1. Trang chủ
  2. » Địa lí lớp 9

Bài 28. Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam thời phong kiến

34 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 3,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với các ngôi đình khác khá nổi bật về giá trị nghệ thuât kiến trúc, những ngôi đình đều nằm trên vùng đất xứ Đoài như: đình Thổ Tang (Vĩnh Phúc), đình Tây Đằng(Ba Vì, Hà Nội), đình [r]

Trang 1

Mục lục



Lời nói đầu 2

Chùa Mía (Sùng Nghiêm Tự) 3

Thành cổ Sơn Tây (Sơn Tây thành) 7

Khu di tích K9 – Đá Chông (mật danh CT5, K9, K84) 12

Đình Chu Quyến (đình Chàng) 16

Làng cổ Đường Lâm 19

Đền thờ Bố cái Đại vương (đền Phùng Hưng) 24

Lăng Ngô Quyền 26

Đền Và - Danh tiếng Xứ Đoài 28

Chùa Liên Hoa 31

Đình Tây Đằng 32



Trang 2

Lời nói đầu

à Nội- Hơn 100 năm tuổi, 1000 năm lịch sử và văn hiến lâu đời Nơi đâycũng là trái tim đỏ hồng rực cháy mà tổ quốc thân yêu ngày đêm hướngtới, là thủ đô, là đầu não mang tính chiến lược Đồng thời cũng được xemnhư là một trung tâm văn hóa, du lịch; thu hút sự chú ý của bạn bè gần xa trongnước và quốc tế trên khắp năm châu.

H

Sau những thay đổi về địa giới và hành chính năm 2008, Hà Nội hiện có 30 đơn

vị hành chính cấp huyện gồm 12 quận, 17 huyện và 1 thị xã Nhờ đó, số di tích lịch

sử thuộc Hà nội cũng tăng lên đáng kể ( 3840 di tích trên tổng số gần 40.000 di tíchtrong cả nước)

Chương trình lịch sử địa phương được thực hiện bởi nhóm lớp 10 hóa khóa 56trước hết xin được cảm ơn cô giáo Vũ Thị Minh Tâm- giáo viên bộ môn Lịch Sử

đã tạo cơ hội và điều kiện cho chúng em có thể chủ động tìm hiểu về những di tíchlịch sử, góp phần mở rộng thêm vốn hiểu biết của chính bản thân và cung cấp thêmmột vài tri thức khách quan cho người đọc Đồng thời cũng cho chúng em cảmthấy tự hào vì mình là con người Hà Nội - Nơi vẫn còn đó những chứng nhân lịch

sử từ bao đời

Trong quá trình thực hiện, ngoài những tri thức sẵn có của bản thân, nhóm còntham khảo một số tài liệu có nguồn từ Internet và một số nguồn khác Nếu có gìchưa được hoàn thiện mong bạn đọc góp ý

Sơn Tây, tháng 3 năm 2015

Trang 3

CHÙA MÍA (Sùng Nghiêm Tự)

I, GIỚI THIỆU CHUNG

Từ ô Cầu Giấy của Hà Nội, đi về hướng tây theo đường quốc lộ QL32 chừng40km sẽ tới một nút giao thông với quốc lộ QL21 ở bên trái Cũng đừng vào trung

tâm thị xã Sơn Tây mà tiếptục bám theo QL32 hơn4km bạn sẽ thấy một vòngxoay với đường lên cầuVĩnh Thịnh ở bên phải Cứ

đi thẳng về hướng tây - bắcgần 1km nữa thì một lối rẽvào thôn Đông Sàng ở bêntrái sẽ dẫn bạn đến chùaMía

II, ĐẶC ĐIỂM

Chùa tọa lạc tại một gò đá ong ngay giữa thôn Đông Sàng của xã Đường Lâm,tuy đất không cao nhưng phong thủy rất tốt Toàn bộ ngôi chùa được xây bằng gỗquý, có kiến trúc hình chữ “Mục” Trong chùa có nhiều pho tượng Phật độc đáo,thể hiện tính nghệ thuật cao siêu của các nghệ nhân về đúc, nặn, chạm khắc thờixưa

III, GIỚI THIỆU LỊCH SỬ VÀ TÊN GỌI

Ban đầu, chùa có quy mô nhỏ, được xây dựng từ xa xưa Năm 1632, Phi tầntrong phủ chúa Trịnh Tráng là Ngô Thị Ngọc Diệu (còn có tên là Nguyễn ThịNgọc Dong) thấy miếu bị hoang phế điêu tàn nên đã cùng cha mẹ và người dâncác làng thuộc tổng Cam Giá (tức Tổng Mía) cùng nhau tôn tạo lại Phi tần NgọcDong vốn là người làng Nam Nguyễn (Nam An) trong Tổng Mía, nên được ngườimến mộ gọi là "Bà Chúa Mía.", đồng thời đã tạc tượng đưa vào phối thờ ở chùa và

Trang 4

còn có đền thờ riêng Về sau chùa được tu bổ nhiều lần, song đến nay quy mô tôntạo thời Bà chúa Mía dường như vẫn được bảo tồn nguyên vẹn.

