Nội dung nghiên cứu: Khảo sát thực trạng bệnh viêm tử cung: Xác định một số biến đổi của một số chỉ tiêu lâm sàng khi bò bị viêm tử cung: Xác định sự biến đổi của một số vi khuẩn hiếu
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐỖ QUỐC TRINH
MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BỆNH VIÊM TỬ CUNG SAU ĐẺ TRÊN ĐÀN BÒ SỮA NUÔI TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
VÀ THỰC NGHIỆM ĐIỀU TRỊ
Chuyên ngành: Thú y
Mã số: 60 64 01 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Thanh
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ
rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2017 Tác giả luận văn
Đỗ Quốc Trinh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành báo cáo này tôi xin chân thành cảm ơn Ban Đào tạo, Ban Chủ nhiệm Khoa Thú y, các thầy cô trong bộ môn Ngoại - Sản, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS-TS Nguyễn Văn Thanh đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn tất luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các anh, chị thú y viên cơ sở, các hộ chăn nuôi bò sữa tại các xã thuộc huyện Gia Lâm, Ba Vì, (Hà Nội), Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) và Tiên
Du (Bắc Ninh) đã giúp đỡ cung cấp thông tin và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã đóng góp ý kiến giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như hoàn thành bản báo cáo tốt nghiệp này
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn gia đình, người thân là nguồn động viên tinh thần quý báu giúp tôi hoàn thành đề tài
Hà Nội, ngày tháng năm 2017 Tác giả luận văn
Đỗ Quốc Trinh
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan I Lời cảm ơn II Mục lục III Danh mục chữ viết tắt VI Danh mục bảng VII Danh mục hình VIII Trích yếu luận văn IX Thesis abstract XI
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Hoạt động sinh sản của bò cái 3
2.1.1 Giải phẫu cơ quan sinh dục bò cái 3
2.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục của bò 5
2.2 Một số chỉ tiêu sinh lý lâm sàng 7
2.3 Một số thông tin về quá trình viêm 8
2.3.1 Khái niệm viêm 8
2.3.2 Hậu quả của phản ứng tuần hoàn và tế bào trong viêm 9
2.4 Thông tin về bệnh viêm tử cung gia súc sinh sản 10
2.4.1 Viêm tử cung 10
2.4.2 Viêm cổ tử cung (Cervitis) 15
2.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm tử cung ở bò sữa 16
2.5.1 Giống 16
2.5.2 Mùa vụ 16
2.5.3 Lứa đẻ 16
2.5.4 Vệ sinh thú y 17
2.5.5 Phương pháp phối giống 17
2.5.6 Quá trình đẻ 17
Trang 52.5.7 Sản lượng sữa 17
2.5.8 Một số bệnh sản khoa 18
2.6 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm tử cung bò trên thế giới và tại Việt Nam 21
2.6.1 Trên thế giới 21
2.6.2 Tại Việt Nam 22
2.7 Một số thông tin về prostaglandin F2α (PGF2α) 23
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 27
3.1 Đối tượng nghiên cứu 27
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 27
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 27
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 27
3.3 Nội dung nghiên cứu 27
3.3.1 Đánh giá thực trạng bệnh viêm tử cung 27
3.3.2 Xác định biến đổi của một số chỉ tiêu lâm sàng khi bò bị viêm tử cung 27
3.3.3 Xác định sự biến đổi của một số vi khuẩn hiếu khí thường gặp trong dịch viêm tử cung 27
3.3.4 Thử nghiệm biện pháp điều trị 28
3.4 Phương pháp nghiên cứu 28
3.4.1 Phương pháp đánh giá thực trạng bệnh viêm tử cung 28
3.4.2 Phương pháp xác định sự biến đổi một số chỉ tiêu lâm sàng khi bò bị viêm tử cung 28
3.4.3 Phương pháp xác định sự biến đổi của một số vi khuẩn hiếu khí thường gặp trong dịch viêm tử cung 29
3.4.4 Xác định phác đồ điều trị hữu hiệu bằng phương pháp theo dõi các chỉ tiêu tỷ lệ khỏi, thời gian điều trị và khả năng sinh sản của bò sữa sau khi được điều trị lành bệnh 29
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 30
Phần 4 Kết quả và thảo luận 31
4.1 Kết quả đánh giá thực trạng bệnh viêm tử cung 31
4.1.1 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên bò sữa ở một số địa phương thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng 31
4.1.2 Ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ đến tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm tử cung 33
Trang 64.1.3 Ảnh hưởng của yếu tố lứa đẻ đến tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm tử cung 35
4.1.4 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung bò sữa ở các giai đoạn khác nhau 37
4.1.5 Ảnh hưởng của sản lượng sữa đến tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm tử cung 39
4.2 Kết quả xác định sự thay đổi một số chỉ tiêu lâm sàng khi bò bị viêm tử cung 41
4.3 Kết quả phân lập và giám định thành phần vi khuẩn trong dịch tử cung của bò sữa 42
4.3.1 Kết quả xác định sự biến đổi về tổng số vi khuẩn hiếu khí có trong dịch tử cung của bò sữa 42
4.3.2 Kết quả xác định sự biến đổi về thành phần vi khuẩn hiếu khí có trong dịch viêm tử cung của bò sữa 44
4.3.3 Kết quả xác định tính mẫn cảm của các vi khuẩn phân lập được từ dịch viêm đường sinh dục bò sữa với một số thuốc kháng sinh 46
4.3.4 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung tử cung bò sữa 48
Phần 5 Kết luận và đề nghị 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Đề nghị 50
Tài liệu tham khảo 52
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
KHKT
N.X.B
WST
Khoa học kỹ thuật Nhà xuất bản White Site Test
Trang 8
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm tử cung ở một số địa phương thuộc khu
vực đồng bằng sông Hồng 31
Bảng 4.2 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung bò sữa theo các mùa trong năm 34
Bảng 4.3 Tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm tử cung qua các lứa đẻ 35
Bảng 4.4 Tỷ lệ viêm tử cung theo giai đoạn sau đẻ và chờ phối 38
Bảng 4.5 Tỷ lệ bò mắc bệnh viêm tử cung theo sản lượng sữa 40
Bảng 4.6 Kết quả theo dõi sự thay đổi một số chỉ tiêu lâm sàng của bò mắc bệnh viêm tử cung 41
Bảng 4.7 Tổng số vi khuẩn hiếu khí có trong dịch tử cung của bò 43
Bảng 4.8 Tần suất xuất hiện của một số vi khuẩn hiếu khí trong dịch tử cung 44
