Đề cương được trình bày cụ thể, rõ ràng, mục lục câu hỏi được bố trí ngay đầu trang một để thuận lợi theo rõi và tra cứu. Nội dung câu trả lời được tổng hợp dựa trên bài giảng của giảng viên cũng như các loại sách giáo trình, tài liệu tham khảo.
Trang 1NỘI DUNG ÔN TẬP MÔN: ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (PHẦN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM)
Câu 1: Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước và chuẩn bị thành lập Đảng 2 Câu 2: Đảng được thành lập và đường lối cách mạng của Đảng 4 Câu 3: Cao trào cách mạng 1930- 1931 8 Câu 4: Phong trào dân chủ 1936- 1939 Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc 1939- 1945 và cách mạng Tháng Tám 1945 .11 Câu 5: Củng cố giữ vững chính quyền cách mạng là nhiệm vụ trung tâm của cách mạng trong thời kỳ 1945- 1946 16 Câu 6: Đường lối khảng chiến chống Mỹ cứu nước 18 Câu 7: Căn cứ để Đảng đưa miền Bắc quả độ lên CNXH và đường lối cách mạng XHCN ở miền Đắc do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đề ra 23 Câu 8: Đại hội lần thứ IV của Đảng 25 Câu 9: Nhiệm vụ kinh tế - xã hội trong chặng đường đầu tiên do Đại hội V của Đảng (1982) đề ra 26 Câu 10: Đại hội lần thứ VI của Đảng 28 Câu 11: cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội do Đại hội lần thứ VII(6-1991) của Đảng đề ra: 33 Câu 12: Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Đảng 35 Câu 13: Nghị quyết Đại hội lần thứ IX, X, XI của Đảng .38 Câu 14: Một số bài học kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng trong hơn 80 năm qua 38
Trang 2Câu 1: Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước và chuẩn bị thành lập
Đảng
Người tìm đường cứu nước và tiếp thu chủ nghĩa Mác- Lênin: Điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan để lãnh tụ Nguyễn ái Quốc tiếp thu chủ nghĩa Mác- Lênin
Điều kiện khách quan:
- Yếu tố thời đại: Nguyễn Ái Quốc sinh ra và lớn lên trong thời đại có nhiều chuyển biến quan trọng Trong hành trình đi tìm đường cứu nước, Người đã
có mặt ở Châu Âu – trung tâm của những sự kiện lịch sử làm chấn động thế giới Được tiếp cận với những biến cố lớn của thời đại, trực tiếp tham gia vào những hoạt động sôi nổi, được nghiên cứu lý luận đã giúp Nguyễn Ái Quốc dần dần nhận thức được quy luật phát triển của lịch sử và chân lý của thời đại Đặc biệt luận cương của Lê nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa đã mở cánh cửa để Người đi đến với chủ nghĩa Mác – Lê nin và cách mạng vô sản
- Yếu tố dân tộc: Nguyễn Ái Quốc là người kế thừa một cách xuất sắc những giá trị truyền thống văn hóa đẹp của dân tộc Đó là truyền thống bất khuất, cần cù lao động, yêu hòa bình, trọng đạo lý mà nổi bật hơn cả là truyền thống yêu nước
Năm 1920 tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp với việc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và thành lập Đảng Cộng sản Pháp, Người khẳng định sự lựa chọn dứt khoát: Đứng hẳn về phía chủ nghĩa Mác – Lênin và quốc tế cộng sản Nhân tố chủ quan:
Sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, lớn lên trên quê hương giàu truyền thống đấu tranh bất khuất, lại được tiếp nhận sự giáo dục của gia đình theo
tư tưởng yêu nước, thương dân tất cả đã hình thành cho Nguyễn Ái Quốc lòng căm thù giặc pháp xâm lược và phong kiến tay sai, thông cảm với nổi khổ của nhân dân, ngày từ thời niên thiếu Tuy chịu ảnh hưởng tinh thần yêu nước của cha anh, nhưng bằng suy nghĩ độc lập, trí tuệ thiên tài đã tạo cho Người một chí hướng hoàn toàn khác với phong trào yêu nước đương thời Người sớm nhận thấy những hạn chế, sai lầm của các nhà cách mạng tiền bối nên đã chọn hướng đi sang Tây Âu vừa để xem xét tình hình trên thế giới, vừa tham gia lao động và đấu tranh trong hàng ngũ giai cấp công nhân và nhân dân lao động các nước để tìm đường cứu nước Đó là sự lựa chọn đúng đắn, sáng suốt, mang tầm vóc lịch sử Ngay từ thời còn trẻ người đã bộc lộ những phẩm chất giàu lòng nhân ái, ham hiểu biết , có hoài bão lớn, có chí cứu nước, những phẩm chất đó đã được
Trang 3rèn luyện và phát huy trong quá trình hoạt động cách mạng của Người Nhờ vậy, giữa nhiều học thuyết , quan điểm khác nhau, Người đã biết tìm hiểu, phân tích kết hợp lý luận với thực tiễn để tìm ra chân lý “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản”
Lãnh tụ Nguyễn ái Quốc chuẩn bị thành lập Đảng
- Về tư tưởng chính trị
Mùa hè năm 1923, từ Pháp sang Liên Xô, Người tham gia nhiều Đại hội quốc tế và học tập nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin Sau đó Người tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam thông qua những bài đăng trên báo Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân và đặc biệt là tác phẩm Bản
án chế độ Thực dân Pháp.Các bài giảng của Người được tập hợp trong tác phẩm Đường cách mệnh đề cập đến những vấn đề cơ bản của một cương lĩnh chính trị, chuẩn bị về tư tưởng, chính trị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Người nêu lên hệ thống các quan điểm về nội dung con đường cứu nước Người khẳng định muốn cứu nước, giải phóng dân tộc không còn con đường nào khác đó chính là con đường cách mạng vô sản Người rút ra kết luận chủ nghĩa đế quốc ở đâu cũng là thù, nhân dân lao động ở đâu cũng là bạn
Đảng lãnh đạo, Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu cho
