xuất rau an toàn

2.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC

2.2.1 Nghiên cứu về thành phần sâu hại và thiên địch trên rau họ hoa thập tự 2.2.1.1 Thành phần sâu hại và sự gây hại của chúng trên rau họ hoa thập tự

* Thành phần sâu hại rau họ hoa thập tự

Rau họ Hoa thập tự được trồng ở nhiều nước trên thế giới, vì vậy thành phần các loài sâu hại ở từng khu vực là khác nhau, có loài gây hại mạnh ở vùng này nhưng sang vùng khác lại gây hại không đáng kể Ở Đông Nam nước Mỹ 2 loài nguy hiểm nhất là Plutella xylostella và Trichoplusia sp (Cartwright et al., 1994) Kết quả điều tra năm 1993 - 1994 ở Canada cho thấy có 2 loài sâu hại quan trọng là Plutella xylostella và Pieris rapae (Godin et al., 1998)

Ở Indonesia có 2 loài gây hại chính là Plutella xylostella, Crocidolomia binotalis Mohammad (1986); song Sastrosiswojo et al (1992) cho rằng có 5 loài sâu hại chính Nghiên cứu của Koshihara (1985) cho biết ở Nhật Bản có 5 loài gây hại trên rau họ hoa thập tự Trung Quốc có 7 loài (Liu et al., 2000) Philipines có 8 loài (Andreas, 1990) Ở Malaysia, có 3 loài gây hại nặng là Plutella xylostella; Pieris repae; Hellula undalis (Liu et al., 2002) Điều tra của Bahatia and Verma (1995), ở vùng phía Tây Bengal (Ấn Độ) có 6 loài sâu hại quan trọng trên cây cải Còn ở Thổ Nhĩ Kỳ từ năm 1987 - 1990 đã ghi nhận có 6 loài sâu hại chủ yếu trên cải bắp

Sâu tơ là loài sâu hại nghiêm trọng nhất trong các loài sâu hại trên rau họ hoa thập tự Trong nhiều năm qua nó đã được rất nhiều nhà khoa học ở nhiều nước khác nhau quan tâm nghiêm cứu, bởi không những khả năng phá hại mạnh

mẽ của nó mà còn có khả năng kháng thuốc rất cao

* Quy luật phát sinh, gây hại của một số loài sâu hại chính trên rau họ hoa thập tự

Do điều kiện địa lí và môi trường ở từng nước khác nhau nên vòng đời của sâu tơ có sự khác nhau: ở Hồng Kông thời gian khoảng 22 - 27 ngày (Golizadeh, 2007), theo tác giả Harcourt (1963) thì ở Canada vòng đời sâu tơ kéo dài từ 14 -

21 ngày; vùng Tây Bắc ấn Độ là 24 - 35 ngày (Chelliah and Srinivassan, 1986)

Trang 20

Sâu tơ vẫn có thể sống và phát triển được trong phạm vi nhiệt độ từ 10 – 40oC, phạm vi nhiệt độ thích hợp cho quá trình phát triển của sâu tơ dao động trong

nằm trong khoảng 6,7 - 9,8oC

Khả năng kháng thuốc là một đặc điểm nổi bật của sâu tơ khiến nó trở thành loài sâu hại khó phòng trừ nhất, các tác giả đều khẳng định, tính kháng thuốc của sâu tơ chỉ biểu hiện rõ rệt khi sâu non ở tuổi 3 - 4, ở giai đoạn sâu non tuổi 1 - 2 thì thuốc vẫn phát huy được hiệu quả phòng trừ cao

Các tác giả khi nghiên cứu về sâu tơ nhận thấy sâu tồn tại quanh năm trên đồng ruộng, song số lứa trng 1 năm ở mỗi nước là rất khác nhau: Canada có từ 4

- 6 lứa/năm, Nhật Bản có 10 - 12 lứa/năm, Đài Loan có tới 18 - 21 lứa/năm Kết quả của các công trình nghiên cứu đã chỉ rõ quần thể sâu tơ chỉ đạt đỉnh cao vào các tháng ít mưa và mát, đây cũng là điều kiện thích hợp để gieo trồng các loại rau họ hoa thập tự trên đồng ruộng, tạo ra nguồn thức ăn dồi dào cho sâu

tơ sinh trưởng và phát triển Theo Ooi (1986), sâu tơ là côn trùng ăn hẹp, chúng chỉ sống và phá hoại trên các loại cây rau thuộc họ hoa thập tự

Loài gây hại nguy hiểm cho rau họ hoa thập tự đứng thứ 2 sau sâu tơ là bọ nhảy (Phyllotreta striolata) Song tùy vào điều kiện môi trường của mỗi vùng, khu vực khác nhau nên mức độ gây hại của bọ nhảy khác nhau, gây hại vào những thời điểm khác nhau trong năm

Bọ nhảy là dịch hại chính của rau họ thập tự đặc biệt là ở giai đoạn cây giống trong vườn ươm vùng Java Indonexia Vùng Guangxi, Trung Quốc bọ nhảy thường xuyên bùng phát thành dịch vào các tháng mùa xuân và mùa thu trong năm (Liu and Yen, 1941) Theo Chen et al (1990), bọ nhảy là loài côn trùng gây hại nghiêm trọng cho cải bao, cải củ và cải ngọt ở Đài Loan

Ở Manitoba (Canada) súp lơ trồng vụ sớm thường có tỉ lệ cây bị chết do

bọ nhảy gây ra rất cao Trồng cây con quá nhỏ cũng làm cho bọ nhảy trưởng thành gây hại nặng hơn so với trồng cây con khi đã có đủ 6 - 8 lá (Soroka and Pritchard, 1987)

Burgess (1977) cho thấy ở Canada thiệt hại lớn nhất đối với cây cải là do

bọ nhảy trưởng thành qua đông gây ra trên cây giống vào mùa xuân Sự di chuyển của trưởng thành bằng phương thức bay nhảy đã làm lây nhiễm từ cây này sang cây khác, từ ruộng này sang ruộng khác một cách nhanh chóng Hoạt

Trang 21

động ăn mạnh nhất của bọ nhảy trưởng thành là khi gặp thời tiết thuận lợi: nắng, ấm và hanh khô

Ở New York mỗi năm thu nhập từ sản xuất và chế biến rau họ hoa thập tự khoảng trên 62 triệu USD Đây là nguồn thu nhập cao trong sản xuất nông nghiệp, chỉ đứng sau ngành sản xuất chế biến khoai tây Nhưng bọ nhảy gây hại khá nghiêm trọng cho rau, chúng còn làm giảm năng suất, giảm giá trị thương phẩm và có thể làm mất 100% năng suất

Một loài sâu hại cũng rất được quan tâm trong thời gian gần đây là sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.), do khả năng gây hại của nó đối với rau họ hoa thập tự khá nghiêm trọng

Theo tác giả Liu et al (2002); Lamb (1984), đều nhận thấy sức ăn của sâu non sâu khoang gấp 85,4 lần so với sâu non sâu tơ và gấp 3,9 lần so với sâu non sâu xanh bướm trắng

2.2.1.2 Thành phần thiên địch sâu hại rau họ hoa thập tự

Trong nhiều năm qua đã có nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu về thiên địch của sâu hại rau họ hoa thập tự (HHTT) và thấy rằng thành phần của chúng khá phong phú, bao gồm các loài ong ký sinh, côn trùng bắt mồi, nấm, vi khuẩn và cả virut gây bệnh Việc xác định thành phần thiên địch, đánh giá vai trò của các loài, tạo cơ sở cho việc sử dụng thiên địch trong quản lý dịch hại tổng hợp Trong đó có một số nước rất coi trọng biện pháp này

để bảo vệ nguồn thiên địch tự nhiên, phát huy vai trò điều hòa quần thể sâu hại của chúng

Do ở mỗi vùng có điều kiện môi trường, điều kiện sinh thái khác nhau làm cho thành phần sâu hại khác nhau, cũng dẫn tới thành phần các loài thiên địch cũng có sự khác nhau Thompson et al (1964) đã ghi nhận ở Anh có 48 loài thiên địch của sâu tơ, 20 loài kí sinh sâu khoang Goodwin (1979) cho biết có 90 loài kí sinh trứng, sâu non và nhộng của sâu tơ Kết quả nghiên cứu này đã chỉ ra rằng thành phần thiên địch của sâu tơ là rất đa dạng, có thể tiêu diệt ở các pha phát dục khác nhau của sâu tơ