Theo đường làng đigần tới chợ Mía,nhìn rõ từ xa tán cây

cổ thụ phía trên máitam quan chùa và cảđỉnh tháp Cửu phẩmLiên hoa Tháp nàyđược xây vào nửacuối thế kỷ 20 đểthờ vọng Xá lợi củađức Phật

Ngay trước tam quan chùa là con đường làng và ngôi chợ Mía Cổng chùa cóbậc lên thềm khá cao Tầng trên treo một quả chuông đồng nặng 4 tạ, đúc nămCảnh Hưng thứ 4 (1743) đời vua Lê Hiển Tông và một chiếc khánh đồng, đúc nămThiệu Trị thứ 6 (1846) dưới thời Nguyễn Dân làng cho biết mỗi chiều từng tiếngchuông từ đây ngân xa, bay qua sông Hồng sang đến tận đất Phú Thọ Tươngtruyền chùa Mía có từ rất xa xưa, đến đầu thế kỷ 17 thì cũ hỏng và đổ nát BàNguyễn Thị Ngọc Diệu là một phi tần của chúa Trịnh Tráng (1632 - 1657), ngườigốc làng Nam Nguyễn thuộc tổng Cam Giá, đã trực tiếp kêu gọi thiện nam tín nữgần xa góp công góp của để trùng tu ngôi chùa Về sau, dân trong tổng đã tạctượng bà đặt vào một khám thờ nhỏ trong chùa và gọi là “bà Chúa Mía

IV, KIẾN TRÚC:

Chùa Mía làm theo kiểu “Nội công ngoại quốc” Đi từ tam quan đi thẳng theocon ngõ ngắn sẽ đến một cái cổng nhỏ mở vào khoảng sân rộng Giữa sân có hònnon bộ che cho tiền đường được xây trên nền cao 7 bậc Phía trái tiền đường cótấm bia đá lớn ghi niên hiệu Ðức Long thứ 4 (1632), kể lại việc trùng tu chùa vàothời gian đó Bia cao 1,8m, rộng 1m, đặt trên lưng một con rùa đá được trang tríbằng các nét chạm nổi trau chuốt xen kẽ giữa rồng và hoa lá

Trang 5

Tòa tiền đường rộng 7 gian 2 chái rất thoáng đãng Toà trung đường cũng rộng

7 gian nhưng nối với thiêu hương và hậu cung giật cấp, tạo chiều cao và chiều sâuthâm nghiêm Cả hai tòa được xây song song theo hình chữ “Nhị”, chỉ cách nhaumột chút để lấy ánh sáng tự nhiên cho các bức tượng ở hai bên và trên Phật điện.Phía sau hai pho tượng Hộ Pháp to lớn có cửa ngách dẫn ra hành lang tả hữu rồithông xuống hậu đường

Các toà nhà chùa Mía sử dụng nhiều cột gỗ to và cửa bức bàn, đặc trưng chokiến trúc của thế kỷ 17 Các vì kèo cũng được làm bằng gỗ, chạm khắc rất côngphu hình hoa lá và tứ linh (long, ly, quy, phượng)… Dáng dấp ngôi chùa hiện naymang phong cách nghệ thuật kiến trúc thời cuối Lê đầu Nguyễn Trải qua hơn bốntrăm năm ngôi chùa đã được tu tạo nhiều lần, lần sửa lớn cuối cùng được thực hiệnvào đầu thiên niên kỷ thứ ba

V, MỘT SỐ TƯỢNG PHẬT TRONG CHÙA:

Ngoài các bia đá, quả chuông đồng và chiếc khánh đồng đã nói ở trên, trongchùa Mía còn lưu giữ nhiều hiện vật khác có giá trị nghệ thuật và lịch sử Hệ thốngtượng Phật trong chùa Mía phong phú về số lượng, đặc sắc về hình dáng và biểutượng Chùa có đến 287 pho tượng gồm 6 tượng đồng, 107 tượng gỗ và 174 tượngđất, tất cả đều thể hiện nét tài hoa của các nghệ nhân đúc, tạc hoặc đắp tượng vàothời xưa