cả dân tộc Việt Nam Đảng phải đoàn kết mọi lực lượng cách mạng để thực hiện nhiệm vụ cách mạng Người nói: “công nông là gốc cách mạng, là động lực của cách mạng, học trò nhà buôn là bạn đồng minh, Đảng phải thu phục đại đa số dân cày nghèo vào trong mặt trận dân tộc thống nhât rộng rãi chống đế quốc Đối với những phần tử chưa rõ mặt phản cách mạng, cần phải lôi kéo hoặc trung lập họ” Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, quần chúng phải được giác ngộ và
tổ chức thành đội ngũ
Phải sử dụng bạo lực cách mạng không theo con đường cải lương thỏa hiệp Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa có tính chủ động sáng tạo có thể giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới
- Tổ chức:
Với tư cách là đại diện của Quốc tế cộng sản, tháng 11-1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (TQ) Tháng 6-1925, Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên Từ năm 1925-1927, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã mở các lớp huấn luyện chính trị cho cán bộ cách mạng Việt Nam Hội đã xây dựng được nhiều cơ sở ở các trung tâm kinh tế, chính trị trong nước Năm 1928, Hội
Trang 4thực hiện chủ trương “vô sản hóa”, đưa hội viên vào nhà máy, hầm mỏ, đồn điền,
để rèn luyện lập trường, quan điểm giai cấp công nhân; để truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và lý luận giải phóng dân tộc nhằm thúc đẩy sự phát triển của phong trào cách mạng Việt Nam
Ngoài việc trực tiếp huấn luyện cán bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Nguyễn Ái Quốc còn lựa chọn những thanh niên Việt Nam ưu tú gửi đi học tại trường Đại học Phương Đông và trường Lục quân Hoàng Phố nhằm đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam Vai trò của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên: tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam, đào tạo đội ngũ cán bộ nòng cốt, tích cực chuẩn bị mọi mặt để chuẩn bị cho việc thành lập Đảng ở Việt Nam Sau phong trào vô sản hóa phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã có chuyển biến mới về chất những người yêu nước trở thành những người cộng sản, phong trào công nhân chuyển từ tự phát sang tự giác
Câu 2: Đảng được thành lập và đường lối cách mạng của Đảng
- Ngày 27-10-1929, Quốc tế Cộng sản gửi những người Cộng sản Đông Dương tài liệu: Về việc thành lập một Đảng Cộng sản Đông Dương Yêu cầu những người Cộng sản Đông Dương phải khắc phục ngay sự chia rẻ giữa các nhóm cộng sản và thành lập một Đảng của giai cấp vô sản Quốc tế Cộng sản chỉ
rõ phương thức để tiến tới thành lập Đảng là phải bắt đầu từ việc xây dựng các chi
bộ trong các nhà máy, xí nghiệp: chỉ rõ mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Đông Dương với phong trào cộng sản quốc tế
- Nguyễn Ái Quốc rời Xiêm đến Trung Quốc Người đã chủ động chủ trì Hội nghị hợp nhất Đảng, tại Hương Cảng, Trung Quốc Trong Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản (18-2-1930), Nguyễn Ái Quốc viế :“Chúng tôi họp vào ngày 6-
1 Các đại biểu trở về An Nam ngày 8-2” Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc
Trang 5lần thứ III Đảng Lao Động Việt Nam (10-9-1960) quyết định lấy ngày 3-2 dương lịch hằng năm làm ngày thành lập Đảng
+ Thành phần Hội nghị hợp nhất gồm: 1 đại biểu Quốc tế Cộng sản; 2 đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng; 2 đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng Hội nghị thảo luận đề nghị của Nguyễn Ái Quốc gồm 5 điểm lớn với nội dung:
1 Bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm cộng sản ở Đông Dương
2 Định tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam
3 Thảo Chính cương và Điều lệ sơ lược của Đảng
4 Định kế hoạch thực hiện việc thống nhất trong nước
5 Cử một Ban chấp hành Trung ương lâm thời gồm chín người, trong đó
có hai đại biểu chi bộ cộng sản Trung Quốc ở Đông Dương, do đồng chí Trịnh Đình Cửu đứng đầu; đồng thời thành lập 3 xứ ủy: Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ + Hội nghị nhất trí với năm điểm lớn theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc và quyết định hợp nhất các tổ chức cộng sản, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam + Hội nghị thảo luận và thông qua các văn kiện: Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Ngày 24-2-1930, theo yêu cầu của Đông Dương Cộng sản Liên Đoàn Ban Chấp hành Trung ương Lâm thời họp và ra Nghị quyết chấp nhận Đông Dương Cộng sản Liên Đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam Như vậy, đến ngày 24-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoàn tất việc hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam
Hội nghị thành lập Đảng được coi như là một Đại hội thành lập Đảng
Nội dung cơ bản của Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt (Cương lĩnh đầu tiên của của Đảng)
Các văn kiện thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng bao gồm: Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng đã hợp thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam Cương lĩnh xác định các vấn đề của cách mạng Việt Nam bao gồm:
- Phương hướng chiến lược của cách mạng Việt nam là: “Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” Đảng chủ trương, cách mạng Việt Nam sẽ tiến thẳng lên xã hội cộng sản, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa vì đây là con đường phù hợp với xu thế phát triển của
Trang 6thời đại và phù hợp với nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân lao động
- Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng + Về chính trị: đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến; làm cho nước Việt nam hoàn toàn độc lập; lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông
+ Về kinh tế: Thủ tiêu các thứ Quốc trái; tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn như công nghiệp, vận tải, ngân hàng, của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho chính phủ công nông binh quản lý; tịch thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang công nghiệp và nông nghiệp; thi hành luật ngày làm 8 giờ
+ Về văn hóa - xã hội: dân chúng được tự do tổ chức, nam nữ bình quyền; phổ thông giáo dục theo công nông hóa
- Về lực lượng cách mạng: Động lực chính của cách mạng Việt Nam là
sự liên minh giữa giai cấp công nhân và nông dân, do giai cấp công nhân làm lãnh đạo; đồng thời phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, thanh niên để kéo họ vào đứng trong hàng ngũ của giai cấp vô sản Đối với phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng thì phải đánh đổ
- Về mặt lãnh đạo cách mạng: giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam Đồng thời cách mạng Việt Nam muốn thắng lợi phải có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, phải tập trung công tác xây dựng Đảng; phải thu phục cho được đại bộ phận của giai cấp mình, trong khi liên lạc với các giai cấp phải cẩn thận, không khi nào nhượng bộ một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào thỏa hiệp
- Về quan hệ của cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới: cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, phải liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản pháp
- Ngoài ra Cương lĩnh chính trị còn bàn về phương pháp cách mạng: phải sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng để đánh đổ ách thống trị của bọn
đế quốc phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân
Trang 7Thực tiễn quá trình vận động của cách mạng Việt Nam trong gần 80 năm qua đã chứng minh rõ tính khoa học và tính cách mạng, tính đúng đắn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
Ý nghĩa lịch sử sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên:(nếu còn thời gian thì bác viết phần này nhé; không còn thì bỏ cũng được ạ)
- Đối với giai cấp công nhân và phong trào công nhân: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác –Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam Điều đó nói lên quy luật ra đời của Đảng Cộng sản và chứng tỏ giai cấp công nhân mà đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam đã trưởng thành và có đủ yếu tố cơ bản nhất để đảm nhận vai trò lãnh đạo đối với cách mạng Việt Nam Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã đánh dấu bước phát triển về chất của phong trào công nhân Việt Nam
- Đối với cách mạng Việt Nam: Ngay từ khi ra đời, Đảng đã có Cương lĩnh chính trị đúng đắn, chính là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam vừa ra đời đã nắm bắt được ngọn cờ lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam; giải quyết được tình trạng khủng hoảng về đường lối cách mạng, về giai cấp lãnh đạo cách mạng diễn ra đầu thế kỉ XX; mở ra con đường và phương hướng phát triển mới của đất nước Việt Nam
- Đối với dân tộc Việt Nam: Đảng ra đời đã khẳng định dứt khoát con đường đi lên của dân tộc Việt Nam là con đường cách mạng vô sản Đó là sự lựa chọn của chính nhân dân Việt Nam, chính lịch sử dân tộc Việt Nam trong quá trình tìm ra con đường giải phóng dân tộc Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
và Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã đề ra đường lối chính trị toàn diện với mục tiêu và phương pháp đấu tranh thích hợp, giải quyết triệt để những mâu thuẫn cơ bản của xã hội, đồng thời có được tổ chức Đảng cách mạng để lãnh đạo và tổ chức phong trào cách mạng
- Đối với cách mạng thế giới: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và việc Đảng chủ trương cách mạng Việt Nam là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới, đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại làm nên những thắng lợi vẻ vang Đồng thời cách mạng Việt Nam cũng góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Trang 8Câu 3: Cao trào cách mạng 1930- 1931
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lâm thời tháng 10/1930
Từ ngày 14 đến ngày 30-10-1930, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương họp lần thứ nhất tại Hương Cảng (Trung Quốc) do đồng chí Trần Phú chủ trì Hội nghị
đã thông qua Nghị quyết về tình hình cần kíp của Đảng; thảo luận Luận cương chính trị của Đảng, Điều lệ Đảng và điều lệ các tổ chức quần chúng
Thực hiện chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, Hội nghị quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương Hội nghị cử ra Ban Chấp hành Trung ương chính thức và cử đồng chí Trần Phú làm Tổng Bí thư
- Nội dung của Luận cương chính trị tháng 10-1930: phân tích đặc điểm, tình hình xã hội thuộc địa nửa phong kiến và nêu lên những vấn đề cơ bản của cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương do giai cấp công nhân lãnh đạo
- Luận cương chỉ rõ: mâu thuẫn cơ bản trong lòng xã hội Đông Dương
đó là mâu thuẫn giai cấp, đặc biệt là mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến và tư bản đế quốc
