Hoàn thiện công tác chấm điểm tín dụng tại ngân hàng ngoài quốc doanh(vpbank)
Trang 1Lời nói đầu
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và xu thế hội nhập như hiện nay,đặc biệt
la sau khi Việt Nam chính thức là thành viên của Tổ chức Thương mại Thếgiới(WTO) vào ngày 11.1.2007,cơ hội mở ra cho các Ngân Hàng là rấtlớn.Với nguồn thu nhập chính từ hoạt động tín dụng, vấn đề được đặt ra làlàm sao nâng cao chất lượng tín dụng và hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất cóthể để hoạt động của Ngân Hàng diễn ra an toàn và sinh lợi cao
Vận dụng mô hình chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp làmột trong số những biện pháp được các ngân hàng trên thế giới sử dụng.Tuynhiên, ở Việt Nam mô hình này còn khá mới mẻ và cần được nghiên cứu
hoàn thiện.Với chuyên đề :”Hoàn thiện công tác chấm điểm tín dụng tại ngân hàng ngoài quốc doanh(vpbank)”, em hy vọng nêu ra được cái nhìn
Trang 2Chương 1 :Những vấn đề cơ bản về chấm điểm tín dụng và xếp hạng
doanh nghiệp 1.1.Khái niệm và mục đích của việc chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp.
1.1.1.Khái niệm về chấm điểm tín dụng.
Chấm điểm tín dụng là một quy trình đánh giá khả năng ,xác xuất thựchiện các nghĩa vụ tài chính của một doanh nghiệp đối với ngân hàng như trảgốc và lãi vay khi đến hạn hoặc vi phạm các điều kiện tín dụng khác nhằmxác định mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng
Mức độ rủi ro tín dụng thay đổi theo từng khách hàng và được xác địnhthông qua quá trình đánh giá bằng thang điểm, dựa vào các thông tin tàichính và phi tài chính có sẵn của khách hàng tại thời điểm chấm điểm tíndụng ,từ đó có thể có những thông tin quan trọng để đạnh giá mức độ rủi rocủa từng khách hàng.Đó cũng là cơ sở để đưa ra các quyết định về tín dụngnhư : hạn mức tín dụng, lãi suất áp dụng, thời hạn cho vay
Đối với từng loại khách hàng khác nhau thì áp dụng những chỉ tiêu vàthang điểm khác nhau.Hiện nay, thông thường các Ngân hàng phân kháchhàng ra làm 3 loại chính là : tổ chức tài chính, doanh nghiệp, cá nhân
1.1.2.Mục đích của việc chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp
Mục đích của chấm điểm tín dụng và xếp hạng daonh nghiệp là đưa ranhận xét đánh giá tình hình hoạt động, khả năng sinh lời, khả năng thanhtoán trong hiện tại và tương lai của doanh nghiệp nhằm xác định khả năngthu hồi vốn của Ngân hàng cho vay, lường trước được các rủi ro có thể xảy
ra trong kinh doanh để có những biện pháp xử lý kịp thời Từ đó giúp cácNgan hàng với tư cách là nhà đầu tư vốn đưa ra các quyết định thích hợpnhư : xác định hạn mức tín dụng, thời hạn, mức lãi suất, biện pháp bảo đảmtiền vay, phê duyệt hay không phê duyệt nhằm bảo vệ quyền lợi của mình
Trang 3Với mô hình chấm điêm tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp Ngân hàng
có thể chủ động trong quản lý khách hàng, giám sát và đánh giá khách hàngkhi khoản tín dụng đang còn dư nợ Xếp hạng khách hàng cho phép ngânhàng lường trước được dấu hiệu cho thấy khoản vay có được sử dụng đúngcách và đúng mục đích hay không, từ đó có những biện pháp xử lý kịp thời Khi xây dựng được mô hình chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanhnghiệp, Ngân hàng có thể nâng cao được chất lượng, rút ngắn thời gian thẩmđịnh.Ngoài ra nó còn giúp ngân hàng chuẩn hoá việc thu thập và quản lýthông tin khách hàng
Xét trên góc độ quản lý toàn bộ danh mục tín dụng, mô hình chấm điểm tíndụng còn nhằm mục đích : phát triển chiến lược maketing nhằm hướng tớicác khách hàng có ít rủi ro hơn ; ước lượng mức vốn đã cho vay không thuhồi được để trích lập dự phòng những rủi ro, tổn thất do hoạt động tín dụnggây ra
1.2.Nội dung của công tác chấm điểm tín dụng
1.2.1.Bước 1 : Thu thập và xử lý thông tin.
Đây là bước đầu tiên đặt nên móng cho quy trình chấm điểm tíndụng.Các thông tin thu thập để sử dụng trong quá trình chấm điểm tín dụngcần phải đầy đủ và toàn diện, bao gồm cả thông tin tài chính va thông tin phitài chính
Các thông tin tài chính như : bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinhdoanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, trong vài năm gần nhất.Những báo cáonày cần được kiểm tra kỹ lưỡng về độ chính xác và tính trung thực củchúng.Các cán bộ tín dụng có thể kiểm tra điều này qua khảo sát thực tế cáckhách hàng, và cần thiết phải có sự thận trọng nhất định, đặc biệt là nhữngbáo cáo chưa được kiểm toán
Trang 4Các thông tin phi tài chính như : các giấy tờ pháp lý liên quan đến doanhnghiệp bao gồm giấy phép thành lập doanh nghiệp, mã số thuế, giấy đăng kíkinh doanh, điều lệ của doanh nghiệp.