Trên thượng điện có bức tượng Thích Ca nhập Niết Bàn tạo dáng đức Phật vềcõi hư vô trong sự thanh thản trong sáng Tượng Di Lặc tô màu sáng thể hiện một

vị Bồ Tát tốt bụng và lạc quan Tượng Tuyết Sơn (cao 0,76m) ở hậu đường mô tảgiai đoạn đức Phật gầy trơ xương vì đói khổ tột cùng đang đăm chiêu tìm nguồngốc của mọi nỗi bất hạnh

Đáng chú ý còn có bức tượng Quán Thế Âm Bồ Tát vóc dáng thon thả với 12cánh tay đan lồng vào nhau như đang múa nhịp nhàng Tám pho tượng Kim Cươngcao lớn được làm bằng đất luyện, mỗi pho thể hiện một vị tướng trong tư thế diễn

võ với hình khối, bố cục và nét mặt khác nhau v.v

Trong một động đá ở hậu đường chùa Mía có pho tượng Quan Âm tống tử cao0,76 m trông rất sống động, được dân gian gọi là tượng Quan Âm Thị Kính bồngcon 18 bức tượng La Hán bày dọc hai dãy hành lang cũng có dáng vẻ đời thườnghơn là tu hành, in rất rõ phong cách nghệ thuật dân gian truyền thống của ViệtNam

Trang 6

Chùa Mía là ngôi chùa cổ có nhiều tượng nhất và một trong những danh lamhàng đầu của Việt Nam, năm 1964 đã được Bộ Văn hoá xếp hạng Di tích lịch sửvăn hóa quốc gia Cùng với những ngôi nhà gỗ mít và tường đá ong trong “Làng cổĐường Lâm”, chùa Mía hiện nay đã trở thành một trung tâm du lịch tâm linh ở xứĐoài thu hút được rất nhiều khách trong nước và ngoài nước tìm đến.

Được biết ni cô Đàm Thanh về đây hoằng dương Phật pháp từ năm 1986 đã cócông duy trì hiện trạng và tu sửa, mở rộng các công trình Ni cô còn mở lòng từ bitiếp nhận các trẻ mồ côi, nuôi khôn lớn và cho đi học Nhà chùa tự tay chăm sóckhu vườn rau sạch ở phía sau và làm được những chum tương thanh đạm đủ ănquanh năm cho nhiều người

VI, MỘT SỐ HÌNH ẢNG CỦA CHÙA MÍA:

Động đá ở trung đường chùa Mía Chính điện chùa Mía.

La Hán bên Hữu

La Hán bên Tả

Trang 7

THÀNH CỔ SƠN TÂY

I, GIỚI THIỆU CHUNG

Thành Sơn Tây nằm giữa thị xã Sơn Tây, cách

trung tâm Hà Nội hơn 40km, được xây dựng vào

năm Minh Mạng thứ 3 (1822) là tòa thành cổ duy

nhất được xây bằng đá ong của Việt Nam có tổng

diện tích 16 ha với các kiến trúc độc đáo như: tường

thành bằng đá ong, 4 cổng thành xây bằng gạch cổ.

Đây là một trong số ít tòa thành dưới thời Minh

Mạng còn lại đến ngày nay, thành được xây dựng

kiên cố để bảo vệ vùng đất phía tây bắc Thăng Long

Thành Sơn Tây đã được Bộ Văn hóa - Thông tin nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận là di tích lịch sử kiến trúc quốc gia năm 1994 Ngày nay, tòa thành này vẫn còn tồn tại ở trung tâm thị xã Sơn Tây, Hà Nội và trở thành một di tích lịch sử

và kiến trúc quân sự.

II, LỊCH SỬ THÀNH:

Năm 1469, đơn vị hành chính “Sơn Tây thừa tuyên” chính thức được khai sinh Ban đầu trấn sở đặt tại xã La Phẩm, huyện Tiên Phong, phủ Quảng Oai (nay thuộc xã Tản Hồng, huyện Ba Vì).

Từ năm 1740 đến 1786, do nước ngập làm lở thành nên dời trấn sở về khu đất cao hơn, có nhiều đồi gò thoai thoải thuộc địa phận làng Mông Phụ, tổng Cam giá, huyện Phúc Lộc, phủ Quốc Oai (nay thuộc xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây).

Năm Minh Mạng thứ ba (1822) mới dời trấn sở về địa phận các xã Mai Trai, Thuần Nghệ, huyện Minh Nghĩa (sau gọi là Tùng Thiện), tức vùng trung tâm thị xã Sơn Tây ngày nay.

Trong khoảng thập kỷ 70 - 80 của thế kỷ 19, là một trung tâm phòng bị kháng chiến chống Pháp của quan lại triều đình nhà Nguyễn (với những nhân vật lãnh đạo như: Hoàng Tá Viêm, Lưu Vĩnh Phúc, ) giữa hai cuộc xâm lược Bắc kỳ lần thứ nhất (1872) và lần thứ hai (1883) của Pháp Thành thất thủ vào tay quân Pháp ngày 16 tháng

12 năm 1883.