- Luận cương vạch ra phương hướng chiến lược của cách mạng Đông Dương là: “Tư sản dân quyền cách mạng là thời kì dự bị để làm xã hội cách mạng” Sau khi làm cách mạng tư sản dân quyền sẽ tiếp tục “phát triển bỏ qua thời kỳ tư bản mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa”
- Luận cương khẳng định nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền là: đánh đổ phong kiến, thực hiện cách mạng ruộng đất triệt để và đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập Trung ương thấy rõ hai nhiệm vụ đánh đổ đế quốc và phong kiến phải liên hệ mật thiết với nhau, nhưng lại cho rằng hai nhiệm vụ này phải thực hiện “nhất loạt ngang nhau” và xác định :
“Vấn đề thổ địa là cái cốt cách của cách mạng tư sản dân quyền”
- Về lực lượng cách mạng: giai cấp công nhân là lực lượng lãnh đạo và giai cấp nông dân là động lực của cách mạng, hai giai cấp này liên minh mật thiết với nhau Tuy nhiên, luận cương đã đánh giá không đúng về những lực lượng khác, không thấy được mặt tích cực và cách mạng của nó: Tư sản thương nghiệp thì đứng về đế quốc, Tư sản công nghiệp theo quốc gia cải lương, Tiểu tư sản thủ công nghiệp thì do dự, Tiểu tư sản thương gia không tán thành cách mạng, các giai cấp này trở thành đối tượng của cách mạng cần đánh đổ
- Về phương pháp cách mạng: sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng, coi bạo lực cách mạng như một nghệ thuật (khi chưa có thời cơ vẫn phải
Trang 9tập hợp, giáo dục, giác ngộ quần chúng, đến khi thời cơ đến đưa quần chúng lên làm cách mạng) và phải thực hiện theo khuôn phép nhà binh
- Về quan hệ giữa cách mạng Đông Dương và cách mạng thế giới: cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng thế giới, phải liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản trên thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp
- Về vai trò lãnh đạo của Đảng: cách mạng Đông Dương muốn thắng lợi phải có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương
Ý nghĩa của Luận cương: Luận cương chính trị đã vạch ra được nhiều vấn đề căn bản của cách mạng Việt Nam mà Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt đã nêu ra
Hạn chế của Luận cương đó là: không nêu ra được mâu thuẫn chủ yếu của
xã hội Việt Nam là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và đế quốc Pháp, không đặt nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc lên hàng đầu, chưa đánh giá đúng vai trò cách mạng của các giai cấp tiểu tư sản, tư sản dân tộc mà cường điệu hóa những hạn chế của họ
Cao trào cách mạng 1930- 1931 và Xô Viết Nghệ Tĩnh
Trong những năm 1924-1929 Đế quốc Pháp tăng cường đầu tư , khai thác và bóc lột làm cho nền kinh tế vốn đã kiệt quệ nay càng kiệt quệ hơn Đời sống của nhân dân bị đe dọa, trong đó giai cấp công nhân và nông dân chịu thiệu tai họa nhất
Trước tình hình đó Đảng chủ trương “Phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng” Nhiệm vụ của Đảng là “Phải lấy những sự nhu yếu hằng ngày làm bước đầu mà dắt giai cấp
vô sản và dân cày ra chiến trường cách mạng để dự bị học về phía vũ trang bạo động sau này”
Cũng theo phương hướng đó, từ cuối năm 1929-1930 phong trào công nhân nổi lên mạnh mẽ Các cuộc đấu tranh của công nhân đồn điền Phú Riềng (2-1930), cuộc bãi công của 4.000 công nhân nhà máy sợi Nam Định kéo dài 3 tuần lễ, ngay sau đó là cuộc bãi công của công nhân nhà máy diêm Bến Thủy đòi tăng lương cải thiện điều kiện làm việc Ngoài các cuộc đấu tranh của công nhân còn có các cuộc đấu tranh của nông dân và các tầng lớp lao động khác như: cuộc biểu của nông dân Hà Nam, Thái Bình đòi giảm sưu thuế nổ ra trong tháng 4-1930
Phong trào công nhân bước đầu phát triển và thắng lợi, Đảng kêu gọi quần chúng tiếp tục đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm cho công nhân, giảm sưu, hoãn thế cho nông dân để thiết thực kỷ niệm ngày Quốc tế lao động 1-5-1930
Trang 10Cuộc đấu tranh ngày 1-5 là một bước ngoặt đánh dấu phong trào đấu tranh của quần chúng phát triển thành cao trào cách mạng Từ thành thị đến nông thôn ở nhiều nơi trong cả nước treo cờ Đảng, dải truyền đơn, tổ chức mít tinh, biểu tình, tuần hành thị uy, khẩu hiệu đấu tranh đòi quyền lợi kinh tế đã kết hợp với khẩu hiệu chính trị Nhiều cuộc bãi công, biểu tình nổ ra từ các xí nghiệp công nghiệp ở thành thị đến các vùng nông thôn ở nhiều tỉnh trong cả nước
Tháng 9-1930, cao trào tiếp tục phát triển lên đỉnh cao Tại Hưng Nguyên, hơn 8000 nông dân đã liên kết với nông dân Nam Đàn tổ chức cuộc biểu tình lớn
để ủng hộ cuộc bãi công của công nhân Bến Thủy, hưởng ứng những cuộc đấu tranh của nông dân các tỉnh bạn Đoàn biểu tình đã xếp hàng dài hơn 1km kéo đến thành phố Vinh, dẫn đầu là những người cầm cờ đỏ Dòng người ngày một đông thêm, tới gần Vinh, đoàn đã đông tới 30 nghìn người, xếp thành hàng dài gần 4km
Thực dân Pháp dùng 5 máy bay dội bom, xả súng liên thanh vào đoàn biểu tình làm cho 174 người chết, khi dân làng tổ chức đưa tang những người bị hại, thực dân Pháp lại cho máy bay ném bom, làm chết thêm 43 người nữa Chỉ trong
2 ngày 12 và 13/9, thực dân Pháp đã giết hại 217 người, làm bị thương 125 người, đốt 277 nóc nhà Hai làng Lộc Châu và Lộc Hải bị triệt hạ hoàn toàn
Mặc dù thực dân Pháp đàn áp hết sức dã man, phong trào đấu tranh của nhân dân Nghệ - Tĩnh vẫn tiếp tục dâng cao, phát triển thành cuộc đấu tranh vũ trang, làm sụp đổ và tan rã hàng mảng chính quyền của đế quốc và phong kiến Suốt tháng 9 và 10/1930, ở các huyện Thanh Chương, Diễn Châu (Nghệ An), Hương Sơn (Hà Tĩnh), nông dân đã khởi nghĩa vũ trang, kéo đến phá huyện lỵ, nhà giam, nhà ga xe lửa, cắt dây điện tín, phá Đồn điền của thực dân Pháp công nhân Vinh – Bến Thủy bãi công suốt trong hai tháng để ủng hộ phong trào nông dân và phản đối chính sách khủng bố của địch