Ngoài ra, cần quan tâm đến các nguồn thông tin khác có liên quan như :các dữ liệu kinh tế của từng ngành, từng lĩnh vực do hiệp hội, đoàn thể cungcấp, các thông tin từ tạp chí, ấn phẩm của doanh nghiệp, ngành hoặc cácthông tin từ đối thủ cạnh tranh của daonh nghiệp
Thông tin được thu thập qua hồ sơ vay vốn của khách hàng, qua thông tinlưu trữ tại ngân hàng, qua phỏng vấn trực tiếp, qua thăm thực địa doanhnghiệp
Sau khi thu thập thông tin cần tiến hành kiểm tra đối chiếu, làm sạch đểđảm bảo tính trung thực, minh bạch và có nguồn gốc rõ ràng trước khi đưavào phân tích và lưu trư để tạo kho dữ liệu tại ngân hàng, từ đó sẽ có thôngtin về doanh nghiệp trong nhiều năm liên tục, qua đó thấy được xu hướngphát triển lâu dài của các daonh nghiệp
Dù tiếp cận và thu thập thông tin, tài liệu theo nguồn nào thì mỗi cán bộ tíndụng cũng cần phải xem xét, đánh giá và xác định mức độ tin cậy của từngnguồn thông tin để có thể đưa ra cái nhìn khách quan trong quá trình chấmđiểm tín dụng
1.2.2.Bước 2 : Phân loại ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Do đặc trưng của mỗi ngành nghề khác nhau về chu kì kinh doanh, mứctăng trưởng, mức vốn, cơ cấu chi phí, khả năng sinh lời, mức độ cạnh tranh,mức độ ảnh hưởng của luật pháp tới ngành nghề đó nên xây dựng một hệthống chấm điểm tín dụng cần tính đến yếu tố ngành nghề là tất yếu
Trang 5Hệ thống phân loại ngành kinh tế dùng để chấm điểm tín dụng và xếphạng daonh nghiệp phải phù hợp với trình độ phát triển nền kinh tế và môitrường pháp lý của từng quốc gia.
Hiện nay, đa số các ngân hàng phân loại doanh nghiệp theo 4 ngành nghềchính gồm :
Nông-lâm-ngư nghiệp : chăn nuôi, trồng trọt, khai thác lâm sản,
đánh bắt nuôi trồng thuỷ sản, làm muối
xuất bản sách,chăm sóc sức khoẻ
Xây dựng : hạ tầng giao thông, khu công nghiệp, hạ tầng đô thị,
nhà ở
Công nghiệp : chế biến các loại nông lâm thuỷ hải sản, sản xuất
lắp ráp hàng điện tử, sản xuất điện, khí đốt
1.2.3.Bước 3: Xác định quy mô của doanh nghiệp
Quy mô của doanh nghiệp cũng là một yếu tố cần phải xét đến, bởi nóquyết định đến vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp, khả năng kinh doanh thulợi, khả năng trả nợ.Doanh nghiệp sẽ khó có thể tiến hành đa dạng hoá hoạtđộng để giảm rủi ro kinh doanh và nâng cao ưu thế cạnh tranh khi quy môcủa nó quá nhỏ, bởi những doanh nghiệp này không có những ưu thế về quy
mô sản xuất, tiêm năng nhân sự và tiềm lực về mặt tài chính.Những doanhnghiệp có quy mô nhỏ thường chỉ thiên về về kinh doanh một loại sản phẩm,nên vị thế tín dụng sẽ bị đánh giá thấp hơn.Tuy nhiên, lợi thế của nhữngdoanh nghiẹp là bộ máy tổ chức gọn nhẹ, kinh doanh đơn giản, hiệu quả
Để đánh giá quy mô của doanh nghiệp ngươi ta thường căn cứ vào bốnchỉ tiêu sau :
Trang 6 Mức vốn kinh doanh : chỉ tiêu này thường được lấy ở bảng cân đối
kế toán, la tiêu chí tổng hợp để xác định quy mô của daonh nghiệp,gồm 2 phần : Vốn chủ sở hữu và vốn vay
Lao động : là số lao đông thực tế sử dụng tính bình quân trong 3 năm
gần nhất hoạc tính binh quân trong các năm kể từ khi doanh nghiệpbắt đầu hoạt động nếu doanh nghiệp đó thành lập chưa tới 3năm.Doanh nghiệp lớn với nhiều cơ sở, chi nhánh, đại lý, kinh doanhnhiều mặt hàng sẽ cần một lượng lao đông lớn.Doanh nghiệp nhỏ, khảnăng đa dạng hoá sản phẩm cũng như mở rộng mạng lưới chi nhánhcòn hạn chế thì tất nhiên nhu cầu về sử dụng lao động cũng ít hơn
Doanh thu thuần : chỉ tiêu này phản ánh số doanh thu bán hàng,thành
phẩm, cung cấp dịch vụ đã loại trừ các khoản do chiết khấu thươngmại, giam giá hàng bán,hàng bị trả lại, và các loại thuế Nó ảnh hưởngđến lợi nhuận của doanh nghiệp và cho biết khả năng trả nợ của doanhnghiệp đối với các khoản vay
Giá trị nộp ngân sách nhà nước : bao gồm các loại thuế và các khoản
nộp khác theo quy định của nhà nước trong năm báo cáo lấy theo sốthực đã nộp (không tính các khoản thuế xuất nhập khẩu, đóng bảohiểm xã hội, và bảo hiểm y tế, các khoản tiền phạt, phụ thu, kinh phícông đoàn)
Trang 7Bảng 1.1.Bảng chấm điểm theo quy mô doanh nghiệp
1.2.4.Bước 4 : Chấm điểm các chỉ tiêu tài chính
Các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam sử dụng 4 nhóm gồm 11 chỉtiêu để tiến hành chấm điểm, đó là :
Trang 8 Nhóm chỉ tiêu thanh khoản : Được dùng để đánh giá khả năng thanhtoán các khoản vay ngắn hạn của các doanh nghiệp trong tương laigần và khả năng thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn đã đến hạn.
