MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN 4 1.1 Khái niệm và lịch sử hình thành các thành phần kinh tế 4 1.1.1 Khái niệm 4 1.1.1.1 Định nghĩa thành phần kinh tế 4 1.1.1.2 Các thành phần kinh tế của Việt Nam 4 1.2 Quan điểm của chủ nghĩa MácLênin về các thành phần kinh tế 6 1.2.1 Quan điểm của CN MácLênin về vấn đề tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH 6 1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển các thành phần kinh tế 7 1.2.3 Lịch sử hình thành và phát triển các thành phần kinh tế ở nước ta 8 1.3 Quan điểm và chủ trương của Đảng ta về phát triển các thành phần kinh tế từ đại hội VI. 10 1.4 Vấn đề phát triển kinh tế nhiều thành phần trong tình hình hiện nay tại Việt Nam. 11 1.4.1 Về kinh tế nhà nước 12 1.4.2 Kinh tế tập thể 12 1.4.3 Kinh tế tư nhân 12 1.4.4 Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 13 1.4.5 Kinh tế tư bản nhà nước. 13 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở TỈNH HẢI DƯƠNG GIAI ĐOẠN 20152020 15 2.1 Một số đặc điểm chung của tỉnh Hải Dương 15 2.1.1 Vị trí địa lý 15 2.1.2 Địa Hình 15 2.1.3 Khí hậu 15 2.2 Thực trạng phát triển kinh tế nhiều thành phần ở Hải Dương giai đoạn 20152020 16 2.2.1 Những kết quả đạt được 16 2.2.1.1 Thành phần kinh tế nhà nước 16 2.2.1.2 Thành phần kinh tế tập thể 17 2.2.1.3 Thành phần kinh tế tư nhân 18 2.2.1.4 Thành phần kinh tế tư bản nhà nước 19 2.2.1.5 Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 20 2.2.2 Những thành tựu của các thành phần kinh tế đóng góp cho sự phát triển kinh tế của tỉnh tỉnh Hải Dương giai đoạn 20152020 21 2.2.3 Những hạn chế yếu kém 24 2.2.4 Nguyên nhân và kết quả của những hạn chế yếu kém. 26 2.2.4.1 Nguyên nhân chủ quan 26 2.2.4.2 Nguyên nhân khách quan 28 2.3 Một số kinh nghiệm bước đầu 29 CHƯƠNG 3:GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở TỈNH HẢI DƯƠNG GIAI ĐOẠN 20202025 31 3.1 Bối cảnh và tình hình 31 3.1.1 Thuận lợi: 31 3.1.2 Khó khăn: 31 3.2 Phương hướng chung 31 3.3 Giải pháp 32 3.3.1 Nhận thức đúng về sự cần thiết tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Viêt Nam nói chung, ở tỉnh ta nói riêng. 33 3.3.2 Tạo hành lang pháp lý để phát huy tối đa sự phát triển của các thành phần kinh tế. 34 3.3.3 Thực hiện chế độ công khai, minh bạch đối với các thành phần kinh tế 34 3.3.4 Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho các thành phần kinh tế 35 3.3.5 Xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần xanh, phát triển bền vững 36 3.3.6 Tăng cường việc quản lý của nhà nước đối với các thành phần kinh tế 36 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 39 1. Kết luận 39 2. Kiến nghị 40 TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
Trang 1UBND TỈNH HẢI DƯƠNGTRƯỜNG CHÍNH TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY-THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Họ và tên: Nguyễn Ngọc Sơn
Lớp: Trung cấp LLCT-HC A167-K23
Chức vụ: Quản đốc phân xưởng
Đơn vị công tác: Công ty cổ phần Bia Hà Nội- Hải Dương Giáng viên hướng dẫn: ThS Bùi Quang Toản
Hải Dương, tháng 02 năm 2020
Trang 2DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮTSTT Từ viết tắt Từ viết đầy đủ
9 DNTN Doanh nghiệp tư nhân
10 DNNN Doanh nghiệp nhà nước
11 KVDNTN Khu vực doanh nghiệp tư nhân
12 CPH Cổ phần hóa
13 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
14 FTA Hiệp định thương mại tự do
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bước sang thế kỷ XXI, chúng ta đang đứng trước thời cơ mới nhânloại đang từng bước đi vào sử dụng tri thức cho phát triển và đang hình thànhnền kinh tế dựa vào tri thức, sử dụng nhanh và gần như trực tiếp các thành tựucủa khoa học công nghệ vào phục vụ sản xuất đời sống Đó là điều mà Các-Mác đã tiên đoán cách đây 150 năm về khả năng đưa khoa học trở thành lựclượng sản xuất trực tiếp Theo đánh giá của các nhà tương lai học, thế giớiđang chuyển nhanh sang nền kinh tế tri thức, trong đó khả năng hiểu biết củacon người đặc biệt là công nghệ thông tin và viễn thông đã được ứng dụngngày càng nhiều mặt của đời sống xã hội Riêng đối với nước ta, sau một thờigian dài duy trì mô hình kinh tế tập trung đã thấy sự không phù hợp của nó
Chính vì vậy, năm 1986, Đại hội Đảng VI đã đề ra đường lối đổi mớitoàn diện nền kinh tế xã hội nhằm đưa đất nước dần thoát ra khỏi cuộc khủnghoảng vào những năm cuối thập kỷ 80 Đây là cái mốc quan trọng đánh dấu
sự ra đời của kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thịtrường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN Tiếp đó đại hộiĐảng VII đến lần XII tiếp tục hoàn thiện và cụ thể hoá bằng các chính sách,
cơ chế nhằm kiên trì xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, trong
đó giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước Hiện nay nền kinh tế nhiềuthành phần nước ta đang trong quá trình chuyển đổi Các thành phần kinh tếnày đan xen vào nhau, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với nhau luôn vận động và
có sự chuyển hoá trong quá trình phát triển Phân tích cơ cấu kinh tế nhiềuthành phần và ích lợi của nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc pháttriển Kinh tế – Xã hội trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam Biếtnhững mặt mạnh để phát huy và những mặt hạn chế cần khắc phục, chúng ta
sẽ xây dựng được một nền kinh tế phát triển vững chắc, đưa đất nước ra khỏiđói nghèo, phát triển toàn diện về mọi mặt, sánh nganh cùng các quốc giatrong khu vực và trên thế giới
Trang 5Cơ cấu các thành phần kinh tế ngày càng được chuyển dịch theo hướngphát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thịtrường có sự quản lý của nhà nước, trong đó kinh tế tư nhân được phát triểnkhông hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành nghề màpháp luật không cấm Từ những định hướng đó, khung pháp lý ngày càngđược đổi mới, tạo thuận lợi cho việc chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóatập trung, quan liêu, bao cấp, sang nền kinh tế thị trường, nhằm giải phóngsức sản xuất, huy động và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả, tạo đà cho tăngtrưởng và phát triển kinh tế
Do vậy, đến nay nền kinh tế của Việt Nam đã có những bước chuyểnbiến rõ rệt và đang trên đà phát triển thành một nước công nghiệp hoá, hiệnđại hoá theo con đường xã hội chủ nghĩa
Hải Dương có vị trí quan trọng, nằm ở trung tâm vùng đồng bằng sôngHồng, Hải Dương đóng vai trò cầu nối giữa thủ đô Hà Nội với thành phốCảng Hải Phòng và tỉnh Du lịch Quảng Ninh Trên địa bàn tỉnh có nhiềutuyến quốc lộ đi qua như quốc lô 5, 10, 18, 37 và 38 Nhiều dự án giao thôngquan trọng nối Hải Dương với các tỉnh bạn đã và đang được tỉnh triển khaixây dựng Vị trí địa lý thuận lợi cùng hệ thống giao thông tương đối an toànchính là lợi thế, cơ hội của Hải Dương trong giao lưu, trao đổi thương mại vớicác đỉnh tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc là Hà Nội-Hải Phòng-QuảngNinh và các tỉnh lân cận