Thành Sơn Tây (4/1884), một trong bốn thành trong “Thăng Long tứ trấn”.

Trang 8

Ngày 16 tháng 5 năm 1924, Toàn quyền Đông Dương đã ra nghị định xếp hạng di tích thành Sơn Tây và giao trường Viễn Đông Bác Cổ (nay là Viện Bảo tàng lịch sử trung ương Pháp) quản lý

Ngày 26 tháng 5 năm 1946, sau khi thăm Trường Võ Bị Trần Quốc Tuấn, Chủ

tịch Hồ Chí Minh đã gặp mặt và nói chuyện với đồng bào ở thành cổ Sơn Tây.

Tháng 12 năm 1946, một cuộc họp của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã diễn ra ở đây.

Ngày 15 tháng 10 năm 1994, Bộ Văn hóa - Thông tin ra quyết định 2757QĐ/BT công nhận đây là Di tích lịch sử và kiến trúc.

III, ĐỊA THẾ

Thời trước người ta coi trọng bốn vùng đất là phên dậu che chở cho Thăng Long và

cũng là bàn đạp để triều đình có thể vươn xa ra vùng biên giới thường được gọi là Tứ trấn ( bốn trọng trấn ), gồm có: Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Nam Đến thời

Nguyễn, Sơn Tây vẫn được xếp là một trong bốn trọng trấn ở Bắc Kỳ, phía trong thì che chở, bảo vệ Bắc Thành, bên ngoài thì làm bàn đạp, làm hậu cứ để triều đình bảo vệ vùng biên cương ở thượng lưu sông Đà, sông Hồng, sông Lô, do đó nhà Nguyễn đặt Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên đóng tại thành Sơn Tây để giữ yên cả vùng rộng lớn Tây Bắc và Việt Bắc gồm 5 phủ, 24 huyện mà ngày nay bao gồm toàn bộ tỉnh Vĩnh Phúc cộng với huyện Sơn Dương của tỉnh Tuyên Quang, hầu như toàn bộ tỉnh Phú Thọ và hơn một nửa tỉnh Hà Tây cũ.

Do địa thế mà từ xa xưa lúc nào Sơn Tây cũng là hậu cứ, là bàn đạp cho vùng biên giới xa xôi Nhiệm vụ này là do chính địa thế Sơn Tây so với vùng thượng du Tây Bắc

và Bắc Kỳ quy định Sơn Tây còn là vùng dân Việt sinh sống lâu đời, đông đúc, một vùng đất cơ bản của người Việt từ khi lập nước.

IV, KIẾN TRÚC:

Theo một số tài liệu cổ, thành trì này xây theo kiểu Vauban, có chu vi 326 trượng 7 thước (1306,8m), tường thành cao 1 trượng 1 thước (4,4m) Chu vi hào nước bao quanh thành là 448 trượng (1792m), rộng 6 trượng 7 thước (26,8m), sâu 1 trượng (4m).

Mỗi cổng ở phía trên đều có lầu canh (Vọng lâu) và chỉ có một lối ra vào; phía ngoài

có đắp Dương mã thành (còn gọi là mang cá) hình chóp nón chắn phía ngoài của thành

Xa bên vòng ngoài là La Thành (thành ngoài) được đắp bằng đất cao 3,5m, hình ngũ giác, bên ngoài có lũy tre gai dày đặc bao bọc Thành ngoài cũng mở bốn cổng trông ra bốn hướng: Đông, Tây, Nam, Bắc, nay vẫn gọi là đường La Thành.

Theo hồi ký của C.E.Hocquard, một bác sĩ trong quân đội viễn chinh Pháp đã tả lại thành Sơn Tây vào tháng 4 năm 1884 như sau:

Trang 9

cách Sông Hồng khoảng 2 cây số Thành có kiểu hình vuông, mỗi cạnh dài 500m Một bức tường bao quanh, xây gạch cao 5m Một cái hào đầy nước rộng khoảng 20m bao quanh thành lũy, hết hào nước là một con đường để đi tuần tra, ngăn cách giữa hào nước với tường thành Những người An Nam gọi đường đó là đường voi (tượng đạo, đường để voi đi) Ở giữa bề mặt của mỗi bức tường thành có một nửa tháp hình bán nguyệt đường kính 30m, bố trí nhiều lỗ châu mai ”

Thành gồm 4 cửa: Tiền, Hậu, Tả, Hữu, nay chỉ còn lại di tích của 2 cửa Hữu và Tiền, cửa Hậu được xây dựng lại, còn cửa Tả đã bị phá đi nay không còn để lại dấu tích gì.