Khả năng thanh toán ngắn hạn : Hệ số này cho biết mức độ các khoản nợngắn hạn có thể được trang trải bằng tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn,được biểu thị bằng số lần, cho thấy mối liên hệ giữa tài sản ngắn hạn đối với
nợ ngắn hạn để chỉ ra sự an toàn của những nhà tài trợ ngắn hạn
Khả năng thanh toán ngắn hạn = Tài sản lưu động
Nợ ngắn hạn
Tuỳ thuộc vào từng ngành kinh doanh và từng thời kì kinh doanh, song chủ
nợ ngắn hạn sẽ tin tưởng nếu chỉ số này lớn hơn 2
Khả năng thanh toán nhanh : Hệ số này cho biết khả năng các khoản nợ
ngắn hạn có thể được trả bằng tài sản có tính thanh khoản cao không cần báncác tài sản tồn kho dự trữ
Nhóm chỉ tiêu hoạt động :Được dùng để đánh giá chất lượng sử dụng
và quản lý hàng tồn kho và nợ phải thu, tính thanh khoản của nhữngtài sản này góp phần đánh giá khả năng thanh toán nợ vay của cácdoanh nghiệp
Vòng quay hàng tồn kho : Được dùng để đo lường mối liên hệ giữa giá vốn
hàng bán và mức tồn kho của các loại thành phẩm, nguyên vật liệu Đây là
Trang 9chỉ tiêu quan trọng đánh giá tình hình sản xuất,phản ánh trình độ quản lý vốnlưu động của doanh nghiệp.
Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán
Hàng tồn kho bq
Nếu chỉ số này từ 9 trở lên là một dấu hiệu tốt về tình hình tiêu thụ và dự trữ
Kì thu tiền bình quân : Được dùng để đánh giá khả năng thu tiền trong thanh
toán trên cơ sở các khoản phải thu và doanh thu bình quân một ngày
Các khoản phải thu
Kì thu tiền bình quân = Doanh thu thuần
365
Giá trị của tý số này càng cao chứng tỏ hiệu quả thu hồi nợ của doanhnghiệp càng thấp và doanh nghiệp có thể sẽ gặp phải những khoản nợ khóđòi Thông thường 20 ngày là một chu kì thu tiền chấp nhận được (đươngnhiên số ngày này còn phải xem xét gắn với giá vốn và chính sách bán chịucủa doanh nghiệp)
Hệ số sử dụng tài sản : Nó cho thấy hiệu quả sử dụng toàn bộ các loại tài sản
của doanh nghiệp
Hệ số sử dụng tài sản = Doanh thu thuần
Tổng giá trị tài sản
Doanh thu thuần phản ánh số doanh thu bán hàng hoá, thành phẩm,dịch vụ đã trừ thuế và các khoản giảm trừ doanh thu của doanh nghiệp trong
kì báo cáo
Trang 10Tổng giá trị tài sản phản ánh tổng giá trị tài sản thuần hiện có củadoanh nghiệp trong kì báo cáo, bao gồm các loại tài sản lưu động và tài sản
cố định
Nhóm chỉ tiêu về đòn cân nợ : Đánh giá khả năng trả nợ vay của cácdoanh nghiệp, bao gồm cả vốn gốc và lãi vay
Hệ số nợ : Nó phản ánh cơ cấu đầu tư của doanh nghiệp và cho biết cứ một
đồng tài sản của doanh nghiệp thì có bao nhiêu đồng hình thành do đivay.Giá trị này càng cao thì mức độ rủi ro phá sản của doanh nghiệp cànglớn.Đối với các chủ nợ giá trị này thường được chấp nhận ở mức là 50%
Hệ số tự tài trợ : Phản ánh khả năng độc lập về tài chính, đảm bảo cho các
khoản nợ bằng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Đây là tỷ lệ giữa vốn vay
so với vốn chủ sở hữu tính ở thời điểm cuối kì Tỷ lệ này càng nhỏ thì giá trịvốn chủ sở hữu càng lớn, lại là nguồn vốn không phải hoàn trả, điều đó cónghĩa khả năng tài chính của doanh nghiệp càng tốt, tuy nhiên tỷ lệ này càngcao thì có một khả năng lớn là doanh nghiệp không thể trả được các khoản
nợ theo những điều kiện tài chính thắt chặt hoặc có sự kém cỏi trong khâuquản lý.Tuỳ theo hệ thống tài chính mà người ta sử dụng chỉ số này làm giớihạn ràng buộc cấp tín dụng của ngân hàng đối với doanh nghiệp (chẳng hạntheo Điều 11 nghị định số 59/CP thì chỉ số này được quy định tối đa bằng 1)
Nợ quá hạn / Tổng dư nợ ngân hàng : Thể hiện việc hoàn trả vốn vay ngân
hàng của doanh nghiệp, qua đó thể hiện thái độ hợp tác của doanh nghiệpcũng như sự lành mạnh về tài chinh của ngân hàng
Nhóm các chỉ số về doanh lợi : Đánh giá mức độ an toàn của cáckhoản tín dụng thông qua xem xét sức cạnh tranh của doanh nghiệp,doanh nghiệp co vững mạnh ặn định hay ko