Bảng 4.9 Tính mẫn cảm của vi khuẩn Staphylococcus spp và Streptococcus spp phân lập được từ dịch viêm tử cung bò sữa với một số thuốc kháng sinh 46
Bảng 4.10 Kết quả điều trị viêm tử cung và khả năng sinh sản của bò sữa sau khi khỏi bệnh 48
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Viêm nội mạc tử cung 12
Hình 2.2 Viêm cơ tử cung 13
Hình 2.3 Viêm tương mạc tử cung 15
Hình 2.4 Bò sữa bị sát nhau 19
Hình 2.5 Đẻ khó do kích thước của bào thai không bình thường 20
Hình 2.6 Đẻ khó do tư thế thai không bình thường 20
Hình 2.7 Von Euler người tìm ra và đặt tên cho Prostaglandin 24
Hình 4.1 Tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm tử cung ở một số địa phương thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng 31
Hình 4.2 Bò sữa bị viêm tử cung dịch viêm tiết ra từ cơ quan sinh dục 33
Hình 4.3 Kết quả thử phản ứng WST phát hiện bệnh viêm tử cung 33
Hình 4.4 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung bò sữa theo các mùa trong năm 34
Hình 4.5 Tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm tử cung qua các lứa đẻ 36
Hình 4.6 Bò đẻ lứa đầu bị viêm tử cung 37
Hình 4.7 Tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm tử cung theo giai đoạn sau đẻ và chờ phối 38
Hình 4.8 Bò sữa sau khi đẻ mắc viêm tử cung 39
Hình 4.9 Bò sữa chờ phối mắc viêm tử cung 39
Hình 4.10 Biểu đồ tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm tử cung theo sản lượng sữa 40
Hình 4.11 Tính mẫn cảm của vi khuẩn Staphylococcus spp và Streptococcus spp phân lập được từ dịch viêm tử cung bò sữa với một số thuốc kháng sinh 47
Hình 4.12 Kết quả điều trị viêm tử cung và khả năng sinh sản của bò sữa sau khi khỏi bệnh 49
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Đỗ Quốc Trinh
Tên luận văn: “Một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm tử cung sau đẻ trên đàn bò sữa nuôi tại một số địa phương thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng và thực nghiệm điều trị”
- Đưa ra phác đồ điều trị hữu hiệu bệnh viêm tử cung bò sữa
Nội dung nghiên cứu:
Khảo sát thực trạng bệnh viêm tử cung:
Xác định một số biến đổi của một số chỉ tiêu lâm sàng khi bò bị viêm tử cung: Xác định sự biến đổi của một số vi khuẩn hiếu khí thường gặp trong dịch viêm Thử nghiệm biện pháp điều trị:
Phương pháp:
Xác định tỷ lệ bò sữa bị viêm tử cung bằng phương pháp điều tra, phỏng vấn trực tiếp người chăn nuôi kết hợp với việc theo dõi trực tiếp và sử dụng phương pháp White side test (Bhat et al.,2014) để kiểm tra mẫu dịch lấy từ bò bị viêm tử cung hay
bò không bị viêm tử cung: lấy 1ml dịch tử cung cần kiểm tra vào ống nghiệm sạch, sau
đó cho thêm 1ml dung dịch NaOH 5% vào ống nghiệm và đun sôi Để ống nghiệm trong giá đựng cho tới khi dung dịch nguội và đánh giá kết quả như sau:
Xác định sự biến đổi một số chỉ tiêu lâm sàng của bò sữa mắc bệnh viêm tử cung (nhiệt độ, tần số hô hấp) bằng phương pháp đo đếm nhiều lần vào một thời điểm nhất định rồi lấy số bình quân cùng với phương pháp quan sát thăm khám trực tiếp
Xác định sự biến đổi vi khuẩn
Thử kháng sinh đồ
Xác định phác đồ điều trị hữu hiệu bằng phương pháp theo dõi các chỉ tiêu tỷ lệ khỏi, thời gian điều trị và khả năng sinh sản của bò sữa sau khi được điều trị lành bệnh Phương pháp xử lý số liệu
Trang 11Kết quả chính và kết luận:
+ Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn bò sữa nuôi tại một số địa phương thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng là khá cao, trung bình 23,75% giao động từ 19,72% đến 27,74% Bệnh thường mắc ở những bò đẻ lứa đầu, những bò đã đẻ nhiều lứa và những
bò có sản lượng sữa cao Tỷ lệ mắc bệnh ở các mùa là khác nhau, cao nhất vào mùa hè 28,35% và thấp nhất là mùa thu 19,63 %, tỷ lệ bệnh ở giai đoạn sau khi sinh cao hơn nhiều so với giai đoạn chờ phối (14,61/31,69)
+ Các chỉ tiêu lâm sàng: thân nhiệt, tần số mạch, tần số hô hấp ở bò sữa viêm
tử cung đều tăng so với trạng thái bình thường, đồng thời có dịch rỉ viêm tiết ra từ cơ quan sinh dục Đây là dấu hiệu để nhận biết bò sữa bị mắc viêm tử cung
+ Số lượng vi khuẩn hiếu khí có trong dịch tử cung của bò sữa bị viêm cao gấp nhiều lần so với bò khỏe mạnh (7,70±2,71)x108/(6,80±2,95)x106
+ Trong dịch tử cung âm đạo bò khoẻ mạnh sau đẻ 12-24 giờ 20,00% mẫu bệnh phẩm có Staphylococcus spp và 13,33% Phát hiện thấy Streptococcus spp khi tử cung
bị viêm, 100% số mẫu bệnh phẩm xuất hiện 02 vi khuẩn kể trên
+ Những vi khuẩn phân lập được từ dịch viêm của tử cung bò có tỷ lệ mẫn cảm với thuốc không cao Trong đó những thuốc có độ mẫn cảm cao nhất là Norfloxacin, Amoxicillin, Kanamycin, và Ceftiofur
+ Khi bò sữa mắc bệnh viêm tử cung dùng Lutalyze một trong những dẫn xuất của PGF2α tiêm dưới da 2ml (25mg), tiêm 1 lần; thụt vào tử cung 1.500ml dung dịch Lugol 0,1%, dùng Norfloxacin 5mg/kg thể trọng pha với 100ml nước cất bơm vào tử cung ngày một lần, kết hợp điều trị toàn thân bằng ADE, B complex cho kết quả điều trị cao
Trang 12THESIS ABSTRACT
Master candidate: Do Quoc Trinh
Thesis title: “Some factors affect the postpartum Mestritis on dairy cows which are raised in some localities in the Red River Delta and experimental treatment”
Major: Veterinary Science Code: 60 64 01 1
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives
Assess influence of several factors to the rate dairy cows get in local study Determine the transformation of some clinical indicators and bacteriology when cows get Mestritis
Introduce effective treatment regimen Mestritis on dairy cows
Research content
Surveys of Mestritis on dairy cows inflammation
Determine the transformation of some clinical indicators when cows get Mestritis Determine the variability of some common aerobic bacteria in inflammation fluids Experiment treatment regimen
Materials and Methods
Determine the rate of dairy cows get Mestritis by investigating and interviewing farmers directly in combination with direct monitoring
Use the White side test to check samples from cows get Mestritis or not get Mestritis cows