1 Vị trí:

Thành cổ Sơn Tây được kiến trúc theo kiểu Vauban (kiểu công trình quân sự lấy theo tên kỹ sư Vauban người Pháp), tường thành bằng đá ong chạy theo đường gãy khúc, nhưng tổng thể có hình vuông Vị trí thành nằm ở khoảng tọa độ 21°08'11,11" - 21°08'28,76" vĩ bắc và 105°30'07,49" - 105°30'26,48" kinh đông.

Thành nằm giữa thị xã Sơn Tây, trên phần đất của hai làng cổ là Thuần Nghệ và Mai Trai, cách trung tâm Hà Nội khoảng 42 km Thành có 4 cửa quay ra các hướng Bắc (chính xác là hướng Đông Bắc), Nam, Tây, Đông, và lần lượt có tên là: cửa Hậu, cửa Tiền, cửa Hữu, cửa Tả Trước đây bốn cửa đều có cầu gạch bắc qua hào nước, nhưng hiện nay chỉ có hai cửa chính là cửa Tiền và cửa Hậu, có cầu bắc qua hào nước, dẫn vào cổng thành

2 Cửa Tiền:

Là cổng phía Nam của thành Sơn Tây, hơi lệch về

phía tây, nay nằm ở phố Quang Trung Cây cầu bằng

gạch bắc qua hào nước không được xây dựng ngay

trước cửa ra vào mà được xây dựng vào khoảng giữa

lối vào kỳ đài Sau khi chiếm thành, người Pháp đã

cho mở một cửa mới ở ngay trước cầu để tiện đi lại

nhưng cổng cũ vẫn được giữ nguyên cho đến ngày

nay

3 Cửa Hậu

Là cửa phía Bắc lệch Đông, hướng ra sông Hồng

theo con đường của phố Lê Lợi Trước đây các cầu

bắc qua hào đều bố trí vào vị trí của tháp và lệch với vị

trí cổng thành để có lợi cho sự phòng thủ Năm 1883

khi quân Pháp tấn công thành Cửa Hậu bị hư hại nặng.

Cửa Tiền sau khi thành Sơn Tây thất thủ

Cửa Hậu sau khi thành thất thủ

Trang 10

Trước năm 1995, cổng này vẫn còn giữ được nguyên thủy như những năm 1883; 1884 và

có một cây đa đẹp nhất khu thành cổ Thật tiếc là sau đó đã bị chặt bỏ để xây một cổng thành mới không phù hợp với không gian cổ xưa

4 Cửa Hữu

Cửa Hữu là cửa phía Tây lệch bắc, hướng ra trường phổ thông

trung học Sơn Tây, nhà thi đấu Sơn

Tây, phố Trần Hưng Đạo Trong

trận Pháp đánh thành Sơn Tây (1883),

Cửa Hữu đã bị đại bác của quân

Pháp phá hủy hoàn toàn Sau khi

chiếm được thành, người Pháp cho

xây lại để ngăn cản quân Cờ Đen tấn công trở lại.

5 Cửa Tả

Cửa Tả là cổng thành phía Đông lệch nam của thành

cổ Sơn Tây, nhìn ra chợ Nghệ, bưu điện Sơn Tây Cuối

những năm tám mươi của thế kỷ trước người ta chuyển

chợ Nghệ vào họp tạm ở trong thành cổ, một chiếc cầu

tạm được dựng lên Có lẽ để tiện việc đi lại người ta đã

phá hủy chiếc cổng này, nên hiện nay không còn dấu

tích.

6 Thành nội:

Trong thành có các hạng mục kiến trúc: cột cờ (tức vọng lâu) cao 18m, cửa hành cung, hành cung, hai giếng vuông, phía trước khu nghi lễ (Hành Cung, sân, điện), gần với cửa Tiền Điện ở đây từng là tòa nhà 5 gian hai chái, tám mái chồng diêm, nằm khoảng

Cửa Hậu sau khi xây lại

Cửa Hữu hiện nay

Cửa Tả (4/1884)

Trang 11

chính giữa thành, là nơi làm việc của các quan Trong thành, các công trình quan trọng đều được xây dựng đối xứng trên trục trung tâm Nam-Bắc Chính giữa là “Vọng cung nữ” về hướng Nam, là nơi nghỉ của vua mỗi khi đi tuần thú và là nơi các quan trong trấn hàng năm, Xuân Thu nhị kỳ, đến tế lễ hoặc “bái vọng” mỗi khi có chiếu chỉ của nhà vua ban xuống Trong hồi ký của C.E.Hocquard một bác sĩ trong quân đội viễn chinh Pháp đã

tả lại kiến trúc trong thành Sơn Tây vào tháng 4 năm 1884 khá chi tiết như sau:

