Kết quả nghiên cứu biến đổi đại thể của gà mắc bệnh đầu đen do Histomonas sp.. Kết quả nghiên cứu biến đổi vi thể của gà mắc bệnh đầu đen do Histomonas sp.. Nghiên cứu một số đặc điểm dị
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thị Lan
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017
Trang 2i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Giang
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc PGS TS Nguyễn Thị Lan đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Khoa Thú y - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Phòng thí nghiệm Trọng điểm công nghệ sinh học thú y đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Giang
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới của đề tài 2
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
1.5.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Tình hình nghiên cứu bệnh đầu đen do Histomonas sp gây ra ở trong và ngoài nước 3
2.1.1 Tình hình nghiên cứu bệnh đầu đen do Histomonas sp gây ra ở trong nước 3
2.1.2 Tình hình nghiên cứu bệnh đầu đen do Histomonas sp gây ra ở ngoài nước 4
2.2 Một số thông tin về bệnh đầu đen do Histomonas sp gây ra 5
2.2.1 Một số hiểu biết về Histomonas và Heterakis 5
2.2.2 Đặc điểm dịch tễ của bệnh do Histomonas sp gây ra 10
2.2.3 Đặc điểm bệnh lý của bệnh do Histomonas sp gây ra 14
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 22
3.1 Địa điểm nghiên cứu 22
3.2 Thời gian nghiên cứu 22
3.3 Đối tượng/vật liệu nghiên cứu 22
3.4 Nội dung nghiên cứu 23
3.5 Phương pháp nghiên cứu 23
3.5.1 Phương pháp quan sát triệu chứng lâm sàng 23
3.5.2 Phương pháp mổ khám 23
Trang 53.5.3 Phương pháp làm tiêu bản bệnh lý và quan sát bệnh tích vi thể 25
3.5.4 Phương pháp xét nghiệm một số chỉ tiêu huyết học của gà mắc bệnh đầu đen do Histomonas sp gây ra 26
3.5.5 Phương pháp PCR 27
3.5.6 Xử lý số liệu 29
Phần 4 Kết quả và thảo luận 30
4.1 Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh do Histomonas sp gây ra trên gà thả vườn 30
4.1.1 Kết quả nghiên cứu xác định triệu chứng lâm sàng chủ yếu của bệnh đầu đen do Histomonas sp gây ra trên gà 30
4.1.2 Kết quả nghiên cứu biến đổi đại thể của gà mắc bệnh đầu đen do Histomonas sp gây ra 34
4.1.3 Kết quả nghiên cứu biến đổi vi thể của gà mắc bệnh đầu đen do Histomonas sp gây ra 38
4.1.4 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh đầu đen do Histomonas sp gây ra trên gà thả vườn 43
4.1.5 Kết quả xác định một số chỉ tiêu huyết học của gà mắc bệnh đầu đen do Histomonas sp gây ra 48
4.2 Ứng dụng kỹ thuật PCR trong chẩn đoán gà mắc đầu đen do Histomonas sp gây ra 51
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Kiến nghị 55
Danh mục các công trình công bố 55
Tài liệu tham khảo 57
Trang 6HE Haematoxilin – Eosin (HE)
HGB Hemoglobin
LDH Lactic Dehydrogenase
PCR Polymereasa Chain Reaction
RBC Red Bood Cells (Hồng cầu)
rRNA Ribonucleic Acid
TBE Đệm Tris – borate - EDTA
USD United Stated dollar (Đô la Mỹ)
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Một số triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen do Histomonas
sp gây ra 31 Bảng 4.2 Biến đổi đại thể các cơ quan của gà mắc bệnh đầu đen do Histomonas
sp gây ra 34 Bảng 4.3 Tần số biến đổi của gan và manh tràng của gà mắc bệnh đầu đen do
Histomonas sp gây ra 34 Bảng 4.4 Biến đổi vi thể các cơ quan gà mắc bệnh đầu đen do Histomonas sp
gây ra 39 Bảng 4.5 Tỷ lệ gà mắc bệnh đầu đen do Histomonas sp gây ra theo địa phương
nghiên cứu 43 Bảng 4.6 Tỷ lệ gà mắc bệnh đầu đen do Histomonas sp gây ra theo nhóm tuổi 45 Bảng 4.7 Tỷ lệ gà mắc bệnh đầu đen do Histomonas sp gây ra theo mùa vụ 46 Bảng 4.8 Một số chỉ tiêu hệ hồng cầu của gà mắc bệnh đầu đen do Histomonas
sp gây ra 49 Bảng 4.9 Kết quả nghiên cứu chỉ tiêu bạch cầu của gà 50 Bảng 4.10 Kết quả chẩn đoán bằng phản ứng PCR 52
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Gà bệnh ủ rũ, mào nhợt nhạt 33
Hình 4.2 Gà chết do Histomonas sp gây ra 33
Hình 4.3 Phân màu vàng xanh 33
Hình 4.4 Phân vàng, nhầy, lẫn máu 33
Hình 4.5 Phân nhầy, đục như nước vo gạo 33
Hình 4.6 Xác gà bệnh gầy 33
Hình 4.7 Hoại tử bã đậu trên gan và manh tràng 37
Hình 4.8 Gan sưng to, có các ổ hoại tử trên bề mặt 37
Hình 4.9 Các ổ hoại tử trên gan tạo thành các u, cục 37
Hình 4.10 Hoại tử bã đậu trên bề mặt gan 37
Hình 4.11 Gan có các ổ hoại tử lớn hình hoa cúc 37
Hình 4.12 Gan và manh tràng sưng to, hoại tử 37
Hình 4.13 Ruột xuất huyết 38
Hình 4.14 Lách sưng to, xuất huyết 38
Hình 4.15 Niêm mạc manh tràng bị viêm loét 38
Hình 4.16 Manh tràng chứa hoại tử bã đậu rắn chắc 38
Hình 4.17 Noãn nang ở lớp hạ niêm mạc của manh tràng, bao quanh là bạch cầu ái toan (HE.10X) 41
Hình 4.18 Noãn nang ở lớp hạ niêm mạc của manh tràng, bao quanh là bạch cầu ái toan (HE 20X) 41
Hình 4.19 Thâm nhiễm tế bào viêm ở thành ruột (HE.40X) 41
Hình 4.20 Noãn nang tràn ngập trongống ruột (HE.20X) 41
Hình 4.21 Manh tràng chứa nhiều noãn nang (HE.20X) 41
Hình 4.22 Noãn nang trong chất chứacủa manh tràng bị sưng to (HE.20X) 41
Hình 4.23 Thâm nhiễm bạch cầu ái toan ở ruột (HE.10X) 42
Hình 4.24 Thâm nhiễm bạch cầu ái toanở ruột (HE.20X) 42
Hình 4.25 Lẫn trong đám hoại tử bã đậu màu hồng là các noãn nang của Histomonas (HE.10X) 42
Hình 4.26 Noãn nang ở lớp hạ niêm mạccủa manh tràng, bao quanh là bạch cầu ái toan (HE.40X) 42
Hình 4.27 Noãn nang của Histomonas ở gan (HE.40X) 42
Hình 4.28 Noãn nang của Histomonasở manh tràng (HE.40X) 42
Hình 4.29 Kết quả điện di sản phẩm phản ứng PCR 52
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Thị Giang
Tên Luận văn: Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh đầu đen do Histomonas
sp gây ra trên gà thả vườn và ứng dụng kỹ thuật PCR trong chẩn đoán bệnh
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
Làm rõ đặc điểm bệnh lý của bệnh đầu đen trên gà do Histomonas sp gây ra Ứng dụng được kỹ thuật PCR trong chẩn đoán bệnh Kết quả của nghiên cứu này đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng mô hình phòng chống bệnh thích hợp, hạn chế dịch bệnh lây lan và giảm thiệt hại cho người chăn nuôi
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh đầu đen do Histomonas sp gây ra trên gà thả vườn Nghiên cứu chẩn đoán bệnh dầu đen bằng kỹ thuật PCR Gà bị bệnh đầu đen tại ổ dịch ở các trại chăn nuôi gà thả vườn tại Tân Yên- Bắc Giang và Khoái Châu- Hưng Yên Bể ổn nhiệt, máy đúc chuyển mẫu tự động, máy cắt tổ chức Microtom, máy làm khô tiêu bản, kính hiển vi quang học, máy xét nghiệm huyết học tự động CELL-DYN 3700, kít tách chiết DNA tổng số, cặp mồi (HIS5F, HIS5R), kít phản ứng PCR Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý của bệnh đầu đen bằng các phương pháp thường quy như: phương pháp khám lâm sàng; phương pháp mổ khám, quan sát bệnh tích đại thể; phương pháp làm tiêu bản vi thể và quan sát bệnh tích trên tiêu bản; phương pháp xét nghiệm các chỉ tiêu huyết học, xử lý thống kê sinh học bằng phần mềm Excel và phần mềm Minitab Nghiên cứu chẩn đoán bệnh bằng kỹ thuật PCR Kết quả chính và kết luận
