Kết quả nghiên cứu bệnh tích vi thể của lợn mắc dịch tiêu chảy cấp PED trên đàn lợn thuộc tỉnh Thái Nguyên ..... Kết quả nghiên cứu bệnh tích vi thể ở ruột của lợn mắc tiêu chảy do viru
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
BÙI THANH PHONG
ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ CỦA DỊCH TIÊU CHẢY CẤP
Ở LỢN (PORCINE EPIDEMIC DIARHEA – PED) TRÊN ĐÀN LỢN THUỘC TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Ngọc Thạch
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Bùi Thanh Phong
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc PGS.TS Phạm Ngọc Thạch đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Nội chẩn – Dược – Độc chất, Khoa Thú y - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Bùi Thanh Phong
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract .x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 3
2.1.1 Tình hình nghiên cứu về PED trên thế giới 3
2.1.2 Tình hình nghiên cứu về PED tại Việt Nam 4
2.2 Dịch tiêu chảy cấp ở lợn ( ped) 5
2.2.1 Phân loại 5
2.2.2 Hình thái, cấu trúc virus 6
2.2.3 Đặc tính sinh học PEDV 7
2.2.4 Tính chất nuôi cấy 8
2.2.5 Dịch tễ học 8
2.2.6 Cơ chế sinh bệnh 9
2.2.7 Phương thức truyền lây của virus PED 9
2.2.8 Triệu chứng lâm sàng 10
2.2.9 Bệnh tích 11
2.2.10 Chẩn đoán 11
2.2.11 Phòng và điều trị 12
2.3 Máu – thành phần, chức năng 15
2.3.1 Khái niệm 15
Trang 52.3.2 Chức năng sinh lý của máu 16
2.3.3 Thành phần của máu 16
Phần 3 Đối tượng, nội dung nguyên liệu, phương pháp nghiên cứu 20
3.1 Đối tượng và nội dung nghiên cứu 20
3.2 Nội dung nghiên cứu 20
3.2.1 Theo dõi tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) trên đàn lợn ở tỉnh Thái Nguyên 20
3.2.2 Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) trên đàn lợn ở tỉnh Thái Nguyên 20
3.2.3 Nghiên cứu tổn thương bệnh lý đường ruột của lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) trên đàn lợn ở tỉnh Thái Nguyên 20
3.2.4 Xây dựng phác đồ điều trị thử nghiệm 20
3.3 Địa điểm nghiên cứu 20
3.4 Nguyên liệu nghiên cứu 20
3.5 Phương pháp nghiên cứu 20
3.5.1 Lấy mẫu bệnh phẩm 20
3.5.2 Xác định lợn bệnh 21
3.5.3 Phương pháp nghiên cứu 21
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 24
Phần 4 Kết quả và thảo luận 25
4.1 Kết quả theo dõi tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp ( ped) trên đàn lợn thuộc tỉnh thái nguyên 25
4.2 Đặc điểm bệnh lý 28
4.2.1 Những biểu hiện lâm sàng ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) trên đàn lợn thuộc tỉnh Thái Nguyên 28
4.2.2 Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) trên đàn lợn thuộc tỉnh Thái Nguyên 32
4.3 Tổn thương bệnh lý đại thể và vi thể ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (ped) trên đàn lợn thuộc tỉnh thái nguyên 53
4.3.1 Kết quả nghiên cứu bệnh tích đại thể của lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) 53
4.3.2 Kết quả nghiên cứu bệnh tích vi thể của lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) trên đàn lợn thuộc tỉnh Thái Nguyên 55
Trang 64.4 Kết quả điều trị thực nghiệm lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) trên đàn
lợn thuộc tỉnh Thái Nguyên 63 4.4.1 Kết quả kiểm tra khả năng mẫn cảm của E.coli phân lập từ lợn mắc dịch tiêu
chảy cấp (PED) với một số loại kháng sinh 63 4.4.2 Kết quả điều trị thử nghiệm ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) trên đàn
lợn thuộc tỉnh Thái Nguyên 64 Phần 5 Kết luận và kiến nghị 67 Tài liệu tham khảo 69
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
RT-PCR Reverse Transcription Polymerase chain reaction
TGEV Transmissible Gastroenteritis Enteritis Virus
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết theo lứa tuổi ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp
(PED) trên đàn lợn thuộc tỉnh Thái Nguyên 26 Bảng 4.2 Triệu chứng lâm sàng ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) trên đàn
lợn thuộc tỉnh Thái Nguyên 28 Bảng 4.3 Số lượng hồng cầu, tỷ khối hồng cầu, thể tích bình quân của hồng cầu
ở lợn khoẻ và lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) trên đàn lợn thuộc tỉnh Thái Nguyên 34 Bảng 4.4 Hàm lượng huyết sắc tố, nồng độ huyết sắc tố trung bình, lượng huyết
sắc tố trung bình của hồng cầu ở lợn khoẻ và lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) trên đàn lợn thuộc tỉnh Thái Nguyên 37 Bảng 4.5 Kết quả kiểm tra tỷ trọng máu của lợn khỏe và lợn mắc dịch tiêu chảy
cấp (PED) trên đàn lợn thuộc tỉnh Thái Nguyên) 39 Bảng 4.6 Tốc độ huyết trầm, sức kháng hồng cầu ở lợn khoẻ và lợn mắc dịch
tiêu chảy cấp (PED) trên đàn lợn thuộc tỉnh Thái Nguyên 40 Bảng 4.7 Số lượng bạch cầu, công thức bạch cầu ở lợn khoẻ và lợn mắc dịch
tiêu chảy cấp (PED) trên đàn lợn thuộc tỉnh Thái Nguyên 43 Bảng 4.9 Thăm dò chức năng trao đổi Protit của gan - phản ứng Gross, hàm
lượng đường huyết ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) trên đàn lợn thuộc tỉnh Thái Nguyên 49 Bảng 4.10 Độ dự trữ kiềm trong máu và hàm lượng Natri, Kali trong huyết thanh
lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) trên đàn lợn thuộc tỉnh Thái Nguyên 52 Bảng 4.11 Bệnh tích đại thể của lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) Một số hình
ảnh bệnh tích đại thể 54 Bảng 4.12 Kết quả nghiên cứu bệnh tích vi thể ở ruột của lợn mắc tiêu chảy do
virus (PED) trên đàn lợn thuộc tỉnh Thái Nguyên 56 Bảng 4.13 Bệnh tích vi thể ở một số cơ quan của lợn con mắc dịch tiêu chảy cấp
(PED) trên đàn lợn thuộc tỉnh Thái Nguyên 59 Bảng 4.14 Kết quả kiểm tra khả năng mẫn cảm của E.coli phân lập được ở lợn
mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) với một số loại kháng sinh 64 Bảng 4.15 Kết quả điều trị thử nghiệm ở lợn mắc PED trên đàn lợn thuộc tỉnh
Thái Nguyên 66
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Lợn sút cân gầy còm 41
Hình 4.2 Lợn con nằm dồn đống 31
Hình 4.3 Lợn con nằm trên bụng mẹ 31
Hình 4.4 Lợn con nôn mửa 31
Hình 4.5 Phân lỏng màu vàng 31
Hình 4.6 Phân màu xi măng 31
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Bùi Thanh Phong
Tên Luận văn: Đặc điểm bệnh lý của dịch tiêu chảy cấp ở lợn (Porcine Epidemic Diarrhea - PED) trên đàn lợn thuộc tỉnh Thái Nguyên và biện pháp điều trị
- Xác định được cụ thể các biểu hiện lâm sàng ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED)
- Xác định được các biến đổi về các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED)
- Xác định được các biến đổi bệnh lý đường ruột (đại thể và vi thể ) ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED)
- Xác định được hiệu quả điều trị bệnh ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) Phương pháp nghiên cứu
Theo dõi tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết; lấy mẫu máu cho nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh
lý, sinh hóa máu đồng thời thu thập mẫu bệnh phẩm nghiên cứu một số tổn thương bệnh lý đại thể và vi thể của lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) bằng các phương pháp
và vật liệu nghiên cứu thường quy
Kết quả chính và kết luận
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy sự thay đổi về một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) cũng như các biến đổi bệnh tích đại thể và vi thể ở lợn bệnh giúp cho quá trình chẩn đoán, hỗ trợ điều trị lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED)
Trang 11THESIS ABSTRACT
Master candidate: Bui Thanh Phong
Thesis title: Study the pathological characteristics of pigs with Porcine Epidemic Diarrhea (PED) in Thai Nguyen province and solution of treatment
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research Objectives
- To study the pathological characteristics of porcine epidemic diarrhea (PED), to understand the disease-causing mechanism in helping of disease diagnosis and treatment
- Identification of clinical signs of PED
- Identification of changes in physiological and biochemical characteristics of PED
- Identification of intestinal and metastatic pathological changes of PED
- Determine the treatment effect of PED
Materials and Methods
Incidence, mortality; blood sampling for some physiological and biochemical parameters studying and specimens sampling for some pathology lesions studying of PED by routine methods and materials
Main findings and conclusions
Our results show that changes in some physiological and biochemical parameters
of blood as well as microscopic lesions in pigs with PED have contributed to the diagnosis and treatment of PED.