Trong những năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh HảiDương đã tập trung khai thác mọi nguồn lực, tỉnh đã và đang nỗ lực nhằm ghiđiểm với các nhà đầu tư Tỉnh đang tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội
và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân Trong suốt 20 năm qua, thuhút đầu tư của tỉnh đã có bước phát triển theo từng năm nhưng vẫn chưa thực
sự tương xứng vưới tiềm năng của tỉnh Quy mô thành phần kinh tế nhỏ, thuhút ít các tập đoàn lớn, các dự án đầu tư phần lớn có quy mô vốn nhỏ và trungbình, chưa có nhiều dự án công nghệ cao và có giá trị gia tăng lớn
Trang 6Trong triển vọng, để Hải Dương không chỉ là nơi đi qua mà là điểmdừng chân của các nhà đầu tư lớn Hải Dương đang trở thành vùng trọng điểmthu hút đầu tư phát triển công nghiệp, du lịch thương mại, giải quyết việc làm
để giảm áp lực cho các thành phố lớn và trở thành một trong các đô thị lớntrong vùng Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó, em đã chọn đề tài nghiên cứu
“Phát triển kinh tế nhiều thành phần ở tỉnh Hải Dương hiện nay-Thực trạng vàgiải pháp"
2 Mục đích và nội dung nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở lý luận và quan điểm Chủ nghĩa Mác-Lênin và Quanđiểm của Đảng ta về phát triển kinh tế nhiều thành phần trong tình hình hiện nay
- Đánh giá rõ thực trạng kinh tế nhiều thành phần tỉnh Hải Dương giaiđoạn 2015-2020
- Đề xuất giải pháp phát triển kinh tế nhiều thành phần Hải Dương 2020-2025
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu nền kinh tế nhiều thành phần ở tỉnh Hải Dương: mối quan
hệ các thành phần kinh tế, việc phát triển thành phần kinh tế trên địa bàn tỉnhHải Dương
-Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu các thành phần kinh tế và mối quan
hệ giữa chúng ở tỉnh Hải Dương giai đoạn 2015-2020 đề xuất giai đoạn 2025
2020-4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận nghiên cứu của đề tài: dựa vào nền tảng tư tưởng HồChí Minh, chủ trương đường lối của đảng ta về phát triển kinh tế nhiều thànhphần qua các thời kỳ
- Phương pháp nghiên cứu: tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp phân tíchthống kê, so sánh, diễn giải quy nạp, phỏng vấn sâu, tìm hiểu thông qua cáctài liệu báo cáo của tỉnh ủy, UBND tỉnh, các nghành, sở Kế hoạch đầu tư, Tàichính, sở Công thương, Xây dựng… và khảo sát thực tế tình hình để làm khóaluận
Trang 75 Kết cấu của đề tài
+ Chương 1: Một số vấn đề chung của phát triển kinh tế nhiều thành phần + Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế nhiều thành phần ở tỉnh HảiDương giai đoạn 2015-2020
+ Chương 3: Giải pháp phát triển kinh tế nhiều thành phần ở tỉnh HảiDương giai đoạn 2020-2025
Do thời gian nghiên cứu và kiến thức còn hạn chế nên không thể tránhđược những thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đánh giá chân thành củacác thầy cô
Tôi hy vọng đề tài này có thể mang lại một phương pháp tiếp cận mới
với vấn đề “Phát triển kinh tế nhiều thành phần ở tỉnh Hải Dương hiện Thực trạng và giải pháp” và là một tài liệu tham khảo có ích Tôi rất mong
nay-nhận được ý kiến đóng góp của Thầy giáo hướng dẫn ThS Bùi Quang Toản
để đề tài khóa luận tốt nghiệp được hoàn thiện hơn
Trang 8CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN
1.1 Khái niệm và lịch sử hình thành các thành phần kinh tế
1.1.1 Khái niệm
1.1.1.1 Định nghĩa thành phần kinh tế
Thành phần kinh tế là khu vực kinh tế, kiểu quan hệ kinh tế dựa trênmột hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất Các thành phần kinh tếkhông tồn tại biệt lập mà có liên hệ chặt chẽ với nhau tác động lẫn nhau tạothành cơ chế kinh tế thống nhất bao gồm nhiều thành phần kinh tế
1.1.1.2 Các thành phần kinh tế của Việt Nam
Theo Văn kiện đại hội XI chỉ rõ 4 thành phần kinh tế:
Kinh tế Nhà nước
Kinh tế tập thể
Kinh tế tư nhân
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
* Thành phần kinh tế Nhà nước
Thành phần kinh tế Nhà nước là những đơn vị, tổ chức trực tiếp sảnxuất kinh doanh hoặc phục vụ sản xuất, kinh doanh mà toàn bộ nguồn lựcthuộc sở hữu Nhà nước hoặc phần vốn của Nhà nước chiếm tỷ lệ khống chế
Cơ sở hình thành: Dựa trên sở hữu công cộng mà nhà nước là chủ đại diện
- Vai trò của kinh tế Nhà nước
+ Mở đường của kinh tế nhà nước
+ Lực lượng vật chất để nhà nước điều tiết và quản lý vĩ mô nền kinh tế
+ Là nguồn lực nuôi bộ máy nhà nước
* Thành phần kinh tế tập thể
Thành phần kinh tế tập thể là sự liên kết kinh tế tự nguyện của các chủthể kinh tế với các hình thức đa dạng, linh hoạt phù hợp với nhu cầu, khả
Trang 9năng và lợi ích của các bên tham gia Cơ sở hình thành: dựa trên hình thức sở
hữu hỗn hợp
- Vai trò của kinh tế tập thể
+ Phục vụ cho kinh tế hộ và kinh tế trang trại phát triển và thu hútđược vốn, lao động cho quá trình sản xuất kinh doanh
+ Tập trung được vốn nhà rỗi trong dân cư, giải quyết công ăn việc làmcho lao động tại địa phương
* Thành phần kinh tế tư bản nhà nước
Thành phần kinh tế tư bản nhà nước là sản phẩm của sự can thiệp củanhà nước vào hoạt động của các tổ chức, đơn vị kinh tế tư bản trong và ngoàinước bao gồm tất cả các hình thức hợp tác liên doanh sản xuất kinh doanhgiữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư bản trong và ngoài nước nhằm sử dụng,khai thác, phát huy thế mạnh của mỗi bên tham gia, đặt dưới sự kiểm soátgiúp đỡ của nhà nước Cơ sở hình thành: dựa trên sở hữu hỗn hợp
- Vai trò của kinh tế tư bản nhà nước
Có vai trò quan trọng trong việc huy động, sử dụng vốn kỹ thuật, côngnghệ, kinh nghiệm tổ chức quản lý của các nhà tư bản
* Thành phần kinh tế tư nhân
Thành phần kinh tế tư nhân bao gồm:
+ Kinh tế cá thể là hình thức kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất vàkhả năng lao động của người lao động và các hộ gia đình
+ Kinh tế tiểu chủ cũng dựa trên tư hữu nhỏ nhưng có thuê mướn lao động.+ Kinh tế tư bản tư nhân dựa trên chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tưliệu sản xuất và bóc lột sức lao động
Cơ sở hình thành: dựa trên hình thức sở hữu tư nhân
- Vai trò của kinh tế tư nhân
Có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội, là nòngcốt của một nền kinh tế
* Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Trang 10Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là thành phần kinh tế màvốn do các chủ thể kinh tế nước ngoài đầu tư.