Bên trong, giữa thành có một tháp cao 18m (cột cờ) Còn lại là Hành cung, nhà ở của các quan tỉnh và kho lương Phía trước tháp có 2 bể nước lớn hình vuông xung quanh xây gạch và lan can bảo vệ Theo người ta nói lại, trước đây một bể chứa nước dùng cho quân đồn trú, còn một bể dùng nuôi cá phục vụ bữa ăn Cửa đi vào bên trong tháp (cột cờ) đang mở, tôi lên trên đó để xem Bên trong tháp có một cầu thang xoáy trôn

ốc với khoảng 50 bậc bằng đá tảng Cầu thang này được chiếu sáng bằng ánh sáng mặt trời qua những cửa sổ tròn nhỏ, làm cho người ta có cảm giác như đang trèo lên tháp chuông nhà thờ ở làng xã chúng ta (ở Pháp) nhấp nhô tám kho gạo dẫn vào hành cung Hành cung nổi bật hẳn lên với hình bốn cạnh, mái hai tầng uốn cong, phần nhô ra được trang trí bằng những quái vật đầu sư tử mặt nhăn nhó ghép bằng những mảnh sứ xanh lơ gắn xi măng Hành cung trông ra một sân rộng vuông vức, lát bằng những phiến đá rộng, mài nhẵn Lối vào sân có hai con sư tử được tạc với kích thước lớn như thật, đang đứng vươn mình trên những khối đá hoa cương màu xám trông rất đẹp Để vào sân, người ta phải đi qua một hàng hiên đồ sộ hai tầng mái có trổ ba cửa và những gác chuông nhỏ cũng được trang trí nhiều hình tượng khác nhau bằng các mảnh sứ xanh lơ giống như một ngôi chùa ”

Bên cạnh đó là dinh thự và công đường của các quan đầu tỉnh: Tổng đốc (sau đổi là Tuần phủ), Bố chánh (hay Án sát), Đề đốc và Đốc học Về phía Đông Vọng cung là ngục thất, kho lương và Trại con gái - nơi vợ con binh lính ở Về phía Tây là Võ miếu, nơi thờ các tướng sỹ đã anh dũng hy sinh trong khi chiến đấu bảo vệ thành Trước điện Kính Thiên là một sân rộng lát gạch, phía ngoài cổng có bức bình phong xây bằng gạch, đắp hình nổi “Long vân khánh hội” bằng vôi vữa Tiếp đó là Đoan môn có ba cửa ra vào, nhìn thẳng ra Kỳ đài xây trên một bệ hình chóp vuông cụt bằng đá ong, cao khoảng 18m.

Trang 12

KHU DI TÍCH K9 – ĐÁ CHÔNG

I, GIỚI THIỆU CHUNG

Theo truyền thuyết, đây là dấu tích của những cuộc đọ sức giữa Sơn Tinh

và Thủy Tinh thời xa xưa Lòng ghen tuông của chàng Thủy Tinh si tình dữ dội, bao nhiêu bão dông mưa lũ cuồn cuộn đổ về đây, bao nhiêu thủy quái được điều đến hòng cướp lại người đẹp từ tay Sơn Tinh, ầm ầm ào ào suốt mấy ngày liền và hàng ngàn năm sau vẫn chưa thôi cơn giận dữ Xưa nay, cuộc chiến vì người đẹp bao giờ cũng bi tráng

Đá Chông càng thêm giá trị khi ở đây có thêm di tích K9 Năm 1957, Bác Hồ cùng các đồng chí trong Quân ủy Trung ương đi kiểm tra diễn tập của Sư đoàn 308 khi dừng chân tại đây Người đã nhận ra linh khí trong thế núi hình sông của vùng đất này Dãy Tản Viên Sơn ở phía Đông, dãy Thiết Sơn ở phía Tây lại thêm Đà giang độc đáo liền kề, xét theo phong thủy thật là đắc địa cho việc dựng căn cứ Bác đã quyết định chọn Đá Chông làm Khu căn cứ địa để chuẩn bị cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước dài lâu của dân tộc ta

II, LỊCH SỬ:

Năm 1957, trong một lần tham sư đoàn 316 diễn tập bên sông Đà, Bác Hồ đã dừng chân ăn trưa trên đỉnh đồi, ngay dưới chân ba tảng đá chông hùng vĩ Thấy khí hậu nơi

Kiến trúc chính bên trong khi xưa

Hành Cung sau khi xây dựng lại

Trang 13

đây mát mẻ, địa hình hiểm trở, phong cảnh đẹp, Bác đã chọn vị trí này làm khu căn cứ của TƯ đề phòng chiến tranh có thể mở rộng toàn quốc.