Trang 12PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Dịch tiêu chảy ở lợn (Porcine epidemic diarrhea – PED) do một loại virus thuộc nhóm 1, giống Coronavirus gây ra Đặc trưng của bệnh là gây tiêu chảy nhiều nước ở lợn, tỷ lệ ốm và tỷ lệ chết có thể lên đến 100%, đặc biệt là lợn con PEDV được xếp vào nhóm 1, giống coronavirus, họ coronavirus (Coronaviridae), cùng với TGEV, coronavirus gây bệnh cho mèo (feline coronavirus), coronavirus gây bệnh cho chó (canine coronavirus), và coronavirus gây bệnh cho người chủng 229E (human coronavirus) Dựa vào kết quả giải trình tự gen cho thấy PEDV có quan hệ gần gũi nhất với coronavirus gây bệnh cho người chủng 229E và TGEV
Từ năm 1982 đến 1990, kháng thể kháng virus gây dịch tiêu chảy ở lợn (Porcine epidemic diarrhea virus – PEDV) đã được phát hiện ở nhiều đàn lợn ở Bỉ, Anh, Đức, Pháp, Hà Lan, Thụy Sĩ, Tây Ban Nha, Bulgaria, Hungaria, Đài Loan Ngoài ra, một số nước như Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan,… cũng ghi nhận đã phân lập được virus Hiện nay, các ổ dịch tiêu chảy cấp ở lợn ít được ghi nhận ở châu Âu và ngày càng có ít nghiên cứu về bệnh Tuy nhiên, các nước châu Á lại có nguy cơ cao xảy ra dịch
Việt Nam là nước nông nghiệp, chăn nuôi lợn là một ngành chăn nuôi có truyền thống từ lâu ở nước ta Lợi nhuận từ chăn nuôi lợn mang lại khá cao nên trong những năm gần đây số lượng, quy mô chăn nuôi càng ngày càng tăng Phương thức chăn nuôi những năm gần đây cũng chuyển dẫn từ chăn nuôi nông hộ thành hình thức trang trại Tuy nhiên, các dịch bệnh xảy ra ở lợn vẫn không ngừng phát triển và biến đổi
Thực trạng chăn nuôi lợn ở nước ta hiện nay đã tạo môi trường hết sức thuận lợi cho việc thường xuyên tồn tại nhiều mầm bệnh trong đàn Đối với ngành công nghiệp chăn nuôi lợn, bệnh do PEDV gây thiệt hại lớn về kinh tế, đặc biệt là chăn nuôi theo quy mô công nghiệp với mật độ chăn nuôi dày, môi trường không được kiểm soát tốt cũng như là biện pháp quản lý phòng bệnh chưa hợp lý Đặc biệt là trong những năm gần đây, dịch tiêu chảy cấp ở lợn xảy ra rất mạnh gây thiệt hại rất lớn về kinh tế cho người chăn nuôi lợn
Do vậy, để hiểu rõ hơn về tình hình dịch tiêu chảy cấp ở lợn nhằm nâng cao hiệu quả phòng trị bệnh, chúng tôi đã tiến hành đề tài:
Trang 13“Đặc điểm bệnh lý của dịch tiêu chảy cấp ở lợn (Porcine Epidemic Diarrhea - PED) trên đàn lợn thuộc tỉnh Thái Nguyên và biện pháp điều trị”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu các đặc điểm bệnh lý của lợn mắc bệnh tiêu chảy thành dịch (PED), hiểu rõ cơ chế gây bệnh phục vụ tốt cho công tác chẩn đoán và điều trị bệnh
- Xác định được cụ thể các biểu hiện lâm sàng ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED)
- Xác định được các biến đổi về các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED)
- Xác định được các biến đổi bệnh lý đường ruột (đại thể và vi thể ) ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED)
- Xác định được hiệu quả điều trị bệnh ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED)
Trang 14PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.1.1 Tình hình nghiên cứu về PED trên thế giới
Dịch tiêu chảy cấp ở lợn đã và đang gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng đối với ngành chăn nuôi lợn ở nhiều quốc gia trên thế giới Dịch tiêu chảy cấp ở lợn lần đầu tiên được phát hiện ở Anh vào năm 1971, sau đó các ổ dịch liên tục được phát hiện
và xảy ra phổ biến ở các quốc gia châu Âu khác như Bỉ, Đức, Pháp, Hà Lan, Thụy
Sỹ và ở châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan (J F Chen et al., 2008; J Chen et al., 2013; Puranaveja et al., 2009; D Song and Park, 2012) Bệnh xảy ra trên lợn tăng trưởng và vỗ béo với các biểu hiện lâm sàng ở lợn ốm giống hệt như bị nhiễm virus gây viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGEV), chỉ khác một đặc điểm quan trọng đó là lợn con đang bú mẹ không mắc bệnh TGEV và các tác nhân gây bệnh đường tiêu hóa khác đã được xác định không phải là nguyên nhân ra bệnh trên Sau đó căn bệnh này đã lây lan sang các nước châu Âu và được gọi là bệnh
“tiêu chảy thành dịch do virus” (Epidemic viral diarrhea – EVD)
Năm 1976 căn bệnh tiêu chảy giống TGE lại xuất hiện nhưng xảy ra trên tất
cả lợn ở mọi lứa tuổi, gồm cả lợn con đang trong giai đoạn bú sữa mẹ (Wood, 1977), khả năng nguyên nhân gây bệnh là TGEV và các tác nhân gây bệnh đường tiêu hóa khác cũng đã được loại trừ Khi đó, tên EVD loại 2 được đưa ra để phân biệt với EDV loại 1 là bệnh bùng phát năm 1971 với sự khác nhau đó là lợn con đang bú mẹ chỉ mắc EDV loại 2 mà không mắc EDV loại 1
Năm 1978, Coronavirus đã được chứng minh là nguyên nhân gây ra các đợt bùng phát EVD loại 2 (Chasey and Cartwright, 1978) Kết quả gây bệnh nghiệm thực cho lợn bằng một chủng virus phân lập được (CV777) cho thấy bệnh tích đường tiêu hoá biểu hiện điển hình trên cả lợn con và lợn vỗ béo Rõ ràng là Coronavirus này liên quan tới sự bùng phát EVD loại 1 và loại 2, từ đó tên bệnh
đã được đổi thành “tiêu chảy thành dịch trên lợn” viết tắt theo tên tiếng anh là PED (Porcine Epidemic Diarrhea) (Debouck and Pensaert, 1980)
Trong một thời gian dài, PED bùng phát ở thể cấp tính trở nên hiếm gặp ở những nơi nó xuất hiện Từ đầu những năm 2000 trở lại đây, ở châu Âu, PED chủ yếu xảy ra trên lợn choai, lợn thịt, lợn hậu bị trong khi lợn con đang trong giai đoạn
bú mẹ rất hiếm gặp Tuy nhiên, ở châu Á, dịch lại xảy ra nghiêm trọng với tỷ lệ tử
Trang 15vong cao trên lợn ở tất cả các lứa tuổi, và không thể phân biệt chúng về mặt lâm sàng với bệnh TGE thể cấp tính
Trong khoảng thời gian từ năm 1980 tới 1990, các ổ dịch liên tục được phát hiện và xảy ra phổ biến ở các Quốc gia châu Âu, như Bỉ, Anh, Đức, Pháp, Hà Lan, Thụy Sỹ Hiện nay, PED ngày càng xuất hiện phổ biến ở các Quốc gia châu
Á, đặc biệt PED ngày càng trở nên cấp tính và nghiêm trọng hơn (D Song & Park, 2012) Ở Trung Quốc, trường hợp nhiễm PEDV đầu tiên được phát hiện năm 1973, sau hơn hai thập kỷ sử dụng vaccine vô hoạt nhũ dầu, sự xuất hiện trở lại của PEDV tương đối ít Tuy nhiên đến năm 2010, bệnh đã xuất hiện trở lại và bùng phát ngày càng trầm trọng ở các Tỉnh có sự phát triển ngành chăn nuôi lợn
Từ tháng 2 năm 2010 đến tháng 11 năm 2011, tỷ lệ lợn chết từ 90 tới 100% (tương ứng 50.000 con), chủ yếu là lợn dưới 7 ngày tuổi (X Chen et al., 2012)
Ở Nhật, dịch tiêu chảy cấp ở lợn xuất hiện lần đầu tiên năm 1993, gây chết 14.000 lợn, tỉ lệ chết từ 30 tới 100% lợn con, dịch tiêu chảy cấp ở lợn năm 1996 gây chết 39.509 lợn Ở Hàn Quốc, dịch tiêu chảy cấp ở lợn xuất hiện đầu tiên năm 1992, sau đó đến năm 2007-2008, dịch liên tiếp xuất hiện ở các Quốc gia Ðông Nam Á, như Thái Lan, Philippines và Việt Nam
2.1.2 Tình hình nghiên cứu về PED tại Việt Nam
Ở Việt Nam, dịch tiêu chảy cấp ở lợn lần đầu tiên được phát hiện vào năm
2008 và từ đó đến nay dịch bệnh thường xuyên xảy ra và gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi lợn cả nước
Tại Việt Nam, hiện tại có rất ít nghiên cứu tiến hành về dịch tiêu chảy cấp ở lợn Dịch được phát hiện từ năm 2008 (Đỗ Tiến Duy, 2011) Sau đó, PED ngày càng lan rộng và bùng phát ở nhiều khu vực Nó gây thiệt hại nặng nề cho các trang trại bởi tỉ lệ mắc toàn đàn rất cao (gần 100%), các triệu chứng lâm sàng chủ yếu gồm: chán ăn, nôn, tiêu chảy, tỷ lệ chết cao ở lợn con theo mẹ Theo thống kê không chính thức của phòng xét nghiệm nhanh công ty C.P Việt Nam trong năm tháng đầu năm 2010 cả nước có 31 trại bị nhiễm PED Các trại bị nhiễm bệnh này chủ yếu tập trung ở các tỉnh nam bộ như Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu
Theo Đỗ Tiến Duy và Nguyễn Tất Toàn (2011), ở Bà Rịa Vũng Tàu có 10/16 mẫu dương tính, Đồng Nai có 21/73 mẫu, thành phố Hồ Chí Minh là 48/54 mẫu và Bình Dương là 21/29 mẫu dương tính với PED ( Đỗ Tiến Duy, 2011)