Cơ sở hình thành: dựa trên hình thức sở hữu tư bản tư nhân(100% vốnnước ngoài) và hỗn hợp (liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp trongnước)
- Vai trò của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
- Thu hút được vốn, công nghệ, kinh nghiệm và trình độ quản lý hiện đại.
- Tạo thêm công ăn, việc làm cho người lao động
- Tăng trưởng và phát triển kinh tế
* Cơ sở tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần
- Lý thuyết về quốc hữu hóa và hợp tác hóa.
- Sự phát triển không đồng đều giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
- Mối quan hệ giữa Cơ sở hạ tầng và Kiến trúc thượng tầng.
- Toàn cầu hóa và tính tất yếu của nó.
1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về các thành phần kinh tế
1.2.1 Quan điểm của CN Mác-Lênin về vấn đề tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH
Đặc điểm kinh tế cơ bản nhất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là
sự tồn tại khách quan của nền kinh tế nhiều thành phần, tương ứng với cácgiai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau nhưng vị trí, cơ cấu, tính chất của các giaicấp, tầng lớp này có sự biến đổi sâu sắc
Từ nghiên cứu sự phát triển trong lích sử thế giới, V.I.Lênin cho rằng,
sự phát triển của từng dân tộc không những tuân theo tính quy luật chung, màcòn bao hàm một số giai đoạn phát triển mang tính đặc thù về trình tự của sựphát triển đó Tính Quy luật chung về kinh tế thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội là sự tồn tại và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần
Xét về mặt lý luận, cả C.Mác và Lênin đề cho rằng: không thể có chủnghĩa tư bản thuần túy và chủ nghĩa đế quốc thuần túy Đặc biệt trong tácphẩm “Kinh tế chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản” và “Bàn về thuếlương thực”, Lênin cũng khẳng định rằng: trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
Trang 11xã hội tế mang tính phổ biến trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là nềnkinh tế tồn tại nhiều thành phần kinh tế và ở mỗi nước, mỗi thời kỳ khác nhau
số lượng thành phần kinh tế cũng khác nhau
Tuy mỗi thời kỳ số lượng thành phần kinh tế có khác nhau tuy nhiênLênin cho rằng đặc điểm kinh tế cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội là sự tồn tại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong đó có ba thành phầnkinh tế sau đây: thành phần kinh tế Xã hội chủ nghĩa, thành phần kinh tế tưbản chủ nghĩa tư nhân và thành phần kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ
Sự tồn tại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội là đặc trưng kinh tế mang tính phổ biển đối với các nước trongthời kỳ quá độ, trong đó có nước ta Ở mỗi nước, mỗi chặng đường của thời
kỳ quá độ, có chiến lược cơ cấu thành phần kinh tế tương ứng thích hợp
1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển các thành phần kinh tế
Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, trong lựa chọn conđường phát triển của dân tộc, Hồ Chí Minh đã vận dụng sang tạo nguyên lýkết hợp cái phổ biến với cái đặc thù Người khảng định rõ, mặc dự phát triểncủa xã hội loài người tuân theo tính quy luật chung, song các dân tộc tùy vàohoàn cảnh cụ thể có thể lựa chọn con đường phát triển riêng của mình Trongtác phẩm Thường thức chính trị, Người viết “Từ cộng sản nguyên thủy đếnchế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản, đến chủ nghĩa xã hội(cộng sản) – nói chung thì loài người phát triển theo quy luật nhất định nhưvậy Nhưng tùy vào hoàn cảnh, mà các dân tộc phát triển theo con đường khácnhau Có nước thì đi thẳng đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản) như Liên xô Cónước thì phải kinh qua chế độ dân chủ mới, rồi tiến lên chủ nghĩa xã hội (cộngsản) – như các nước Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam ta, v.v
Từ đó, Việt Nam có thể và cần phải lựa chọn con đường riêng cho phùhợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mình Trong bài Nói chuyện tại lớphướng dẫn giáo viên cấp 2, cấp 3 và Hội nghị sư phạm, Người chỉ rõ ; (Takhông thể giống Liên xô, vì Liên xô có phong tục tập quán khác
Trang 12Vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về nền kinh tế quá độ lên chủ nghĩa
xã hội là nền kinh tế nhiều thành phần vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam,Chủ tịch Hồ Chí Minh sau năm 1945 đã chỉ ra những hình thức sở hữu chínhtương ứng với hình thức sở hữu là nền kinh tế nhiều thành phần, bao gồm
“năm loại kinh tế khác nhau” trong niền kinh tế Việt Nam
- Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung củanhân dân)
- Hợp tác xã (nó là nửa chủ nghĩa xã hội, và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội)
- Kinh tế cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợptác xã , tức là nửa chủ nghĩa xã hội)
- Tư bản của tư nhân
- Tư bản Nhà nước ( như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh)
1.2.3 Lịch sử hình thành và phát triển các thành phần kinh tế ở nước ta
Nền văn minh của Việt Nam đã được xây dựng trên nông nghiệp.Cáctriều đại phong kiến đã luôn luôn coi nông nghiệp như là cơ sở kinh tế chính,những tư tưởng kinh tế của họ đã được khẳng định trên chủ nghĩa trọng nông.Quyền sở hữu đất đai đã được qui định và những công trình qui lớn như đê,các công trình thủy lợi đã được xây dựng ở đồng bằng sông Hồng để tạo điềukiện canh tác lúa nước Trong những thời điểm yên bình, những người lính đãđược gửi về nhà để làm, triều đình gọi chính sách này là ngụ binh ư nông.Hơn nữa, triều đình cấm giết mổ trâu bò, gia súc và tổ chức nhiều nghi lễ liênquan tới nông nghiệp Thủ công mĩ nghệ và nghệ thuật được coi trọng, nhưngthương mại đã bị hạn chế, các những người kinh doanh được gọi bằng thuậtngữ ‘’con buôn’’ Nền kinh tế quốc gia là tự cung tự cấp
Từ thế kỉ 16, Nho giáo đã mất ảnh hưởng của nó lên xã hội Việt Nam
và một nền kinh tế tiền tệ bắt đầu phát triển Các cảng thương mại ban đầu,như Hội An, bị hạn chế, và các quốc gia nước ngoài có nền văn hóa khác nhau
và tham vọng xâm lược của họ được coi là một mối đe dọa.Chính sách đóng
Trang 13cửa này đã dẫn đến một mức độ đình trệ trong nền kinh tế Việt Nam, và gópphần đưa Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp.
