Kết quả nghiên cứu chính và kết luận - Đã xác định được 9 loài bào tử sợi thuộc 2 giống Myxobolus spp và Thelohanellus spp ký sinh ở cá chép thương phẩm tại địa bàn 4 tỉnh Bắc Ninh, Bắc
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Khánh Linh
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN Tôi - Vi Thế Đang cam đoan Luận văn của tôi là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin về số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được người nào công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được trích rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Vi Thế Đang
Trang 3LỜI CẢM ƠN Trong quá trình triển khai xây dựng luận văn, tôi đã nhận được nhiều sự ủng
hộ, giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân, thầy cô giáo để tôi có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Trung tâm chẩn đoán bệnh thủy sản – Công
ty TNHH sản xuất và dịch vụ Quang Dương tại phường Đình Bảng, TX Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đã tạo điều kiện cho tôi tham gia và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Bộ môn Ký sinh trùng, Khoa Thú Y và các Thầy Cô giáo Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại trường
Các Chi cục Thủy sản/ Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương và Hưng Yên; Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các huyện Ninh Giang, Nam Sách tỉnh Hải Dương; Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các huyện Yên Phong, Tiên Du tỉnh Bắc Ninh; Phòng NN&PTNT các huyện Mỹ Hào, Văn Giang tỉnh Hưng Yên; Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các huyện Việt Yên, Tân Yên tỉnh Bắc Giang; các hộ nuôi thủy sản thuộc các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương và Hưng Yên đã giúp đỡ, tạo điều kiện lấy mẫu, theo dõi sức khỏe cá và cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ xây dựng luận văn
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy cô giáo hướng dẫn:
TS Bùi Khánh Linh, Trưởng bộ môn Ký sinh trùng khoa Thú y Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn giúp đỡ, ủng
hộ và động viên tôi trong suốt thời gian học tập cũng như hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Vi Thế Đang
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục các hình viii
Trích yếu luận văn x
Thesis abstract xii
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đóng góp mới của đề tài 3
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Tổng quan về vùng nghiên cứu 4
2.2 Khái niệm về dịch tễ học và phương pháp nghiên cứu dịch tễ 5
2.3 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu 5
2.3.1 Một số đặc điểm sinh học của cá chép 5
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng trên cá ở thế giới và Việt Nam 8
2.3.3 Nghiên cứu ký sinh trùng ở cá chép 13
2.3.4 Nghiên cứu Bào tử sợi ký sinh trên cá 18
3.1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 26
3.2 Nội dung nghiên cứu 26
3.3 Đặc điểm, thời gian, đối tượng nghiên cứu 26
3.3.1 Địa điểm nghiên cứu 26
3.3.2 Thời gian nghiên cứu 26
3.3.3 Đối tượng nghiên cứu 26
3.4 Vật liệu nghiên cứu 26
3.4.1 Cá chép nuôi thịt 26
3.4.2 Các dụng cụ, hóa chất trong phòng thí nghiệm 26
3.5 Phương pháp nghiên cứu 27
Trang 53.5.1 Phương pháp điều tra hồi cứu thu thập số liệu và thông tin về tình hình
nhiễm bệnh 28
3.5.2 Phương pháp thu mẫu và bảo quản mẫu cá chép 28
3.5.4 Phương pháp mổ khám toàn diện cá thương phẩm 29
3.5.5 Phương pháp làm tiêu bản 29
3.5.6 Phương pháp đo đếm, phân loại ký sinh trùng 30
3.5.7 Phương pháp xử lý số liệu 31
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 32
4.1 Kết quả phân loại bào tử sợi ký sinh trên cá chép nuôi 32
4.1.1 Thành phần giống loài Bào tử sợi ký sinh trên cá chép thịt 32
4.1.2 Kết quả phân loại và một số đặc điểm hình thái của các loài BTS ký sinh trên cá chép 33
4.2 Kết quả nghiên cứu tình hình nuôi trồng thủy sản và dịch tễ bệnh bò tử sợi trên cá chép ở các vùng nghiên cứu 46
4.2.1 Tình hình nuôi trồng thủy sản ở các vùng nghiên cứu 46
4.2.2 Mùa vụ, hình thức nuôi và tuổi cá bị bệnh do Bào tử sợi 49
4.2.3 Kết quả kiểm tra Bào tử sợi trên cá chép trong các hệ thống nuôi 49
4.2.4 Kết quả kiểm tra Bào tử sợi ký sinh tại các cơ quan trên cá chép thịt 54
4.3 Kết quả nghiên cứu tỷ lệ và cường độ ô nhiễm bào tử sợi (BTS) trên cá chép thương phẩm tại các địa điểm nghiên cứu 56
4.3.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm BTS trên cá chép thịt tại các vùng nghiên cứu 56
4.3.2 Tổng hợp tỷ lệ và cường độ nhiễm BTS trên cá chép thị tại các địa bàn nghiên cứu 62
4.4 Xác định nguyên nhân chính và đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm hạn chế sự nhiễm bào sợi tử cho cá chép nuôi thương phẩm 64
4.4.1 Những nguyên nhân chính là gây nhiễm bào tử sợi 64
4.4.2 Một số giải pháp chủ yếu 64
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 66
5.1 Kết luận 66
5.1.1 Thành phần loài bảo tử sợi nghiên cứu 66
5.1.2 Tỷ lệ nhiễm ở các vùng nghiên cứu 66
5.1.3 Cường độ nhiễm ở các vùng nghiên cứu 66
Trang 65.1.4 Tác hại của bào tử sợi đối với cá 67
5.1.5 Kiến nghị các biện pháp phòng bệnh 67
5.2 Kiến nghị 68
Tài liệu tham khảo 69
Danh mục các công trình công bố 72
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tương quan chiều dài và tuổi của cá Chép tại hạ lưu sông Hồng 7
Bảng 3.1 Số lượng mẫu nghiên cứu 28
Bảng 4.1 Kết quả tổng hợp thành phần loài BTS ký sinh trên cá Chép nuôi thịt tại 4 tỉnh nghiên cứu 32
Bảng 4.2 Diễn biến diện tích NTTS của 4 tỉnh nghiên cứu 46
Bảng 4.3 Diễn biến sản lượng NTTS của 4 tỉnh nghiên cứu 48
Bảng 4.4 Mùa vụ, hình thức nuôi và tuổi cá bị bệnh do Bào tử sợi 49
Bảng 4.5 Kết quả kiểm tra Bào tử sợi trên cá chép trong các hệ thống nuôi 50
Bảng 4.6 Kết quả kiểm tra BTS trên cá chép trong các hệ thống nuôi tại tỉnh Bắc Ninh 51
Bảng 4.7 Kết quả kiểm tra BTS trên cá chép trong các hệ thống nuôi tại tỉnh Bắc Giang 52
Bảng 4.8 Kết quả kiểm tra BTS trên cá chép trong các hệ thống nuôi tại tỉnh Hưng Yên 53
Bảng 4.9 Kết quả kiểm tra BTS trên cá chép trong các hệ thống nuôi tại tỉnh Hải Dương 54
Bảng 4.10 Kết quả kiểm tra cơ quan Bào tử sợi ký sinh trên cá chép nuôi 55
Bảng 4.11 Kết quả nghiên cứu cường độ nhiễm BTS trên cá chép thịt ở Bắc Ninh 57
Bảng 4.12 Kết quả nghiên cứu cường độ nhiễm BTS trên cá chép thịt ở Bắc Giang 58
Bảng 4.13 Kết quả nghiên cứu cường độ nhiễm BTS trên cá chép thịt ở Hưng Yên 60
Bảng 4.14 Kết quả nghiên cứu cường độ nhiễm BTS trên cá chép thịt ở Hải Dương 61
Bảng 4.15 Kết quả tổng hợp tỷ lệ nhiễm BTS trên cá chép thịt tại các địa điểm nghiên cứu 62
Bảng 4.16 Kết quả tổng hợp cường độ nhiễm BTS trên cá chép thịt tại các địa điểm nghiên cứu 63
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 2.1 Sơ đồ cấu tạo của trùng bào tử sợi - Myxosporea (theo Schulman,
1960) 19
Hình 2.2 Hình dạng bào tử của Myxosporea: 20
Hình 2.3 Cá bị nhiễm bào tử sợi Myxobolus koi trên mang cá chép giống 22
Hình 2.4 Cá chép 5 tháng tuổi bị bệnh do bào tử sợi/ Bào tử sợi (tổng thể cá) 22
Hình 2.5 Bọc Bào nang của bào tử sợi/ Bào tử sợi trong ruột cá chép (mổ khám) 23
Hình 2.6 Bọc Bào nang của bào tử sợi/ Bào tử sợi trong ruột cá chép (mổ khám cận cảnh) 23
Hình 2.7 Bào nang ký sinh ở mang cá chép 5 tháng tuổi 24
Hình 2.8 Bào tử sợi Myxobolus artus 24
Hình 3.1 Sơ đồ tiến hành nghiên cứu ký sinh trùng 27
Hình 4.1 Bọc Bào nang của Bào tử sợi trong ruột cá chép (tại Bắc Giang) 55
Hình 4.2 Bọc Bào nang của Bào tử sợi trong ruột cá chép (tại Hưng Yên) 55
Hình 4.3 Bọc Bào nang của BTS trong ruột cá chép tại Hải Dương (92 bào nang/cá) 56
Hình 4.4 Hình dạng loài Myxobolus toyamai Kudo, 1915; Bùi Quang Tề 34
Hình 4.5 Myxobolus toyamai; Mẫu tươi 34
Hình 4.6 Hình dạng loài Myxobolus koi Kudo, 1919; Bùi Quang Tề 35
Hình 4.7 Myxobolus koi; Mẫu tươi x40 36
Hình 4.8 Myxobolus koi; Mẫu tươi x40 (nhuộm Nitrat bạc) 36
Hình 4.9 Hình dạng loài Myxobolus achmerovi Schulman, 1966; Bùi Quang Tề 37
Hình 4.10 Myxobolus achmerovi, Mẫu tươi x40 37
Hình 4.11 Hình dạng loài M anisocapsularis Schulman, 1966; Bùi Quang Tề 39
Hình 4.12 Hình dạnh Myxobolus anisocapsularis; Mẫu tươi x 10 39
