Những bệnh sinh sản thường gặp trên lợn nái ngoại - Đàn lợn nái sinh sản nuôi tại một số trang trại tại tỉnh Bắc Giang mắc các bệnh sinh sản thông thường, trong đó bệnh viêm tử cung có
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN MINH TUẤN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH SẢN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Minh Tuấn
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình Nhân dịp hoàn thành luận văn này:
Với tất cả tấm lòng mình, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Thanh đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian giúp tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thiện luận văn
Lời cảm ơn chân thành của tôi cũng xin gửi tới các thầy, cô trong Bộ môn Ngoại – Sản - Khoa thú y, Khoa thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Cho phép tôi được bày tỏ lời cảm ơn tới một số trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi thực hiện đề tài này Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới toàn thể gia đình, bạn bè, anh em, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Minh Tuấn
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Vai trò sinh sản của lợn nái 3
2.2 Những đặc điểm sinh lý sinh sản 3
2.2.1 Khái quát về sinh sản 3
2.2.2 Cơ chế điều hòa sinh sản 4
2.2.3 Chu kỳ tính (chu kỳ sinh dục) 6
2.2.4 Cơ chế động dục 11
2.2.5 Thời điểm phối giống thích hợp 11
2.2.6 Sinh lý đẻ 12
2.2.7 Sự điều tiết thần kinh thể dịch tới hoạt động sinh dục 13
2.3 Đặc điểm quá trình rụng trứng thụ tinh và nuôi thai 15
2.3.1 Đặc điểm quá trình rụng trứng 15
2.3.2 Đặc điểm của quá trình thụ tinh 15
2.3.3 Đặc điểm sinh lý của quá trình mang thai 16
2.4 Quá trình đẻ 17
2.5 Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái 18
2.6 Bệnh viêm tử cung ở lợn nái (mestritis) 20
2.6.1 Nguyên nhân gây viêm tử cung 20
Trang 52.6.2 Hậu quả của bệnh viêm tử cung 21
2.6.3 Triệu chứng của bệnh viêm tử cung 23
2.6.4 Chẩn đoán viêm tử cung ở lợn nái 25
2.7 Nguồn gốc đặc điểm của hai giống lợn landrace và yorkshire 26
2.7.1 Giống lợn Landrace 26
2.7.2 Giống lợn Yorkshire 26
2.8 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 27
2.8.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 27
2.8.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 28
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 30
3.1 Đối tượng nghiên cứu 30
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 30
3.3 Nội dung nghiên cứu 30
3.3.1 Xác định một số chỉ tiêu sinh sản trên đàn lợn nái ngoại giống Landrace và Yorkshire 30
3.3.2 Theo dõi một số bệnh sản khoa thường gặp trên lợn ngoại và phương pháp điều trị 30
3.4 Phương pháp nghiên cứu 30
3.4.1 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu sinh sản 30
3.4.2 Theo dõi theo dõi một số bệnh sản khoa thường gặp trên đàn nái sinh sản nuôi tại trại chăn nuôi huyện Việt Yên và Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang 31
3.4.3 Điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn nái 31
3.4.4 Thử nghiệm một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái 31
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 32
Phần 4 Kết quả thảo luận 33
4.1 Kết quả nghiên cứu xác định một số chỉ tiêu sinh sản trên đàn lợn nái giống landrace và yorkshire nuôi tại tỉnh Bắc Giang 33
4.1.1 Tuổi phối giống lần đầu 33
4.1.2 Tuổi đẻ lứa đầu 34
4.1.3 Thời gian mang thai 35
4.1.4 Khoảng cách lứa đẻ 37
Trang 64.1.5 Thời gian động dục lại sau khi cai sữa 38
4.1.6 Số lứa đẻ/nái/năm 39
4.1.7 Số con sinh ra trung bình/ổ, khối lượng sơ sinh trung bình/con, số con sơ sinh còn sống trung bình/ổ, khối lượng sơ sinh còn sống trung bình/ổ 40
4.1.8 Số con cai sữa trung bình/ổ, khối lượng cai sữa trung bình/con, khối lượng lợn con cai sữa trung bình/ổ, tỷ lệ nuôi sống lợn con 42
4.2 Kết quả theo dõi một số bệnh sản khoa thường gặp trên đàn nái sinh sản nuôi tại tỉnh Bắc Giang 44
4.3 Kết quả điều trị viêm tử cung, thời gian động dục lại sau cai sữa và tỉ lệ có chửa sau phối giống 46
4.4 Kết quả thử nghiệm một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái nuôi tại nuôi tại một số trại tỉnh Bắc Giang 48
4.4.1 Biện pháp gây stress cho lợn nái bằng cách dồn đuổi lợn nái sau khi cai sữa 50
4.4.2 Dùng nước tiểu lợn đực nhỏ vào gáy lợn nái sau khi cai sữa 50
4.4.3 Đuổi lợn nái vào chuồng lợn đực thí tình, dùng lợn đực thí tình kích thích lợn nái 51
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 52
5.1 Kết luận 52
5.1.1 Một số chỉ tiêu sinh sản của lợn nái ngoại 52
5.1.2 Những bệnh sinh sản thường gặp và thử nghiệm điều trị bệnh sinh sản trên lợn nái ngoại 52
5.2 Kiến nghị 53
Tài liệu tham khảo 54
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
SCSRCSTB Số con sinh ra còn sống trung bình
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Tuổi phối giống lần đầu 33
Bảng 4.2 Tuổi đẻ lứa đầu 35
Bảng 4.3 Thời gian mang thai 36
Bảng 4.4 Khoảng cách giữa các lứa đẻ 37
Bảng 4.5 Thời gian động dục lại sau khi cai sữa 38
Bảng 4.6 Số lứa đẻ/nái/năm 39
Bảng 4.7 Một số chỉ tiêu sinh sản của lơn nái ngoại Landrace và Yorkshire 40
Bảng 4.8 Một số chỉ tiêu sinh sản của lơn nái ngoại Landrace và Yorkshire 42
Bảng 4.9 Các bệnh sản khoa thường gặp trên đàn lợn nái 45
Bảng 4.10 Kết quả điều trị viêm tử cung, thời gian động dục lại sau cai sữa và tỉ lệ có chửa sau phối giống 46
Bảng 4.11 Kết quả thử nghiệm một số biện pháp nâng cao khả năng sinh sản của đàn lợn nái 49
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Tuổi phối giống lần đầu 34
Hình 4.2 Tuổi đẻ lứa đầu 35
Hình 4.3 Thời gian mang thai 36
Hình 4.4 Khoảng cách giữa các lứa đẻ 37
Hình 4.5 Thời gian động dục lại sau khi cai sữa 39
Hình 4.6 Số lứa đẻ/nái/năm 40
Hình 4.7 Các bệnh sản khoa thường gặp trên đàn lợn nái 45
Hình 4.8 Kết quả điều trị viêm tử cung và tỉ lệ có chửa sau phối giống 47
Trang 10
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Minh Tuấn
Tên Luận văn: “Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh sản khoa thường gặp ở đàn lợn nái ngoại nuôi tại tỉnh Bắc Giang”
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
1 Mục đích nghiên cứu:
- Đánh giá khả năng sinh sản của đàn lợn nái ngoại
- Xác định một số bệnh sản khoa thường gặp trên đàn lợn nái
- Đánh giá hiệu quả điều trị của một số phương pháp điều trị đối với bệnh sản khoa trên đàn heo nái ngoại nuôi tại Bắc Giang
2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu sinh sản
Theo dõi các chỉ tiêu sinh sản bằng phương pháp quan sát trực tiếp và thông qua
sổ sách ghi chép của trang trại: Tuổi phối lần đầu, tuổi đẻ lứa đầu, thời gian mang thai, số con trung bình trên lứa, số lứa/nái/năm, thời gian động dục lại sau khi cai sữa lợn con
Theo dõi theo dõi một số bệnh sản khoa thường gặp trên đàn nái sinh sản Theo dõi bệnh sản khoa thường gặp bằng phương pháp phỏng vấn kỹ thuật viên trại chăn nuôi kết hợp theo dõi trực tiếp các trường hợp cần thiết và thông qua sổ sách ghi chép của trang trại
Điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn nái
+ Thử nghiệm phác đồ điều trị lợn nái bị viêm tử cung với phác đồ: Tiêm Lutalyse 25mg, thụt rửa dung dịch Lugol 0,1% và dùng Neomycin (5 mg/kg)
+ Theo dõi lợn động dục lại sau khi tách con, phối giống và có chửa sau phối giống giữa: Lợn nái viêm tử cung được điều trị khỏi và lợn nái không viêm tử cung
Thử nghiệm một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất sinh sản