- Giai đoạn trước năm 1954
Pháp thực hiện độc quyền thương mại, đặc biệt là công khai buônbán thuốc phiện Độc quyền nấu rượu thì giao cho công tySociété desDistilleries d'Indochine phân phối cho toàn Liên bang dưới hiệu "RA" (Régie
de Alcool), tục gọi là "rượu ty" Những nguồn rượu khác thì bị liệt vào hạngrượu lậu và ai nấu hay mua thì bị truy tố và tài sản tịch thu Đối với thuốcphiện thì quyền nhập cảng, chế biến và bán sỉ là do cơ quan Régie de l'Opiumđảm nhận Tính đến năm 1900 thì lợi nhuận chính phủ thu được từ thuốcphiện đạt hơn phân nửa số tiền thu nhập của toàn Liên bang ĐôngDương Riêng việc phân phối bán lẻ là để cho tư nhân, đa số là người Hoa
Theo giáo sư Trần Văn Thọ, kinh tế Việt Nam thời Pháp thuộc thịnhvượng nhất là năm 1938, cao hơn năm 1960 là 60% Năm 1938, tổng sảnphẩm quốc nội của Đông Dương là 1,014 tỷ tiền Đông Dương, trong đó côngnghiệp chiếm 22% Kinh tế thị trường có mức độ phát triển nhất định So vớithời trước thực dân, cơ cấu kinh tế chuyển từ kinh tế phong kiến nặng tự cung
tự cấp sang nền kinh tế có công nghiệp và thương mại phát triển ở mức độnhất định, chủ yếu xuất khẩu lúa gạo, cao su, than, Lao động giá rẻ củangười bản xứ được tận dụng Nhiều công trình giao thông và thành phố hiệnđại theo kiểu phương Tây được xây dựng, phục vụ cho lợi ích thực dân
- Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975
Sau khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc (1954), sản xuất công nghiệptừng bước được khôi phục và phát triển
- Giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1986
Năm 1976, Việt Nam thống nhất đổi tên thành nước Cộng hòa Xã hộichủ nghĩa Việt Nam, năm 1980 ra Hiến pháp thể chế hóa đường lối của ĐảngCộng sản Việt Nam được quyết định tại Đại hội Đại biểu toàn quốc năm 1976,
Trang 14cuộc cách mạng: về quan hệ sản xuất, khoa học – kỹ thuật, tư tưởng và văn
các vùng kinh tế mới, từng bước hoàn thiện phân phối xã hội chủ nghĩa làm
đặt ra rất cao trong hoàn cảnh chiến tranh tàn phá nặng nề cơ sở hạ tầng, đặcbiệt là các vùng nông thôn và một số cơ sở hạ tầng giao thông và công nghiệpmiền Bắc, nhân lực hạn chế do tỷ lệ thương tật trong chiến tranh cao, tỷ lệ mùchữ khá cao, khả năng quản lý kinh tế yếu kém, phát triển kinh tế dàn trải, đầu
tư nhiều cho nông thôn và các tỉnh (hòng sớm xóa bỏ hố phân hóa kinh tếgiữa hai miền, nông thôn - thành thị, đồng bằng - miền núi) trong khi điềukiện các vùng về tài nguyên tự nhiên, nhân lực rất khác nhau (rất khác với môhình kinh tế thị trường sau này các vùng có điều kiện phát triển như thành thị,duyên hải, có nhiều tài nguyên và chất lượng nhân lực tốt được đầu tư nhiềuhơn và lợi nhuận chảy nhiều vào các khâu trung gian cấp vốn và đầu ra sảnphẩm)
hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa củanhân dân lao động (gồm công nhân, nông dân tập thể, trí thức xã hội chủ
thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng trình bày, ngày 27 tháng 3 năm 1982
Công nghiệp nặng được ưu tiên phát triển, Các thành phần kinh tế phi xã hộichủ nghĩa được cải tạo, kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh
tế quốc dân và được phát triển ưu tiên, nông dân ở Nam Trung Bộ và Nam Bộđược khuyến khích tham gia sản xuất tập thể
- Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2006
Trang 15Đây là là thời kỳ chuyển tiếp của nền kinh tế Việt Nam, từ nền kinh tế
phải là thị trường hoàn toàn tự do mà "có sự quản lý, điều tiết của nhà nước",
là để nhằm hạn chế những khuyết tật của kinh tế thị trường
Kinh tế Việt Nam bắt đầu có những chuyển biến tốt Từ chỗ phải nhậpkhẩu lương thực, Việt Nam đã sản xuất đủ tự cung cấp, có dự trữ và còn xuấtkhẩu gạo Khoán 10 được triển khai từ năm 1988 trên quy mô toàn quốc càngkhuyến khích nông dân sản xuất lúa gạo Hàng hóa, nhất là hàng tiêu dùng,nhiều hơn và đa dạng hơn Xuất khẩu tăng mạnh, thâm hụt thương mại giảm
khẩu lớn Đây là thời kỳ chuyển biến thực sự về nhận thức tư duy kinh tế, ápdụng kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Báo chí nước ngoài khen ngợiViệt Nam, ví Việt Nam như "con hổ" kinh tế trong tương lai gần GDP bình
2000
-Giai đoạn từ năm 2006 đến nay
Kinh tế tăng trưởng khá nhanh; sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang đẩy mạnh.Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Hệ thống chính trị và khối đại đoànkết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường Chính trị - xã hội ổn định Quốcphòng và an ninh được giữ vững Vị thế nước ta trên trường quốc tế khôngngừng nâng cao Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo rathế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp Nhận thức
về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏhơn; hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủnghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành trênnhững nét cơ bản
Trang 161.3 Quan điểm và chủ trương của Đảng ta về phát triển các thành phần kinh tế từ đại hội VI.