Ở khu vực châu Âu, đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu thành phần thiên địch của sâu hại rau HHTT Knodel and Olson (2002) đã cho biết thành phần thiên địch sâu hại rau HHTT ở Mỹ gồm 41 loài ong ký sinh, 6 loài nấm và 6 loài virut Còn tại Rumani, Mustata (1992), đã phát hiện thành

Trang 22

phần ong ký sinh sâu tơ gồm 25 loài thuộc họ Ichneumonnidae và Braconidae Delvare and Aberlenc (1999) cũng nhận định ở Rumani có thành phần ong ký sinh phong phú nhất

Tại khu vực châu Mỹ, thiên địch sâu hại rau họ HHTT đã được nghiên cứu

từ lâu Margheritis and Rizzo (1965) đã công bố ở Argentina có 3 loài kí sinh sâu

tơ Lenteren et al (2003), trong 2 năm 1988 - 1989, ở tỉnh Lavras (Brazil) đã thu thập được 49 loài bắt mồi và kí sinh sâu hại rau họ HHTT Tại Federal (Brazil) từ năm 1999 - 2000, Medeiros (2003) đã nhận được tỷ lệ ký sinh sâu non và nhộng của sâu tơ là 18% và đã được thu thập được 9 loài ký sinh

Tại khu vực Đông Nam của Canada, Goodwin (1999), trong 2 năm nghiên cứu 1993 và 1994 trên cây trồng vụ sớm đã phát hiện có 5 loài ký sinh sâu tơ, tỷ

lệ ký sinh lên tới 65% Ông còn nhận thấy sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae) cùng là sâu hại quan trọng và thu thập được 6 loài ký sinh trên chúng

Theo Kfir (1997) đưa ra kết quả điều tra ở Jamaica đến năm 1996 đã ghi nhận 20 loài thiên địch của sâu tơ, trong đó có 5 loài ong ký sinh, 4 loài ký sinh bậc 2, 8 loài bắt mồi và 3 loài vi sinh vật gây bệnh cho sâu tơ Nghiên cứu thành phần thiên địch của sâu tơ ở Nam Phi tính đến năm 1996 tác giả Rami Kfir đã phát hiện được 21 loài ký sinh bậc 1 và 2 trên sâu non và nhộng của sâu tơ

Nhờ có khí hậu đa dạng, điều kiện môi trường phong phú, cùng với diện tích

tự nhiên khá lớn nên tại khu vực châu á có thành phần các loài thiên địch tương đối phong phú Tại Trung Quốc vào những năm 1978 - 1980 có tới 17 loài côn trùng, nhện bắt mồi và ký sinh sâu hại rau họ HHTT (Lohr and Kfir, 2004) Đặc biệt ở Wuchang (Vũ Xương), Hubei (Hồ Bắc) (Trung Quốc), kết quả điều tra của Wu et

al (2005) thì từ năm 1983 - 1984 đã thu thập được tới 50 loài thiên địch trên rau HHTT, trong đó có 35 loài bắt mồi và 15 loài ký sinh Kết quả nghiên cứu của những năm gần đây của He (1998) cho biết trên sâu tơ có tới 23 loài côn trùng ký sinh bậc 1 và 14 loài ký sinh bậc 2

Những nghiên cứu về thành phần thiên địch của sâu xanh bướm trắng ở Trung Quốc, Liu et al (2000) đã thu thập được tới 19 loài ong ký sinh, 34 loài bắt mồi trong số đó các loài Pteromalus puparum, Apanteles glomeratus, A rubecula và Phryxe vulgaris là đóng vai trò quan trọng trong điều hòa số lượng sâu trên đồng ruộng Các loài ong ký sinh thu thập từ sâu khoang chủ yếu là Apanteles ruficrus, A prodeniae, Microplitis sp

Trang 23

Ooi (1980) đã phát hiện ở Malaysia có 5 loài côn trùng ký sinh, 1 loài bắt mồi, 1 loài vi sinh vật gây bệnh và 7 loài ký sinh bậc 2 sâu hại rau họ HHTT Còn tại Philippines có 9 loài ong ký sinh (Belen et al., 1992)

Thành phần các loài thiên địch của sâu tơ thu được ở Thái Lan có 10 loài ong ký sinh Tại Nhật Bản, Yamada and Yamaguchi (1985) đã phát hiện có ít nhất 8 loài ong ký sinh sâu tơ, 14 loài ăn thịt (trong đó có 7 loài nhện) và 1 loài vi sinh vật gây bệnh ở vùng Morioka phía Bắc của Nhật Bản, Maruyama et al (1996) thu thập được 7 loài ký sinh bậc 1 và 3 loài ký sinh bậc 2

Schmaedick and Shelton (2000) trên rau họ HHTT đã thu thập được 5 loài côn trùng ký sinh, 6 loài bắt mồi và 1 loài ký sinh bậc 2 trong số đó có 2 loài phổ biến nhất là Diadromus collaris, Cotesia plutellae Tại Ấn Độ, theo Srivastava (1995), có 1 loài ký sinh trứng và 9 ký sinh sâu non của sâu khoang Nghiên cứu của Chauhan et al (1997) đã thống kê được 9 loài ong ký sinh trên sâu tơ, đặc biệt loài có tỷ lệ ký sinh cao lên tới 70% là Diadromus collaris, D fenestrale, Cotesia sp

2.2.2.1 Phân loại

Theo khóa phân loại thì sâu xanh bướm trắng thuộc:

Giới (Kinhdom): Animalia

Ngành (Phylum): Arthopoda Lớp (Class): Insecta

Bộ (Order): Lepidoptera

Họ (family): Pieridae

Họ phụ (Subfamily): Pierinae Giống (Genus): Pieris Loài ( species): Pieris rapae L.

2.2.2.2 Phạm vi ký chủ và phân bố và mức độ gây hại của sâu xanh bướm trắng Pieris rapae L

Sâu xanh bướm trắng P rapae có phổ thức ăn chủ yếu trên các loại cây rau

họ hoa thập tự, nhưng cũng đôi khi chúng còn được tìm thấy trên các cây khác có chứa tinh dầu mù tạt Thức ăn thông thường của chúng là các nhóm cây rau như cây bông cải xanh, cải Bruxen, cải bắp, súp lơ, cải xoăn, su hào,… Ngoài ra còn

Trang 24

có các loại cây khác thuộc họ hoa thập tự nhưng mức độ thấp hơn như cây sen cạn, cây cải gió,… Ngài trưởng thành hút mật hoa ở các loại cây kí chủ trên Hiện nay sâu xanh bướm trắng (SXBT) được xác định là loài sâu có phạm

vi phân bố rộng hầu như có mặt ở khắp các nước trên thế giới, đồng thời phạm

vi ký chủ rộng, chúng gây hại gần 35 loài thuộc 9 họ thực vật khác nhau như họ thập tự, họ bách hợp, họ cúc… Nhưng chúng phát sinh và gây hại chủ yếu vẫn chỉ trên rau họ hoa thập tự và là đối tượng được xác định là dịch hại chính ở một

số nước như Trung Quốc và một số nước khác (Liu and Sengonca, 2002)

P rapae là loại gây hại mạnh ở các đồng rau ở miền nam Ontario – Canada,

Ở Trung Quốc, và tại đây sâu xanh bướm trắng được cho là đối tượng gây hại nghiêm trọng trên rau HHTT chỉ sau sâu tơ

2.2.2.3 Triệu chứng gây hại

Sâu xanh bướm trắng P rapae thường gây hại trên diện rộng, tạo những vết cắn rải rác trên lá Sâu non thường nằm trên lá, chúng có thể ăn thủng lá hoặc gặm ngoài cạnh lá sâu vào trong Sâu non khi còn nhỏ thường ăn vòng ngoài lá, khi lớn hơn chúng có thể ăn các phần lá già hơn Khi bị P rapae phá hại sẽ gây ảnh hưởng tới sinh trưởng của cây, ở mật độ cao chúng làm cho các ruộng rau trở nên xơ xác, mất năng suất