Trang 11Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm : Phản ánh số lợi nhuận trước thuế trên một
đồng doanh thu, từ đó có thể đánh giá khả năng sinh lời nhằm tăng doanhthu
Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm = Lợi nhuận ròng x100
Doanh thu tiêu thụ
Chỉ số này được đánh giá là tốt nếu nó đạt từ 5% trở lên (đương nhiên cònphải xem xét tới chỉ số vòng quay của vốn để sao cho chỉ số lợi nhuận trênvốn là tốt nhất)
Hệ số sinh lời trên tổng tài sản(ROA) : Đánh giá khả năng sinh lời khi bỏ ra
Hệ số sinh lời trên vốn chủ sở hữu(ROE) : Cho biết khả năng sinh lời của
vốn chủ sở hữu nhưng đối với ngân hàng thì ROE cao chưa chắc đã tốt vìđiêu đó có nghĩa là vốn bỏ vào sản xuất kinh doanh chủ yếu là vốn vay, lợinhuận cũng chủ yếu từ vốn vay mà ra, đồng thời rủi ro của các chủ nợ cũngtăng l
ROE =Tổng thu nhập trước thuế
Vốn chủ sở hữu
ính điểm cho các chỉ tiêu tai chính : Tổng số điểm = Tổng(điểm tỷ số x trọngsố)
Trang 13trên VCSH
Bảng 1.2.Bảng chấm điểm các chỉ tiêu tài chính
1.1.5.Bước 5 : So sánh với bảng xếp loại
Tổng số điểm tối đa của một doanh nghiệp là 135, tổng số điểm tối thiểu la
1 Doanh nghiệp hoạt động tốt, kinh doanh có hiệu quả.aRủi ro thấp
2 Doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả, có tiềm năng phát triển
3 Doanh nghiep kinh doanh hiệu quả, co tiềm năng phát triên,song có hạn chế về nguồn lực tài chính và có nguy cơ tiềm ẩn.Rủi ro thấp
4 Doanh nghiệp kinh doanh chưa hiệu quả, khả năng tự chủ về tài chính thấp,co nguy cơ tiềm ẩn.Rủi ro trung bình
5 Hiệu quả kinh doanh thấp, tài chính yếu kém, thiếu khả năng tự chủ
về tài chính.Rủi ro cao
6 Doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ kéo dài, tình hình tài chính yếu,cónguy cơ phá sản Rủi ro rất cao
Trang 14Bảng 1.3.Bảng xếp loại doanh nghiệp
1.1.6.Bước 6 : Lấy kết quả, đưa ra nhận xét -đánh giá- va kiến nghi
Sau khi nhập đầy đủ các thông tin của khách hàng, máy tính sẽ cho cáckết quả xếp loại, các nhân viên tín dụng sẽ xem xét lại toàn bộ các bướctrong quá trình phân tích, xếp loại và so sánh, đối chiếu với các doanhnghiệp khác để đưa ra các kết luận.Từ đó sẽ có những nhận xét, đánh giá vềcác chỉ tiêu tài chính và đưa ra một số kiến nghị
Cuối cùng là duyệt và quyết định xếp loại doanh nghiệp
1.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp
1.3.1.Trình độ đội ngũ cán bộ tín dụng của ngân hàng
Cán bộ tín dụng là người trực tiếp thực hiện các bước hay một số bướccủa quy trình chấm điểm tín dụng như thu thập hồ sơ, phân loại và xác địnhquy mô của doanh nghiệp ,do đó nhận thức về tầm quan trọng của công tácnày, cũng như trình độ của cán bộ tín dụng là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đếnchất lượng công tác chấm điểm và xếp loại
Xuất phát từ sự quan tâm đến công tác này của ban lãnh đạo các ngânhàng thương mại,theo đó là sự nhận thức về tầm quan trọng của công tác nàycủa cán bộ chuyên trách đảm nhận việc chấm điểm tín dụng sẽ quyết địnhđến chất lượng nguồn thông tin thu thập, đến độ chính xác,tin cậy của cácbước tiếp theo trong qua trình phân tích, chấm điểm và thái độ cẩn trọng vàkhách quan khi đánh giá nhận xét cũng hết sức quan trọng
Ngoài ra, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của các cán bộ tín dụng cũng làyếu tố ảnh hưởng lớn đến chất lượng công tác chấm điểm tín dụng và xếphạng doanh nghiệp.Cán bộ tín dụng đã được đào tạo về chuyên môn nghiệp
vụ sẽ thực hiện chuyên nghiệp hơn, có độ tin cậy cao hơn các cán bộ tín
Trang 15dụng chưa được đào tạo về nghiệp vụ.Đồng thời cán bộ tín dụng có trình độcao sẽ có phương pháp phân loại thông tin, sử dụng thông tin để phân tích cóhiệu quả hơn bảo đảm tính chính xác cũng như độ tin cậy cao hơn trong cảquá trình chấm điểm tín dụng lẫn xếp hạng doanh nghiệp.