Trang 16148 mẫu bệnh phẩm là các mẫu phân và ruột của lợn nghi mắc PED thu thập được từ 3 tỉnh là Quảng Trị, Thái Nguyên và Thái Bình từ năm 2013 - 2014 đã được chẩn đoán bằng phương pháp RT-PCR Kết quả chẩn đoán cho thấy 57/148 (38,51%) mẫu bệnh phẩm dương tính với virus PED (Nguyễn Trung Tiến, 2013) Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và bệnh lý của bệnh tiêu chảy thành dịch trên heo ở một số tỉnh phía Bắc (Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Giang, Bắc Ninh và
Hà Nội) khảo sát ở 31 trại lợn có biểu hiện tiêu chảy ở mọi lứa tuổi, điều trị bằng kháng sinh không hiệu quả, tỷ lệ chết tập trung ở lợn con theo mẹ (N T L Nguyễn Văn Điệp, Nguyễn Thị Hoa, Yamaguchi, 2014) Đồng thời đã nghiên cứu ứng dụng
kỹ thuật RT-PCR chẩn đoán bệnh tiêu chảy do PEDV gây ra cho lợn con theo mẹ tại huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên Nghiên cứu này đã được tiến hành trên đàn lợn con theo mẹ dưới 10 ngày tuổi Những lợn con bị mắc PED thường có biểu hiện chán ăn, bỏ ăn, tiêu chảy, phân nhiều nước màu vàng, có sữa không tiêu, ruột non căng phồng, thành ruột bị bào mỏng, chứa dịch màu vàng, hạch màng treo ruột sưng
to Kết quả xét nghiệm bằng RT-PCR cho thấy tất cả lợn có biểu hiện triệu chứng lâm sàng, bệnh tích trên đều dương tính với PEDV
Dịch tiêu chảy do virus PED gây ra có tính lây lan nhanh tuy nhiên chưa có loại vacxin nào phòng bệnh thì nguy cơ tái phát, nguy cơ biến chủng của virus cũng
là vấn đề rất đáng lo ngại Trước tình hình đó, việc hiểu biết về đặc điểm căn bệnh
và chẩn đoán nhanh là hết sức cấp thiết trong phòng chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe vật nuôi và kinh tế cho người chăn nuôi
2.2 DỊCH TIÊU CHẢY CẤP Ở LỢN ( PED)
2.2.1 Phân loại
Dịch tiêu chảy cấp tính trên lợn (Porcine Epidemic Diarrhea- PED) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm do một loại virus thuộc họ Coronaviridae gây ra Virus PED là virus thuộc nhóm 1, chi Alphacoronavirus, họ Coronaviridae Các chủng virus PED (PEDV) phân lập được từ Việt Nam được cho là có mối quan
hệ gần gũi với các chủng PEDV phân lập từ Thái Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc và Philippines (Vui và cs., 2014)
Dịch tiêu chảy cấp ở lợn lần đầu tiên được phát hiện ở Anh vào năm 1971 do PEDV gây ra Ban đầu PEDV được gọi là EVD (Epidemic viral diarrhea) gây bệnh trên lợn con, đặc biệt là lợn mới sinh, có tỉ lệ gây chết lên tới 100% Đến năm 1976, một phân type mới của virus EVD được phát hiện trên lợn ở mọi lứa tuổi, được gọi
Trang 17là virus EVD type 2 để phân biệt với virus EVD type 1 ban đầu (Wood, 1977) Năm
1978, Debouck và Pensaert đã phát hiện virus EVD type 2 là một dạng giống với coronavirus (Debouck and Pensaert, 1980), cũng từ thời gian này, dịch EVD được chuyển tên thành dịch tiêu chảy cấp ở lợn
2.2.2 Hình thái, cấu trúc virus
Hệ gene virus là RNA sợi đơn dương với kích thước khoảng 28kb, bao gồm đầu 5’ (Vũ Triệu An), đuôi 3’ poly A và có ít nhất 7 khung đọc mở (ORFs) mã hoá cho 4 protetin cấu trúc là Spike (S), envelope (E), membrane (M), nucleoprotein (N) và 3 protein không cấu trúc (replicase 1a, 1b và ORF3) được sắp xếp theo tứ tự 5’-Rep-S-ORF3E-M-N-3’ (Duarte and Laude, 1994) Protein S của virus PED là glycoprotein type I có kích thước 1.383 amino acids, bao gồm một đoạn peptide tín hiệu (signal peptide: 1-18 aa), các vùng chứa nhóm quyết định kháng nguyên sinh kháng thể trung hoà (neutralizing epitopes: 499-638, 748-
755, 764-711 và 13681374 aa), một vùng xuyên màng (transmembrane domain: 1334-1356 aa) và một vùng ngắn phía trong màng (cytoplasmic) (Duarte et al., 1994; D Song and Park, 2012)
Cấu trúc virus PED (Brandao, Lovato and Slhessarenko, 2012)
Tương tự như protein S của các coronavirus khác, protein S của virus PED là kháng nguyên bề mặt virus, đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh sự tương
Trang 18tác với thụ thể glycoprotein của tế bào chủ khi xâm nhiễm, cũng như chứa các vùng quyết định kháng nguyên kích thích tạo kháng thể trung hoà của vật chủ trong tự nhiên Do vậy, protein S có thể được lựa chọn để phát triển các loại vaccine chống lại virus PED (Park, Song and Park, 2013) Gene S mã hóa cho protein S là gene được sử dụng phổ biến để đánh giá mối quan hệ di truyền cũng như sự tiến hóa của các chủng virus PED đang lưu hành
Để xác định mối quan hệ giữa các chủng PEDV, các phân tích về cây phả hệ (phylogenetic tree) và đặc điểm di truyền được tiến hành dựa trên các trình tự gen
S, M, và ORF3 (D Song and Park, 2012) đôi khi cả gen E (Parkand et al., 2013) Nghiên cứu trên một phần của gen S và toàn bộ gen M đã gợi ý chia PEDV thành 3 nhóm (G1, G2, và G3), mỗi nhóm cũng được chia thành các nhóm nhỏ hơn (G1-1, G1-2, và G1-3) (Parkand et al., 2013) Phân tích cây phả hệ dựa trên trình tự gen S
và M đều chỉ ra rằng các chủng PEDV phân lập được ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan và Việt Nam có độ tương đồng cao và khác biệt với các chủng PEDV phân lập được từ các Quốc gia Châu Âu (Puranavejaand et al., 2009; Đỗ Tiến Duy, 2011; Parkand et al., 2013; Kim et al., 2015) ORF3 là gen mã hoá cho protein không cấu trúc và là protein phụ trợ, không cần thiết cho quá trình nhân lên của PEDV Tuy nhiên các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra chức năng quan trọng của protein này trong việc quyết định độc tính của PEDV Sự biến đổi của gen ORF3 trong quá trình cấy chuyển nhiều lần trên tế bào có thể làm giảm độc tính của chủng thực địa Sự khác biệt của gen ORF3 cũng được thể hiện rõ rệt giữa các chủng thực địa và các chủng nuôi cấy trong phòng thí nghiệm
2.2.3 Đặc tính sinh học PEDV
Virus ổn định trong nhiệt đọ thấp song rất dễ bị phá hủy ở điều kiện nhiệt đọ phòng Ở nhiệt độ âm sâu sau 1 năm hiệu giá virus giảm không đáng kể, ở 370C sau
4 ngày virus mất hoàn toàn khả năng gây nhiễm
Virus mẫn cảm với ether, chloroform và desoxycholat Trong 0.5% phenol, 0.05% formandehyt virus chết trong 30 phút
Virus kháng với trypsin, ổn định trong mật lợn và PH, do đặc tính đó lên virus sống được trong dạ dày và ruột non PEDV bền ở khoảng pH 5,0 – 9,0 ở 4˚C và pH
từ 6,5 – 7,5 ở 37˚C (Debouck and Pensaert, 1980) PEDV đã thích ứng với môi trường nuôi cấy bị mất khả năng lấy nhiễm khi đun chúng tới 60˚C trong 30 phút, nhưng chúng khá bền ở 50˚C
Trang 19PEDV có 1 serotype duy nhất Có 2 chủng PEDV, PED 1 gây bệnh cho lợn trên 5 tuần tuổi, PED 2 gây bệnh mọi lứa tuổi, khó phân biệt với TGE
2.2.4 Tính chất nuôi cấy
PEDV có thể nhân lên khi gây bệnh thực nghiệm bằng cách cho lợn con uống virus PEDV có khả năng thích ứng kém trong điều kiện nuôi cấy phòng thí nghiệm Người ta đã thử nghiệm nuôi cấy trên nhiều loại tế bào nhưng ít thành công Đến nay tế bào Vero có thể cấy chuyển được PEDV, gây bệnh tích tế bào: tuy nhiên sự phá triển của virus phụ thuộc vào sự có mặt của trypsin trong môi trường nuôi cấy
Hiệu giá virus đạt tối đa sau khi nuôi cấy 15h, ngoài ra một số loại tế bào có thể nuôi cấy virus như tế bào túi mật lợn và tế bào thận lợn
2.2.5 Dịch tễ học
Dịch tiêu chảy cấp ở lợn xảy ra quanh năm nhưng thường phổ biến hơn vào mùa đông và ở mọi lứa tuổi đặc biệt là lợn dưới 5 ngày tuổi Trong ổ dịch tỷ lệ nhiễm bệnh có thể tới 100%, tỷ lệ chết 50 – 100%
- Dịch xảy ra quanh năm nhưng chủ yếu vào mùa đông do nhiệt độ thấp virus tồn tại lâu trong môi trường
- Chất chứa mầm bệnh chủ yếu trong phân thải ra của lợn nhiễm bệnh, phân
có thể chứa virus gây bệnh đến 100 ngày Sữa mẹ cũng có thể nhiễm virus và là nguồn lây nhiễm virus sang lợn con Thức ăn nước uống, dụng cụ chăn nuôi, vận chuyển là vật trung gian truyền bệnh
- Đường tiêu hóa là phương thức chủ yếu để virus truyền sang vật chủ khác hoặc có thể do trực tiếp tiếp súc giữa lợn mang mầm bệnh và lợn khỏe, nhất là ở những lợn đang hồi phục sau 1 – 2 tuần PED thể cấp tính thường xảy ra ở thời điểm 4 – 5 ngày sau khi mua về, virus có thể xâm nhập vào trại thông qua lợn nhiễm virus được chuyển về hoặc các dụng cụ vận chuyển có mang virus