Hình 4.13 Hình dạng loài Myxosporea cyprini Doflein, 1898; Bùi Quang Tề 40
Hình 4.14 Myxosporea cyprini; Mẫu tươi nhuộm AgNO3 40
Hình 4.15 Hình dạng loài Myxobolus artus Achmervo, 1960; Bùi Quang Tề 41
Hình 4.16 Myxobolus artus Achmervo; Mẫu tươi 41
Hình 4.17 Hình dạng loài Th catlae Chakvawartyet Basu, 1958; Bùi Quang Tề 42
Hình 4.18 Thelohanellus catlae, Mẫu tươi 42
Trang 10Hình 4.19 Thelohanellus catlae; Mẫu tươi 43
Hình 4.20 Hình dạng loài Thelohanellus acuminatus Hà Ký, 1968 44
Hình 4.21 Thelohanellus acuminatus; Mẫu tươi nhuộm AgNO 3 44
Hình 4.22 Thelohanellus rohitae, Mẫu soi tươi 45
Hình 4.23 Thelohanellus rohitae; Mẫu tươi nhuộm AgNO 3 45
Hình 4.24 Thelohanellus rohitae – ký sinh trong ruột cá chép (mẫu…) 46
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Vi Thế Đang
Tên luận văn: “Nghiên cứu dịch tễ bệnh do bào tử sợi (Myxosporea) trên cá chép ở một số tỉnh phía Bắc và biện pháp phòng trị”
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra hồi cứu thu thập số liệu và thông tin về tình hình nhiễm bệnh thích bào tử trùng (bào tử sợi) trên cá chép tại 4 tỉnh nghiên cứu
- Phương pháp thu mẫu và bảo quản mẫu cá chép
Kết quả nghiên cứu chính và kết luận
- Đã xác định được 9 loài bào tử sợi thuộc 2 giống (Myxobolus spp và Thelohanellus spp) ký sinh ở cá chép thương phẩm tại địa bàn 4 tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên và Hải Dương
- Đã xác định được 01 loài mới thuộc giống Thelohanellus và Thelohanellus rohitae Loài Thelohanellus rohitae đã được một số tài liệu quốc tế công bố như: Southwell & Prashad, công bố năm 1918 Tuy nhiên các tài liệu trước đây tại Việt Nam
Trang 12chưa công bố (Hà Ký và Bùi Quang Tề, 2007; Nguyễn Thị Hồng Chiên, 2012; Trần Hải Thanh, 2014) Đặc biệt loài này xuất hiện ở cả 4 tỉnh nghiên cứu với tỷ lệ rất cao
- Tỷ lệ nhiễm bệnh bào tử sợi trên cá chép thương phẩm là rất cao, bào tử sợi đã
có ở khắp các vùng nuôi Trong đó loài Thelohanellus rohitae có tỷ lệ nhiễm cao nhất tại Hải Dương (42,42 %), tiếp theo là loài Myxobolus toyamai tại Bắc Ninh (35,71%), Myxobolus artus tại Hưng Yên (30,65%), Thelohanellus catlae tại Bắc Giang (30%), Myxobolus achmerovi tại Bắc Ninh (28,57%), Myxobolus koi tại Bắc Ninh (25,81%), Thelohanellus acuminatus tại Bắc Ninh (25%), Myxobulus anisocapsularis tại Bắc Ninh (18,75%), thấp nhất là Myxobolus cyprini tại Bắc Ninh (10,71%)
- Cường độ nhiễm bào tử sợi ở các loài đều rất cao, Myxobolus achmerovi cường
độ nhiễm cao nhất (49,5 bào tử/thị trường 10x40); tiếp đến là Thelohanellus rohitae (49 bào tử/thị trường 10x40), Myxobolus achmerovi (48 bào tử/thị trường 10x40), Myxobulus anisocapsularis (45 bào tử/thị trường 10x40), Myxobolus koi và Thelohanellus acuminatus (38,5 bào tử/thị trường 10x40); thấp nhất là Myxobolus cyprini (12 bào tử/thị trường 10x40)
- Cá chép thương phẩm bị nhiễm bệnh do bào tử sợi không chết ngay hàng loạt, nhưng gây thiệt hại rất lớn về kinh tế (giai đoạn đầu nhiễm bệnh, cá vẫn ăn nhưng cá chậm lớn hoặc không lớn; giai đoạn các bào nang phát triển to, chèn ép các cơ quan nội tạng và lấy dinh dưỡng của cá, làm cho yếu và chết; thời gian đầu cá chết rải rác, sau đó chết hàng loạt, có thể lên đến 40%)
- Các bào tử của bào tử sợi có vỏ bọc tương tự vỏ kitin, do đó với cường nhiễm cao ký sinh trong mang và ruột của cá, sẽ rất khó để thuốc tác động tiêu diệt mầm bệnh Nên rất cần có những nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo để có giải pháp phòng và trị bệnh hiệu quả
Trang 13THESIS ABSTRACT Author name: Vi The Dang
Thesis title: “Epidemiological study of Myxosporea spores on carps in some Northern provinces and preventive measures”
Institution: Viet Nam Academy of Agriculture
Research purposes
- Identification of species of spores (spore fiber) on commercial carps
- Study on then of spores (spore fiber) on carps in the study areas
- Study on the rate and infection intensity of spore (spore fiber) on commercial carps at sampling sites
- Determining the main reasons and proposing main solutions for limitation of spore infection (spore fiber) on commercial carps
Research methods
- Methods of retrospective investigation and collection of data and information on the infection status of spores (spore fiber) on carps in the 4 study provinces
- Methods of collecting and preserving carp samples
- Methods of sample handling
- Methods of comprehensive examination of commercial carp
- Methods of specimen making
- Methods of measuring and classifying parasites
- Methods of data handling
Main results and conclusions
- Identifying 9 spore fiber species of 2 strains (Myxobolus spp and Thelohanellus spp) parasitizing on commercial carps in the 4 provinces of Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên and Hải Dương
- Identifying 01 new species of Thelohanellus and Thelohanellus rohitae Thelohanellus rohitae has been published by several international documents such as Southwell & Prashad, published in 1918 However, it has not been published in previous documents in Vietnam (Ha Ky and Bui Quang Te, 2007; Nguyen Thi Hong Chien, 2012; Tran Hai Thanh, 2014) Especially, this speciees appears in all 4 study provinces with a very high rate
Trang 14- The infection rate of spore fiber on commercial carps is high, spores appear in all culture areas Of which, Thelohanellus rohitae is highest infected in Hải Dương (42,42 %), followed by Myxobolus toyamai in Bắc Ninh (35,71%), Myxobolus artus in Hưng Yên (30,65%), Thelohanellus catlae in Bắc Giang (30%), Myxobolus achmerovi
in Bắc Ninh (28,57%), Myxobolus koi in Bắc Ninh (25,81%), Thelohanellus acuminatus
in Bắc Ninh (25%), Myxobulus anisocapsularis in Bắc Ninh (18,75%), the lowest is Myxobolus cyprini in Bắc Ninh (10,71%)
- Infection intensity of spores is very high in all speries, Myxobolus achmerovi has the highest intensity (49,5 spores/specimen at 10x40 magnification); followed by Thelohanellus rohitae (49 spores/specimen at 10x40 magnification), Myxobolus achmerovi (48 spores/specimen at 10x40 magnification), Myxobulus anisocapsularis (45 spores/specimen at 10x40 magnification), Myxobolus koi and Thelohanellus acuminatus (38,5 spores/specimen at 10x40 magnification); the lowest is Myxobolus cyprini (12 spores/specimen at 10x40 magnification)
- Commercial carps infected with spore fiber do not die in bulk, but cause great economic losses (at the early stage of infection, fish are still eating but slowly growing
or even do not grow; when the cysts grow big, squeezing the internal organs and taking nutrients from fish, fish are weak and dying; at first fish die scatteredly, then die in bulk, can be up to 40%)
- The spores of spore fiber have the same cover of chitin, therefore with a high infection intensity and parasitizing in fish gill and gut, it is difficult for drugs to kill the germ The next in-depth studies for effective prevention and curative solution are very important
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong những năm qua, ngành thủy sản liên tục đạt tốc độ tăng trưởng cao
về sản lượng và giá trị kim ngạch xuất khẩu Theo báo cáo tại Hội nghị tổng kết ngành thủy sản năm 2016 của Tổng cục Thủy sản, tổng sản lượng thủy sản cả nước ước đạt hơn 6,7 triệu tấn tăng 2,1% so với năm 2015 Trong đó, sản lượng khai thác gần 3,1 triệu tấn (tăng 2,3% so với năm 2015), sản lượng nuôi trồng trên 3,6 triệu tấn (tăng 2% so với năm 2015) Kim ngạch xuất khẩu thủy sản ước đạt khoảng 7 tỷ USD, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm 2015 Việt Nam đứng thứ 3 trên thế giới về xuất khẩu thủy sản (sau Trung Quốc và Ấn Độ)
Bên cạnh những thành tựu to lớn ngành thủy sản đã đạt được, thì cũng có không ít những khó khăn đã và đang xảy ra đối với ngành thủy sản, đặc biệt trong nuôi trồng thủy sản Trong thời kỳ đổi mới kinh tế đất nước, đặc biệt từ năm 2000 đến nay, các ngành công nghiệp của nước ta phát triển nhanh, kéo theo
sự gia tăng các khu dân cư tập trung và hoạt động dịch vụ nhà hàng, bệnh viện…