Dồn đuổi lợn nái, sử dụng nước tiểu lợn đực nhỏ vào gáy lợn nái, dùng lợn đực thí tình tiếp xúc với lợn nái
Trang 113 Kết quả chính và kết luận
Một số chỉ tiêu sinh sản của lợn nái ngoại
- Tuổi phối giống lần đầu của lợn Landrace và của lợn Yorkshire tập trung chủ yếu trong khoảng từ 243-253 ngày
- Tuổi đẻ lứa đầu của lợn Landrace và của lợn Yorkshire tập trung chủ yếu trong khoảng từ 362-372 ngày
- Khoảng cách lứa đẻ của lợn Landrace và của lợn Yorkshire tập trung chủ yếu trong khoảng từ 151– 161 ngày
- Thời gian động dục lại sau khi cai sữa của lợn nái tập trung cao nhất vào khoảng 4-7 ngày
Những bệnh sinh sản thường gặp trên lợn nái ngoại
- Đàn lợn nái sinh sản nuôi tại một số trang trại tại tỉnh Bắc Giang mắc các bệnh sinh sản thông thường, trong đó bệnh viêm tử cung có tỷ lệ mắc cao nhất là 27,62%
- Sử dụng phác đồ: Tiêm dưới da 1 mũi 2 ml Lutalyse (dẫn xuất tương tự như PGF2α) 25mg, thụt vào tử cung 100ml dung dịch Lugol 0,1% và sau đó là 100ml dung dịch Neomycin (5 mg/kg), thụt rửa ngày 1 lần liệu trình tối đa 7 ngày mang lại hiệu quả cao tỷ lệ khỏi bệnh đạt 100%
- Bệnh viêm tử cung mặc dù sau khi đã điều trị khỏi vẫn ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của lợn nái mẹ thể hiện ở các tiêu chí thời gian động dục lại sau tách con kéo dài, tỉ lệ thụ thai sau phối giống thấp hơn ở lợn không bị viêm tử cung
- Sử dụng các biện pháp kỹ thuật: Dồn đuổi lợn nái, dùng nước tiểu lợn đực nhỏ vào gáy lợn nái và dùng lợn đực thí tình kích thích lợn nái sau khi cai sữa có tác dụng kích thích xuất hiện động dục sớm, rút ngắn thời gian chờ phối của lợn nái sau khi cai sữa Biện pháp dùng lợn đực thí tình kích thích lợn nái có tác dụng cao nhất
Trang 12THESIS ABSTRACT
Author: Nguyen Minh Tuan
Title: “A study on several reproductive parameters and common reproductive diseases
of imported-breed sows raised in Bac Giang province”
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture
1 Study objectives:
- Evaluate the reproductive ability of imported-breed sows
- Determine the common reproductive diseases of sows
- Evaluate the efficacies of treatment methods that are usually applied in reproductive diseases on the sows raised in Bac Giang province
2 Study methods
Methods to evaluate the reproductive parameters
We evaluate the reproductive parameters by the direct observation and by the analyse of recording notebooks in the to obtain the following data: age of first mating, pregnancy period, number of piglets per litter, number of litter/ sow/ year, period for a sow to become estrous again after piglet weaning
Methods to observe the common reproductive diseases of sows
We observe the reproductive diseases of imported-breed sows by interviewing veterinary technicians in farms, combining with the direct observation when necessary and the analysis of recording notebooks in farms
Methods to trially treat metritis
+ Experimentally treat mentritis of sows by the treatment reginem of injection of Lutalyse 25mg, administer an enema of Lugol 0,1% solution to uterus and after that give of neomycin (5 mg/kg)
+ Observe the oestrus phenomenum of sows after piglet weaning, observe the conception phenomenum after mating and compare those of the two objects: sows that were treated and cured from mentritis with sows having no mentritis
The applications of trial methods to increase the reproductive efficacies
Gather sows together, use male pig urine to drop on napes of sows, used male pigs
to contact with sows
Trang 133 Main results and conclusions
Several reproductive parameters of imported-breed sows
- Ages of the first mating of Landrace and Yorkshire sows are usually in the time from 243 to 253 days
- Ages of the first litter of Landrace and Yorkshire breeds are usually concentrated in the time from 362 to 372 days
- Period time between the two litters of Landrace and Yorkshire sows are usually from 151 to 161 days
- Period from piglet weaning until sows become oestrus again for sows is usually concentrated in the time of 4 to 7 days
Common reproductive diseases on imported-breed sows
- Sows raised in farms of Bac Giang province were usually affects by the common diseases and the mentritis had highest ratio 27,62%
- Treatment reginem of 2 ml Lutalyse (a derivative of PGF2α) 25mg intravenous injection, administer an enema of 100ml Lugol 0,1% solution to uterus and after that give 100ml of neomycin (5 mg/kg), enema once a day and for 7 days gave the high treatment efficacy in which 100% of affected sows were cured
- Even if mentritis was cured, it still affected the reproductive ability of sows, in the parameters such as longer time to be oestrus again after piglet weaning, lower ratios
of concention after mating, in comparision to the sows that were not affected with mentritis
- Applications of technical methods: Gather sows together, use male pig urine
to drop on napes of sows, used castrated male pigs to contact with sows after weaning had stimulating effects for sows to become oestrus early, shorten the wating time for mating after piglet weaning The method of using castrated male pigs had the highest efficacy
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăn nuôi lợn đã và đang trở thành một ngành quan trọng và chiếm sản lượng lớn trong ngành chăn nuôi nước ta Nó đã cung cấp nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng cho con người, đồng thời tạo ra lượng phân hữu cơ đáng kể cho cây trồng Trong chăn nuôi lợn thì chăn nuôi lợn nái sinh sản đóng vai trò rất quan trọng vì nó sẽ cung cấp các con giống tốt cho các giai đoạn chăn nuôi sau này Vì vậy, việc quan tâm đến việc phát triển đàn lợn nái sinh sản, đồng thời chăm sóc, nuôi dưỡng tốt đàn lợn nái sinh sản để làm sao có được các chỉ tiêu sinh sản tốt là một nhu cầu cấp thiết đặt ra cho ngành chăn nuôi lợn nói chung và chăn nuôi lợn nái sinh sản nói riêng
Để đánh giá lợn nái có năng suất sinh sản tốt hay không tốt, người ta thường căn cứ vào các chỉ tiêu như tuổi động dục lần đầu, tuổi phối giống, số con sinh ra, khối lượng sơ sinh, số con còn sống đến cai sữa hoặc khoảng cách giữa các lần mang thai
Với tốc độ tăng nhanh về số lượng và chất lượng của đàn lợn trong nước thì chăn nuôi thủ công không còn phù hợp nữa Vì vậy, để đáp ứng được nhu cầu về chăn nuôi và đạt được những mục tiêu đề ra, Đảng và Nhà nước ta ngoài việc đầu
tư cho chương trình nhập giống có nguồn gen cao sản từ nước ngoài như giống Landrace, Yorkshire, Pietrain … để lai tạo với các giống nội thì còn có chủ trương phát triển chăn nuôi lợn hướng nạc theo mô hình trang trại vừa và nhỏ, dưới hình thức công nghiệp và bán công nghiệp
Để đảm bảo cho chăn nuôi phát triển và thu được hiệu quả kinh tế cao ngoài việc nâng cao các yếu tố: Giống, nuôi dưỡng, chăm sóc, trang thiết bị chuồng trại … ta cần chú ý tới vấn đề dịch bệnh Một khi dịch bệnh xảy ra sẽ gây tổn thất nặng nề cho người chăn nuôi Tuy nhiên, trong chăn nuôi lợn nói chung và nuôi lợn nái ngoại nói riêng, dịch bệnh vẫn thường xảy ra, ngoài các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như: dịch tai xanh, dịch tả gây thiệt hại lớn cho chăn nuôi mà còn phải kể đến các bệnh sinh sản là nhân tố gây thiệt hại không nhỏ về kinh tế do ảnh hưởng đến việc kéo dài thời gian chậm động dục, giảm số lượng con sinh ra, nghiêm trọng hơn là phải loại thải nái sinh sản