1.3.2.Chất lượng thông tin
Thông tin là nguồn đầu vào quan trọng và mang tính quyết định cho quátrình chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp.Vì vậy chất lượng thông tinthu thập được luôn là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến quá trìnhchấm điểm, xếp hạng.Do đó thông tin để chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanhnghiệp phải trung thực và có độ tin cậy cao.Nếu sai sót ngay từ thông tin đầuvào thì việc chấm điểm sẽ đưa ra những kết quả sai lệch, không đúng vớithực tế, dẫn đến việc đánh giá thiếu chính xác và đưa ra những quyết địnhsai lầm ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng.Vì vậy ngân hàng phải lựachọn những số liệu nào có thể đưa vào phân tích được với phương châm làphải trung thực, tin cậy và phù hợp với những tiêu chí trong mô hình chấmđiếm tín dụng và xếp loại doanh nghiệp
Ngoài ra chất lượng thông tin thu thập được phụ thuộc vào một số yếu
tố như :
Nguồn thu thập thông tin : thông tin được thu thập từ nhiều nguồnkhác nhau như hồ sơ vay vốn của khách hàng bao gồm các bảng cânđối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiềntệ Những thông tin này đều do các doanh nghiệp cung cấp cho ngânhàng nên hoàn toàn mang tính chủ quan nếu chưa được kiểm toán vànhiều khi doanh nghiệp không phản ánh trung thực tình hình tài chínhcủa mình.Các cán bộ tín dụng cũng có thể thu thập thông tin được lưutrữ tại ngân hàng.Những thông tin này sẽ có độ tin cậy cao vì do bảnthân ngân hàng phân tích và lưu trữ liên tục qua nhiều năm, nhất là
Trang 16đối với những khách hàng truyền thống.Những nguồn thông tin khácnhau sẽ có độ trung thực và tin cậy khác nhau, do đó sẽ ảnh hưởngđến quá trình chấm điểm và xếp hạng tín dụng.Vì vậy, các cán bộ tíndụng phải biết so sánh, đối chiếu nhiều thông tin khac nhau để chắtlọc những thông tin chính xác và hiệu quả.
Số lượng và chất lượng thông tin thu thập được : không hoàn toànchính xác nhưng nếu số liệu thông tin thu thập càng đầy đủ thì chấtlượng thông tin sẽ chính xác hơn
1.3.3.Cơ sở vật chất và pháp lý được sử dụng trong quá trình chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp.
Các văn bản pháp quy hướng dẫn cho công tác chấm điểm tíndụng:việc xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý phù hợp với thực tiễncuộc sống là tiền đề cơ bản nhất cho việc triển khai ứng dụng công tác chấmđiểm tuyển dụng và xếp hạng doanh nghiệp.Để mô hình đạt được chất lượngcao,được triển khai rộng rãi và thống nhất đông bộ trong toàn hệ thống ngânhàng thương mại thì việc có những văn bản pháp quy ban hành hướng dẫn
cụ thể quy trình, điều kiện ứng dung, phương pháp triển khai công tác chấmđiểm tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp là cần thiết Điều này sẽ quyết địnhđến việc mô hình này có được thực hiện một cách hoàn chỉnh, mang lại hiệuquả thiết thực, tiết kiệm thời gian hay không , mang tính bắt buộc hay chỉ ;àtuỳ theo điều kiện của từng ngân hàng
Ngoài ra, cần phải xét đến cơ sở vật chất công nghệ thông tin ứngdụng trong mô hình chấm điểm và xếp hạng.Chất lượng công tác chấm điểmkhông thể cao khi mà mô hình này vẫn được tiến hành thủ công tuỳ theotrình độ đánh giá chủ quan của cán bộ tín dụng.Nếu công tác này được tiếnhành theo quy trình trên phần mềm chấm điểm và xếp hạng thì chất lượngthu được sẽ cao hơn và kết quả sẽ co độ tin cậy lớn hơn
Trang 17Như vậy chất lượng mô hình chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanhnghiệp phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau, có nhân tố xuất phát từ pháichủ quan của ngân hàng, có nhân tố xuất phát từ phía khách quan và mức độảnh hưởng của nhân tố này cũng khác nhau.Việc nghiên cứu những nhân tốnày giúp ngân hàng có những điều chỉnh hợp lý để mô hình hoạt động cóhiệu quả, thu được những kết quả tin cậy, từ đó sẽ đưa ra những quyết địnhhợp lý đem lại lợi ích cho ngân hàng.