đã thải ra môi trường lượng chất thải độc hại rất lớn Mặt khác, hoạt động chăn nuôi, trồng trọt và nuôi, trồng thủy sản cũng trực tiếp thải ra chất thải làm ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động nuôi trồng thủy sản Ngoài các vấn đề về môi trường, bệnh dịch ảnh hưởng đến nuôi trồng thủy sản, thì hiện nay, người tiêu dùng ngày càng đòi hỏi khắt khe và cao hơn về chất lượng sản phẩm, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và thương hiệu Vấn đề an toàn thực phẩm luôn được đặt ra trước những hiểm họa khôn lường xuất phát từ việc sử dụng thực phẩm không an toàn về sinh học như thực phẩm bị nhiễm khuẩn, nhiễm
ký sinh trùng…, thực phẩm chứa hormon, kháng sinh tồn dư
Trong nuôi trồng thủy sản của Việt Nam hiện nay, bên cạnh các đối tượng nuôi chủ lực (tôm nước lợ, cá tra) phục vụ xuất khẩu, thì các đối tượng nuôi nước ngọt truyền thống (trắm, trôi, mè, chép, rô phi) đóng góp vai trò quan trọng phục vụ trực tiếp cho người tiêu dùng nội địa Các đối tượng thuỷ sản nuôi nước ngọt tương đối đa dạng, phù hợp với phổ thức ăn khác nhau, nhằm tận dụng hết nguồn dinh dưỡng trong chuỗi thức ăn của thuỷ vực bằng cách nuôi ghép Tổng diện tích nuôi cá nước ngọt truyền thống của cả nước năm 2016 là 235.500 ha đạt sản lượng 480.500 tấn, trong đó vùng Đồng bằng sông Hồng có diện tích nuôi lớn nhất khoảng gần 90.000 ha đạt sản lượng
Trang 16280.000 tấn (Tổng cục Thủy sản, 2016) Trong các loài cá nuôi ghép truyền thống, cá chép là loài cá có chất lượng thịt thơm, ngon được nhiều người tiêu dùng lựa chọn trong chế biến nhiều món ăn Cá chép được ương, nuôi quanh năm trong nhiều hệ thống nuôi và trong tự nhiên
Thực tế hiện nay, trong quá trình ương và nuôi cá chép đã và đang bị nhiễm các loại ký sinh trùng, làm cho cá chép chậm lớn và nhiều trường hợp cá bị chết hàng loạt Bên cạnh đó, cá chép bị nhiễm ấu trùng sán có nguy cơ truyền lây sang người khi sử dụng thực phẩm không được nấu đủ nhiệt, thì bệnh do ấu trùng và bào nang của Bào tử sợi (Myxobolus sp) đang gây ra những thiệt hại rất lớn cho người nuôi cá chép hiện nay ở các tỉnh phía Bắc, đặc biệt đang gây thiệt hại rất lớn tại các vùng nuôi các huyện Thanh Miện, Ninh Giang tỉnh Hải Dương; các huyện Thường Tín, Phú Xuyên TP Hà Nội (Kim Văn Vạn, 2014); các huyện Mỹ Hào, Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên; các huyện Yên Phong, Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh, nhưng hiện nay chưa có biện pháp xử lý hiệu quả, đồng thời chưa có nghiên cứu
để đánh giá mức độ gây thiệt hại cho cá chép nuôi
Cá chép đối tượng nuôi chủ lực trong nuôi trồng thủy sản, là một đối tượng
có giá trị kinh tế, dinh dưỡng cao được người tiêu dùng ưu chuộng Cá chép được nuôi phổ biến ở các vùng nước ngọt Việt Nam Nhưng trong quá trình nuôi cá chép còn gặp nhiều rủi ro do bệnh tật, trong đó có bệnh ký sinh trùng Nghiên cứu ký sinh trùng ở cá chép rất phong phú, có nhiều công trình của các tác giả, đến này đã nghiên cứu được 64 loài ký sinh trùng, đã xác định được 12 loài bào
tử sợi, trong đó có 7 loài do giống Myxobolus spp và 5 loài do giống Thelohanellus spp Nhưng nghiên cứu dịch tễ bệnh do bào tử sợi gây nguy hiểm cho cá chép chưa nhiều
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu dịch tễ bệnh do Bào tử sợi (Myxosporea) trên cá chép ở một
số tỉnh phía Bắc và biện pháp phòng trị” bước đầu nắm được tình hình dịch
tễ của bệnh, các giai đoạn phát triển của bệnh Bào tử sợi (Myxosporea), phân loại các loài Bào tử sợi (còn gọi là thích bào tử trùng) và đề xuất các biện pháp phòng trị trên cá chép để có khuyến cáo cho người nuôi
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Thành phần giống loài thích bào tử trùng ký sinh trên cá chép; Mức độ nhiễm bào tử sợi trên cá Chép thịt tại các địa điểm thu mẫu;
Trang 17Kết quả nghiên cứu tình hình nuôi trồng thủy sản và dịch tễ bệnh bào tử sợi trên cá chép ở các vùng nghiên cứu;
Xác định nguyên nhân chính và đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm hạn chế sự nhiễm thích bào tử trùng cho cá chép nuôi
1.3 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Đã xác định phân loại bào tử sợi Thelohanellus rohitae ký trong ruột và xoang cơ thể cá chép thương phẩm gây bệnh khá nguy hiểm cho cá chép nuôi thương phẩm ở 4 tỉnh đồng bằng sông Hông: Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương
và Hưng Yên
Trang 18PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU
Căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội chia sản xuất thủy sản của Việt Nam thành 3 vùng miền (miền Bắc, miền Trung, miền Nam) Trong đó, vùng Đồng bằng sông Hồng gồm 11 tỉnh và thành phố: Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình với tổng số dân trên 20 triệu người và chiếm tới 22,8% tổng dân số toàn quốc Vùng Đồng bằng sông Hồng có tổng diện tích là 16.700 km2, diện tích Nuôi trồng Thuỷ sản năm 2016 là 145.000 ha, sản lượng thuỷ sản đạt 456.000 tấn trong đó diện tích nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt là 90.500 ha đạt sản lượng 295.000 tấn
Trong vùng hứng chịu khí hậu nhiệt đới, gió mùa với 4 mùa: xuân, hạ, thu và đông rõ rệt Mùa xuân bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 4, mùa hè từ tháng
5 đến tháng 8, mùa thu từ tháng 9 - 11 và mùa đông từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau Trong năm thường nóng nhất vào tháng 7, mưa nhiều vào tháng 7 - 8
và lạnh nhất vào cuối tháng 12 đến tháng 1, khoảng 70 - 85% lưu lượng nước tập trung vào mùa mưa Tổng lưu lượng nước tập trung chủ yếu ở hai hệ thống sông chính là hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, hàng năm đổ ra biển khoảng 122 tỷ m3 nước và mang theo 120 triệu tấn phù sa Các yếu tố thời tiết, chế độ thuỷ văn có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động Nuôi trồng Thuỷ sản: mùa vụ sản xuất cá giống ở khu vực Đồng bằng sông Hồng thường tập trung vào mùa xuân, ương nuôi cá giống tập trung cuối xuân, đầu hè Về cơ cấu giá trị sản xuất ngành thủy sản trong giai đoạn 2005 - 2010 vùng Đồng bằng sông Hồng chiếm 7,8% và chủ yếu phục vụ tiêu thụ nội địa, hiệu quả sử dụng đất cho Nuôi trồng Thuỷ sản cao gấp 2 lần trong nông nghiệp nên nhiều vùng đã chuyển đổi đất nông nghiệp hiệu quả sản xuất thấp sang nuôi trồng thuỷ sản (Tổng cục Thủy sản, 2011)
Trong phạm vi của đề tài, lựa chọn 4 tỉnh gồm: Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên và Hải Dương để lấy mẫu và nghiên cứu dịch tễ học bệnh do Bào
tử sợi gây ra trên cá chép, vì 4 tỉnh nêu trên là các tỉnh có diện tích và sản lượng nuôi cá chép lớn so với các tỉnh khác và được báo cáo bệnh xảy ra nhiều hơn trên cá chép
Trang 192.2 KHÁI NIỆM VỀ DỊCH TỄ HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU DỊCH TỄ
Dịch tễ học là một môn khoa học có từ lâu đời, người đặt nền móng đầu tiên cho môn khoa học này là tác giả Hipocrat, ông có quan niệm “Sự phát triển bệnh tật của con người và động vật có liên quan đến những yếu tố của môi trường bên ngoài” Từ lâu con người đã biết phòng chống bệnh tật cho mình và cho động vật, cho đến những năm 40-50 của thế kỷ 19, John Snow đưa ra giả thuyết về một yếu
tố bên ngoài có liên quan chặt chẽ đối với một bệnh, ông là người đầu tiên, là cha
đẻ của ngành dịch tễ học đã nêu đầy đủ các thành phần của dịch tễ học và có quan niệm đúng đắn về dịch tễ học Cho đến nay đã cho thấy vai trò của việc nghiên cứu dịch tễ học là cơ sở cho công tác phòng trừ dịch bệnh và khái niệm về dịch tễ học được hiểu là một khoa học nghiên cứu sự phân bố tần số mắc hoặc chết đối với các bệnh trạng cùng với những yếu tố quy định sự phân bố của các yếu tố đó
Trong nghiên cứu dịch tễ học có nhiều phương pháp như: Dịch tễ học mô tả; Dịch tễ học phân tích; Dịch tễ học can thiệp; Dịch tễ học thực nghiệm; Kinh tế dịch
tễ học và Dịch tễ học lý thuyết khái quát Nhưng nghiên cứu dịch tễ học Bào tử sợi truyền lây qua cá chép chúng tôi hướng đến phương pháp mô tả về mùa vụ trong năm, giai đoạn sinh trưởng, trong các hình thức nuôi; tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm Thích bào tử trùng/ Bào tử sợi trên cá chép nuôi ở các giai đoạn sinh trưởng