Trang 15Vì vậy chăn nuôi theo hình thức trang trại bước đầu thu được những kết quả khả quan song nó vẫn là hình thức mới ở Miền Bắc nên không thể tránh khỏi những khó khăn về con giống, kỹ thuật chăn nuôi, tình hình dịch bệnh,
Chính vì vậy, việc nghiên cứu khả năng sinh sản cũng như một số bệnh sinh sản ở lợn nái là một nhu cầu cấp thiết, nhất là tại Bắc Giang
Được sự đồng ý của khoa Thú y, phòng Đào tạo sau Đại học Học viện Nông nghiệp Việt Nam, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một
số chỉ tiêu sinh sản và bệnh sản khoa thường gặp ở đàn lợn nái ngoại nuôi tại tỉnh Bắc Giang”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá khả năng sinh sản của đàn lợn nái ngoại
- Xác định một số bệnh sản khoa thường gặp trên đàn lợn nái
- Đánh giá hiệu quả điều trị của một số phương pháp điều trị đối với bệnh sản khoa trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại Bắc Giang
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vào các nghiên cứu tổng thể về khả năng sinh sản và bệnh sản khoa của lợn nái Đồng thời, giúp cho người chăn nuôi có các biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao khả năng sinh sản và hạn chế các bệnh sản khoa ở lợn nái
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 VAI TRÒ SINH SẢN CỦA LỢN NÁI
Sinh sản là một trong những thuộc tính đặc trưng nhất của cơ thể sống Nó đảm bảo tỉnh tồn tại của loài Ở gia súc quá trình sinh sản không những là sự truyền thông tin di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác mà còn liên quan đến
sự điều chỉnh nội tiết, đến các quá trình diễn ra trong cơ thể Hình thức sinh sản trong cơ thể sống là sinh sản hữu tính có ưu thế lai sinh học, nó tạo nên khả năng tái tổ hợp vật chất di truyền, hình thành các biến dị tổ hợp, nâng cao sức sống Nhờ sinh sản hữu tính mà công việc chọn giống, lai giống mới nhanh và hiệu quả
Đối với lợn khả năng nhân giống và chọn giống có nhiều thuận lợi hơn các gia súc khác ở chỗ lợn là loại động vật đa thai, sinh nhiều con Mỗi năm mỗi lợn nái có thể truyền thông tin di truyền cho khoảng 20 – 25 lợn con Trong một đời lợn nái có thể truyền thông tin di truyền cho khoảng 120 – 140 lợn con
Sinh sản có chức năng quan trọng là mang ý nghĩa tái sản xuất ra sản phẩm phục vụ lợi ích con người Vì vậy mà con người hết sức quan tâm và chú trọng nhằm mục đích làm thế nào mà trong thời gian ngắn nhất gia súc đẻ được nhiều nhất, chất lượng sản phẩm tốt nhất Vì thế nâng cao năng suất sinh sản của gia súc đồng nghĩa với việc mang lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi
2.2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH SẢN
2.2.1 Khái quát về sinh sản
Sinh sản là một thuộc tính quan trọng của sinh vật nói chung và của gia súc nói riêng, là một đặc trưng quan trọng vào loại bậc nhất của sinh vật nhằm duy trì nòi giống và đảm bảo sự tiến hoá của loài Ở gia súc nói chung và lợn nói riêng thì sinh sản mang một chức năng quan trọng mang ý nghĩa tái sản xuất ra sản phẩm phục vụ lợi ích của con người Chính vì vậy sinh sản được con người hết sức quan tâm nhằm mục đích là làm sao trong một thời gian ngắn nhất gia súc đẻ được nhiều nhất, thế hệ sau có nhiều đặc tính tốt hơn thế hệ trước Trong đó năng suất sinh sản được nâng cao thì sẽ mang lại hiệu quả cho người chăn nuôi
Quá trình sinh sản chịu sự điều tiết của thần kinh, thể dịch Cơ thể được hoàn thiện dần trong quá trình phát triển nhằm đảm bảo cho sự điều tiết trong quá trình sinh sản
Trang 17Trong từng giai đoạn khác nhau của cơ thể luôn chịu sự điều tiết giữa thần kinh và thể dịch Mối quan hệ này luôn tuân theo một qui luật hệ thống kế tiếp và thống nhất trong cơ thể với cơ chế hoạt động nhiều chiều Nếu một khâu nào trong hệ thống này bị rối loạn thì cơ thể gia súc sẽ thay đổi theo hướng có lợi hoặc có hại cho khả năng sinh sản Sự thay đổi này được thể hiện dưới hình thức thời gian động dục ở lợn nái hậu bị và lợn nái sinh sản sau khi cai sữa lợn con, kết quả đậu thai sau khi phối giống, số con sinh ra trong một lứa
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý của gia súc, các mối quan hệ mang tính bản chất bên trong là một vấn đề quan trọng mang tính then chốt để từ đó chúng
ta có các biện pháp khắc phục nhằm nâng cao năng suất sinh sản
2.2.2 Cơ chế điều hòa sinh sản
Quá trình sinh sản của gia súc chịu sự chi phối của thần kinh hormone trong đó vùng dưới đồi tuyến yên, các tuyến nội tiết sinh dục giữ một vai trò đặc biệt quan trọng
Nếu trước những năm 1932 người ta còn hiểu biết rất chung chung về cơ chế tác động của thần kinh trung ương, tuyến yên và tuyến nội tiết sinh dục thì ngày nay nhờ những thành tựu của ngành sinh lý sinh sản mà người ta đã hiểu biết rất sâu về cơ chế tác động qua lại giữa thần kinh, thể dịch trong việc điều hòa quá trình sinh sản của gia súc
Bình thường gia súc sinh trưởng và phát dục đến một giai đoạn nào đó thì thành thục về tính dục và có khả năng sinh sản Hoạt động sinh dục của con cái khác với con đực là mang tính chu kỳ Sau khi thành thục về tính cứ sau một thời kỳ nhất định trong cơ thể có sự thay đổi: Âm hộ, âm đạo, tử cung xung huyết Các tuyến sinh dục phụ tăng cường phân tiết niêm dịch, các hoạt động biến đổi trên biến đổi lặp đi lặp lại nhiều lần một cách có chu kỳ được gọi là chu kỳ tính Quá trình trên chịu sự điều kiển của hệ thần kinh và các tuyến nội tiết
Nhân tố nội tại: Chủ yếu là ở buồng trứng sinh ra một lượng lớn Oestrogen Chính nhân tố Oestrogen tác động lên trung khu ở vỏ đại não và ảnh hưởng tới Hypothalamus tạo điều kiện xuất hiện và lan truyền các xung động thần kinh gây tiết
GnRH có chu kỳ
Nhân tố ngoại cảnh: Ánh sáng, nhiệt độ, thức ăn, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và đặc biệt là các steron tự nhiên có trong thức ăn thâm nhập vào cơ thể thông qua tiêu hóa hay qua da nhờ ánh sáng, và đi vào cơ thể gây nên những
Trang 18kích thích hóa học tác động lên vỏ đại não và con cái chịu tác động của con đực thông qua thính giác, khứu giác, vị giác mà tạo nên những kích thích mãnh liệt, kích thích lên vỏ đại nảo Vỏ đại não sau khi tiếp thu các kích thích nội tại và ngoại cảnh truyền đến hạ khâu não (Hypothalamus) gây tiết các yếu tố giải phóng mà ngày nay chúng ta gọi là hormone giải phóng Các hormone đó là FRH (folliculin realizing hormone), LRH (lutein realizing hormone), PRH (prolacting realizing hormone)
FRH: Nhân tố kích thích thùy trước tuyến yên tiết ra Folliculin stimulin Hormone (FSH) Kích tố này làm cho noãn nang ở buồng trứng phát triển, thời kỳ hưng phấn bắt đầu Noãn nang phát triển, trứng chín, lượng Oestrogen tiết ra nhiều, Oestrogen tác động đến các bộ phận thứ cấp làm vú nở to, âm hộ sưng, xung huyết
tử cung dầy lên cương cứng và bắt đầu phân tiết niêm dịch Đồng thời nó tác động lên trung tâm Hypothalamus gây hiện tượng động dục
LRH: Kích thích tuyến yên tiết ra kích hoàn tố (lutein stimulin hormone)
LH, LH tác động vào buồng trứng làm trứng chín muồi, kết hợp với FSH làm noãn bao vỡ gây ra hiện tượng thải trứng, hình thành thể vàng
PRH: Kích thích thùy trước tuyến yên phân tiết LTH (luteino tropic hormone), LTH tác động vào buồng trứng duy trì sự tồn tại của thể vàng và kích thích thể vàng phân tiết Progesteron Progesteron tác động lên tuyến yên, ức chế tuyến yên phân tiết FSH, LH