Determine the transformation of some clinical indicators and bacteriology when cows get Mestritis (Body temperature, respiratory frequency) by counting, multiple many times at a certain time then take the average with direct observation method
Method of determine the variability of some common aerobic bacteria in inflammation liquid
Method of antibiotic test
Determine effective treatment regimen Mestritis on dairy cows by the method of monitoring the rate-off indicators, treatment time and fertility of dairy cows after were treated healed from sickness
Method of processing data
Trang 13Main findings and conclusions
The rate of dairy cows get Mestritis in some localities in the Red River Delta is quite high, average 23.75%, ranges from 19.72% to 27.74% The disease usually occurs
in first-parity cows, high- parity cows and high-yielding cows
The incidence of Mestritis on dairy cows in different seasons are different, highest in summer 28.35% and the lowest in autumn 19.63 % The incidence of Mestritis on dairy cows at postpartum period is much higher than the waiting for delivery period (14.61/31.69)
+ Clinical indicators: body temperature, pulse frequency, respiratory frequency
on cows get Mestritis are all increase compared to normal state At the same time, there is inflammation fluid secretes from the genitals This is a sign to identify cows get Mestritis
+ The number of aerobic bacteria in uterine fluids of cows get Mestritis are many times more than in healthy cows (7,70±2,71)x10 8 /(6,80±2,95)x10 6
+ In uterus, vagina fluids of healthy cows after calving 12-24 hours, 20,00% of specimen have Staphylococcus spp, 13,33% of specimen have Streptococcus spp When the uterus is inflamed, 100% specimen appear the above 02 bacteria
+ The bacterias which are isolated from the inflammation uterus fluids of the cow get Mestritis have not sensitivity rate with antibiotics high Of which the drug has the highest sensitivity are Norfloxacin, Amoxicillin, Kanamycin and Ceftiofur
+ When cows get Mestritis, using Lutalyze ijnect subcutaneous 2ml (25mg) one time, indenting the uterus 1.500ml Lugol 0.1% solution ; using Norfloxacin5mg/kg weight mix with 100ml of distilled water pump into the uterus once a day, combining body treatment with ADE, B complex, get high treatment results
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, nhu cầu sử dụng sữa ở nước ta ngày càng gia tăng Để đáp ứng nhu cầu sữa ngày một tăng, từng bước chủ động nguồn nguyên liệu trong nước thay dần sữa nhập nhằm tiết kiệm ngoại tệ, tạo công ăn việc làm cho người dân, Nhà nước đã có chủ trương phát triển chăn nuôi bò sữa trong nước bằng những chính sách như:
hỗ trợ vốn, nhập bò và tinh bò sữa cao sản từ các nước có nền chăn nuôi bò sữa phát triển, qui hoạch và khuyến khích các vùng có điều kiện phát triển chăn nuôi
bò sữa trên hầu khắp mọi miền của đất nước và đã đem lại những kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên chăn nuôi bò sữa ở nước ta hiện nay còn đang gặp nhiều khó khăn và thách thức trong đó phải kể tới tình hình dịch bệnh Bệnh viêm tử cung được xem là một trong những bệnh quan trọng nhất, gây nhiều thiệt hại lớn cho người chăn nuôi Viêm tử cung ở bò sữa chủ yếu xảy ra vào thời gian sau khi đẻ, bệnh sảy ra quanh năm và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Hậu quả của bệnh thường làm kéo dài thời gian động dục lại sau đẻ, tăng hệ số phối, tăng tỉ lệ loại thải, giảm sản lượng sữa, giảm số con sinh ra trong một đời bò mẹ, từ đó làm giảm năng suất sinh sản, gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người chăn nuôi đặc biệt bệnh làm giảm chất lượng sữa tăng nguy cơ tồn dư kháng sinh trong sữa ảnh hưởng lớn tới sức khỏe của cộng đồng Những vấn đề nêu trên chỉ ra rằng: việc nghiên cứu tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung từ đó
đề ra các biện pháp phòng trị viêm tử cung bò sữa là việc làm cần thiết Với mục đích góp phần làm giảm thiệt hại do bệnh viêm tử cung gây ra đồng thời bổ sung vào các tài liệu nghiên cứu về bò sữa, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm tử cung sau đẻ trên đàn bò sữa nuôi tại một số địa phương thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng và thực nghiệm điều trị”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá được ảnh hưởng của một số yếu tố đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa tại địa phương nghiên cứu
- Xác định sự biến đổi của một số chỉ tiêu lâm sàng và vi khuẩn học khi bò mắc bệnh viêm tử cung
Trang 15- Đưa ra phác đồ điều trị hữu hiệu bệnh viêm tử cung bò sữa
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Bổ sung thêm những thông tin và bằng chứng xác thực về một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa nuôi tại một số địa phương thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng
- Kết quả nghiên cứu là một phần quan trọng để tổng hợp và khuyến cáo tình hình bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa và biện pháp phòng trị
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 HOẠT ĐỘNG SINH SẢN CỦA BÒ CÁI
2.1.1 Giải phẫu cơ quan sinh dục bò cái
2.1.1.1 Bộ phận sinh dục bên ngoài
Bộ phận sinh dục bên ngoài là bộ phận sinh dục có thể nhìn thấy, sờ thấy
và quan sát được, bao gồm: Âm môn, âm vật và tiền đình
+ Âm môn (Vulva)
Âm môn hay còn gọi là âm hộ, nằm ở dưới hậu môn Bên ngoài có hai môi (labia vulvae), bờ trên của hai môi có sắc tố đen, nhiều tuyến tiết chất nhờn màu trắng và tuyến tiết mồ hôi
2.1.1.2 Bộ phận sinh dục bên trong
Bộ phận sinh dục bên trong bao gồm: Âm đạo, tử cung, ống dẫn trứng, buồng trứng
+ Âm đạo (Vagina)
Âm đạo là một ống tròn, trước âm đạo là cổ tử cung, phía sau là tiền đình
có màng trinh Âm đạo được cấu tạo bởi ba lớp:
- Lớp liên kết bên ngoài
- Lớp cơ trơn: bên ngoài là cơ dọc, bên trong là cơ vòng Chúng liên kết với các cơ ở cổ tử cung
- Lớp niêm mạc âm đạo: có nhiều tế bào thượng bì gấp nếp dọc
Trang 17Âm đạo là cơ quan giao cấu, nơi dịch đọng lại ở đó và chuyển tiếp vào tử cung, phần lớn chúng được thải ra ngoài và một phần hấp thụ qua âm đạo