2.3 TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.3.1 Một số đặc điểm sinh học của cá chép
Trang 202.3.1.2 Đặc điểm về hình thái của cá Chép
Cá chép có hình dạng cơ thể hình thoi, mình dây, dẹp bên, bụng khá tròn Viền lưng cong, thuôn hơn viền bụng Đầu cá thuôn, cân đối mõm tù Chiều dài cơ thể gấp 2,8 - 3,5 lần chiều cao và 3,4 – 4,3 chiều dài đầu Mầu từ phía trước vây lưng hơi xẫm Cá Chép có hai đôi râu: Râu mõm ngắn hơn đường kính mắt, râu góc hàm bằng hoặc lớn hơn đường kính mắt Mắt vừa phải ở hai bên, thiên về phía trên của đầu Khoảng cách hai mắt rộng và lồi Miệng ở mút mõm, hướng ra phía trước, hình cung khá rộng; rạch miệng chưa tới viền trước mắt Hàm dưới hơi dài hơn hàm trên Môi dưới phát triển hơn môi trên Màng mang rộng gắn liền với eo Lược mang ngắn, thưa Răng hầu phía trong là răng cấm, mặt nghiền có vân rãnh rõ
Khởi điểm của vây lưng sau khởi điểm vây bụng, gần mõm hơn tới gốc vây đuôi, gốc vây lưng dài, viền sau hơi lõm, tia đơn cuối là gai cứng rắn chắc và phía sau có răng cưa Vây ngực, vây bụng và vây hậu môn ngắn chưa tới các gốc vây sau
nó Vây hậu môn viền sau lõm, tia đơn cuối hóa xương rắn chắc và phía sau có răng cưa Hậu môn ở sát gốc vây hậu môn Vây đuôi phân thùy sâu, hai thùy hơi dầy và tương đối bằng nhau
Vẩy tròn lớn Đường bên hoàn toàn, chạy thẳng giữa thân và cuống đuôi Gốc vây bụng có vẩy nách nhỏ dài Lưng xanh đen, hai bên thân phía dưới đường bên vàng xám, bụng trắng bạc Gốc vây lưng và vây đuôi hơi đen Vây đuôi và vây hậu môn đỏ da cam (Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân, 2001)
2.3.1.3 Đặc điểm phân bố của cá chép
Trên thế giới cá chép phân bố rộng khắp các vùng trên toàn thế giới trừ Nam Mỹ, Tây Bắc Mỹ, Madagasca và châu Úc Chúng sống được trong các thủy vực nước ngọt
Ở Việt Nam cá chép phân bố rộng trong sông ngòi, ao, hồ ruộng ở hầu hết các tỉnh, thành phố phía Bắc của nước ta Giới hạn tự nhiên của cá này về phía Nam là sông Ba Nam Trung Bộ (Nguyễn Hữu Thọ và Đỗ Đoàn Hiệp, 2004) Hiện nay do việc di chuyển và thuần hóa nên chúng phát tán nhiều nơi ở các vực nước tự nhiên trong miền Nam Cá có nhiều dạng như: cá chép trắng, chép vảy, chép hồng, chép đỏ, chép lưng gù, chép thân cao, chép Bắc Kạn … nhưng loại nuôi phổ biến là chép vảy, hay còn gọi là chép trắng Từ năm 1972 đến nay, nước ta đã nhập thêm các loại cá chép kính, chép trần, chép vảy từ các nước Hungari, Indonesia, Pháp cho lai tạo với cá chép Việt (Nguyễn Duy Khoát, 2005)
Trang 212.3.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng và tập tính sống của cá chép
Cá chép sống ở đáy ở các thủy vực nước ngọt, nơi có nhiều mùn bã hữu cơ, thức ăn đáy và cỏ nước; rất hiếm khi cá chép bơi lên tầng mặt Cá chép ăn tạp, thiên về ăn động vật không xương sống ở đáy Thức ăn của cá khá đa dạng như mảnh vụn thực vật, rễ cây, các loài giáp xác (Copeporda, Decaporda, Gatstropoda), ấu trùng muỗi, ấu trùng côn trùng, thân mềm Tùy theo kích cỡ cá
và mùa vụ dinh dưỡng mà thành phần thức ăn có sự thay đổi nhất định Ngoài thức ăn tự nhiên trong thủy vực thì cá còn sử dụng tốt các thức ăn bổ sung như phụ phẩm nông nghiệp và thức ăn công nghiệp như: khô dầu, cám gạo, mì, bột ngũ cốc, nhộng tằm, bột đậu nành (Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân, 2001) 2.3.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Cá chép là loài có kích cỡ trung bình, lớn nhất có thể đạt tới 15 - 20 kg Tốc độ tăng trưởng giảm dần theo chiều dài nhưng lại tăng dần theo khối lượng (Mai Đình Yên, 1983); cá chép lớn nhanh về chiều dài năm thứ nhất và năm thứ hai nhưng trọng lượng tăng nhanh nhất vào năm thứ ba và thứ tư Tốc
độ tăng trưởng của cá chép phụ thuộc vào rất nhiều mật độ và khả năng cung cấp thức ăn Thông thường cá cái lớn nhanh hơn cá đực Cá có thể sống được trong điều kiện khó khăn khắc nghiệt, chịu đựng được nhiệt độ từ 0-400C, thích hợp ở 20-270C Cá chịu đựng hàm lượng oxy hòa tan tối thiểu trong nước là 2mg/l, pH khoảng 4 – 9 Là loại cá sống trong vùng nước ngọt, tuy nhiên chúng có thể sống trong nước lợ có độ mặn dưới 1,2% Loài cá chép nuôi phổ biến hiện nay là cá chọn giống VI, chúng có tốc độ tăng trưởng cao gấp 1,5 -3,0 lần so với cá chép trắng Việt Nam thuần với cùng điều kiện nuôi (Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân, 2001)
Tương quan chiều dài và tuổi cá được thể hiện trong bảng 2.1
Bảng 2.1 Tương quan chiều dài và tuổi của cá Chép tại hạ lưu sông Hồng
Trang 222.3.1.6 Đặc điểm sinh sản của cá chép
Sinh sản của cá chép rất khác so với cá mè, cá trôi, cá trắm Nó có thể tự đẻ trứng trong ao, hồ, sông Ở các vĩ độ khác nhau tuổi thành thục của cá cũng khác nhau; ở những vùng vĩ độ thấp cá thường thành thục sớm hơn Nhiệt độ thuận lợi cho cá đẻ trứng từ 18-220C và tối thiểu 14-180C
Cá chép thành thục ở tuổi 1+ tuổi Sức sinh sản của cá lớn, khoảng 200.000 trứng/kg cá cái, chúng có thể sinh sản nhiều lần trong năm Mùa vụ sinh sản kéo dài từ mùa xuân đến mùa thu tập trung nhất vào các tháng xuân - hè khoảng tháng 3-6 và mùa thu khoảng tháng 8-9 Trứng cá chép là loại trứng dính;
150.000-có hình cầu, hơi vàng đục, đường kính trứng 1,2 - 1,8mm Vì vậy, khi đẻ cá chép thường tìm những nơi có nhiều rong cỏ thủy sinh , hoặc các thực vật nổi (bèo lục bình) để đẻ trứng Ở các sông, cá thường di cư vào các bãi ven sông, vùng nhiều
cỏ nước Cá thường đẻ nhiều vào ban đêm, nhất là từ nửa đêm đến lúc mặt trời mọc hoặc đẻ nhiều sau các cơn mưa rào, nước mát Nhiệt độ thích hợp từ 20 –
220C (Nguyễn Hữu Thọ và Đỗ Đoàn Hiệp, 2004)
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng trên cá ở thế giới và Việt Nam 2.3.2.1 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá trên thế giới
Nghiên cứu về ký sinh trùng của cá bắt đầu từ giữa thế kỷ XX, các nhóm giun chính ký sinh trên cá như: Monogenea, Cestoidea, Digennea, Nematoda, Acanthocephala đều đã được mô tả Nhưng phải đến năm 1929, khi mà nhà ký sinh trùng học người Nga – Dogiel (1882 – 1956) đưa ra “Phương pháp nghiên cứu về ký sinh trùng trên cá” thì hàng loạt các công trình nghiên cứu ở cá đã được thực hiện Viện sỹ Bychowsky và cộng sự năm 1962 trong cuốn sách “Bảng phân loại KST của cá nước ngọt ở Liên Xô”, mô tả 1211 loài KST của khu hệ cá nước ngọt
ở Liên Xô Tiếp tục năm 1984, 1985 và năm 1987 công trình nghiên cứu khu hệ KST cá nước ngọt Liên Xô đã xuất bản làm hai phần gồm ba tập Công trình đã
mô tả gồm hơn 2000 loài KST của 233 loài cá thuộc 25 họ cá nước ngọt của Liên
Xô Có thể nói Liên Xô cũ là nước có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu KST ở
cá sớm nhất, toàn diện nhất và đồ sộ nhất
Năm 1973, Chen chil – leu là chủ biên cuốn sách KST cá nước ngọt ở Hồ Bắc, Trung Quốc, điều tra 50 loài cá nước ngọt và phân loại được 375 loài KST, trong đó Protozoa có 159 loài, Monogenea 116 loài, Cestoidea 10 loài, Trematoda 33 loài, Nematoda 21 loài, Acanthocephala 7 loài, Hirudinea 2 loài, Mollussca 1 loài, Crustacea 26 loài
Trang 23Theo Muller and Anders (1986), có khoảng 10.000 loài KST sống ký sinh gây bệnh ở cá nước ngọt, nước lợ và nước biển Trong đó, 17% thuộc lớp sán lá song chủ (Digenea) và 15% thuộc lớp sán lá đơn chủ (Monogenea) Các ký sinh trùng ngoại ký sinh ở cá có khoảng 4200 loài, trong đó bao gồm Monogenea
1500 loài, giáp xác ký sinh (Crustacea) gồm 2590 loài, lớp đỉa ký sinh (Hirudinea) gồm 100 loài, số còn lại thuộc ký sinh trùng ngoại ký sinh Protozoa gồm 1570 loài
Ở Nhật Bản, Nagasawa et al (1997), tổng kết các công trình nghiên cứu ký sinh trùng trên cá nước ngọt ở Hokkaido – Nhật Bản và đã xác định được 96 loài ký sinh trùng bao gồm Protozoa 21 loài; Monogenea 11 loài; Trematoda 22 loài; Cestoda 10 loài; Nematoda 15 loài; Acanthocephala 7 loài; Mollusca 2 loài; Copepoda 6 loài; Branchiura 1 loài; Isopoda 1 loài và 38 loài chưa xác định đến loài
Năm 1992, Lom and Dykova (1992), trong cuốn sách “ Ký sinh trùng đơn bào (Protozoa) của cá” Họ cho biết xấp xỉ 2420 loài KST đơn bào ở cá đã được công bố Nhiều loài gây nguy hiểm cho cá nuôi ở nước ngọt và nước mặn Cuốn sách đã giới thiệu phương pháp nghiên cứu và hệ thống phân loại của 7 ngành KST đơn bào ở cá gồm: ngành Mastigophora, ngành Opalinata, ngành Amoebae, ngành Apicomlexa, ngành Mycrospora, ngành Myxozoa và ngành Ciliphora