Quá trình động dục chấm dứt, tử cung dày lên tạo điều kiện cho sự làm tổ ban đầu của hợp tử được dễ dàng Nếu con vật có chửa thể vàng tồn tại suốt thời gian mang thai tùy từng loài, giống Nó là nhân tố an thai, bảo vệ cho thai phát triển Nếu không có chửa thể vàng tồn tại 10 - 15 ngày tùy từng loài giống, sau đó nó teo đi Hàm lượng Progesteron cũng từ đó mà giảm đi, hàm lượng Progesteron giảm đến mức độ nhất định lại là nhân tố kích thích vỏ đại não, Hypothalamus, tuyến yên Lúc này tuyến yên ngừng phân tiết LTH, tăng cường phân tiết FSH, chu kỳ mới lại bắt đầu Như vậy hoạt động chu kỳ tính của gia súc cái chịu sự chi phối của các hormone FSH, LTH, LH trong đó nhân tố FSH
và LH đóng vai trò quan trọng, FSH và LH tuy phân tiết riêng rẽ song song hai hormone này lại phối hợp rất chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau Ví dụ: Để duy trì sự có mặt của FSH cần có một lượng nhỏ LH, nói chính xác hơn là một lượng nhỏ Oestrogen hình thành dưới sự ảnh hưởng của LH, thiếu Oestrogen,
Trang 19FSH không thấm vào các tế bào hạt noãn bao và không có khả năng kích thích noãn nang phát triển LH hoạt hóa các Enzym của quá trình tạo steroit vì vậy
LH được goi là hormone chìa khóa của sự tạo steroit tuyến sinh dục Để đảm bảo tốt cho quá trình chín và rụng của trứng, hàm lượng hai loại hormone phải đạt tỷ lệ nhất định và tỷ lệ nhất định đó theo các nhà khoa học là 3/1 Sự cân bằng nội tiết giữa các hormone không những là điều kiện cơ bản để gây rụng trứng mà còn là điều kiện quan trọng để duy trì cân bằng nội tiết giữa các hormore sinh dục, Oestrongen và Progesteron từ đó tạo ra chu kỳ tính cho hoạt động sinh dục ở gia súc cái
Cơ chế tác động của hormone đến các tổ chức, cơ quan có thể theo ba hướng: Hormone màng, Hormone enzym và hormone gen
Sự liên hệ giữa Hypothalamus tuyến yên và tuyến sinh dục để điều hòa hoạt động của gia súc cái không chỉ tuân theo chiều thuận mà còn được giải thích theo cơ chế điều hòa ngược Cơ chế điều hòa ngược giữ vai trò quan trọng trong việc giữ
“Cân bằng nội tiết” Khi hormone của tuyến nội tiết nào đó tăng hay giảm sẽ gây hiện tượng giảm hay tăng một hormone tương ứng nào đó, cơ chế này gọi là cơ chế điều khiển ngược dương tính
2.2.3 Chu kỳ tính (chu kỳ sinh dục)
Chu kỳ tính là một quá trình sinh lý phức tạp của cơ thể cái sau khi đã phát triển hoàn toàn và cơ quan sinh dục không có quá trình bệnh lý, thì trong buồng trứng có quá trình noãn bao thành thục, trứng chín và rụng trứng Song song với quá trình rụng trứng thì cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục phát sinh hàng loạt các biến đổi và có sự lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ được gọi là chu
kỳ tính Chu kỳ này xuất hiện khi cơ thể cái thành thục về tính kết thúc khi già yếu Thời gian của một chu kỳ được tính từ lần rụng trứng trước tới lần sau
Sự thành thục về tính được đánh dấu khi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Lúc này tất cả các bộ phận sinh dục như: buồng trứng, tử cung, âm đạo,… đã phát triển hoàn thiện và có thể bắt đầu bước vào hoạt động sinh sản Đồng thời với sự phát triển hoàn thiện bên trong thì ở bên ngoài các bộ phận sinh dục phụ cũng xuất hiện và gia súc có phản xạ về tính hay xuất hiện hiện tượng động dục
Tuy nhiên, thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt
và các điều kiện ngoại cảnh cũng như chăm sóc nuôi dưỡng, các phản xạ
Trang 20+ Giống
Các giống lợn khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau Những giống có thể vóc nhỏ thường thành thục về tính sớm hơn những giống
có thể vóc lớn
+ Điều kiện nuôi dưỡng, quản lý
Dinh dưỡng có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn nái Cùng một giống nhưng nếu được nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý tốt, gia súc phát triển tốt thì sẽ thành thục về tính sớm hơn và ngược lại
+ Điều kiện ngoại cảnh
Khí hậu và nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính của gia súc Những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường thành thục về tính sớm hơn những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu ôn đới và hàn đới
Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng tới sự thành thục của lợn cái hậu bị Nếu ta để một con đực đã thành thục về tính gần ô chuồng của những con cái hậu bị thì sẽ thúc đẩy nhanh sự thành thục về tính của chúng Nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với đực 2 lần/ngày, với thời gian 15-20 phút thì 83% lợn cái (ngoài 90kg) động dục lúc 165 ngày tuổi
Lợn cái hậu bị nếu nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục lần đầu dài hơn lợn nuôi chăn thả Vì lợn nuôi có thời gian chăn thả sẽ tăng cường trao đổi chất, tổng hợp được sinh tố và có dịp tiếp xúc với lợn đực, nên có tuổi động dục lần đầu sớm hơn
Tuy nhiên, một vấn đề cần lưu ý là tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc Vì vậy, để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường của lợn mẹ và đảm bảo những phẩm chất giống của thế hệ sau nên cho gia súc phối giống khi đã đạt một khối lượng nhất định tuỳ theo giống Ngược lại, cũng không nên cho gia súc phối giống quá muộn vì ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của một đời nái đồng thời ảnh hưởng tới thế hệ sau của chúng
+ Các phản xạ: Sự hoạt động thần kinh trung ương, các tuyến nội tiết Hormon tuyến yên: FSH và LH
Hormon buồng trứng: Folliculin có tác dụng kích thích cơ quan sinh dục cái phát triển và tăng sinh niêm mạc tử cung làm tổ cho hợp tử
Trang 21Progesteron có thể vàng
Relactin: Hình thành từ thể vàng có tác dụng giảm trương lực dây chằng xương chậu khi đẻ
Các giai đoạn của chu kỳ tính
Chu kỳ tính của lợn thông thường là 21 ngày, chu kỳ có thể dao động từ 18 đến 22 ngày
Chu kỳ tính ở những loài khác nhau là khác nhau và ở giai đoạn đầu mới thành thục về tính thì chu kỳ chưa ổn định mà phải 2 – 3 chu kỳ tiếp theo mới ổn định Một chu kỳ tính của lợn cái dao động trong khoảng từ 18 – 22 ngày, trung bình là 21 ngày và được chia thành 4 giai đoạn: Giai đoạn trước động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục, giai đoạn nghỉ ngơi
* Giai đoạn trước động dục
Đây là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ tính, kéo dài 1 – 2 ngày, là thời gian chuẩn bị đầy đủ cho đường sinh dục của lợn cái đón nhận tinh trùng, cũng như đảm bảo các điều kiện cho trứng và tinh trùng gặp nhau để thụ thai
Trong giai đoạn này có sự thay đổi cả về trạng thái cơ thể cũng như trạng thái thần kinh Ở giai đoạn này các noãn bao phát triển mạnh, thành thục và nổi rõ trên
bề mặt buồng trứng, kích thước noãn bao thay đổi rất nhanh, đầu giai đoạn này noãn bao có đường kính là 4mm, cuối giai đoạn noãn bao có đường kính 10 – 12mm Các tế bào vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông nhung tăng, đường sinh dục bắt đầu sung huyết nhanh, hệ thống tuyến, âm đạo tăng tiết dịch nhày, niêm dịch ở cổ tử cung tiết ra làm cổ tử cung hé mở Các noãn bao chín, tế bào trứng tách khỏi noãn bao Tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung mở
ra, niêm dịch chảy nhiều Con vật bắt đầu xuất hiện tính dục, âm hộ sưng lên, hơi
mở có màu hồng tươi, cuối giai đoạn có dịch nhờn chảy ra Do hàm lượng Progesteron giảm xuống đột ngột nên con vật giảm ăn, hay kêu rống, thích nhảy lên lưng con khác nhưng không cho con khác nhảy lên lưng mình
Giai đoạn này có các biểu hiện như sau:
+ Noãn bao phát triển về khối lượng và chất lượng, nổi rõ trên bề mặt buồng trứng và tăng tiết Oestrogen