- Khi dịch xảy ra ở trại lợn sinh sản, virus có thể được bài thải từ đàn mắc bệnh hoặc trở thành dịch địa phương Một chu kỳ dịch địa phương có thể được hình thành nếu số lứa lợn được sinh ra và cai sữa trong trại đủ lớn để duy trì sự lưu hành của virus thông qua việc lây nhiễm giữa các lứa kế tiếp nhau khi lợn con mất khả năng miễn dịch lúc cai sữa PEDV có thể gây ra tiêu chảy dai dẳng trên lợn con sau cai sữa ở những trại như vậy (N T L Nguyễn Văn Điệp, 2013)
Trang 202.2.6 Cơ chế sinh bệnh
Cơ chế sinh bệnh của PED được nghiên cứu trên lợn con không được uống sữa đầu Cho lợn con 3 ngày tuổi uống virus PED chủng CV777 (Debouck and Pensaert, 1980) sau khoảng 22 đến 36 giờ lợn bắt đầu nôn và tiêu chảy Vị trí và sự nhân lên của virus được xác định thông qua kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang và kính hiển vi điện tử truyền qua PEDV nhân lên trong bào tương của các tế bào lông nhung, phá huỷ các tế bào biểu mô và làm ngắn lông nhung niêm mạc ruột, tỷ lệ chiều cao giữa lông nhung và tuyến ruột có thể giảm từ 7:1 xuống còn 3:1 Các tế bào biểu mô hấp thu ở lông nhung rất mẫn cảm với PEDV, những tế bào biểu mô nhiễm virus có thể được quan sát sau 12-18 giờ gây nhiễm, rõ nhất sau khoảng 24 đến 36 giờ, tuy nhiên không quan sát thấy có sự phá hủy tế bào biểu mô ở kết tràng Đặc điểm sinh bệnh của PEDV ở ruột non của lợn con rất giống với TGEV So với TGEV, sự nhân lên và lây lan trong ruột non của virus PED diễn ra chậm hơn và thời gian nung bệnh lâu hơn
Cơ chế sinh bệnh của PEDV ở lợn giai đoạn lớn hơn vẫn chưa được nghiên cứu chi tiết, nhưng bằng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang có thể quan sát thấy virus
có mặt trong tế bào biểu mô kết tràng của lợn mắc bệnh tự nhiên hoặc được gây nhiễm Ý nghĩa của việc virus xâm nhiễm ở kết tràng có làm cho bệnh nặng hơn hay không vẫn chưa được rõ Hiện vẫn chưa có cơ chế thích hợp nào được đưa ra để lý giải hiện tượng lợn chết đột ngột kèm theo việc hoại tử cơ lưng cấp tính quan sát thấy ở lợn vỗ béo và lợn trưởng thành (N T L Nguyễn Văn Điệp, 2013)
2.2.7 Phương thức truyền lây của virus PED
Bệnh thường xảy ra vào mùa đông do virus có khả năng chịu với nhiệt độ lạnh, không bền với nhiệt độ và ánh sáng mặt trời
Về phương thức truyền lây, đường tiêu hóa có thể là phương thức chủ yếu để virus truyền sang vật chủ khác PED thể cấp tính thường xảy ra ở thời điểm 4-5 ngày sau khi lợn được bán hoặc mua về Virus có thể xâm nhập vào trại thông qua lợn nhiễm virus được chuyển về hoặc các dụng cụ có mang virus như xe tải, ủng PEDV không khác nhiều với TGEV về đường truyền lây, nhưng virus này có vẻ tồn tại lâu hơn trong các trang trại sau khi dịch tiêu chảy cấp ở lợn cấp tính đã qua đi Khi dịch xảy ra ở trại lợn sinh sản, virus có thể được bài thải từ đàn mắc bệnh hoặc trở thành dịch địa phương Một chu kỳ dịch địa phương có thể được hình thành nếu
số lứa lợn được sinh ra và cai sữa trong trại đủ lớn để duy trì sự lưu hành của virus
Trang 21thông qua việc lây nhiễm giữa các lứa kế tiếp nhau khi lợn con mất khả năng miễn dịch lúc cai sữa
mẹ (do bị lạnh), điều trị bằng kháng sinh đặc trị tiêu chảy không có hiệu quả Tỷ
lệ nhiễm bệnh cao có thể lên tới 100% Tỷ lệ tử vong rất cao lợn dưới 1 tuần tuổi chết sau 2 – 7 ngày, lợn trên 1 tuần tuổi chết sau 3 – 4 ngày do mất nước, lợn trên
3 tuần tuổi tỷ lệ chết thấp sau khi qua khỏi con vật còi cọc, lợn sau cai sữa 2 – 3 tuần bị tiêu chảy và lây lan cho lợn mới nhập đàn Lợn nái triệu chứng không rõ rệt, ủ rũ, sốt, nôn mửa, mất sữa, gầy sút Ở giai đoạn lớn hơn, lợn thường tự hồi phục sau khi quá trình tiêu chảy kéo dài được 1 tuần Khi PED cấp tính ở một trại qua đi, lợn con giai đoạn 2-3 tuần sau cai sữa vẫn có thể có biểu hiện tiêu chảy và lợn mới nhập về thường phát bệnh
Một báo cáo khác cho thấy, tại một trại nuôi lợn thịt mới nhập lợn về từ nhiều nguồn khác nhau hoặc trong giai đoạn nuôi vỗ béo, nếu PED bùng phát ở thể cấp tính, trong vòng một tuần, tất cả lợn sẽ có biểu hiện tiêu chảy Lợn có biểu hiện chán ăn, mệt mỏi, phân rất loãng, chứa nhiều nước Giai đoạn vỗ béo lợn thường có biểu hiện đau vùng bụng nhiều hơn, sau khoảng 7-10 ngày, lợn sẽ hồi phục Tỷ lệ tử vong ở lợn trong giai đoạn vỗ béo thường từ 1-3%, lợn chết nhanh, thường ở giai đoạn mới bắt đầu tiêu chảy hoặc trước khi có biểu hiện tiêu chảy Bệnh tích đại thể thông thường ở những lợn này là hoại tử cấp tính ở cơ lưng Tỷ
lệ chết cao nhất được thấy ở những trại có lợn giống mẫn cảm và chịu nhiều stress (N T L Nguyễn Văn Điệp, 2013)
Thông thường khi xảy ra dịch, PED có triệu chứng giống với viêm dạ dày ruột truyền nhiễm - TGE (Transmissible Gastroenteritis) Thời gian nung bệnh ngắn, dịch xảy ra nhanh, lợn con mắc bệnh còi cọc, nôn mửa nhiều, tiêu chảy phân nhiều nước, phân thường có sữa không tiêu, phân màu vàng, lợn con sụt cân nhanh chóng, mất nước, tiêu chảy phân thường lẫn sữa không tiêu, tỷ lệ ốm và chết cao đặc biệt là lợn dưới 2 tuần tuổi Tuy nhiên tốc độ lây lan của PED thấp hơn TGE, tỷ lệ chết ở lợn sơ sinh của PED thấp hơn TGE
Trang 22Lợn con đang theo mẹ chết do PED, xác gầy, khô do tiêu chảy nặng, phần mông dính nhiều phân vàng Ruột căng phồng, đầy dịch, màu vàng, chứa những cục sữa chưa tiêu Thành ruột mỏng và trong Hạch lâm ba màng treo ruột xuất huyết nhẹ Lát cắt ngang ruột non của lợn bị nhiễm virus PED Lông nhung ruột non của lợn bị ngắn lại
Về mặt vi thể, sự hình thành không bào to, rõ trong bào tương tế bào biểu
mô và sự bong tróc của các tế bào này làm cho lông nhung ngắn và dồn lại, hoà lẫn vào nhau rõ rệt, tuy rằng các biểu hiện này không trầm trọng bằng TGE Ở kết tràng, chưa có bệnh tích vi thể nào được báo cáo Điều thú vị là các nghiên cứu siêu vi thể đã cho thấy có sự hiện diện rõ rệt của các hạt virus bên trong bào tương tế bào và sự thay đổi tế bào ở các tế bào biểu mô ruột non và kết tràng Những sự thay đổi cấu trúc siêu vi thể được khởi đầu đặc trưng bằng sự mất đi của các bào quan, vi nhung, lưới tận và phần nhô ra của bào tương tế bào hấp thu vào trong xoang ruột (Pospischil, Hess, Bachmann, 1981) Sau đó, các tế bào trở nên dẹt hơn, liên kết vòng bịt giữa các tế bào biểu mô mất đi và tế bào được giải phóng vào bên trong lòng ống ruột
Trang 23Ackermann, 1995, 1996) Để khẳng định sự có mặt của PEDV trong mẫu bệnh phẩm, mồi đặc hiệu được thiết kết dựa trên trình tự gen M (Kweon, Lee, Han, Kang, 1997) Trong những năm gần đây, dựa trên kỹ thuật RT-PCR cơ bản, đã có rất nhiều những cải tiến để cho những ứng dụng hiệu quả hơn, như việc sử dụng multiplex-RT-PCR để phát hiện PEDV trong sự có mặt của nhiều virus khác nhau,
là một kỹ thuật thường được sử dụng cho chẩn đoán nhanh, độ nhạy và hiệu quả kinh tế cao trên các đối tượng với các virus gây ra viêm ruột dạ dày cấp tính ở lợn (D S Song et al., 2006) RT loop-mediated isothermal amplification (RT-LAMP) cũng là một kỹ thuật hữu dụng được phát triển dựa trên kỹ thuật RT-PCR cơ bản Trong kỹ thuật này, 4-6 mồi được sử dụng để nhận biết 6-8 vùng DNA đích, điều này tạo ra tính đặc hiệu cao hơn so với kỹ thuật gel-based RT-PCR hay ELISA bởi
vì nó tạo ra số lượng lớn hơn các đoạn DNA (Ren & Li, 2011) Các kit phân tích Immunochromatography cũng được sử dụng phổ biến ở các trại chăn nuôi để phát hiện PEDV trên cơ sở protein S với độ nhạy 92% và độ đặc hiệu 98% Kỹ thuật này
có độ chính xác kém hơn RT-PCR tuy nhiên cho phép chẩn đoán nhanh trong vòng
10 phút (D Song and Park, 2012) Hiện nay ở Việt Nam, Nguyen Dinh Quat et al.,
đã sử dụng phương pháp nested-RT-PCR để phát hiện PEDV (Nguyen Dinh Quat, 2011) và Đỗ Tiến Duy và cs (2011) đã nghiên cứu đặc tính di truyền của PEDV phân lập được từ các Tỉnh Miền Nam Việt Nam (Đỗ Tiến Duy, 2011) Ngoài ra chưa có nghiên cứu nào về mức độ quy mô và chuyên sâu để đánh giá về đăc điểm phân tử, nguồn gốc tiến hóa và sự phân bố dịch tế học của các chủng PEDV đang lưu hành ở Việt Nam hiện nay Do tính phức tạp của các đợt dịch tiêu chảy cấp ở lợn trong thời gian gần đây, việc tạo ra kit chẩn đoán nhanh, chính xác và đặc hiệu các type PEDV đang lưu hành tại Việt Nam và các nghiên cứu về đặc tính di truyền,