Ở châu Mỹ, Hoffman (1999), đã tổng kết các công trình nghiên cứu ký sinh trùng cá nước ngọt ở Bắc Mỹ trên 426 loài cá xác định được 19 ngành thuộc 4 giới: sinh vật nhân nguyên thủy, động vật nguyên sinh, nấm, động vật đa bào Các nhà KST học ở các nước Đông Nam Á đã có một số nghiên cứu về KST ký sinh ở cá biển nuôi Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa toàn diện thường đi sâu vào từng nhóm ký sinh trùng như các loài sán lá song chủ (Digenea), được nghiên cứu nhiều ở Philippine Trong khi đó, các loài sán lá đơn chủ lại được nghiên cứu nhiều ở Malaysia
Tại Thái Lan có công trình nghiên cứu đầu tiên về bệnh cá nuôi của C.B Wilson, 1926-1927 thông báo về hiện tượng rận cá thuộc Argulus ký sinh trên cá nước ngọt ở Thái Lan và đến năm 1928 cũng tác giả này lại miêu tả về bệnh lý trên cá trê Thái Lan có một loài thuộc giống Caligus ký sinh Cho đến nay khu hệ
ký sinh trùng cá nước ngọt ngày càng được chú ý Qua tổng kết, một số nguyên sinh động vật, sán lá đơn chủ là tác nhân gây bệnh ký sinh trùng như: Chilodonella, Trichodina, Heneguya, Dactylogyrus, Gyrodactylus…theo
Trang 24Tonguthai (1992), các nhà khoa học Thái Lan không chỉ dừng lại ở đó mà còn đi sâu nghiên cứu một số bệnh ký sinh trùng như bệnh: Opisthorchosis do Opisthorchis viverini ký sinh trong gan Không những thế, khu hệ ký sinh trùng
cá Thái Lan ngày càng phong phú bổ sung cá ký sinh trùng cá nước mặn Năm
1981, L Ruangpan đã viết sách đầu tiên về ký sinh trùng ký sinh ở cá biển dọc theo bờ biển Thái Lan
Ở Indonesia, Louis Bovien (1926,1927,1933) đã nghiên cứu sán dây, sán lá song chủ và giun đầu gai trên cá nước ngọt ở Java, ông đã mô tả một giống mới
và một loài mới đó là Djombangia penetrans tìm thấy trên cá trê trắng (Clarias batrachus); Isoparorchis eurytremum ở cá Wallago attu Nhà khoa học người Đức là Alfred L Buschkiel (1923, 1935) đã nghiên cứu ký sinh trùng đơn bào (Ichthyophtyrius multifiliis) trên một số loài cá nước ngọt ở
Ở Philippin từ năm 1947, Tubangui đã công bố về kết quả nghiên cứu một
số loài mới thuộc sán lá đơn chủ (Monogenea), sán lá song chủ (Trematoda), giun tròn (Nematoda), sán lá song chủ (Digenea) và giun đầu móc (Acanthocephala) Năm 1975, Velasquez xuất bản cuốn sách về sán lá song chủ
ở cá Philippin đây là một tài liệu có giá trị
Arthur and Lumanlan-Mayo (1997), đã điều tra và xác định được 201 loài
ký sinh trùng ở 172 loài cá gồm: 1 loài thuộc Apicomplex; 16 loài thuộc Ciliophora; 2 loài thuộc Mastigophora; 1 loài thuộc Microphora; 9 loài thuộc Myxozoa; 90 loài thuộc Digenea; 22 loài thuộc Monogenea; 6 loài thuộc Cestoidea; 20 loài thuộc Nematoda; 5 loài thuộc Acanthocephala; 2 loài thuộc Branchiyra; 21 loài thuộc Copepoda và 5 loài thuộc Isopoda
2.3.2.2 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng trên cá ở Việt Nam
Người đầu tiên nghiên cứu ký sinh trùng trên cá tại Việt Nam là nhà ký sinh trùng học người Pháp, bác sỹ Albert Billet (1856 – 1915) Ông đã mô tả một loài sán lá song chủ mới Distomum hypselobagri (1898) ký sinh trong bóng hơi cá Nheo ở Việt Nam
Chevey and Lemasson (1937), đã nghiên cứu sự ký sinh của trùng mỏ neo Lernaea carassii, 1933 (syn của L.cyprinacea Line, 1758) trên cá chép nuôi Trước năm 1960, lĩnh vực bệnh học Thủy sản ở Việt Nam hầu như chưa được quan tâm Nhóm đề tài nghiên cứu bệnh học thủy sản được hình thành đầu tiên tại trạm nghiên cứu cá nước ngọt ở Đình Bảng 1960, là Viện Nghiên cứu
Trang 25Nuôi trồng Thủy sản I hiện nay Đến nay do thực tế sản xuất các phòng nghiên cứu bệnh ở động vật thủy sản được xây dựng ở nhiều nơi: Viện Nuôi trồng thủy sản (NTTS) II (TP.Hồ Chí Minh) và III (Nha Trang – Khánh Hòa), tại các trường đào tạo có ngành đào tạo NTTS như: trường Đại học thủy sản Nha Trang, trường Đại học Cần Thơ, trường Đại học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh đều có các phòng nghiên cứu về bệnh học thủy sản Ngoài ra, tại các địa phương có nghề nuôi trồng thủy sản phát triển đều có các trạm kiểm dịch giúp nông dân phát hiện
và phòng chống dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản (Đỗ Thị Hòa và ctv, 2004) Đến năm 1961-1976, P.G.Mamaev, U.L.Paruchin nghiên cứu ký sinh trùng
ở hơn 60 loài cá nước ngọt của vịnh Bắc Bộ, đã công bố hơn 20 bài báo cáo trong tạp chí và sách tham khảo Các tác giả đã xác định được 190 loài giun ký sinh, trong đó đã mô tả 9 giống và 37 loài mới đối với khoa học
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về sán ở cá nước ngọt mới chỉ bắt đầu từ những năm 1960 ở miền Bắc và từ sau năm 1975 ở các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên, ĐBSCL Tác giả Hà Ký là nhà ký sinh trùng (KST) học đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu khu hệ KST một số loài sán Trong giai đoạn 1960 -
1968, ông đã nghiên cứu trên 16 loài cá nước ngọt ở miền Bắc - Việt Nam Tiếp nối kết quả nghiên cứu này là sự đóng góp lớn của Bùi Quang Tề, nghiên cứu KST và bệnh KST của 6 loại hình cá chép nuôi và một số loài cá nước ngọt khác ở đồng bằng Bắc Bộ Ở miền Trung, Hà Ký đã điều tra sán cá nước ngọt ở Tây Nguyên Giai đoạn 1981 - 1985 công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Muội, Đỗ Thị Hoà về KST cá nước ngọt ở miền Trung đã phát hiện được một
số loại Bào tử sợi ký sinh (Hà Ký và Bùi Quang Tề, 2007)
Ở miền Nam, Bùi Quang Tề đã điều tra, nghiên cứu KST 41 loài cá nước ngọt ở vùng ĐBSCL và biện pháp phòng trị bệnh do chúng gây ra Kết quả xác định được 161 loài, 77 giống, 51 họ thuộc 16 lớp Nhiều nhất là lớp sán lá đơn chủ (Monogenea) gặp 50 loài nhưng Bào tử sợi song chủ (Trematoda) chỉ gặp 16 loài (Bùi Quang Tề, 2001)
Theo tổng kết của Bùi Quang Tề, thành phần giống loài sán cá nước ngọt của Việt Nam rất phong phú Nhiều nhất là sán lá đơn chủ (Monogenea) gặp 103 loài, 17 giống, 6 họ, chiếm 28,14% tổng số ký sinh trùng đã phát hiện được Lớp Bào tử sợi song chủ (Trematoda) gặp 45 loài, 31 giống, 19 họ, chiếm 12,30% tổng số loài ký sinh trùng đã phát hiện (Hà Ký và Bùi Quang Tề, 2007)
Trang 26Năm 1979, cá chép ở một số hồ nuôi cá ở Hà Nội đã bị nhiễm sán lá đơn chủ đe con Gyrodactylus với tỷ lệ nhiễm (TLN) ở da và mang là 100%, cường
độ nhiễm (CĐN) là 20 - 30 cá thể/thị trường kính hiển vi có độ phóng đại 4x10 Thậm chí có lamen đếm được 1125 cá thể Bệnh đã gây chết hàng loạt cá chép
ở các cỡ khác nhau Theo Bùi Quang Tề sán lá đơn chủ gây bệnh chủ yếu thuộc các giống Dactylogyrus, Trianchoratus, Sundanonchus, Pseudodactylogyrus… sán phân bố rất rộng, thành phần loài rất phong phú Ở ĐBSCL đã phát hiện hơn 50 loài sán lá đơn chủ ký sinh ở 31 loài cá Sán gây tác hại chủ yếu ở cá giống, cá trưởng thành ít ảnh hưởng hơn như ở cá Trê, cá Bống tượng, cá Ba sa… phát triển mạnh vào mùa mưa khi thời tiết mát mẻ Cá hương, cá giống có tỷ lệ nhiễm > 70% và cường độ nhiễm > 20 trùng/cung mang; cá thịt có tỷ lệ nhiễm > 70% và cường độ nhiễm > 50 trùng/cung mang, gây nguy hiểm có thể làm cá chết (Bùi Quang Tề và Vũ Thị Tám, 1998)
Bệnh sán lá đơn chủ 16 móc - Dactylogyrosis được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1961 tại một số ao cá giống ở Hà Nội và Bắc Ninh Tác nhân gây bệnh
là sán lá đơn chủ 16 móc thuộc giống Dactylogyrus Sán ký sinh chủ yếu trên mang cá, hút máu và niêm dịch cá, nguy hiểm nhất là giai đoạn cá hương, cá giống Tỷ lệ nhiễm có khi là 100%, vì vậy tỷ lệ tử vong do bệnh này có thể lên tới 90% ở một vài loài cá nuôi Ở miền Bắc thường phát triển vào mùa xuân, mùa thu và mùa đông, ở miền Nam phát triển vào mùa mưa Bệnh sán lá đơn chủ do sán 18 móc – Gyrodactylosis là tác nhân gây bệnh chính ký sinh trên da
và mang cá ở giai đoạn cá con Năm 1978, sán lá đơn chủ 18 móc gây bệnh chết hàng loạt cá chép thịt ở Hà Nội (Bùi Quang Tề, 2001)
Trong đó cá giống bị nhiễm ATSL song chủ (Centrocestus sp.) đang là vấn
