Là các thí nghiệm giáo viên giới thiệu một cách tương đối nhanh với học sinh chủ yếu về mặt định tính các hiện tượng, quá trình và các qui luật nghiên cứu, cấu tạo và hoạt động của một v[r]
Trang 1Phần I: THỰC TRẠNG CHUNG.
I ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN:
- Giáo viên đứng lớp trực tiếp giảng dạy môn vật lí phần lớn chưa có kinh nghiệm; vật lí chưa phải là chuyên ngành chính
- Sử dụng đồ dùng dạy học phục vụ cho các tiết dạy chưa được rèn luyện qua các trường lớp, phần lớn là do tự tìm hiểu, học hỏi thêm các giáo viên có kinh nghiệm
II ĐỐI VỚI HỌC SINH:
- Một số học sinh có tính tò mò, thích được tự tìm hiểu, khám phá
- Hầu hết các em thích được thực hành và quan sát các hiện tượng
- Bên cạnh đó đa số các em đều có tính ỷ lại, sợ hoặc là ngại khi phải tự mình làm thí nghiệm
- Học sinh chưa nắm được mục đích của thí nghiệm vì vậy các em chưa xác định được hiện tượng cơ bản cần nghiên cứu trong thí nghiệm đó là gì
- Tính tư duy độc lập, sáng tạo ở học sinh còn hạn chế
III ĐỐI VỚI THIẾT BỊ:
- Các bộ thiết bị thực hành dành cho các khối lớp đầy đủ Tuy nhiên:
- Độ chính xác chưa đảm bảo do đồ dùng bị hỏng và chất lượng của đồ dùng chưa đảm bảo
- Một số đồ dùng bị thất lạc, chưa sắp xếp theo khối lớp
- Đồ dùng vật lí vừa nằm ở phòng thiết bị tổng hợp vừa ở phòng thực hành Vật lí gây khó khăn cho quá trình chuẩn bị của giáo viên
IV CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN KHÁC:
- Thời gian dành cho mỗi tiết học chỉ 45 phút, trong khi đó một tiết Vật lí có từ hai thí nghiệm trở lên vì vậy việc phân phối thời gian gặp nhiều khó khăn
- Số lượng HS trong một lớp học nhiều, phòng học cũng như phòng thí nghiệm còn hẹp nên việc phân nhóm HS và bố trí thí nghiệm chưa hợp lí
Trên cơ sở nắm bắt thực trạng chung của hoạt động dạy và học thực hành Vật lí, chúng tôi nhận thấy công tác phát huy tính tư duy sáng tạo của học sinh trong môn Vật lí thông qua hoạt động thực hành là rất cần thiết Tuy nhiên cũng gặp rất nhiều khó khăn do tình hình chung của trường còn nhiều hạn chế như đã phân tích ở trên
Trang 2Phần II: MỤC TIÊU – YÊU CẦU THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ.
Chúng ta đang bước vào thế kỉ của sự bùng nổ về thông tin, khoa học kĩ thuật và công nghệ; đứng trước sự cạnh tranh gay gắt trên mọi lĩnh vực đòi hỏi nền giáo dục phải đào tạo ra những con người của thời đại mới: tích cực, chủ động, độc lập và sáng tạo Vì vậy, mục tiêu của giáo dục trong thời đại mới là: xây dựng những con người và thế hệ Việt Nam không những gắn bó với lí tưởng độc lập dân tộc và CNXH, … Mà còn biết phát huy tính tích cực cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức kỉ luật,…
Vật lí là một bộ môn khoa học thực nghiệm, tri thức được hình thành chủ yếu bằng các phương pháp quan sát, mô tả, thí nghiệm thực nghiệm,… do đó người dạy phải luôn đặt HS trước những tình huống cụ thể để các em có thể đề xuất những phương án hoạt động, những giả thiết nhằm giải quyết chúng một cách triệt để Qua đó giúp các em phát triển tính tư duy sáng tạo
Hiện nay SGK Vật lí 8 được viết với mục đích tổ chức cho HS hoạt động để tự lực nắm kiến thức và kĩ năng, mục tiêu của việc giảng dạy Vật lí 8 có những yêu cầu cao, các hoạt động nêu trong SGK đòi hỏi năng lực tư duy cũng như kĩ năng thao tác cao hơn Các hoạt động trả lời câu hỏi có yêu cầu khái quát cao, đòi hỏi HS phải dự đoán kết quả và tự thiết kế phương án thí nghiệm kiểm chứng được sử dụng nhiều hơn
Vì vậy việc phát huy tính tư duy sáng tạo của HS thông qua hoạt động thí nghiệm, thực hành trong môn Vật lí là rất quan trọng Đòi hỏi chúng ta phải có phương pháp phù hợp, có cách thức tổ chức khoa học, hợp lí đối với từng bài, từng đối tượng HS nhằm đem lại hiệu quả cao nhất
Trên cơ sở phân tích thực trạng chung của công tác dạy học Vật lí ở trường cũng như mục tiêu chung của bộ môn Vật lí lớp 8, chúng tôi mạnh dạn thực hiện chuyên đề “phát huy tính tư duy sáng tạo của hs thông qua hoạt động thí nghiệm thực hành trong môn Vật lí 8”
Phần III: NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ.