sự biến đổi các type, phân type virus PED là công việc hết sức quan trọng
2.2.11 Phòng và điều trị
Dịch bệnh tiêu chảy cấp do PEDV gây ra đã và đang diễn ra hết sức nghiêm trọng và gây thiệt hại kinh tế lớn cho ngành chăn nuôi lợn ở Việt Nam Việc phòng chống bệnh tiêu chảy do PEDV gây ra chủ yếu dựa vào sử dụng vaccine Trong khi các chủng virus thực địa thường xuyên có những biến đổi phức tạp về mặt di truyền, do đó việc nắm bắt và cập nhật được các đặc tính phân tử của các chủng PEDV đóng vai trò quan trọng, giúp cho việc lựa chọn được vaccine thích hợp và hiệu quả phục vụ cho công tác tiêm phòng Trong khi đó, việc đánh giá
Trang 24và phân tích đặc điểm di truyền của các chủng PEDV lưu hành ở Việt Nam còn rất hạn chế, điều này gây khó khăn trong việc định hướng sử dụng vaccine trong công tác phòng chống dịch bệnh
2.2.11.1 Phòng bệnh
* Vệ sinh phòng bệnh
Nuôi dưỡng, chăm sóc tốt, cho ăn no và đầy đủ chất dinh dưỡng Tăng cường kiểm soát người và các phương tiện ra vào trại đặc biệt là các xe và người vào bắt lợn, mua lợn vì đây là nguyên nhân chính làm lây lan dịch bệnh Có hàng rào ngăn cách giữa trong và ngoài trại, xe vào bắt lợn không được vào trong trại mà phải đỗ ở ngoài trại đúng nơi qui định Xe vận chuyển trong trại sau khi vận chuyển lợn phải được rửa, sát trùng, để khô mới được vận chuyển lợn tiếp
Có chuồng bán lợn nằm sát vòng ngoài của trại Cấm đưa lợn từ khu vực bán trở về trại Không cho nước thải của chuồng bán chảy trở về trại Người lao động không nên tiếp xúc với lợn khác ngoài khu vực làm việc của mình Hạn chế khách tham quan nếu không thật sự cần thiết Làm vệ sinh lối đi thường xuyên, có hố sát trùng ở cửa ra vào chuồng
Sử dụng vacxin để phòng bệnh
Tại châu Âu do thiệt hại của PEDV gây ra không quan trọng về mặt kinh tế đủ
để người ta tiến hành sản xuất vacxin Chính vì vậy, thử nghiệm hoàn thiện vacxin chủ yếu được tiến hành ở các nước châu Á, nơi PED bùng phát trầm trọng với tỉ lệ
tử vong gia tăng ở lợn con sơ sinh Hiện nay vacxin phòng dịch tiêu chảy cấp ở lợn
- PED đã được sản xuất từ một số nước như Nhật Bản và Hàn Quốc
Tại Nhật Bản, từ năm 1997 đã có vaccine nhược độc chủng P5V thích ứng trên môi trường tế bào được thương mại hóa giúp phòng bệnh Tuy vaccine được coi là có hiệu quả nhưng không phải tất cả lợn nái sinh sản đều đáp ứng miễn dịch qua sữa
Ở nước ta, hiện tại những thông tin và hiểu biết của người quản lý và người chăn nuôi còn rất hạn chế, hầu như chưa có công bố chính thức nào về tình hình nhiễm PED tại Việt Nam Trong khi dịch bệnh ngày càng lan rộng và phức tạp thì việc tiếp cận và sử dụng vacxin phòng bệnh còn gặp nhiều khó khăn Tính đến giữa năm 2012, hầu như cả nước mới có 1-2 công ty bước đầu nhập khẩu và phân phối vacxin PED (do Hàn Quốc sản xuất) Sự lựa chọn cho loại vacxin để sử dụng chưa
Trang 25nhiều, thông tin về tính tương đồng và khả năng bảo hộ của vacxin với các chủng virus PED ở Việt nam còn chưa được khuyến cáo Hiện nay, một số trại chăn nuôi lợn sử dụng auto vacxin để tạo miễn dịch cho lợn con bằng cách cho lợn mẹ ăn ruột của lợn con mắc bệnh trước khi đẻ
Phương pháp tiến hành: Lấy ruột 2- 3 lợn con có triệu chứng tiêu chảy do PED đang còn sống, có độ tuổi nhỏ hơn 5 ngày tuổi, cho vào máy xay sinh tố, xay nhỏ Trộn hỗn hợp thu được với 1.000ml nước cất, lọc qua vải gạc lấy phần nước trong cho vào 100g Colistin để diệt tạp khuẩn Đem dung dịch trên trộn với thức ăn trong toàn trại cho lợn nái, lợn hậu bị ăn (mỗi con 10ml) Sau khi ăn nếu lợn xuất hiện triệu chứng tiêu chảy hoặc ủ rủ, bỏ ăn là đạt yêu cầu; nếu không phải làm lại Sau 2 tuần kháng thể mới xuất hiện, vì vậy đối với nái mang thai tuần 15 – 16, lợn con sinh ra vẫn chết vì PED Nếu phát hiện, xử lý nhanh có thể sau 3 tuần dập tắt được dịch bệnh trong toàn trại (theo Butaphan Thái Lan)
Do nguyên nhân gây bệnh là một loại virus nên hiện tại chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu nào cho PED, do đó sử dụng vacxin hợp lý và vệ sinh phòng bệnh vẫn là những giải pháp tối ưu nhất, đặc biệt là ở những quốc gia tồn tại các trại chăn nuôi nhỏ lẻ như nước ta
2.2.11.2 Phương pháp xử lý PED khi dịch bệnh xảy ra
* Nái mang thai
Tạo miễn dịch tự nhiên bằng Auto Vacxin cho đàn nái, từ bộ ruột heo con bị nhiễm PED của trại
Dùng kháng sinh Dynamutilin 20% hoặc Ampisur.… điều trị các vi khuẩn (Clostridium, E.coli, Salmonella…) có thể kế phát
* Lợn con
Dùng kháng sinh điều trị các vi khuẩn có thể kế phát (Clostridium, E.coli, Salmonella…)
Lợn con dưới 7 ngày tuổi:
Truyền (Glucose 5% + B.coplex + Atropin) vào xoang bụng lợn con tiêu chảy nặng tránh mất nước
Cho uống (nhỏ trực tiếp vào miệng) Amox-Colistin 25mg/kg Cho uống thêm Oresol hoặc Electrolyte trong máng uống lợn con
Trang 26Lợn con trên 7 ngày tuổi:
Truyền (Glucose 5% + B.coplex + Atropin) vào xoang bụng lợn con tiêu chảy nặng tránh mất nước
Cho uống (nhỏ trực tiếp vào miệng) Amox-Colistin 25mg/kg kết hợp tiêm Ampisur Cho uống thêm Oresol hoặc Electrolyte trong máng uống lợn con Giải pháp bổ sung dung dịch nước muối sinh lý hoặc Ringer lactac theo đường phúc mạc cho lợn con theo mẹ có thể làm giảm tỷ lệ chết giảm xuống thấp, chỉ còn 10-20%
2.3 MÁU – THÀNH PHẦN, CHỨC NĂNG
2.3.1 Khái niệm
Máu là một chất dịch nằm trong tim và hệ thống mạch máu Máu là nguồn gốc của hầu hết các dịch thể trong cơ thể
Máu ngấm vào tế bào tổ chức tạo thành dịch nội bào
Máu ngấm vào các khe hở giữa các tế bào tạo thành dịch gian bào
Máu ngấm vào các ống lâm ba tạo thành dịch bạch huyết
Máu vào não tủy tạo nên dịch não tủy
Số lượng máu thay đổi theo loài động vật, lượng máu so với tọng lượng cơ thể mỗi loài là khác nhau: lợn 4,6%, trâu bò 8%, chó 8-9%, Tổng lượng máu trong cơ thể gồm 54% máu lưu thông trong hệ thống tuần hoàn, 46% máu ở dạng dự trữ trong đó ở gan 20%, lách 16%, mao quản dưới da 10% Hai loại máu này thường xuyên chuyển hóa cho nhau Khi cơ thể bị mất máu đột ngột thì sẽ bị choáng, ngất
do áp lực máu trong mao quản bị giảm đột ngột, đặt biệt giảm mạnh ở mao quản của não làm ức chế thần kinh
Máu là một tổ chức di động được tạo thành từ thành phần hữu hình là các tế bào (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) và huyết tương Chức năng chính của máu là cung cấp các chất nuôi dưỡng và cấu tạo các tổ chức cũng như loại bỏ các chất thải trong quá trình chuyển hóa của cơ thể như khí carbonic và acid lactic Máu cũng là phương tiện vận chuyển của các tế bào (cả tế bào có chức năng bảo vệ cơ thể lẫn tế bào bệnh lý) và các chất khác nhau (các amino acid, lipid, hormone) giữa các tổ chức và cơ quan trong cơ thể Các rối loạn về thành phần cấu tạo của máu hay ảnh hưởng đến sự tuần hoàn bình thường của nó có thể dẫn đến rối loạn chức năng của nhiều cơ quan khác nhau
Trang 272.3.2 Chức năng sinh lý của máu
2.3.2.1 Chức năng hô hấp
Là chức năng quan trọng, máu vận chuyển oxy từ phổi đến các mô bào và vận chuyển khí cacbonic từ mô bào về phổi để thải ra ngoài Chức năng này được đảm bảo nhờ hồng cầu, các đệm kiềm của huyết tương chuyên chở CO2 và O2 trao đổi giữa phế nang và các tổ chức tế bào
2.3.2.2 Chức năng dinh dưỡng
Máu vận chuyển các chất dinh dưỡng hấp thu được từ ống tiêu hóa dến tận các
mô bào, tổ chức để nuôi dưỡng, cung cấp năng lượng và nguyên liệu để sinh tổng hợp thành các chất của cơ thể
2.3.2.3 Chức năng bài tiết
Máu nhận các sản phẩm cuối cùng của trao đổi chất ở các mô bào, tổ chức như khí CO2, ure, axit uric, … rồi vận chuyển đến phổi, thận, da để đào thải ra ngoài 2.3.2.4 Chức năng điều hòa thân nhiệt
Máu đảm bảo nhiệt lượng trong cơ thể, đồng thời nhờ hệ thống tuần hoàn máu, nhiệt được vận chuyển từ trong cơ thể ra ngoài da hay ngược lại, có tác dụng điều hòa nhiệt khi gặp lạnh mạch máu ngoài da co lại dồn máu vào trong giữ ấm cho cơ thể Khi trời nóng mạch máu ngoài da giãn ra máu từ trong cơ thể dồn ra đem nhiệt thải ra ngoài