đề được các nhà chuyên môn và người nuôi quan tâm ATSL metacercariae hay còn gọi là bào nang khi ký sinh trong mang cá, chúng tập trung nhiều ở gốc và trên các tơ mang, làm cho tơ mang bị biến dạng, khi nhiễm với cường độ cao làm mang cá sưng lên gây ra hiện tượng kênh mang, nắp mang không đậy kín các phiến mang ảnh hưởng đến quá trình hô hấp của cá làm cá khó chịu và giảm khả năng sinh trưởng rõ rệt, đặc biệt là giai đoạn cá giống
Trong ương, nuôi cá chép thường bị nhiễm ATSL gây bệnh điển hình bệnh kênh mang của cá chép gây nhiều thiệt hại cho người ương, nuôi cá giống Cá giống thường bị nhiễm bào nang của Centrocestus sp với cường độ thấp làm cá chậm lớn, chất lượng con giống kém Nếu nhiễm với cường độ cao gây chết rải
Trang 27rác đến hàng loạt làm ảnh hưởng đến kinh tế của người nuôi Ở giai đoạn trưởng thành khi cá nhiễm ATSL có nguy cơ truyền lây cho người tiêu dùng sản phẩm Hiện nay việc xử lý đàn cá nhiễm ATSL đang gặp nhiều khó khăn, chưa có biện pháp xử lý hữu hiệu đối với mầm bệnh này, do ATSL được bảo vệ trong vỏ của bào nang dày (Đỗ Thị Hòa và cs., 2004) Các loại thuốc, hóa chất với nồng độ thích hợp để xử lý mầm bệnh đang được các nhà bệnh học thủy sản nghiên cứu Trong đó, tác giả tổng hợp một số loài cá bị nhiễm nhiều giống loài ký sinh trùng: cá Chép gặp 65 loài; cá Mè trắng Việt Nam gặp 39 loài; cá Trắm cỏ gặp
29 loài; cá Trê vàng gặp 29 loài; cá Tra nuôi gặp 29 loài; cá Trôi gặp 27 loài; cá Lóc gặp 25 loài; cá Lóc bông gặp 23 loài; cá Rô đồng gặp 22 loài; cá Chày gặp
21 loài; cá Mè hoa gặp 21 loài; cá Rô phi vằn gặp 21 loài; cá Thát lát gặp 20 loài;
cá Ba sa gặp 18 loài; ngoài ra các loài cá khác có số lượng ký sinh trùng ít hơn 2.3.3 Nghiên cứu ký sinh trùng ở cá chép
2.3.3.1 Nghiên cứu ký sinh trùng cá chép trên thế giới
Nhiều loài ký sinh trùng là nguyên nhân gây bệnh nguy hiểm cho cá ở giai đoạn sớm (cá hương, cá giống) Nguyên nhân gây bệnh cho cá do ký sinh trùng
đã được nhiều tác giả trên thế giới thông báo Nhiều loài ký sinh trùng đã gây thiệt hại cho nghề nuôi cá, như các nhóm đơn bào ngoại ký sinh, sán lá đơn chủ (Monogenea), giun sán và giáp xác (Crustace)
Bychowsky (1962), trong cuốn sách “Bảng phân loại KST của cá nước ngọt
ở Liên Xô”, mô tả 1211 loài KST của khu hệ cá nước ngọt ở Liên Xô Tiếp tục năm 1984, 1985 và năm 1987 công trình nghiên cứu khu hệ KST cá nước ngọt Liên Xô đã xuất bản làm hai phần gồm ba tập Công trình đã mô tả gồm hơn
2000 loài KST của 233 loài cá thuộc 25 họ cá nước ngọt của Liên Xô Có thể nói Liên Xô cũ là nước có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu KST ở cá sớm nhất, toàn diện nhất và đồ sộ nhất
Chen et al (1973), là chủ biên cuốn sách KST cá nước ngọt (năm 1973) ở Hồ Bắc, Trung Quốc, điều tra 50 loài cá nước ngọt và phân loại được 375 loài KST, trong đó Protozoa có 159 loài, Monogenea 116 loài, Cestoidea 10 loài, Trematoda
33 loài, Nematoda 21 loài, Acanthocephala 7 loài, Hirudinea 2 loài, Mollussca 1 loài, Crustacea 26 loài
Theo Muller and Anders (1986), có khoảng 10.000 loài KST sống ký sinh gây bệnh ở cá nước ngọt, nước lợ và nước biển Trong đó, 17% thuộc lớp sán lá song
Trang 28chủ (Digenea) và 15% thuộc lớp sán lá đơn chủ (Monogenea) Các ký sinh trùng ngoại ký sinh ở cá có khoảng 4200 loài, trong đó bao gồm Monogenea 1500 loài, giáp xác ký sinh (Crustacea) gồm 2590 loài, lớp đỉa ký sinh (Hirudinea) gồm 100 loài, số còn lại thuộc ký sinh trùng ngoại ký sinh Protozoa gồm 1570 loài
Ở Nhật Bản, Nagasawa et al (1997), tổng kết các công trình nghiên cứu
ký sinh trùng trên cá nước ngọt ở Hokkaido – Nhật Bản và đã xác định được
96 loài ký sinh trùng bao gồm Protozoa 21 loài; Monogenea 11 loài; Trematoda 22 loài; Cestoda 10 loài; Nematoda 15 loài; Acanthocephala 7 loài; Mollusca 2 loài; Copepoda 6 loài; Branchiura 1 loài; Isopoda 1 loài và
38 loài chưa xác định đến loài
Lom and Dykova (1992), trong cuốn sách “ Ký sinh trùng đơn bào (Protozoa) của cá” Họ cho biết xấp xỉ 2420 loài KST đơn bào ở cá đã được công bố Nhiều loài gây nguy hiểm cho cá nuôi ở nước ngọt và nước mặn Cuốn sách đã giới thiệu phương pháp nghiên cứu và hệ thống phân loại của 7 ngành KST đơn bào ở cá gồm: ngành Mastigophora, ngành Opalinata, ngành Amoebae, ngành Apicomlexa, ngành Mycrospora, ngành Myxozoa và ngành Ciliphora
Ở châu Phi và Trung Cận Đông đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ký sinh trùng trong cá, trong đó phải kể đến Paperna và Kritsky Năm 1964, Paperna đã nghiên cứu ký sinh trùng đa bào của 29 loài cá nội địa Israel và phát hiện được 116 loài KST gồm: Monogenea 29 loài, Trematoda 13 loài, ấu trùng Trematoda 43 loài, Cestoidea 7 loài, Nematoda 15 loài, Acanthocephala 1 loài, Hirudinea 1 loài, Mollusca 1 loài và Crustacea 6 loài Năm 1996, Paperna cho xuất bản cuốn sách
“Ký sinh trùng, bệnh truyền nhiễm ở cá châu Phi” đã mô tả thành phần loài KST ký sinh trên một số cá nuôi ở châu Phi, tình trạng lây nhiễm, vòng đời phát triển, dấu hiệu bệnh lý và biện pháp trị bệnh
Ở châu Mỹ, Hoffman (1999), đã tổng kết các công trình nghiên cứu ký sinh trùng cá nước ngọt ở Bắc Mỹ trên 426 loài cá xác định được 19 ngành thuộc 4 giới: sinh vật nhân nguyên thủy, động vật nguyên sinh, nấm, động vật đa bào
Các nhà KST học ở các nước Đông Nam Á đã có một số nghiên cứu về KST ký sinh ở cá biển nuôi Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa toàn diện thường đi sâu vào từng nhóm ký sinh trùng như các loài sán lá song chủ (Digenea), được nghiên cứu nhiều ở Philippine Trong khi đó, các loài sán lá đơn chủ lại được nghiên cứu nhiều ở Malaysia
Trang 29Tại Thái Lan có công trình nghiên cứu đầu tiên về bệnh cá nuôi của C.B Wilson, 1926-1927 thông báo về hiện tượng rận cá thuộc Argulus ký sinh trên cá nước ngọt ở Thái Lan và đến năm 1928 cũng tác giả này lại miêu tả về bệnh lý trên cá trê Thái Lan có một loài thuộc giống Caligus ký sinh Cho đến nay khu hệ
ký sinh trùng cá nước ngọt ngày càng được chú ý Qua tổng kết, một số nguyên sinh động vật, sán lá đơn chủ là tác nhân gây bệnh ký sinh trùng như: Chilodonella, Trichodina, Heneguya, Dactylogyrus, Gyrodactylus…Theo Tonguthai and Chinabut (1997), các nhà khoa học Thái Lan không chỉ dừng lại ở đó mà còn đi sâu nghiên cứu một số bệnh ký sinh trùng như bệnh: Opisthorchosis do Opisthorchis viverini ký sinh trong gan Không những thế, khu hệ ký sinh trùng
cá Thái Lan ngày càng phong phú bổ sung cá ký sinh trùng cá nước mặn Ruangpan et al (1986), đã viết sách đầu tiên về ký sinh trùng ký sinh ở cá biển dọc theo bờ biển Thái Lan
Ở Indonesia, Louis Bovien (1926,1927,1933) đã nghiên cứu sán dây, sán lá song chủ và giun đầu gai trên cá nước ngọt ở Java, ông đã mô tả một giống mới
và một loài mới đó là Djombangia penetrans tìm thấy trên cá trê trắng (Clarias batrachus); Isoparorchis eurytremum ở cá Wallago attu Nhà khoa học người Đức là Alfred L Buschkiel (1923, 1935) đã nghiên cứu ký sinh trùng đơn bào (Ichthyophtyrius multifiliis) trên một số loài cá nước ngọt ở
Theo Arthur and Lumanlan-Mayo (1997), cá Chép ở Phillipin gặp 20 loài
ký sinh trùng trong đó có 4 loài bào tử sợi
2.3.3.2 Nghiên cứu ký sinh trùng cá chép ở Việt Nam
Khi nghiên cứu thành phần giống loài ký sinh trùng trên 6 loại hình cá chép
ở Việt Nam, tác giả Bùi Quang Tề đã phát hiện 41 loài ký sinh trùng thuộc 23 giống, 21 họ, 14 bộ, 9 lớp ở cá chép trắng Việt Nam, cá chép vàng, cá chép kính hung, cá chép vảy hung, chép lai 1, chép lai 2 Hầu hết các loài ký sinh trùng có chu kỳ phát triển trực tiếp không qua vật chủ trung gian (32 loài chiếm 75%) Trong đó chú ý nhất là lớp bào tử trùng (Chidosporidia) 10 loại và lớp sán lá đơn chủ (Monogenoidea) 9 loại
Thành phần giống loài ký sinh trùng ở từng loại hình cá chép khác nhau: chép trắng Việt Nam gặp 29 loài, chép vàng gặp 19 loài, chép kính hung gặp 25 loài, chép vảy hung gặp 16 loài, chép lai 1 gặp 37 loài, chép lai 2 gặp 11 loài Tuy nhiên cá chép trắng Việt Nam và chép lai 1 có thành phần giống loài ký sinh trùng phong phú nhưng mức độ nhiễm thấp Ngược lại cá chép kính hung và
Trang 30chép vảy hung số loài ký sinh trùng không nhiều nhưng mức độ nhiễm một số loài ký sinh trùng rất cao đã gây thành dịch bệnh làm cá chết hàng loạt Đáng chú