Theo Myers (1985), ấu trùng của P rapae thường ăn lá cây kí chủ, nếu không tiêu diệt chúng thì sẽ ảnh hưởng tới sinh trưởng của cây Thậm chí sâu non còn chui vào bắp của cải hoa, cải bắp để gây hại Đặc biệt là chất thải của chúng rất lớn ảnh hưởng sự sinh trưởng và chất lượng của cây rau

2.2.2.4 Sự phát sinh và mức độ gây hại của sâu xanh bướm trắng

* Sự phát sinh gây hại

Ở miền Nam Ontario (Canada), từ mùa xuân cho đến tháng 9, hoặc từ giữa tháng 10 tới giữa tháng tháng 4 năm sau Càng cách xa phía bắc thì thời gian vòng đời của P rapae càng ngắn lại

Ở Trung Quốc, sâu xanh bướm trắng là đối tượng gây hại nghiêm trọng trên rau HHTT chỉ sau sâu tơ, nên tài liệu nghiêm cứu về sâu xanh bướm trắng nhiều hơn các nước khác Ở khu vực phía Bắc và Đông Bắc Trung Quốc có 3 - 4 lứa/năm, nhưng ở phía Nam và Tây Nam lên tới 7 - 8 lứa/năm

Maguire (1984) có nhận xét: Những khu đồng trồng bắp cải xen với các loại cây có hoa hoặc nhiều cây hoa dại trên bờ ruộng, thì mật độ sâu xanh bướm trắng

Trang 25

hại bắp cải bao giờ cũng cao hơn rõ rệt và sự phân bố thiệt hại của sâu non trên ruộng rau phân tán hơn so với khu đồng trồng bắp cải thuần túy

Theo Hern (1996), ở Mehyco có 2 cao điểm sâu non sâu xanh bướm trắng vào tháng 6 - 9 và tháng 11, rau cải cuốn thường bị sâu xanh bướm trắng hại

trong khoảng 82 - 90% là điều kiện thuận lợi cho phát triển số lượng quần thể sâu xanh bướm trắng trên đồng ruộng Do vậy ở Trung Quốc sâu xanh bướm trắng phát sinh phá hại nặng thậm chí thành dịch trên rau HHTT vào các tháng mùa xuân (tháng 3 - 5) và mùa thu (tháng 7 – 9) Ở nhiệt độ cao (40oC), tỷ lệ bướm vũ hóa và số lượng trứng đẻ của bướm sâu xanh bướm trắng thấp Liu et al (2000) cho rằng nhiệt độ không khí cao và mưa là 2 yếu tố hạn chế sự phát triển quần thể sâu xanh bướm trắng trên đồng ruộng Hai yếu tố này ngoài tác động làm giảm tỷ lệ bướm vũ hóa, gây chết cho sâu non và làm giảm khả năng sinh sản của bướm còn liên quan đến sự phát triển của virus Gv (PbGv), ong ký sinh Apanteles glomeratus, A rubecula

* Mức độ gây hại

Thiệt hại do sâu xanh bướm trắng gây ra gồm các lỗ lớn trên lá Sâu thường được tìm thấy trên các vị trí tiếp xúc trên lá, mà chúng ăn qua hoặc gặm từ các cạnh, làm cho lá rách nát, ăn hại nhiều trên lá có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng thực vật (Harcourt, 1961)

Sâu xanh bướm trắng ăn hại trên lá, và nếu số lượng lớn sẽ làm giảm sự sinh trưởng của cây do chúng ăn cả gân chính của lá (Davis and Cipollini, 2016) Pieris rapae là một dịch hại rất nghiêm trọng của họ thập tự ở châu Âu, Bắc

Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Úc và New Zealand Trừ khi kiểm soát được, nếu không thiệt hại do sâu non P rapae gây ra có thể dẫn đến thiệt hại hoàn toàn cây trồng (Harcourt, 1961)

Thiệt hại do sâu xanh bướm trắng có thể gây ra một giảm sút lớn về chất lượng có thể làm giảm 25- 60% hoặc thậm chí có thể làm giảm tới 100% năng suất của cây bắp cải Cách gây hại của chúng có thể giết chết các cây con và trì hoãn sự phát triển của các cây lớn hơn Sâu xanh bướm trắng có khả năng gây

có thể lên đến 100% đối với những vùng bị hại nghiêm trọng

Trang 26

2.2.2.5 Đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu xanh bướm trắng (P rapae) Các đặc điểm về hình thái và sinh học của sâu xanh bướm trắng đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến Trong một số tài liệu có nêu rõ thời gian vòng đời sâu xanh bướm trắng khoảng 19 - 34 ngày, trong đó thời gian trứng là 3 - 5 ngày, sâu non 10 - 20 ngày, nhộng 5 - 7 ngày và thời gian tiền đẻ trứng của bướm

từ 1 - 2 ngày Sâu non có 5 tuổi và thời gian từ tuổi 1 đến tuổi 3 sức ăn của sâu ít nên gây hại nhẹ cho cây, nhưng ở tuổi 4 và 5 sâu phá hại nặng do lượng thức ăn tiêu thụ ỏ giai đoạn này chiếm từ 84,1 - 90% tổng lượng thức ăn tiêu thụ trong suốt thời kỳ sâu non Các nghiên cứu của Liu et al (2000) cho thấy trong suốt

đó riêng tuổi 4 - 5 ăn từ 11,4 - 44 cm2, gấp 3,7 - 7,3 lần so với sức ăn ở tuổi 1 - 3 Kết quả còn cho thấy sâu non gây hại nặng trên cải bắp lai hơn các giống địa phương Alm et al.(1990) đã tìm hiểu tác động của nhiệt độ tới sinh trưởng phát

cho sự phát dục của sâu non Các nghiên cứu về sâu xanh bướm trắng đều chỉ rõ hoạt động giao phối và đẻ trứng diễn ra thuận lợi trong những ngày nắng đẹp, gió nhẹ Một bướm cái có thể đẻ từ 100 - 200 trứng, thậm chí lên tới 506 trứng Vòng đời của P rapae thường khoảng từ 3 đến 6 tuần tùy thuộc vào thời tiết Theo số liệu báo cáo hàng năm, vòng đời của chúng dài thường có 2 - 3 lứa

ở Canada, 3 lứa ở New England States, 3 – 5 lứa ở California và 6 – 8 lứa ở các vùng phía nam như ở Florida có thể tìm thấy P rapae hầu như quanh năm Trứng và ấu trùng của loài sâu này không thể phát triển ở nhiệt độ dưới 10oC và trên 32,2oC

Trứng P rapae có màu vàng nhạt, hình viên đạn, thường được đẻ ở đầu mút mặt dưới bề mặt lá, xếp riêng lẻ, không bao giờ trứng được đẻ thành đám Trứng rộng 0,5 mm và dài 1,0 mm, mới đẻ có màu trắng lúc sắp nở chuyển thành màu vàng nhạt, thường nở sau khi đẻ khoảng 3 – 7 ngày

Sâu non của P rapae có màu xanh, thân mềm, cùng với hàng chấm dọc thân Sâu non có sọc vàng mảnh chạy dọc giữa lưng và các sọc vàng không liên tục chạy dọc 2 bên thân Thân sâu non có phủ 1 lớp lông nhung ngắn, mọc sít nhau có màu trắng và đen Đầu sâu non của P.rapae hình quả nang, rộng khoảng 0,4; 0,6; 0,97; 1,5; và 2,2 mm theo từng độ tuổi Thân sâu non sau khi nở dài khoảng 3,2 mm và khi đẫy sức khoảng 30,1 mm Thời gian phát dục của ấu trùng khoảng 11 – 33 ngày, nhiệt độ thích hợp của sâu non P rapae là 19oC

Trang 27

Nhộng của P.rapae thường có màu xanh, có màu sắc biến đổi thường là chuyển dần thành màu vàng, màu xám hoặc có đốm nâu khi gần vũ hóa Nhộng của P.rapae có hình ăng-le, phần lưng của nhộng có các mấu nhọn lồi ra 2 bên cạnh thân Nhộng thường được đính vào mặt dưới của lá cây kí chủ bằng sợi tơ nối ở mút cuối nhộng Thân nhộng dài khoảng 18 – 20 mm, sâu non thường hóa nhộng ở trên cây kí chủ hoặc một số trường hợp chúng hóa nhộng cách cây kí chủ không xa Thời gian nhộng khoảng 1 đến 2 tuần, vào mùa hè thì thời gian nhộng khoảng 11 ngày Nhưng giai đoạn nhộng thường được xem là giai đoạn qua đông của P rapae ở các nước ôn đới nên thời gian nhộng có thể kéo dài hơn rất nhiều vào mùa đông