+ Hàm lượng Oestrogen tăng cao trong máu sẽ kích thích cơ quan sinh dục biến đổi: Tế bào vách ống dẫn trứng tăng sinh có nhiều lông nhung để đón trứng
Trang 22rụng, vách đường sinh dục xung huyết nhẹ, màng nhầy tử cung, âm đạo tăng sinh, mạch quản tăng cường cung cấp máu nhiều hơn Các tuyến sinh dục phụ tăng tiết chất nhầy để bôi trơn đường sinh dục: Tuyến nhờn ở âm đạo, các tuyến
cổ tử cung tiết niêm dịch kích thích cổ tử cung hé mở Sau đó noãn bao dần chín,
tế bào trứng bắt đầu thoát ra khỏi noãn bao, con vật bắt đầu xuất hiện tính dục Giai đoạn này nồng độ LH đạt thấp nhất trong máu, PGF2α dần tăng cao và đạt đỉnh trước 5 ngày động đực kéo dài 3 – 4 ngày rồi giảm
* Giai đoạn động dục
Đây là giai đoạn tiếp theo và thường kéo dài từ 2 – 3 ngày, tính từ khi tế bào trứng tách khỏi noãn bao Giai đoạn này các biến đổi của cơ quan sinh dục rõ nét nhất, niêm mạc âm hộ sung huyết, phù thũng rõ rệt và chuyển sang màu mận chín, niêm dịch từ âm đạo chảy ra nhiều, keo đặc hơn, nhiệt độ âm đạo tăng từ 0,3 – 0,70C, pH hạ hơn trước Con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ, đứng ngồi không yên, phá chuồng, ăn uống giảm, hoặc bỏ ăn, kêu rống trong trạng thái ngẩn ngơ, thích nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác nhảy lên lưng mình Ở giai đoạn này, lợn thích gần đực, khi gần đực thì luôn đứng ở tư thế sẵn sàng chịu đực, đuôi cong lên và lệch sang một bên, 2 chân sau dạng ra và hơi khụy xuống sẵn sàng chịu đực
Nếu ở giai đoạn này, tế bào trứng gặp tinh trùng và xảy ra quá trình thụ tinh tạo thành hợp tử thì chu kỳ sinh dục ngừng lại, gia súc cái ở vào giai đoạn có thai, đến khi đẻ xong một thời gian nhất định tuỳ loài gia súc thì chu kỳ sinh dục mới lại bắt đầu Nếu không xảy ra quá trình trên thì lợn cái sẽ chuyển sang giai đoạn tiếp theo của chu kỳ tính
Giai đoạn động đực gồm có 3 thời kỳ kiên tiếp nhau là: Hưng phấn, chịu đực và hết chịu đực Động dục là thời kỳ quan trọng nhất nhưng thời gian lại ngắn Đặc điểm của giai đoạn này thể hiện như sau:
+ Theo Cù Xuân Dần, Nguyễn Xuân Tịnh, Tiết Hồng Ngân, Nguyễn Bá Mùi, Lê Mộng Loan (1996), lượng Oestrogen tiết ra đạt đỉnh cao nhất gây hưng phấn mạnh mẽ toàn thân Bình thường hàm lương Oestrogen trong máu đạt 64mg% khi động dục là 112mg%
+ Các biểu hiện của cơ quan sinh dục: Âm hộ xung huyết, tấy sưng và chuyển từ màu hồng nhật sang màu đỏ, càng tới thời điểm rụng trứng thì âm
hộ càng sẫm màu Cổ tử cung lúc này mở rộng, niêm dịch tiết ra nhiều chuyển
Trang 23từ loãng trong suốt sang đặc dần và keo dính có tác dụng làm trơn đường sinh dục và ngăn chặn vi khuẩn xâm nhập Niêm dịch có thể kéo dài thành sợi sau mép âm môn
+ Các biểu hiện về thần kinh: Con vật hưng phấn, ít ăn ít uống, thích khà khịa con khác, hay nhảy lên lưng con khác, kỳ đầu còn chưa cho con đực nhảy nhưng kỳ sau thì mê ì chịu đực, mắt đờ đẫn nhìn xa xăm
+ Thời điểm rụng trứng ở lợn là sau động dục 24 – 30 giờ thời gian trứng rụng kéo dài 10 – 15 giờ nên khi phối giống ta nên phối 2 lần thì hiệu quả phối sẽ cao hơn Khi trứng rụng thì thân nhiệt sẽ tăng 0,8 – 1,2ºC, nhịp tim cũng tăng Theo Lê Xuân Cương, Nguyễn Thiện, Lưu Kỷ (1978), sau 48 giờ buồng trứng của con cái nhỏ lại, nhăn nheo, buồng trứng lúc này chỉ còn đường kính 5 –
6 mm và chuyển từ màu đỏ tươi sang màu đỏ tím
Nếu trứng rụng mà được thụ tinh thì con vật bước vào thời kỳ chửa Nếu không dược thụ tinh sẽ bước sang giai đoạn sau động dục
* Giai đoạn sau động dục
Giai đoạn này kéo dài khoảng 2 ngày, toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan sinh dục nói riêng dần trở lại trạng thái sinh lý bình thường Trên buồng trứng, thể hồng chuyển thành thể vàng, đường kính lên tới 7 – 8 mm và bắt đầu tiết Progesterone Progesterone tác động lên vùng dưới đồi theo cơ chế điều hoà ngược làm giảm tiết Oestrogen, từ đó làm giảm tính hưng phấn thần kinh, con vật dần chuyển sang trạng thái yên tĩnh, chịu khó ăn uống hơn, niêm mạc toàn bộ đường sinh dục tăng sinh, các tuyến ở cơ quan sinh dục ngừng tiết dịch, cổ tử cung đóng lại Con vật trở về trạng thái bình thường không muốn gần con đực không cho con đực nhảy
* Giai đoạn nghỉ ngơi
Giai đoạn này kéo dài từ 10 – 12 ngày, bắt đầu từ ngày thứ tư sau khi rụng trứng mà không được thụ tinh và kết thúc khi thể vàng tiêu huỷ Đây là giai đoạn con vật hoàn toàn yên tĩnh, cơ quan sinh dục hoạt động trở lại trạng thái sinh lý bình thường, trong buồng trứng thể vàng bắt đầu teo đi, noãn bao bắt đầu phát dục nhưng chưa nổi rõ trên bề mặt buồng trứng Toàn bộ cơ quan sinh dục dần xuất hiện những biến đổi chuẩn bị cho chu kỳ sinh dục tiếp theo
Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, nắm được chu kỳ tính và các giai đoạn của quá trình động dục sẽ giúp cho người chăn nuôi có chế độ nuôi dưỡng, chăm
Trang 24sóc cho phù hợp và phối giống kịp thời, đúng thời điểm, từ đó góp phần nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái
2.2.4 Cơ chế động dục
Chu kỳ động dục của lợn cái được điều khiển bởi 2 yếu tố thần kinh và thể dịch Khi các nhân tố ngoại cảnh như: Ánh sáng, nhiệt độ, mùi con đực… tác động và kích thích vùng dưới đồi (Hypothalamus) giải phóng ra các yếu tố tác động lên tuyến yên, kích thích thuỳ trước tuyến yên tiết FSH (folliculo stimulin hormone) và LH (lutein stimulin hormone) FSH kích thích noãn bao phát triển đồng thời cùng với LH làm cho noãn bao thành thục, chín và rụng trứng Khi noãn bao phát triển và thành thục, tế bào hạt trong thượng bì bao noãn tiết ra Oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn Khi hàm lượng hormone này trong máu đạt 64 – 112% sẽ kích thích con vật có những biểu hiện động dục Đồng thời dưới tác động của Oestrogen cơ quan sinh dục biến đổi: Cổ tử cung hé mở, âm hộ, âm đạo sung huyết, tiết niêm dịch, sừng tử cung và ống dẫn trứng tăng sinh tạo điều kiện cho sự làm tổ của hợp tử sau này Cuối chu kỳ động dục thì Oestrogen lại kích thích tuyến yên tiết ra LH và giảm tiết FSH Khi lượng LH/FSH đạt tỷ lệ 3/1 thì sẽ kích thích cho trứng chín và rụng trứng Sau khi trứng rụng thể vàng được hình thành ở nơi bao noãn vỡ ra Thể vàng tiết Progesterone giúp cho quá trình chuẩn bị tiếp nhận hợp tử ở sừng tử cung đồng thời ức chế tiết GSH (gonado stimulin hormone) của tuyến yên làm cho bao noãn trong buồng trứng của lợn cái không phát triển được và kết thúc một chu kỳ động dục
2.2.5 Thời điểm phối giống thích hợp
Thời gian tinh trùng lợn sống trong tử cung lợn nái khoảng 45 – 48 giờ, trong khi thời gian trứng của lợn nái tồn tại và thụ thai có hiệu quả là rất ngắn, cho nên phải tiến hành phối giống đúng lúc Thời điểm phối giống thích hợp nhất
là vào giữa giai đoạn chịu đực
Đối với lợn nái thời điểm phối giống tốt nhất là sau khi có hiện tượng chịu đực 6 – 8 giờ, hoặc cho phối vào cuối ngày thứ 3 và sang ngày thứ 4 kể từ lúc bắt đầu động dục
Khi thực hiện thụ tinh nhân tạo, thấy lợn nái chịu đực buổi sớm thì cho phối vào buổi chiều, nếu có triệu chứng chịu đực buổi chiều thì sáng hôm sau cho phối, thường phối 2 lần (phối lặp) ở giai đoạn chịu đực “chặn đầu khoá đuôi” của thời kỳ rụng trứng
Trang 25Âm môn phù to, nhão ra và sung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu vú căng to, sữa bắt đầu tiết
Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định gia súc đẻ: + Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra nước trong
+ Trước khi đẻ 1 ngày, hàng vú giữa vắt được sữa đầu
+ Trước khi đẻ 1/2 ngày, hàng vú trước vắt được sữa đầu
+ Trước khi đẻ 2 – 3h, hàng vú sau vắt được sữa đầu