ý nhất là loài: Myxobolus chúng thường gây bệnh cho cá chép Hungari, hao hụt rất lớn trong giai đoạn ương từ cá bột lên cá giống Các nhóm tuổi khác nhau thì thành phần loài ký sinh trùng cũng khác nhau như ở cá chép trắng Việt Nam số loài ký sinh trùng có chu kỳ phát triển phức tạp qua ký chủ trung gian tăng dần ở giai đoạn cá giống và cá thịt Nguyên nhân chủ yếu là sự thay đổi tính ăn của cá chép, cá hương ăn sinh vật phù du sang cá giống và cá thịt ăn sinh vật đáy (Bùi Quang Tề và cs., 1985)
Năm 1979, cá chép tại một số hồ nuôi ở Hà Nội đã nhiễm giống Gyrodactylus với tỷ lệ nhiễm ở da và mang là 100%, cường độ nhiễm 20 – 30 cá thể/9 x 10 trên thị trường kính hiển vi, có lamen đếm được 1125 cá thể, bệnh đã gây chết hàng loạt cá chép các cỡ khác nhau (Bùi Quang Tề, 2001)
Từ năm 1975 – 1984, Myxobolosis, Thelohanellosis thường xuyên gây bệnh cho cá chép Hungari nhập nội nuôi ở Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I, trại
cá Lạng Giang – Bắc Giang, trại cá Tiền Phong – Quảng Ninh Bệnh làm kênh nắp mang của cá chép giống và gây chết hàng loạt (Bùi Quang Tề, 2001)
Bào tử sợi ký sinh trên da, mang, vây, thành ruột và cơ cá Theo Bùi Quang
Tề và cs (1985), cho biết cá chép kính Hungari nhập nội ở giai đoạn cá hương,
cá giống thường mắc bệnh Bào tử sợi với tỷ lệ nhiễm cao (có trường hợp tới 96
%), cường độ nhiễm rất cao, bào nang bám dầy đặc trên các cung mang làm cá không khép nổi nắp mang
Theo Hà Ký và Bùi Quang Tề (2007), trùng bánh xe phân bố rộng với tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm cao gây tác hại lớn cho cá hương và cá giống ở Việt Nam Tại Đông Nam Á, người ta phát hiện một số loài trùng bánh xe như Trichodina acuta, Trichodina nobilis, Trichodina nigra, Trichodina pediculus, Trichodina domerguei, Tripartiella bulbosa, Trichodinella epizootica ký sinh trên da, vây, mang 2 loài cá chép Ấn Độ
Bệnh sán lá đơn chủ 16 móc Dactylogyrosis được phát hiện lần đầu năm
1961 tại một số ao cá giống nuôi ở Bắc Ninh và Hà Nội Tác nhân gây bệnh là sán lá đơn chủ 16 móc thuộc giống Dactylogyrosis Ở nước ta đã phát hiện được hơn 60 loài thuộc giống này ký sinh ở cá nước ngọt Cá chép cũng bị nhiễm với loại trùng này Sán lá đơn chủ 16 móc ký sinh chủ yếu ở mang cá, hút máu và niêm dịch cá, song giai đoạn nguy hiểm nhất là cá hương và cá giống Tỷ lệ
Trang 31nhiễm có thể lên đến 100 % Tỷ lệ tử vong bệnh này có thể lên đến 90% ở một vài loài cá nuôi trong ao tại một số trại cá (Đỗ Thị Hòa và cs., 2004)
Ở cá, ấu trùng sán lá song chủ Centrocestus fomosanus ký sinh chủ yếu trên mang Số lượng các loài cá nhiễm ấu trùng sán lá song chủ khá đa dạng, hầu hết
là các loài cá nước ngọt, phổ biến là cá chép (Cyprinus carpio), cá mè trắng Việt Nam (Hypophthalmichthys harmandi), cá chim trắng (Colossoma macroponum) nuôi ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Nguyên, Bắc Cạn, đồng bằng sông Cửu Long Theo Bùi Quang Tề điều tra
ký sinh trùng trên cá rô hu và Mrigal cho thấy tỷ lệ nhiễm: 22,88% (Hà Ký và Bùi Quang Tề, 2007)
Ngoài ra đối với cá tự nhiên, hầu như bị nhiễm các loại ấu trùng sán lá, trong đó ấu trùng sán lá song chủ với tỷ lệ nhiễm rất cao, có thể lên tới 100% (Kim Văn Vạn và Đinh Thị Thủy, 2008)
Theo tác giả Bùi Quang Tề (2001), cho biết trong số 78 loài cá được nghiên cứu ký sinh trùng, nếu tính riêng 2 loài cá chép Ấn Độ (Labeo rohita và Cirrhina mrigala) nuôi ở đồng bằng sông Cửu Long đã phát hiện 11 loài ký sinh trùng ký sinh ở da, mang cá trong đó có 7 loài ký sinh trùng trên cá Cirrhina mrigala; 10 loài ký sinh trùng trên cá Labeo rohita
Trong những năm gần đây, tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm ấu trùng sán
lá song chủ Centrocestus fomosanus trong các ao hồ nuôi miền Bắc rất cao, làm cho giảm chất lượng đàn cá nuôi , đặc biệt là cá chép ở giai đoạn cá giống Đã có nhiều nghiên cứu về sán lá song chủ, song phạm vi nghiên cứu còn chưa rộng, hầu hết tập trung vào nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ở các địa phương (Nguyễn Thị Hà, 2007)
Theo nghiên cứu của tác giả Hà Ký và Bùi Quang Tề (2007), cho biết hiện
ở cá chép nước ta có Protozoa có 23 loài, Monogenea có 9 loài, Cestoidea có 2 loài, Trematoda có 11 loài, Nematoda có 2 loài, Acanthocephala có 3 loài, Bivalvia có 1 loài, Crustacea có 14 loài
Cho đến nay, ở Việt Nam đã nghiên cứu và tổng kết được một số bệnh ký sinh trùng thường gặp ở cá giống: bệnh trùng bào tử sợi, bệnh tà quản trùng, bệnh trùng bánh xe, bệnh trùng quả dưa, bệnh sán lá đơn chủ, bệnh giun tròn, bệnh ấu trùng sán ở mang cá, bệnh trùng mỏ neo và bệnh rận cá (Hà Ký và Bùi Quang Tề, 2007)
Trang 32Trong số đó bệnh nguy hiểm nhất do bào tử sợi gây ra Theo Hà Ký và Bùi Quang Tề (2007) ở Việt Nam đã nghiên cứu ký sinh trùng trên cá chép gặp và định loại được 65 loài ký sinh trùng Ký sinh trùng bào tử sợi đã xác định được 2 giống 11 loài sau đây:
2.3.4 Nghiên cứu Bào tử sợi ký sinh trên cá
Theo Hà Ký và Bùi Quang Tề (2007), “Thích bào tử trùng” gọi là “Bào tử sợi” Do đó, trong Luận văn này, chúng tôi sử dụng tên gọi là “Bào tử sợi” để thống với các tài liệu đã được công bố
2.3.4.1 Đặc điểm cấu tạo bào tử sợi
Trùng bào tử sợi là bào tử có vỏ bọc ngoài khá chắc chắn gồm có 2 mảnh
vỏ có kích thước, độ dày bằng nhau, do tế bào chất keo đặc lại mà tạo thành Đường tiếp giáp giữa 2 mảnh vỏ gọi là đường nối mặt, mặt có đường nối gọi là mặt nối (hay gọi là mặt bên), mặt không có đường nối gọi là mặt vỏ (hay gọi là mặt chính) Trong bào tử có cực nang và tế bào chất Tùy theo giống loài khác nhau có số lượng cực nang từ 1 – 4 chiếc Trong mỗi cực nang có 1 sợi thích bào xoắn lò xo Các cực nang thường tập trung ở đầu phía trước Riêng họ Myxidiidae phân bố cả 2 đầu của bào tử Phần sau của bào tử có tế bào chất gọi
Trang 33là tế bào mầm gồm 2 nhân và không bào Họ Myxobolidae có túi thích Iode là một loại tinh bột động vật Cá nước ngọt của Việt Nam đã phát hiện hơn 40 loài thuộc 6 giống:
Hình ảnh cấu tạo trùng bào tử sợi (Myxosporidia) được thể hiện ở hình 2.1
Hình 2.1 Sơ đồ cấu tạo của trùng bào tử sợi - Myxosporea (Schulman, 1960)
1- phôi amip; 2- không bào; 3- mỏm giữa cực nang; 4- nhân bào nang; 5- cực nang; 6- vỏ; 7- sợi tơ xoắn; 8- đường
nối; 9- trục đường nối; 10-nhân của phôi amip
Chu kỳ sống của trùng bào tử sợi gồm sinh sản vô tính và hữu tính tiến hành hoàn toàn trên cùng một ký chủ, không qua ký chủ trung gian: Bào tử từ trên thân cá mắc bệnh rơi vào đáy ao hoặc lơ lửng trong nước, bị cá ăn phải hoặc bám vào da, mang cá, vây cá khỏe hay theo thức ăn lây nhiễm vào ruột
cá khỏe Bào tử bị kích thích phóng sợi thích ty, cắm vào tổ chức cơ thể, hai mảnh vỏ bị vỡ đôi, tế bào chất ở trong vỏ hình thành chân giả di chuyển vào các tế bào tổ chức của ký chủ và dừng lại ở đó sinh trưởng và phát triển Thời
kỳ này gọi là giai đoạn dinh dưỡng Nhân tế bào phân chia qua nhiều lần thành nhiều nhân con Mỗi nhân có tế bào chất bao quanh hình thành mầm giao tử (Gametocyte) Nhân của mầm giao tử tiếp tục phân chia một số lần thành 6-18 nhân con và cuối cùng hình thành bào tử Mỗi bào tử được tạo nên
từ 6 nhân, trong đó có 2 nhân tạo nên vỏ kitin, 2 nhân tạo nên khối nguyên sinh chất, 2 nhân tạo nên cực nang và cuối cùng hình thành trùng mang nhầy Quá trình sinh sản cử tiếp tục cho đến khi tạo ra một số lượng lớn bào tử, thì hình thành bào nang bao xung quanh
Trang 34Số lượng nhân trong mầm giao tử có khác với số lượng của bào tử được hình thành Nếu những mầm giao tử chỉ sinh sản một bào tử thì nhân của nó có 6-8 cái, người ta gọi mầm giao tử đó là đơn giao tử Nếu mầm giao tử sản sinh hai bào tử thì số lượng nhân cũng tăng lên gấp đôi và gọi mầm giao tử là song giao tử Thể dinh dưỡng tiếp tục sinh trưởng, số lượng bào tử được hình thành ngày càng gia tăng Tiếp sang giai đoạn bào nang: các tổ chức xung quanh thể dinh dưỡng bị kích thích thoái hoá và thay đổi sinh ra một lớp màng bao quanh thể dinh dưỡng, gọi là bào nang của trùng bào tử có sợi tơ Kích thước của bào nang có thể nhìn thấy bằng mắt thường Các trùng thích bào tử ký sinh trên da, mang cá thì bào nang bị bào tử thành thục phá vỡ chui ra rơi vào nước, lại xâm nhập vào ký chủ khác hình thành một chu kỳ sống mới Các trùng bào tử có sợi