Tình hình mắc bệnh đầu đen do Histomonas sp gây ra trên thả vườn tại huyện Tân Yên- Bắc Giang và huyện Khoái Châu, Hưng Yên như sau: Tỷ lệ nhiễm trung bình
2 vùng nghiên cứu là 12,56% Tỷ lệ gà mắc bệnh ở tỉnh Bắc Giang: 15,09%; Hưng Yên: 10,34% Gà dưới 1 tháng tuổi tỷ lệ mắc là 3,59% Gà từ 1 đến 2 tháng tuổi mắc bệnh với tỷ lệ là 11,17% Gà từ 3 đến 4 tháng mắc bệnh cao nhất, tỷ lệ mắc là 20,47% Tỷ lệ
gà trên 4 tháng tuổi mắc bệnh là 14,09%, tỷ lệ mắc có xu hướng giảm Gà nuôi trong mùa xuân có tỷ lệ mắc cao nhất: 19,72%, thứ đến là mùa hè: 15,38%, mùa thu: 8,95%
và thấp nhất là gà nuôi trong mùa đông là 5,91%
Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của gà mắc bệnh đầu đen như sau: Bệnh xảy ra đột ngột: Gà kém vận động, ủ rũ (94,29%); sốt cao trên 42,50C (84,76%); giảm ăn, gầy,
Trang 10Bệnh tích vi thể chủ yếu: Xuất hiện nhiều ổ viêm, hoại tử ở gan và manh tràng Tế bào gan thoái hoá, hoại tử do sự xâm nhập của Histomonas sp., ở gan hình thành những
ổ bệnh do Histomonas xâm nhập Thấy có các noãn nang của Histomonas ở gan Manh tràng: Noãn nang tràn ngập ở hạ niêm mạc sát với cơ niêm Noãn nang còn tràn ngập trong chất chứa của manh tràng Bạch cầu ái toan thâm nhập ở hạ niêm mạc ruột
Số lượng hồng cầu, hàm lượng hemoglobin, tỷ khối hồng cầu ở gà bệnh đều giảm
so với gà khỏe Số lượng bạch cầu, tỷ lệ bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu ái toan tăng lên rõ rệt so với gà khỏe
Quy trình PCR đã thiết lập có tính ổn định và độ tin cậy cao cho phép chẩn đoán nhanh và chính xác gà mắc bệnh đầu đen
Trang 11THESIS ABSTRACT
Author: Nguyen Thi Giang
Thesis Title: Study on pathological characteristics and application of PCR techique to diagnosis blackhead disease caused by Histomonas sp
Major: Veterinary Medicine
Training Institution: Vietnam National University of Agriculture
Research Methods
The pathological characteristics of Histomonosis in backyard chikens was performed in this study Study on hematology was conducted on infected chickens Infected chickens were collected from outbreak farms at Tan Yen district, Bac Giang province and Khoai Chau district, Hung Yen provinces The following machine and equipment were used for the experiments: water batch, automatic parafin and embeding system, microtom, dried slyer, light microscope, Hamatology Analyzer CELL-DYN 3700, etc The following materials are used in this study: DNA extraction kit, PCR Premix, primers (based on 18S rRNA gene), PBS, ,etc The pathological characteristics
of histomonisis in backyard chikens were evaluated by clinical symtoms, clinical pathologic findings, autopsy, the macroscopic and microscopic pathology of lesions, and blood physiology These datas were analyzed by statistical methods as Excel and Minitab softwares
Main results and conclusion
The most common clinical symtoms of Histomonosis were observed in all infected backyard chickens at Tan Yen district, Bac Giang province and Khoai Chau district, Hung Yen province The infection rate of Histomonas sp in Bac Giang province was 15,09 percent, Hung yen province was 10,34 percent Chicken at different ages had different infection rates The infection rate of Histomonas sp in 1-2 month old chickens was 11,17 percent; in 3 – 4 month old chickens was 20,47 percent in more than 4 month old chickens was 14,09 percent, less than a month chickens was 3,59
Trang 12percent The highest infection rate of Histomonas sp among animals was 19,72 percent
in spring, the infection rate in summer; autumn and winter, 15,37; 8,95 and 5,91 percent respectively
These include the refusal of eat or drink, ruffled feathers (94,29percent), high fever (84,76 percent), general weakening and pale looking, and head drawn in (87,62%), black head and crest (66,67 percent), diarrea (68,57 percent); wing and leg paralysis (20,95 percent); gross finding showed
The gross finding showed that the pathological lesions associated with Histomonosis were found in 82,86 percent of the chicken livers, 88,57 percent of the chicken caeca The livers were swollen two – three times, surface of liver appeared gangrene spots as “chrysanthemum”, congestion with numerous yellow-green necrotic foci were noted Additionally the infected chickens has big swollen ceca with the change of color and elasticity, severe caecal granuloma, necrotic inflammation, hemorrhage, and content in caeca lumen Spleen and gallbladder of infected chickens were also found to be enlarged, and some of chickens had peritonitis In severely infected chickens, pathological change of the liver and caeca was 80 percent
Microscopic finding lesson showed massive multifocal necrosis and haemorrhages in the liver, moderate infiltration of mononuclear cells and multiple flagellated forms of the trophozoite dispersed within the organ Notably, oocytes are flooded in the mucosa and the contents of the colon and caeca respectively
Red blood cells, Hb and hemoglobin contents in infected chickens were found to
be decreased compared to healthy chicken Whereas, white blood cell, neutrophil counts, and eosinophilia in infected chicken were increased markedly compared to healthy chickens
In this study, the PCR assay showed efficiency, highly sensitivity and reliable method that allows rapid detection and accurate diagnosis of Hisomonas sp infection in chickens
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Chăn nuôi gà là một nghề truyền thống từ lâu đời của người dân Việt Nam
Gà là một trong những nguồn thực phẩm chính hàng ngày cho con người, gà vừa cung cấp thịt vừa cung cấp trứng Thịt gà rất thơm ngon, dễ chế biến, phù hợp với nhịp sống bận rộn thời công nghiệp nên rất được ưa chuộng
Ở nước ta, cùng với sự đi lên của ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng, mức độ phát triển chăn nuôi ngày càng tăng, số lượng gia cầm ngày càng nhiều (tính đến tháng 10/2015 đàn gia cầm nước ta đạt tới 260 triệu con), mật độ chăn nuôi ngày càng lớn nên môi trường ngày càng ô nhiễm, làm nhiều loại hình dịch bệnh mới xuất hiện, đặc biệt là khi chăm sóc, vệ sinh, quản
lý kém càng tạo điều kiện thuận lợi cho dịch bệnh phát triển, làm thiệt hại nhiều
về kinh tế cho người chăn nuôi Bệnh Histomonosis là một bệnh ký sinh trùng truyền mắc nguy hiểm ở gà và gà Tây do một loại đơn bào Histomonas sp gây
ra Bệnh đã xảy ra ở một số tỉnh phía Bắc như Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Hưng Yên,
Hà Nội, Hải Dương và một số tỉnh phía Nam như Phú Yên, Khánh Hòa, Đồng Nai Bệnh làm gà chết không ồ ạt nhưng tỷ lệ gà chết trên tổng đàn qua các kỳ nuôi tới 30- 50%, gây thiệt hại đáng kể cho người chăn nuôi Bệnh Histomonosis
là bệnh mới nên khi bệnh xảy ra làm cho các cán bộ kỹ thuật và người chăn nuôi