2.3.2.5 Chức năng điều hòa và duy trì cân bằng nội môi
Bằng sự điều hoà tính hằng định nội môi, máu đã tham gia vào điều hoà toàn
bộ các chức phận cơ thể bằng cơ chế thần kinh và thần kinh - thể dịch
2.3.2.6 Chức năng điều hòa dịch thể
Máu mang các hocmon và các chất sinh ra từ cơ quan này đến cơ quan khác, góp phần vào sự điều hòa trao đổi chất, sinh trưởng và phát triển, đảm bảo sự cân bằng nội môi và thống nhất trong cơ thể
2.3.2.7 Chức năng bảo vệ cơ thể
Máu có khả năng bảo vệ cơ thể khỏi bị nhiễm trùng nhờ cơ chế thực bào, ẩm bào
và cơ chế miễn dịch dịch thể, miễn dịch tế bào Máu cũng có khả năng tham gia vào cơ chế tự cầm máu, tránh mất máu cho cơ thể khi bị tổn thương mạch máu có chảy máu 2.3.3 Thành phần của máu
Máu gồm hai thành phần: thể hữu hình (huyết cầu) và huyết tương Các thể hữu hình của máu là hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu, chiếm 43 - 45% tổng số máu,
Trang 28chỉ số này được gọi là hematocrit Hồng cầu là thành phần chiếm chủ yếu trong thể hữu hình Huyết tương chiếm 55 - 57% tổng số máu
2.3.3.1 Huyết tương
Huyết tương chứa nước, protein, các chất điện giải, các hợp chất hữu cơ và
vô cơ, các hocmon, các vitamin, các chất trung gian hoá học, các sản phẩm chuyển hoá Huyết tương chứa toàn bộ các chất cần thiết cho cơ thể và toàn bộ các chất cần được thải ra ngoài Huyết tương bị lấy mất fibrinogen thì được gọi
là huyết thanh
Huyết tương là dung dịch chứa đến 96% nước, 4% là các protein huyết tương
và rất nhiều chất khác với một lượng nhỏ, đôi khi chỉ ở dạng vết Các thành phần chính của huyết tương gồm:
Albumin;
Các yếu tố đông máu;
Các globulin miễn dịch hay kháng thể;
Hồng cầu, hay hồng huyết cầu (có nghĩa là tế bào máu đỏ), là loại tế bào máu
có chức năng chính là hô hấp, chuyên chở hemoglobin, qua đó đưa O2 từ phổi đến các mô Enzyme carbonic anhydrase trong hồng cầu làm tăng hàng nghìn lần vận tốc của phản ứng giữa CO2 và H2O tạo ra H2CO3 Nhờ đó, nước trong huyết tương vận chuyển CO2 dưới dạng ion bicarbonat (HCO3—) từ các mô trở lại phổi để CO2
được tái tạo và thải ra dưới thể khí Ở nhiều động vật bậc thấp, hemoglobin hòa trong dòng huyết tương Với tổ chức của cơ thể người, hemoglobin cần phải được chứa trong hồng cầu, vì nếu ở dạng tự do, nó sẽ thấm dần qua các mao mạch và bị thất thoát qua nước tiểu Là một protein, hemoglobin còn có chức năng đệm kiềm-toan, đây cũng là một chức năng quan trọng của hồng cầu Hồng cầu được tạo ra từ các tế bào máu gốc trong tủy xương, đa số hồng cầu bị hủy ở lách Tuy là một tế bào, hồng cầu trưởng thành lại không có nhân, ti thể hay ribôxôm Các kháng nguyên trên bề mặt hồng cầu được dùng để định nghĩa nhóm máu Nhiều hệ thống
Trang 29nhóm máu đã được thiết lập, trong đó sớm nhất và quan trọng nhất là hệ thống nhóm máu ABO
Khi gia súc bị bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng thì số lượng hồng cầu giảm rõ rệt Trong cơ thể luôn có quá trình sản sinh hồng cấu mới, phá hủy hồng cầu cũ Hồng cầu lợn sống được 1 -2 tháng Phần lớn hồng cầu chết trong các đại thực bào thuộc hệ thống võng mạc nội mô Các tế bào khổng lộ này nhận ra các tế bào già và ăn chúng Quá trình thực bào này chủ yếu xảy ra ở tủy xương Trường hợp bệnh lý, quá trình thực bào xảy ra chủ yếu ở gan, lách Sau khi hồng cầu bị tiêu diệt thì sắc tố được giải phóng đồng thời cũng bị thoái hóa
Để tồn tại và đảm trách chức năng, hồng cầu phải tiêu thụ năng lượng Nguồn năng lượng này được lấy từ glucose sinh ra trong quá trình đường phân Bạch cầu
Bạch cầu, hay bạch huyết cầu (nghĩa là "tế bào máu trắng", còn được gọi là tế bào miễn dịch), là một thành phần của máu Chúng giúp cho cơ thể chống lại các bệnh truyền nhiễm và các vật thể lạ trong máu Chúng là một phần của hệ miễn dịch Bạch cầu trong suốt, kích thước khá lớn, có nhân Ngoại trừ máu, chúng được tìm thấy với số lượng lớn trong các hạch, mạch bạch huyết, lách và các mô khác trong cơ thể
Trong tổng số bạch cầu cơ thể các loài động vật có vú thì Bạch cầu hạt trung tính là loại chiếm số lượng nhiều nhất (40% đến 70%)
Có 5 loại tế bào bạch cầu: Bạch cầu ưa kiềm, bạch cầu ưa axit, bạch cầu trung tính, bạch cầu mônô và bạch cầu lympho Tuy nhiên bạch cầu được phân thành ba loại chính:
Bạch cầu hạt:
Bạch cầu hạt (granulocyte) được đặc trưng bởi các hạt nhuộm màu khác nhau trong tế bào chất dưới kính hiển vi quang học Có ba loại bạch cầu hạt: bạch cầu trung tính (neutrophil), bạch cầu ái kiềm (basophil) và bạch cầu ái toan (eosinophil) (được đặt tên theo các thuộc tính nhuộm màu của chúng) Trước đây, bạch cầu hạt còn được gọi (không chính xác) là "bạch cầu đa nhân" do đặc điểm phân thùy (múi) của nhân tế bào, Ngoài ra chúng ta cũng có thể gọi những bạch cầu có hạt là bạch cầu có nhân đa hình (vì nhân của nó thường được phân thành nhiều múi khác nhau
và thường có từ 1 - 5 múi) Người ta sử dụng yếu tố phân múi này để định công thức bạch cầu Arneth
Trang 30tế bào này bị suy giảm khi cơ thể bị nhiễm virus HIV) Các tế bào T CD8+ (T gây độc) và tế bào giết tự nhiên có khả năng giết các tế bào của cơ thể bị nhiễm các tác nhân gây bệnh nội bào
Bạch cầu đơn nhân
Bạch cầu đơn nhân (monocyte) chia sẻ chức năng 'dọn dẹp chân không' của bạch cầu trung tính, nhưng chúng có đời sống dài hơn bởi chúng còn có vai trò bổ sung khác Bạch cầu đơn nhân trong máu cũng như các bản sao của chúng ở các
mô - thực bào rồi đưa các kháng nguyên của tác nhân gây bệnh tới trình diện cho
tế bào T Bạch cầu đơn nhân trưởng thành có thể biệt hóa thành đại thực bào tại các mô khác nhau của cơ thể
Trang 31PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG NGUYÊN LIỆU,
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Lợn từ sơ sinh đến sau cai sữa nghi mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) nuôi ở các nông hộ và trang trại chăn nuôi thuộc tỉnh Thái Nguyên
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Như phần trên chúng tôi đã trình bày, những tư liệu về dịch tiêu chảy cấp ở lợn (PED) ở nước ta còn ít, đặc biệt là những tư liệu nói về đặc điểm bệnh lý của bệnh Do vậy, để làm rõ tính chất bệnh lý của bệnh chúng tôi tiến hành nghiên cứu với các nội dung sau:
3.2.1 Theo dõi tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) trên đàn lợn ở tỉnh Thái Nguyên
3.2.2 Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) trên đàn lợn ở tỉnh Thái Nguyên
3.2.3 Nghiên cứu tổn thương bệnh lý đường ruột của lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) trên đàn lợn ở tỉnh Thái Nguyên
3.2.4 Xây dựng phác đồ điều trị thử nghiệm
3.3 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Bộ môn Nội chẩn – Dược – Độc chất; Phòng thí nghiệm trung tâm, Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
- Phòng nghiên cứu và phát triển công nghệ vacxine công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên AVAC Việt Nam
3.4 NGUYÊN LIỆU NGHIÊN CỨU
Các vật liệu dụng cụ để thu thập mẫu, bộ test kit để chẩn đoán phân biệt bệnh, nguyên liệu và dụng cụ để làm tiêu bản bệnh lý vi thể
3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.5.1 Lấy mẫu bệnh phẩm
- Lấy mẫu bệnh phẩm (phân, ruột) từ những đàn lợn có triệu chứng của PED, cho vào trong túi nylon vô trùng, bảo quản (4 0C) và vận chuyển ngay về phòng thí nghiệm trong vòng 24h và dùng để chẩn đoán Tiến hành thu mẫu các cơ quan: Ruột, phổi, tim, gan, thận ngâm trong formol 10% làm tiêu bản vi thể
Trang 32- Lấy máu vịnh tĩnh mạch cổ lợn nhiễm PED vào sáng sớm trước khi cho ăn Lấy xong đưa nhanh vào ống chống đông EDTA lắc nhẹ, bảo quản nhiệt độ 2-80C đưa về phòng thí nghiệm trong thời gian nhanh nhất, không được để quá 2 ngày Nghiên cứu các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu bằng máy huyết học (Hemacrem 18) tại phòng thí nghiệm trung tâm của khoa thú y Học viện Nông Nghiệp Việt Nam.