Trưởng thành P rapae sau khi vũ hóa có sải cánh khoảng 4,5 đến 6,5 cm Hai cánh có màu trắng với màu đen ở đầu mút góc ngoài của cánh, nằm ở cánh trước Ở mặt trên cánh có điểm những chấm màu đen nhưng số lượng khác nhau

ở 2 giới, con cái có 2 chấm đen nhưng ở con đực thì chỉ có 1 chấm ở trên cánh Mặt dưới của cánh thường có màu vàng mơ, hiện lên những chấm đen mờ xuyên qua cánh Cánh sau tương đồng ở cả 2 giới đều có 1 chấm đen ở mép trước của cánh Thân của bướm được phủ một lớp lông dày có tác dụng bảo vệ Thông thường trưởng thành sống khoảng 3 tuần, mỗi con cái đẻ khoảng 300 – 400 trứng trong một đời Trưởng thành hoạt động mạnh vào ban ngày, thường di chuyển từ cây trồng tới hoa cây dại để tìm thức ăn

2.2.2.6 Nghiên cứu biện pháp phòng trừ sâu xanh bướm trắng (P rapae) trên rau họ hoa thập tự

Rau họ hoa thập tự trên đồng ruộng bị rất nhiều loài sâu phá hại nặng ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của rau

Dempster (1967) đã nghiên cứu cá biện pháp phòng trừ sâu xanh bướm trắng bao gồm một số biện pháp sau:

a Biện pháp canh tác

Biện pháp canh tác là biện pháp rẻ tiền dễ áp dụng, đem lại hiệu quả cao đã

và đang được nghiên cứu và triển khai áp dụng ở hầu hết các nước trên thế giới Theo Chelliah and Srinivasan (1985) xác định việc trồng xen hành tỏi, lúa mạch, thìa là, hướng dương với bắp cải có thể làm giảm mật độ sâu còn 20- 50 % Xen canh bắp cải với cà chua thì mật độ còn 49 % so với sâu trên bắp cải trồng thuần Việc trồng cà chua xen bắp cải, làm giảm việc phun thuốc trừ sâu từ 9 lần xuống còn 2 lần/vụ và đưa năng suất bắp cải tăng 2,3 tấn/ha so với không trồng xen

Trang 28

Talekar et al (1986) đã khuyến cáo cứ 2 luống bắp cải lại trồng xen một luống cà chua Ngoài ra việc sử dụng lưới chắn để phòng chống số lượng bọ nhảy hại cây con giống họ cải đã được Nielsen et al (2001) tiến hành có hiệu quả cao ở Canada, Knodel and Olson (2002) cho rằng việc dọn sạch tàn dư sau thu hoạch cũng góp phần ngăn chặn sự tái sinh của bọ nhảy trên đồng ruộng Vun xới đúng thời điểm, đúng kỹ thuật cũng là một trong những biện pháp làm giảm số lượng sâu non bọ nhảy trên đồng ruộng, lại không gây ô nhiễm môi trường Không xử

lý cỏ dại khi gieo cải lá vào cuối tháng 7 đã làm giảm rõ rệt năng suất chất khô so với việc dọn sạch cỏ cùng tàn dư cây trồng Bởi bọ nhảy sinh sản nhanh, tỷ lệ sống sót cao, gây hại nặng cho cây trồng khi có cỏ dại và rác thực vật trên đồng ruộng (Rushtabakornchai et al., 1992) Bẫy cây trồng là biện pháp canh tác quan trọng trong phòng trừ sâu hại rau Theo Srinivasan and Kalshoven (1981), loại cải mù tạt Ấn Độ (Brassica juncea) là ký chủ mà sâu tơ và một số loại sâu hại khác trên rau rất ưa thích đến đẻ trứng Các tác giả này đều đề xuất biện pháp trồng xen cải mù tạt với cải bắp với tỷ lệ hợp lý (một luống cải mù tạt xen một luống cải bắp) để thu hút bướm sâu tơ và các loại sâu hại khác vào cải mù tạt sau

đó tiêu diệt chúng bằng thuốc hoá học Việc làm này giúp giảm mật độ sâu và giảm lượng thuốc trừ sâu sử dụng trên bắp cải, góp phần đảm bảo chất lượng rau đồng thời làm tăng năng suất và hiệu quả kinh tế Pyvnick et al (1992) cũng đã kết luận rằng giống rau cải Brassica khi điều chỉnh lượng Iosthiocyanate trong cây sẽ tạo nên giống chống hoặc giống mẫn cảm với bọ nhảy Phyollata striolata bẫy cải dầu đã được sử dụng ở Maniota Canada vào vụ xuân để thu thập bọ nhảy trưởng thành ngoài đồng Chất Nitriles trong thành phần sinh hóa của cây cải có mùi thơm và khả năng thoát mùi cao đã có tác dụng quyến rũ bọ nhảy Từ kết quả theo dõi việc gây chết của mưa đối với sâu tơ, Talekar et al (1986) đã phát triển biện pháp tưới phun mưa định kì Việc áp dụng biện pháp này đã làm giảm 28,4 – 40% mật độ sâu tơ so với tưới gốc Tuy vậy biện pháp tưới mưa đòi hỏi hệ thống đồng bộ (máy móc, giàn phun…) Biện pháp này chỉ thích hợp với các nước tiên tiến, sản xuất quy mô trang trại, còn đối với nước đang phát triển như nước ta thì việc áp dụng phương pháp này còn khó khăn

b Biện pháp cơ giới vật lý

Một số biện pháp cơ giới vật lý như bẫy dính mầu vàng, bẫy đèn, quây lưới xung quanh ruộng rau, cũng được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Rushtapakornchai et al (1992) nhận định bẫy dính mầu vàng có thể trừ sâu tơ,

Trang 29

bình quân một bẫy có thể bắt được 570,7 trưởng thành sâu tơ/vụ rau bắp cải trong

đó 55,9% là trưởng thành đực và 44,1% là trưởng thành cái

c Biện pháp sinh học

Các kết quả nghiên cứu về thiên địch trên ruộng rau đều thấy các loài thiên địch có vai trò khá quan trọng trong điều hoà số lượng quần thể các loài sâu hại trong sinh quần đồng ruộng Hiệu quả khống chế sâu hại của thiên địch ở các vùng, các nước rất khác nhau (Cox, 1994) Vì vậy các biện pháp bảo vệ và thúc đẩy sự gia tăng số lượng các thiên địch tự nhiên là một bộ phận quan trọng của

hệ thống phòng trừ tổng hợp sâu hại (Ooi, 1986) Theo Bravo et al (1992) chế phẩm sinh học Dipel (Bacillus thuringiensis có tính độc chọn lọc với sâu tơ và không độc với ký sinh C plutellae Thuốc hoá học Sevithion lại rất độc với ký sinh mà không độc với sâu tơ, nhưng thuốc Cartap có độ độc cao với cả sâu tơ

và ký sinh của nó Nhiều công trình nghiên cứu của các nước đều chỉ rõ việc dùng các loại thuốc có phổ tác dụng rộng hoặc lạm dụng thuốc hoá học để trừ sâu trên rau họ hoa thập tự đã làm ảnh hưởng đáng kể đến quần thể thiên địch Đây là một trong số các nguyên nhân dẫn tới hiện tượng tái phát các quần thể của sâu hại Vì vậy việc dùng thuốc hoá học có tính chọn lọc một cách hợp lý trên rau họ hoa thập tự là hướng chiến lược trong điều khiển tính kháng thuốc của sâu hại (Thompson et al., 1996), đồng thời là biện pháp quan trọng để bảo

vệ các loài thiên địch trên ruộng rau (Lohr and Kfir, 2004) Thành công lớn nhất trong phòng trừ sâu hại rau họ hoa thập tự là việc nghiên cứu, sản xuất quy mô công nghiệp và sử dụng rộng rãi các chế phẩm sinh học như NPV, GV đặc biệt

là chế phẩm Bt Một trong những nghiên cứu biện pháp sinh học được quan tâm nhiều là nhân thả các loại ký sinh có hiệu quả cao trong khống chế sâu hại, việc nhân thả các loài ký sinh được tiến hành dưới hai phương thức: nhân thả tràn ngập với số lượng đủ gây áp lực khống chế số lượng quần thể sâu hại Nhân thả

bổ sung nhằm tạo lập quần thể tự nhiên (Lenteren et al., 2006)