gà lúng túng trong chẩn đoán và phòng chống bệnh Bệnh có những bệnh tích đặc trưng: Viêm hoại tử ở manh tràng và gan, thể trạng xấu, da vùng đầu và mào tích thâm đen
Bệnh do Histomonas sp gây ra là một bệnh ký sinh trùng nguy hiểm của các loài gia cầm đặc biệt là gà và gà tây Bệnh có những bệnh tích song hành và đặc trưng ở ruột và gan, nó gây ra những biến đổi đặc trưng tạo kén ở manh tràng
và có tính lây lan nhanh Các ổ viêm loét của manh tràng và gan đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho nhiều loại vi khuẩn gây bệnh mắc bệnh thứ phát khác, khiến cho gà kiệt sức và chết rất nhanh Người làm công tác chăn nuôi và thú y gia cầm
ở nước ta chưa có điều kiện để tiếp xúc hiểu biết một cách đầy đủ về bản chất bệnh Histomonosis Vì vậy việc hiểu biết bệnh đầu đen do Histomonas sp gây ra, chẩn đoán nhanh và chính xác bệnh để có biện pháp phòng chống bệnh có hiệu quả là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay
Trang 142
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Nghiên cứu thực hiện nhằm xác định được đặc điểm bệnh lý chủ yếu và ứng dụng kỹ thuật PCR trong chẩn đoán bệnh đầu đen trên gà thả vườn Kết quả nghiên cứu giúp giảm thiệt hại do bệnh gây ra
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu là gà Lương Phượng, gà Ri, gà lai Mía mắc bệnh đầu đen do Histomonas sp gây ra lấy tại ổ dịch ở các hộ chăn nuôi gà thả vườn tại huyện Tân Yên, Bắc Giang và huyện Khoái Châu - Hưng Yên
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 8/2016 tới tháng 6/2017
- Địa điểm nghiên cứu:
+ Phòng thí nghiệm Trọng điểm công nghệ sinh học thú y, Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
+ Bộ môn Bệnh lý, Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Kết quả nghiên cứu là công trình nghiên cứu có hệ thống về bệnh lý học của bệnh đầu đen do Histomonas sp gây ra trên gà tại Tân Yên- Bắc Giang và Khoái Châu - Hưng Yên và áp dụng kỹ thuật PCR nhằm chẩn đoán nhanh và chính xác bệnh
1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Từ đó, đưa ra những biện pháp phòng, trị bệnh kịp thời và hiệu quả, giảm thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi
Trang 15PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH ĐẦU ĐEN DO Histomonas sp GÂY
RA Ở TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.1.1 Tình hình nghiên cứu bệnh đầu đen do Histomonas sp gây ra ở trong nước
Tại Việt Nam bệnh đầu đen trên gà do Histomonas meleagridis mới xuất hiện trong vài năm gần đây và chưa có nhiều các công trình nghiên cứu được công bố
Vào tháng 3 năm 2010, bệnh dầu đen do Histomonas sp gây ra được phát hiện tại Yên Thế - Bắc Giang (Lê Văn Năm, 2010) Bệnh gây thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi, làm ảnh hưởng đến đời sống xã hội của đại bộ phận không nhỏ người dân chăn nuôi gà thả vườn tại các tỉnh phía Bắc Tác giả cũng cho rằng bệnh thường xảy ra ở các trang trại chăn nuôi gà thịt đang bị ô nhiễm nặng với giun kim mà nó được biết đến như một vectơ sinh học truyền bệnh hoặc các trang trại chăn nuôi gà ta và gà tây
Năm 2011, bệnh đầu đen do Histomonas sp xuất hiện ở đàn gà nuôi thả vườn ở một số tỉnh trung du đặc biệt là huyện Yên Thế - Bắc Giang Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Hòa (2011), gà thả vườn mắc bệnh Histomonosis với tỷ lệ mắc bệnh tại các gia trại dao động từ 54,66% - 61,17%, tỷ lệ gà chết dao động từ 48,94% - 56,75% Năm 2014, theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Tân và cs (2014), tại Phú Yên, Khánh Hòa, Đồng Nai gà nuôi thả vườn với tỷ lệ mắc bệnh tại các gia trại dao động từ 17,50% - 22,58% Các giống gà Ri, gà Lương Phượng, gà Mía, gà Tam Hoàng, gà Logor đều mắc bệnh Gà mắc bệnh thường biểu hiện: gà sốt cao
43 đến 440C, nhưng lại cảm thấy rét nên đứng im, rụt cổ, dạng rộng chân, mắt nhắm nghiền, xù lông và run rẩy Nhiều gà dấu đầu vào nách cánh, tìm chỗ đứng
có ánh sáng mặt trời hoặc dưới bóng điện để sưởi, giảm ăn, uống nước nhiều, tiêu chảy phân loãng vàng trắng hoặc vàng xanh Mào thâm tím, da mép và da vùng đầu xanh xám thậm chí xanh đen Bệnh kéo dài 10 -25 ngày nên gà rất gầy Trước khi chết thân nhiệt gà giảm xuống tới 38 -390C Gà bệnh chết rải rác và thường chết về ban đêm, mức độ chết không ồ ạt nhưng sự chết kéo dài lê thê, gây cho người chăn nuôi cảm giác lúc đầu bệnh không nguy hiểm lắm Thực chất cuối cùng gà chết đến 45 - 50% Bệnh tích đại thể tập trung ở gan, manh tràng và một
số cơ quan khác Giai đoạn đầu có nhiều điểm xuất huyết tạo nên hình rất giống
Trang 164
hoa cúc, về sau gan có nhiều u cục màu trắng xám U cục nổi rõ trên mặt gan rất giống bệnh tích của lao ở gia cầm và giống bệnh Leucosis hoặc Marek Các u cục chính là các ổ apse ở gà bệnh Gan sưng to, các ổ bệnh chìm sâu trong tổ chức gan hoặc gan đổi màu, có các ổ bệnh to nhỏ màu trắng xám, mang tràng bị viêm sưng, manh tràng bị sưng to Trong chất chứa có lẫn máu nhớt như máu cá hoặc màu nâu
đỏ hoặc tạo thành kén rắn màu trắng Với bệnh tích vi thể, quan sát được dưới kính hiển vi các tế bào gan thoái hóa, hoại tử, thấy các noãn nang của Histomonas ở gan Noãn nang tràn ngập ở hạ niêm mạc sát với cơ niêm, noãn nang tràn ngập trong chất chứa của manh tràng
2.1.2 Tình hình nghiên cứu bệnh đầu đen do Histomonas sp gây ra ở ngoài nước
Trên thế giới bệnh do Histomonas sp gây ra được phát hiện 1893 ở Rhode Island sau đó bệnh được báo cáo ở khắp lục địa và nhiều nước khác Những người nông dân địa phương căn cứ vào triệu chứng đặc biệt đã quan sát được ở vùng đầu của gà tây mắc bệnh: mào thâm tím, da mép và da vùng đầu xanh xám, thậm chí xanh đen nên gọi tên bệnh là bệnh “đầu đen” Khi gà tây mắc bệnh thì gan và manh tràng là 2 cơ quan bị tổn thương nặng nề nhất Tác giả đã lấy bệnh phẩm là 2
cơ quan này để nghiên cứu và xác định được nguyên nhân gây bệnh là một sinh vật đơn bào (Amoeba meleagridis), từ đó bệnh đã được đặt tên là bệnh viêm hoại
tử truyền mắc gan ruột
Đơn bào Histomonas sp được Tyzzer đặt tên vào năm 1920 Tác giả cũng lần đầu tiên mô tả về một hiện tượng bệnh ở gà tây do một loại đơn bào gây ra với những biểu hiện bất thường ở da vùng đầu có màu xanh tím sau đó nhanh chóng trở nên thâm đen và ông đã đặt tên là bệnh đầu đen (Black Head) Bệnh nhanh chóng được các tác giả khác quan sát thấy ở Bắc Mỹ, Tây Âu và hàng loạt nước khác ở Nam Mỹ, Nhật Bản
Sau những phát hiện đầu tiên ở Rhode Island, bệnh Histomonosis nhanh chóng lây lan trên đàn gà tây khắp nước Mỹ và gây thiệt hại nhiều nhất trong số các bệnh gặp trên gà tây Ở Châu Âu, dịch Histomonosis cũng xuất hiện và đã được báo cáo ở Áo (Hess et al., 2006), Hà Lan (van der Heijden, 2009), Bỉ (Bleyen et al., 2007) và Anh (Burch et al., 2007) Ngày nay, Histomonosis là bệnh phổ biến trên toàn thế giới
Các nhà nghiên cứu cho rằng gà mắc bệnh từ phôi trứng của giun kim hoặc
ăn phải giun đất đã mang ấu trùng của giun kim Bệnh này hầu hết các loại gà đều