Năm 1960, Cục Doanh trại thuộc tổng cục Hậu cần xây dựng một ngôi nhà sàn làm vị trí hội họp nghỉ ngơi của Bác Hồ và Bộ chính trị TƯ Đảng Xung quanh là hệ thống công

sự kiên cố, khu vực này đặt tên là công trường 5(CT 5) Những năm có chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ, nhiều lần Bác và các đồng chí trong Bộ chính trị đã lên làm việc và nghỉ ngơi tại đây.

Sau ngày Bác mất, Đảng và Nhà nước chọn địa điểm K9 là nơi đầu tư trang thiết bị kỹ thuật để gì giữ thi hài Bác.

15/12/1969, công trình gìn giữ thi hài Bác Hồ tại K9 hoàn thành trước thời hạn 10 ngày, để giữ bí mật đổi K9 thành K84 (kết hợp mật danh: K9 + K75 = K84).

23 giờ ngày 23/12/1969, thi hài Bác được di chuyển từ K75A (tức viện quân y 108) vào nơi lưu giữ ở K84 một cách an toàn, đảm bảo kỹ thuật tuyệt đối vào sang ngày 24/12/1969.

III, VỊ TRÍ

Khu di tích Đá Chông nằm trong

hệ thống vùng đất đồi gò huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây có tọa độ địa lý 21 độ 8 vĩ

độ Bắc và 105 độ 19 kinh độ Đông cách trung tâm Hà Nội khoảng gần 50

km theo đường chim bay; có gianh giới với ba xã Thuần Mỹ, Minh Quang, Ba Trại, phía Tây giáp sông Đà, bên kia sông là xã Đồng Luận, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ.

Có độ cao bình quân so với nước biển là 40 m, cá biệt có nơi cao tới 143,6m (đỉnh U Rồng), địa hình bị chia cắt thành nhiều mảnh nhỏ, cao ở phía Bắc và phía Đông, thấp dần về phía Tây và Tây Nam.

Diện tích Đá Chông khoảng 234ha, có hai hồ nước rộng 15ha, chủ yếu là đồi liên hoàn, rừng thông trên trăm năm tuổi và nhiều cây gỗ quý như long não, chò, trám… Địa thế khu vực tuy hiểm trở nhưng giao thông lại thuận lợi vì có thể sử dụng cả đường bộ: cách thị xã Sơn Tây về phía tây khoảng 20km theo quốc lộ 87; đường thuỷ có sông Đà, đường không sẵn một bãi đất phẳng tự nhiên, có thể dùng làm sân bay trực thăng.

IV, CẤU TRÚC CỦA K9 – ĐÁ CHÔNG:

Trang 14

V, MỘT SỐ MỐC THỜI GIAN ĐẶC BIỆT TẠI DI TÍCH K9 – ĐÁ CHÔNG

Năm 1957, Bác Hồ đã lựa chọn để xây dựng khu căn cứ trong kháng chiến chống Mỹ Đầu tháng 3/1961, sau khi lên đây cùng Đại sứ Trung Quốc Hà Vĩ, ngày 13/3, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa bà Đặng Dĩnh Siêu, phu nhân Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai, lúc đó là khách mời của Đại hội phụ nữ Việt Nam lên thăm K9 Bà còn mang theo một cây quất quả tròn giống của Trung Quốc và một cây ngọc lan từ Hà Nội lên trồng kỷ niệm.

Ngày 24/1/1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa G.Ti - Tốp, anh hùng vũ trụ Liên Xô lên thăm và trồng cây hoa vàng kỷ niệm tại K9.

Ngày 20/9/1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng một số đồng chí trong Bộ Chính trị và

Uỷ viên dự khuyết BCT lên K9 họp bàn về công tác phòng không nhân dân

Từ ngày 23/12/1969 đến ngày 03/12/1970, thi hài Bác được cất giữ tại đây Cuối năm

1970 do Mỹ - Ngụy tập kích bằng máy bay trực thăng xuống một vị trí ở gần Sơn Tây nên thi hài Bác được chuyển về Viện quân y 108.

Từ ngày 19/8/1971 tới ngày 11/7/1972, miền Bắc

mưa to liên tiếp 10 ngày, nước song Hồng dâng cao

12m80, có nguy cơ vỡ đê nên thi hài Bác được chuyển

về đây Trong thời gian này ta giữ thi hài Bác dưới tầng

ngầm Việc di chuyển thi hài Bác bắt đầu từ 9 giờ ngày

4/11/1971 đến 14 giờ 55 phút Cuối năm 1972, ta nhận

định có nguy cơ Mỹ dùng B52 ném bom Hà Nội, Hải

Phòng mà K84 nằm trên đường bay từ Thái Lan sang

nên thi hài Bác di chuyển về H21(còn gọi là K2).