Ngoài ra, âm đạo còn là bộ phận để thai ra ngoài khi sinh đẻ và là ống thải các chất dịch tử cung
Theo Hoàng Kim Giao và Nguyễn Thanh Dương (1997); Trần Tiến Dũng
và cs (2002) âm đạo của bò Việt Nam dài 22 – 25 cm
+ Tử cung (Uterus)
Tử cung của các loài động vật có vú gồm hai sừng, một thân và một cổ tử cung Đối với bò cái tơ thì toàn bộ tử cung nằm trong xoang chậu, phía trên là trực tràng, phía dưới là bàng quang Khi bò đẻ nhiều lứa thì tử cung nằm trong xoang bụng Tử cung là nơi làm tổ của hợp tử, ở đây hợp tử phát triển được là nhờ chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ cung cấp thông qua lớp nội mạc tử cung Giai đoạn đầu hợp tử sống được nhờ vào noãn hoàng, một phần dựa vào sữa mẹ thông qua cơ chế thẩm thấu Sau này giữa mẹ và thai hình thành hệ thống nhau thai Niêm mạc tử cung và dịch tử cung giữ vai trò quan trọng trong quá trình vận chuyển tinh trùng và trứng, tham gia điều hòa chức năng thể vàng, đảm nhận sự làm tổ, mang thai và đẻ
* Cổ tử cung
Là phần ngoài cùng của tử cung, cổ tử cung của bò hình tròn, thông với
âm đạo Cổ tử cung dài khoảng 8 – 12 cm, đường kính 5 – 6 cm Niêm mạc cổ tử cung gấp nếp nhiều lần làm cho thành tử cung không đồng đều tạo thành những tầng gọi là các “tầng hoa nở” hay “thùy hoa nở”, có 3 – 5 hoa nở Tầng ngoài cùng nhô vào âm đạo 0,5 – 1,0 cm nhìn bên ngoài tựa như hoa cúc đại Khám qua trực tràng cầm vào cổ tử cung tựa như cầm một đoạn cổ gà
* Thân tử cung
Thân tử cung của bò rất ngắn, chỉ khoảng 2-4 cm nối giữa sừng tử cung với cổ tử cung (Trần Tiến Dũng và cs., 2002)
* Sừng tử cung
Ở bò cái có hai sừng tử cung (sừng trái và sừng phải), độ dài mỗi sừng
20-35 cm, đường kính phần dưới sừng tử cung 3-4 cm, phần ngọn chỉ khoảng 0,8 cm Khác với gia súc khác, hai sừng tử cung bò gần với thân tử cung và dính lại với nhau tạo thành một lõm hình lòng máng Phía trên của tử cung gọi là rãnh
Trang 180,5-tử cung dài 3-5 cm, rãnh này dễ dàng nhận thấy khi khám qua trực tràng để chẩn đoán gia súc có thai và bệnh lý ở tử cung
+ Ống dẫn trứng
Ống dẫn trứng (vòi fallop), nằm ở màng treo buồng trứng Chức năng của ống dẫn trứng là vận chuyển trứng và tinh trùng theo chiều ngược nhau, một đầu của ống dẫn trứng thông với xoang bụng Gần sát với buồng trứng có hình loa kèn, trên loa kèn là một màng mỏng tạo thành một tán rộng lô nhô không đều ôm lấy buồng trứng Đối với bò, diện tích của loa kèn thường rộng 20-40 mm2 và phủ toàn bộ buồng trứng (Hoàng Kim Giao và Nguyễn Thanh Dương, 1997) Trứng được chuyển qua lớp nhầy đi đến lòng ống dẫn trứng, nơi xảy ra sự thụ tinh và sự phân chia của phôi Thời gian tế bào trứng di chuyển trong ống dẫn trứng từ 3-10 ngày
Có thể chia ống dẫn trứng thành 4 đoạn chức năng: Đoạn tua điểm - phễu - phồng ống dẫn trứng và đoạn co của ống dẫn trứng (Nguyễn Tấn Anh
và cs., 1992)
+ Buồng trứng (Ovarium)
Buồng trứng của bò gồm một đôi treo ở cạnh trước dây chằng rộng, gần nút sừng tử cung và nằm trong xoang chậu Hình dáng buồng trứng rất đa dạng nhưng phần lớn có hình bầu dục hoặc ovan dẹt, không có lõm rụng trứng Khi mới sinh buồng trứng có khối lượng khoảng 0,3g, khi trưởng thành có khối lượng 10-20g, dài 1-2cm, rộng 1-1,5 cm và dày khoảng 1,5cm, thường có màu trắng (Nguyễn Tấn Anh và cs., 1992) Buồng trứng của gia súc có chức năng sinh ra trứng và tiết dịch nội tiết
2.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục của bò
Đặc điểm sinh lý sinh dục của gia súc nói chung có tính ổn định với từng giống vật nuôi Nó được duy trì qua các thế hệ và luôn củng cố, hoàn thiện qua quá trình chọn lọc Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố như: ngoại cảnh, điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc, sử dụng… Để đánh giá đặc điểm sinh lý sinh dục của bò sữa người ta thường tập trung nghiên cứu, theo dõi các chỉ tiêu sau đây:
+ Sự thành thục về tính
Gia súc thành thục về tính là thời điểm cơ quan sinh dục cái phát triển hoàn thiện, trên buồng trứng có noãn chín, có trứng rụng và trứng có khả năng
Trang 19thụ thai, tử cung cũng sẵn sàng cho thai làm tổ; biểu hiện ở bên ngoài của con vật
là lông mượt, tai thính, thường xuyên chạy nhảy và nô đùa với con khác Bê cái thành thục về tính từ lúc 7 - 10 tháng tuổi, nhưng chỉ cho phối giống được sau 18
- 20 tháng tuổi
Qua nghiên cứu, tác giả Nguyễn Văn Thưởng (1995) đã cho thấy bò sinh sản được ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng tại chuồng và được gặm cỏ ngoài bãi trong vụ đông xuân sẽ có tỷ lệ động hớn và phối giống có chửa cao trong vụ hè thu Bò đẻ cuối vụ đông xuân do có thời gian vận động và gặm cỏ ngoài bãi trong suốt cả hè
+ Chu kỳ động dục
Từ khi thành thục về tính, các noãn bao trên buồng trứng phát triển lớn dần, đến độ chín và nổi cộm trên bề mặt buồng trứng gọi là nang Graaf Khi nang Graaf vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng, mỗi lần rụng trứng con vật có những biểu hiện tính dục ra bên ngoài, những biểu hiện này diễn ra liên tục và có tính chu kỳ nên gọi là chu kỳ động dục (Trần Tiến Dũng và cs., 2002) Thời gian trung bình của một chu kỳ là 21 ngày ở bò cái đã đẻ nhiều lứa và 20 ngày ở bò cái tơ Quá trình trứng phát triển chín và rụng đều phụ thuộc vào hoạt động cơ năng của buồng trứng dưới tác động của tuyến yên và vùng dưới đồi Sự rối loạn tiết các hoocmon này sẽ dẫn đến viêm tử cung và bệnh lý
Thời gian động dục của bò ngắn, trung bình 14 - 15 giờ, trứng rụng tự nhiên sau động dục từ 10 - 14 giờ Tỷ lệ đậu thai sẽ cao nếu bò cái được phối giống vào cuối thời kỳ biểu hiện động dục lâm sàng Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong, 1994), buồng trứng bên phải rụng trứng nhiều hơn buồng trứng bên trái (60% so với 40%), vòi tử cung bên phải thường hay mang thai hơn
Khi phối giống có chửa thì bò không động dục trở lại Thời gian có chửa ở
bò cái là 9 tháng 10 ngày (280 - 285 ngày) (Trần Tiến Dũng và cs., 2002) Sau khi
đẻ, thời kỳ động dục trở lại của bò sữa là 35 - 60 ngày, ở bò thịt 50 - 80 ngày Động dục xuất hiện ở bò cái vắt sữa sớm hơn ở bò cái nuôi con, nếu cho bò giao phối khi động dục sau đẻ 40 ngày thì tỷ lệ đậu thai thấp (Trần Tiến Dũng và cs., 2002)