Trên cơ sở quán triệt tinh thần của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng HồChí Minh và tổng kết thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta trướcthời kỳ đổi mới, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khảng định rõtính tất yếu khách quan của sự tồn tại kinh tế nhiều thành phần Đại hội chorằng: “Xuất phát từ sự đánh giá những tiềm năng tuy phân tán nhưng rất quantrọng trong nhân dân, cả về sức lao động, kỹ thuật, tiền vốn, khả năng tạo việclàm, chúng ta chủ trương: đi đôi với việc phát triển kinh tế quốc doanh, kinh
tế tập thể, tăng cường nguồn tích lũy tập trung của Nhà nước và tranh thủ vốnnước ngoài, cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phầnkinh tế khác Đồng thời chỉ ra: các thành phần kinh tế ở nước ta là: Kinh tế xãhội chủ nghĩa bao gồm: kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa (thợ thủ công, nôngdân cá thể, những người buôn bán và kinh doanh dịch vụ cá thể); kinh tế tưbản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức, mà hình thức cao
là công tư hợp doanh; kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc trong một bộ phận đồngbào dần tộc tiểu số ở Tây Nguyên và các vùng núi cao khác
Kế thừa và phát triển quan điểm về nền kinh tế nhiều thành phần củaĐại hội VI, Đại hội VII nêu rõ: Trong điều kiện kinh tế thị trường, với quyền
tự do kinh doanh được pháp luật đảm bảo từ ba loại hình sở hữu cơ bản (sởhữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân), sẽ hình thành nhiều thành phầnkinh tế với những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng
Đại hội VIII của Đảng, chỉ rõ, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước thểhiện ở "làm đòn bẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xãhội, mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng pháttriển, làm lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết vàquản lý vĩ mô, tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới"
Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh, kinh tế nhà nước là lực lượng vật chấtquan trọng và là công cụ để nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế vĩ
Trang 17mô Doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt, đi đầu ứng dụng khoa học vàcông nghệ, nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả và chấp hành phápluật.
Sản xuất hàng hóa càng phát triển, sự cạnh tranh càng gay gắt thìnhững người lao động riêng rẽ, các hộ cá thể, các doanh nghiệp nhỏ và vừacàng có yêu cầu phải liên kết, hợp tác với nhau để tồn tại và phát triển Vì thế,phát triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã là con đường để giải quyết mâu thuẫngiữa sản xuất nhỏ manh mún với sản xuất hàng hóa lớn, đáp ứng yêu cầu củanền kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế
Kinh tế hợp tác là hình thức kinh tế mang tính tập thể, xã hội hóa, lànhân tố quan trọng để xây dựng đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Nó giáo dục ý thức cộng đồng, tinh thầnhợp tác hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên xã hội, giữa các thành phần kinh
tế để sản xuất, kinh doanh đúng pháp luật
Với những ưu việt như vậy, Đại hội IX của Đảng xác định: Kinh tế tậpthể phát triển với nhiều hình thức hợp tác xã đa dạng Nhà nước phải giúp đỡhợp tác xã đào tạo cán bộ, ứng dụng khoa học - công nghệ, nắm bắt thông tin,
mở rộng thị trường để cùng với kinh tế nhà nước ngày càng giữ vai trò nềntảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân
Trong chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa, Đại hội IX của Đảng coi kinh tế cá thể, tiểu chủ có vị trí quantrọng, lâu dài Loại hình kinh tế này xuất hiện và phát huy tác dụng ở cả thànhthị và nông thôn, cả trong nông nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp, thương mại vàdịch vụ Sự phát triển kinh tế cá thể, tiểu chủ trong điều kiện nền kinh tế hànghóa gắn với thị trường có vai trò quan trọng trước mắt cũng như lâu dài trongviệc thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển
Kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế mà sản xuất, kinh doanhdựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóclột lao động làm thuê
Trang 18Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ở Việt Nam, thành phầnkinh tế này có vai trò quan trọng xét về phương diện phát triển lực lượng sảnxuất, về phát triển nền sản xuất hàng hóa, về giải quyết các vấn đề xã hội Đạihội VIII của Đảng khẳng định: "Kinh tế tư bản tư nhân có khả năng góp phầnxây dựng đất nước Khuyến khích kinh tế tư nhân đầu tư vào sản xuất, yêntâm làm ăn lâu dài; bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiệnthuận lợi đi đôi với tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, cólợi cho quốc kế dân sinh" Đại hội IX của Đảng cũng khẳng định rõ hơn vaitrò vị trí của kinh tế tư bản tư nhân Nghị quyết Trung ương 5, khóa IX, xácđịnh: "Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốcdân Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấuthành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,cùng phát triển lâu dài, hợp tác, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; trong đókinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tậpthể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của kinh tế quốc doanh
Trong Đại hội X , Đảng xác định còn 5 thành phần kinh tế: Kinh tế nhànước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế cóvốn đầu tư nước ngoài Đại hội XI chỉ rõ 4 thành phần kinh tế: Kinh tế nhànước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Đại Hội XII nhấn mạnh: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế,trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lựcquan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bìnhđẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật
Như vậy kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh về các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,Đảng đã vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh Việt Nam trên cơ sở phân tích đặcđặc điểm của từng bước quá độ, từ đó từng đại hội trong thời kỳ đổi mới
Trang 19không những nhất quán thực hiện kinh tế nhiều thành phần, mà còn xác định
rõ cơ cấu các thành phần kinh tế, tạo cơ sở cho hoạch định và thực thi đúngđắn các chính sách đối với các thành phần kinh tế
1 4 Vấn đề phát triển kinh tế nhiều thành phần trong tình hình hiện nay tại Việt Nam
Nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay là sản phẩm của quátrình Đảng và nhân dân ta nhận thức, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác -Lênin, thể hiện tư duy mới của chúng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đilên chủ nghĩa xã hội
Trước đổi mới, trong nhận thức cũng như trong hành động, chúng tachưa thực sự thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần còn tồn tại ở nước tatrong một thời gian tương đối dài Việc cải tạo các thành phần kinh tế phi xãhội chủ nghĩa được thực hiện theo kiểu chiến dịch, gò ép, không căn cứ vàotrình độ phát triển của lực lượng sản xuất Những sai lầm này tất yếu dẫn đếntình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội nghiêm trọng vào cuối những năm 70
- đầu những năm 80 của thế kỷ XX Tình hình đó đòi hỏi Đảng ta phải cónhững thay đổi lớn trong nhận thức và hành động, phải tìm ra con đường,bước đi phù hợp để tiến lên chủ nghĩa xã hội
Trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay, có những thànhphần kinh tế đã thể hiện tốt vai trò của mình, song cũng có những thành phầnkinh tế còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém
Về kinh tế nhà nước, thành phần kinh tế này lấy sở hữu công cộng về
tư liệu sản xuất là cơ sở kinh tế Kinh tế nhà nước không chỉ bao gồm cácdoanh nghiệp nhà nước, mà còn bao gồm các tài sản, công cụ kinh tế quantrọng thuộc sở hữu nhà nước, v.v Văn kiện Đại hội XII tiếp tục khảng địnhcủa Đảng xác định rõ: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, v.v Kinh tế nhànước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh
tế quốc dân” Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trìnhhình thành và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta nói
Trang 20chung, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước nói riêng vẫn còn một số hạn chếnhất định, như: Trong các doanh nghiệp nhà nước, vấn đề quản lý, phân phốichưa được giải quyết tốt, còn có sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinhtế; các loại thị trường được hình thành và phát triển chậm, thiếu đồng bộ; cácnguồn lực kinh tế được phân bổ chưa đồng đều… Nguyên nhân chủ yếu củanhững hạn chế trên là do: Việc nhận thức về kinh tế thị trường định hướngXHCN còn nhiều hạn chế, công tác lý luận chưa theo kịp đòi hỏi của thựctiễn Nền kinh tế vẫn còn trong tình trạng kém phát triển, sự chênh lệch giữacác tầng lớp dân cư, các vùng miền và các thành phần kinh tế còn cao
Cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể được coi là một thành phầnkinh tế của chủ nghĩa xã hội Thành phần kinh tế này tồn tại và phát triển dựatrên hình thức sở hữu tập thể và sở hữu của các thành viên Sự phát triển theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đòi hỏi phát triển mạnh mẽ và vữngchắc thành phần kinh tế này, bởi như V.I.Lênin đã nhấn mạnh, đó là mô hình
dễ tiếp thu nhất của những người nông dân để tiến lên sản xuất lớn xã hội chủnghĩa Rút bài học kinh nghiệm sâu sắc từ phong trào tập thể hoá trước đổimới và thực tế những năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước ta rất quantâm đến việc phát triển thành phần kinh tế này, chủ trương xây dựng các hợptác xã kiểu mới phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất và nhu cầu củacác chủ thể sản xuất
Thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, những năm qua,KTTT đã có sự phát triển mạnh mẽ Kết quả đó được thể hiện rõ nét trênnhiều mặt, cụ thể:
Một là, số lượng các HTX mới thành lập tăng lên, kết quả hoạt động tốthơn trước Theo số liệu thống kê: “tính đến hết năm 2018, cả nước có 21.787HTX (tăng 1.711 HTX, tương đương 5,9% so với năm 2017) Mặc dù cònnhiều khó khăn nhưng hoạt động của các HTX ngày càng ổn định và có xuhướng phát triển
Trang 21Hai là, mô hình HTX hoạt động theo mô hình chuỗi giá trị từ sản xuất –tiêu thụ tăng lên và đã đem lại hiệu quả cao Theo đánh giá của Liên minhHTX Việt Nam: “Các HTX thành lập mới và tái cơ cấu HTX đang hoạt độngtheo mô hình chuỗi giá trị tăng mạnh ở các địa phương Đến tháng 6/2018 cókhoảng 1.200 HTX (tăng 21% so cuối năm 2017) Tỷ lệ HTX hoạt động sảnxuất, kinh doanh có hiệu quả có xu hướng tăng”.
Ba là, trong lĩnh vực nông nghiệp đã bước đầu hình thành mô hìnhnông sản an toàn gắn với chuỗi giá trị từ sản xuất tới tiêu dùng gắn vớithương hiệu, truy xuất nguồn gốc xuất xứ
Bốn là, ngoài các HTX (nòng cốt của KTTT) thì các hình thức khác củaKTTT như: liên hiệp HTX, các tổ hợp tác cũng có bước phát triển đáng kể.Theo số liệu thống kê, đến cuối năm 2018, các hình thức này đã tăng so năm
2017 là: “72 liên hiệp HTX (tăng 16,1%) và hơn 106.000 tổ hợp tác với tổng
số thành viên là gần 1,5 triệu thành viên (tăng 2,4%)”
Khu vực kinh tế tư nhân của Việt Nam hiện có khoảng trên 750.000doanh nghiệp đang tạo ra 12 triệu việc làm, đóng góp tới 43% GDP (so vớikhu vực kinh tế nhà nước 28,9% GDP và khu vực có vốn đầu tư nước ngoàiFDI là 18% GDP; riêng trong lĩnh vực dịch vụ, khu vực tư nhân đóng góp tới85% GDP) Thành quả đó là quá trình đổi mới tư duy kinh tế của Đảng, làbước đi đúng đắn phù hợp với phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa, là sự vào cuộc quyết liệt của Chính phủ nhằm "cởi trói" về cơchế, thể chế, tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển.Trong kinh tế tưnhân, kinh tế cá thể, tiểu chủ dựa trên hình thức tư hữu nhỏ về tư liệu sảnxuất, có vai trò quan trọng trong nhiều ngành nghề ở cả thành thị và nôngthôn, có khả năng huy động vốn và lao động Đóng góp của kinh tế cá thể,tiểu chủ trong lĩnh vực nông nghiệp khá lớn, tỷ trọng GDP khá cao nhưng lạiđang giảm liên tục Sự giảm sút này không đáng lo ngại, thậm chí là một dấuhiệu tích cực, phản ánh sự di chuyển khá mạnh mẽ của nó vào các bộ phận,các thành phần kinh tế có trình độ cao hơn; thực chất, là sự thu hẹp cách thức
Trang 22sản xuất nhỏ lẻ để tiến lên những hình thức sản xuất tiến bộ hơn Đây là một
xu thế tất yếu, do sự phát triển của nền kinh tế thị trường và quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đang diễn ra một cách mạnh mẽ buộc những thànhviên của kinh tế cá thể, tiểu chủ phải thay đổi, di chuyển vào các bộ phận, cácthành phần kinh tế khác để bảo đảm lợi ích, do đó làm tăng sức cạnh tranh và
cơ hội để phát triển khoa học và công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: thành phần kinh tế có vốn đầu tưnước ngoài là thuật ngữ chỉ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, mớiđược sử dụng phổ biến trong vài thập niên gần đây, khi làn sóng đầu tư từquốc gia này sang quốc gia khác tăng lên nhanh chóng Thành phần kinh tếnày không đồng nhất với các thành phần kinh tế trong nước cả về mục tiêu và