Cơ chế đẻ: Đẻ là một quá trình sinh lý phức tạp chịu sự điều hòa của cơ chế thần kinh – thể dịch, với sự tham gia tác động cơ giới của thai đã thành thục
- Về mặt cơ giới: Thai trong tử cung cơ thể mẹ sinh trưởng và phát triển một cách tối đa Ở thời kỳ cuối, thai to tiếp giáp với tử cung, thai chèn ép xoang bụng, đè mạnh vào cơ quan sinh dục, ép chặt mạch máu và đám rối thần kinh hông – khum, làm kích thích truyền về thần kinh trung ương, điều tiết hormone gây đẻ Mặt khác, thai chèn ép, co đạp vào tử cung làm kích thích tử cung co bóp, sự co bóp tăng theo thời gian, kể cả cường độ và tần số, dẫn đến tử cung mở
và thai thoát ra ngoài
- Nội tiết: Trong thời gian mang thai, thể vàng và nhau thai cùng tiết ra Progesterone, hàm lượng Progesterone trong máu tăng tạo nên trạng thái an thai Đến kỳ chửa cuối, thể vàng teo dần và mất hẳn nên lượng Progesterone giảm (chỉ còn 0,22%) Đồng thời tuyến yên tiết Oxytocin, nhau thai tăng tiết Relaxin làm giãn dây chằng xương chậu và mở cổ tử cung, tăng tiết Oestrogen làm tăng độ mẫn cảm của cổ tử cung với Oxytocin trước khi đẻ
- Biến đổi quan hệ giữa cơ thể mẹ và bào thai: Khi thai đã thành thục thì quan
hệ sinh lý giữa mẹ và nhau thai không còn cần thiết nữa, lúc này thai đã trở thành như một ngoại vật trong tử cung nên được đưa ra ngoài bằng động tác đẻ
Trang 26Thời gian đẻ kéo dài hay ngắn tùy từng loài gia súc, ở lợn thường từ 2 – 6h, nó được tính từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn đến khi bào thai cuối cùng ra ngoài
Cơ chế điều khiển quá trình đẻ được mô tả ở sơ đồ dưới đây:
Cơ chế điều khiển quá trình đẻ 2.2.7 Sự điều tiết thần kinh thể dịch tới hoạt động sinh dục
Hoạt động sinh dục chịu sự điều tiết chặt chẽ của hệ thần kinh và thể dịch,
Hệ thần kinh thông qua các cơ quan nhạy cảm là nơi tiếp nhận các xung động ngoại cảnh tác động vào cơ thể, trước tiên là đại não và vỏ não mà trực tiếp là vùng dưới đồi (Hypothalamus) tiết ra các chất kích thích (yếu tố giải phóng) kích thích thùy trước tuyến yên tiết ra FSH và LH Chúng sẽ tác động vào buồng trứng làm nang trứng phát triển, chín và tiết Oestrogen Trong quá trình sinh lý bình thường, khi gia súc tới tuổi trưởng thành, buồng trứng có nang phát triển ở các giai đoạn khác nhau trong cơ thể đã có sẵn một lượng Oestrogen Hormon
Ngoại cảnh
Vùng dưới đồi Thuỳ trước tuyến yên
Buồng trứng
Tế bào hạt Thể vàng vàng
Prostaglandin Sừng tử cung
Trang 27này sẽ tác động lên trung khu ở vỏ đại não tạo điều kiện cho sự xuất hiện và lan truyền các xung động thần kinh gây tiết GnRH chu kỳ (Gonadotropin Releasing Hormone hay là hormon giải phóng FRH và LRH)
FRH (Follculin Releasing Hormone)
LRH (Lutein Releasing Hormone)
FRH và LRH được gọi cung là GnRH
FRH kích thích thùy trước tuyến yên tiết FSH (Folliculin Stimulating Hormone) kích tố này kích thích sự phát triển của noãn nang buồng trứng, noãn nang phát triển và trứng chín, lượng Progestrogen tiết ra nhiều hơn Oestrogen tác động lên các bộ phận sinh dục thứ cấp đồng thời tác động lên Hypothalamus,
vỏ đại não gây động dục LRH kích thích thùy trước tuyến yên tiết LH (Lutein Hormone) tác động vào buồng trứng là trứng chín LH kết hợp với FSH làm noãn bao vỡ gây ra hiện tượng rụng trứng hình thành thể vàng và PRH (Prolactin Releasing Hormone) kích thích thùy trước tuyến yên tiết LTH (Lutein Tropin Hormone) tác động vào buồng trứng duy trì sự tồn tại của thể vàng, kích thích thể vàng tiết Progesteron Progesteron lại tác động lên tuyến yên phân tiết FSH
và LH làm chấm dứt quá trình động dục Progesteron tác động vào tử cung làm
tử cung dày lên tạo cơ sở tốt cho hợp tử làm tổ (tạo sữa tử cung), nên khi con vật chửa thể vàng tồn tại suốt thời gian mang thì có nghĩa là lượng Progesteron được duy trì với nồng độ cao trong máu Nếu không có chửa thì thể vàng tồn tại tới ngày thứ 15 – 17 của chu kỳ sau đó teo dần đi có nghĩa là lượng Progesteron giảm dần Giảm tới mức độ nào đó rồi nó lại cùng với một số nhân tố kích thích
vỏ đại não, Hypothalamus, tuyến yên, lúc này tuyến yên ngừng phân tiết LTH, tăng cường tiết FSH và LH, chu kỳ sinh dục mới lại hình thành
Sự liên hệ giữa Hypothalamus, tuyến yên và tuyến sinh dục để điều hòa hoạt động sinh dục của gia súc cái không chỉ theo chiều thuận mà còn theo cơ chế điều hòa ngược Cơ chế điều hòa ngược giữ vai trò quan trọng trong việc giữ cân bằng nội tiết Lợi dụng cơ chế điều hòa ngược này người ta sử dụng một lượng Progesteron hoặc một lượng hormon khác đưa vào cơ thể để điều khiển chu kỳ sinh dục của con cái Khi đưa một lượng hormon Progesteron vào thì nồng độ hormon này trong máu sẽ tăng lên Theo cơ chế điều hòa ngược trung khu điều khiển sinh dục ở Hypothalamus bị ức chế, kìm hãm tiết các sự tiết các kích tố của tuyến yên, làm cho noãn bao tạm ngừng phát triển, do đó làm chu kỳ động dục tạm thời ngừng lại Sau khi ngừng sử dụng Progesteron nồng độ
Trang 28hormon này giảm trong máu, sự kìm hãm được giải toả, trung khu điều khiển sinh dục được kích thích, kích tố FSH lại được bài tiết kích thích sự phát triển của noãn bao làm chu kỳ tính của gia súc lại được hoạt động trở lại Hiệu quả tác động sẽ cao hơn nếu có sự kết hợp của một số loại hormon khác: Huyết thanh ngựa chửa, LH, Oestrogen v.v…
2.3 ĐẶC ĐIỂM QUÁ TRÌNH RỤNG TRỨNG THỤ TINH VÀ NUÔI THAI 2.3.1 Đặc điểm quá trình rụng trứng
Rụng trứng là một hiện tượng sinh lý phức tạp, thông thường rụng trứng và động dục gắn liền nhau nhưng cũng có trường hợp rụng trứng không kèm theo động dục (động dục thầm lặng), có khi động dục không kèm theo rụng trứng (động dục giả)
Hiện tượng rụng trứng gồm: Vỡ trứng và rụng trứng Hiện tượng này thông qua cơ chế thần kinh thể dịch mà các noãn bao chính được giải phóng Khi lượng Hormone LH trong máu tăng lên kích thích buồng trứng sản sinh ra enzym đặc trưng, enzym này bắt đầu giải phóng ra các acid mucopolyzaharide trong dịch nang trước khi rụng trứng Song song với quá trình này thì áp lực thẩm thấu tăng lên làm cho thành noãn bao căng phồng với điểm yếu nhất tạo thành điểm rụng trứng Trong xoang trứng dịch thể được đẩy về phía trứng, rụng cùng với trứng,
áp suất của dịch thể và chất lỏng thẩm thấu vào noãn nang làm cho trứng rụng xuống, còn dịch thể chuyển thành sợi tơ huyết rồi hình thành thể vàng Quá trình trứng rụng được loa kèn đón nhận và di chuyển đến 1/3 ống dẫn trứng
2.3.2 Đặc điểm của quá trình thụ tinh
a Sự chuẩn bị tế bào trứng
Sau khi noãn bao chín, trứng rụng vào loa kèn và di chuyển trong ống dẫn trứng Quá trình di chuyển của trứng trong ống dẫn trứng nhờ chất lỏng trong niêm mạc qua sự co bóp của ống dẫn trứng Khi di chuyển đến 1/3 phía trên ống dẫn trứng, là thời điểm xẩy ra quá trình thụ thai tốt nhất, tỷ lệ thụ thai cao nhất Nếu quá trình thụ tinh xẩy ra ở phía trên hoặc phía dưới của 1/3 ống dẫn trứng thì quá trình thụ tinh khó xẩy ra, vì ở những vị trí này không có điều kiện thuận lợi
để xẩy ra quá trình thụ tinh nên kết quả không cao
Một số tác giả cho rằng thời gian phối thích hợp khoảng 12 giờ sau khi lợn nái có biểu hiện chịu đực Với lợn hậu bị nên phối ngay khi lợn bắt đầu có biểu hiện chịu đực vì thời gian chịu đực của lợn hậu bị ngắn
Trang 29b Tinh trùng đi vào tế bào trứng
Đây là giai đoạn tinh trùng chui qua màng trong suốt và màng noãn hoàng
để đi vào tế bào trứng, Lợn có đặc điểm mà các loài khác không có được đó là toàn bộ tinh trùng có khả năng thụ thai đều chui qua màng trong suốt nhưng chỉ