I THÍ NGHIỆM TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ
1 Các đặc điểm của thí nghiệm vật lí
Các điều kiện của thí nghiệm vật lí phải được lựa chọn và được thiết lập có chủ định sao cho thông qua thí nghiệm, có thể trả lời được câu hỏi đặt ra, có thể kiểm tra được giả thuyết hoặc hệ quả suy ra từ giả thuyết Mỗi thí nghiệm có 3 yếu tố cấu thành cần được xác định rõ: Đối tượng cần nghiên cứu, phương tiện gây tác động lên đối
Trang 3tượng cần nghiên cứu và phương tiện quan sát, đo đạc thu nhận các kết quả của sự tác động
Các thiết bị thí nghiệm có độ chính xác ở mức độ nhất định
Đảm bảo sự quan sát được của các đại lượng biến đổi trong khi tiến hành thí nghiệm
Có thể làm lại các thí nghiệm nhiều lần và đảm bảo kết quả thu tương đối giống nhau
2 Vai trò của thí nghiệm vật lí trong dạy học
Thí nghiệm vật lí là cơ sở để xây dựng, chứng minh kiến thức vật lí
Thí nghiệm vật lí (cho học sinh làm) có tác dụng bồi dưỡng cho học sinh phương pháp nghiên cứu vật lí, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, sử dụng các dụng cụ đo và các dụng
cụ thiết bị khác
Thí nghiệm vật lí có tác dụng bồi dưỡng cho học sinh kiến thức, kỹ năng kỹ thuật tổng hợp
Thí nghiệm vật lí có thể sử dụng như phương tiện để đề xuất vấn đề; để cho học sinh vận dụng, củng cố kiến thức, để kiểm tra kiến thức vật lí của học sinh
Thí nghiệm vật lí có tác dụng bồi dưỡng một số đức tính tốt cho học sinh (tính chính xác, tính trung thực, tính cẩn thận, tính kiên trì)
3 Các loại thí nghiệm trong dạy học vật lí
3.1 Thí nghiệm biểu diễn của giáo viên
Là các thí nghiệm giáo viên giới thiệu một cách tương đối nhanh với học sinh chủ yếu về mặt định tính các hiện tượng, quá trình và các qui luật nghiên cứu, cấu tạo và hoạt động của một vài dụng cụ và thiết bị kỹ thuật, những cái mà học sinh có thể cảm thụ được bằng mắt và tai
Thí nghiệm biểu diễn có thể phân ra thành 3 loại:
Thí nghiệm mở đầu: nhằm mục đích đề xuất vấn đề nghiên cứu (tạo tình huống)
Thí nghiệm nghiên cứu hiện tượng: nhằm mục đích xây dựng hoặc chứng minh kiến thức mới (kiểm tra - giải quyết vấn đề)
Trang 4 Thí nghiệm củng cố: cho học sinh vận dụng kiến thức đã học giải thích dự đoán hiện tượng, qua đó nắm vững kiến thức đã học
3.2 Thí nghiệm do học sinh thực hiện
a) Thí nghiệm trực diện đồng loạt của học sinh
Thí nghiệm do học sinh trực tiếp tiến hành đồng loạt chủ yếu là kiểm tra tính đúng đắn của các hệ quả lý thuyết Giúp cho học sinh hoàn thiện kiến thức đã học, rèn luyện
kỹ năng và thói quen khi sử dụng các dụng cụ
b) Thí nghiệm thực hành vật lí
Cũng được dùng vào mục đích như thí nghiệm trực diện Nhưng mức độ tự lực của học sinh ở đây cao hơn, họ áp dụng kiến thức vào những điều kiện mới Tạo khả năng ôn tập kiến thức đã học ở mức độ cao hơn, làm quen với các yếu tố tự lực nghiên cứu thực nghiệm
c) Các bài toán thực nghiệm
Các bài toán thực nghiệm đòi hỏi phải tìm tòi bằng thực nghiệm tự lực những số liệu khởi đầu để giải quyết về mặt lý thuyết các bài toán đó và kiểm tra tiếp theo bằng thực nghiệm tính đúng đắn của kết quả thu được
d) Thí nghiệm quan sát ở nhà
Thí nghiệm quan sát ở nhà là một loại bài tập thực hiện tự lực các thí nghiệm đơn giản nhất
Như vậy, theo hệ thống thí nghiệm nói trên, tất cả học sinh được làm quen dần với việc nghiên cứu các hiện tượng vật lí theo mục đích đã đề ra, làm quen dần với các thiết
bị kỹ thuật và phương pháp làm việc với nó
4 Phương pháp sử dụng thí nghiệm dạy học vật lí
4.1 Những yêu cầu chung về việc sử dụng thí nghiệm
Cần xác định rõ sơ đồ thí nghiệm và mục đích của thí nghiệm (dụng cụ thiết bị nào? trình tự thao tác như thế nào? cần quan sát, đo đạc cái gì? để làm gì?)