cơ chế vận hành Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm các doanh nghiệp
có thể 100% vốn nước ngoài (một thành viên hoặc nhiều thành viên) có thểliên kết, liên doanh với doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp tư nhâncủa nước ta
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có đóng góp rất to lớn đối với quốcgia, đặc biệt là một nước đang có tiềm năng phát triển như nước ta Doanhcủa khu vực đầu tư nước ngoài góp phần làm tăng thêm của cải và nâng caosức cạnh tranh của các mặt hàng trong nước, đẩy mạnh chuyển đổi công nghệ
để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm của các cơ cấu ngành nghề trongnước, giải quyết một số lượng lớn việc làm của người lao động trong nước
Tuy nhiên, sự phát triển của thành phần kinh tế này đã và đang nảy sinhmột vấn đề - đó là sự lệ thuộc vào nguồn vốn đầu tư nước ngoài Giả địnhrằng, vì lý do nào đó, chẳng hạn lạm phát, các nhà đầu tư nước ngoài đồngloạt rút một số lượng lớn nguồn vốn đầu tư thì tình hình kinh tế – xã hội ViệtNam sẽ thế nào? Hoặc là tỷ trọng GDP của thành phần kinh tế này ngày cànglớn đến mức ngang bằng hoặc vượt kinh tế nhà nước thì liệu kinh tế nhà nước
có thể duy trì được vai trò chủ đạo của mình không? Nhà nước có thể kiểmsoát được thành phần kinh tế này hay không? Rõ ràng, sự phát triển của thành
Trang 23phần kinh tế này đem lại những lợi ích kinh tế – xã hội rất lớn, đồng thời cũngtiềm ẩn những nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam Theo chúng tôi, để tận dụng được những đóng góp và hạn chếđược những ảnh hưởng tiêu cực của nó đối với nền kinh tế – xã hội nước
ta, một mặt, chúng ta phải phát triển mạnh mẽ kinh tế nhà nước để tạo nên sứcmạnh thực sự của Nhà nước; mặt khác, phải có biện pháp hướng thành phầnkinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vào kinh tế tư bản nhà nước
Như vậy, cùng với quá trình tổng kết kinh nghiệm và phát triển sáng tạo
lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta đãbước đầu tìm ra những biện pháp, bước đi mang tính quy luật của quá trình đilên chủ nghĩa xã hội Một trong những biện pháp đó, xét về mặt kinh tế, làphát triển nền kinh tế nhiều thành phần Để nền kinh tế nhiều thành phần phát
triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, một mặt, chúng ta phải tạo môi
trường phát triển thuận lợi, đảm bảo tính độc lập, tự chủ của các thành phần
kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước phải thực sự đóng vai trò chủ đạo; mặt khác, chúng ta phải tăng cường vai trò của Đảng và Nhà nước trong lãnh đạo,
quản lý kinh tế
Trang 24CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở
TỈNH HẢI DƯƠNG GIAI ĐOẠN 2015-2020 2.1 Một số đặc điểm chung của tỉnh Hải Dương
2.1.1 Vị trí địa lý
Hải Dương là một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng, trải dài từ 20°43'đến 21°14' độ vĩ Bắc, 106°03' đến 106°38' độ kinh Đông, có các điểm cực :Điểm cực bắc tại xã Hoàng Hoa Thám, thành phố Chí Linh, điểm cực tây tại
xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Giàng, Điểm cực đông tại phường Minh Tân, thị
xã Kinh Môn, điểm cực nam tại xã Tiền Phong, huyện Thanh Miện
Tỉnh Hải Dương có vị trí địa lý:
- Phía bắc giáp tỉnhBắc Giang
- Phía đông bắc giáp tỉnhQuảng Ninh
- Phía tây bắc giáp tỉnhBắc Ninh
- Phía đông giáp thành PhốHải Phòng
- Phía tây giáp tỉnh Hưng Yên
- Phía nam giáp tỉnh Thái Bình
2.1.2 Địa Hình
Hải Dương có diện tích 1.662 km², là tỉnh có diện tích trung bình trong
số các tỉnh thành ở Việt Nam, được chia làm 2 vùng: vùng đồi núi và vùngđồng bằng Vùng đồi núi nằm ở phía bắc của tỉnh, chiếm khoảng 11% diệntích tự nhiên gồm 13 phường xã thuộc thành phố Chí Linh và 18 phường xãthuộc thị xã Kinh Môn; là vùng đồi núi thấp, phù hợp với việc trồng cây ănquả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày Vùng đồng bằng còn lại chiếm89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu mỡ, thíchhợp với nhiều loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm
2.1.3 Khí hậu
Hải Dương nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, chia làm
4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông).Vào giai đoạn từ tiết lập xuân đến tiết thanhminh (khoảng đầu tháng 2 - đầu tháng 4 dương lịch) có hiện tượng mưa
Trang 25phùn và nồm là giai đoạn chuyển tiếp từ mùa khô sang mùa mưa Mùa mưakéo dài từ tháng tư đến tháng mười hàng năm.
- Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.300 – 1.700 mm
-Nhiệt độ trung bình: 23,3 °C
- Số ngày trời nắng trong năm: 1.524 giờ
-Độ ẩm tương đối trung bình: 85 – 87%
2.2 Thực trạng phát triển kinh tế nhiều thành phần ở Hải Dương giai đoạn 2015-2020
2.2.1 Thành phần kinh tế tập thể
Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển hợp tác xã của tỉnhtriên khai thực hiện Quyết định số 461/QĐ-TTg ngày 27/4/2018 của Thủtướng chính phủ Kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác xã tiếp tục phát triển, đãhoàn thành việc chuyển đổi hợp tác xã theo luật hợp tác xã năm 2015
Là 1 tỉnh nằm trong vùng tam giác kinh tế vùng đồng bằng Sông Hồng(Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh), kinh tế nông nghiệp Hải Dương vẫn cònchiếm tỷ trọng lớn Theo báo cáo, hiện nay toàn tỉnh có 01 Liên hiệp HTX và
626 trong năm 2019 đã thành lập được thêm 05 HTX, trong đó có 330 HTX
nông nghiệp; 296 HTX phi nông nghiệp (71 quỹ tín dụng, 79 HTX thươngmại - dịch vụ, 10 HTX dịch vụ điện, 10 HTX nước sạch và vệ sinh - môitrường, 52 HTX công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, 15 HTX giao thông vậntải, 21 HTX xây dựng, hơn 32 HTX thuộc các lĩnh vực khác) Tổng số có hơn400.000 cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân là thành viên trong các HTX, Liênhiệp HTX
Liên minh HTX Hải Dương hoạt động chính trên 2 lĩnh vực nôngnghiệp và phi nông nghiệp Toàn tỉnh hiện có khoảng 800 tổ hợp tác (THT),
có 11 tổ hợp tác đăng ký hoạt động với chính quyền, trong hoạt động Môhình HTX gắn với chuỗi giá trị ở tỉnh đang được nhiều HTX áp dụng, bướcđầu đã đem lại hiệu quả kinh tế cao
Trong năm qua, Liên minh HTX Hải Dương, đã thực hiện công táctham mưu cho Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh triển khai chính sách hỗ trợ phát
Trang 26triển KTTT; tham gia công tác tuyên truyền, vận động phát triển HTX, Liênhiệp HTX, THT và công tác phát triển thành viên; tư vấn, hỗ trợ và cung cấpdịch vụ, phát triển kinh tế hợp tác, HTX.