Tóm lại, chương 1 đã trình bày những vấn đề chung, cơ bản của mô hìnhchấm điểm tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp.Phân tiếp theo sẽ tìm hiểu vềngân hàng ngoài quốc doanh (VPBANK) và công tác thực hiện mô hình này
Chương 2 :Thực trạng chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanh
nghiệp tại ngân hàng ngoài quốc doanh việt nam
2.1.Tổng quan về ngân hàng ngoài quốc doanh Việt Nam
2.1.1.Lịch sử hình thành và phát triển của VPBank
Ngân hàng ngoài quốc doanh Việt Nam, tên viết tắt là VPBank, đượcthành lập theo giấy phép hoạt động số 0042/NH-GP của Thống đốc Ngânhàng nhà nước Việt Nam cấp ngày 12 tháng 8 năm 1993 với thời gian hoạtđộng là 99 năm Ngân hàng bắt đầu hoạt đông từ ngày 04/09/1993 theo giấyphép thành lập số 1535/QD-UB ngày 04/09/1993 và chính thức mở cửa giaodịch vào ngày 10/09/1993
Trang 18Theo quyết định thành lập số 1535/QD-UB ngày 04/09/1993 và theoquyết định sửu đổi điều lệ số 1099/QD-NHNN của Thống đốc Ngân hàngnhà nước Việt Nam ngày 8/09/2003 thì VPBank có :
Tên đầy đủ bằng tiếng Việt là : Ngân hàng thương mại cổ phần cácdoanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam
Tên viết tắt : Ngân hàng ngoài quốc doanh
Tên tiếng Anh : Vietnam join-Stock Commercial Bank for PrivateEnterprises
Tên giao dịch : VPBank
Các chức năng hoạt động chủ yếu của Vpbank là :
1 Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn, và dài hạn dươi các hình thứctiền gửi có kì hạn, không kì hạn; Tiếp nhận vốn uỷ thác đầu tư vàphát triển của các tổ chức trong và ngoài nước; Vay vốn của các tổchức tín dụng khác
2 Cho vay ngắn hạn, trung hạn, và dài hạn; Chiết khấu thương phiếu,trái phiếu, và các giấy tờ có giá.Hùn vốn và liên doanh theo quyđịnh
3 Thực hiện nhiệm vụ thanh toán giữa các khách hàng
4 Kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và thanh toán quốc tế.Huy động cácloại vốn từ nước ngoài và thực hiện các dịch vụ của ngân hànq cóliên quan đến nước ngoài khi được Ngân hàng nhà nước Việt Namcho phép
5 Hoạt động bao thanh toán
Vốn điều lệ khi mới thành lập là 20 tỷ VNĐ.Sau ddosdo nhu cầuphát triển, VPBank đã nhiều lần tăng vốn điều lệ Đến tháng 8/2006vốn điều lệ của VPBank đạt 500 tỷ VNĐ Tháng 9/2006 VPBank đạtđược sự chấp thuận của Ngân hàng nhà nước cho phép bán 10% cổ
Trang 19phần cho cổ đông chiến lược nước ngoài là ngân hàng OCBC- mộtngân hàng lớn nhất Singapore, theo đó vốn điều lệ được nâng lên trên
750 tỷ VNĐ Đến thang 7/2007 vốn điều lệ của VPBank tăng lên trên
1500 tỷ VNĐ Đến 31/12/2007 vốn điều lệ của VPBank chính thứctăng lên 2000 tỷ VNĐ
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, VPBank luôn chú ýđến việc mở rộng quy mô, tăng cường mạng lưới hoạt động tại cácthành phố lớn.Cuối năm 1993, Thống đốc Ngân hàng nhà nước chophép Vpbank mở chi nhánh ở Thành phố Hồ Chí Minh Thang 11/1994Vpbank được phép mở thêm chi nhánh Hải Phòng và tháng 7/1995được phép mở thêm chi nhánh Đà Nẵng Trong năm 2004 Ngân hàngnhà nước đã có văn bản chấp thuận cho VPbank mở thêm 3 chi nhánhmới đó là chi nhánh Hà Nội trên cơ sở tách bộ phận trực tiếp kinhdoanh trên địa bàn Hà Nội ra khỏi hội sở, chi nhành Huế, chi nhánh SàiGòn.Trong năm 2005 Vpbank tiếp tục được ngân hàng nhà nước chấpthuận cho mở một số chi nhánh nữa là Chi nhánh Cần Thơ; Chi nhánhQuảng Ninh; Chi nhánh Vĩnh Phúc; Chi nhánh Thanh Xuân; Chi nhánhThăng Long; Chi nhánh Tân Phú; Chi nhánh Cầu Giấy; Chi nhánh BắcGiang Cũng trong năm 2005 Ngân hàng Nhà nước đã chấp thuận choVpbank được nâng cấp một số phòng giao dịch thành chi nhánh đó làphòng giao dịch Cát Linh, phong giao dịch Trần Hưng Đạo, phòng giaodịch Hai Bà Trưng, phòng giao dịch Giảng Võ, phòng giao dịchChương Dương.Năm 2006 Vpbank tiếp tục được Ngân hàng Nhà nướccho phép mở thêm phòng giao dịch Hồ Gươm (đặt tại hội sở chính củangân hàng ) va phòng giao dich Bách Khoa, phòng giao dịch Đống Ba(trực thuộc chi nhánh Huế ), phòng giao dịch Vĩ Dạ, phòng giao dịchTràng An (trực thuộc chi nhánh Hà Nội ), phòng giao dịch Tân Bình