Thí nghiệm phải thành công, có kết quả rõ ràng
Mọi dụng cụ thiết bị và cách tiến hành thí nghiệm phải thỏa mãn những qui tắc và
kỹ thuật an toàn
Trang 54.2 Yêu cầu đối với thí nghiệm biểu diễn của giáo viên
Cần đảm bảo cho học sinh ý thức được sự cần thiết tiến hành thí nghiệm, mục đích thí nghiệm, phương án thí nghiệm và tham gia vào quá trình quan sát thí nghiệm, phân tích kết quả
Cần tiến hành thí nghiệm đúng lúc trong mối quan hệ hữu cơ với giảng bài và hướng dẫn học sinh học tập
Tạo điều kiện sao cho các phần căn bản, các chi tiết quan trọng của thiết bị dụng
cụ đều được học sinh trong lớp nhìn rõ Đảm bảo cho học sinh quan sát được rõ ràng các hiện tượng biểu diễn
Thí nghiệm phải ngắn gọn và đảm bảo thành công
4.3 Yêu cầu đối với thí nghiệm trực diện của học sinh
Có thể sử dụng thí nghiệm trực diện trong thời gian ngắn 5-10 phút nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình giáo viên giảng giải kiến thức mới
VD (Nghiên cứu hoạt động của một số dụng cụ nào đó: lực kế, biến trở, … hoặc xác định gần đúng một đại lượng vật lí như tiêu cự của thấu kính…) hoặc dùng kiểm nghiệm một qui luật nào đó
Công việc thí nghiệm cần được tiến hành đồng thời với cả lớp
Những chỉ dẫn của giáo viên trong tiến trình thí nghiệm là cần thiết
4.4 Yêu cầu đối với thí nghiệm thực hành của học sinh
Thí nghiệm thực hành khi học sinh đã có những kỹ năng thí nghiệm ban đầu và các thí nghiệm trực diện
Để làm thí nghiệm thực hành học sinh được chia thành từng nhóm từ 2-3 học sinh Mỗi nhóm nhận một bài riêng và bản hướng dẫn thực hiện Nội dung bản hướng dẫn bao gồm các điểm sau:
Đề tài thí nghiệm
Mô tả dụng cụ, thiết bị
Trình tự thao tác tiến hành thí nghiệm
Sơ đồ ghi các kết quả quan sát và phương pháp xử lý kết quả
Những câu hỏi phải hiểu sâu sắc thí nghiệm mới trả lời được và đôi khi có thể đề
ra thí nghiệm bổ sung
Nội dung cần viết báo cáo thí nghiệm
Trang 64.5 Các bài toán thí nghiệm
Trong các bài toán thí nghiệm, thí nghiệm cần được sử dụng như một trong những phương tiện quan trọng nhằm thu thập các số liệu cần thiết để giải, và như một phương tiện kiểm tra tính đúng đắn của các kết quả thu được bằng tính toán lý thuyết Học sinh luyện tập việc áp dụng những kiến thức đã có và những kỹ xảo thí nghiệm để giải quyết những vấn đề cụ thể có liên quan với thực hành
4.6 Thí nghiệm và quan sát ở nhà
Những thí nghiệm và quan sát tự lực được thực hiện theo nhiệm vụ mà giáo viên giao cho ở nhà hay ở các nhóm Những bài thí nghiệm này thường dùng các dụng cụ đơn giản thường có ở nhà như thước dây, cân, nhiệt kế y học,v.v…
II CÁC PHƯƠNG PHÁP:
- HS phải nghiên cứu kĩ nội dung bài học trước khi đến lớp
- Tìm hiểu các thí nghiệm, xác định được mục đích, yêu cầu của thí nghiệm trong từng mục, từng bài
- Nắm được các thao tác cơ bản của thí nghiệm, các kĩ năng sử dụng đồ dùng
- Xác định rõ những hiện tượng cơ bản cần quan sát, biết so so các hiện tượng để rút ra kết luận cần thiết
- Qua những hiện tượng cụ thể quan sát được từ thí nghiệm hs sử dụng các thao tác
tư duy như khái quát hoá, tương tự hoá, tổng quát hóa, dùng lập luận, ngôn ngữ của chính mình để phát biểu các quy tắc, định luật, các công thức vật lí
- Để các thí nghiệm vật lí do HS thực hành thành công thì cần phải tập huấn cho các nhóm HS kĩ năng tiến hành thí nghiệm, biết bỏ qua những hiện tượng hoặc những sai sót không cần thiết