3.5.2 Xác định lợn bệnh
Việc xác định lợn bệnh là vô cùng quan trọng, vì đây là bước khởi đầu cho các bước tiếp theo trong quá trình nghiên cứu Để xác định lợn bệnh chúng tôi dự trên những đặc điểm dịch tễ, triệu chứng lâm sàng đặc trưng của bệnh như lợn con tiêu chảy cấp tính, phân loãng màu vàng, mùi tanh, có sữa không tiêu, bệnh lây lan nhanh trong đàn với tỷ lệ chết cao (lợn con dưới 5 ngày tuổi tỷ lệ chết lên đến 100%) Lợn con gầy nhanh do mất nước, thích nằm trên bụng mẹ Diều trị bằng các loại kháng sinh không có kết quả Bệnh dễ nhầm với bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE) và bệnh do cầu trùng Cocidiosis
Cùng với phương phương pháp xác định trên chúng tôi còn sử dụng phương pháp huyết thanh học và dùng test kiển tra nhanh phát hiện mầm bệnh
Bộ test kit thử dịch tiêu chảy cấp (PED) 3.5.3 Phương pháp nghiên cứu
3.5.3.1 Xác định các biểu hiện lâm sàng của lợn bệnh
Bằng theo dõi, quan sát và ghi chép hàng ngày
3.5.3.2 Các chỉ tiêu sinh lý máu
+ Số lượng hồng cầu (triệu/mm3): Xác định bằng máy huyết học 18 chỉ tiêu (Hema Screen – 18)
+ Số lượng bạch cầu (nghìn/ mm3): Xác định bằng máy huyết học 18 chỉ tiêu (Hema Screen – 18)
Trang 33+ Hàm lượng huyết sắc tố (Hemoglobin – Hb) (%): Định lượng bằng máy huyết học 18 chỉ tiêu (Hema Screen – 18)
3.5.3.3 Các chỉ tiêu chất lượng hồng cầu
- Hàm lượng hemoglobin trung bình của hồng cầu (LHSTBQ): là lượng hemoglobin bình quân chứa trong một hồng cầu, được tính theo công thức:
g%Hb x 10
LHSTBQ (pg) =
Số triệu hồng cầu trong 1mm3
- Thể tích bình quân của hồng cầu (m3): tính theo công thức:
Tỷ khối huyết cầu (hematocrit) x 10
V h/c=
Số triệu hồng cầu trong 1mm3
3.5.3.4 Tỷ khối hồng cầu (Hematocrit) %: theo phương pháp Wintrobe
+ Nồng độ muối làm hồng cầu vỡ toàn bộ gọi là sức kháng tối đa
Nguyên lý: Khi hồng cầu bị đặt vào trong một dung dịch muối mà áp lực thấu nhẹ hơn thì nước ở dung dịch muối nhược trương sẽ vào hồng cầu để làm cân bằng
áp lực thẩm thấu trong và ngoài hồng cầu Nước vào như vậy sẽ làm trương các hồng cầu, nếu dùng dung dịch nhược trương nhiều hơn thì sẽ càng làm trương to thêm và vỡ
3.5.3.6 Xác định công thức bạch cầu (%): theo Schilling, đơn vị %
3.5.3.7 Độ dự trữ kiềm trong máu
Định lượng theo phương pháp Nevodop, đơn vị tính là mEq/l
3.5.3.8 Hàm lượng đường huyết
Định lượng theo phương pháp glucometer: lấy giấy thử thấm vào máu sau đó đưa giấy thử vào máy rồi quan sát đọc kết quả (mmd/l)
Trang 343.5.3.9 Protein tổng số trong huyết thanh (g%)
Dùng khúc xạ kế Zena Đây là phương pháp đơn giản, dễ sử dụng, kết quả chính xác
3.5.3.10 Các tiểu phần protein trong huyết thanh (%)
Sử dụng phương pháp điện di trên phiến axetat Cellulose
3.5.3.11 Hàm lượng Natri và Kali trong huyết thanh (mEq/l)
Định lượng bằng máy quang phổ hấp phụ
3.5.3.12 Tổn thương bệnh lý đại thể và vi thể ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) Trước tiên chúng tôi tiến hành mổ khám lợn bệnh để quan sát những bệnh tích đại thể ở một số khí quan, sau đó lấy một miếng nhỏ của các khí quan ngâm vào dung dịch formol 10% và tiến hành làm tiêu bản vi thể, quan sát dưới kính hiển vi quang học với độ phóng đại 10x15 và 15x40 Đọc ghi lại kết quả và chụp ảnh bệnh tích vi thể
3.5.3.13 Bố trí thí nghiệm: điều trị thử nghiệm lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) Chúng tôi xây dựng hai phác đồ điều trị trên đàn lợn sau cai sữa
Phác đồ I (25 con):
+ Dùng kháng thể E.coli( chế phẩm của công ty thuốc thuốc thú y HanVet) Tiêm xoang phúc mạc với liều 3ml/con/ngày Tiêm liên tục 3 ngày
+ Thuốc chống nôn: Atropinsunfat 0,1% với liều 2ml/con/ngày
+ Kháng sinh đặc trị (Enrofloxaxin) với E.coli phân lập được ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp Tiêm bắp thịt ngày 1 lần với liều 25mg/kgP/ngày
+ Dung dịch Gluco-KC + vitamin ADE + men tiêu hóa + thuốc gải độc gan thận Cho uống tự do
+ Thuốc sát trùng đường ruột và bảo vệ niêm mạc ruột: Nitratbishmuth với liều 3g/con/ngày
+ Thuốc trợ sức, trợ lực và tăng cường sức đề kháng: Vitamin C + vitamin B1 + cafeinnatribenzoat + Urotropin (mỗi loại 2ml/con/ngày)
Trang 35+ Kháng sinh đặc trị (Enrofloxaxin) với E.coli phân lập được ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp Tiêm bắp thịt ngày 1 lần với liều 25mg/kgP/ngày
+ Dung dịch Gluco-KC + vitamin ADE + men tiêu hóa + thuốc gải độc gan thận Cho uống tự do
+ Thuốc sát trùng đường ruột và bảo vệ niêm mạc ruột: Nitratbishmuth với liều 3g/con/ngày
+ Thuốc trợ sức, trợ lực và tăng cường sức đề kháng: Vitamin C + vitamin B1 + cafeinnatribenzoat + Urotropin (mỗi loại 2ml/con/ngày)
Ở phác đồ này chúng tôi dùng thêm dung dịch Glucose 5% tiêm vào 2 bên xoang phúc mạc với liều 25ml/ xoang phúc mạc/con/ngày
Theo dõi kết quả diều trị :
Trang 36
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 KẾT QUẢ THEO DÕI TỶ LỆ MẮC, TỶ LỆ CHẾT Ở LỢN MẮC DỊCH TIÊU CHẢY CẤP ( PED) TRÊN ĐÀN LỢN THUỘC TỈNH THÁI NGUYÊN Chúng tôi vừa tiến hành theo dõi các biểu hiện lâm sàng đồng thời tiến hành thu thập mẫu ở các đàn lợn xảy ra dịch tiêu chảy cấp (PED) trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, đồng thời tìm hiểu quy trình tiêm phòng vacxin của các trại và được biết các trại này đều đã tiêm các loại vacxin như dịch tả, tai xanh, suyễn, cho cả lợn con và lợn nái
Bản đồ Dịch tễ: Tình hình chăn nuôi lợn và dịch tiêu chảy cấp PED tại Miền Bắc
Trang 37Bản đồ Dịch tễ: Tình hình chăn nuôi lợn và dịch tiêu chảy cấp (PED) trên đàn
lợn thuộc tỉnh Thái Nguyên Trong quá trình theo dõi, đánh giá tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết, tỷ lệ tiêu chảy của từng loại lợn chúng tôi thu được bảng (4.1)
Bảng 4.1 Tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết theo lứa tuổi ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp
(PED) trên đàn lợn thuộc tỉnh Thái Nguyên
dõi (con)
Số con mắc
Tỷ lệ mắc (%)
Số con chết
Tỷ lệ tử vong (%)
Tỉ lệ mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) tại các trại hầu hết đều xảy ra trên toàn đàn
ở tất cả các độ tuổi khác nhau; cao nhất là ở lợn con theo mẹ chiếm (90,12%), tiếp
Trang 38theo là trên lợn cai sữa với tỉ lệ mắc lên đến (77,4%), lợn nái là (76,34%) và thấp nhất là lợn thịt là (35,1%)
Kết quả bảng trên cũng cho thấy đối với lợn con theo mẹ khi mắc bệnh tỷ lệ chết rất cao (53,54%),và đối với lợn sau cai sữa có tỉ lệ chết thấp (2,15%), lợn thịt
và lợn nái không có con nào chết