Chính quyền địch đã tan ra ở nhiều địa phương, các tổ chức Đảng, Nông hội
đỏ đã lãnh đạo quần chúng nhân dân thực hiện quyền làm chủ, tự đứng ra quản lý đời sống của mình, làm nhiệm vụ chính quyền nhân dân theo hình thức Xô viết Lần đầu tiên nhân dân ta thực sự nắm chính quyền ở địa phương – Xô viết
Nghệ- Tĩnh Chính quyền đã thực sự làm chức năng của chính quyền cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo Tuy chỉ tồn tại được 4- 5 tháng, nhưng Xô viết
Nghệ-Tĩnh đã tỏ rõ bản chất cách mạng và tính ưu việt của mìn Đó chính là chính quyền của dân, do dân và vì dân
- Ý nghĩa của phong trào cách mạng 1930 -1931:
Trang 11Đây là bước chuẩn bị đầu tiên cho thắng lợi của cách mạng tháng Tám vì: + Qua phong trào, giai cấp vô sản Việt Na, đảng cộng sản Đông Dương đã khẳng định được quyền lãnh đạo và năng lực lãnh đạo của mình Thực tiễn đã khẳng định tính đúng đắn của đường lối chiến lược mà Đảng đề ra
+ Qua phong trào, nông dân đã thể hiện lòng tin vào giai cấp công nhân, hình thành khối liên minh công nông vững chắc
+ Phong trào 1930-1931 mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh đã đem lại cho quần chúng nhân dân tin vào sức mạnh của mình, ở năng lực làm chủ đất nước và vận mệnh dân tộc
+ Trong quá trình đấu tranh đội ngũ cán bộ được thử thách và rèn luyện + Phong trào đã khẳng định sự trưởng thành của giai cấp công nhân Việt Nam, Đảng ta được công nhận là một chi bộ của Quốc tế cộng sản
Câu 4: Phong trào dân chủ 1936- 1939 Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc 1939- 1945 và cách mạng Tháng Tám 1945
Đảng chuyển hướng chỉ đạo nhiệm vụ chính trị và phong trào dân chủ 1936- 1939
Trong những năm 1936-1939, Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị lần thứ hai (7-1936) tại Thượng Hải (do Lê Hồng Phong chủ trì), Hội nghị lần thứ ba (3-1937), Hội nghị lần thứ tư (9-1937), Hội nghị lần thứ năm (3-1938) đã đề ra chủ trương và nhận thức mới của Đảng
- Chủ trương đấu tranh đòi quyền dân chủ, dân sinh
+ Ban Chấp hành Trung ương xác định cách mạng Đông Dương vẫn là
“cách mạng tư sản dân quyền- phản đế và điền địa- lập chính quyền công nông Sau khi phân tích tình hình và lực lượng cách mạng, Đảng nhận thấy lực lượng cách mạng nước ta chưa thể trực tiếp đánh đổThực dân Pháp, lập chính quyền công nông, giải quyết vấn đề điền địa Trong khi đó, yêu cầu cấp thiết là tự do, dân chủ, cải thiện đời sống, do đó cần phải phát động quần chúng đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ để đưa cách mạng tiến lên bước cao hơn sau này
+ Đảng cũng đã xác định kẻ thù của cách mạng là bọn phản động thuộc địa
và tay sai của nó
+ Nhiệm vụ trước mắt của cách mạng là chống phátxít, chống chiến tranh đế quốc, chống bọn phản động thuộc địa và bọn tay sai, đòi tự do, dân chủ, cơm áo
và hòa bình Để thực hiện những nhiệm vụ trước mắt này, Đảng quyết định thành
Trang 12lập mặt trận mới: Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương
+ Về đoàn kết quốc tế: Đoàn kết với giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản Pháp, ủng hộ Mặt trận Nhân dân Pháp, ủng hộ Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp
để cùng chống kẻ thù chung là phátxít và phản động thuộc địa ở Đông Dương + Về hình thức tổ chức và biện pháp đấu tranh: chuyển từ hình thức đấu tranh bí mật, không hợp pháp sang hình thức đấu tranh phong phú như: công khai
và nữa công khao, hợp pháp và nữa hợp pháp đòi quyền tự do,dân chủ, dân sinh
- Nhận thức mới của Đảng về mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc
và dân chủ
+ Trong văn kiện Chung quanh vấn đề chiến sách mới (10-1936) Đảng đưa
ra quan điểm mới : cách mạng giải phóng dân tộc không nhất định phải gắn với cách mạng ruộng đất, mà hai cuộc cách mạng này được liên tiếp giải quyết, nên phải chọn vấn đề nào quan trọng hơn mà giải quyết
+ Trong tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Đông Dương đối với thời cuộc đề cao nhiệm vụ của cách mạng Đông Dương lúc này là đòi các quyền tự do dân chủ + Tác phẩm Tự chỉ trích của đồng chí Nguyễn Văn Cừ (7-1939), nội dung của tác phẩm nhằm phân tích những vấn đề cơ bản về xây dựng Đảng, tổng kết kinh nghiệm cuộc vận động dân chủ của Đảng, nhất là đường lối xây dựng Mặt trận dân chủ Đông Dương Tác phẩm không chỉ có tác dụng lớn trong cuộc đấu tranh khắc phục những lệch lạc, sai lầm trong phong trào vận động dân chủ, tăng cường đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng, mà còn là một văn kiện lý luận quan trọng về công tác xây dựng, vận động quần chúng
Các chủ trương trên là đúng đắn, phù hợp với tình hình phản ánh đúng tư duy của Đảng cần phải đề cao giải quyết vấn đề dân chủ, từ đó Đảng đã chủ trương thay đổi tên mặt trận Phản đế Đông Dương thành lập mặt trận dân chủ Đông Dương
Trong những 1936-1939, bám sát tình hình thực tiễn, Đảng phát động được một cao trào cách mạng rộng lớn trên tất cả các mặt trận: chính trị, kinh tế, văn hóa tư tưởng với các hình thức đấu tranh phong phú và linh hoạt Qua cuộc vận dân chủ rộng lớn, uy tín và ảnh hưởng của Đảng được mở rộng và nâng cao trong quần chúng, chủ nghĩa Mác – Lênin và đường lối của Đảng được tuyên truyền rộng rãi trong khắp mọi tầng lớp nhân dân, tổ chức Đảng được cũng cố và mở rộng
Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc 1939- 1945
Trang 13- Đảng chuyển hướng chỉ đạo nhiệm vụ chiến lược ( Hội nghị BCH TW lâm thời 6, 7, 8)
Trước tình hình mới, Đảng chủ trương lui vào hoạt động bí mật, chuyển trọng tâm công tác về vùng nông thôn, đồng thời Đảng cho triệu tập liên tiếp 3 Hội nghị của BCHTW: Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (11-1939), Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (11-1940), Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5-1941) từ đó đề ra chủ trương chuyển hướng chiến lược mới
Nội dung chuyển hướng chỉ đạo chiến lược
+ Một là: Đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, xác định đó là nhiệm vụ cần kíp bức xúc nhất của cách mạng Đông Dương Xác định mâu thuẫn chủ yếu của nước ta đòi hỏi cần được giải quyết cấp bách là mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc, phátxít Pháp – Nhật Tạm gác khẩu hiệu “đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày” thay bằng khẩu hiệu “tịch thu ruộng đất của đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo” chia lại ruộng đất cho công bằng, giảm tô, giảm tức Giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước Đông Dương
+ Hai là: Quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) ở Việt Nam để đoàn kết, tập hợp lực lượng nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc
+ Ba là: Đảng quyết định xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân ta trong giai đoạn hiện tại Để đưa cuộc khởi nghĩa vũ trang đến thắng lợi, cần phải ra sức phát triển lực lượng cách mạng, bao gồm lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng và đào tạo cán
bộ đảng viên Chủ trương chuẩn bị lực lượng cách mạng sẵn sàng để có thể phát triển từ khởi nghĩa từng phần lên tổng khởi nghĩa Văn kiện ghi rõ: “Phải luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, nhằm vào cơ hội thuận tiện hơn cả mà đánh lại kẻ thù với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể giành thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn” (Văn kiện Đảng toàn tập)
Ngoài ra, Đảng còn chủ trương thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khi cách mạng thành công, quốc kỳ là lá cờ đỏ sao vàng năm cánh
Những chủ trương trên là hoàn toàn đúng đắn, phản ánh đúng yêu cầu thực tiễn lịch sử đang đặt ra, thể hiện sự trưởng thành của Đảng về tư duy lý luận, nhờđó những hạn chế trong Luận cương chính trị (10-1930) được khắc phục hoàn toàn, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam đã đi vào thực tiễn, mở đường cho cách mạng tháng 8-1945 sau này
Trang 14- Chỉ thị Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta của Ban Thường vụ Trung ương Đảng
Hoàn cảnh lịch sử:
+ Thế giới: Đầu năm 1945, Chiến tranh Thế giới đang bước vào giai đoạn kết thúc, các nước Đồng minh đang chuẩn bị tấn công tiêu diệt quân đội Nhật ở Đông Nam Á Phát xít Nhật lâm vào tình trạng nguy khốn
+ Trong nước: Đầu năm 1945, lực lượng cách mạng đã lớn mạnh, lực lượng chính trị: Mặt trận Việt Minh có khoảng 10 triệu người với khoảng 5000 đảng viên; lực lượng vũ trang: đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân Nạn đói đang hoành hành khắp nơi Hai kẻ thù Pháp – Nhật mâu thuẫn gay gắt, vì cả hai đều muốn tranh giành vị trí số 1 ở Đông Dương, hơn nữa Phát xít Nhật đang lâm vào tình trạng nguy khốn nên đã làm cuộc đảo chính Pháp vào đêm 9-3-1945 Sau một ngày Thực dân Pháp đã đầu hàng, chạy trốn sang Đông Bắc Trung Quốc
Thời cơ phát động phong trào kháng Nhật cứu nước
Trước tình hình trên, ngay đêm 9-3-1945, Ban thường vụ Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng ở làng Đình Bảng (Bắc Ninh) Ngày 12-3-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị: “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”
Nội dung:
+ Chỉ thị nhận định: Cuộc đảo chính của Nhật lật đổ Pháp ở Đông Dương đã tạo ra tình hình khủng hoảng chính trị sâu sắc Nhưng điều kiện khởi nghĩa chưa thực sự chín muồi Tuy vậy, hiện đang có nhiều cơ hội tốt để những điều kiện đó
đi đến chín muồi nhanh chóng Nhận định này có ý nghĩa rất quan trọng, chúng ta tránh được cuộc khởi nghĩa non, bảo toàn lực lượng cách mạng, tiếp tục chuẩn bị thêm cho tổng khởi nghĩa sau này
+ Chỉ thị xác định kẻ thù: Kẻ thù chính của nhân dân ta lúc này là phátxít Nhật Vì vậy, phải thay khẩu hiệu “đánh đuổi phát xít Nhật – Pháp” thành “Đánh đuổi phát xít Nhật giành chính quyền về tay nhân dân”
+ Chỉ thị chủ trương: Phát động một cao trào kháng Nhật, cứu nước mạnh
mẽ làm tiền đề cho Tổng khởi nghĩa (gọi là thởi kì tiền khởi nghĩa) Thực hiện những hình thức tuyên truyền và đấu tranh cao hơn, mạnh mẽ như tuyên truyền xung phong có vũ trang, biểu tình tuần hành thị uy, bãi công chính trị Tích cực xây dựng lực lượng vũ trang, thành lập căn cứ địa cách mạng, phát động du kích chiến tranh, khởi nghĩa bộ phận trên toàn quốc Có tác dụng khuếch trương thanh
Trang 15thế, uy tín của Việt Minh lên cao, làm cho kẻ thù hoang mang Kết hợp với nhiều hình thức, phương pháp đấu tranh như chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, mít tinh, biểu tình; tiến hành khởi nghĩa vũ trang từng phần, giành chính quyền từng bộ phận
+ Chỉ thị nêu rõ phương châm đấu tranh: phát động chiến tranh du kích, giải phóng từng vùng, mở rộng căn cứ địa