+ Khoảng cách giữa các lứa đẻ
Khoảng cách giữa các lứa đẻ là thước đo phản ánh khả năng sinh sản của gia súc Ở bò, một năm một lứa là khoảng cách lý tưởng, nếu khoảng cách lứa đẻ quá dài sẽ gây thiệt hại về kinh tế và sẽ hạn chế tiến bộ di truyền của loài Khoảng cách
Trang 20lứa đẻ phụ thuộc vào chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, đặc điểm giống, kỹ thuật khai thác sữa, cạn sữa, kỹ thuật phối giống, các bệnh sinh sản mắc phải
Ở Việt Nam, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng chưa đầy đủ nên khoảng cách giữa hai lứa đẻ là 18 - 20 tháng (Nguyễn Văn Thưởng, 1984)
+ Thời gian hồi phục tử cung sau đẻ
Khi đẻ tử cung phải co bóp để đẩy thai ra ngoài, sau khi sinh tử cung co lại như kích thước ban đầu, quá trình này gọi là hồi phục tử cung sau khi đẻ Đó
là giai đoạn sinh lý có ảnh hưởng rất lớn đến khoảng cách giữa hai lứa đẻ Đối với bò, thời gian để bộ máy sinh dục hồi phục hoàn toàn sau khi đẻ là 3 tuần Những kết quả nghiên cứu sau này chứng minh rằng thời gian này có dài hơn Thời gian hồi phục hoàn toàn của bò đẻ lứa đầu là 42 ngày, ở bò đã đẻ nhiều lần
là 50 ngày Bằng phương pháp khám qua trực tràng cho biết 3 – 4 ngày sau khi
đẻ thể tích tử cung giảm đi 1/2 và vào khoảng ngày thứ 15 – 17 sau khi đẻ tử cung hồi phục gần như hoàn toàn
Theo tác giả Nguyễn Trọng Tiến và cs (1991) cho biết khoảng 60 ngày sau khi đẻ có 75% và 75 ngày có 87% số bò cái có cơ quan sinh dục được hồi phục Đối với bò đẻ khó, sát nhau thời gian này là 4 tháng Tác giả cũng cho biết
ở bò cái sự hồi phục tử cung phía không mang thai trung bình là 14,4 ngày Sự co
dạ con còn phụ thuộc vào cơ thể, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, quá trình đẻ và
hộ lý chăm sóc sau đẻ
Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (1994) đã khẳng định: không nên phối bò cái trước 60 ngày sau khi đẻ vì thời gian cần thiết để tử cung
co lại sau khi đẻ là từ 30 - 50 ngày
2.2 MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ LÂM SÀNG
Trang 21Theo công bố của Hồ Văn Nam và cs (1997) thân nhiệt bình thường của
bò là 37,5 - 39,50C
* Sốt
Sốt là phản ứng toàn thân đối với tác nhân gây bệnh mà đặc điểm chủ yếu
là cơ thể sốt Sốt là khi thân nhiệt cao vượt khỏi phạm vi sinh lý Quá trình đó là
do tác động của vi khuẩn, độc tố của và những chất khác hình thành trong quá trình bệnh Những chất đó thường là protein hay sản phẩm phân giải của nó (Hồ Văn Nam và cs., 1997) Một số kích tố như Adrenalin, Parathyroxyn, một số thuốc như nước muối, glucoza ưu trương đều có thể gây sốt
Khi bắt đầu cơn sốt, có tăng cường các quá trình sinh nhiệt như co mạch, dựng lông, bài tiết adrenalin, run cơ Khi hết cơn sốt có các quá trình tăng thải nhiệt như giãn mạch, ra mồ hôi (Trịnh Bỉnh Dy, 2000)
* Tần số mạch đập
Tần số mạch là số lần mạch đập trong một phút Theo Hồ Văn Nam và cs (1997) tần số mạch đập ở bò cái trưởng thành là 60 - 80 lần/phút, ở bò đực trưởng thành là 36 - 60 lần/phút, ở bê là 100 - 120 lần/phút
Mạch đập liên quan chặt chẽ với hoạt động của phổi; tần số mạch đập và tần số hô hấp tỷ lệ với nhau, nếu tỷ lệ này thay đổi nhiều là triệu chứng bệnh (Hồ Văn Nam và cs., 1997)
* Tần số hô hấp
Tần số hô hấp là số lần thở/phút Tần số hô hấp phụ thuộc vào cường độ trao đổi chất, lứa tuổi, tầm vóc Gia súc non có cường độ trao đổi chất mạnh nên tần số hô hấp cao hơn Động vật nhỏ cũng có tần số hô hấp cao hơn so với động vật lớn Ngoài ra trạng thái sinh lý, vận động, nhiệt độ môi trường cũng ảnh hưởng đến nhịp thở Tần số hô hấp của bò là 10 - 30 lần/phút (Nguyễn Xuân Tịnh và cs., 1996)
2.3 MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ QUÁ TRÌNH VIÊM
2.3.1 Khái niệm viêm
Hiện tượng sưng, nóng, đỏ, đau của viêm đã được đề cập tới trong y học
cổ đại và những khái niệm về viêm cũng được hình thành từ rất sớm song lại rất khác nhau Theo tác giả Vũ Triệu An và cs (1990), viêm là một phản ứng bảo vệ của cơ thể mà nền tảng của nó là phản ứng tế bào Phản ứng này hình thành và
Trang 22phát triển phức tạp dần trong quá trình tiến hoá của sinh vật
Viêm là một quá trình phức tạp, luôn luôn thay đổi, có nhiều tính chất bảo
vệ, nhằm duy trì sự hằng định nội môi Phản ứng này hình thành trong quá trình tiến hoá của sinh giới và bao gồm ba hiện tượng đồng thời tồn tại và liên quan chặt chẽ với nhau: Rối loạn tuần hoàn, rối loạn chuyển hoá - tổn thương mô bào
và tế bào tăng sinh
Theo Nguyễn Hữu Nam (2004), viêm là một phản ứng toàn thân chống lại mọi kích thích có hại, thể hiện ở cục bộ mô bào
2.3.2 Hậu quả của phản ứng tuần hoàn và tế bào trong viêm
Khi cơ thể bị viêm thì tại ổ viêm xảy ra phản ứng tuần hoàn và phản ứng
tế bào gây nên các rối loạn chủ yếu như sau:
* Rối loạn chuyển hoá
Tại ổ viêm quá trình oxy hoá tăng mạnh, nhu cầu oxy tăng nhưng vì có rối loạn tuần hoàn nên khả năng cung cấp oxy không đủ, gây rối loạn chuyển hoá gluxit, lipid và protein gây ra hiện tượng tăng độ axit, xeton, lipid, albumoza, polipeptid và các axit amin tại ổ viêm
* Tổn thương mô bào
Các tế bào bị tổn thương tại ổ viêm giải phóng các enzym cũng làm trầm trọng thêm quá trình huỷ hoại mô bào và phân huỷ các chất tại vùng viêm, chúng tạo ra các chất trung gian có hoạt tính sinh lý cao và hạ thấp độ pH của ổ viêm
Theo Nguyễn Hữu Nam (2004) ngoài tính chất bảo vệ thì tổn thương mô bào còn tạo ra nhiều chất có hại tham gia vào thành phần của dịch rỉ viêm, chính các chất này đã góp phần hình thành và phát triển vòng xoắn bệnh lý trong viêm
* Dịch rỉ viêm
Dịch rỉ viêm là sản phẩm được tiết ra tại ổ viêm bao gồm nước, thành phần hữu hình và các chất hòa tan như nước, muối, albumin, globulin, fibrinogen, bạch cầu, hồng cầu, tiểu cầu có tác dụng tạo vành đai ngăn cản viêm lan Đặc biệt là các chất có hoạt tính sinh lý như histamin, serotonin, axetincholin
có tác dụng làm giãn mạch và tăng tính thấm thành mạch gây đau
* Tăng sinh mô bào
Là hiện tượng tăng lên về số lượng các tế bào trong ổ viêm, các tế bào này