Trang 20(Chi nhánh Sài Gòn), phòng giao dịch Khánh Hội (chi nhanh Hồ ChíMinh ), phòng giao dich Cẩm Phả (chi nhánh Quảng Ninh), phòng giaodịch Phạm Văn Đồng (chi nhánh Thăng Long), phong giao dịch HưngLợi (chi nhánh Cần Thơ) Bên cạnh việc mở rộng mạng lưới giao dịchtrên đây, trong năm 2006 Vpbank cũng mở thêm hai công ty trực thuộc
là công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản; công ty Chứng khoán Cũngtrong năm 2006 Vpbank mở thêm chi nhánh mới ở Vinh (Nghệ An),Thanh Hoá, Nam Định, Nha Trang, Bình Dương, Đồng Nai, KiênGiang và các phòng giao dịch, nâng tổng số điểm giao dịch trên toàn bộ
hệ thống Vpbank lên 50 chi nhánh và phòng giao dich
Số lượng nhân viên trên toàn hệ thống đến nay có trên 2600người, trong đó phần lớn là các cán bộ, nhân viên có trình độ đại học
và trên đại học (chiếm 87%) Nhận thức được đội ngũ nhân viên chính
là sức mạnh của ngân hàng, giúp Vpbank sẵn sàng đương đầu vớicạnh tranh, nhất là trong giai đoạn đầy thách thức sắp tới khi mà ViệtNam đã gia nhập vào tố chức Thương mại Thế giới (WTO)
Ngày 31/12 Vpbank chinh thức nâng vốn điều lệ từ 1500 lên 2000
tỷ VNĐ.Đây là một trong những bước tiến quan trọng trong chiếnlược phát triển của Vpbank trong thời gian tới nhằm mở rộng quy mômạng lưới hoạt động, đầu tư công nghệ, cơ sở hạ tầng để có thể đưa
ra các sản phẩm, dich vụ mới, đáp ứng nhu cầu phục vụ khách hàngmột cách thuận tiện và hiệu quả hơn
2.1.2.Cơ cấu tổ chức và lĩnh vực hoạt động
Theo quyết định số 481/2002/QĐ-HĐQT có hiệu lực ngày19/07/2002 về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của các chinhánh Vpbank, thay thế quyết định số 299-2001/QĐ thì : Ngân hàng
Trang 21ngoài quốc doanh là một pháp nhân duy nhất, bao gồm :
Hội sở,các chi nhánh cấp I và các văn phòng đại diện
Các chi nhánh cấp II trực thuộc chi nhánh cấp I
Các chi nhánh cấp III trực thuộc chi nhánh cấp II
Các phòng giao dich trực thuộc chi nhánh
Trang 22
Cơ cấu tổ chức của vpbank
ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG
Trang 23Trong đó :
Đại hội cổ đông : giống như một công ty cổ phần, đại hội cổ đông
bao gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan có quyền quyết định cao nhất trong ngân hàng
Hội đồng quản trị : là cơ quan quản lý ngân hàng, có toàn quyền
nhân danh ngân hàng để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích,quyền lợi của ngân hàng, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội cổ đông
Hội đồng tín dụng và ban tín dụng : đều có nhiệm vụ xem xét, phê
duyệt các quyết định cấp tín dụng cho khách hàng với các giới hạn mứctín dụng khác nhau
Ban giám đốc : có nhiệm vụ trực tiếp tổ chức điều hành hoạt động
của toàn Ngân hàng,ra các quyết định liên quan đến việc kinh doanh và các chiến lược sản phẩm
Ban kiểm soát :có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong
quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong ghi chép sổ sách kế toán và báo cáo tài chính, thẩm định các báo cáo tài chính hàng năm của ngân hàng, báo cáo với hội động quản trị về kết quả hoạt động, tham khoả ý kiến của Hội động quản trị khi trình các báo cáo, kết luận và kiến nghị lên Đại hội cổ đông
Các chi nhánh cấp I, II và các phòng giao dịch trực thuộc là nơi trực tiếp tiến hành các hoạt động kinh doanh của ngân hàng.Cơ cấu mỗi phòng ban trong mỗi chi nhánh cấp I bao gồm : phòng kiểm tra kiểm toán nội bộ; phòng phục vụ khách hàng cá nhân (A/O cá nhân); phòng phục vụ khách hàng doanh nghiệp (A/O doanh nghiệp); phòng thẩm định tài sản đảm bảo; phòng giao dich kho quỹ; phòng kế toán ngân quỹ;phòng thu hồi nợ; phòng thanh toán quốc tế và kiều hối;phòng tổng hợp và quản lý hành chính
Trang 242.1.3.Tình hình hoạt động kinh doanh của VPBank Việt Nam.