+ Chỉ thị dự kiến những điều kiện thuận lợi cho cuộc Tổng khởi nghĩa: có ba khả năng, thứ nhất là khi Liên Xô và các nước Đồng Minh tấn công tiêu diệt Nhật, Nhật phải mang quân ra chống đỡ, do đó sẽ có sơ hở ở phía sau, nhân cơ hội đó ta
sẽ giành chính quyền; thứ hai là khi Nhật đầu hàng Liên Xô và các nước Đồng Minh, thời cơ cách mạng càng thuận lợi; thứ ba là cũng có thể cách mạng Nhật bùng nổ, chính quyền cách mạng nhân dân Nhật thành lập, chính quyền phát xít bị tiêu diệt
Đánh giá:
Bản chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” thể hiện sự lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết, kịp thời của Đảng Đó là kim chỉ nam cho toàn Đảng và Việt Minh trong cao trào chống Nhật, trực tiếp dẫn đến thắng lợi của cách mạng tháng Tám
Hà Tĩnh, Quảng Nam đã giành chính quyền sớm nhất trong cả nước
+ Tại Hà Nội chiều ngày 15-8-1945 lệnh tổng khởi nghĩa đã về tới Hà Nội không khí chuẩn bị khởi nghĩa ở Hà Nội sục sôi Ngày 19-8 giành chính quyền ở Thủ đô Hà Nội Ngày 23-8 khởi nghĩa giành chính quyền ở Huế Ngày 25-8 quân Nhật ở Sài Gòn thất thủ Ngày 28-8 ta giành được chính quyền trong cả nước Ủy ban dân tộc giải phóng tuyên bố tự cải tổ thành Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
+ Chỉ trong vòng 15 ngày (từ 14 đến 28-8) cuộc Tổng khởi nghĩa đã thành công trên phạm vi cả nước, chính quyền về tay nhân dân
Trang 16+ Ngày 30-8: Vua Bảo Đại thoái vị, giao nộp ấn, kiếm, áo bào cho đại diện Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
+ Ngày 2-9: Tại quảng trương Ba Đình, Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời
Câu 5: Củng cố giữ vững chính quyền cách mạng là nhiệm vụ trung tâm của cách mạng trong thời kỳ 1945- 1946
Chủ trương của Đảng ( Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc của Ban thường vụ Trung ương Đảng)
Ngày 25-11-1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị Kháng chiến kiến quốc, vạch con đường đi lên cho cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới Nội dung:
- Về chỉ đạo chiến lược: Đảng xác định mục tiêu phải nêu cao của cách mạng Việt Nam lúc này tiếp tục cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ( vì Thực dân Pháp đã quay lại xâm lược nước ta và trên đất nước ta còn có rất nhiều kẻ thù ngoại bang) Khẩu hiệu lúc này là “Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết” Nhưng không phải giành độc lập mà giữ vững độc lập
- Về xác định kẻ thù: Đảng phân tích âm mưu của các nước đế quốc đối với Đông Dương và xác định kẻ thù chính của ta lúc này là Thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào Thực dân Pháp, đồng thời phải mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất chống Thực dân Pháp xâm lược
- Về phương hướng, nhiệm vụ: Đảng nêu lên bốn nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách cần khẩn trương thực hiện là:
+ Củng cố chính quyền
+ Chống Thực dân Pháp xâm lược
+ Bài trừ nội phản
+ Cải thiện đời sống nhân dân
Cả bốn nhiệm vụ trên có quan hệ mật thiết với nhau trong đó vấn đề giữ vững chính quyền là quan trọng nhất bởi chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng, có giữ vững được chính quyền thì mới có thể thực hiện được những nhiệm vụ còn lại
- Về sách lược: Đảng ta đề ra các chính sách trên tất cả các lĩnh vực:
Trang 17+ Chính trị: Cần xúc tiến việc bầu cử Quốc hội, để từ đó thành lập Chính phủ chính thức, chính quyền các cấp, hội đồng nhân dân các cấp, đồng thời lập hiến pháp, mở rộng mặt trận
+ Quân sự: Chú trọng xây dựng quân đội; đồng thời động viên lực lượng toàn dân, kiên trì kháng chiến chống Thực dân Pháp ở miền Nam, tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến lâu dài
+ Kinh tế: phát động toàn dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để diệt giặc đói, đồng thời kêu gọi nhân dân quyên góp tiền vàng để xây dựng đất nước + Văn hóa: Phát động phong trào diệt giặc dốt, bình dân học vụ
+ Ngoại giao: kiên trì nguyên tắc bình đẳng, tương trợ, thêm bạn bớt thù, thực hiện khẩu hiệu “Hoa-Việt thân thiện” đối với Tưởng Giới Thạch và tay sai của chúng; “Độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế” đối với Thực dân Pháp
Ý nghĩa: Chủ trương kháng chiến kiến quốc là chủ trương rất đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta, kịp thời giải quyết những vấn đề quan trọng về chỉ đạo chiến lược và sách lược cách mạng khôn khéo trong tình thế vô cùng hiểm nghèo của nước nhà
Giải pháp xây dựng, củng cố chính quyền
- Về chính trị: tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân chống thực dân Pháp xâm lược và xây dựng đất nước, củng cố chính quyền nhân dân bằng cách kiên quyết trừng trị bọn phản quốc, tiến hành tổng tuyển cử để bầu Quốc hội, lập Chính phủ chính thức và ban hành Hiến pháp; có thể cải tổ chính phủ trước khi bầu cử; sửa đổi cách làm việc của chính quyền nhân dân địa phương
- Về quân sự: động viên toàn dân kiên trì kháng chiến, tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến lâu dài, dùng lối đánh du kích cùng với phương pháp bất hợp tác triệt để của nhân dân ở vùng địch chiếm đóng, mở rộng chiến tranh du kích ở Campuchia và phát triển tuyên truyền vũ trang trên đất lào
- Về ngoại giao: kiên trì chủ trương ngoại giao với các nước theo nguyên tắc “bình đẳng tương trợ” Phương châm là “làm cho nước mình ít kẻ thù
và nhiều bạn đồng minh hơn hết” và “muốn ngoại giao được thắng lợi là phải biểu dương thực lực” Đối với Tưởng thì chủ trương Hoa –Việt thân thiện; đối với Pháp, độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế
- Về kinh tế và tài chính, mở lại các nhà máy do Nhật bỏ, khai thác mỏ, cho tư nhân được góp vốn vào việc kinh doanh các nhà máy và mỏ ấy, khuyến khích các giới công thương mở hợp tác xã, mở các hội cổ phần tham gia kiến thiết
Trang 18lại nước nhà Thực hiện khuyến nông, sửa chữa đê điều, lập ngân hàng, phát hành giấy bạc, định lại ngạch thuế, lập ngân quỹ toàn quốc, các xứ, các tỉnh Đẩy mạnh tăng gia sản xuất, chống nạn đói theo khẩu hiệu “Tấc đất tấc vàng”, “Nhường cơm
sẻ áo”, “Công việc cứu đói cũng như công việc đánh giặc”
- Về văn hóa: tổ chức bình dân học vụ, tích cực bài trừ nạn mù chữ, mở đại học và trung học, cải cách việc học theo tinh thần mới, bài trừ cách dạy nhồi
sọ, cổ động văn hóa cứu quốc, kiến thiết nền văn hóa mới theo nguyên tắc: khoa học hóa, đại chúng hóa, dân tộc hóa
- Trong tuyên truyền: tập trung mũi nhọn vào bọn thực dân Pháp xâm lược, chống chia rẽ, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc Trong tuyên truyền không đồng nhất bọn thực dân Pháp và nhân dân Pháp, không nói đánh cả Anh, Pháp, chỉ nói đánh thực dân pháp xâm lược
- Về Đảng và Mặt trận Việt Minh: phải duy trì hệ thống tổ chức bí mật
và công khai của Đảng, trong đó coi hoạt động bí mật là gốc Tích cực phát triển đảng viên, chú trọng các cơ sở trong xí nghiệp Mở rộng các tổ chức nghiên cứu chủ nghĩa Mác; giữ sinh hoạt Đảng đều đặn; thành lập đảng đoàn trong các cơ quan hành chính và các đoàn thể quần chúng; xây dựng hệ thống tổ chức Đảng trong quân đội Thống nhất các tổ chức cứu quốc trên toàn xứ và toàn quốc; mở rộng Mặt trận Việt Minh, lập các đoàn thể cứu quốc mới, giải quyết những mâu thuẫn giữa ủy ban nhân dân và ủy ban Việt Minh; củng cố quyền lãnh đạo của Đảng trong Mặt trận, thống nhất Mặt trận Việt Nam – Lào – Campuchia chống Pháp xâm lược
Câu 6: Đường lối khảng chiến chống Mỹ cứu nước
Kháng chiến chống Mỹ cứu nước là cuộc đụng đầu lịch sử
Nói cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là cuộc đụng đầu lịch sử vì: Trong bối cảnh lịch sử của cách mạng Việt Nam sau tháng 7-1954 cách mạng nước ta có được một số thuận lợi đó là sự lớn mạnh của hệ thống XHCN Liên Xô trở thành cường quốc, luôn giữ vai trò trụ cột trong hệ thống Các nước XHCN đã lập khối SEV nhằm đẩy mạnh quan hệ hợp tác giúp đỡ lẫn nhau để phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và xây dựng cơ sở vật chất cho công cuộc xây dựng CNXH, nâng cao đời sống cho nhân dân các nước thành viên
Sự lớn mạnh của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, sau 1954 có 31 nước ở Châu Á, Châu Phi đứng lên làm cách mạng, nhờ đó đã cổ vũ, động viên, khích lệ tinh thần đối với nhân dân ta
Trang 19Trong nước miền Bắc hoàn toàn giải phóng, làm căn cứ địa vững chắc cho
cả nước Thế lực của cách mạng đã lớn mạnh hơn sau 9 năm kháng chiến Toàn Đảng và toàn dân có ý chí độc lập thống nhất Tổ quốc, do đó Đảng lãnh đạo nhân dân ta nghiêm túc thi hành Hiệp định Giơnevơ: Tiến hành chuyển quân, tập kết ra Bắc; điều và lắng cán bộ miền Nam, nhằm hướng tới hiệp thương tổng tuyển cử trong cả nước vào 7-1956 Đồng thời tổ chức nhân dân tiếp quản các thành phố, thị xã đúng thời hạn
Tuy nhiên nước ta cũng gặp phải muôn vàn khó khăn đó là: sự lớn mạnh của nền kinh tế các nước TBCN, đặc biệt là Đế quốc Mỹ có tiềm lực lớn về kinh tế, quân sự hùng mạnh, luôn có âm mưu làm bá chủ toàn cầu với các chiến lược phản cách mạng Mỹ dùng sức mạnh kinh tế, quân sự can thiệp vào công việc nội bộ của nhiều nước (Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam) Đặc biệt nhờ nền công nghiệp phát triển Mỹ cho nghiên cứu và sản xuất các loại hóa chất độc hại (thuốc khai quang, da cam, đioxin ) đây chính là khó khăn lớn đối với cách mạng nước ta Thêm nữa có sự bất đồng trong hệ thống các nước XHCN trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, chủ yếu là bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc, điều này gây khó khăn không nhỏ cho cách mạng nước ta
Ở trong nước, một Đảng phải lãnh đạo hai cuộc cách mạng khác nhau ở hai miền đất nước có chế độ chính trị khác nhau nền gặp rất nhiều khó khăn Đế quốc
Mỹ can thiệp ngày càng thô bạo, thể hiện: Ngày 7-7-1954 9 ( trước khi kí Hiệp định Giơnevơ 3 ngày), Mỹ đưa Ngô Đình Diệm về nước xây dựng chế độ độc tài phát xít gia đình trị; từ đó Ngô Đình Diệm tập trung xây dựng quân đội, tiến hành các cuộc càn quét nhằm tiêu diệt lực lượng và cơ sở cách mạng miền Nam những hoạt động trên đều đi ngược lại với tinh thần của Hiệp định Giơ ne vơ và nhằm biến miền Nam Việt Nam thành quốc gia riêng, nguy cơ đất nước ta sẽ bị chia cắt lâu dài Đế quốc Mỹ trở thành kẻ thù trực tiếp của nhân dân ta
Tình hình trên đặt ra yêu cầu cấp thiết cho Đảng ta cần phải tìm ra con đường thích hợp để xây dựng và phát triển miền Bắc, đồng thời đề ra được đường lối để lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Nghị quyết 15 BCHTW Đảng khóa II (tháng 1 năm 1959)
Tháng 1-1959 Hội nghị Trung ương lần thứ 15 họp bàn về cách mạng miền Nam Hội nghị diễn ra trong hoàn cảnh lịch sử khó khăn vì sau khi kí Hiệp định Giơnevơ cho đến năm 1958, Đảng chủ trương lãnh đạo quân và dân ta nghiêm chỉnh thi hành các điều khoản của Hiệp định Trái lại, cả Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm tìm mọi cách phá bỏ Hiệp định, cự tuyệt hiệp thương tổng tuyển cử,