Trang 30

số sản phẩm Bacillus thuringiensis Nông dân được hưởng lợi rất nhiều từ việc

áp dụng thuốc xịt khi sâu non đang trong giai đoạntuổi nhỏ Bởi vì nhiều thuốc trừ sâu có dư lượng độc hại, sâu non có thể được kiểm soát với các sản phẩm Bacillus thuringiensis Ứng dụng này có thể kiểm soát sâu non mà không để lại

dư lượng độc hại trong cây

Biện pháp hóa học để phòng trừ loài sâu này, chúng ta nên phun vào giai đoạn sâu non khi mật độ P.rapae đã đến ngưỡng phòng trừ với liều lượng đã được quy định Một sô loại thuốc nên sử dụng là vi khuẩn Bacillus thuringiensis, Tianda Diflubenzuron, Fastac, Phoxim, Dipterex, Dakang, Mirador…

Theo Britch et al (2009) nếu bắp cải bị sâu hại ăn, phá hoại nghiêm trọng thì phương pháp điều trị được đề nghị là: azinphosmethyl (Guthion) tại ½ đến ¾ bảng cho mỗi mẫu Anh Công thức Thuringiensis trực khuẩn được dán nhãn, carbaryl (Sevin) tại 1 ½ đến 2 kg mỗi mẫu Anh, fenvalerate (Pydrin) tại 0,05-0,1

kg mỗi mẫu Anh, hoặc permethrin (Pounce hoặc phục kích) tại 0,05-0,1 kg mỗi mẫu Anh Khi SXBT có mặt với số lượng lớn, Fenvalerate, Permethrin hoặc Spinosad có thể được sử dụng Hai ứng dụng thuốc trừ sâu cách nhau 4-7 ngày ngoài trước khi thu hoạch được đề nghị để loại bỏ hoặc giảm thiểu các chất gây ô nhiễm côn trùng Trong súp lơ, chất gây ô nhiễm côn trùng ít gặp hơn, nhưng phân côn trùng có thể rơi vào đầu từ ấu trùng ăn trên lá bao bọc Một ứng dụng phun được thực hiện ngay sau khi trồng và một lần nữa bảy đến mười ngày trước khi thu hoạch nên loại bỏ vấn đề này Thuốc trừ sâu được đề nghị trên là phù hợp

để ngăn ngừa sự gây hại của côn trùng

Theo tổng hợp của Thompson et al (1997) thì điều khiển sâu xanh bướm trắng P.rapae bằng chất hóa học và mô hình sử dụng thuốc trừ sâu có thể khác nhau tùy thuộc vào loại cải bắp, giai đoạn phát triển của rau, khu vực địa

lý, thời gian trồng và thu hoạch hàng năm Các loại thuốc trừ sâu sau đây cung cấp để sử dụng thuốc trừ sâu nhằm kiểm soát sâu xanh bướm trắng P.rapae trên lá bắp cải trong chế biến dựa trên nhiều năm, hồ sơ xử lý cũng như dựa trên các cuộc điều tra và ước tính của chính người trồng.Có sự tư vấn thì sử dụng các loại thuốc trừ sâu sau để kiểm soát sâu xanh bướm trắng P.rapae trên lá trong bắp cải tươi và lưu trữ là: Bacillus thuringiensis, Methomyl, Esfenvalerate, Endosulfan, Permethrin, Cypermethrin, Zeta methrin, Lambda-Cyhalothrin, Spinosad, Carbaryl, Azinphos-methyl

Trang 31

2.3 NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

2.3.1 Nghiên cứu về thành phần sâu hại và thiên địch trên rau họ thập tự 2.3.1.1 Thành phần sâu hại chính và mức độ gây hại của chúng

Theo kết quả điều tra của Lê Văn Trịnh (1995), ở đồng bằng sông Hồng ghi nhận được 31 loài thuộc 16 họ và 7 bộ, trong đó có 12 loài gây hại rõ rệt

là sâu tơ (Plutella xytosstella), sâu khoang (Spordoptera litura F.), (Lê Văn Trịnh, 1999)

Cho tới nay đã ghi nhận được trên 30 loài sâu hại rau họ Thập tự trong cả nước, trong đó có 1 số loài gây hại thường xuyên ở các vùng trồng rau như: Sâu

tơ (Plutella xylostella L.), bọ nhảy (Phyllotreta striolata F.), rệp muội (Brevicoryne barassicae L.), ngoài ra còn có một số loài gây hại nặng mang tính cục bộ như sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae L.), sâu khoang (Spodoptera litura Farb) (Phạm Thị Nhất, 2000)

Kết quả điều tra ở các tỉnh phía Nam năm 1977 – 1978 ghi nhận 30 loài sâu hại trong đó có 8 loài thường xuyên gây hại (Bộ môn Côn trùng, 2004)

Theo Đỗ Hồng Khanh (2005), có 6 loài sâu hại phổ biến trên cây rau thuộc

họ hoa Thập tự Các loài phổ biến gồm sâu tơ Plutella xyllostella Linnaeus, bọ nhảy Phyllotreta Striolata Fabr và rệp cải Brevicoryne brassicae

Sâu hại xuất hiện phổ biến với mật độ tương đối cao trên rau họ Thập tự là sâu tơ, rệp xám hại cải, sâu khoang, bọ nhảy, và sâu xanh bướm trắng Trong đó, sâu khoang, sâu xanh bướm trắng xuất hiện rải rác trong suốt vụ rau, chúng gây hại nặng với mật độ cao trên bắp cải vụ muộn từ tháng 2 đến tháng 5 (Hồ Thị Thu Giang, 2002)

Ở Việt Nam có 5 loài sâu hại chủ yếu trên rau họ hoa Thập tự gồm: sâu tơ, sâu khoang, bọ nhảy sọc cong, sâu xanh bướm trắng, và rệp muội hại rau (Hồ Khắc Tín và cs., 1982)

Nhóm nghiên cứu Bùi Quang Hùng (2011), nghiên cứu về sâu hại rau họ hoa Thập tự thì phát hiện có 7 loài xuất hiện thường xuyên trên rau họ hoa Thập tự Trong đó, bọ nhảy, sâu khoang, sâu tơ là dịch hại phổ biến nhất còn các loài khác trong đó có sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae) xuất hiện ở mức

ít phổ biến và gây hại không đáng kể Kết quả của Nguyễn Văn Đĩnh về “Sâu hại rau chủ yếu trồng trong nhà có mái che ở Lĩnh Nam (Hoàng Mai) và Đặng

Xá (Gia Lâm) Hà Nội năm 2003 – 2004” cho thấy có 6 loài gây hại phổ biến

Trang 32

là sâu xanh bướm trắng (P rapae), sâu khoang, sâu tơ, bọ nhảy, rệp cải và ruồi đục lá (Nguyễn Văn Đĩnh, 2004)

Nguyễn Quý Hùng và Dương Thành Tài (2013) đã ghi nhận được 3 loài ong ký sinh và 14 loài côn trùng bắt mồi thuộc bộ Coleoptera và bộ Diptera là thiên địch sâu hại rau vùng Hà Nội Nguyễn Công Thuật (1996) đã thu được thiên địch sâu hại trên rau cải bắp có 31 loài trong đó có 21 loài côn trùng và nhện lớn bắt mồi, 6 loài côn trùng ký sinh, còn lại là 4 loài thuộc nhóm vi sinh vật; Lê Thị Kim Oanh (1997) đã thu thập ở Song Phương - Hoài Đức - Hà Tây năm 1996-1997 được 37 loài thiên địch, gồm có 18 loài côn trùng bắt mồi và 14 loại nhện lớn bắt mồi, 5 loài côn trùng ký sinh; Hồ Thị Thu Giang (1996) đã ghi nhận được những 53 loài thiên địch của sâu rau, trong đó có 29 loài côn trùng bắt mồi, 18 loài nhện lớn bắt mồi và 6 loài côn trùng ký sinh

Theo tác giả Nguyễn Trường Thành (2003) thấy thiên địch của sâu xanh bướm trắng có 3 loài quan trọng là nhện xám (Oxyopes javanus), bọ rùa đỏ và bọ cánh cộc nâu