Trang 17mẫn cảm đặc biệt là gà tây và gà giò ít thấy ở gà lớn > 5 - 6tháng tuổi Ổ dịch Histomonosis mới trên đàn gà tây, tỷ lệ chết 25 - 75% đã được báo cáo ở California vào năm 2002 (Shivaprasad et al., 2002)
Ở Đông Âu, Histomonosis có mặt ở Bungari vào năm 1950 Ngày nay bệnh
có mặt trên khắp các châu lục, nhất là ở các nước có ngành chăn nuôi gà tây và gà
ta theo lối tập trung chăn thả
Ở Đức, theo nghiên cứu của Aka Johannes et al (2010): Histomonosis là một căn bệnh nghiêm trọng gây ra bởi ký sinh trùng đơn bào Histomonas sp., có thể dẫn đến tổn thất cao ở gà tây Báo cáo này mô tả sự tái diễn của Histomonois trong một trang trại chăn nuôi gà tây Các ổ dịch đầu tiên xảy ở gà ra vào năm
2005 khi gà đạt 17 tuần tuổi Ổ dịch thứ 2 xảy ra năm 2009 khi gà 8 tuần tuổi Tỷ
lệ tử vong tăng đến 26 – 65% trong vòng vài ngày mặc dù điều trị với các hợp chất khác nhau Trong cả hai trường hợp Histomonas meleagridis thuộc kiểu gen A đã được phát hiện nhưng chưa phát hiện được nguồn lây mắc rõ ràng
Từ tháng 4 năm 2003 đến tháng 3 năm 2005, ở Pháp xuất hiện 113 ổ dịch Histomonosis trên gà tây, trong đó 15 ổ dịch là các trang trại gà giống (Callait et al., 2007) Năm 2009 có sự bùng nổ của dịch Histomonsis ở gà tây 9 đến 11 tuần tuổi với tỷ lệ tử vong 24 - 68% (AbdulRahman and Hafez, 2009)
Theo nghiên cứu của Fadly and Nair (2008), gia cầm mắc bệnh tỷ lệ tử vong cao chủ yếu là do tổn thương ở gan Tỷ lệ tử vong cao từ ngày thứ 14 sau khi thể hiện triệu chứng lâm sàng
Trong trường hợp không được điều trị, hơn 90% số gia cầm bị bệnh có thể chết, số sống sót sẽ còi cọc, chậm lớn (Mazet, 2007)
Cũng giống như gà tây, gà nhà dễ mắc bệnh, nhưng khả năng gây bệnh cho
gà nhà thấp hơn so cho gà tây Tỷ lệ tử vong ở gà là 10% trong khi con số này ở gà tây có thể đạt 80 đến 100%
2.2 MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ BỆNH ĐẦU ĐEN DO HISTOMONAS SP GÂY RA
2.2.1 Một số hiểu biết về Histomonas và Heterakis
2.2.1.1 Đặc tính sinh học Histononas meleagridis
Nhân tố gây bệnh Histononas meleagridis lần đầu tiên được mô tả dưới cái tên Amoeba meleagridis, tuy nhiên sự phát hiện các đặc tính trùng roi hướng cho
Trang 186
Tyzzer đặt tên lại là động vật nguyên sinh Histomonas meleagridis, các nguyên nhân gây bệnh lớn hơn 17µm, trùng roi được tìm thấy được đặt tên như một loài riêng rẽ Histomonas wenrichi
Histomonas meleagridis là một loại đơn bào đa hình thái: Hình trùng roi (4 roi), hình Amip và hình lưới Histomonas với hình Amip có kích thước 8 -30µm, thể hình roi thì Histomonas có kích thước từ 20 -30 µm, bé nhất khi Histomonas ở hình lưới 5 -10 µm Trong các dạng hình thái thì hình roi là phổ biến nhất và dễ nhận biết nhất bởi chúng có 2 nhân (1 nhân to và 1 nhân nhỏ) từ nhân to mọc ra 4 cái roi và tồn tại ở các giai đoạn khác biệt: 1, Các loại ký sinh trong giai đoạn
“nắm giữ’’ tại các khu vực ngoại biên các thương tổn kích cỡ 8 – 17 µm, di động kiểu amíp và xuất hiện hình thành các cuống giả; 2, Rộng hơn (12 – 21 µm), giai đoạn “sinh dưỡng’’ được bó vào các cụm không bào để tạo thành mô; 3, giai đoạn thứ 3 thể hiện trong các thương tổn tăng bạch cầu và nhỏ hơn hoặc trong các hình thức tái tạo lại Histomonas chuyển động theo hai phương thức xoắn vặn hoặc theo kiểu làn sóng (impuls)
Chu trình sinh học phát triển của Histomonas meleagridis như sau: Trong
mô tổ chức của ký chủ (gà ta và gà tây), Histomonas sinh sản theo phương thức tự nhân đôi trong tế bào gan, ruột thừa và sinh sản mạnh nhất ở giai đoạn thể lưới (Incistio) Tuy nhiên làm thế nào để Histomonas meleagridis thâm nhập ký sinh vào trong trứng giun kim và tiếp tục phát triển trong đó thì chưa được nghiên cứu
kỹ và chưa có giải pháp thoả đáng về cơ chế này
Khi ra khỏi ký chủ thể hình roi và thể Amip chúng chỉ sống được 24 giờ, trong khi đó ở thể lưới chúng có thể tồn tại hàng năm trong các trứng của giun kim Heterakis theo phân gà thải ra ngoài Điều kiện khô ráo và nhiệt độ thấp giúp cho Histomonas tồn tại lâu trong môi trường tự nhiên ngoài cơ thể Histomonas có thể nuôi cấy ở môi trường nhân tạo, yếm khí
Vòng đời của Histomonas meleagridis:
Sự tồn tại của sinh vật này cùng với giun kim Heterakis gallinarum và một
số loại giun đất thường thấy ở đất nuôi gia súc gia cầm Các nỗ lực sớm hơn để tìm thấy Histomonas trong các trứng giun sán đã không đi đến kết luận nào cho đến khi Gibbs (1962) trình bày một cơ thể nhỏ hơn được tìm thấy trong kính hiển vi Lee (1969) đã quan sát các loại hình nhỏ 3µm bằng vi sao chép và Histomonas được phát triển từ trứng Heterakis trong in vitro
Trang 19Histomonas sp được phát hiện ở các tế bào biểu mô trong ruột các cá thể còn rất bé hoặc những con giun mới nở Cơ chế lây nhiễm Histomonas sp khi còn trong trứng vẫn chưa được xác định Người ta đã phát hiện ra rằng những con giun đực nhỏ được lấy ra từ gà đều chứa Histomonas sp còn sống Giun cái
ít có khả năng truyền Histomonas sp hơn cho tới khi trứng Heterakis trưởng thành thì mới có khả năng truyền được Những con giun cái có thể bị mắc Histomonas trong khi giao hợp và làm cho các sinh vật đơn bào vào trong trứng trước khi hình thành lớp vỏ
Những con giun đất đóng vai trò vận chuyển trứng Heterakis khi nở ra, những con giun nhỏ tồn tại ở các mô của giun đất Do đó, giun đất là một thực thể
để thu gom và tập trung trứng Heterakis từ môi trường sân chơi hoặc nuôi gà Ở vùng mà kiểu khí hậu và loại đất tạo điều kiện cho sự sinh trưởng Heterakis và giun đất, cần chú trọng đến những con giun đất nhằm kiểm soát bệnh Histomonosis tái diễn đều đặn theo chu kỳ
Việc truyền Histomonas sp từ giun đất sang loài chim trĩ có khoang cổ đã được chứng minh là nguyên nhân chính trong đợt bùng nổ Histomonosis ở gà gô, chim trĩ ở trại chăn nuôi gia cầm tại miền trung Iowa – Hoa Kỳ
Mặc dù gà tây có thể bị mắc trực tiếp do ăn phải Histomonas sống trong phân thú, nhưng do Histomonas sp khó tồn tại ngoài môi trường nên trường hợp này khó xảy ra Histomonas sp không thể tồn tại bên ngoài cơ thể vật chủ quá một vài phút nếu không được trứng Heterakis hoặc giun đất bảo vệ
2.2.1.2 Heterakis gallinarum
a Hình thái
Thường do 2 loài Hetarakis gallinae và Heterakis beramporia thuộc họ Heterakiadae ký sinh ở manh tràng, có khi ở ruột non ở gà, gà Tây rất phổ biến ở loài chim và còn thấy ở các loài thủy cầm Giun màu vàng nhạt, đầu có 3 môi (1 môi ở lưng và 2 môi ở bụng), túi miệng hình ống Phần sau thực quản phình to thành hình cầu giống hình củ hành, chiều dài 0,27 – 0,33 mm, rộng 0,15 – 0.24mm Giun đực dài 5,841 – 11,145 mm, chỗ rộng nhất 0,271 – 0,398 mm Đuôi nhọn hình chiếc kim Phía trước cách hậu môn 0,148 – 0,156 mm có một giác hút hơi tròn, đường kính 0,07 – 0,082 mm Có gai chồi xếp thành từng đôi ở hai bên giác hút và ở vào sau Có 2 gai giao hợp Gai phải phải dài gấp 3 lần gai trái; phía
Trang 20mm Âm đạo uốn khúc cong, bắt đầu từ âm hộ rồi vòng về phía sau, sau đó chuyển