có thể từ máu tới hoặc các tế bào tại chỗ sinh sản phát triển ra Trong quá trình viêm,
Trang 23giai đoạn đầu chủ yếu tăng sinh bạch cầu đa nhân trung tính Sự tăng sinh và phát triển của các loại tế bào phụ thuộc vào mức độ tổn thương của ổ viêm cũng như tình trạng phản ứng của cơ thể (Phạm Khắc Hiếu và Lê Thị Ngọc Diệp, 1997)
* Các tế bào viêm
Các tế bào tăng sinh trong ổ viêm được gọi chung là các tế bào viêm, bao gồm: bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu ưa toan, bạch cầu ưa kiềm, bạch cầu đơn nhân lớn Chúng có chức năng thực bào, ẩm bào hay tạo ra những kích thích tại các ổ viêm và giữ vai trò quan trọng giúp cơ thể chống lại sự xâm nhập của các tác nhân lạ từ môi trường
2.4 THÔNG TIN VỀ BỆNH VIÊM TỬ CUNG GIA SÚC SINH SẢN
Viêm tử cung ở bò sữa chủ yếu xảy ra ở khoảng thời gian 7 ngày sau khi
đẻ, tuy nhiên nó cũng có thể xảy ra ở giai đoạn khác (LeBlanc, 2008) Bệnh làm kéo dài thời gian động dục lại sau đẻ, tăng hệ số phối, tăng tỉ lệ loại thải, giảm sản lượng sữa, giảm số con sinh ra trong một đời bò mẹ, từ đó làm giảm năng suất sinh sản, gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người chăn nuôi (Singh et al., 1983; Gilbert
Trang 24et al., 2005; Sheldon et al., 2009; Dubuc et al., 2011) Bệnh viêm tử cung được cho là làm ảnh hưởng từ 10-20% bò sữa tại Canada và Mỹ (Overton and Fetrow, 2008; Dubuc et al., 2010) Bệnh viêm tử cung đã được nhiều tác giả tập trung nghiên cứu về hệ vi khuẩn trong tử cung bò (Dawson, 1950) Theo Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Thanh Hải (2016) viêm tử cung có thể chia ra ba thể: viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung
2.4.1.1 Viêm nội mạc tử cung (Endomestritis)
Theo Black et al (1953) viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạc của
tử cung Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm khả năng sinh sản của gia súc cái
Viêm nội mạc tử cung phổ biến và chiếm tỷ lệ cao nhất trong các thể viêm ở
tử cung Samad et al (1987) theo dõi 17.293 trâu mắc bệnh đường sinh dục, rối loạn sinh sản cho biết: tỷ lệ trâu bị viêm nội mạc tử cung là cao nhất và chiếm 35,9% Bệnh viêm nội mạc tử cung thường xảy ra sau khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong những trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ làm niêm mạc tử cung bị xây sát, tổn thương Sau đó là do sự tác động của các vi khuẩn Streptococcus, Staphylococcus, E.coli, Salmonella, Brucella, roi trùng gây viêm nội mạc tử cung (Nguyễn Văn Thanh và Lê Trần Tiến, 2007)
Căn cứ vào tính chất, trạng thái của quá trình bệnh lý, viêm nội mạc tử cung
có thể chia ra làm hai loại: viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ và viêm nội mạc tử cung có màng giả
* Viêm nội mạc tử cung thể Cata cấp tính có mủ (Endomestritis Puerperalis) Bệnh này gặp nhiều ở bò sau sinh đẻ, niêm mạc cổ tử cung và âm đạo bị tổn thương, xây sát dẫn đến nhiễm khuẩn nhất là khi gia súc bị sát nhau, đẻ khó phải can thiệp
Khi bị bệnh, gia súc biểu hiện một số triệu chứng chủ yếu: thân nhiệt tăng nhẹ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, đôi khi cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh Từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức chết Khi con vật nằm, dịch viêm thải ra càng nhiều, xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm có khi nó khô lại hình thành từng đám vẩy, màu trắng xám Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch viêm thải ra nhiều Cổ tử cung hơi mở
và có mủ chảy qua cổ tử cung Niêm mạc âm đạo bình thường, kiểm tra qua trực tràng có thể phát hiện được một hay cả hai sừng tử cung sưng to, hai sừng tử
Trang 25cung không cân xứng nhau, thành tử cung dày và mềm hơn bình thường Khi kích thích nhẹ lên sừng tử cung thì mức độ phản ứng co lại của chúng yếu ớt Trường hợp trong tử cung tích lại nhiều dịch viêm, nhiều mủ thì có thể phát hiện được trạng thái chuyển động sóng
* Viêm nội mạc tử cung màng giả
Thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử Vết thương đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử, lúc này con vật xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ: Thân nhiệt lên cao, lượng sữa giảm có khi hoàn toàn mất sữa,
kế phát viêm vú, con vật ăn uống kém và không nhai lại, biểu hiện trạng thái đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch: Dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch Dưới đây là một số hình ảnh viêm nội mạc tử cung, Nguyễn Văn Thanh (2002)
Hình 2.1 Viêm nội mạc tử cung
Trang 262.4.1.2 Viêm cơ tử cung (Myomestritis Puerperalis)
Theo Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Thanh Hải (2016) viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung, niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tử cung làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương mạch quản và lâm ba quản Từ đó làm cho các lớp
cơ và một ít lớp tương mạc tử cung bị hoại tử Trường hợp này có thể dẫn đến hiện tượng nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ Có khi vì lớp cơ và lớp tương mạc tử cung bị phân giải, bị hoại tử mà tử cung bị thủng hay bị hoại tử từng đám Dưới đây là một số hình ảnh viêm cơ tử cung, Nguyễn Văn Thanh (2002)
Hình 2.2 Viêm cơ tử cung
Trang 27Ở thể viêm này, gia súc biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, sản lượng sữa giảm hay mất hẳn Con vật kế phát chướng bụng đầy hơi, viêm vú, có khi viêm phúc mạc Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu, lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh thối Kiểm tra qua âm đạo bằng mỏ vịt thấy cổ tử cung mở, hỗn dịch càng chảy ra ngoài âm đạo nhiều hơn, phản xạ đau của con vật càng rõ hơn Khám qua trực tràng thì tử cung to hơn bình thường, hai sừng tử cung to nhỏ không đều nhau, thành tử cung dày và cứng Khi kích thích lên tử cung, con vật rất mẫn cảm, đau nên càng rặn mạnh hơn, từ tử cung thải ra nhiều hỗn dịch bẩn
2.4.1.3 Viêm tương mạc tử cung (Perimestritis Puerperalis)