Trang 15

Từ ngày 08/02/1973 tới ngày 17/7/1975 sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, thi hài Bác lại được đưa trở lại K84 để bảo quản vì nơi đây có điều kiện kỹ thuật tốt hơn ở K2.

Trang 16

VI, NHỮNG CHIẾC XE ĐÃ PHỤC VỤ VIỆC DI CHUYỂN THI HÀI BÁC

Trong thời gian chiến tranh, sau này ta đã cải tiến và lắp thêm các bộ phận cho xe, để thuận lợi cho năm tháng chiến tranh ZIL 157 của Liên Xô, dùng để di chuyển thi hài Bác giữa Hà Nội - Đá Chông đường trường là 4 lần; chiếc xe thứ 2 là UAZ cứu thương, di chuyển thi hài Bác 3 lần trong nội thành Hà Nội khi Bác mới qua đời và chiếc xe thứ 3 là

xe PAZ lội nước, vừa đi được trên cạn vừa đi dưới nước, khi xuống nước xe nổi lên như xuồng và có 2 chân vịt rẽ nước dễ dàng hơn Hiện nay, cả ba chiếc đều được trưng bày tại khu di tích K9 cùng một chiếc Bác hay dùng để đi lại.

Chiếc xe thứ 3 là xe PAZ lội nước, vừa đi được trên cạn vừa

đi dưới nước, khi xuống nước

xe nổi lên như xuồng và có 2 chân vịt rẽ nước dễ dàng hơn.

Xe ZIL 157 của Liên Xô,

dùng để di chuyển thi hài

Bác giữa Hà Nội - Đá

Chông

Xe UAZ là cứu thương phục

vụ di chuyển thi hài Bác 3 lần.

Trang 17

ĐÌNH CHU QUYẾN

I, GIỚI THIỆU CHUNG

Đình Chu Quyến, còn gọi là đình Chàng,là một ngôi đình cổ, có niên đại thuộc cuối thế kỷ XVII Là ngôi đình tiêu biểu cho kiến trúc gỗ dân gian truyền thống Việt Nam thời

Lê trung hưng (Hậu Lê) Đình Chu Quyến là ngôi đình thuộc làng Châu Chàng ( tên nôm

là làng Chàng) xã Chu Minh huyện Ba Vì, Hà Nội ngày nay Đầu thế kỷ XIX, làng Chàng là xã Châu Chàng (Chu Quyến) tổng Châu Chàng huyện Tiên Phong phủ Quảng Oai , trấn Sơn Tây Đình Chàng làm bằng gỗ lim, thờ Nhã Lang, (tương truyền là con rể Triệu Quang Phục), và là con trai Lý Phật Tử (các nhân vật trong lịch sử Việt Nam thế kỉ VI) Cùng với các ngôi đình khác khá nổi bật về giá trị nghệ thuât kiến trúc, những ngôi đình đều nằm trên vùng đất xứ Đoài như: đình Thổ Tang (Vĩnh Phúc), đình Tây Đằng(Ba

Vì, Hà Nội), đình Thanh Lũng (Ba Vì, Hà Nội), đình Hương Canh (Bình Xuyên, Vĩnh Phúc), , và một loạt các đình với số lượng lớn còn tồn tại đến ngày nay ở vùng xứ Đoài: như đình Tường Phiêu (Thạch Thất, Hà Nội), đình Hoàng Xá, , đình Chu Quyến đã góp phần tạo thành một giá trị phong cách kiến trúc nổi bật ở một xứ nằm phía Tây Thăng

Long, xứng với câu thành ngữ tục ngữ: "Cầu Nam - chùa Bắc - đình Đoài" Đình Chu

Quyến đã được Bộ Văn hóa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xếp hạng di tích lịch sử văn hóa theo quyết định số 313/QĐ ngày 28/04/1962

các rường cụt, và cột cái với nhau là hệ thống xà, vì kèo giá chiêng kiểu chồng rường con nhị (nhị, 二) Trên hệ kết cấu khung gỗ: kẻ bảy, rương cụt, ván nong (ván măng), là những tác phẩm điêu khắc dân gian tinh xảo, miêu tả các cảnh chọi gà, gảy đàn, hát múa dân gian, người cưỡi hổ, cưỡi ngựa, các họa tiết trang trí linh vật như: phượng mẹ và đàn phượng con, rồng là đề tài chủ đạo ở đây và được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau Kết cấu nóc là kiểu 4 mái dốc (hai mái dốc chính và hai mái phụ vuông góc che 2 trái và

Ngày đăng: 10/03/2021, 15:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w