tơ ký sinh ở ruột và các cơ quan nội tạng bào tử có thể qua ống tiêu hoá ra ngoài Bào tử có thể sống lâu trong bùn đáy ao, hồ nên cá ăn đáy như cá chép, diếc, trôi, dễ bị nhiễm
Hình dạng bào tử sợi (Myxosporea) được thể hiện ở hình 2.2
Hình 2.2 Hình dạng bào tử của Myxosporea
A- Myxobolus, Myxosoma, Hofferenllus, Thelohanellus; B- Myxidium, Sphaeromyxa, Zschokkella, Neomyxobolus, Coccomyxa; C- Ceratomyxa, Leptotheca; D-Sphaerospora, Chloromyxum; E-Kudo, Hexacapsula; F- Henneguya, Phlogospora, Agarella, Neohenneguya, Myxobilatus (Schulman, 1966)
Sơ đồ các bào tử của Myxosporidia:
a- chiều dài của bào tử; b- chiều rộng của bào tử; c- chiều dày bào tử Đối với Henneguya: e- chiều dài bào tử không tính đuôi; f- chiều dài đuôi bào tử; a- tổng chiều dài bào tử; d- chiều dài cực nang; r-
chiều rộng cực nang
Trang 353.3.4.2 Phân loại
Ngành bào tử Cnidosporidia
Lớp bào tử sợi Myxosporea gồm 3 giống điển hình gây bệnh cho cá:
- Trùng bào tử sợi có 2 cực nang – Myxobolus;
- Trùng bào tử sợi có đuôi – Heneguya;
- Trùng bào tử sợi có 1 sợi nang – Thelohanellus
a Trùng bào tử sợi có 2 cực nang – Myxobolus
Gây bệnh trên cá là các loài thuộc giống Myxobolus Biitschli, 1882, họ Myxobolidae Theloman, 1892 Ngoài những đặc điểm chung của ngành trùng bào
tử sợi Myxobolus có đặc điểm riêng là phía trước bào tử có 2 cực nang, thường các loài có 2 cực nang bằng nhau (Myxobolus koi, Myxobolus artus, Myxobolus seminiformis…) một số ít loài có một cực nang bị thoái hóa (Myxobolus toyamai) Trong tế bào chất có 1 túi thích iode Kích thước của từng loài khác nhau
b Trùng bào tử sợi có đuôi – Henneguya
Gây bệnh là các loài thuộc Henneguya Thelohan, 1892, họ Myxobolidae Thelohan, 1892 Bào tử có dạng hình trứng, có 2 cực nang thường ở phía trước cơ thể Vỏ có 2 mảng khép lại nhưng ở phần nối phía sau vỏ thường kéo thành đuôi Kích thước các bào tử nhỏ thay đổi theo loài
c Trùng bào tử sợi có 1 sợi nang – Thelohanellus
Gây bệnh là các loài thuộc Thelohanell Kudo, 1933, họ Myxobolidae Bào tử
có dạng hình trứng hoặc hình quả lê Ngoài đặc điểm chung của họ Myxobolidae, chúng còn đặc điểm riêng khác với Myxobolus và Henneguya là phía trước bào tử chỉ có một cực nang Kích thước bào tử tương đối lớn so với 2 giống Myxobolus
và Henneguya
3.3.4.3 Dấu hiệu bệnh lý
a Đối với bệnh lý ở mang
Khi cá mắc bệnh trùng bào tử sợi ở mang, chủ yếu ở giai đoạn cá hương, cá nhỏ (giai đoạn từ 1-1,5 tháng tuổi, kích cỡ từ 5-8 cm); cá bơi lội không bình thường, hay quẫy mạnh, cong đuôi, cá kém ăn rồi chết Nếu bị bệnh nặng có thể nhìn thấy những bào nang bằng hạt tấm, hạt đậu xanh màu trắng đục trên mang cá,
có thể làm xương nắp mang không che kín được mang Sự tương phản giữa màu
đỏ của mang và màu trắng đục của bào nang nên dễ nhận biết bằng mắt thường,
Trang 36như cá chép giống nhiễm Myxobolus toyamai làm kênh nắp mang không đóng lại được Cá chép giống bị nhiễm Thelohaneeus các bào nang bám trên vây cá
Dấu hiệu bệnh lý ở cá chép bị nhiễm bào tử sợi được thể hiện ở hình 2.3
Hình 2.3 Cá bị nhiễm bào tử sợi Myxobolus koi trên mang cá chép giống Theo Bùi Quang Tề và Vũ Thị Tám (1998), khi cá bị bệnh do Myxobolus có thể nhìn thấy rất nhiều bào nang màu trắng bám dầy đặc trên cung mang, làm xương nắp mang không bị khép lại được và có thể làm cá chết hàng loạt
b Đối với bệnh lý ở ruột
Khi cá mắc bệnh trùng bào tử sợi ở đường ruột, cá chép thường mắc từ giai đoạn cá từ 3 tháng tuổi trở lên; cá chép thường nổi đầu, bơi lờ đờ ven bờ, giảm ăn
Cá mắc bệnh sau 7-10 ngày thì chết, giai đoạn đầu cá chết lẻ tẻ, khoảng 5-7 con chết/ ngày Những ngày sau tăng dần, tỷ lệ chết từ 30-60% ở các ao theo dõi
Hình 2.4 Cá chép 5 tháng tuổi bị bệnh do bào tử sợi/ Bào tử sợi (tổng thể cá)
Trang 37Hình 2.5 Bọc Bào nang của bào tử sợi/ Bào tử sợi trong ruột cá chép (mổ
khám)
Hình 2.6 Bọc Bào nang của bào tử sợi/ Bào tử sợi trong ruột cá chép (mổ
khám cận cảnh)
Trang 38Hình 2.7 Bào nang ký sinh ở mang cá chép 5 tháng tuổi
Cá chết, trong đường ruột có các bào nang màu trắng đục (trông như tinh hoàn của gà), kích thước từ 0,3-4,5 cm; bên trong có nhiều bào tử Myxobolus koi (được phân loại bởi Thầy Bùi Quang Tề, 4/2017);
Hình 2.8 Bào tử sợi Myxobolus artus Theo Bùi Quang Tề và Vũ Thị Tám (1998), khi cá bị bệnh do Myxobolus có thể nhìn thấy rất nhiều bào nang màu trắng bám dầy đặc trên cung mang, làm xương nắp mang không bị khép lại được và có thể làm cá chết hàng loạt
Trang 392.3.4.4 Phân bố và lan truyền bệnh
Myxobolus spp ký sinh ở hơn 30 loài cá nước ngọt Việt Nam, đã phát hiện được gần 30 loài khác nhau; Thelohanellus spp ký sinh trên cá chép giống; Myxobolus Koi ký sinh thành bào nang trong đường ruột của cá chép Bệnh này có thể gặp ở mọi vùng nuôi cá, miền Bắc, miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ Mức
độ nhiễm Myxobolus, Thelohanellus ở một số loài cá khá cao và đã gây thành bệnh làm cá chết hàng loạt Ví dụ: cá chép kính Hungari nhập nội ở giai đoạn cá giống thường bị nhiễm trùng bào tử sợi (Myxobolus koi, Myxobolus toyamai…) tỷ lệ nhiễm đến 96%; cường độ nhiễm rất cao làm cá không khép nổi nắp mang (Bùi Quang Tề, 1984) Ở nhiệt độ 30-320C đàn cá chép giống bị nhiễm bệnh này thường có tỷ lệ tử vong rất cao Cá biển cũng thường gặp Myxobolus spp
Myxobolus và Thelohanellus ký sinh ở nhiều cơ quan khác nhau: da, vây, mang, ruột, não, tủy sống, mật của cá
2.3.4.6 Phương pháp phòng trị bệnh
Bào tử sợi không chỉ ký sinh ở các cơ quan bên ngoài mà còn ký sinh nhiều
cơ quan bên trong; mặt khác bào tử sợi có vỏ kitin bảo vệ nên rất khó tiêu diệt Theo một số tài liệu chưa được công bố chính thức, bước đầu đã dùng thuốc đặc trị
ký sinh trùng để xử lý bệnh do bào tử sợi gây ra cho các chép đã mang lại hiệu quả Tuy nhiên, biện pháp pháp phòng bệnh tổng hợp vẫn là biện phát hữu hiệu nhất đối với bệnh do bào tử sợi gây ra trên cá chép
Ao ương cá giống và ao nuôi phải được tẩy vôi nung liều cao 10kg/100m2, phơi đáy ao từ 3 – 7 ngày để giết các bào tử trong bùn đáy ao, hạn chế gây bệnh của cá giống, cá thịt; Trước khi mua cá giống, cần kiểm tra kỹ các bệnh trên cá chép, nếu nghi ngờ các chép bị bệnh, cần lấy mẫu kiểm tra Trường hợp phát hiện
cá giống bị bệnh Bào tử sợi thì không mua lô giống đó Đàn cá giống đó cần được loại bỏ, dùng các chất khử trùng (vôi nung, chlorine ) nồng độ cao để tiêu diệt mầm bệnh (Bùi Quang Tề, 1984).
Trang 40PHẦN 3 NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Xác định thành phần giống loài Bào tử sợi gây bệnh trên cá chép Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm từng loài Bào tử sợi trên cá chép
- Đề xuất biện pháp phòng bệnh do Bào tử sợi gây ra trên cá chép
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu thành phần giống loài bào tử sợi/ thích bào tử trùng (BTS/TBTT) trên cá chép nuôi thương phẩm
- Nghiên cứu tình hình nhiễm BTS trên cá chép ở các vùng nghiên cứu
- Nghiên cứu tỷ lệ và cường độ nhiễm BTS trên cá chép thương phẩm tại các địa điểm thu mẫu
- Xác định nguyên nhân chính và đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm hạn chế
sự nhiễm BTS cho cá chép nuôi thương phẩm
3.3 ĐẶC ĐIỂM, THỜI GIAN, ĐỐI TƯƠNG NGHIÊN CỨU
3.3.1 Địa điểm nghiên cứu
Trong phạm vi của đề tài, lựa chọn 4 tỉnh gồm: Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên và Hải Dương, và 8 huyện thuộc 4 tỉnh để lấy mẫu và nghiên cứu dịch tễ học bệnh do Bào tử sợi gây ra trên cá chép
Địa điểm thu mẫu: Các ao nuôi cá chép thịt tại các hộ nuôi cá tại địa bàn Hà Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang
Địa điểm phân tích mẫu: Trung tâm chẩn đoán bệnh thủy sản- Công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Quang Dương - Đình Bảng – Từ Sơn - Bắc Ninh 3.3.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 11/2016 đến tháng 6/2017
3.3.3 Đối tượng nghiên cứu
Bào tử sợi ký sinh trên cá chép, cá chép Cyprinus carpio ở giai đoạn cá nuôi thương phẩm
3.4 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
3.4.1 Cá chép nuôi thịt
3.4.2 Các dụng cụ, hóa chất trong phòng thí nghiệm
- Kính lúp, kính giải phẫu, kính hiển vi