về phía trước cuối cùng lại vòng về phía sau Lỗ bài tiết cách đầu 0,47mm
Trứng hình bầu dục, có 2 lớp vỏ, một đầu trong suốt, tế bào trứng có hạt lấm tấm, màu xám, dài 0,05 – 0,07 mm, rộng 0,03 – 0,039 mm
b Vòng đời
Giun cái đẻ trứng theo phân ra ngoài, chưa có sức gây bệnh, gặp điều kiện thích hợp: nhiệt độ 18 – 260C, độ ẩm thích hợp, sau 7 – 12 ngày thì thành thục và thành trứng có ấu trùng gây mắc Gà nuốt phải trứng này, sau 1 – 2h ấu trùng chui
ra khỏi vỏ trứng, sau 24h tới manh tràng và phát triển thành giun trưởng thành Có tác giả cho rằng, ở ruột non ấu trùng chui ra khỏi vỏ trứng, trước hết chui vào thành manh tràng, ở đó khoảng 5 ngày rồi lại trở về xoang manh tràng, tiếp tục phát triển thành giun trưởng thành mất 24 ngày Tuổi thọ của giun khoảng 1 năm (Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996)
Theo Trần Xuân Hạnh (2002), viết về vòng đời của Heterakis gallinarum như sau:
Trứng Heterakis gallinarum bài xuất cùng với phân ra ngoài, trứng phát triển đến giai đoạn cảm mắc ở môi trường bên ngoài trong thời gian từ 6 – 17 ngày, hoặc hơn nữa, tuỳ thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm Sự phát triển của trứng Heterakis gallinarum đến giai đoạn cảm mắc ở nhiệt độ 30 – 770C trong vòng 6 –
7 ngày, ở nhiệt độ 20 – 270C từ 10 – 15 ngày và 10 – 150C là 72 ngày
Ấu trùng lột xác trong trứng một lần, sau đó trứng nở thành ấu trùng cảm mắc Mùa đông trứng không phát triển Nhưng vẫn duy trì khả năng sống Đến mùa xuân, thời tiết ấm áp, trứng sống được qua mùa đông lại phát triển thành trứng cảm mắc và có thể là nguồn gây bệnh
Gà và gà tây mắc bệnh này là do ăn phải trứng cảm nhiễm Heterakis gallinarum Sau 1 – 2 giờ xâm nhập vào đường tiêu hoá, ấu trùng nở ra khỏi trứng xuống manh tràng Ở manh tràng, ấu trùng chui vào thành ruột, nhưng từ 5 – 7 ngày
Trang 21sau, chúng lại trở lại ruột Thời gian phát triển của chúng đến giai đoạn trưởng thành trong cơ thể từ 25 – 34 ngày, nhưng thời gian sống thì không quá 1 năm
* Cơ chế sinh bệnh
Giun kích thích niêm mạc gây tụ huyết, ngoài ra còn chiếm đoạt dinh dưỡng của gà làm con vật gầy yếu, gà con chậm lớn Trong quá trình kí sinh, chúng tiết độc tố và sản vật khác nên gà bị trúng độc và dễ mắc bệnh viêm gan ruột do loại đơn bào Histomonas sp xâm nhập vào trứng giun kim, gà ăn phải trứng này thì phát bệnh
Mổ khám tìm giun kim ở manh tràng
Trang 2210
Gà con từ 1 – 3 tháng tuổi bị mắc Heterakis sẽ viêm manh tràng nhiều hơn
ở gà lớn Mức độ thể hiện những biến đổi bệnh tích trong niêm mạc ruột phụ thuộc vào số lượng Heterakis ký sinh
Độc lực của Heterakis khi gà mắc bệnh nặng đưa đến tăng bạch cầu ưa eozin, sung huyết gan và có hiện tượng ứ huyết
* Dịch tễ học
Sự phát triển của ấu trùng trong trứng giun H gallinarum đến giai đoạn cảm mắc phụ thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm trong tự nhiên, có thể kéo dài từ 6 – 7 ngày trong mùa hè, đến 15 – 72 ngày trong mùa thu và mùa đông (10 – 150C)
Bệnh ở gà con nặng hơn gà trưởng thành Bệnh lây lan chủ yếu do ăn uống:
gà ăn phải trứng cảm mắc sẽ mắc bệnh trong thời gian 25 – 34 ngày
2.2.2 Đặc điểm dịch tễ của bệnh do Histomonas sp gây ra
2.2.2.1 Đường truyền lây
Bệnh lây qua thức ăn, nước uống đã bị mắc trứng giun bên trong có chứa Histomonas sp
Khi gia cầm ăn phải trứng giun có chứa Histomonas sp., ở trong đường tiêu hoá, đặc biệt ở ruột non (môi trường kiềm tính), Histomonas sp chui ra khỏi trứng bám vào tế bào ruột, manh tràng rồi tiếp tục di hành theo đường máu, sau đó quay lại ký sinh ở ruột tăng sinh bằng cách phân đôi, tập trung gây bệnh ở manh tràng Mặt khác chúng tiếp tục xâm nhập vào những trứng giun cư trú ở manh tràng và đi
ra ngoài theo phân Những con gia cầm khác ăn phải sẽ tiếp tục phát bệnh
Lây mắc qua giun đất: Khi trứng giun kim ở trong cơ thể gà đã mắc Histomonas sp thải ra ngoài môi trường nền chuồng ở, đất Giun đất ăn phải, rồi
gà lại ăn giun đất thì mầm bệnh cũng được phát ra (trường hợp gà thả vườn bị mắc cao)
Ở một số ổ dịch khác xảy ra trên gà thì người ta không tìm thấy trứng giun
ở ruột, có lẽ còn có một cách truyền bệnh khác mà ta chưa phát hiện ra được
Trong một số ổ dịch, bệnh phát gia tăng nếu như kèm những nguyên nhân tiếp sau:
- Nhiệt độ và độ ẩm cao trong mùa mưa
- Vệ sinh chuồng trại kém hoặc thiếu chất độn chuồng (như trấu lót dưới),
gà mổ đất ăn
Trang 23- Gà ăn chất lót chuồng do thiếu thức ăn, nên bị mắc trứng giun từ chất lót chuồng
- Có bệnh khác kết hợp như mắc một số vi khuẩn gây bệnh đường tiêu hoá như E Coli, Clostridium perfringens…
Theo Hu and McDougald (2003) việc truyền bệnh bên trong của Histomonas sp ở gà Tây đã được nghiên cứu mà không có sự hiện diện của Heterakis gallinarum 120 dãy chuồng nuôi gà được chuyển lên sàn bê tông lúc 2 tuần tuổi và bắt đầu thí nghiệm Một nhóm không nhận được sự tiếp xúc của Histomonas sp Một nhóm khác được tiêm Histomonas sp và được nhốt ở khu vực riêng biệt Ngày thứ 10-18 khi xét nghiệm những gà bị mắc cho thấy tổn thương gan và manh tràng là điển hình với Histomonosis Gia cầm ở nhóm tiếp xúc cao chết vì Histomonosis vào ngày thứ 16 và tử vong 100% vào ngày thứ 23 Gà ở nhóm tiếp xúc thấp chết vào ngày thứ 19 và tiếp tục chết vào ngày thứ 31 Tất cả những gà sống đến ngày thứ 31 thì gan và manh tràng đã bị tổn thương nặng với Histomonosis Không có bằng chứng của Histomonosis trong các loài gà chưa bị phơi nhiễm Không tìm thấy Heterakis gallinarum khi xét nghiệm những đàn gà
đã chết Mặc dù Heterakis gallinarum được biết đến như là nguồn cho Histomonas
sp nhưng kết quả này cho thấy rằng việc truyền bên trong của Histomonosis có thể do tiếp xúc một đàn gia cầm mắc bệnh với một đàn gia cầm không mắc bệnh
và phân của chúng hoàn toàn không có trứng của giun sán
Sau khi vào đường tiêu hoá Histomonas sp tấn công vào manh tràng và các
mô của manh tràng Khi bệnh tiến triển manh tràng có mùi hôi và xuất hiện màu vàng Trong lòng của manh tràng chứa một hợp chất lỏng do các tế bào chết và máu Sau đó các vi sinh vật đơn bào theo máu đi vào gan và phá huỷ gan tạo nên các vùng hoại tử (tế bào chết) Đôi khi Histomonas sp tấn công vào các cơ quan khác như thận, phổi, tim và não Histomoniasis giết chết gà và bệnh này thường bị bội nhiễm một số vi khuẩn thứ cấp như E Coli, Clostridium perfringens… gây ra bệnh nhiễm trùng thứ cấp và gây chết nhiều gà hơn (Hu and McDougald, 2003) 2.2.2.2 Sự phát sinh và phát dịch bệnh
- Các vật chủ thí nghiệm và tự nhiên
Một số lượng lớn chim thuộc bộ gà được phát hiện là vật chủ chứa Histomonas sp Gà tây, gà rừng và gà Gô cổ khoang có thể bị bệnh Histomonosis nặng nhất; gà giò, công, gà Nhật, chim cút trắng, và chim trĩ mắc bệnh dạng nhẹ
Trang 2412
hơn Qua thực nghiệm, chim cút Coturnix có thể bị mắc bệnh nhưng loài này là vật chủ rất yếu đối với động vật ký sinh
- Sinh vật truyền bệnh
Vai trò làm sinh vật truyền bệnh cho Histomonas sp của các Heterakis cực
kỳ quan trọng bởi vì chúng đều là các động vật ký sinh ở các loài chim thuộc bộ gà
và chúng bảo vệ Histomonas sp trong trứng của mình trong quá trình truyền từ con chim này sang con chim khác Gà giò, vật chủ không thể hiện rõ đối với cả Heterakis và Histomonas sp, có thể là một sinh vật truyền bệnh chủ yếu Tuy nhiên, với tốc độ sinh trưởng cao của gà giò và các thay đổi trong việc quản lý sản lượng gia cầm và chim lấy thịt, tầm quan trọng của loài này trong việc lan truyền Histomonas sp bị giảm xuống Gà chọi, chim trĩ và chim cút trắng trong tự nhiên cũng có thể là sinh vật truyền bệnh Ngoài ra, giun đất, các động vật chân đốt bao gồm bướm, châu chấu, mọt gỗ và dế có thể là các tác nhân cơ học gây bệnh
- Sự phát bệnh
Bệnh đầu đen xảy ra do Histomonas sp gây ra thấm qua thành ruột, sinh sôi nảy nở, đi vào máu và cuối cùng sống ký sinh ở tế bào gan và trong các tế bào niêm mạc ruột thừa Các dấu hiệu của Histomonosis xuất hịên rõ ràng từ 7-12 ngày và thường xảy ra 11 ngày sau khi mắc bệnh (PI) Thời gian ủ bệnh tương tự theo các cách mắc bệnh tự nhiên, tức là truyền qua trứng Heterakis chứa Histomonas sp Trên thực nghiệm, các thương tổn phát hiện sau khi gà tây được gây mắc qua lỗ huyệt bằng cách cấy Histomonas sp trước khoảng 3 ngày so với mắc bệnh qua trứng Heterakis
2.2.2.3 Đặc điểm dịch tễ
- Mầm bệnh
Về mặt dịch tễ học, Histomonas sp ở thể nguyên vẹn không có vai trò truyền bệnh vì sức đề kháng của chúng rất kém, khi ra khỏi cơ thể vật chủ một thời gian ngắn đã bị chết
Mặc dù mắc bệnh tự nhiên xảy ra ở một số loài gia cầm, nhưng gà tây được coi là vật chủ dễ mắc bệnh nhất Gà con dễ bị mắc bệnh nhưng ở một dạng bệnh nhẹ hơn Một số biến thể dễ lây mắc được phát hiện ở các giống gà khác nhau Gà con từ 4-6 tuần tuổi và gà tây từ 3-12 tuần tuổi có nguy cơ mắc bệnh cao
Hệ vi khuẩn cũng đóng vai trò trong sự phát triển của bệnh Các thương tổn
Trang 25do Histomonosis gây ra ở gà tây đã tạo điều kiện cho Clostridium perfringens và
E Coli phát triển và gây bệnh
Một yếu tố quan trọng để Histomonas sp tồn tại và phát tán mạnh ra môi trường thiên nhiên là do chúng thường ký sinh trong trứng của giun kim Heterakis,
mà khi nuôi gà thương phẩm hoặc làm giống thì hầu như 100% gà bị mắc loại giun này Bởi thế gà ta và gà tây bị mắc Histomonas sp chủ yếu qua đường ăn uống trong đó có trứng giun kim Heterakis gallinae Nói cách khác trứng giun kim là vật ký chủ trung gian và là nguồn bệnh chủ yếu của bệnh
Bệnh thường thấy ở gà tây từ 2 tuần đến 2-3 tháng tuổi, nhưng ở gà ta thì chậm hơn một chút: Từ 3 tuần đến 3 - 4 tháng tuổi Bệnh bùng phát mạnh vào các tháng nóng ẩm: Cuối xuân, hè và hè thu Trong khi đó ở gà lớn tuổi (gà già, gà đẻ) bệnh thường xảy ra cuối thu và mùa đông Bệnh rất ít thấy ở thuỷ cầm và gà hoang
dã, tuy nhiên chúng lại là vật mang trùng phổ biến lây bệnh cho gà ta và gà tây Điều kiện vệ sinh kém, giun đất và côn trùng đều là các yếu tố truyền lây bệnh Bệnh đầu đen xảy ra từ phía Đông đến miền Trung Tây Hoa Kỳ Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường Michigan, dịch nghiêm trọng xảy ra trong mùa mưa, đặc biệt là vào mùa xuân và mùa thu Tại Queensland, Austrailia, bệnh này xảy ra phổ biến hơn ở các loài gà 3 – 4 tuần tuổi vào mùa hè
- Tính chất lưu hành và thời kỳ ủ bệnh
Bệnh do Histomonas sp gây ra thường do dịch lưu hành địa phương Bệnh phát thành dịch còn phải tùy thuộc vào sự tương quan giữa vật chủ và tác nhân gây bệnh Trong điều kiện nhất định phụ thuộc vào vùng địa lý có vật chủ trung gian là giun kim và các loại giun đất khác thì Histomonas sp mới có thể tấn công và gây bệnh Vì vậy thời gian ủ bệnh sẽ khác nhau từ 7 – 12 ngày hoặc
có thể kéo dài vài tháng
Tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc
Trang 2614
Có thể có rất nhiều vật chủ tương ứng với các tác nhân gây bệnh, đồng thời chúng bị ảnh hưởng do cách thức và liều lượng tiếp xúc Ở bệnh tự nhiên, tỉ lệ tử vong thường đạt đỉnh điểm sau 17 ngày và sau đó giảm xuống sau 4 tuần Số gà tây tiếp xúc với khu vực lây mắc có tỉ lệ bệnh là 80% và tỉ lệ tử vong là 70% Qua gây mắc thực nghiệm, tỉ lệ tử vong ở gà tây đã lên tới 100% Mặc dù nhìn chung tỉ
lệ tử vong do Histononas sp ở gà giò thấp, tuy nhiên tỉ lệ tử vong do Histononas
sp trong tự nhiên đã vượt quá 30% Đôi khi người ta phát hiện ra một loại Histononas sp có tính độc hại cao ở gà giò gây chết cao ở gà có tỷ lệ trên 70% 2.2.3 Đặc điểm bệnh lý của bệnh do Histomonas sp gây ra
2.2.3.1 Cơ chế sinh bệnh
Qua đường miệng Histomonas sp nhanh chóng bám vào thành dạ dày và ruột, nhất là đoạn ruột mù (manh tràng) và tại đây chúng bắt đầu sinh sản theo phương thức tự nhân đôi, chỉ trong một thời gian rất ngắn có hàng triệu tế bào niêm mạc dạ dày và manh tràng bị phá huỷ gây ra các ổ viêm loét hoại tử, rồi ngay sau đó là viêm phúc mạc cấp Tuy nhiên trong thực tế rất ít các trường hợp quan sát được các biến đổi ở dạ dày tuyến và dạ dày cơ
Từ các ổ loét của thành manh tràng Histomonas sp theo máu đến ký sinh trong các tế bào gan, tại đây chúng gây ra các ổ viêm hoại tử và phá huỷ cấu trúc cũng như chức năng gan làm cho thể trạng gà nhanh chóng sa sút
Các ổ viêm loét của manh tràng và của gan đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho nhiều loại vi khuẩn gây bệnh mắc trùng thứ phát khác, khiến cho gà kiệt sức và chết rất nhanh
2.2.3.2 Triệu chứng lâm sàng
Theo nghiên cứu của Lê Văn Năm (2010) cho biết:
Thời kỳ ủ bệnh thường kéo dài từ 1 - 4 tuần và phụ thuộc rất nhiều vào nhiễm trùng thứ phát
Bệnh thể hiện ở 2 thể cấp tính và mãn tính, rất ít khi bệnh xảy ra ở thể quá cấp
Trang 27đứng dạng rộng chân, sã cánh, xù lông, bỏ ăn, sốt cao 43 - 44 °C, tiêu chảy phân vàng lẫn bọt, nhưng đôi khi là phân vàng xanh, vàng trắng lẫn máu
Da mép, da vùng đầu, mào, tích nhanh chóng có màu xám xanh rồi chuyển sang xanh đen, nhìn thấy rõ nhất là ở gà tây, từ đây bệnh có tên là bệnh đầu đen (Black Head)
Gần cuối giai đoạn ốm thân nhiệt gà giảm mạnh xuống dưới mức bình thường (39 – 38 °C) Vì vậy cho dù bệnh xảy ra trong các tháng mùa nóng nhưng những gà ốm vẫn tìm những nơi có ánh nắng mặt trời hoặc lò sưởi để sưởi ấm, mắt nhắm nghiền, đứng im không cử động
Bệnh kéo dài 10 -20 ngày nên gà rất gầy, chúng liên tục run rẩy hoặc co giật rồi chết do suy nhược cơ thể Tỷ lệ chết rất cao 80-95% nếu không được điều trị kịp thời
Gà có thể nhiễm trùng ở thể nhẹ hoặc nghiêm trọng gây ra tỷ lệ tử vong cao Phân gà màu lưu huỳnh kết hợp với máu thải ra ngoài nên bệnh trở lên nghiêm trọng Đôi khi bệnh lý của gà gần giống bệnh cầu trùng
2.2.3.3 Bệnh tích
Bệnh tích bệnh của bệnh đầu đen do Histomonas sp tập trung chủ yếu ở manh tràng và gan
Các biến đổi ở manh tràng
Có thể chỉ 1 trong 2 bên hoặc cùng một lúc cả 2 manh tràng xuất hiện các biến đổi: Lúc đầu phồng to, dài hơn, sau đó thành manh tràng dày lên và rắn chắc hơn Màu sắc, độ đàn hồi và độ trơn bóng của manh tràng bị thay đổi Bề mặt bên
Trang 2816
trong manh tràng trở nên sần sùi, có màu vàng xám, thành manh tràng tăng sinh dầy lên và rắn chắc Khi bổ đôi manh tràng ta thấy chất chứa có màu trắng vàng xanh hoặc trắng nâu do thẩm xuất chứa fibrin đóng quánh cùng các tế bào khác nhau bị cazein hoá, vì thế người chăn nuôi gọi là bệnh kén ruột
Niêm mạc manh tràng bị viêm loét nặng, thậm chí bị thủng và chảy chất chứa vào xoang bụng gây viêm phúc mạc nặng khi đó gà chết đột tử
Rất nhiều trường hợp 2 manh tràng dính chặt với nhau hoặc 1 trong 2 manh tràng dính vào các cơ quan nội tạng hoặc phúc mạc bụng
Vết loét nhỏ hoặc lớn, có thể vỡ ra tràn phân và dịch viêm vào xoang bụng gây viêm dính xoang bụng với ruột
Trong thành ruột khi cắt ngang có những đám bã đậu trắng, thành ruột dầy lên nhiều lần làm lỗ ruột bé hẹp lại
Các biến đổi ở gan
Gan sưng to gấp 2-3 lần bình thường, mềm nhũn và nhìn thấy rất nhiều ổ viêm xuất huyết hoại tử có hình hoa cúc trên bề mặt gan
Về sau các ổ viêm loét hoại tử có màu trắng xám vàng hoặc trắng xám đỏ, đặc nhưng lõm ở giữa Chúng có hình tròn, rìa mép ổ viêm có hình răng cưa với
độ lớn rất khác nhau, nhưng chủ yếu to từ 1 -2 cm, khi cắt đôi ổ loét ta thấy chúng
có hình nón chứa đầy chất chứa đặc quánh
Nếu lấy chất chứa xung quanh ổ loét để xét nghiệm ta sẽ thấy chúng gồm các tế bào bạch cầu, đại thực bào, đơn bào Histomonas sp còn sống
và giảm xuống dưới mức bình thường trước khi chết Lượng abumin huyết thanh rất thấp, nhưng các gama globumin tăng mạnh khi gà mắc bệnh cấp tính
Mức độ huyết tương của glutamic oxaloaxetic tranxaminaza (GOT) và lactic dehydrogenase (LDH) tăng lên khi các tổn thương phát triển ở gan gà, tuy nhiên glutamic pyruvic tranxaminaza (GPT) vẫn không thay đổi gì đáng kể GPT
Trang 29rất ít hoạt động trong gan hoặc các mô khác ở loài chim, chứng tỏ đây không phải
là một chất xúc tác có vai trò quan trọng trong các loài chim Sự xuất hiện sắc tố vàng ở nước tiểu đồng nghĩa với chức năng gan bị suy nhược và enzim tăng lên do tổn thương các mô Đối với gà giò bị tổn thương ở manh tràng nhưng gan không bị tổn thương, mức độ huyết tương của GOT, LDH, malic dehydrogenase và các enzim khác giảm thực sự, chứng tỏ chức năng gan bị suy yếu Cholinexteraza cũng giảm đi, cũng chứng tỏ chức năng gan suy giảm mặc dù các tổn thương lớn về gan không rõ ràng Ở gà tây mắc bệnh cấp tính, tỷ lệ methemoglobin trong máu tăng lên, làm xuất hiện triệu chứng xanh tím và đầu đen thường gặp
2.2.3.5 Sự miễn dịch
Miễn dịch chủ động: Sự miễn dịch phát sinh ở gà tây theo tự nhiên hoặc do được tiêm phòng với các mô thật sự không đủ để bảo vệ chống lại các mắc khuẩn
Từ khi gà tây bị chết do các bệnh tật, tất cả các công tác liên quan đến miễn dịch ở
gà tây đều dựa vào thuốc tiêm phòng dịch
Các nỗ lực để tạo miễn dịch ở gà và gà tây bằng các u mô không thuộc tế bào hay các tế bào chỉ thành công được đôi chút Một số cách bảo vệ trình bày để chống lại việc tiêm chủng các u mô tế bào hay các kích thích giảm nhưng rất ít các
u mô bao gồm các trứng Mặc dù các bài báo cáo không đồng tình song một số cách miễn dịch bảo vệ vẫn được giữ lại trong khi liệu pháp dùng thuốc bị quản lý
Miễn dịch bị động: Các nỗ lực để chuyển chất miễn dịch từ các chất đề kháng sang các loại gà dễ mắc bệnh bằng cách tiêm vào bụng ruột của các con gà miễn dịch là không thành công
2.2.3.6 Mô bệnh học
Sự xâm chiếm và cư trú đầu tiên của Histomonas sp vào thành ruột dẫn đến chứng xung huyết và tăng bạch cầu dị ái, cùng với đó là sự kết nối phản ứng giũa
vi khuẩn, Histomonas sp và Heterakis: trong vòng 5-6 ngày, số lượng Histomonas
sp có thể nhìn thấy như một rào chắn nằm sâu trong các lớp biểu bì niêm mạc ruột Một số lượng lớn các tế bào bạch huyết và các đại thực bào xâm nhập qua các mô trong khoảng thời gian này và số lượng tế bào Heterophile tăng lên Điều cốt lõi là mạch máu ruột bao gồm các biểu mô đã lột xác, tơ huyết, hồng cầu và bạch cầu dọc theo các chất vào cơ thể Lõi ban đầu không có hình dạng nhất định
và màu đỏ nhẹ nhưng khoảng sau 12 ngày nó xuất hiện khô, hơi vàng ở lớp vỏ của phần tiết dịch Khoảng 12 – 16 ngày các tế bào khổng lồ xuất hiện trong mô ruột
Trang 3018
Các chất hoại tử đông lại và xâm chiếm các u mô mở rộng Khoảng từ 17 ngày –
21 ngày u mô hết dần trong mô, hầu hết tập trung gần lớp vỏ thành dịch Số lượng lớn các tế bào khổng lồ có thể xuất hiện các u hạt phồng lên ở phần thành dịch ruột Các thương tổn cũ sau khi phục hồi mang đặc tính của các lympho nằm rải rác qua các mô ruột Có thể xảy ra sự phóng lõi và sự phát triển các biểu mô, tuy nhiên ruột thường không mỏng và các tiểu hang thường tối
Các chấn thương vi sao chép sớm nhất nhìn thấy ở gan khoảng 6-7 ngày sau khi mắc và bao gồm các cụm dị ái, lympho và các bạch cầu đơn nhân gần các mạch máu Rất khó để xếp đặt các mô khu vực này, sau khoảng 10-14 ngày các chấn thương lan rộng, chúng có thể gặp nhau ở một số chỗ Các lympho mở rộng kèm theo sự xâm nhập đại thực bào và các dị ái hiện có với số lượng vừa phải Từ 14-21 ngày tỷ lệ chết hoại tử tăng đáng kể, dẫn đến một khu vực lớn bao gồm ít
mô lưới và các mảnh tế bào U mô trong giai đoạn này giống như một cơ thể nhỏ trong đại thực bào Nếu diễn ra các phục hồi, tế bào lympho vẫn giữ lại trong khu vực xơ hoá và các tế bào gan đang phát triển
2.2.3.7 Chẩn đoán bệnh và chẩn đoán phân biệt
- Triệu chứng: Gà xù lông, xã cánh, phân có màu vàng và mùi khó chịu, mỏ chúi xuống đất Mào tích thâm tím sau chuyển sang màu đen
- Bệnh tích:
+ Manh tràng: Bệnh tích có thể thấy ở 1 hoặc 2 bên với biểu hiện: Vết loét nhỏ hoặc lớn Vết loét có thể vỡ ra tràn phân và dịch viêm và xoang bụng gây viêm dính xoang bụng với ruột Trong thành ruột khi cắt ngang có những đám bã đậu trắng
+ Gan: Có những đám hoại tử trắng do Histomonas sp xâm nhập vào tổ chức gan qua động mạch chủ Những vùng hoại tử này có đặc điểm vàng, tròn, lõm ở giữa và kích thước tới 1cm
Trang 31Khi gà có những bệnh tích và triệu chứng điển hình như trên lấy bệnh phẩm gan và manh tràng làm tiêu bản soi kính tìm Histomonas sp.: Lấy phân của gà ốm nghi bị bệnh đang còn sống hoặc chất chứa của ổ viêm loét của gan làm dung dịch
để soi kính hiển vi theo tỉ lệ 1:1, nhỏ dung dịch lên phiến kính (có thể phủ vật kính) rồi hơ nóng 400C dưới đèn cồn và soi dưới kính hiển vi, ta sẽ thấy rõ Histomonas hình roi còn sống
* Chẩn đoán phân biệt với một số bệnh khác
Chẩn đoán phân biệt với gà bị Newcastle
Gà bị Newcastle sốt cao 43-43,50C, uống nước nhiều, rối loạn tiêu hoá trầm trọng, thức ăn ở diều không tiêu, nhão ra do lên men Khi cầm chân gà dốc ngược
từ mỏ chảy ra một thứ nước chua khắm Bệnh kéo dài vài ngày gà ỉa chảy, phân lúc đầu xanh, có bọt sau chuyển sang loãng, trắng xám do có nhiều urat Gà khó thở trầm trọng, mũi thường chảy nhớt màu trắng xám hoặc đỏ nhạt làm cho gà hay vẩy mỏ Bệnh nặng gà không thở bằng mũi mà phải há mồm, vươn cổ ra để thở làm mào yếm ứ máu, tím bầm
Cuối ổ dịch gà xuất hiện các triệu chứng thần kinh Đi vòng tròn, đi giật lùi hoặc đi xiêu vẹo đầu, cổ co giật hoặc bị ngoẹo, mổ không trúng thức ăn
Bệnh tích: Niêm mạc đường tiêu hoá phủ lớp chất nhờn màu trắng xám hoặc vàng nhạt có xuất huyết điểm Niêm mạc dạ dày tuyến xuất huyết rõ, các nốt xuất huyết lấm tấm tròn bằng đầu đinh ghim và trùng với lỗ đổ ra của đường tiêu hoá Niêm mạc ruột non, ruột già, van hồi manh tràng và hậu môn xuất huyết nặng
Bệnh cầu trùng
Ruột thừa bị cầu trùng Eimeria tenella trong một số trường hợp cũng có các biến đổi giống như các biến đổi bệnh do Histononas sp gây ra Nhìn từ ngoài vào qua thành ruột ở bệnh cầu trùng ta thấy rõ các nốt đỏ xen lẫn các điểm trắng khi
bổ đôi ruột thì thấy chất chứa bị lẫn máu hoặc toàn máu đông, thậm chí máu tươi, trong khi đó chất chứa do Histononas sp gây ra lúc đầu chứa nhiều hơi sau đó cũng lẫn máu khó đông giống như ở cầu trùng, nhưng về giai đoạn cuối tạo thành kén đông đặc, gạt lớp phủ niêm mạc ta thấy niêm mạc ruột bị viêm hoại tử rất nặng, thành ruột thừa dầy và rắn chắc
Với bệnh do Trichomonas gây ra
Trang 3220
Các triệu chứng và các biến đôỉ bệnh lý do Trichomonas gây ra trong một
số trường hợp cũng rất giống với bệnh đầu đen Điểm khác là bệnh do Trichomonas gây ra ta thấy ngoài các biến đổi ở ruột thừa, luôn kèm theo các biến đổi ở 1/3 cuối ruột non Các biến đổi ổ viêm hoại tử trên bề mặt gan có kích thước nhỏ hơn và lồi lên khỏi bề mặt gan giống như các ổ lao gà, trong khi đó các ổ viêm loét hoại tử ở bệnh đầu đen lại bị lõm trũng ở giữa (tâm của ổ viêm loét do bệnh đầu đen bị lõm xuống)
Không nuôi gà ta chung với gà tây là rất quan trọng, vì gà ta thường ủ một
số lượng lớn các giun kim và trứng giun kim
Chăn nuôi gà Tây trong nhà có thể làm giảm được tỷ lệ mắc bệnh đầu đen,
có thể loại bỏ việc cho ăn giun đất, tuy nhiên cách này không có hiệu quả nhiều đối với gà nhà Gà mái tơ Lơgo thường dễ bị mắc các bệnh của gà nhà khi trứng giun đã hình thành được một số lượng trong nhiều năm Ở Úc, Histomoniasis nhiều năm nay là một vấn đề nan giải đối với gà giò Trong một số trường hợp, việc khử trùng tẩy uế có thể có tác dụng tiêu diệt các trứng giun, nhưng hiện chưa
có nhiều số liệu liên quan đến biện pháp này
Công tác quản lý sẽ khó có thể đủ mạnh để kìm chế bệnh ở mức thấp trong các đàn gà tây nuôi thịt Vì vậy hóa trị liệu phòng ngừa thường được tiến hành trong quá trình có nguy cơ cao khi gà đang phát triển Hóa trị liệu phòng ngừa không thường xuyên được tiến hành với gà nhà trừ khi các trang trại có vấn đề hoặc ở các địa phương mà tại đó có nguy cơ bùng phát bệnh cao Ngoài ra nên dùng thuốc tím hoặc sunfat đồng để tiêu diệt trứng giun kim và dùng vôi bột để tiêu diệt giun kim và giun đất trong môi trường
Trang 33Điều trị
Trước kia có 5 loại thuốc và hoá dược đã được đăng ký sử dụng tại Mỹ, bao gồm hai chất chứa arsen, hai loại thuộc nhóm nitroimidazole và một nitrofuran, tuy nhiên quy định gần đây đã loại bỏ các loại thuốc này (nitroimidazole) khỏi thị trường Đối với việc sử dụng các loại thuốc để phòng ngừa, nitrasone có thể có tác dụng, tuy nhiên các chất arsen nói chung không đủ mạnh để điều trị bệnh đầu đen xảy ra cùng lúc với các vi khuẩn như đã nêu ở trên Các nitroimidazole (Ronidazol, ipronidazole hoặc romidazole) có hiệu qủa cao đối với phòng ngừa hoặc điều trị cả ở gà nhà và gà tây Các loại thuốc quan trọng này hiện vẫn được
sử dụng tại nhiều nước Furazolidone cũng đã được sử dụng để điều trị bệnh đầu đen Hiện chưa có thông báo về dấu hiệu hay kháng thuốc ở bệnh do Histomonas sp Gần đây một số tác giả cho rằng dùng doxycillin hoặc sunfamonothiazin có tác dụng rất tốt đối với Histomonas sp
Trang 3422
PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Gà mắc bệnh được thu từ các nông hộ chăn nuôi gà thả vườn tại huyện Tân Yên- Bắc Giang và Khoái Châu- Hưng Yên
- Phòng thí nghiệm Trọng điểm công nghệ sinh học thú y, Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
- Bộ môn Bệnh lý, Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Thời gian: từ tháng 8/2016 tới 6/2017
3.3 ĐỐI TƯỢNG/VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
- Gà Lương Phượng, gà Ri, gà lai Mía thả vườn các lứa tuổi mắc bệnh đầu đen do Histomonas sp gây ra được thu từ các hộ chăn nuôi gà thả vườn tại huyện Tân Yên- Bắc Giang và Khoái Châu - Hưng Yên
- Dụng cụ, trang thiết bị:
+ Dụng cụ: xi lanh, kim tiêm, bộ đồ mổ, kéo, kẹp, bông cồn, seringer, ống đựng máu, ống eppendorf, quần áo bảo hộ, khẩu trang, bông cồn, đá lạnh, găng tay, đầu típ tương ứng với micropipet
+ Trang thiết bị: Bể ổn nhiệt, máy đúc chuyển mẫu tự động, máy cắt tổ chức Microtom, máy làm khô tiêu bản, kính hiển vi quang học, máy xét nghiệm huyết học tự động CELL-DYN 3700, micropippet, máy PCR, máy điện di, máy chụp ảnh gel,
- Hóa chất dùng trong nghiên cứu:
+ Hoá chất sử dụng làm tiêu bản vi thể: formol 10%, cồn, xylen, parafin, thuốc nhuộm haematoxylin, thuốc nhuộm eosin, …
+ Hoá chất: cặp mồi HIS5F (5’-CCTTTAGATGCTCTGGGCTG-3’), HIS5R (5’-CAGGGACGTATTCAACGTG-3’), Kit tách chiết DNA tổng số (Qiagen-Mỹ), Kít PCR (Promega- Mỹ), thạch agarose
Trang 353.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.4.1 Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh đầu đen do Histomonas
sp gây ra trên gà thả vườn
3.4.1.1 Nghiên cứu triệu chứng lâm sàng chủ yếu của bệnh đầu đen do Histomonas sp gây ra trên gà thả vườn
3.4.1.2 Nghiên cứu biến đổi đại thể của gà mắc bệnh đầu đen do Histomonas
sp gây ra
3.4.1.3 Nghiên cứu biến đổi vi thể của gà mắc đầu đen bệnh do Histomonas sp gây ra
3.4.1.4 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh đầu đen do Histomonas
sp gây ra trên gà thả vườn
3.4.1.5 Xác định một số chỉ tiêu huyết học của gà mắc bệnh đầu đen do Histomonas sp gây ra
3.4.2 Ứng dụng kỹ thuật PCR trong chẩn đoán gà mắc bệnh đầu đen do Histomonas sp gây ra
3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.5.1 Phương pháp quan sát triệu chứng lâm sàng
Trước khi mổ khám gà, sử dụng các phương pháp chẩn đoán bệnh cơ bản như: quan sát, sờ nắn, đo thân nhiệt để xác định những biến đổi lâm sàng của
gà bệnh: thân nhiệt; màu sắc của mào, tích; thể trạng; ăn uống; vận động; da vùng đầu và mép; màu sắc và trạng thái phân
3.5.2 Phương pháp mổ khám
Để xác định các biến đổi đại thể của các cơ quan, tổ chức của gà mắc bệnh
do Histomonas sp cần tiến hành mổ khám những gà có biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh để kiểm tra bệnh tích đại thể của tất cả các cơ quan Quy trình mổ khám được thực hiện theo TCVN 8402: 2010 gồm các bước:
Nhúng ướt lông gia cầm bằng nước có pha dung dịch sát trùng để tránh lông và các bụi bẩn trên lông bay gây ô nhiễm ra môi trường xung quanh
Đặt gia cầm ngửa trên bàn mổ, dùng kéo hoặc dao cắt da giữa vùng bụng và bẹn ở hai bên chân, lật chân sang hai bên đồng thời kéo da bộc lộ hai cơ đùi kiểm tra độ khô cơ và các tổn thương, xuất huyết