Trong số các loài thiên địch được phát hiện thì đã có những công trình nghiên cứu, đánh giá khả năng của chúng như bọ rùa 2 mảng đó, bọ rùa 6 vằn và ruồi ăn rệp (Hồ Thị Thu Giang, 1996) Nhóm thiên địch này có vai trò to lớn trong việc hạn chế và điều hòa số lượng sâu hại trên rau hoa thập tự

2.3.2 Nghiên cứu về sâu xanh bướm trắng

2.3.2.1 Phân bố

Sâu xanh bướm trắng gây hại ở hầu hết các vùng trồng rau, chúng xuất hiện trên khắp cả nước ta

2.3.2.2 Triệu chứng gây hại

Sâu non tuổi 1 ăn gặm lớp mô mặt dưới của lá để lại lớp biểu bì, bước sang tuổi 2 sâu ăn thủng lá tạo thành các lỗ thủng Khi đầy đủ thức ăn chúng ăn gặm phần thịt lá còn khi hết thức ăn chúng có thể ăn gặm cả gân và thân lá rau

Trang 33

Khi ruộng rau mới trồng sâu thường chui vào phần ngọn cây làm các lá khi lớn bị cong queo, thủng lỗ chỗ (Lê Xuân Bảo, 2008)

a Đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu xanh bướm trắng (P rapae):

Hiện nay, sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae ) là đối tượng phát sinh gây hại nghiêm trọng và phổ biến trên các vùng trồng trồng rau trong cả nước Theo kết quả nghiên cứu những năm 1997 – 1999 tại Viện Bảo vệ thực vật thấy rằng ở điều kiện khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng thì thời gian mỗi lứa sâu xanh bướm trắng (P rapae) chịu tác động chủ yếu của nhiệt độ không khí, còn mật độ sâu tại mỗi đỉnh cao lại chịu ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ và lượng mưa Theo nghiên cứu của Viện BVTV cho thấy tại đồng bằng sông Hồng mỗi năm

có thể có 15 lứa sâu gối tiếp nhau nhưng đỉnh cao mật độ dẫn đến gây hại chỉ vào tháng 2 và tháng 5 (Phạm Văn Lầm, 1997)

Một trong những yếu tố quan trọng hạn chế và điều hòa số lượng sâu xanh bướm trắng (P rapae) trên đồng ruộng là kẻ thù tự nhiên của chúng Việc xác định thành phần và đánh giá vai trò của thiên địch là nền tảng cỏ bản trong quản

lý dịch hại cây trồng Thành phần thiên địch của sâu hại cũng khá phong phú bao gồm các loài ký sinh, bắt mồi ăn thịt, nấm, vi khuẩn, virus Lê Văn Trịnh (1999) cũng thu thập được 20 loài thiên địch sâu hại rau họ hoa Thập tự ở vùng đồng bằng sông Hồng bao gồm 13 loài côn trùng và nhện bắt mồi, 3 loài ong ký sinh

và 4 tác nhân gây bệnh trong đó côn trùng bắt mồi ăn thịt đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế số lượng côn trùng (Lê Văn Trịnh, 1999)

Mặt khác, việc sử dụng thuốc hoá học trong bảo vệ thực vật là một vấn đề quan trọng trong việc nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế, việc thuốc hoá học

có tác dụng nhanh mạnh có khả năng dập dịch cao so với các biện pháp còn lại trong IPM Để phát huy mặt tích cực của thuốc BVTV và hạn chế những hậu quả

do chúng gây ra, phải tăng cường quản lý trong đăng ký, kinh doanh, xuất nhập khẩu, bảo quản và tiêu hủy thuốc BVTV, bên cạnh đó cần tăng cường sử dụng hợp lý thuốc BVTV trong phạm vi cả nước Cần đi sâu nghiên cứu thời điểm phòng trừ sâu thích hợp để hạn chế thiệt hại về kinh tế của người sản xuất đồng thời giảm thiểu rủi ro về lương thực, thực phẩm cho người tiêu dùng

Trước đây, sâu xanh bướm trắng (P rapae) tuy có phát sinh và gây hại nhưng chưa được xem là đối tượng gây hại nghiêm trọng trên rau họ hoa Thập tự như sâu khoang, sâu tơ hay bọ nhảy Trong những năm gần đây, do nhu cầu sử

Trang 34

dụng rau xanh đặc biệt là các loại rau họ hoa Thập tự tăng nhanh kéo theo đó là việc hình thành nhiều vùng trồng rau chuyên canh, đây là điều kiện thuận lợi cho

sự phát sinh phát triển của các loài sâu hại đặc biệt là các loài đơn thực trên rau

họ hoa Thập tự như sâu xanh bướm trắng (P rapae)

Hiện nay, sâu xanh bướm trắng (P rapae) được xem là đối tượng phát sinh gây hại nghiêm trọng và phổ biến, thậm chí có nơi còn gây hại nghiêm trọng hơn cả sâu tơ và sâu khoang, tuy nhiên những nghiên cứu về đặc điểm, tập tính sinh học của loài sâu này hầu như vẫn chưa được quan tâm nhiều do đó tài liệu nghiên cứu trong nước còn rất hạn chế Một số tài liệu về đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu xanh bướm trắng (P rapae) như: Thời gian vòng đời của sâu xanh bướm trắng từ 26 -

30 ngày, trưởng thành có thể sống từ 2 - 5 tuần, sau vũ hoá 3 - 4 ngày thì đẻ trứng mỗi trưởng thành đẻ tứ 50 - 200 quả trứng Sâu phát sinh gây hại mạnh từ tháng 10 năm trước đến tháng 5 năm sau nhưng thường nặng nhất vào tháng 2 và tháng 5 vì thời tiết lúc này phù hợp với sinh trưởng và phát triển của loài sâu này Theo kết quả nghiên cứu của Lê Văn Trịnh (1999), vòng đời của sâu xanh

19,5 ngày Còn theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng (2001), thì vòng đời của sâu xanh bướm trắng dao động trong khoảng 30,7 - 38,3 ngày Khi nhiệt

khi nhiệt độ lên 19,30C và độ ẩm không khí 88% thì vòng đời là 30,6 ngày Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Trường Thành (2003), vòng đời sâu xanh bướm trắng ở tháng 8 và tháng 9 kéo dài 20 - 22 ngày còn trong tháng 10 và tháng 11 là 30 - 31 ngày Trưởng thành hoạt động mạnh vào buổi sáng và mỗi trưởng thành có thể đẻ

120 - 150 quả trứng và tỷ lệ nở trứng rất cao là 90% - 96%

Từ các kết quả nghiên cứu ở trên cho thấy được sự phong phú và đa dạng

về thành phần và số lượng loài Trong đó sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae) là một trong những đối tượng gây hại nghiêm trọng nhất, xuất hiện phổ biến Do

đó, sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae) là đối tượng đang được nghiên cứu để đạt hiệu quả cao trong phòng trừ trên rau họ Thập tự ở các vùng trồng rau trong

cả nước và trên thế giới

Các kết quả nghiên cứu trên được tiến hành trong các điều kiện nhiệt độ, độ

ẩm khác nhau và nghiên cứu ở những vùng sinh thái khác nhau nên có sự sai khác về thời gian phát dục và vòng đời Tuy nhiên các kết quả đó phù hợp với

Trang 35

phạm vi vòng đời của sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae) đã được công bố của các tài liệu nước ngoài

Mưa và nhiệt độ cao là hai yếu tố hạn chế loài sâu này phát triển số lượng trên đồng ruộng Theo kết quả nghiên cứu những năm 1997 - 1999 tại Viện BVTV thấy rằng ở điều kiện khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng thì thời gian mỗi lứa sâu chịu sự tác động chủ yếu của nhiệt độ không khí, còn mật độ sâu tại mỗi đỉnh cao lại chịu ảnh hưởng của cả nhiệt độ và lượng mưa