có một tinh trùng khỏe nhất chui vào kết hợp với trứng Quá trình tinh trùng đi vào tế bào trứng sẻ quyết định tỷ lệ thụ thai Do vậy trong thụ tinh nhân tạo việc xác định chỉ tiêu VAC rất quan trọng, theo một số chuyên gia khi phối tinh nhân tạo cho lợn nái nội cần thiết phải phối liều 20 - 30ml trong đó tinh trùng tiến thẳng phải đạt 1 - 1,5 tỷ Đối với nái ngoại liều phối phải từ 60 - 100ml, số lượng tinh trùng tiến thẳng phải đạt 2 - 2,5 tỷ
c Sự đồng hóa lẫn nhau giữa tinh trùng và trứng
Giai đoạn này tinh trùng tách đầu ra khỏi các bộ phận khác, phần đầu tinh trùng đồng hóa với nguyên sinh chất của tế bào trứng làm cho thể tích tăng nhanh bằng tế bào trứng Phần thân, đuôi tinh trùng và các tinh trùng khác bị nguyên sinh chất đồng hóa Quá trình đồng hóa giữa tế bào trứng và đầu tinh trùng tạo thành hợp tử và hợp tử này phát triển thành phôi thai
2.3.3 Đặc điểm sinh lý của quá trình mang thai
Quá trình mang thai được chia làm 3 giai đoạn, hiểu rõ các giai đoạn này có ý nghĩa quan trọng trong công tác chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái mang thai nhằm đem lại hiệu quả cao nhất
a Giai đoạn phôi
Giai đoạn này được tính từ khi trứng được thụ tinh cho đến ngày thứ 14 Sau khi thụ tinh 20 giờ thì hợp tử bắt đầu phân chia, sau 5 - 6 ngày thì mầm thai và túi phôi được hình thành Sang ngày thứ 7, 8 thì màng ối bắt đầu hình thành làm nhiệm
vụ bảo vệ và cung cấp chất dinh dưỡng cho thai Sau 12 ngày màng niệu hình thành, nhau thai chưa phát triển hoàn chỉnh Thời gian này bào thai hấp thụ chất dinh dưỡng từ một ít chất noãn hoàng chứa trong hợp tử và từ sản phẩm tiết ra của tuyến nội mạc tử cung dưới sự điều tiết của Oestrogen
b Giai đoạn tiền thai
Giai đoạn này tính từ ngày thứ 14 đến ngày thứ 39 Đây là thời gian mà phôi thai được cố định và làm tổ ở hai bên sừng tử cung Khi lá phôi tiếp xúc với nội mạc tử cung thì các tế bào lá nuôi phôi thai tiết ra enzym phân hủy protit, phá vỡ biểu mô nội mạc tử cung và đó là nguồn dinh dưỡng chủ yếu
Trang 30của bào thai Ở thời điểm này các khí quan hình thành rõ rệt, nếu nguồn dinh dưỡng bào thai không đảm bảo sẽ dẫn đến hiện tượng thai yếu hoặc chết
c Giai đoạn bào thai
Tính từ ngày 40 đến ngày đẻ, giai đoạn này thai phát triển mạnh nhất từ ngày 90 trở đi Trong giai đoạn này thai lấy dinh dưỡng từ mẹ qua nhau thai cho đến khi thai phát triển hoàn thiện thì mối liên hệ này mới mất đi và trong giai đoạn này yếu tố dinh dưỡng mới có ảnh hưởng đến chất lượng đàn con sinh ra Trong quá trình chăn nuôi để tiện cho việc chăm sóc cũng như lợi ích kinh
tế mà người ta chia quá trình mang thai của lợn ra làm 3 kỳ như sau:
Lợn chửa kỳ 1: Từ khi thụ tinh đến ngày thứ 84, đây là giai đoạn bào thai cần ít chất dinh dưỡng Mặt khác nhau thai chưa thực sự hoàn thiện nên khẩu phần ăn của lợn chửa kỳ 1 chưa ảnh hưởng đến sự phát triển của bào thai Để tiết kiệm thức ăn thì giai đoạn này nên cho lợn nái ăn khẩu phần ăn hạn chế Mặt khác nếu trong giai đoạn này nếu cho ăn với khẩu phần quá thừa chất dinh dưỡng sẽ làm tiêu thai do cơ thể lợn mẹ quá nóng
Lợn chửa kỳ 2: Từ ngày 85 - 107, giai đoạn này bào thai đòi hỏi nhiều chất dinh dưỡng cho sự phát triển khối lượng, lúc này mối liên hệ giữa bào thai
và cơ thể mẹ rất khăng khít Bởi vậy giai đoạn này phải tăng khẩu phần cho lợn nái để phát triển khối lượng lợn con
Lợn chửa kỳ 3: Từ ngày thứ 108 - 114 ngày, đây là giai đoạn bào thai phát triển tương đối hoàn chỉnh nên mối quan hệ về dinh dưỡng giữa mẹ và bào thai dần dần được cắt đứt, do sự phát triển của bào thai chèn ép vào dạ dày nên lợn nái giảm tính thèm ăn, vì thế giai đoạn này cần cho nái ăn nhiều bữa và ăn thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao
2.4 QUÁ TRÌNH ĐẺ
Quá trình đẻ của gia súc chia làm 3 giai đoạn
Giai đoạn chuẩn bị (Mở cửa tử cung): Kéo dài khoảng 2 - 12 giờ tính từ khi tử cung có cơn co bóp đầu tiên cho đến khi tử cung mở hoàn toàn Giai đoạn này thời gian co bóp tương đương với thời gian nghỉ, Kết quả làm vỡ màng ối, dịch ối chảy ra ngoài và lợn nái xuất hiện hiện tượng cắn ổ
Giai đoạn đưa thai ra ngoài (Thời kỳ đẻ): Giai đoạn này được tính từ lúc cổ tử cung mở ra hoàn toàn cho đến khi thai cuối cùng ra ngoài Lúc này
Trang 31cơ trơn tử cung co bóp mạnh với tần số ngày một tăng tạo nên những cơn đau giữ dội Kết hợp với sự co bóp của tử cung còn có sự tham gia của cơ bụng,
cơ hoành tạo nên lực đẩy, đẩy thai ra ngoài Giai đoạn này kéo dài khoảng 1 -
4 giờ, nếu quá 6 giờ thì hiện tượng này không bình thường và cần theo dõi để can thiệp
Giai đoạn bong nhau (Thời kỳ sổ nhau): Giai đoạn này diễn ra sau khi bào thai cuối cùng được đẩy ra, kéo dài khoảng 1 - 4 giờ, nếu thời gian này kéo dài có thể dẫn đến hiện tượng sót nhau, gây viêm tử cung, viêm vú, mất sữa hoặc bỏ ăn
2.5 MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI Hiệu quả của chăn nuôi lợn nái sinh sản được đánh giá bằng số lợn con cai sữa/nái/năm và tổng khối lượng lợn con cai sữa, hai chỉ tiêu này phụ thuộc vào tuổi thành thục về tính, tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra, số lứa đẻ/năm, tỷ lệ nuôi sống con theo mẹ Sản lượng sữa của mẹ, kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc Do đó để tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái sinh sản thì phải tiến hành nâng cao số lợn con cai sữa, khối lượng lợn con lúc cai sữa Chung C S., Nam A S (1998) cho rằng: Trong các trại chăn nuôi hiện đại, số con cai sữa do một nái sản xuất trong một năm
là chỉ tiêu đánh giá đúng đắn nhất năng suất sinh sản của lợn nái
Trần Đình Miên (1997), cho biết việc tính toán khả năng sinh sản của lợn nái cần xét đến các chỉ tiêu như chu kỳ động dục, tuổi thành thục về tính, tuổi có khả năng sinh sản, thời gian chửa và số con đẻ ra/lứa
Sức sinh sản của lợn nái bao gồm các chỉ tiêu về tuổi động dục lần đầu, số con
đẻ ra/ổ và thời gian từ khi cai sữa đến động dục lại, phối giống có kết quả
Colin T Whittemore (1998), cho rằng: Các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu của lợn nái bao gồm: Số con đẻ ra/ổ, số con cai sữa/ổ, khối lượng toàn ổ ở 21 ngày tuổi và số lứa đẻ/nái/năm, các chỉ tiêu này ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của người chăn nuôi lợn nái
Để đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái tùy vào mục đích nghiên cứu, lĩnh vực nghiên cứu mà có thể lựa chọn các chỉ tiêu khác nhau Hiện nay trong nghiên cứu thường dùng hai nhóm chỉ tiêu đó là: Nhóm chỉ tiêu về đặc điểm sinh
lý sinh dục và nhóm chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn nái
Tuổi phối giống lần đầu: Sau khi đã thành thục về tính và thể vóc thì có thể đưa lợn vào phối giống Tuổi phối giống lần đầu được tính từ khi sinh đến
Trang 32lần phối giống đầu tiên, thông thường để cho bộ phận sinh dục được phát triển hoàn thiện thì người ta thường bỏ qua 2 - 3 chu kỳ động dục đầu tiên rồi mới tiến hành phối giống
Thời gian mang thai: Sau khi phối giống đến ngày đẻ ta có thời gian mang thai Thông thường thời gian mang thai của lợn giao động trong khoảng
112 - 117 ngày, trung bình là 115 ngày
Tỷ lệ đậu thai: Sau khi phối giống, tùy theo các phương pháp phối khác nhau, nếu tinh trùng gặp trứng ở thời điểm thích hợp thì sẽ có hiện tượng mang thai, nếu không thì sau 1 chu kỳ tính, lợn nái sẽ có hiện tượng lên giống trở lại, tỷ
lệ đậu thai đánh giá kỹ thuật phối giống, chất lượng tinh con đực và thời điểm phát hiện động dục