Theo Đặng Đình Tín (1985); Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Thanh Hải (2016), viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ thể viêm cơ tử cung Thể viêm này thường cấp tính cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng Lúc đầu lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển thành màu đỏ sẫm rồi trở nên sần sùi mất tính trơn bóng Sau đó các tế bào bị hoại tử
và bong ra, dịch thẩm xuất tăng tiết Trường hợp viêm nặng, lớp tương mạc ở một số vùng có thể dính với các tổ chức xung quanh, gây nên tình trạng viêm mô
tử cung (Parametritis) và dẫn đến viêm phúc mạc Thân nhiệt tăng cao, mạch đập nhanh, con vật ủ rũ, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn, hiện tượng nhai lại giảm hay ngừng Lượng sữa còn rất ít hay mất hẳn, thường kế phát viêm vú Con vật luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử,
có màu nâu và mùi thối khắm
Kiểm tra qua trực tràng thấy thành tử cung dày, cứng, hai sừng tử cung mất cân đối, khi kích thích con vật biểu hiện đau đớn càng rõ và càng rặn mạnh hơn Trường hợp một số vùng của tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng của tử cung, có khi không tìm thấy một hoặc cả hai buồng trứng Thể viêm này thường dẫn đến kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ
Trang 28Hình 2.3 Viêm tương mạc tử cung 2.4.2 Viêm cổ tử cung (Cervitis)
Cổ tử cung được cấu tạo bởi các lớp cơ rắn chắc và lớp niêm mạc có nhiều gấp nếp Nó là hàng rào bảo vệ tử cung Cổ tử cung luôn đóng, chỉ hé mở khi động dục và mở hoàn toàn khi sinh đẻ (Trần Tiến Dũng và cs., 2002) Theo các tác giả này bệnh viêm cổ tử cung ở gia súc thường là hậu quả của những sai sót
về kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, do thao tác đỡ đẻ nhất là các trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hay sử dụng dụng cụ không phù hợp làm cổ tử cung bị xây sát Viêm cổ tử cung còn do kế phát từ viêm âm đạo Hậu quả của viêm cổ tử cung làm cổ tử cung bị tắc, khi gia súc động dục niêm dịch không thoát ra ngoài được Dùng mỏ vịt và đèn soi khám qua âm đạo: cổ tử cung mở đường kính 1– 2
cm thấy niêm mạc xung huyết hoặc phù rõ, cá biệt có vết loét, dính mủ (Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Thanh Hải, 2016) Kiểm tra qua trực tràng: cổ tử cung sưng to và cứng do tổ chức tăng sinh (Đặng Đình Tín, 1985)
Trang 292.5 MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở
BÒ SỮA
2.5.1 Giống
Mỗi một giống bò có nguồn gốc xuất xứ khác nhau và thích nghi với điều kiện khí hậu cũng như điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng đặc trưng của vùng đó Khi di chuyển hay thay đổi môi trường sống, bò có thể không thích nghi được hoặc bị xáo trộn nặng dẫn đến giảm sức đề kháng Từ đó, những nguyên nhân gây bệnh có cơ hội xâm nhập và gây bệnh cho bò Những giống bò sữa cao sản thường dễ bị viêm tử cung hơn
2.5.2 Mùa vụ
Khí hậu Việt Nam bao gồm bốn mùa với các đặc tính thời tiết khác nhau: xuân, hạ, thu, đông Song thể hiện sự phân hoá rõ hơn là xuân - hạ và thu - đông Trong mùa xuân hạ thời tiết mưa nhiều, nhiệt độ cao, độ ẩm trong không khí cao
là điều kiện thuận lợi để các vi sinh vật gây bệnh phát triển Nhiệt độ cao làm cho khả năng thu nhận thức ăn giảm, sức khoẻ, sức đề kháng của con vật giảm nên tỷ
lệ mắc bệnh của bò sữa rất cao, đặc biệt là bệnh ở đường sinh dục
Ngược lại, thời tiết trong giai đoạn thu đông thì nhiệt độ mát mẻ làm sức
đề kháng của con vật được nâng cao Mặt khác có những thời điểm nhiệt độ hạ thấp xuống rất thấp gây sự bất lợi cho các vi khuẩn gây bệnh phát triển Vì thế
mà các bệnh xảy ra trên đàn bò sữa cũng giảm Điều đó cho thấy tỷ lệ bệnh viêm
tử cung ở hai thời điểm khác nhau có sự khác nhau rõ rệt
2.5.3 Lứa đẻ
Những lứa đầu tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung là khá cao là do trong lần sinh
đẻ đầu tiên các bộ phận của cở quan sinh dục giãn nở chưa hoàn toàn, thường dẫn đến hiện tượng đẻ khó và phải dùng biện pháp can thiệp bằng tay hay dụng
cụ để kéo thai ra ngoài từ đó làm trầy sước niêm mạc đường sinh dục tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn từ ngoài xâm nhập vào qua những vết thương trên niêm mạc tử cung Ở những bò đã đẻ nhiều lứa, trương lực của tử cung giảm dẫn tới sự co bóp của tử cung giảm không đủ cường độ để đẩy hết các sản phẩm trung gian sau khi đẻ ra ngoài, sự hồi phục của tử cung chậm, cổ tử cung đóng muộn tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm
Trang 302.5.4 Vệ sinh thú y
Công tác vệ sinh thú y đối với bò sữa là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến bệnh viêm tử cung Vệ sinh thú y bao gồm vệ sinh môi trường và vệ sinh trong quá trình sinh sản Vệ sinh thú y tốt được đánh giá bởi các yếu tố:
- Vệ sinh môi trường bao gồm: Cọ rửa máng ăn hàng ngày, thu dọn phân, rác trong chuồng hàng ngày, rửa chuồng hàng ngày, phun sát trùng định kỳ 1 tuần 1 lần
- Vệ sinh trong quá trình sinh sản bao gồm: vệ sinh các dụng cụ thụ tinh,
vệ sinh bò sữa trong quá trình thụ tinh, vệ sinh khai thác tinh, dụng cụ phối, vệ sinh trước và sau khi đẻ…
2.5.5 Phương pháp phối giống
Phương pháp phối giống cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung Thụ tinh nhân tạo ở bò cái dễ gây xây xát do đưa dụng cụ phối vào con cái, con cái dịch chuyển trong khi phối gây xây xát niêm mạc, dụng cụ phối không được vô trùng… rất dễ gây viêm
2.5.6 Quá trình đẻ
Bò sữa đẻ bình thường sẽ làm khả năng nhiễm bệnh đường sinh dục thấp hơn khi bò đẻ phải can thiệp Tuy nhiên thời gian đẻ kéo dài và có một số yếu tố khác dẫn đến cần sự can thiệp của công nhân Công nhân dùng tay hoặc dây và các thiết bị hỗ trợ khác để đưa thai ra gây xây xát niêm mạc và dễ gây nhiễm vi khuẩn vào gây viêm
Theo các tác giả Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (1994); Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Thanh Hải (2016) cho rằng phương pháp đỡ đẻ thô bạo, không đúng kỹ thuật là nguyên nhân chính gây bệnh viêm tử cung Đặc biệt các trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay và dụng cụ
2.5.7 Sản lượng sữa