Nguyễn Văn Điệp (2013); Pasma et al (2016) Khi nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của (PED) tại một số tỉnh phía Bắc (Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh và Hà Nội) lợn tiêu chảy cấp PED xảy ra trên đàn lợn mọi độ tuổi trong đó
tỷ lệ mắc bệnh và chết tập trung chủ yếu ở đàn lợn theo mẹ Lợn ở giai đoạn vỗ béo thường có biểu hiện đau bụng, nôn và sau 7 -10 ngày lợn sẽ hồi phục đồng thời tỷ lệ tử vong của lợn ở giai đoạn này thường từ 0-1% (N T L Nguyễn Văn Điệp, 2013; Pasma, Furness, Alves, Aubry, 2016) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với nhận định của các tác giả trên
Qua quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy tình hình chung ở các trại tuy
tỉ lệ mắc bệnh khá cao nhưng tỉ lệ chết lại không cao So với những trận dịch khác bùng nổ với quy mô rộng hơn (trên thế giới những năm đầu bùng phát dịch
và ở các tỉnh Miền Nam nước ta) thì tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong của các trại chúng tôi nghiên cứu thấp hơn, đặc biệt là ở lợn con dưới 10 ngày tuổi tỷ lệ chết
ở các nghiên cứu khác có thể lên đến 100% cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ chết của các trại mà chúng tôi nghiên cứu (53,54%)
Để lý giải cho điều này chúng tôi đã hỏi về lịch sử của bệnh tại các trại chúng tôi nghiên cứu và được biết rằng các trại này đều đã từng xảy ra bệnh này, đặc biệt là trại của Ban Mai – Tân Cương – Thái Nguyên đây là lần thứ 3 bệnh xuất hiện Những trận dịch trước tại các trại đều có tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết rất cao, đặc biệt trên đối tượng lợn con theo mẹ và trên lợn cai sữa, (kết quả chẩn đoán bệnh những lần trước đó đều dương tính với PEDV) Nguyên nhân khiến tỷ
lệ chết thấp hơn các lần dịch bệnh trước theo chúng tôi có thể là do trong cơ thể lợn đã có kháng thể chống lại bệnh này, vì những lần dịch bệnh trước đều xảy ra trên toàn đàn, bao gồm cả lợn nái, lợn thịt, lợn cai sữa và lợn con theo mẹ nên khi dịch bệnh lần sau xảy ra thì bản thân các nhóm lợn này đã có miễn dịch Chính vì vậy, khi nhiễm bệnh khả năng qua khỏi là rất cao Điều đáng quan tâm ở đây đó là khi mới xuất hiện triệu chứng của bệnh thì trại đã thực hiện ngay các biện pháp tiêu độc, khử trùng, kiểm soát nghiêm ngặt người và phương tiện ra vào trại cùng
Trang 39với tiến hành điều trị do đó đã khống chế được dịch bùng phát nặng nề và tỉ lệ chết đã giảm đi rất nhiều
4.2 ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ
Nghiên cứu của chúng tôi tập trung chủ yếu khâu xác định tính chất bệnh
lý, đặc điểm, triệu chứng của bệnh và biện pháp phòng trị bệnh Dữ liệu thu được qua quan sát tự nhiên - theo dõi lâm sàng và các xét nghiệm cận lâm sàng (xét nghiệm máu), kết hợp với mổ khám gia súc chết bệnh Trên cơ sở đặc điểm bệnh lý, xây dựng phác đồ điều trị và tiến hành điều trị thử nghiệm
Trong thời gian nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành điều tra và theo dõi 2097 lợn con theo mẹ, 540 lợn cai sữa, 470 lợn thịt, 93 lợn nái cho thấy:
- Tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết trên đàn lợn con theo mẹ rất cao (tỷ lệ mắc 90,12%; tỷ lệ chết 53, 54%
- Tiếp đến là đàn lợn cai sữa (tỷ lệ mắc bệnh là 77,4% và tỷ lệ chết là 2,15%)
- Đối với đàn lợn nái, và đàn lợn thịt (vỗ béo) có tỷ lệ mắc từ 35,1%-76, 34%;
tỷ lệ chết là 0%
Để theo dõi đặc điểm bệnh lý, tính chất bệnh, chúng tôi đã theo dõi chi tiết 80 lợn cai sữa, trong đó có 30 lợn khoẻ và 50 lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED), các kết quả thu được chúng tôi trình bày ở các phần dưới đây
4.2.1 Những biểu hiện lâm sàng ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) trên đàn lợn thuộc tỉnh Thái Nguyên
Bằng phương pháp mô tả, quan sát, phân tích rồi thống kê số liệu, khi theo dõi lợn bệnh tại một số trang trại thuộc các nông hộ ở tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi thấy (bảng 4.2)
Bảng 4.2 Triệu chứng lâm sàng ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) trên đàn
lợn thuộc tỉnh Thái Nguyên
Trang 40Qua theo dõi, quan sát cũng như ghi chép hàng ngày chúng tôi thấy Triệu chứng lâm sàng của lợn bệnh thay đổi, phụ thuộc vào trạng thái miễn dịch của cơ thể trong đàn lợn bệnh, cũng như điều kiện quản lý, chăm sóc Nhìn chung các biểu hiện chính ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) là: Sốt, ủ rũ, mệt mỏi, giảm ăn, bỏ
ăn, gầy sút và đây cùng là triệu chứng chung của các bệnh truyền nhiễm Điều này được giải thích một cách đơn giản đó là khi có tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể thì phản ứng chung của cơ thể là sốt và khi tác nhân quá mạnh vượt quá sức đề kháng và khả năng chống chịu của cơ thể thì sẽ làm cho cơ thể lợn yếu dần đi, ủ rũ
và mệt mỏi, lợn bỏ ăn, dẫn đến gầy sút, xơ xác
Lợn còn có hiện tượng nằm dồn đống có thể do bị tiêu chảy mạnh cơ thể mất nước nhiều Do vậy nên thân nhiệt giảm và để giữ nhiệt cho cơ thể lợn thích nằm tụ lại
Hiện tượng tiêu chảy phân màu vàng xám nhiều nước là triệu chứng chính, đặc trưng và điển hình nhất của bệnh và (chiếm tỉ lệ 100%) Qua quan sát theo dõi chúng tôi thấy triệu chứng lâm sàng của lợn mắc dịch tiêu chảy cấp (PED) ở các lứa tuổi tương đối giống nhau, nhưng có phần khác nhau về mức độ và thời gian biểu hiện triệu chứng giữa các nhóm lợn
Trong nghiên cứu này chúng tôi chủ yêu tập trung chủ yếu vào nhóm lợn sau cai sữa
Qua quan sát, theo dõi chúng tôi thấy: Ở lợn cai sữa có tỉ lệ mắc và tỉ lệ chết cao hơn các nhóm lợn thịt và lợn nái Triệu chứng lâm sàng của nhóm lợn này cũng được biểu hiện rõ nhất với tỉ lệ tiêu chảy phân màu vàng xám, chiếm 100%, tỉ lệ số con sốt là 38/64 chiếm 57,5%, tỉ lệ số con có triệu chứng nôn là ít chiếm 15,0%
Sở dĩ như vậy, theo chúng tôi cơ thể lợn con cấu tạo các cơ quan chưa hoàn thiện Ở lợn con theo mẹ đến giai đoạn cai sữa, miễn dịch bảo hộ được truyền từ
cơ thể mẹ sang cơ thể con qua sữa đầu có hàm lượng kháng thể cao giúp chống lại
sự tác động của điều kiện ngoại cảnh Còn ở giai đoạn lợn con cai sữa, khi tách chúng khỏi mẹ, sự thích nghi với môi trường khắc nghiệt rất kém nên rất dễ bị stress Hơn thế nữa, cơ thể lợn con có sự biến đổi về chức năng tiêu hóa Vì vậy khả năng thích ứng với môi trường nhanh là rất kém Cho nên khi mắc bệnh nhóm lợn này có biểu hiện 100% tiêu chảy cấp tính, phân lỏng màu vàng xám, màu xi măng, nhiều nước dẫn đến hiện tượng cơ thể mất nước làm cho, tai cụp, mắt trũng sâu bụng hóp