Tuổi đẻ lứa đầu: Là số ngày tuổi từ khi nái sinh ra cho đến khi nái đẻ lứa đầu tiên, tuổi đẻ lứa đầu phụ thuộc vào tuổi thành thục về tính, kết quả phối giống, thời gian mang thai và từng giống lợn khác nhau, Đối với lợn nái nội tuổi
đẻ lứa đầu thường sớm hơn lợn nái ngoại do tuổi thành thục về tính sớm hơn
Số con đẻ ra trên lứa: Tính cả bao gồm số con sống, số con chết , số con
dị tật và số thai khô Chỉ tiêu này đánh giá được khả năng đẻ sai và khả năng nuôi thai của lợn nái
Số lợn sinh ra còn sống: Là số con sinh ra còn sống và để lại nuôi, tùy theo các chỉ tiêu để lại nuôi khác nhau của từng trại sản xuất, chỉ tiêu này không bao gồm những con dị tật, những con có khối lượng nhỏ không có khả năng nuôi sống Chỉ tiêu này đánh giá khả năng nuôi thai của lợn, Trình độ kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng của người chăn nuôi
Khối lượng lợn con lúc sơ sinh/ổ: Là tổng khối lượng của toàn ổ sau khi con cuối cùng được sinh ra, không bao gồm những con dị tật và những con có khối lượng nhỏ
Khối lượng lợn con lúc cai sữa/ổ: Là khối lượng cân toàn ổ lúc cai sữa, chỉ tiêu này đánh giá khả năng tiết sữa, nuôi con của lợn nái, đánh giá kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng lợn con theo mẹ của người chăn nuôi Khối lượng lợn con cai sữa quyết định thời gian, khối lượng lợn thương phẩm sau này
Tỷ lệ chết trong thời gian theo mẹ: Trong thời gian theo mẹ lợn con có thể chết bởi rất nhiều nguyên nhân: Do bệnh tật, do quản lý, do chăm sóc sản phẩm của quá trình mang thai và đẻ là số lượng lợn con sau cai sữa, chăm sóc nuôi dưỡng,
Trang 33quản lý tốt có thể làm giảm tỷ lệ này và đây là yếu tố để làm tăng số con cai sữa/nái/năm
Thời gian nuôi con: Thời gian nuôi con càng ngắn thì càng tăng được
số con cai sữa/nái/năm và số lứa đẻ/nái/năm Nhưng nếu cai sữa sớm quá thì ảnh hưởng đến chất lượng đàn con, vì thế thông thường cai sữa từ 18 - 25 ngày
là thích hợp nhất, trung bình là 21 ngày
Thời gian lên giống sau khi cai sữa: Thời gian lên giống sau được tính
từ khi lợn nái tách con đến khi lợn được phối giống lại Sau khi tách con, lợn
mẹ được nhốt riêng và sẽ lên giống trong khoảng 4 - 7 ngày
Khoảng cách giữa các lứa đẻ: Được tính từ lứa đẻ này đến lứa đẻ tiếp theo, thời gian này bao gồm có: Thời gian mang thai + thời gian nuôi con + thời gian chờ phối Rút ngắn khoảng cách giữa các lứa đẻ là mục tiêu của người chăn nuôi nhằm tăng số con/nái/năm
2.6 BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở LỢN NÁI (MESTRITIS)
2.6.1 Nguyên nhân gây viêm tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002), Nguyễn Hoài Nam và Nguyễn Văn Thanh (2016), viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái
Tác giả Đào Trọng Đạt và cs (2000), bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường
do các nguyên nhân sau:
- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây sát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm
- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật, hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác bị mắc bệnh viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khỏe
- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát
- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung
Trang 34- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao…
- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm”
Theo Lê Văn Năm (1997), ngoài các nguyên nhân trên, viêm tử cung còn
có thể là biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào tử cung gây nên trong thời gian động dục (do lúc đó cổ tử cung mở), vi khuẩn xâm nhập vào tử cung theo đường máu và viêm tử cung là một trong những triệu chứng lâm sàng chung
Có rất nhiều vi sinh vật được cho là nguyên nhân gây ra viêm tử cung ở lợn nái sau đẻ bao gồm E.coli, Brucella spp, Leptospira spp, vi khuẩn đóng dấu lợn, Streptococcus spp, Mycoplasma, Pravo virus, virus dịch tả lợn, virus giả dại, Clamydia
Theo F.Madec and C.Neva (1995), bệnh viêm tử cung và các bệnh ở đường tiết niệu có mối quan hệ với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũng phát triển trong
âm đạo và việc gây nhiễm ngược lên tử cung là rất dễ xảy ra
Nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sinh trưởng ở một cơ quan nào đó có kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bị chưa phối nhưng đã bị viêm tử cung
2.6.2 Hậu quả của bệnh viêm tử cung
Trong cơ quan sinh dục của lợn nái tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con Theo F.Madec and C.Neva (1995), hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lần động dục tiếp theo có thể giải thích nguyên nhân làm giảm
độ mắn đẻ, từ đó làm giảm năng xuất sinh sản
Theo Waller C M et al (2002), bệnh đường sinh dục của lợn sau đẻ ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai của lứa sau, số con lứa sau sẽ ít hơn lứa trước, dẫn đến thu nhập kinh tế bị thiệt hại Waller C M et al (2002), đã cụ thể hóa kết quả nghiên cứu, cho thấy lợn nái sau đẻ chảy dịch lợn nái nào lứa 1 bị chảy dịch nhiều hơn 6 ngày thì số lượng lợn con sinh ra ở lứa sau sẽ ít hơn những con bị chảy dịch dưới 6 ngày
Trang 35Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002); Trần Thị Dân (2004), khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:
- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai: lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi gia súc cái mang thai, dưới tác dụng của Progesterone sự co thắt của cơ tử cung giảm đi, do đó phôi thai có thể bám chặt vào tử cung Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều Prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân hủy thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hóa các mao quản ở thể vàng nên gảm lưu lượng máu đi đến thể vàng Thể vàng bị phá hủy không tiết Progesterone nữa, hàm lượng Progesterone trong máu giảm làm cho tính trương lực cơ của cơ tử cung tăng lên, do đó gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai
- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu: lớp nội mạc tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để nuôi dưỡng phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng Progesteron giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung giảm, do đó bào thai nhận được
ít, thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu
- Sau khi sinh lợn con giảm sức đề kháng và khả năng sinh trưởng của lợn con theo mẹ: khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có mặt của vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết kích thích tố tạo sữa Prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái bị giảm hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con của những lợn
mẹ bị viêm tử cung thường bị tiêu chảy, còi cọc
- Lợn nái bị viêm tử cung mạn tính sẽ ảnh hưởng đến khả năng động dục trở lại: nếu tử cung bị viêm mạn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone Progesterone ức chế thùy trước tuyến yên tiết LH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được và không thải trứng được
Theo F.Madec and C.Neva (1995), ảnh hưởng rõ nhất trên lâm sàng mà người chăn nuôi và bác sỹ thú y nhận thấy ở lợn viêm tử cung lúc sinh đẻ là: chảy
mủ ở âm hộ, sốt, bỏ ăn Mặt khác, các quá trình bệnh lý xảy ra lúc sinh đẻ ảnh hưởng rất lớn tới năng xuất sinh sản của lợn nái sau này Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Ngoài