Chủng loại rau ảnh hưởng rất nhiều đến số lượng sâu trên đồng ruộng, mật độ sâu trên bắp cải và su hào luôn cao hơn trên rau cải xanh Trong mỗi ruộng rau luôn hình thành 1 đỉnh cao cho rau ngắn ngày (dưới 55 ngày) còn hình thành 2 đỉnh cao cho rau có thời gian từ khi trồng đến khi thu hoạch là 55 ngày trở lên, trong đó đỉnh cao thứ 2 luôn thấp hơn đỉnh cao thứ 1 Theo nghiên cứu những năm 1995 - 1997 ở Viện BVTV cho thấy tại đồng bằng sông Hồng mỗi năm có thể lên tới 15 lứa sâu gối tiếp nhau, nhưng đỉnh cao mật độ dẫn đến gây hại chỉ vào tháng 2 và tháng 5

Một trong những yếu tố quan trọng hạn chế và điều hoà số lượng sâu xanh bướm trắng (P rapae) trên đồng ruộng đó là kẻ thù tự nhiên của chúng Việc xác định thành phần và đánh giá vai trò của thiên địch là nền tảng cơ bản cho việc sử dụng chúng trong quản lý dịch hại cây trồng Thành phần thiên địch của sâu cũng khá phong phú bao gồm các loài ký sinh, bắt mồi ăn thịt, nấm, vi khuẩn và cả virus Cũng theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Trường Thành (2003) cho thấy thiên địch của sâu xanh bướm trắng (P rapae) gồm 3 loài quan trọng là nhện xám, bọ rùa đỏ và bọ cánh cộc nâu

Khả năng đẻ trứng của trưởng thành sâu xanh bướm trắng (P rapae) khá lớn và phụ thuộc điều kiện nhiệt độ Nhiệt độ và độ ẩm là 24,760C và 76%, trưởng thành đẻ được trung bình 97,13 quả/1cặp còn ở 29,030C và 71,97% đẻ được trung bình 150,04 quả/cặp Trong cùng một điều kiện nuôi với thức ăn là mật ong 50%, nhiệt độ 24,890C - 29,040C và độ ẩm 71,96% - 76%, thời gian sống của trưởng thành cái là 11,6 ngày và trưởng thành đực là 6,4 ngày

Tỷ lệ giới tính tự nhiên của trưởng thành sâu xanh bướm trắng (P rapae) phụ thuộc vào yếu tố mùa vụ hay điều kiện thức ăn trên đồng ruộng Tháng III, nhiệt

độ 24,89ºC, độ ẩm 76%, tỷ lệ cái : đực ngoài tự nhiên là 1 cái : 0,63 đực sang tháng IV nhiệt độ và độ ẩm 29,04ºC và 71,97%, tỷ lệ cái và đực thu được ngoài

Trang 36

ruộng (1 cái : 0,6 đực) Tháng V và Tháng VI nhiệt độ trung bình là 31ºC tỷ lệ đực

và cái là (1 đực : 0,92 - 1,03 cái)

Thời gian hoá nhộng của sâu tuổi 5 thường kéo dài trong khoảng 12h – 24h còn hoạt động vũ hoá của nhộng thì diễn ra rất nhanh (2 -5 phút) Khi ruộng rau mới trồng sâu thường chui vào phần ngọn cây làm các lá khi lớn bị cong queo, thủng lỗ chỗ

Trong năm, sâu xanh bướm trắng (P rapae) thường có 15 đỉnh cao mật độ Quần thể sâu đạt đỉnh cao mật độ vào tháng 9 – 10 hại xu hào, bắp cải vụ Đông Xuân sớm và vào các tháng 2 – 5 hại rau vụ Xuân muộn Mật độ sâu phát sinh trên đồng ruộng có liên quan chặt chẽ với nhiệt độ, độ ẩm không khí và lượng

nhẹ là điều kiện thuận lợi cho sâu xanh bướm trắng (P rapae) phát triển và gây hại nặng trên rau họ hoa Thập tự (Nguyễn Thị Hạnh, 2009)

2.3.3 Kết quả nghiên cứu biện pháp phòng trừ sâu xanh bướm trắng((P rapae) trên rau họ hoa thập tự

a Biện pháp canh tác

Ở nước ta nhiều nghiên cứu cho rằng hàng cây cà chua có tác dụng xua đuổi trưởng thành sâu tơ khi di chuyển đến luống rau bắp cải để đẻ trứng Các tác giả đều nhấn mạnh biện pháp luân canh, xen canh cây trồng và tưới phun mưa vào chiều tối có tác dụng làm giảm số lượng sâu tơ trên cải bắp (Nguyễn Văn Đĩnh và cs., 2016; Lê Văn Trịnh và cs., 1999; Nguyễn Quý Hùng và cs., 2013) tưới phun mưa vào buổi tối có tác dụng làm giảm số lượng sâu tơ trên rau Nguyễn Quý Hùng và cs (1994) đã thử nghiệm trồng xen 2 hàng cà chua vào 4 hàng bắp cải, tiến hành trong vụ đông xuân năm 1992- 1993 trên diện tích 60 m2 ở vùng rau thành phố Hồ Chí Minh Kết quả cho thấy trên bắp cải, ở ruộng trồng xen cà chua, sâu tơ có mật độ cao nhất

là 80 trứng và 105 sâu non /cây, so với 134 trứng và 187 sâu non/cây ở ruộng trồng thuần Lê Văn Trịnh và cs (1999) đã thực hiện mô hình trồng xen cà chua với bắp cải với tỷ lệ 2 luống cà chua với 4 luống bắp cải thì ở lứa sâu 1 không có sự sai khác giữa trồng xen và trồng thuần Nhưng ở đỉnh cao sâu rộ lứa 2 trên ruộng trồng xen chỉ bằng 43,2% ruộng trồng thuần và tương ứng ở lứa 3 chỉ bằng 47% nghĩa là đã có sự sai khác rõ rệt giữa 2 phương thức canh tác

Trang 37

b Biện pháp sinh học

Nghiên cứu của Lê Văn Trịnh và cs (1999) cũng thu thập được 20 loài thiên địch sâu hại rau họ hoa Thập tự ở vùng đồng bằng sông Hồng bao gồm 13 loài côn trùng và nhện bắt mồi, 3 loài ong ký sinh và 4 tác nhân gây bệnh trong đó côn trùng bắt mồi ăn thịt đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế số lượng sâu trên đồng ruộng Trong số các loài thiên địch được phát hiện thì phải kể đến công trình nghiên cứu của Hồ Thị Thu Giang (1996) ghi nhận có 53 loài thiên địch của sâu hại rau bao gồm 20 loài côn trùng bắt mồi, 18 loài nhện lớn bắt mồi và 6 loài côn trùng ký sinh trong đó các loài bắt mồi ăn thịt là thiên địch quan trọng của sâu xanh bướm trắng (P rapae) Ngoài ra, côn trùng ký sinh là một trong các yếu tố góp phần kìm hãm mật độ sâu trên đồng ruộng Ở Việt Nam chủ yếu là hai loài Costesia glomeratus và

C plutella, ong ký sinh trưởng thành của hai loại này có kích thước nhỏ, màu đen Con cái của loài C glomeratus có thể đẻ hàng chục trứng lên cơ thể sâu non tuổi 1, tuổi 2 của sâu xanh bướm trắng (P rapae)

Trước hiện tượng sâu tơ kháng thuốc hoá học và hậu quả của chúng khi sử dụng thuốc hoá học nên biện pháp sinh học ngày càng được chú ý Nhiều tài liệu

đã thể hiện rõ 3 định hướng nghiên cứu phát triển biện pháp sinh học trong phòng trừ tổng hợp sâu hại rau họ hoa thập tự đó là: Duy trì bảo vệ và tạo điều kiện để các thiên địch tự nhiên phát triển Sử dụng rộng rãi các chế phẩm sinh học như Bt, VBT, NPV, GV Nhân thả một số loài ong ký sinh có hiệu quả cao

đế phòng trừ sâu hại trên ruộng rau Ở nước ta cũng có rất nhiều nghiên cứu phòng trừ sâu tơ hại rau họ hoa thập tự bằng biện pháp sinh học, các tác giả Lê Văn Trịnh và cs (1999), Nguyễn Quý Hùng và cs (2013), từ những năm 1975 đã tiến hành việc nghiên cứu sử dụng chế phẩm Bt để trừ sâu tơ Các tác giả đã khẳng định: chế phẩm Bt có hiệu lực trừ sâu rất tốt đối với lượng dùng 3 kg/ha, khi trời rét đậm thì lượng dùng 5kg/ha, khi mật độ sâu cao có thể dùng kép 2 lần