Nhìn chung, Liên minh HTX tỉnh Hải Dương luôn nhận được sự quantâm, lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, sự phối hợp chặt chẽcủa các sở, ban, ngành đoàn thể của tỉnh
Những năm qua, kinh tế hợp tác, HTX ở Hải Dương đã và đang có vịtrí quan trọng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, nhất làtrong nông nghiệp, nông thôn góp phần tạo việc làm, thu nhập và ổn định đờisống của đại bộ phận người dân, người lao động đặc biệt là trong khu vựcnông thôn; đóng góp vào GDP của tỉnh khoảng 8,6% Các loại hình HTXtrong từng ngành, lĩnh vực đã tham gia tích cực vào quá trình sản xuất, dịch
vụ, lưu thông hàng hoá; duy trì phát triển một số ngành, nghề truyền thống,tạo thêm việc làm cho người lao động lúc nông nhàn và lao động phổ thôngtrình độ kỹ thuật thấp Đặc biệt là 330 HTX trong nông nghiệp, nơi tổ chứcdịch vụ, phục vụ cho trên 70% dân số của tỉnh, đã đóng vai trò chính trongviệc chuyển giao ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật; tổ chức triển khaicác dịch vụ chính yếu cho sản xuất nông nghiệp như tưới tiêu nước, làm đất,bảo vệ thực vật, cung ứng vật tư nông nghiệp và phân bón cho sản xuất nôngnghiệp… Ngoài ra một số HTX còn làm tốt khâu dịch vụ chế biến nông sản,thực phẩm và tiêu thụ sản phẩm cho nông dân
Trong hoạt động, các HTX đã có sự liên doanh, liên kết với nhau vàliên kết với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong việc ứngtrước vật tư nguyên liệu cho sản xuất, bao tiêu nông sản hàng hoá, đã có375/626 hợp tác xã hoạt động có hiệu quả (chiếm 60 % ), một số hợp tác xãtiếp cận vốn ngân hàng mở rộng sản xuất kinh doanh, đã hình thành và pháttriển một số mô hình hợp tác xã hoạt động liên kết trong sản xuất, tiêu thụ sảnphẩm có hiệu quả, thu nhập bình quân người lao động là 4 triệuđồng/người/năm
Trang 27Để đạt được những kết quả như trên, Ban lãnh đạo Liên minh HTX tỉnhHải Dương đã tích cực triển khai và phối hợp tổ chức tuyên truyền vận động,phát triển kinh tế hợp tác, HTX trong tỉnh; thường xuyên phối hợp với cácbáo, đài phát thanh truyền hình của tỉnh và trung ương thông tin về luật pháp,chính sách liên quan đến kinh tế tập thể; giới thiệu các mô hình, điển hình tiêntiến trong khu vực HTX (mỗi năm hàng chục tin, bài); ký kết chương trìnhphối hợp vận động phát triển kinh tế tập thể với 10 ngành đoàn thể là SởNông nghiệp & PTNT, Sở Công Thương, Sở Giao thông vận tải, Sở Lao độngTB& XH, Liên đoàn lao động, Hội liên hiệp phụ nữ, Đoàn TNCSHCM, Hộinông dân, Hội cựu chiến binh và Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật tỉnh;theo đó tập trung vào việc tuyên truyền tập huấn luật pháp, chính sách và vềquản lý, kế hoạch kinh doanh; hội thảo giới thiệu các mô hình điển hình tiêntiến; tư vấn, hỗ trợ thành lập HTX…
Liên minh HTX tỉnh đã tham gia tích cực vào quá trình xây dựng chínhsách pháp luật về KTTT như: đánh giá tình hình thực hiện luật HTX năm
2019 và đề xuất những nội dung sửa đổi, bổ sung luật; tham mưu cho Tỉnh uỷ,UBND tỉnh đánh giá kết quả 15 năm triển khai chương trình hành động số 20của Tỉnh uỷ thực hiện Nghị quyết số 13 Hội nghị lần thứ 5 BCH TW khoá IX
“về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể”; phốihợp với Sở kế hoạch và đầu tư tham mưu kế hoạch phát triển kinh tế tập thểcủa tỉnh hàng năm và giai đoạn 2020 – 2025 ; tổ chức nhiều cuộc hội thảotham gia ý kiến xây dựng, sửa đổi các luật như Luật lao động, doanh nghiệp
và các luật khác liên quan đến kinh tế hợp tác, HTX…
2.2.2 Thành phần kinh tế tư nhân
Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về
tư liệu sản xuất, kết hợp với cá nhân người lao động; trong đó kinh tế cá thể làloại hình tổ chức kinh tế nhỏ mà thu nhập dựa hoàn toàn vào lao động và vốncủa bản thân và gia đình; còn kinh tế tiểu chủ là hình thức tổ chức kinh tế tưhữu nhưng có thuê một số ít lao động, tuy nhiên thu nhập vẫn dựa vào sức lao
Trang 28động và vốn có của bản thân và gia đình Thành phần kinh tế này đang chiếmmột vị trí vô cùng quan trọng trong nhiều nghành nghề ở nông thôn và thànhthị, có điều kiện phát huy nhanh và hiệu quả tiềm năng về vốn, sức lao động
và tay nghề
Công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp theo chuyên nghành
đã được các sở, nghành quan tâm Kịp thời triển khai các quy định mới củaChính phủ và các Bộ, nghành TW, cũng như rà soát, sửa đổi, bổ sung các quyđịnh quản lý của tỉnh theo đúng quy định của pháp luật Kịp thời ban hànhvăn bản hướng dẫn đảm bảo đúng trọng tâm, trọng điểm, khắc phục triệt đểviệc chồng chéo trong hoạt động thanh tra, nhất là đối với doanh nghiệp theođúng sự chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh tại chỉ thị số 16/CT- UBND ngày21/6/2016 về chấn chỉnh công tác thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp trên địabàn tỉnh Hải Dương
UBND tỉnh đã có văn bản chỉ đạo và giao chỉ tiêu cho các huyện,thành phố năm 2019 chuyển đổi 1.200 hộ kinh doanh thành doanh nghiệp,đến nay đã có 5/12 địa phương xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện (NamSách, Tứ Kỳ, Kinh môn, Cẩm giàng, TP Hải Dương), trong đó có 02 huyện(Nam Sách, Tứ kỳ) đã thực hiện rà soát các hộ kinh doanh, tổ chức hội nghịtuyên truyền, hướng dẫn các hộ trở thành doanh nghiệp, tính đến hết tháng 9năm 2019 có 57 hộ kinh doanh chuyển thành doanh nghiệp, đạt 4,75% kếhoạch năm
Với sự nỗ lực phấn đấu của các cấp, các nghành, các doanh nghiệp trênđịa bàn tỉnh đã có những bước phát triển khá Trong năm 2019 đã có hơn
1300 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh thành lập mới so với năm 2018 là 1167doanh nghiệp tăng 11,4% , với tổng số vốn điều lệ đăng ký là 11.005 tỷ đồngtăng 43,6% về vốn so với năm 2018 Lũy kế tính đến nay trên địa bàn tỉnh có13.990 doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký là 160.461 tỷ đồng, số lượngdoanh nghiệp này đã giải quyết việc làm cho trên 500 nghìn lao động, gópphần quan trọng phát triển kinh tế, ổn định xã hội trên địa bàn tỉnh