2.1.3.1.Tình hình huy động vốn
Huy động vốn là một hoạt động được Vpbank rất chú trọng, với mục
tiêu bảo đảm vốn cho vay, an toàn thanh khoản và tăng nhanh tài khoản Có,
nâng cao vị thế của Vpbank trong hệ thống ngân hàng.Do đó trong các năm
qua, các hoạt động vốn từ khu vực dân cư cũng như từ khu vực liên ngaan
hàng đều được Vpbank khai thác triệt để
Việc cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn giữa các tổ chức tín dụng
trong những năm gần đây diễn ra vô cùng gay gắt.Đặc biệt trong năm 2005,
cuộc chạy đua tăng lãi suất giữa các ngân hàng thương mại diễn ra rất
mạnh.Năm 2006, mức độ cạnh tranh lãi suất giữa các ngân hàng không còn
sôi động như những năm trước, nhưng các ngân hàng lại tăng cường các
chiến dịch khuyến mãi với cơ cấu quà tặng phong phú, thậm chí có giá trị rất
lớn nhà ở, biệt thự, căn hộ chung cư cao cấp, ô tô Thêm vào đó sự phát
triển khá sôi động của thị trường chứng khoán cũng đồng thời làm chuyển
luồng vốn dân cư và doanh nghiệp vào đầu tư chứng khoán
Tình hình huy động vốn 2004-2007 của Vpbank
100 5638 001
100 9 065 194 100
Ngắn hạn 3 202
943
83 4 397 641
Mặc dù có những tác động trên, nguồn vốn huy động của Vpbank vẫn
tăng trưởng cao.Đó là nhờ chính sách lãi suất phù hợp, đa dạng hoá các sản
Trang 25phẩm huy động, cùng với các chương trình khuyến mãi với quà tặng hấp dẫn Mặt khác trong những năm gần đây, Vpbank đã tích cực mở rộng mạnglưới hoạt động đồng thời thương hiệu của ngân hàng cũng đã chiếm được vị trí vững chắc trong tiềm thức dân cư và các doanh nghiệp do vậy việc huy động vốn cũng trở nên thuận lợi hơn.Cuối năm 2006, nguồn vốn huy động đạt 9065 tỷ VNĐ, tăng gấp 7,5 lần cuối năm 2003, đặc biệt năm 2004 nguồnvốn tăng hơn gấp 3 lần so với cuối năm 2003.Bình quân giai đoạn 2004-
2006 nguồn vốn huy động của Vpbank đạt mức tăng trưởng 68%
2.1.3.2.Hoạt động tín dụng
Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa và liên tục tăng trưởng mạnh, những năm gần đây, Việt Nam được xem là một trong những nền kinh tế tăng trưởng cao hàng đầu thế giới.Nhu cầu vốn đầu tư tăng cao nên hoạt động tín dụng của các ngân hàng diễn ra khá sôi động
Trong thời gian từ 2004-2006, hoạt động tín dụng của Vpbank được giữ vững theo phương châm ‘bảo thủ’ Không cạnh tranh bằng cách nới lỏng cácđiều kiện tín dụng Tuy vậy nhờ có sự nỗ lực tiếp thị khách hàng của các đơn vị, nên tốc độ phát triển tín dụng vẫn đạt mức tăng trưởng tín dụng chung của toàn ngành ngân hàng
Doanh số cho vay toàn hệ thống năm 2006 đạt 6594 tỷ VNĐ, tăng 2681
tỷ (tương đương với 68%) so với năm 2005
Với chiến lược trở thành ngân hàng bán lẻ tốt nhất tại Việt Nam, Vpbank chú trọng vào các khách hàng là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh vừa và nhỏ, các cá nhân, hộ gia đình
Chất lượng tín dụng của Vpbank vẫn đảm bảo được yêu cầu ngân hàng nhà nước và quy chế của Vpbank Tỷ lệ nợ xấu (gồm các nhóm 3,4,5) của Vpbank cuối năm 2006 ở mức 0,58% tổng dư nợ, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ
nợ xấu chung của ngành ngân hàng Việt Nam (khoảng 7%)