Sử dụng chế phẩm Bt đã góp phần làm tăng năng suất bắp cải, suplơ và giá trị thu hoạch cao hơn hẳn so với dùng thuốc hoá học Việc đánh giá hiệu lực của các dạng chế phẩm sinh học Bt và một số chế phẩm mới vẫn được tiếp tục ở các cơ quan nghiên cứu bảo vệ thực vật Thiên địch trên ruộng rau cũng đã được quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây nhưng mới chỉ ở mức điều tra, khảo sát thành phần, Khuất Đăng Long (2011), đã đi sâu nghiên cứu về đặc điểm hình thái sinh học và tập tính của ong đen ký sinh sâu tơ

Trang 38

c Biện pháp hoá học

Theo Đường Hồng Dật (2004), thuốc hoá học bảo vệ thực vật là biện pháp không thể thiếu trong thâm canh cây trồng và chưa có một nhà khoa học nghiêm túc nào trên thế giới dám dự đoán được thời điểm không cần sử dụng thuốc hoá học Việc sử dụng thuốc hoá học để trừ sâu hại rau họ hoa thập tự ở Việt Nam đã được chú ý từ những năm 60, đã tiến hành khảo nghiệm hiệu lực trừ sâu tơ của các loại thuốc nhóm Clo hữu cơ Công tác này đến nay vẫn được tiến hành đều ở nhiều cơ quan nghiên cứu khoa học nông nghiệp, để xác định những loại thuốc mới, bổ sung và loại bỏ những loại thuốc cũ không còn phù hợp Nguyễn Trần Oánh (2012) cho biết thuốc hoá học dùng hiện nay không có tính chọn lọc cao,

số lần sử dụng nhiều Phạm Bình Quyền (2006) điều tra ở vùng trồng rau họ hoa thập tự vùng Từ Liêm – Hà Nội người dân phun tới 28 – 30 lần/vụ Theo Nguyễn Công Thuật (1996), nguyên nhân của các hiện tượng này là do trình độ hiểu biết

về dịch hại và kĩ thuật sử dụng thuốc của người dân còn quá thấp nên họ thường phun rất tuỳ tiện, phun định kì, phun theo tập quán hoặc bắt chước nhau Ngoài

ra 100% số hộ nông dân vùng trồng rau thường hỗn hợp các loại thuốc trừ sâu trong quá trình sử dụng theo nhận định của nông dân, việc pha trộn thuốc là biện pháp nâng cao hiệu lực của thuốc, mở rộng phổ tác động, giảm giá thành (do không phải mua thuốc đắt tiền) Do hỗn hợp theo cảm tính, liều lượng thường áng chừng nên lượng thuốc thực tế cao hơn 2 – 3 lần so với khuyến cáo.Từ các kết quả nghiên cứu về thuốc hoá học trừ sâu hại rau họ hoa thập tự Nguyễn Trần Oánh và cs (2007) đã chỉ rõ 2 nguyên tắc sử dụng thuốc hoá học: Lựa chọn một

bộ thuốc thích hợp, có tính chọn lọc để sử dụng luân phiên với nhau và xen kẽ với chế phẩm sinh học Bt và chế phẩm thảo mộc Ấn định một phương pháp dùng thuốc hợp lý, chỉ dùng thuốc hoá học khi các biện pháp khác không còn hiệu quả khống chế sâu ở dưới mức an toàn và phải phun thuốc đều trên cây khi sâu ở tuổi 1 và tuổi 2 Ngày nay, người ta không chỉ quan tâm đến hiệu lực phòng trừ của thuốc hoá học đối với sâu hại mà còn quan tâm một cách toàn diện đến các chỉ tiêu an toàn cho môi trường, môi sinh (Nguyễn Viết Tùng, 2012)

Quy trình quản lý tổng hợp dịch hại rau họ hoa thập tự được Nguyễn Trường Thành (2003) có nội dung chủ yếu là: Luân canh triệt để và xử lý tàn dư đầu vụ Nhúng cây con vào thuốc Sherpa, Cidi trước khi trồng Sử dụng luân phiên các loại thuốc hoá học Sau đó quy trình được bổ sung, chỉ rõ thêm các thuốc hoá học khác có hiệu quả cao đối với sâu tơ để áp dụng vào sản xuất

Trang 39

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

- Địa điểm thực hiện đề tài:

+ Điều tra thành phần và diễn biến mật độsâu hại tại cánh đồng xã Mễ Sở, Văn Giang, Hưng Yên;

+ Nuôi sinh học sâu xanh bướm trắng tại Phòng Kỹ thuật, Chi cục BVTV Hưng Yên

- Thời gian thực hiện đề tài: Năm 2016 – 2017

3.2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ DỤNG CỤ NGHIÊN CỨU

* Đối tượng nghiên cứu: Sâu hại và thiên địch của chúng trên rau họ thập tự

* Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu

- Vật liệu nghiên cứu:

+ Cây trồng: Bắp cải (giống NS cros, KK - Cros);

+ Một số loại thuốc BVTV phòng trừ sâu xanh buớm trắng: Dylan 2EC, Abatin 5.4EC, Hetsau 0.4 EC

- Dụng cụ thí nghiệm:

+ Ống nghiệm, vợt bắt côn trùng, đĩa petri đường kính 10 cm, các loại hộp nhựa có đường kính 15 cm, cao 20 cm, nắp lưới, túi đựng mẫu, pince, kéo, bút lông, bút chì, khay đựng dụng cụ, xiên các loại, đồ dùng mở bao, hộp, cốc đong, găng tay, đồ dùng trộn chia mẫu

+ Kính kính lúp soi nổi độ phóng đại 40 X, sổ sách ghi chép nghiên cứu + Cồn 700, lọ thuỷ tinh để lưu mẫu, nhãn ghi rõ thời gian

3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Xác định thành phần sâu hại và thiên địch của chúng trên rau họ hoa thập

tự năm 2016 - 2017 tại Mễ Sở, Văn Giang, Hưng Yên

- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của sâu xanh bướm trắng(Pieris rapae ) (Thời gian phát dục các pha, tỷ lệ đực cái, sức sinh sản, nhịp điệu sinh sản, thời gian sống của trưởng thành), mức độ gây hại của sâu non

- Điều tra diễn biến mật độ của sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae L.) trên rau họ hoa thập tự dưới ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái

Trang 40

- Xác định hiệu lực phòng trừ sâu xanh bướm trắng của 3 loại thuốc BVTV: Dylan 2EC, Abatin 5.4EC, Hetsau 0.4 EC ở trong phòng thí nghiệm

3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.4.1 Điều tra thành phần sâu hại và thiên địch của chúng trên rau họ hoa thập tự tại Mễ Sở, Văn Giang, Hưng Yên năm 2016 - 2017

Phương pháp điều tra trên đồng ruộng áp dụng theo QCVN 01-38: 2010 của

Bộ Nông Nghiệp và PTNT

Điều tra định kỳ 7 ngày/lần

Số điểm điều tra càng nhiều càng tốt

Tiến hành quan sát kỹ tại các điểm điều tra để tìm sâu hại, thiên địch tại mỗi điểm

Toàn bộ mẫu vật thu được cho ngâm cồn 35%, sau đó chuyển sang cồn 70%, giám định dưới sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và các thày cô trong

Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Chỉ tiêu theo dõi: Tên các loài sâu hại và thiên địch, mức độ phổ biến của từng loài

3.4.2 Điều tra diễn biến mật độ và tỷ lệ hại của sâu xanh bướm trắng (P.rapae) Theo QCVN 01-38: 2010 của Bộ Nông Nghiệp và PTNT

- Tại vùng chuyên trồng rau tại Mễ Sở, Văn Giang tiến hành điều tra 7 ngày/lần đối với rau HHTT Việc điều tra được tiến hành từ khi cây rau mới được gieo trồng cho tới khi thu hoạch

Chọn ruộng đại diện cho các loại rau họ hoa thập tự (bắp cải, su hào, rau cải), giống bắp cải (NS cros, KK Cros); mật độ trồng bắp cải, rau SX an toàn Mỗi điểm điều tra 3 cây

* Thí nghiệm tìm hiểu ảnh hưởng của mật độ trồng, phân bón đến mật độ sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae)

Ngày đăng: 10/03/2021, 15:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w