Những bò có sản lượng sữa cao thì nhu cầu về dinh dưỡng và năng lượng cũng cao hơn các bò có sản lượng sữa thấp Mà trong khẩu phần ăn của bò thì thức ăn tinh là nguồn năng lượng chủ yếu để giúp bò tạo sữa Khi bò ăn nhiều thức ăn tinh có thể dẫn đến sự mất cân bằng độ pH dạ cỏ và có thể làm tăng các thể xe-ton trong máu Suriyasathaporn et al (2000) cho biết xeton huyết làm giảm khả năng hấp dẫn bạch cầu vào trong các tổ chức khi có tác động của nguyên nhân gây viêm dẫn đến làm giảm số lượng bạch cầu đa nhân trong các tổ
Trang 31chức bị viêm, bạch cầu cũng giảm sản xuất các cytokines quan trọng trong quá trình viêm và phòng ngự của cơ thể như interferon, interleukin, tumor necrosis factor, những bò có năng suất sữa cao thì bị stress nhiều hơn các bò có năng suất thấp Stress làm tăng tiết hormone cortisol, tình trạng này kéo dài dẫn đến suy giảm miễn dịch và làm tăng nguy viêm tử cung ở bò sữa
2.5.8 Một số bệnh sản khoa
+ Bệnh sát nhau bò
Ở bò sau khi sổ thai quá 12 giờ nhau thai con không được đẩy ra khỏi tử cung cơ thể mẹ thì được gọi là bệnh sát nhau (Retain placenta) Căn cứ vào mức
độ của bệnh có thể chia ra như sau:
- Thể sát nhau hoàn toàn: Toàn bộ hệ thống nhau thai còn dính với niêm mạc tử cung ở cả hai sừng tử cung
- Thể sát nhau không hoàn toàn: Phía sừng tử cung không chứa thai thì nhau thai con đã tách khỏi niêm mạc tử cung Sừng tử cung bên có thai thì nhau thai con còn dính chặt với niêm mạc tử cung mẹ
- Thể sát nhau từng phần: Một phần của màng nhung hay một ít núm nhau con còn dính với niêm mạc tử cung, còn đa phần màng thai đã tách khỏi niêm mạc tử cung
Triệu chứng của bệnh: tùy vào mức độ của bệnh mà toàn bộ nhau thai còn nằm trong tử cung hoặc một phần màng thai, núm nhau con đã tách khỏi núm nhau mẹ và được đẩy ra treo lòng thòng ở mép âm môn, có khi một phần của màng ối đã rời hẳn ra ngoài Con vật xuất hiện trạng thái đau đớn, bồn chồn, khó chịu trong trạng thái bị kích thích và cong lưng, cong đuôi rặn Sau khi sổ thai 2 -
3 ngày mà nhau thai không được đẩy ra ngoài thì các loại vi khuẩn phát triển mạnh trong tử cung làm cho nhau thai bị thối rữa gây viêm tử cung và từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch bao gồm dịch thai, máu, mủ, niêm dịch, mảnh vụn tổ chức, tế bào bị phân giải có mùi hôi thối, khó chịu Càng về sau mức độ biến đổi của nhau thai càng nặng hơn và càng hôi thối hơn Lúc này con
mẹ xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ:
Thân nhiệt cao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm Nếu thời gian càng lâu mà không được can thiệp khi tình trạng con vật trở nên trầm trọng hơn: bỏ ăn, ngừng nhai lại, chướng bụng đầy hơi, ngừng tiết sữa, nhiễm trùng huyết hoặc huyết nhiễm mủ và con vật có thể bị tử vong
Trang 32
H
Hình 2.4 Bò sữa bị sát nhau + Hiện tượng đẻ khó
Trong quá trình sinh đẻ của gia súc, thời gian sổ thai bị kéo dài, những bào thai không được đẩy ra khỏi cơ thể mẹ gọi là hiện tượng đẻ khó Hiện tượng đẻ khó do rất nhiều nguyên nhân dẫn tới và được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, có 02 nguyên nhân gây đẻ khó:
- Đẻ khó do cơ thể mẹ: do tử cung co bóp và sức rặn của con mẹ quá yếu Các phần mềm của đường sinh dục như cổ tử cung, âm đạo, âm môn dãn nở không bình thường Hệ thống khung xoang chậu hẹp hay biến dạng, khớp bán động háng phát triển không bình thường hay bị cốt hóa.Tử cung bị xoắn, vặn ở thời gian có chửa kỳ cuối
- Đẻ khó do bào thai: thai quá to không phù hợp với xoang chậu và đường sinh dục, do chiều, hướng, tư thế của bào thai không bình thường.Thai dị hình hay quái thai
Hiện tượng đẻ khó do bào thai gây lên thường chiếm 3/4 các trường hợp đẻ khó ở gia súc lớn nói chung và bò sữa nói riêng Các ca đẻ khó có thể xảy ra một cách đơn độc và cũng có thể kết hợp lại với nhau Ví như trường hợp những thai
đã quá to mà đầu, cổ thai lại quay sang một bên hay úp xuống ngực hoặc trường hợp đầu thai quay sang một bên đồng thời hai chân trước một chân thẳng, một chân bị gấp khúc Trong quá trình tiến hành thủ thuật đỡ đẻ, do không nắm vững các thao tác kỹ thuật nên làm xây sát niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập từ
Trang 33ngoài vào gây viêm Chính vì vậy có thể nói đẻ khó là một trong những nguyên nhân chính gây viêm tử cung ở gia súc sinh sản nói chung và bò sữa nói riêng
Hình 2.5 Đẻ khó do kích thước của bào thai không bình thường
(thai quá to)
Hình 2.6 Đẻ khó do tư thế thai không bình thường
Trang 34+ Viêm âm môn, tiền đình và âm đạo
Trong quá trình gia súc sinh đẻ, khi can thiệp những trường hợp đẻ khó, khi đỡ đẻ bình thường hoặc khi phối giống không đúng kỹ thuật thường làm cho niêm mạc âm môn, tiền đình, âm đạo bị sây sát, bị tổn thương và nhiễm khuẩn Mặt khác, có thể do hậu quả khi sử dụng mỏ vịt để kiểm tra âm đạo làm cho niêm mạc âm đạo và tiền đình bị kích thích quá mạnh hoặc niêm mạc
âm đạo và tiền đình đã bị sây sát, bị tổn thương vi khuẩn từ bên ngoài xâm nhập làm xuất hiện quá trình viêm.Trường hợp bệnh mới phát sinh thì niêm mạc hơi sung huyết, trong âm đạo có dịch thẩm xuất Khi kiểm tra âm đạo, con vật không có phản xạ đau và hầu như không có triệu chứng lâm sàng toàn thân Nếu viêm âm đạo, tiền đình thể mãn tính thì niêm mạc âm đạo trở nên khô cứng, màu sắc nhợt nhạt, trên mặt niêm mạc có những đám màu trắng màu đỏ không đều Dịch thẩm xuất lẫn với niêm dịch có màu trắng đục.Trường hợp viêm âm đạo, tiền đình có mủ thì khi con vật đại tiểu tiện có nhiều mủ lẫn niêm dịch chảy ra Kiểm tra niêm mạc âm đạo, con vật có phản ứng đau rõ Niêm mạc sưng, sung huyết và có những vết loét Có trường hợp niêm mạc âm đạo do tổ chức liên kết tăng sinh mạnh nên làm cho lòng âm đạo
bị hẹp Lúc này con vật xuất hiện một số triệu chứng toàn thân như sốt, ủ rũ, mệt nhọc, ăn uống kém, lượng sữa giảm Trường hợp âm đạo và tiền đình viêm hóa mủ, tế bào tổ chức niêm mạc bị tổn thương nặng, kế phát đến quá trình bệnh lý ở tử cung làm gia súc giảm hay mất khả năng sinh sản
2.6 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH VIÊM TỬ CUNG BÒ TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM