DANH MỤC CÁC BẢNGBảng 4.2 So sánh nguồn cây thuốc Thái Nguyên với thực vật làm thuốc ở Việt Nam 55 Bảng 4.4 Chỉ số đa dạng ở các cấp độ của ngành và tổng số cây thuốc ở KVNC 56 Bảng 4.6
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LÊ THỊ THANH HƯƠNG
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG NGUỒN CÂY THUỐC
ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC
THIỂU SỐ Ở TỈNH THÁI NGUYÊN NHẰM BẢO TỒN
VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LÊ THỊ THANH HƯƠNG
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG NGUỒN CÂY THUỐC
ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC
THIỂU SỐ Ở TỈNH THÁI NGUYÊN NHẰM BẢO TỒN
VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Chuyên ngành: Thực vật học
Mã số: 62420111
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS Nguyễn Trung Thành
2 GS.TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng
dẫn của tập thể hướng dẫn Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Lê Thị Thanh Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận án, tôi đã nhận được sự
giúp đỡ vô cùng quý báu của các thầy, cô giáo, các nhà khoa học cùng với sự ủng
hộ của các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình
Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo
PGS.TS Nguyễn Trung Thành và GS.TSKH.NGƯT Nguyễn Nghĩa Thìn, Bộ môn
Thực vật học, khoa Sinh học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia
Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu
để tôi có thể hoàn thành luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Văn hóa Thông tin, Ủy ban Nhân dân , Cục
Kiểm lâm, phòng Thống kê tỉnh Thái Nguyên và đồng bào các dân tộc Tày, Nùng,
Sán Dìu, Sán Chay và Dao ở các xã, huyện của tỉnh Thái Nguyên
Tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới các thầy, cô và anh chị tại bộ phận Sau Đại
học của khoa Sinh học, của trường Đại học Khoa học Tự nhiên đã tổ chức mọi hoạt
động liên quan đến việc học tập và nghiên cứu của tôi một cách tận tình, chu đáo
Tôi xin cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ của các nhà khoa học thuộc khoa Tài
nguyên Dược liệu, Viện Dược liệu Trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ để tiến hành các
nghiên cứu thực nghiệm của GS Francis Megraud, TS Christine Varon, TS
Nguyễn Phú Hùng thuộc phòng thí nghiệm Helicobacter và Ung thư – INSERM
U853, Viện Y học Quốc gia Pháp, tại Đại học Bordeaux, Pháp Cảm ơn NCS Chu
Thành Huy, khoa Môi trường và Trái đất, Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên
đã hỗ trợ thực hiện xây dựng bản đồ GIS
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến trường Đại học Khoa học, Đại học
Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian
nghiên cứu sinh Trong thời gian thực hiện luận án, tôi luôn nhận được sự động viên
của các đồng nghiệp, bạn bè và sự hợp tác của các em sinh viên trong các đề tài
nghiên cứu liên quan đến luận án Tôi luôn ghi nhớ và cảm ơn sự động viên, giúp
đỡ quý báu đó
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới bố mẹ, những người thân yêu
trong gia đình tôi, đặc biệt là chồng và con tôi là những nguồn động viên tinh thần
quý giá để tôi hoàn thành luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 14 tháng 09 năm 2015
Tác giả luận án: Lê Thị Thanh Hương
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục 1
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt 5
Danh mục các bảng 6
Danh mục các hình 7
MỞ ĐẦU 9
1 Đặt vấn đề 9
2 Mục tiêu nghiên cứu 10
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 10
4 Những đóng góp mới của luận án 10
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 11
1.1 Tài nguyên cây thuốc trên thế giới 11
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu và sử dụng tài nguyên cây thuốc trên thế giới 11
1.1.2 Tình hình nghiên cứu cây thuốc dân tộc trên thế giới 16
1.2 Tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam 20
1.2.1 Lịch sử nghiên cứu và sử dụng tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam 20
1.2.2 Tình hình nghiên cứu cây thuốc dân tộc ở Việt Nam 22
1.2.3 Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở tỉnh Thái Nguyên 25
1.3 Bảo tồn tài nguyên cây thuốc 26
1.4 Vai trò của cây thuốc dân tộc trong nghiên cứu thuốc kháng ung thư 31
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35 2.1 Đối tượng, vật liệu và thời gian nghiên cứu 35
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 35
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 35
2.1.3 Trang thiết bị nghiên cứu 36
2.1.4 Địa điểm và thời gian điều tra nghiên cứu 36
Trang 62.2 Nội dung nghiên cứu 38
2.2.1 Điều tra cây thuốc trong cộng đồng các dân tộc thiểu số Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chay, Dao ở tỉnh Thái Nguyên 38
2.2.2 Đánh giá tính đa dạng của nguồn tài nguyên cây thuốc đã ghi nhận được ở tỉnh Thái Nguyên 38
2.2.3 Vốn tri thức bản địa trong việc sử dụng cây thuốc của cộng đồng các dân tộc thiểu số ở tỉnh Thái Nguyên 38
2.2.4 Kiểm chứng cơ sở khoa học về khả năng kháng tế bào ung thư dạ dày của cây Lá khôi (Ardisia gigantifolia Stapf.) 38
2.2.5 Vấn đề bảo tồn cây thuốc ở khu vực nghiên cứu 39
2.3 Phương pháp nghiên cứu 39
2.3.1 Phương pháp điều tra cộng đồng 39
2.3.2 Phương pháp thu thập, xử lí mẫu vật và định loại 40
2.3.3 Phương pháp kế thừa 41
2.3.4 Phương pháp đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc 41
2.3.5 Phương pháp xây dựng bản đồ phân bố điểm các cây thuốc nằm trong diện bảo tồn 42
2.3.6 Phương pháp xử lý số liệu thực địa 42
2.3.7 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 42
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 45
3.1 Điều kiện tự nhiên 45
3.1.1 Vị trí địa lý 45
3.1.2 Địa hình 45
3.1.3 Tài nguyên đất 46
3.1.4 Khí hậu, thời tiết 47
3.1.5 Chế độ thủy văn 48
3.1.6 Tài nguyên rừng 49
3.2 Điều kiện xã hội 50
3.2.1 Dân cư 50
3.2.2 Dân tộc 51
Trang 7Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 54
4.1 Nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở tỉnh Thái Nguyên 54
4.1.1 Sự đa dạng trong các bậc taxon 54
4.1.2 Đa dạng về dạng cây của nguồn cây thuốc ở tỉnh Thái Nguyên 60
4.2 Tiềm năng khai thác và sử dụng cây thuốc ở tỉnh Thái Nguyên 61
4.3 Những cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ở Việt Nam đã ghi nhận được ở tỉnh Thái Nguyên 66
4.3.1 Số loài cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ở tỉnh Thái Nguyên 66
4.3.2 Ứng dụng công nghệ GIS xây dựng cơ sở dữ liệu về các loài câ y thuốc cần bảo tồn ở tỉnh Thái Nguyên 69
4.3.3 Các loài cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ở tỉnh Thái Nguyên 71
4.3.4 Những loài cây thuốc đặc hữu Việt Nam 91
4.4 Vốn tri thức bản địa trong việc sử dụng cây thuốc của cộng đồng các dân tộc thiểu số ở tỉnh Thái Nguyên 93
4.4.1 Một số kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của đồng bào các dân tộc thiểu số ở tỉnh Thái Nguyên 93
4.4.2 Ảnh hưởng của sự giao thoa giữa các dân tộc đến vốn tri thức bản đị a trong việc sử dụng cây thuốc 109
4.4.3 Vấn đề truyền thụ kiến thức về cây thuốc trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở tỉnh Thái Nguyên 119
4.5 Nghiên cứu khả năng kháng tế bào ung thư dạ dày của dịch chiết cây Lá khôi (Ardisia gigantifolia Stapf.) 121
4.5.1 Đánh giá khả năng ức chế của dịch chiết Lá khôi (Ardisia gigantifolia) đến sự phân chia của các dòng tế bào ung thư dạ dày 121
4.5.2 Đánh giá tác động của dịch chiết Lá khôi (Ardisia gigantifolia) lên quá trình apoptosis của tế bào ung thư dạ dày 123
4.5.3 Ảnh hưởng của dịch chiết Lá khôi (Ardisia gigantifolia) đến sự điều hòa chu kỳ của tế bào ung thư dạ dày 124
4.5.4 Ảnh hưởng của dịch chiết Lá khôi (Ardisia gigantifolia) đến sự điều hòa giảm các đặc tính của tế bào gốc ung thư dạ dày dòng MKN45 125
Trang 84.6 Một số giải pháp về việc bảo tồn, phát triển bền vững nguồn cây thuốc
và vốn tri thức bản địa của cộng đồng các dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên 128
4.6.1 Bảo tồn cây thuốc có nguy cơ bị tuyệt chủng, đi đôi với phát triển trồng thêm 128 4.6.2 Khai thác hợp lý, chú ý đến bảo vệ tái sinh 131
4.6.3 Bảo tồn vốn tri thức bản địa của cộng đồng, nghiên cứu kế thừa và phát huy 132 4.6.4 Tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng 133
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 134
1 Kết luận 134
2 Đề nghị 135
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 136
TÀI LIỆU THAM KHẢO 137
PHỤ LỤC Phụ lục 1 Phiếu điều tra cây thuốc và bài thuốc dân gian
-1-Phụ lục 2 Danh lục cây thuốc được đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Thái Nguyên sử dụng
-2-Phụ lục 3 Những bài thuốc theo kinh nghiệm của đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Thái Nguyên
-60-Phụ lục 4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu thực địa
-86-Phụ lục 5 Hình ảnh các địa điểm nghiên cứu
-88-Phụ lục 6 Hoạt động sơ chế và sử dụng cây thuốc
-90-Phụ lục 7 Lưu trữ và bảo quản mẫu cây thuốc
-91-Phụ lục 8 Danh sách các thầy thuốc đã phỏng vấn ở tỉnh Thái Nguyên
-93-Phụ lục 9 Hình ảnh một số loài cây thuốc ở Thái Nguyên theo từng dân tộc
-97-Phụ lục 10 Mật độ OD đo được trên máy quang phổ Nano Spectro đối với các dòng tế bào được xử lý bởi DCLK ở các nồng độ khác nhau từ 50 - 500 µg/ml trong 48 giờ
-102-Phụ lục 11 Xác định giá trị IC50 của DCLK đối với các dòng tế bào ung thư dạ dày -102-Phụ lục 12 Ảnh hưởng của DCLK lên sự hình thành các sphere của tế bào gốc ung thư dạ dày dòng MKN45 (*p < 0,05; n = 5)
-102-Phụ lục 13 Khả năng ức chế sự hình thành các sphere của DCLK ở nồng độ 50 µg/ml -103-Phụ lục 14 Ảnh hưởng của DCLK lên kích thước của các sphere và số lượng các tế bào gốc ung thư dạ dày trong mỗi sphere của dòng MKN45
-103-Phụ lục 15 Bổ sung các loài cho Danh lục cây thuốc Việt Nam
Trang 9-104-DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
ALDH Aldehyde Dehydrogenase
ATCC American Type Culture Collection
BTTN Bảo tồn Thiên nhiên
CREDEP Centre for Research and Development of Ethnomedicinal Plants - Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển cây thuốc dân tộc cổ truyền
DCLK Dịch chiết Lá khôi
DEAB N,N-diethylaminobenzaldehyde
DMEM Dulbecco's Modified Eagle's Medium
DMSO Dimethyl Sulfoxide
ĐDSH Đa dạng sinh học
EDTA Ethylenediaminetetraacetic Acid
IUCN International Union for Conservation of Nature and Natural Resources -Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên
KVNC Khu vực nghiên cứu
MTT 3-(4, 5-dimethylthiazolyl-2)-2, 5-diphenyltetrazolium bromide
GIS Geographic Information System - Hệ thống thông tin địa lý
GPS Global Positioning System - Hệ thống định vị toàn cầu
polyHEMA Polyhydroxyethylmethacrylate
RPMI 1640 Roswell Park Memorial Institute 1640
WHO World Health Organization - Tổ chức Y tế thế giới
WWF World Wildlife Fund - Quỹ quốc tế Bảo tồn động vật hoang dã
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.2 So sánh nguồn cây thuốc Thái Nguyên với thực vật làm thuốc ở Việt Nam 55
Bảng 4.4 Chỉ số đa dạng ở các cấp độ của ngành và tổng số cây thuốc ở KVNC 56
Bảng 4.6 So sánh các họ giàu loài cây thuốc ở KVNC (1) với các họ giàu loài của hệ thực vật Việt Nam (2) 59
Bảng 4.11 Cơ sở dữ liệu thuộc tính của bản đồ phân bố cây thuốc cần bảo tồn ở tỉnh Thái Nguyên 70
Bảng 4.12 Sự đa dạng về bộ phận sử dụng làm thuốc theo kinh nghiệm của các dân tộc thiểu số ở tỉnh Thái Nguyên 105
Bảng 4.14 Kết quả thu thập bài thuốc kinh nghiệm của cộng đồng các dân tộc thiểu số ở tỉnh Thái Nguyên 108
Bảng 4.15 Danh sách cây thuốc được cả 5 dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên sử dụng 110
Bảng 4.16 Danh sách cây thuốc các dân tộc cùng sử dụng chữa bệnh về xương khớp 113
Bảng 4.17 Danh sách cây thuốc các dân tộc cùng sử dụng chữa bệnh về gan, thận, dạ dày 115
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.3 Bản đồ phân bố cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ở tỉnh Thái Nguyên
Trang 12Hình 4.41 Tỉ lệ các bộ phận sử dụng làm thuốc theo kinh nghiệm của các dân
Hình 4.42 Ảnh hưởng của DCLK lên khả năng phân chia của tế bào ung thư dạ dày 122
Hình 4.44 Khả năng cảm ứng apoptosis của DCLK đối với 3 dòng tế bào ung
thư dạ dày AGS, MKN45 và MKN74 (*p <0,05; n = 5) 124
Hình 4.45 Ảnh hưởng của DCLK lên các pha của chu kỳ tế bào ở 3 dòng AGS,
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Việt Nam nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm ở châu Á,
được đánh giá là nước đứng thứ 16 trên thế giới về sự phong phú và đa dạng của
sinh vật [11] Hệ thực vật Việt Nam cũng được biết đến rất đa dạng và phong phú
Theo ghi nhận của Phạm Hoàng Hộ có khoảng 10.500 loài thực vật bậc cao có
mạch và dự đoán có đến 12.000 loài; trong đó, số loài được dùng làm thuốc chiếm
khoảng 36% [32] Theo kết quả điều tra của Viện Dược liệu, Bộ Y tế đã xác định ở
Việt Nam có 3.948 loài cây thuốc [22] Gần đây, Võ Văn Chi đã thống kê ở Việt
Nam hiện có gần 4.700 loài thực vật làm thuốc [16] Đồng thời, Việt Nam còn là
Quốc gia đa dạng về nền văn hóa với 54 dân tộc anh em sinh sống trên khắp lãnh
thổ Mỗi dân tộc ở các vùng miền khác nhau lại có những tri thức khác nhau về cách
sử dụng cây cỏ để phục vụ cuộc sống của họ Với mức độ đa dạng về hệ thực vật,
về văn hóa như vậy, chúng ta đang được kế thừa một kho tàng tài nguyên cây thuốc
quý giá của các dân tộc trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng và phát triển
kinh tế
Việt Nam là một Quốc gia có 3/4 diện tích là đồi núi, nơi có sự đa dạng về
nguồn tài nguyên cây thuốc và là nơi cư trú của 54 dân tộc mà phần lớn là dân tộc
thiểu số với khoảng 24 triệu người, chiếm hơn 1/3 dân số Quốc gia [36] Chính sự
đa dạng về tộc người cùng với sự khác biệt về điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, phong
tục tập quán, văn hóa trong từng cộng đồng dân tộc đã dẫn đến sự đa dạng những
kinh nghiệm gia truyền trong việc chữa bệnh và cách sử dụng cây cỏ xung quanh
mình làm thuốc chữa bệnh Việc sử dụng những kinh nghiệm dân gian và nghiên
cứu thực vật học dân tộc ở Việt Nam nói chung và các dân tộc thiểu số nói riêng là
rất cần thiết để góp phần phát triển nền kinh tế của đồng bào dân tộc
Tỉnh Thái Nguyên, một trung tâm chính trị, kinh tế của vùng trung du miền
núi phía Bắc, là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với
vùng đồng bằng Bắc Bộ Đồng thời, Thái Nguyên là nơi có hệ sinh thái đa dạng và
có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống như: Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chay,
Dao, Hoa, H’mông ; trong đó, dân tộc Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chay và Dao là
cộng đồng các dân tộc thiểu số có số dân cư đông nhất Từ rất lâu đời, đồng bào các
dân tộc thiểu số ở tỉnh Thái Nguyên đã có truyền thống chữa bệnh bằng cây thuốc,
mỗi dân tộc lại có những kinh nghiệm riêng, đặc trưng cho dân tộc mình Do đó,
kho tàng tri thức sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc nơi đây rất phong phú
Trang 14Nhưng tri thức bản địa về cây thuốc của mỗi dân tộc cho đến nay vẫn chưa được hệ
thống một cách đầy đủ, toàn diện, chưa có một nghiên cứu tổng thể về nguồn tài
nguyên cây thuốc của đồng bào các dân tộc trên địa bàn toàn tỉnh Chính vì vậy,
chúng tôi lựa chọn đề tài luận án: “Nghiên cứu tính đa dạng nguồn cây thuốc
được sử dụng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở tỉnh Thái Nguyên nhằm
bảo tồn và phát triển bền vững”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá đa dạng nguồn cây thuốc được sử dụng trong cộng đồng các dân tộc
thiểu số ở tỉnh Thái Nguyên và đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát triển bền vững
Kiểm chứng giá trị thực tiễn về khả năng ức chế tế bào ung thư dạ dày từ dịch chiết
của cây Lá khôi (Ardisia gigantifolia Stapf.).
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Các kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học để bảo tồn nguồn tài
nguyên cây thuốc và vốn kinh nghiệm độc đáo trong việc sử dụng cây thuốc của
cộng đồng dân tộc thiểu số Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chay và Dao ở tỉnh Thái
Nguyên
- Kết quả nghiên cứu thực nghiệm là tiền đề quan trọng cho những nghiên cứu
để phát triển thuốc kháng ung thư dạ dày từ cây Lá khôi (Ardisia gigantifolia
Stapf.), phục vụ cho việc chăm sóc sức khỏe
4 Những đóng góp mới của luận án
- Lần đầu tiên đưa ra được bộ tư liệu tương đối đầy đủ về nguồn cây thuốc và
tri thức sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc thiểu số Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán
Chay và Dao ở tỉnh Thái Nguyên
- Xây dựng được cơ sở dữ liệu về các loài cây thuốc cần bảo tồn ở tỉnh Thái
Nguyên
- Bổ sung thêm dẫn liệu mới về khả năng điều trị ung thư dạ dày bằng loài Lá
khôi (Ardisia gigantifolia Stapf.).
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tài nguyên cây thuốc trên thế giới
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu và sử dụng tài nguyên cây thuốc trên thế giới
Từ xa xưa, con người vẫn luôn coi trọng cây cỏ như là một nguồn thuốc chủ
yếu để chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe Các kinh nghiệm dân gian về sử dụng cây
thuốc chữa bệnh được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào sự phát
triển của từng châu lục, từng quốc gia và từng dân tộc Hầu hết các quốc gia đã biên
soạn các sách chuyên khảo về cây thuốc trên quy mô toàn quốc hoặc vùng lãnh thổ
Nhiều công trình nghiên cứu cây thuốc của các nước được sử dụng rộng rãi và có
giá trị khoa học thực tiễn lớn
Dược thảo ở châu Á được ghi nhận từ rất sớm, dựa trên nghiên cứu khảo cổ
học từ 60.000 năm về trước, khi khai quật một ngôi mộ cổ của người Neanderthal ở
Iraq, có chứa 8 loại cây thuốc khác nhau như: Ma hoàng (Ephedra sinica), Cỏ thi
(Achillea millefolium), [135] Nói đến dược thảo ở châu Á không thể không nhắc
đến hai quốc gia có nền y học cổ truyền lâu đời là Trung Quốc và Ấn Độ Ở Trung
Quốc, dược thảo được phát triển như là một phần của văn hóa Trung Hoa Gần
5.000 năm về trước (từ năm 2.737 TCN đến 2.697 TCN), dược thảo ở Trung Quốc
được biết đến nhờ một nhân vật huyền thoại gọi là Thần Nông Người ta nói rằng,
Thần Nông bằng cách nếm thử hàng trăm loại thảo mộc, đã mô tả về giá trị chữa
bệnh và đặc điểm của hơn 70 loại thảo mộc [208] Nhiều loại thảo mộc đã được sử
dụng thường xuyên cho việc chăm sóc sức khỏe ở Trung Quốc cổ đại và các kiến
thức đã được lưu lại bằng truyền miệng qua nhiều thế kỷ Các loại thảo mộc được
mô tả một cách chính thức trong cuốn sách đặt theo tên của Thần Nông, mà ngày
nay được biết đến là “Shennong Bencao Jing” của tác giả sống trong giai đoạn ngay
sau sự sụp đổ của triều đại nhà Hán (202 TCN - 220) [129] Trong cuốn “Shennong
Bencao Jing” đã đề cập đến 364 loại dược liệu; bao gồm 252 loại bộ phận của cây,
67 loại bộ phận động vật và 46 loại khoáng sản làm thuốc; đồng thời cũng mô tả tác
dụng chữa bệnh của chúng [164] Chính cuốn sách này đã tạo nền tảng cho sự phát
triển liên tục của nền y học dược thảo Trung Quốc cho đến ngày nay Tiếp đến, hơn
240 loại dược thảo và 52 đơn thuốc đã được mô tả trong cuốn sách có tên là “52
Bing-Fang” được khai quật tại một ngôi mộ cổ vào năm 168 TCN tại Trung Quốc
[200] Đến năm 659, cuốn “Xin Xiu Ben Cao” đã ghi lại 850 loại dược thảo, đây là
cuốn dược điển nổi tiếng ở Trung Quốc và cả trên thế giới [164] Năm 1596, Li đã
ghi nhận 1.892 loại dược thảo và 11.096 công thức chữa bệnh trong cuốn “Ben Cao
Gang Mu” [144] Đến năm 1977, Trung Quốc đã xuất bản cuốn “Đại từ điển đông
dược” thống kê 5.757 mục từ, đa số là thảo mộc Và gần đây, trong cuốn “Dược
Trang 16thảo toàn thư” của Andrew đã đề cập đến bộ sách “Cây thuốc Trung Quốc” liệt kê
hầu hết các loài cây cỏ chữa bệnh được biết từ trước tới nay [90] Trong cuốn
“Taiwanese native medicinal plants”, Li đã công bố hơn 1.000 loài cây thuốc được
sắp xếp theo bảng chữ cái của tên Latinh [137]
Ấn Độ cũng là quốc gia có truyền thống sử dụng các loại dược thảo lâu đời
Nền y học cổ truyền Ấn Độ được gọi là Ayurveda có nguồn gốc từ thời cổ xưa Chữ
Ayurveda được tạo thành bởi các từ có ý nghĩa: “Ayus” có nghĩa là “sống” hay
“trường thọ” và “Veda” có nghĩa là “khoa học” và “tri thức” Từ cách đây 6.000
năm, tại Ấn Độ, y học Ayurveda đã sử dụng bột nghệ để làm thuốc chữa bệnh [65,
206] Khoảng 5.000 năm trước, các dẫn liệu lâu đời về việc sử dụng cây thuốc được
tìm thấy trên một phiến đất sét của người Sumer ở Nagpur, Ấn Độ, bao gồm 12
công thức chữa bệnh có đề cập đến hơn 250 loại cây khác nhau [125] Trong quyển
kinh của người Aryan có tên là Vedas được viết vào năm 1.500 TCN, chứa đựng
những kiến thức phong phú về dược thảo thời kỳ đó Trong đó, nhiều loài cây được
xem là những “cây thiêng” dành cho những vị thần đặc biệt, chẳng hạn như cây Trái
nấm (Aegle marmelos) là cây dành cho thánh thần của người Hindu, thánh Lakshmi
(thánh mang lại sự giàu có và may mắn), thánh Shiva (vị thánh của sức khỏe) và cây
được trồng gần các đền thờ Nhiều loại dược thảo và khoáng chất sử dụng trong y
học Ayurveda sau đó đã được hai thầy thuốc nổi tiếng của Ấn Độ là Charaka (thế
kỷ II) và Sushruta (thế kỷ IV) mô tả trong các tác phẩm của họ Charaka trong tác
phẩm “Charaka Samhita” đã mô tả 341 loại dược thảo cũng như những loại thuốc
có nguồn gốc từ khoáng vật Sushruta trong tác phẩm “Sushruta Samhita” cũng đã
mô tả 760 loại dược liệu trong đó có Gai đầu (Cannabis) và Hyoscyamus [99] Gần
đây, y học Ayurveda đã phát triển mạnh, nhiều tri thức bản địa đã được nghiên cứu,
đánh giá và ứng dụng có hiệu quả, theo thống kê có khoảng 2.000 loài cây cỏ có
công dụng làm thuốc [90] Dãy Himalaya hùng vĩ, cho đến nay đã tìm thấy khoảng
8.000 loài thực vật Hạt kín, 44 loài thực vật Hạt trần; trong đó có 1.748 loài được sử
dụng như là cây thuốc Hay ở khu vực Hy Mã Lạp Sơn từ lâu đã nổi tiếng cung cấp
nguồn cây thuốc chữa bệnh cho hàng triệu người dân Hiện nay, lĩnh vực dược liệu
ở Ấn Độ sử dụng khoảng 280 loài cây thuốc, trong đó có 175 được tìm thấy ở Hy
Mã Lạp Sơn [74]
Dược thảo ở châu Âu rất đa dạng và việc sử dụng các cây thuốc ở đây cũng đã
góp phần tạo ra nền tảng của y học truyền thống cổ điển Người đầu tiên phải kể
đến đó là Theophrastus (371 - 287 TCN), nhà bác học nổi tiếng trong lịch sử của
khoa học Hy Lạp, là “cha đẻ của thực vật học”, ông có công lớn trong việc phân
loại và mô tả về cây thuốc Khoảng thời gian 350 - 287 TCN, Theophrastus đã viết
Trang 17hai cuốn sách “De causis plantarium” và “De historia plantarium”, trong đó đề cập
đến hơn 500 loài cây thuốc [213] Dioscorides (40 - 90), là một thầy thuốc Hy Lạp,
ông đã viết một cuốn sách dược thảo có tên “De material medica” Quyển sách này
bao gồm 500 loại thảo mộc, gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến y học phương Tây, là
sách tham khảo chính ở châu Âu và Trung Đông trong hơn 1.500 năm và do đó
cuốn sách trở thành tiền thân của các dược điển hiện đại Trong thời kỳ trung cổ,
“De materia medica” được dịch ra tiếng Latinh, tiếng Hy Lạp và tiếng Ả Rập Thời
kỳ Phục Hưng từ năm 1478 trở đi, cuốn sách này đã được in bằng tiếng Ý, tiếng
Đức, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Pháp [174] Pliny the Elder (23-79) là một nhà tự
nhiên học, nhà triết học La Mã, ông đã viết cuốn “Naturalis historia” đề cập đến
khoảng 1.000 loài cây khác nhau [169] Nhiều kiến thức y học truyền thống của
châu Âu về cây thuốc đều bắt nguồn từ Dioscorides và Pliny Galen (131 - 200),
một thầy thuốc của Hoàng đế La Mã Marcus Aurelius, có ảnh hưởng sâu sắc đến sự
phát triển của các vị thuốc bào chế từ thảo mộc [168] Vào thế kỷ thứ VII, người
Slavic ở Trung và Đông Âu đã sử dụng một số loại dược thảo như: Hương thảo
(Rosmarinus officinalis), Húng quế (Ocimum basilicum), Bạc hà (Mentha viridis),
để chăm sóc sức khỏe và dùng Tỏi (Alium sativum) như một phương thuốc chữa
bệnh hiệu quả [77] Charles Đại đế hay Charles I (742 - 814), vua của Ý từ năm
774, người sáng lập ra trường y có uy tín ở Salerno, trong tác phẩm “Capitularies”
đã trích dẫn 100 loài cây thuốc khác nhau, trong đó loài Xô thơm (Salvia officinalis)
được đánh giá rất cao Tên Latinh của loài này bắt nguồn từ “salvare” nghĩa là
“chữa bệnh”, thậm chí loài này được trồng bắt buộc trong tất cả các tu viện của
Công giáo [194] Vào thời Trung cổ, học thuyết “Dấu hiệu” khẳng định có một sự
kết nối giữa vẻ bề ngoài của một loài cây “dấu hiệu của thần thánh” và công dụng y
học của chúng Chẳng hạn, những chiếc lá lốm đốm của cây Cỏ phổi (Pulmonaria
officinalis) giống như các mô của phổi, chữa rất hiệu quả các bệnh về phổi Cũng
trong thời gian này, khoảng thế kỷ XI, tại Scotland các thầy tu đã sử dụng cây
Thuốc phiện (Papaver somniferum) và cây Cần xa (Cannabis sativa) để làm thuốc
giảm đau và thuốc gây mê [90] Các công trình tiêu biểu trong thời kỳ này là cuốn
“De re medica” của John Mesue, cuốn “Canon medicine” của Avicenna và cuốn
“Liber magnae collectionis simplicum alimentorum et medicamentorum” của Ibn
Baitar, trong đó có hơn 1.000 cây thuốc đã được mô tả [193] Cuộc hành trình của
Marco Polo (1254 - 1324) ở vùng nhiệt đới châu Á, Trung Quốc, Ba Tư và cuộc
hành trình của Vasco De Gama đến Ấn Độ (1498) đã đưa vào châu Âu nhiều cây
thuốc Từ đó, nhiều vườn thực vật được xây dựng trên khắp châu Âu và việc trồ ng
cây thuốc đã được thực hiện [168] Năm 1597, John Gerard (1545 - 1612) xuất bản
cuốn sách “The herball” với nhiều thông tin về dược thảo Ngoài ra, cuốn sách còn
Trang 18kể đến nhiều loại cây được các nhà thám hiểm và thương nhân mang vào châu Âu
[90] Năm 1652, Nicholas Culpeper (1616 - 1654) đã kế thừa một số kiến thức từ
Dioscorides và Paracelsus, cùng với kinh nghiệm chữa bệnh của các thầy thuốc địa
phương, ông đã cho xuất bản cuốn dược thảo “The English Physitian” Đây là cuốn
sách bán chạy nhất và được tái bản nhiều lần Dược thảo châu Âu không chỉ mang
tính bản xứ như: cây Kim sa (Arnica montana) được dùng nhiều trong các bài thuốc
dân gian ở châu Âu, uống trà Kim sa sẽ làm giảm chứng viêm họng ở tuổi già và
cây Bạch đầu ông (Anemone pulsatilla) được sử dụng nhiều trong ngành dược thảo
Thụy Sĩ, Đức, Ý, Pháp; còn cây Hoa chuông (Symphytum officinale) đặc biệt được
ưa chuộng ở Anh, ; mà còn mang tính ngoại nhập như cây Bạch quả (Ginkgo
biloba) có tác dụng cải thiện hệ tuần hoàn máu lên não, giúp bồi bổ trí nhớ [90]
Ở châu Phi, việc sử dụng liệu pháp điều trị bằng cây thuốc đã có từ thời xa
xưa Những bản viết tay có từ thời Ai Cập cổ đại (1950 TCN) đã liệt kê hàng chục
loại cây thuốc và công dụng của chúng Trong bản giấy cói của dân tộc Ebers
(khoảng 1.500 TCN) ghi lại hơn 870 toa thuốc và công thức, 700 loài dược thảo,
trong đó có cây Long đờm (Gentiana lutea), cây Lô hội (Aloe vera), cây Anh túc
(Papaver somniferum) và các chứng bệnh, từ bệnh phổi cho đến vết thương do cá
sấu cắn [193] Vào khoảng năm 800 TCN, trong thiên sử thi Iliad và Odyssey của
Homer, có 63 loài thực vật từ Minoan, Mycenae và Assyrian ở Ai Cập đã được giới
thiệu Trong đó, một số loài được lấy theo tên của các nhân vật thần thoại trong sử
thi như: cây Thủy dương (Inula helenium, họ Cúc - Asteraceae) được đặt theo tên
của Elena, người là trung tâm của cuộc chiến thành Troy Liên quan đến các loài
thực vật từ chi Artemisia, tên của chi bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “artemis” có nghĩa
là “khỏe mạnh”, được tin là dùng để khôi phục lại sức mạnh và bảo vệ sức khỏe
[192] Việc buôn bán dược thảo giữa các vùng Trung Đông, Ấn Độ và Đông Bắc
châu Phi đã có ít nhất từ 3.000 năm trước Từ thế kỷ V đến thế kỷ XIII, các thầy
thuốc Ả Rập là những người có công đầu trong sự tiến bộ của ngành y Vào giữa thế
kỷ XIII, nhà thực vật học Ibn El Beitar đã xuất bản cuốn “Các vấn đề y khoa” thống
kê chủng loại cây thuốc ở Bắc Phi Khắp châu Phi, hàng ngàn loại dược thảo khác
nhau mọc ở vùng dân cư hay nơi hoang dã đã được bán trên thị trường Một số loại
được kê toa để điều trị trong gia đình; một số loài như cây Kanna và cây Iboga
(Tabernanthe ibola) dùng để nhai chống sự mệt mỏi, sử dụng như chất kích thích
trong các lễ hội tôn giáo; cây Thổ mật (Bridelia ferruginea) (được tìm thấy ở các
vùng đồng cỏ Tây và Đông châu Phi) và cây Chàm (Indigofera arrecta) (được tìm
thấy ở vùng nhiệt đới châu Phi) có khả năng trong việc điều trị bệnh tiểu đường
[90]
Trang 19Châu Úc cũng là quê hương của truyền thống dược thảo từ rất sớm Người ta
tin rằng, các thổ dân châu Úc đã định cư ở đây từ hơn 60.000 năm về trước và hình
thành nên những kiến thức thực tiễn về các cây thuốc bản xứ Nhiều loại trong số
này như cây Bạch đàn xanh (Eucalyptus globulus) duy nhất chỉ có ở châu Úc, vốn
được sử dụng rất hữu hiệu trong việc chữa bệnh Hay loài Bạch đàn trắng
(Eucalyptus camaldulensis), lá có chất làm se và có mùi thơm, khi nhai làm cho
nước bọt có màu đỏ và được dùng trong điều trị bệnh tiêu chảy Tuy nhiê n, phần
lớn kiến thức về dược thảo của thổ dân đã bị mất đi khi người châu Âu đến định cư
Khi người Anh đến định cư, họ đã mang theo các kiến thức dược thảo từ châu Âu
về cây Cỏ roi ngựa (Verbena officinalis), cây Táo gai (Crataegus sp.), cây Mullein
(Verbascum thapsus) và cây Bồ công anh (Taraxacum officinale), mà giờ đây đã trở
thành kiến thức bản địa của châu Úc [90]
Các nền văn minh cổ đại ở châu Mỹ như Maya, Aztec, Inca đều có nền y học
cổ truyền về dược thảo bản địa với những kiến thức uyên thâm Theo văn bản
truyền miệng về nền văn hóa Inca, các thầy thuốc địa phương ở vùng Bolivia (hiện
nay) chữa bệnh rất giỏi và họ đã chiết được chất penicillin từ vỏ chuối xanh Vào
năm 1552, Martin de la Cruz đã viết cuốn “Badianus”, là quyển sách đầu tiên về
dược thảo ở châu Mỹ, liệt kê 251 loài dược thảo của Mexico dùng để điều trị bệnh
Quyển sách này chỉ ra rằng, người Aztec có nhiều bác sĩ giàu kinh nghiệm với các
truyền thuyết về y học của người da đỏ [86, 95] Ở các nước Trung Mỹ khác như ở
Cộng hòa Dominica và Nicaragua, chính phủ đã mở các dự án dạy cho phụ nữ cách
dùng các loại dược thảo tại địa phương, để điều trị cho cộng đồng của họ Khắp
vùng biển Caribe, dược thảo được sử dụng rộng rãi như cây Cỏ sốt (Cymbopogon
citratus) dùng để điều trị sốt và cây Khổ qua (Momordica charantia) làm giảm độ
đường trong máu Vào thế kỷ XVI, bệnh thiếu vitamin C đã được một người đứng
đầu thổ dân da đỏ ở châu Mỹ chữa bệnh bằng nước ép và mủ của một loại cây Thế
kỷ XVIII và XIX, ở Bắc Mỹ, các thầy thuốc bản địa đã biết sử dụng những loài cây
chữa trị vết thương và vết cắn ngoài da Hiện nay, ở châu Mỹ chủ yếu đi sâu nghiên
cứu các loại dược thảo bản xứ để sản xuất các loại thuốc chữa bệnh, trong đó nổi
tiếng là trung tâm Belem ở Đông Bắc Brazil và Bogota ở Colombia [90]
Lịch sử nghiên cứu và sử dụng tài nguyên cây thuốc được gắn liền với sự phát
triển của nền văn minh nhân loại, các kinh nghiệm chữa bệnh của cây thuốc được
xác định, ghi nhận và truyền đạt cho các thế hệ kế tiếp Việc kết hợp những kiến
thức dược thảo truyền thống với kiến thức y khoa hiện đại sẽ góp phần quan trọng
trong việc chăm sóc sức khỏe của loài người
Trang 201.1.2 Tình hình nghiên cứu cây thuốc dân tộc trên thế giới
Việc đi sâu nghiên cứu sự đa dạng của các loại dược thảo bản địa để phục vụ
cho việc sản xuất các loại thuốc mới đang rất được quan tâm thực hiện ở nhiều nơi
trên thế giới
Châu Á là châu lục có nhiều dân tộc cùng sinh sống, với vốn tri thức bản địa
về việc sử dụng các loài thực vật làm thuốc phong phú và đa dạng, đã có những
nghiên cứu cụ thể ở các cộng đồng người trong các khu vực khác nhau như: Thực
vật học của dân tộc Kani/Kanikaran ở miền Tây Nam Ghats của Ấn Độ đã được ghi
nhận có 54 loài thuộc 26 họ; trong đó sử dụng chủ yếu để chữa các bệnh về da, rắn
độc cắn, vết thương và bệnh thấp khớp Các cây thuốc được sắp xếp theo thứ tự tên
họ, tên địa phương, các thành phần hóa học chính, bộ phận sử dụng và cách sử dụng
[72] Có 35 loài thực vật được cộng đồng Chhota Bhangal ở phía Tây Himalaya sử
dụng trong việc chữa các bệnh khác nhau Đồng thời, kết quả nghiên cứu còn đề cập
sự ảnh hưởng giữa các hoạt động kinh tế, xã hội với các kiến thức dược thảo truyền
thống [196] Khi nghiên cứu việc sử dụng cây thuốc ở huyện Kancheepuram của
Tamil Nadu, các tác giả đã xác định 85 loài thực vật thuộc 76 chi, 41 họ để điều trị
các bệnh khác nhau về da, rắn độc cắn, đau bụng và rối loạn thần kinh [156] Kết
quả nghiên cứu tri thức bản địa về cây thuốc được sử dụng bởi cộng đồng Saperas ở
làng Khetawas, Jhajjar, Haryana, Ấn Độ đã tìm thấy 57 loài thực vật thuộc 51 chi
của 35 họ được người dân sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau, trong đó nhiều
nhất là các cây thuộc họ Đậu (Fabaceae) [165]
Khai thác kinh nghiệm sử dụng thực vật của người dân địa phương ở Banda
Daud Shah, Karak, Pakistan đã ghi nhận 58 loài thuộc 52 chi, 34 họ được sử dụng
cho các mục đích khác nhau, trong đó có 40 loài dùng để chữa bệnh và nhiều nhất là
các bệnh về dạ dày-ruột, long đờm và hạ sốt [154] Nghiên cứu đa dạng về tình hình
sử dụng cây thuốc dân tộc ở khu vực Swat, Bắc Pakistan đã thu thập 106 loài thuộc
54 họ được người dân bản địa sử dụng để điều trị bệnh [66] Việc điều tra cây thuốc
được người dân ở huyện Mastung của tỉnh Balochistan, Pakistan đã ghi nhận 102
loài thuộc 47 họ sử dụng để chữa các loại bệnh khác nhau [75] Gần đây, khi tiến
hành khảo sát nguồn cây thuốc được sử dụng bởi tộc Deb Barma của bộ tộc Tripura
ở huyện Moulvibazar, Bangladesh đã chỉ ra có 44 cây thuốc thuộc 34 họ được các
thầy lang sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau như: đau, ho, cảm lạnh, rối loạn
tiêu hóa, vết thương, bệnh tiểu đường, sốt rét, bệnh về tim và tê liệt [121] Cũng
trong năm 2014, 161 loài thảo dược thuộc 144 chi, 86 họ được ghi nhận đã dùng để
điều trị các loại bệnh khác nhau trong cộng đồng người Tamang ở huyện
Makawanpur, Nepal [143] Tìm hiểu về cây thuốc ở Khu bảo tồn Arjan - Parishan,
Trang 21tỉnh Fars, Iran đã có 85 loài thuộc 39 họ, 78 chi được ghi nhận dùng để chữa bệnh;
trong số đó, họ Cúc (Asteraceae) chiếm số loài nhiều nhất là 13 loài [98] Người Di
là nhóm dân tộc thiểu số đứng thứ 6 ở Trung Quốc với dân số là 6,57 triệu người
phân bố ở các tỉnh Vân Nam, Tứ Xuyên, Quý Châu và Quảng Tây Trong đó, Vân
Nam có sự tập trung đông nhất với 4,06 triệu người Nghiên cứu về cây thuốc được
sử dụng bởi dân tộc Di ở Vân Nam đã tìm thấy 116 loài thuộc 58 họ, điều trị các
bệnh liên quan đến chấn thương, rối loạn tiêu hóa và cảm lạnh Trong đó, có 25 loài
được tìm thấy có tác dụng chữa bệnh mới; 40 loài được ghi nhận phương pháp chữa
bệnh mới; 55 loài khác nhau được sử dụng trong điều trị vết thương và gãy xương;
47 loài dùng để điều trị rối loạn tiêu hóa [142] Quá trình điều tra cây thuốc của
người Tây Tạng ở Shangri-la, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc đã xác định được 68 loài
thuộc 64 chi, 40 họ [141]
Quá trình khảo sát cây thuốc ở đảo Jeju, Hàn Quốc đã thu thập được 171 loài
thực vật thuộc 141 chi, 68 họ và 777 cách sử dụng các loài cây làm thuốc của người
dân bản địa Nghiên cứu cũng chỉ ra các họ có nhiều loài cây thuốc là họ Cúc
(Asteraceae), họ Hoa hồng (Rosaceae), họ Cam (Rutaceae), họ Hoa tán (Apiaceae)
[184] Nghiên cứu khác về tri thức bản địa trong việc sử dụng cây thuốc tiến hành ở
VQG Gayasan, Hàn Quốc đã phát hiện 200 loài thuộc 168 chi, 87 họ được người
dân sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau như: rối loạn cơ xương, đau nhức, rối
loạn hệ hô hấp, bệnh gan và các vết thương [185] Việc điều tra cây thuốc từ rừng
thiêng và nương rẫy của dân tộc Karen và Lawa ở Thái Lan đã xác định được 365
loài thực vật thuộc 244 chi và 82 họ sử dụng để làm thuốc, trong đó dùng nhiều nhất
là các cây trong họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) và họ Long não (Lauraceae) [120]
Khi nghiên cứu về cây thuốc được người dân bản địa Ati Negrito ở đảo Guimaras,
Philippin đã tìm thấy 142 loài thuộc 55 họ sử dụng chữa 16 loại bệnh [161]
Y học dân gian châu Âu có một lịch sử lâu dài, những tri thức dân gian được
truyền lại cho các thế hệ sau bằng việc ghi chép hoặc truyền miệng qua nhiều thế kỉ
[171] Những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về việc sử
dụng các loài thực vật để điều trị nhiều loại bệnh của người dân bản địa được thực
hiện: nghiên cứu về cây thuốc ở Serra de São Mamede, Bồ Đào Nha đã cung cấp
thông tin của 165 loài thực vật làm thuốc [84] Đã có trên 518 loài thực vật thuộc
335 chi và 80 họ được người dân sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau ở khu vực
Alt Empordaf, Catalonia, bán đảo Iberia [166] Khi nghiên cứu cây thuốc ở Serra de
Mariola, phía Đông Nam Tây Ban Nha đã chỉ ra có 93 loài thực vật được người dân
địa phương dùng để chữa bệnh [73] Đã có 98 loài thực vật thuộc 39 họ được người
dân ở Alps Albania, Kosovo sử dụng để điều trị các loại bệnh khác nhau, trong đó
Trang 22các cây sử dụng nhiều nhất chủ yếu thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae), họ Cúc
(Asteraceae) và họ Bạc hà (Lamiaceae) [155] Việc khảo sát cây thuốc ở Maden,
Elazig, Thổ Nhĩ Kỳ đã ghi nhận 88 loài thực vật thuộc 41 họ được sử dụng cho mục
đích chữa bệnh [83] Có 137 loài thực vật được người dân bản địa ở Alasehir,
Manisa, Thổ Nhĩ Kỳ sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau [178] Khi tiến hành so
sánh thực vật dân tộc của cộng đồng người Selegan sống ở Turin phía Đông Bắc,
nước Ý và ở Adeane phía Nam, Senegal, kết quả đã xác định được 71 loài cây thuốc
ở Adeane và 41 loài cây thuốc tại Turin và phần lớn các cây được ghi nhận của
người di cư Senegal ở Turin cũng đã được sử dụng tại nước bản xứ Adeane [100]
Điều tra về thực vật học và công dụng trong khu vực Alto Tirreno Cosentino,
Calabria, miền Nam nước Ý đã tìm thấy 52 loài thực vật thuộc 35 họ được người
dân sử dụng để điều trị các loại bệnh chủ yếu như: bệnh ngoài da, bệnh về đường hô
hấp, đau răng và đau thấp khớp [134] Việc điều tra về cây thuốc ở khu vực Đông
Nam của vườn Partenio, Campania, miền Nam nước Ý đã tìm ra 87 loài thuộc 76
chi và 35 họ được người dân sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau cho cả người
và động vật [147] Tiến hành nghiên cứu về công dụng chữa bệnh và kinh nghiệm
truyền thống của thực vật bản địa của vùng núi cao dãy Alps thuộc phía Tây, nước
Ý đã tìm thấy 199 loài cây thuốc thuộc 64 họ và sử dụng chủ yếu để điều trị bệnh về
hệ tiêu hóa, hệ hô hấp và da [93],
Ở châu Mĩ những nghiên cứu về việc sử dụng cây thuốc của người dân bản địa
cũng được thực hiện ở nhiều nơi: Nghiên cứu về cây thuốc của Tacana - nhóm dân
tộc Bolivia vùng Amazon đã thu thập được khoảng 450 loài thực vật khác nhau,
trong đó có 33% được sử dụng làm thuốc [78] Việc sử dụng cây thuốc cổ truyền ở
miền Bắc Peru được xác định có 510 loài dùng để điều trị bệnh, trong đó họ được
sử dụng nhiều nhất là: họ Cúc (Asteraceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Bạc hà
(Lamiaceae), họ Cà (Solanaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) và họ Hòa thảo
(Poaceae) [81] Cây thuốc của cộng đồng Asháninka ở Bajo Quimiriki, Junín, Peru
được xác định có 402 loài dùng để điều trị các bệnh khác nhau, trong đó các cây
được sử dụng nhiều nhất chủ yếu thuộc các họ: họ Cúc (Asteraceae), họ Ráy
(Araceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Cà
(Solanaceae) và họ Hồ tiêu (Piperaceae) [145] Có 187 loài thực vật thuộc 128 chi
và 64 họ được người dân ở khu vực Xing - một khu vực khô hạn ở Đông Bắc Brazil
sử dụng để điều trị các bệnh: cảm lạnh thông thường, viêm phế quản, bệnh tim
mạch, bệnh thận và an thần [67] Kết quả điều tra về thực vật làm thuốc của người
dân địa phương ở khu vực Carraso, Đông Bắc Brazil có 32 loài thuộc 29 chi, 20 họ
được dùng để điều trị các bệnh khác nhau [186] Theo các tác giả, cây thuốc cổ
truyền tại tỉnh Loja, phía Nam Ecuador đã ghi nhận có 215 loài được người dân địa
Trang 23phương sử dụng để điều trị bệnh [82] Kết quả nghiên cứu về thực vật của người
nhập cư Haiti sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau, các tác giả đã ghi nhận 123
loài cây thuốc thuộc 112 chi, 63 họ [199] Nghiên cứu về cây thuốc được người thổ
dân ở khu rừng phía Bắc Canada đã chỉ ra có 546 loài dùng để điều trị 28 bệnh và
triệu chứng rối loạn khác nhau, trong đó chủ yếu là các cây thuốc được sử dụng để
chữa bệnh rối loạn dạ dày-ruột, rối loạn cơ xương [197] Cây thuốc được cư dân
làng Genoy ở Pasto, Colombia sử dụng có 63 loài thuộc 31 họ dùng để điều trị các
bệnh khác nhau, trong đó các họ được sử dụng chủ yếu là họ Bạc hà (Lamiaceae) và
họ Cúc (Asteraceae) [69] Kết quả điều tra về cây thuốc của người dân Rayones ở
Nuevo León, Mexico đã ghi nhận 252 loài thuộc 228 chi và 91 họ, trong đó họ được
sử dụng chủ yếu là: họ Cúc (Asteraceae) và họ Đậu (Fabaceae) [103] Khi khảo sát
về cây thuốc trong cộng đồng Mapuche - Tehuelche ở vùng Datagonia, Argentina
đã tìm thấy 121 loài dùng để chữa các bệnh liên can đến tiêu hóa, hô hấp, tim mạch,
giảm đau, chống viêm, sản phụ khoa và sinh dục [150],
Người dân châu Phi đã sử dụng cây thuốc bản địa từ rất lâu để bảo vệ sức
khỏe, những nghiên cứu gần đây cho thấy việc sử dụng cây thuốc của những người
dân bản địa ở châu Phi rất đa dạng và phong phú Nghiên cứu thực vật dân tộc học ở
Mt Nyiru, Nam Turkana, Kenya đã ghi nhận có 448 loài cây thuốc được người dân
bản địa sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau [80] Cộng đồng dân tộc Marakwet
ở Kenya đã sử dụng 111 loài cây làm thuốc để điều trị các bệnh khác nhau [128]
Kết quả điều tra về cây thuốc ở Babungo, phía Tây Bắc Cameroon đã ghi nhận 107
loài thực vật thuộc 98 chi và 54 họ được người dân địa phương sử dụng để điều trị
các bệnh, trong đó họ có nhiều loài nhất là họ Cúc (Asteraceae) [183] Khi tìm hiểu
về kiến thức truyền thống và cách sử dụng cây thuốc trong cộng đồng dân tộc ở
Douala, Cameroon, nhóm nghiên cứu đã xác định 94 loài cây thuốc thuộc 84 chi và
46 họ [101] Kết quả nghiên cứu về cây thuốc và cây làm gia vị ở Beni-Sueif, phía
Bắc Ai Cập đã chỉ ra có 48 loài thực vật thuộc 47 chi và 27 họ được người dân sử
dụng để điều trị các bệnh liên quan đến tim mạch, tiêu hóa và hô hấp [63] Tiến
hành điều tra về kiến thức bản địa trong sử dụng cây thuốc của thầy lang ở
Oshikoto, Namibia đã tìm thấy 61 loài thuộc 25 họ được các thầy lang trong khu
vực sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau như: tâm thần, nhiễm trùng da, rắn cắn
và các vấn đề về tim mạch [87] Người dân địa phương Otwal và Ngai ở huyện
Oyam, phía Bắc Uganda đã sử dụng 71 loài thuộc 41 họ để điều trị các loại bệnh
khác nhau, trong đó họ được sử dụng chủ yếu là họ Cúc (Asteraceae) [124] Tiến
hành khảo sát cây thuốc theo kinh nghiệm của người dân ở Zegie Peninsula, phía
Tây Bắc Ethiopia đã ghi nhận 67 loài cây thuốc thuộc 64 chi và 42 họ sử dụng để
điều trị các bệnh liên quan đến rối loạn tiêu hóa và nhiễm trùng [188] Khi tìm hiểu
Trang 24về kiến thức cây thuốc của dân tộc Bench ở Ethiopia đã tìm thấy 35 loài thực vật
được sử dụng để làm thuốc, trong đó 32 loài được sử dụng để điều trị các bệnh cho
người và 3 loài được sử dụng để điều trị các bệnh cho cả người và gia súc [111]
Các cây thuốc của dân tộc Sheko ở Tây Nam Ethiopia được tìm thấy chủ yếu là các
cây thân thảo, dùng để điều trị các bệnh về da và dạ dày-ruột và lá là bộ phận được
sử dụng nhiều nhất trong tổng số 71 loài [110] Nghiên cứu về sử dụng và quản lý
các cây thuốc truyền thống của cộng đồng dân tộc Maale và Ari ở miền Nam
Ethiopia đã xác định được 128 loài cây thuốc, thuộc 111 chi và 49 họ điều trị cho
48 loại bệnh khác nhau [126] Có 49 loài cây thuốc thuộc 31 họ và 46 chi được
người Oromo ở huyện Ghimbi, phía Tây Nam Ethiopia sử dụng để chữa bệnh
[62],
Tình hình nghiên cứu cây thuốc bản địa tại châu Úc cũng rất được quan tâm,
chú trọng Nhiều tổ chức, nhóm nghiên cứu hay cá nhân đã điều tra, nghiên cứu với
mục đích bảo tồn những tri thức bản địa liên quan đến sử dụng cây thuốc của các
thổ dân châu Úc, đặc biệt là kiến thức y học của cộng đồng thổ dân Yaegl Nhóm
nghiên cứu IBRG (Indigenous Bioresources Research Group) tại Đại học
Macquarie (Sydney, Australia) được thành lập để nghiên cứu, duy trì và mở rộng
kiến thức về cây thuốc của các cộng đồng thổ dân ở châu Úc IBRG hiện đang tham
gia trong các nghiên cứu ở ven biển và nội địa New South Wales, Kimberley và sẽ
được mở rộng nghiên cứu tại các khu vực khác của châu Úc [79] Khi nghiên cứu
về cây thuốc các cộng đồng thổ dân Yaegl ở miền Bắc New South Wales, Australia,
các tác giả đã ghi nhận có 32 loài cây thuốc thuộc 21 họ được thổ dân Yaegl sử
dụng để điều trị các bệnh [162]
Những kiến thức truyền thống về cây thuốc và kinh nghiệm bản địa trong việc
sử dụng cây thuốc không những góp phần quan trọng trong công tác bảo tồn các giá
trị văn hóa và đa dạng sinh học mà còn mở ra một triển vọng cho việc phát triển
thuốc mới Vì vậy, việc nghiên cứu ứng dụng những kiến thức bản địa về cây cỏ
làm thuốc của cộng đồng các dân tộc sẽ mang lại một tương lai đầy hứa hẹn cho
việc chăm sóc sức khỏe của cộng đồng
1.2 Tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam
1.2.1 Lịch sử nghiên cứu và sử dụng tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam
Việt Nam có một nền y học cổ truyền hết sức đa dạng, đặc sắc với bề dày lịch
sử hàng nghìn năm và từ đó hình thành nên nền y học dân tộc không ngừng phát
triển qua các thời kỳ lịch sử Trong đó, nhiều cây thuốc, bài thuốc được áp dụng
chữa bệnh trong dân gian có hiệu quả cao Các kinh nghiệm dân gian quý báu đó đã
dần đúc kết thành những cuốn sách có giá trị và lưu truyền rộng rãi trong nhân dân
Trang 25Những nghiên cứu về cây thuốc đã được tiến hành từ rất sớm, gắn liền với tên
tuổi của các danh y nổi tiếng như: Tuệ Tĩnh hay Nguyễn Bá Tĩnh (thế kỷ XIV) với
bộ “Nam dược thần hiệu” gồm 11 quyển với 496 vị thuốc nam, trong đó có 241 vị
thuốc có nguồn gốc thực vật Ông được coi là “Vị thánh thuốc nam” và để lại cho
đời sau nhiều bộ sách quý như: “Tuệ tĩnh y thư”, “Thập tam phương gia giảm”,
“Thương hàn tam thập thất trùng pháp” [26] Thế kỷ XVIII, Hải Thượng Lãn Ông
-Lê Hữu Trác (1720 - 1791) là đại danh y của Việt Nam Ông đã tổng hợp thành tựu
của nền y học phương Đông đến thế kỷ thứ XVII, áp dụng sáng tạo vào điều kiện
thiên nhiên và bệnh tật của nước ta, tổng kết từ lý luận đến các phương pháp chữa
bệnh thành bộ sách “Hải Thượng Lãn Ông y tông tâm lĩnh” gồm 28 tập chia thành
66 quyển Trong bộ sách này ngoài sự kế thừa “Nam dược thần hiệu” của Tuệ Tĩnh,
ông còn bổ sung thêm 329 vị thuốc mới Quyển “Lĩnh Nam bản thảo”, ông đã tổng
hợp được 2.854 bài thuốc chữa bệnh bằng kinh nghiệm dân gian, thu thập được
nhiều phương thuốc gia truyền cùng với các kinh nghiệm của “Nam dược thần
hiệu” biên tập vào các quyển “Bách gia trân tàng” và “Hành giản trân nhu” Lê Hữu
Trác được mệnh danh là ông tổ sáng lập ra nghề thuốc của Việt Nam [25]
Thời kỳ Pháp thuộc, các nhà nghiên cứu phương Tây như Crévost, Pétélot đã
xuất bản bộ “Catalogue des produits de L’lndochine” (1928 - 1935) [209] Pétélot
(1952) có sửa lại, bổ sung thêm và xây dựng bộ sách “ Les plantes médicinales du
Cambodge, du Laos et du Vietnam” và cho in thành 4 tập: tập I (1952), tập II
(1953), tập III (1954) và tập IV (1954) dành riêng cho các loại mục lục, bảng tra
cứu Trong bộ sách này tác giả đã thống kê khoảng 1.482 cây thuốc thảo dược trên
ba nước Đông Dương [215]
Sau khi miền Bắc được giải phóng năm 1954, các nhà khoa học Việt Nam có
nhiều thuận lợi trong việc sưu tầm, nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc, với
nhiều công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Đỗ Tất Lợi (1957) đã biên soạn bộ
“Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tập Năm 1961 tái bản in thành 2
tập, trong đó tác giả đã mô tả và nêu công dụng của hơn 100 cây thuốc nam Từ
năm 1962 - 1965, Đỗ Tất Lợi lại cho xuất bản bộ “Những cây thuốc và vị thuốc
Việt Nam” gồm 6 tập Năm 1969 tái bản thành 2 tập, trong đó giới thiệu thêm 500
vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc, động vật và khoáng vật Cuốn sách được bổ sung
liên tục các loài cây thuốc trong các công trình được tái bản nhiều lần Ông đã mô tả
tỉ mỉ tên khoa học, phân bố, công dụng, thành phần hóa học, chia tất cả các cây
thuốc đó theo các nhóm bệnh khác nhau [40] Đây là một bộ sách có giá trị lớn về
khoa học và thực tiễn, kết hợp giữa khoa học dân gian với khoa học hiện đại
Trang 26Vũ Văn Chuyên (1966) đã xuất bản cuốn “Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc”
để phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu cây thuốc và được in lần thứ hai
vào năm 1976 [20] Cuốn “Sổ tay cây thuốc Việt Nam” của Đỗ Huy Bích và Bùi
Xuân Chương (1980) đã giới thiệu với 519 loài cây thuốc, trong đó có 150 loài mới
phát hiện [7] Trong cuốn “Dược điển Việt Nam”; “Atllas - Bản đồ cây thuốc”đã
thống kê và công bố một danh sách về cây thuốc từ 1961 - 1972 ở miền Bắc là
1.114 loài, từ 1977 - 1985 ở miền Nam là 1.119 loài [60]
Là một nhà thực vật lớn ở Việt Nam và đã có nhiều đóng góp quan trọng trong
quá trình nghiên cứu về các loài cây thuốc ở Việt Nam, trong cuốn “Từ điển cây
thuốc Việt Nam” Võ Văn Chi đã giới thiệu 3.200 loài cây thuốc trong 3.100 mục từ
theo vần tiếng Việt, mỗi mục từ bao gồm: tên cây, mô tả, bộ phận dùng, nơi sống và
thu hái, thành phần hóa học, tính vị và tác dụng, công dụng, đơn thuốc đơn giản
[14] Đến năm 2012, ông tái bản có bổ sung bộ “Từ điển cây thuốc Việt Nam” (bộ
mới, gồm 2 tập) mô tả tỷ mỷ về 4.700 loài được sử dụng làm thuốc ở Việt Nam,
gồm các thông tin về: bộ phận sử dụng làm thuốc, tính chất trị bệnh, trồng và thu
hái, bảo quản, bào chế dược liệu, các dạng thuốc thường dùng, [16] Đây là một
công trình có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất lớn phục vụ cho các nhà thực vật học
và ngành dược học Ngoài ra, ông còn biên soạn cuốn “Cây cỏ có ích ở Việt Nam”
tập I, II đề cập đến rất nhiều cây cỏ có ích như: cây làm gỗ, cây làm lương thực, cây
làm thuốc [17],
Từ năm 2000 đến nay, đã có nhiều cuốn sách và các tài liệu về cây thuốc được
xuất bản nhằm đáp ứng nhu cầu của nhiều người quan tâm đến cây thuốc trên khắp
đất nước Việt Nam như: Cuốn “Cây thuốc, bài thuốc và biệt dược” đề cập đến 327
cây thuốc thường dùng trong thực tế cùng với các bài thuốc kèm theo được sử dụng
[50] Bộ sách “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” gồm 3 tập, chứa đựng
những thông tin toàn diện, đầy đủ nhất về dược liệu được cập nhật đến 2010, giới
thiệu 1.165 loài cây thuốc và gần chục ngàn bài thuốc có thể ứng dụng để chữa trị
cho hầu hết các bệnh mà con người thường gặp [8] Những kiến thức về điều tra,
bảo tồn và tạo nguồn nguyên liệu chất lượng cao làm thuốc phòng và chữa bệnh đã
được đề cập đến trong cuốn “Nghiên cứu thuốc từ thảo dược” [22] Cùng năm, cuốn
“Cây có vị thuốc ở Việt Nam” cũng được xuất bản [33], Ngoài ra, còn có nhiều
công trình nghiên cứu về cây thuốc trên cả nước được công bố trên các tạp chí về
cây thuốc như: Tạp chí Cây thuốc quý, Tạp chí Dược liệu, Tạp chí Đông y,…
1.2.2 Tình hình nghiên cứu cây thuốc dân tộc ở Việt Nam
Ở Việt Nam, ngoài người Kinh với khoảng 80% dân số (số liệu năm 1999),
còn có 53 dân tộc thiểu số, chủ yếu sống ở vùng sâu, vùng xa Từ hàng ngàn năm
Trang 27trước đây, để tồn tại và phát triển, mỗi dân tộc ở Việt Nam đã tích lũy kinh nghiệm
sử dụng cây thuốc mọc quanh nơi sinh sống để chăm sóc sức khỏe và làm thuốc
chữa bệnh cho cộng đồng, đó là cây thuốc dân tộc [37]
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu cây thuốc dân tộc càng ngày càng
được quan tâm nhiều hơn Năm 1993, trung tâm Nghiên cứu và Phát triển cây thuốc
dân tộc cổ truyền (CREDEP) đã hợp tác với trường Đại học Dược Hà Nội và các tổ
chức khoa học trong nước và Quốc tế tiến hành điều tra, nghiên cứu về cây thuốc
dân tộc, đã triển khai các dự án về bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên
cây có ích, đặc biệt cây thuốc của các dân tộc thiểu số như: Tày, Dao, H’mông ở
VQG Ba Bể (Bắc Kạn); Sán Dìu ở VQG Tam Đảo (Vĩnh Phúc); Dao ở Ba Vì (Hà
Tây); Mường ở Cúc Phương (Ninh Bình); Tày và Dao ở 2 xã Yên Ninh và Yên Đổ,
huyện Phú Lương (Thái Nguyên); Cao Lan ở xã Đội Cấ n, huyện Yên Sơn (Tuyên
Quang) [37]
Dự án Bảo tồn nguồn cây thuốc cổ truyền hoạt động từ năm 1997, trải qua 12
năm thực hiện các công trình nghiên cứu trong Dự án đã tiến hành điều tra, khảo sát
thu thập các loài cây thuốc và bài thuốc của cộng đồng dân tộc ở nhiều vùng trên cả
nước: Người Dao ở VQG Ba Vì với 579 loài và 125 bài thuốc; người Mường ở xã
Cẩm Liên, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa với 136 loài và 102 bài thuốc; người
H'mông ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An với 206 loài và 32 bài thuốc; người Tày ở
huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang với 292 loài,… [61]
Trong thời gian từ 2000 - 2010, phòng Thực vật dân tộc học, Viện Sinh thái và
Tài nguyên sinh vật đã triển khai nghiên cứu tại các cộng đồng dân tộc người
H'mông, Dao, Tu Dí, Mường, Thái, Khơ Mú, Tày, Nùng, Hoa tại các tỉnh Lào Cai,
Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Hà Giang
Ngoài ra, nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về nguồn tài
nguyên cây thuốc của cộng đồng các dân tộc trên khắp cả nước đã góp phần làm
phong phú thêm kho tàng tri thức y học dân tộc Khi nghiên cứu về cây thuốc của
đồng bào dân tộc Thái ở Con Cuông, Nghệ An đã ghi nhận 551 loài thuộc 364 chi,
120 họ thực vật [54] Kết quả điều tra kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của đồng bào
dân tộc Dao tại vùng đệm VQG Ba Vì đã xác định được 503 loài [42] Cây thuốc
hoang dại của người H'mông xã Sa Pả, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai được ghi nhận có
251 loài thuộc 148 chi, 72 họ thực vật để điều trị 86 chứng bệnh của 21 nhóm bệnh,
trong đó có tới 38 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam [21] Tại Khu BTTN
Copia ở Thuận Châu, Sơn La có 125 loài thuộc 116 chi, 66 họ và 4 ngành thực vật
bậc cao có mạch được ghi nhận [31] Tiến hành điều tra các nhóm cây có ích trong
cộng đồng dân tộc Mường và Dao Tiền tại xã Chiềng Yiên, Mộc Châu, Sơn La thu
Trang 28được kết quả: cộng đồng người Mường đã khai thác và sử dụng 12 nhóm cây tài
nguyên, nhóm cây thuốc là 198 loài; người Dao đã khai thác và sử dụng 12 nhóm
cây tài nguyên, nhóm cây thuốc là 165 loài [49] Nguồn tài nguyên cây thuốc ở
huyện Củ Chi đã được ghi nhận có 162 loài, 135 chi, 63 họ, 38 bộ của 2 ngành thực
vật bậc cao có mạch, 10 loài thuộc diện bảo tồn [47] Có 31 loài thực vật được đồng
bào dân tộc H’mông tại Khu BTTN Hoàng Liên, Văn Bàn sử dụng làm thuốc chữa
các bệnh về gan gồm: viêm gan, bổ gan, giải độc gan và xơ gan [28] Kết quả
nghiên cứu về cây thuốc được đồng bào dân tộc Mường tại Khu BTTN Hang Kia
-Pà Cò, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình đã ghi nhận 65 loài chữa bệnh về thận ,
trong đó, 3 loài có tác dụng bổ thận, 8 loài có tác dụng lợi tiểu, 41 loài có tác dụng
chữa viêm thận, 13 loài trị được đái ra máu, 18 loài có khả năng chữa được sỏi thận
[30] Năm 2011, nhóm tác giả nghiên cứu về thực vật có giá trị làm thuốc của dân
tộc Thái trong Khu BTTN Pù Luông, Thanh Hóa đã thu được 226 loài thuộc 172
chi của 73 họ của 4 ngành thực vật [55] Cây thuốc truyền thống của đồng bào dân
tộc Thái ở hai huyện Quỳ Hợp và Quế Phong, tỉnh Nghệ An đã được xác định có
287 loài thuộc 204 chi, 87 họ của 4 ngành thực vật bậc cao, trong đó ngành Mộc lan
(Magnoliophyta) chiếm 94,08%; bộ phận sử dụng nhiều nhất là lá chiếm 37,94% và
có 11 loài thuộc diện bảo tồn [2] Tiến hành điều tra về tri thức sử dụng các loài cây
thuốc của cộng đồng dân tộc Cơ Tu và Vân Kiều tại vùng đệm VQG Bạch Mã, các
nhà khoa học đã chỉ ra người Cơ Tu sử dụng 249 loài cây thuốc thuộc 82 họ, người
Vân Kiều sử dụng 27 loài thuộc 21 họ thực vật Người Cơ Tu phần lớn sử dụng
cành, lá để làm thuốc chiếm 31%; người Vân Kiều đa phần sử dụng rễ, củ chiếm
42% [3] Kết quả nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của dân tộc M’nông
tỉnh Đắk Lắk đã ghi nhận 244 loài cây thuốc thuộc 84 họ và 179 chi; trong đó có
đến 82 họ thuộc ngành Mộc lan (Magnoliophyta); các họ giàu loài là họ Đậu
(Fabaceae) nhiều nhất 35 loài, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) 19 loài, họ Cam
(Rutaceae) 17 loài và bộ phận sử dụng nhiều nhất là rễ chiếm 30,7% [29] Nghiên
cứu về đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc của đồng bào dân tộc tại tỉnh Gia Lai đã
xác định được 145 loài thuộc 112 chi và 61 họ của 3 ngành, trong đó Mộc lan
(Magnoliophyta) chiếm ưu thế với 53 họ chiếm 86,9% Bộ phận sử dụng làm thuốc:
rễ chiếm nhiều nhất 51 loài chiếm 35,2%; thân có 33 loài chiếm 22,8%; lá chiếm
17,2% Dùng để điều trị 13 nhóm bệnh trong đó bệnh tiêu hóa chiếm nhiều loài cây
thuốc nhất [35],
Nghiên cứu cây thuốc dân tộc không chỉ góp phần sử dụng bền vững nguồn tài
nguyên cây thuốc của đất nước, làm phong phú thêm tri thức sử dụng cây cỏ làm
thuốc chữa bệnh của cả dân tộc mà còn là cơ sở để sản xuất các loại dược phẩm mới
để điều trị các căn bệnh hiểm nghèo Đây thực sự là một hướng nghiên cứu có triển
Trang 29vọng lớn trong tương lai Hiện nay, nhiều loài cây thuốc quý phân bố chủ yếu ở
miền núi, đang có nguy cơ bị tàn phá dẫn đến tuyệt chủng do lạm dụng khai thác
quá nhiều Vì vậy cần phải có biện pháp tiến hành điều tra, tư liệu hóa thực trạng sử
dụng cây thuốc của các dân tộc và tri thức bản địa về cây cỏ làm thuốc để xây dựng
các giải pháp quản lý và sử dụng hiệu quả nhằm góp phần giữ gìn, bảo tồn bản sắc
văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
1.2.3 Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên, một vùng đất vốn có truyền thống về y học cổ truyền Từ xa
xưa, đất Thái Nguyên đã có tiếng là nơi có nhiều sản vật có thể dùng làm thuốc
chữa bệnh Trong sách Dư địa chí, Nguyễn Trãi viết: “Bạch Thông có quế, nhung,
sâm (Bạch Thông khi đó thuộc Thái Nguyên) Theo sách Đại Nam nhất thống chí
của Quốc sử triều Nguyễn thì ở Thái Nguyên, Cam vàng, Quýt đỏ sản ở huyện Tư
Nông (Phú Bình),…; hậu phác, sa nhân các châu huyện Đồng Hỷ, Phổ Yên, Phú
Lương đều có, nhung hươu, mật gấu, sáp ong sơn phận các huyện đều có” Những
loại sản vật của núi rừng Thái Nguyên này đã được người dân dùng làm thuốc chữa
bệnh Từ thực tiễn, nhiều vị thuốc, bài thuốc nam được lưu truyền trong các gia
đình, trong các bản làng từ đời này qua đời khá c, trở thành những phương thuốc gia
truyền chữa được nhiều loại bệnh tật như sốt rét, phong hàn, tiêu chảy, kiết lỵ, ngộ
độc, cam sài, rắn cắn, Kinh nghiệm hái thuốc, chế biến thuốc, chữa bệnh thường
có ở những gia đình nho học, những ông thầy cúng, những bà mế Phương cách
chữa bệnh bằng thuốc nam là phương cách phổ biến thời phong kiến ở Thái
Nguyên
Từ tháng 7 năm 1958, Hội Đông y tỉnh Thái Nguyên và Hội Đông y Bắc Cạn
đã được chính thức thành lập và đến năm 1965 sát nhập thành Hội Đông y tỉnh Bắc
Thái Hội đã làm tốt nhiệm vụ vận động tập hợp đoàn kết giới lương y trong toàn
tỉnh Nhiều ông lang, bà mế giỏi đã được kết nạp vào hội và các bài thuốc gia truyền
của các dân tộc trên địa bàn Thái Nguyên được sử dụng rộng rãi để chăm lo bảo vệ
sức khỏe nhân dân với phương thức Đông - Tây y kết hợp
Những năm 1960 - 1970, các bài thuốc hay đã được ứng dụng trong công tác
chữa bệnh tại bệnh viện Đông y Bắc Kạn, kết quả đã chữa nhiều loại bệnh độc đáo,
hàng trăm bệnh nhân mắc các chứng bệnh sỏi, tiết niệu, sỏi mật được chữa khỏi
Nhiều bài thuốc được sản xuất thành dạng xi rô, thuốc rượu, thuốc sắc, thuốc hoàn
tán đã chữa khỏi nhiều căn bệnh như thấp khớp cấp, viêm đa khớp dạng thấp, đau
thần kinh tọa, di chứng do tai biến mạch máu não gây liệt nửa người, bệnh phụ nữ
sau đẻ, thiếu máu, viêm gan, đau dạ dày, viêm đại tràng, cam sài trẻ em, Tại các
Trang 30huyện, thị trong toàn tỉnh, hàng chục phòng chẩn trị, hợp tác xã thuốc nam đã ra
đời, như hợp tác xã thuốc nam thị xã Bắc Kạn, thành phố Thái Nguyên, các tổ chức
chẩn trị Phú Bình, Đồng Hỷ, Phổ Yên, Đại Từ, Những hợp tác xã thuốc nam đã
tạo nên uy tín đối với nhiều bệnh nhân trong và ngoài tỉnh khi đến khám chữa bệnh
và điều trị Đặc biệt ở nhiều hợp tác xã thuốc nam, ngoài thuốc nam, các lương y
còn châm kim, cứu ngải, đốt bấc, khêu cam được đông đảo bà con tín nhiệm Hàng
năm, Hội y học cổ truyền tỉnh đã khám chữa bệnh cho hàng chục nghìn lượt người
Các chi hội y học cổ truyền của huyện, thành, thị đã động viên cán bộ, hội viên
lương y hưởng ứng phong trào sử dụng thuốc nam và châm cứu tại tuyến y tế xã
Các chi hội đã cùng phối hợp với trạm y tế trồng và sử dụng 35 loài cây thuốc nam
và đẩy mạnh châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt, hướng dẫn luyện tập khí công trong
phòng bệnh, chữa bệnh tại cộng đồng
Những nghiên cứu về cây thuốc ở Thái Nguyên mới chỉ được biết đến qua
nghiên cứu của trung tâm CREDEP về đa dạng sinh vật, bảo tồn và sử dụng bền
vững nguồn tài nguyên cây thuốc và tri thức bản địa của các dân tộc thiểu số ở
huyện Phú Lương (1997 - 1998) [37] Đến năm 2005, kết quả nghiên cứu về hệ thực
vật ở Thái Nguyên của nhóm các nhà khoa học của Viện Sinh thái và Tài nguyên
sinh vật (Vũ Xuân Phương và cộng sự) đã thống kê có 1.635 loài thuộc 817 chi, 192
họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch; trong đó 843 loài được ghi nhận dùng
làm thuốc [46] Thái Nguyên là tỉnh có nhiều đồng bào dân tộc cùng sinh sống với
những kinh nghiệm dân gian độc đáo trong việc sử dụng cây cỏ hoang dại để làm
thuốc chữa bệnh Tuy nhiên, những nghiên cứu về cây thuốc ở Thái Nguyên còn ít,
chưa đi sâu tìm hiểu một cách đầy đủ và hệ thống về vốn tri thức bản địa của cộng
đồng các dân tộc sinh sống trong tỉnh Việc tiến hành điều tra, nghiên cứu tổng thể
nguồn cây thuốc trên phạm vi toàn tỉnh sẽ góp phần bổ sung những tư liệu quý vào
kho tàng y học cổ truyền Việt Nam và thế giới nhằm phục vụ công tác bảo tồn và
nghiên cứu khoa học
1.3 Bảo tồn tài nguyên cây thuốc
Tất cả các nền văn hóa từ thời cổ đại cho đến ngày nay đã sử dụng thực vật
như là một nguồn cung cấp các loại thuốc chữa bệnh Trên toàn thế giới, người ta
ước tính rằng có tới 70.000 loài được sử dụng trong y học dân gian [105] Theo
WHO thông báo có hơn 21.000 loài thực vật được sử dụng cho mục đích chăm sóc
sức khỏe [113] Trong đó, Ấn Độ sử dụng khoảng 7.500 loà i [180]; Trung Quốc
trên 6.000 loài (năm 1991) [207] và đến hơn 10.000 loài (năm 1997) [115] Tại châu
Phi, hơn 5.000 loài thực vật được sử dụng cho mục đích y tế [118] Ở châu Âu, với
truyền thống lâu đời trong việc sử dụng thực vật, khoảng 2.000 dược liệu và hương
Trang 31liệu được sử dụng ở một cơ sở thương mại [131] Tại Đức đã xác định được hơn
1.500 cây thuốc và hương liệu [130] Tại Tây Ban Nha, người ta ước tính rằng 800
loài cây thuốc và hương liệu sử dụng trong đó 450 loài có liên quan đến với mục
đích thương mại [76]
Nhu cầu sử dụng thực vật làm thuốc của các quốc gia trên thế giới rất lớn
Trong những năm 1990, báo cáo nhập khẩu cây thuốc trên toàn thế giới hàng năm
trung bình trên 400.000 tấn với trị giá 1,224 triệu USD Trong đó, có đến 80% giá
trị xuất nhập khẩu là của 12 quốc gia ở châu Á và châu Âu; Nhật Bản và Hàn Quốc
là hai quốc gia tiêu thụ cây thuốc nhiều nhất; Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia
cung cấp cây thuốc hàng đầu thế giới; Hồng Kông, Mỹ và Đức là các trung tâm
thương mại quan trọng [132]
Tuy nhiên, hiện nay nhiều loài cây thuốc đang bị đe dọa do mất môi trường
sống, biến đổi khí hậu, thu hái quá mức và nhiều nguyên nhân khác Trên toàn thế
giới ước tính có khoảng 9.000 loài cây thuốc đang bị đe dọa [132] Các quốc gia đã
có nhiều nỗ lực, hành động chung nhằm bảo tồn đa dạng sinh họcvà bảo tồn cây
thuốc nói riêng Tại Hội nghị lần thứ 40 của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tháng 5
năm 1987 đã tái xác định những quan điểm chính được đưa ra ở Hội nghị Alma
-Ata từ năm 1979 là “Cần phải khởi xướng những chương trình nhằm nhận biết về
giá trị, bào chế và trồng trọt, cùng với việc bảo tồn cây thuốc” [205] Sự cần thiết
trong việc hợp tác liên ngành để có hiệu quả trong việc giải quyết các vấn đề liên
quan đến bảo tồn cây thuốc đã thu hút sự chú ý của cả thế giới Tháng 3 năm 1988
tại Chiang Mai, Thái Lan, với sự tham gia của các chuyên gia tư vấn quốc tế về bảo
tồn cây thuốc, các tổ chức quốc tế WHO, IUCN và WWF đã phối hợp Bộ Y tế,
Chính phủ Hoàng gia Thái Lan, tổ chức Hội thảo Quốc tế đầu tiên chuyên về bảo
tồn cây thuốc [203] Năm 1993, WHO đã phối hợp với IUCN và WWF xuất bản
cuốn tài liệu “Hướng dẫn bảo tồn cây thuốc” để các quốc gia vận dụng vào điều
kiện riêng của mình, triển khai công tác bảo tồn cây thuốc [204] Ngày 19 tháng 11
năm 2011, hơn 60 chuyên gia quốc tế về cây thuốc đã gặp nhau tại Toyama, Nhật
Bản để thống nhất hướng dẫn về bảo tồn cây thuốc Những hướng dẫn này sẽ giúp
ích cho các nước thành viên của WHO, cũng như cho các cá nhân có liên quan, như
các nhà thực vật học, cộng đồng, người tiêu dùng, các nhà hoạch định chính sách,
công nghiệp, các bác sĩ y học cổ truyền Danna Leaman - Chủ tịch nhóm cây thuốc
IUCN cho biết: “Việc hợp tác giữa y tế quốc tế và các tổ chức bảo tồn được xây
dựng trên cơ sở có chung sự đánh giá cao về tầm quan trọng của cây thuốc đến sức
khỏe và hạnh phúc của con người, sự quan tâm chia sẻ về tính sẵn có của những cây
thuốc trong tương lai” Năm 2003, WHO đã xuất bản cuốn sách “Hướng dẫn của tổ
Trang 32chức Y tế thế giới về thực hành tốt nuôi trồng và thu hái dược liệu” [205] Bảo tồn
cây thuốc là nội dung được quan tâm hàng đầu trong chương trình nghị sự của
WHO Tuy nhiên, để cho công tác bảo tồn cây thuốc có hiệu quả, cần phải căn cứ
vào tình hình của mỗi quốc gia để từ đó đưa ra các giải pháp chương trình hành
động cho phù hợp
Ấn Độ và Trung Quốc là hai trung tâm lớn trên thế giới về sự đa dạng cũng
như quy mô sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm được sản xuất từ dược thảo Hai quốc
gia này đã phải đối mặt với những nguy cơ cạn kiện nguồn tài nguyên cây thuốc, do
đó việc thiết lập các phương thức bảo tồn cũng như sử dụng bền vững nguồn tài
nguyên này là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay Ấn Độ có khoảng 17.000
loài thực vật bậc cao, một nửa trong số đó (khoảng 7.500 loài) được biết đến với
công dụng làm thuốc [182], chiếm một tỷ lệ lớn nhất về thực vật được sử dụng làm
thuốc trên thế giới Chỉ riêng Ayurveda - một hệ thống y học lâu đời nhất của Ấn
Độ đã ghi nhận 2.000 loài cây thuốc, tiếp theo là các hệ thống khác như Siddha với
1.121 loài và Unani với 751 loài Hiện nay, ở Ấn Độ có xấp xỉ 25% các loại thuốc
có nguồn gốc từ thực vật và nhiều loại khác được tổng hợp dựa trên nguyên mẫu
các hợp chất được phân lập từ các loài thực vật trong dược điển hiện đại Ấn Độ đã
xây dựng chương trình hành động Quốc gia Uttaranchal, nhằm xác định hai vùng
chính trong mỗi khu rừng là: vùng bảo tồn và vùng phát triển Tại các khu bảo tồn,
các loài cây thuốc sẽ được lựa chọn, đánh dấu tại chỗ (in-situ) và tiến hành bảo vệ
nghiêm ngặt Tại khu vực phát triển, bên cạnh việc bảo vệ nguồn tài nguyên sinh
học hiện có thì các loài cây thuốc ở những khu vực lân cận cũng được tập trung
trồng với quy mô lớn Đối với các khu vực còn lại trong rừng, các loài cây thuốc
được tiến hành khai thác bền vững Một hội đồng gồm các chuyên gia về cây thuốc,
về lâm nghiệp và một số người dân địa phương sẽ lựa chọn quyết định mức độ khai
khác hàng năm đối với các loài cây thuốc [123] Các chính sách khác nhau ở cấp
quốc gia trong việc bảo tồn và khai khác bền vững tạo ra nhưng cơ hội cho sự phát
triển của ngành dược thảo Mô hình này giúp cho việc bảo tồn và trồng những cây
thuốc, tạo ra nguyên liệu thô cho các ngành công nghiệp sản xuất thuốc cũng như
đảm bảo việc bảo tồn các cây thuốc quý hiếm Nhiều tổ chức Chính phủ và phi
Chính phủ đã tập trung vào việc phát triển các vùng phân bố cây thuốc Các phạm
vi trong kế hoạch thực hiện bao gồm: (1) Lập bản đồ và kiểm kê các loài dược thảo;
(2) Bảo tồn tại chỗ (in-situ) và tiến hành trồng ex-situ các cây thuốc được lựa chọn;
(3) Sản xuất giống cây chất lượng; (4) Truyền bá kiến thức thông qua giáo dục và
truyền thông; (5) Thúc đẩy hệ thống thị trường trong nước và toàn cầu; 6) Tăng
cường nghiên cứu, phát triển và tăng nguồn nhân lực Hiện tại, phần chính của
chương trình nghiên cứu về bảo tồn cây thuốc đang được chuyển dịch từ mức độ hệ
Trang 33sinh thái sang mức độ loài [122] Việc phát triển trồng các loài cây thuốc, khuyến
khích sử dụng dược thảo truyền thống, thành lập khu bảo tồn cây thuốc, thành lập
các mối liên kết giữa các bên liên quan khác nhau, là một trong một số các vấn đề
được chú ý trong chính sách bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên cây
thuốc ở Ấn Độ [123]
Ở Trung Quốc, phần lớn các nguyên liệu được sử dụng trong sản xuất thuốc
có nguồn gốc từ tự nhiên Tuy nhiên, mức độ suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc
diễn ra nhanh chóng do nhu cầu ngày càng tăng từ các nhà máy chế biến dược liệu
Kể từ năm 1979, nhu cầu sử dụng cây thuốc đã tăng với tỷ lệ 9% mỗi năm Năm
1987, tổng sản lượng đã đạt 650 nghìn tấn Năm 1990, tổng sản lượng là 20.000 tấn
và tổng giá trị 5,5 tỷ nhân dân tệ và đến năm 1992, đã tăng lên đến 11 tỷ nhân dân
tệ Các chế phẩm dược liệu Trung Quốc được xuất khẩu sang hơn 100 quốc gia và
tổng giá trị xuất khẩu là 100 - 200 triệu đô la Mỹ [136] Trung Quốc hiện đang phải
đối mặt với thách thức về bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc Nhiều loài cây thuốc
đang bị đe dọa hoặc đã trở nên hiếm gặp hoặc có nguy cơ tuyệt chủng do khai thác
quy mô lớn Trong khi phải đối mặt với những thách thức này, Chính phủ Trung
Quốc đã có hành động kịp thời, điển hình như việc ban hành “Hướng dẫn phát triển
y học hiện đại ở Trung Quốc giai đoạn 2002 - 2010” Hướng dẫn này đề cập đến
việc sử dụng nguồn tài nguyên cây thuốc đi liền với việc bảo vệ môi trường; bảo vệ
sự đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái, đặc biệt là để phục hồi và tái sinh các
thực vật y học Trung Quốc đang bị kiệt quệ hoặc bị đe dọa tuyệt chủng Việc bảo vệ
và sử dụng bền vững nguồn thực vật y học ở Trung Quốc được coi như là “một
trong sáu nhiệm vụ then chốt” do Chính phủ đề ra Những mục tiêu cụ thể trong bảo
tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc bao gồm: (1) Đảm bảo cung
cấp nguyên liệu liên tục cho các ngành công nghiệp y học và thị trường; (2) Đáp
ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân; (3) Đảm bảo việc sử dụng liên tục
các loại dược thảo [138]
Ở Việt Nam, hoạt động bảo tồn cây thuốc đã được quan tâm.Trong khuôn khổ
của chương trình “Bảo tồn nguồn gen và giống cây thuốc Việt Nam” kết hợp với
các chương trình dự án khác, Viện Dược liệu, Bộ Y tế (2009) đã tiến hành hợp tác
với các VQG và khu BTTN điều tra đánh giá hệ cây thuốc, xây dựng phương án bảo
tồn tại chỗ Kết quả cụ thể: VQG Ba Vì, điều tra phát hiện 462 loài cây thuốc, có 12
loài trong Danh lục đỏ Việt Nam; VQG Tam Đảo, phát hiện 350 loài cây thuốc, có
13 loài trong Danh lục đỏ Việt Nam; VQG Ba Bể, phát hiện 415 loài cây thuốc, có
16 loài trong Danh lục đỏ Việt Nam; VQG Bạch Mã, phát hiện 548 loài cây thuốc,
có 16 loài trong Danh lục đỏ Việt Nam; VQG Núi Chúa, phát hiện 518 loài cây
Trang 34thuốc, có 7 loài trong Danh lục đỏ Việt Nam; VQG Vũ Quang, phát hiện 429 loài
cây thuốc, có 14 loài trong Danh lục đỏ Việt Nam; VQG Hoàng Liên, phát hiện 675
loài cây thuốc, có 63 loài trong Danh lục đỏ Việt Nam; Khu BTTN Na Hang, phát
hiện 81 loài cây thuốc, có 14 loài trong Danh lục đỏ Việt Nam; Khu BTTN
Đakrông, phát hiện 315 loài cây thuốc, có 21 loài trong Sách đỏ Việt Nam [61] Tuy
nhiên, để hoạt động bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam mang lại hiệu quả cao cần đề ra
các mục tiêu và giải pháp cụ thể trong bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài
nguyên cây thuốc
Ngày nay, công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ và được ứng dụng trong
mọi lĩnh vực của cuộc sống, trong đó Hệ thống thông tin địa lý (GIS) và Hệ thống
định vị toàn cầu (GPS) đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng trong nghiên cứu,
điều tra ở nhiều lĩnh vực khác nhau Thực chất, hệ thống GIS là một hệ thống thông
tin mà dữ liệu của nó là dữ liệu địa lý Dữ liệu địa lý có thể là các bản đồ số trên
máy vi tính, các mô hình mô phỏng hình dáng bề mặt trái đất, các cơ sở dữ liệu ảnh
bề mặt trái đất, Trong đó, bản đồ số là một loại dữ liệu địa lý rất phổ biến và dễ sử
dụng Dữ liệu địa lý bao gồm dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính được kết hợp
với nhau một cách tương ứng Loại dữ liệu tái hiện hình dáng các đối tượng trong
không gian bằng hình học được gọi là dữ liệu không gian Các thông tin không tái
hiện ở dạng hình học được thì sẽ được đính kèm vào các hình vẽ tương ứng được
gọi là dữ liệu thuộc tính Dữ liệu thuộc tính có thể ở dạng văn bản, dạng hình ảnh,
các đoạn video, các file âm thanh, nhờ đó thông tin trở nên phong phú và sinh
động hơn Sử dụng công nghệ GIS thiết lập bản đồ số để quản lý nguồn tài nguyên
thiên nhiên là giải pháp đang được ứng dụng rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực của
đời sống [176] Việc thiết lập bản đồ số thay thế cho các phương pháp truyền thống
với độ chính xác cao không những giúp cho quá trình tự động hóa bản đồ diễn ra tốt
hơn mà còn tạo được cơ sở dữ liệu giúp cho phân tích địa lý, trả lời các câu hỏi về
thực trạng, vị trí phân bố và đặc tính của đối tượng nghiên cứu Nhìn chung, GPS và
GIS đã bắt đầu được ứng dụng khá nhiều trong bảo tồn đa dạng sinh học, tuy nhiên
để ứng dụng vào việc quản lý dữ liệu loài, bản đồ phân bố loài,… còn rất hạn chế
Trong khi đó, đây là công nghệ thích hợp có hiệu quả để giám sát loài và tổ chức
quản lý bảo tồn Chính vì vậy, cần tích cực ứng dụng công nghệ hiện đại giúp cho
việc bảo tồn các loài một cách hiệu quả nhất, đặc biệt là những loài cây quý hiếm có
nguy cơ bị tuyệt chủng
Để phục vụ cho mục đích chăm sóc bảo vệ sức khỏe con người, cho sự phát
triển của xã hội và để chống lại các bệnh nan y thì sự cần thiết phải kết hợp giữa
Đông - Tây y, giữa y học hiện đại với y học cổ truyền của các dân tộc là một vấn đề
Trang 35cấp thiết Chính từ những kinh nghiệm của y học cổ truyền đã giúp cho nhân loại
khám phá ra những loại thuốc có ích trong tương lai Cho nên, việc khai thác kết
hợp với bảo tồn các loài cây thuốc là điều hết sức quan trọng Các nước trên thế giới
đang hướng về thực hiện chương trình Quốc gia kết hợp sử dụng, bảo tồn và phát
triển bền vững cây thuốc
1.4 Vai trò của cây thuốc dân tộc trong nghiên cứu thuốc kháng ung thư
Cùng với công tác điều tra, thống kê các loài cây có tác dụng làm thuốc, các
nhà khoa học còn đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu cơ chế và các hợp chất hóa học trong
cây cỏ có tác dụng chữa bệnh Việc thu thập các dữ liệu liên quan đến tác dụng của
cây thuốc lưu truyền trong các cộng đồng dân tộc khác nhau đến việc nghiên cứu
chiết xuất các chất có hoạt tính dược học từ thực vật đang trở thành trọng điểm
trong nền y dược học hiện đại của nhiều quốc gia trên thế giới, đáng chú ý một số
nước châu Á như: Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ
Thực vật dân tộc học đóng một vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức
khỏe của người dân Giá trị y học của nó đã được ghi nhận qua hàng ngàn đời và
những tri thức đó vẫn được lưu giữ cho tới ngày nay Trong đó rất nhiều bệnh có thể
được điều trị bởi các cây cỏ theo phương pháp truyền thống và có cả những căn
bệnh hiểm nghèo như ung thư Tổ chức Quốc tế nghiên cứu Ung thư (The
International Agency for Research on Cancer) đã ghi nhận chỉ riêng trong năm 2012
có 14,1 triệu trường hợp mắc mới; 8,2 triệu người chết và 32,6 triệu người sống
cùng với ung thư [107] Cũng theo ước tính của Tổ chức này thì tới năm 2030 sẽ có
26 triệu trường hợp mắc mới và 17 triệu trường hợp chết mỗ i năm vì ung thư [191]
Mặc dù, nhiều loại thuốc kháng ung thư tổng hợp đã được phát triển và sử dụng, tuy
nhiên một thực tế là hầu hết các liệu pháp hóa học hiện nay không có khả năng tiêu
diệt tận gốc ung thư, đồng thời có độc tính cao, gây nhiều tác động phụ, làm suy
giảm nhanh chóng sức khỏe của bệnh nhân trong quá trình điều trị Xuất phát từ tiền
đề là những kiến thức của y học truyền thống, nhiều hợp chất hóa học được tách
chiết từ thực vật đã sử dụng trong điều trị bệnh ở người Sử dụng thực vật theo
phương thức truyền thống để điều trị ung thư đã được ghi nhận ở Trung Quốc từ
3.000 năm trước Tại Ấn Độ, Ayurveda được biết đến như một hệ thống y học cây
cỏ cổ xưa vẫn được lưu truyền tới tận ngày nay trong việc sử dụng để điều trị ung
thư Ngày nay, các dữ liệu nghiên cứu về thảo dược đã chứng minh sự tồn tại của
các thành phần kháng ung thư từ cây cỏ [198] Theo thống kê của WHO thì 80%
dân số trên thế giới tin tưởng vào y học truyền thống trong việc chăm sóc sức khỏe
ban đầu [104]
Trang 36Các sản phẩm có nguồn gốc thực vật đã được đặc biệt chú ý trong khoảng vài
năm trở lại đây với tiềm năng ngăn ngừa và điều trị ung thư [157] Một thống kê đã
chỉ ra rằng, hiện nay gần 60% các loại thuốc kháng ung thư đang sử dụng có nguồn
gốc từ tự nhiên, trong đó thực vật là một trong những nguồn quan trọng nhất [112]
Nhiều nỗ lực tìm kiếm các hợp chất kháng ung thư từ thực vật đã được thực hiện,
16 hợp chất mới có nguồn gốc từ thực vật đang kiểm tra lâm sàng, trong đó,
flavopiridol được phân lập từ cây Huỳnh đàng hai tuyến (Dysoxylum
binectariferum) ở Ấn Độ và hợp chất meisoindigophân lập từ cây Chàm nhuộm
(Indigofera tinctoria) ở Trung Quốc đã thể hiện khả năng kháng ung thư cao nhưng
lại ít độc so với các thuốc kháng ung thư tổng hợp đang được sử dụng hiện nay
[175] Sử dụng thực vật trong điều trị ung thư được tìm thấy ở nhiều nước khác
nhau trên thế giới Hiện nay có khoảng 3.000 loài thực vật trên toàn thế giới được
báo cáo là có đặc tính kháng ung thư Viện nghiên cứu ung thư Hoa Kỳ đã thu thập
35.000 mẫu thực vật từ 20 quốc gia khác nhau và sàng lọc khoảng 114.000 dịch
chiết với hoạt tính kháng ung thư [94] Từ sàng lọc này, hai hợp chất có hoạt tính
kháng ung thư quan trọng nhất đang sử dụng hiện nay đã được xác định là taxol và
camptothecin Nhiều loại thực vật có khả năng kháng ung thư đã được xác định
như: Nga truật (Curcuma zedoaria), Cần sa (Cannabis sativa), Núc nác (Oroxylum
indicum), Bạch khuất hai lá lớn (Chelidonium majus), Thông đỏ (Taxus baccata),
Nghệ (Curcuma longa), Bán hạ roi (Typhonium flagelliforme), Dừa cạn
(Catharanthus roseus), Xoan rừng (Brucea javanica), Tỏi (Allium sativum), Kim
cang (Smilax china), Hướng dương (Helianthus annuus), Lu lu đực (Solanum
nigrum), Ý dĩ (Coix lacryma-jobi), Thiên môn đông (Asparagus cochinchinensis),
Ngũ gia bì hương (Acanthopanax gracilistylus), Cam thảo nhẵn (Glycyrrhiza
glabra),
Trong số những thực vật có khả năng kháng ung thư tiêu biểu phải kể đến các
loài thực vật như: Tỏi (Allium sativum) có các hợp phần hữu cơ allyl sulfur đóng vai
trò quan trọng ức chế sự tăng trưởng của khối u [190] Cam thảo nhẵn (Glycyrrhiza
glabra) có thành phần hóa học là axit glycyrrhetic với hoạt tính kháng lại khả năng
phân chia của dòng tế bào ung thư vú MCF-7 Điều này đã chỉ ra một tiềm năng cao
trong việc phát triển thuốc kháng ung thư từ loại axit này [116] Dừa cạn
(Catharanthus roseus) là một trong những loài thực vật giàu alkaloid, có độc tính
cao đối với các tế bào ung thư, nó đã được chứng minh là kháng lại sự phân chia
của các tế bào ung thư phổi dòng A549 và ung thư ruột 26-L5 Thêm vào đó, dịch
chiết này còn có khả năng tiêu diệt nhiều tuýp ung thư kháng thuố c [195] Cần sa
(Cannabis sativa) đã được nghiên cứu rộng rãi trong những năm gần đây Các thành
phần trong dịch chiết của cây này đã được chỉ ra là có khả nă ng cảm ứng quá trình
Trang 37apoptosis, phá hỏng ADN nhân của tế bào ung thư trong các mô hình in vitro và in
vivo của nhiều loại ung thư khác nhau Hợp chất này có khả năng điều hòa các con
đường tín hiệu liên quan tới sự tăng trưởng và di căn của các tế bào ung thư [85]
Nghệ (Curcuma longa) là loài thực vật quen thuộc được sử dụng trong điều trị
nhiều bệnh khác nhau đặc biệt là nhóm bệnh liên quan tới đường tiêu hóa Các
nghiên cứu khác nhau cho thấy, Nghệ có khả năng kháng lại ung thư đường ruột,
ung thư vú, ung thư buồng trứng và ung thư các tế bào thần kinh dựa trên khả năng
ức chế hoạt tính của protein có chức năng kiểm soát chu kỳ của tế bào, khả năng
cảm ứng quá trình apoptosis, ức chế các con đườ ng ung thư PI3K [91, 68, 119]
Bạch khuất hai lá lớn (Chelidonium majus) thuộc họ Thuốc phiện (Papaveraceae)
chứa hợp chất chelidonine và các alkaloid có khả năng kháng lại các dòng tế bào
ung thư kháng thuốc thông qua cơ chế gắn kết với các protein chuyển màng
ABC-transporters CYP3A4 và GST [102] Đây chính là những protein được biểu hiện cao
trong các tế bào gốc ung thư, nó có chức năng bảo vệ tế bào khỏi các liệu pháp hóa
học trong quá trình điều trị ung thư
Đối với thực vật phân bố ở Việt Nam, năm 2002 nhóm nghiên cứu của Ureda
và cộng sự đã chỉ ra rằng dịch chiết bằng ethanol và methanol - nước (1:1) thu từ 77
loài thực vật thu thập tại Việt Nam có khả năng ức chế ung thư nguyên bào sợi
(fibrosacoma) dòng HT-1080 Thêm vào đó, nhóm nghiên cứu này cũng đã kiểm tra
và khẳng định dịch chiết của các loài Bá bệnh (Eurycoma longifolia), cây Ổ kiến
(Hydnophytum formicarum) và Hà thủ ô trắng (Streptocaulon juventas) có khả năng
ức chế loại ung thư khác nhau gồm ung thư ruột kết dòng 26-L5, ung thư phổi
Lewis và ung thư tế bào thần kinh; trong đó, loài Hà thủ ô trắng (S juventas) có khả
năng kháng chọn lọc đối với các tế bào ung thư HeLa dòng A549 [192] Hay cây
Trau tráu (Mammea siamensis) có hoạt chất gây độc tế bào cao thông qua khả năng
cảm ứng apoptosis trên dòng tế bào ung thư cổ tử cung HeLa ở nồng độ rất thấp
[56] Một nghiên cứu khác chỉ ra rằng, hydnocarpin tách chiết từ Xoan rừng (B
javanica) phân bố ở Việt Nam thể hiện khả năng kháng mạnh sự sinh trưởng của
các tế bào ung thư vú dòng MCF-7 ở nồng độ thấp 20 μg/ml [163] Trong khi đó,
Trinh nữ hoàng cung (Crinum latifolium) được biết đến như một loài thực vật được
sử dụng theo kinh nghiệm dân gian để điều trị ung thu vú, ung thư cổ tử cung và u
nang buồng trứng tại Việt Nam Gần đây, một nghiên cứu đã xác định được khả
năng kháng tế bào ung thư lympho ở chuộ t của hợp chất 6-hydroxycrinamidine
chiết xuất từ cây Trinh nữ hoàng cung (C latifolium) [160] Nghiên cứu khả năng
kháng ung thư từ dịch chiết của cây Tam thất hoang (Panax stipuleanatus) phân bố
tại phía Đông Nam Trung Quốc và phía Bắc của Việt Nam chỉ ra rằng, hợp chất
Oleanane-triterpenoid chiết xuất từ cây Tam thất hoang (P stipuleanatus) có khả
Trang 38năng ức chế tế bào ung thư gan HepG2 thông qua cơ chế ức chế yếu tố (NF)-κB, giá
trị IC50 của nó cũng được xác định ở nồng độ 3,1 - 18,9 μM [139] Thêm vào đó,
nghiên cứu dịch chiết methanol từ cây Tô mộc (Caesalpinia sappan) phân bố ở Việt
Nam đã cho thấy, khả năng kìm hãm mạnh sự tăng trưởng của các tế bào ung thư
HeLa với giá trị IC50= 26,5 ± 3,2 μg/ml thông qua cơ chế cảm ứng sự biểu hiện của
protein caspase-3 và tăng cường khả năng phá vỡ cấu trúc ADN nhân tế bào [158]
Một nghiên cứu có tính hệ thống của Pérez và cộng sự (2014) thực hiện từ 842 mẫu
thực vật của 398 loài thu thập tại Việt Nam đã chỉ ra 42 hợp chất và 17 hợp chất
mới phân lập được tiến hành sàng lọc in vitro Đáng chú ý là perviridisin B được
phân lập từ Gội núi (Aglaia perviridis), elaeocarpucin C phân lập từ Elaeocarpus
chinensis, là hai hợp chất mới đã chỉ ra khả năng kháng lại tế bào ung thư ruột
HT-29 ở nồng độ rất thấp 0,5 và 0,4 µM Đồng thời, một hợp chất mới khác là
cochinchinoxanthone được phân lập cũng đã thể hiện khả năng ức chế sự phân chia
của dòng tế bào ung thư HT-29 [167]
Nghiên cứu hóa sinh thực vật trên 2 loài Lá khôi (Ardisia gigantifolia) và
Khôi tía (Ardisia silvestris) của Việt Nam lần đầu tiên được báo cáo năm 1996
[159] Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, ngoài các sterol đã biết, 2
-methyl-5-(Z-nonadec-14-enyl) resorcinol và 5-(Z methyl-5-(Z-nonadec-14-enyl) resorcinol đã được phân lập
từ cây Khôi tía (Ardisia silvestris) và hợp chất diphenol được thu nhận từ rễ của cây
Lá khôi (Ardisia gigantifolia) Một số nhóm nghiên cứu ở Trung Quốc đã tách chiết
và xác định các hợp chất saponin mới phân tách từ cây Lá khôi (Ardisia
gigantifolia) [202, 152] có hoạt tính kháng lại dòng tế bào ung thư ruột HCT-8 và
ung thư gan Bel-7402 Nghiên cứu này đã chỉ ra các hợp chất saponin thu được đã
tác động lên chu kỳ tế bào dòng Bel-7402 Một công bố khác của nhóm nghiên cứu
này cũng đã chỉ ra rằng, hợp chất saponin mới là 3-O-β-d-glucopyranosyl- (1 →
3)-β-d-xylopyranosyl- (1 → 2)-[α-l-rhamnopyranosyl-(1 → 3)]
βdglucopyranosyl(1 → 4)[βdglucopyranosyl βdglucopyranosyl(1 → 2)] αlarabinopyranosyl 3β,16α,28,30
-tetrahydroxy -olean -12-ene có khả năng gây độc đối với các dòng tế bào ung thư
gan HepG-2 và dòng tế bào ung thư dạ dày BCG [153] Gần đây, chính nhóm
nghiên cứu này đã báo cáo rằng, dịch chiết ethanol từ cây Lá khôi (Ardisia
gigantifolia) có khả năng cảm ứng apoptosis đối với các tế bào ung thư vú dòng
MCF-7 thông qua cơ chế cảm ứng sự biểu hiện các protein caspase-3 và caspase-9
của con đường apoptosis [151] Nhìn chung, các nghiên cứu về khả năng kháng ung
thư của cây Lá khôi (Ardisia gigantifolia) mới chỉ dừng lại ở việc xác định các hợp
chất hóa học và bước đầu nghiên cứu khả năng cảm ứng apoptosis đối với tế bào
ung thư
Trang 39Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, vật liệu và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Là những loài thực vật bậc cao có mạch được dùng làm thuốc và vốn tri thức
bản địa trong việc dùng cây thuốc của cộng đồng các dân tộc thiểu số Tày, Nùng,
Sán Dìu, Sán Chay và Dao ở tỉnh Thái Nguyên Cùng với một số loài cây thuốc
được du nhập từ nơi khác đến nhưng được cộng đồng dân tộc ở Thái Nguyên sử
dụng làm thuốc chữa bệnh
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu
2.1.2.1 Mẫu tiêu bản
Vật liệu nghiên cứu là các mẫu tiêu bản tươi và khô của các loài cây thuốc thu
thập được trong quá trình nghiên cứu Hiện tại có gần 1.000 tiêu bản thuộc khoảng
800 số hiệu được lưu trữ tại phòng thí nghiệm Sinh học, trường Đại học Khoa học,
Đại học Thái Nguyên Ngoài ra, vật liệu nghiên cứu còn bao gồm các tài liệu, hình
ảnh, hình vẽ liên quan đến cây thuốc có ở Việt Nam hiện đang được lưu giữ tại các
thư viện, phòng tiêu bản, bảo tàng thực vật, website trong và ngoài nước
2.1.2.2 Mẫu vật, các dòng tế bào ung thư, môi trường nuôi cấy và sinh phẩm
Mẫu vật: mẫu lá của cây Lá khôi (Ardisia gigantifolia Stapf.) được thu thập
tại tỉnh Thái Nguyên và được PGS TS Nguyễn Tập (Viện Dược liệu, Bộ Y tế) định
danh Sau đó, mẫu cây được cắt nhỏ, sấy khô ở 500C trong 72 giờ và đóng gói hút
chân không và chuyển đến phòng thí nghiệm INSERM U853 Đại học Bordeaux,
cộng hòa Pháp
Các dòng tế bào ung thư dạ dày, môi trường nuôi cấy và sinh phẩm: gồm
AGS, MKN45 và MKN74 do ATCC cung cấp (ATCC, Rockville, Maryland, Mỹ)
Môi trường nuôi cấy bao gồm DMEM/F12 Glutamax và RPMI 1640 (Invitrogen,
Cergy- Pontoise, Pháp)
Kháng thể đơn dòng CD44-PE và CD44-APC do BD Pharmingen cung cấp
Bộ sinh phẩm Aldefluor Kit do Stemcell Technologies cung cấp Thuốc nhuộm
nhân tế bào Hoechst 33342; các yếu tố sinh trưởng biểu mô người - hEGF
(Epidermal growth factor) và yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi cơ bản - bFGF
(Basic fibroblast growth factor); dung môi DMSO (Dimethyl sulfoxnide), hóa chất
MTT (3-(4,5-dimethylthiazol-2-yl)-2,5-diphenyl tetrazolium bromide) dùng để phân
tích khả năng sống của tế bào do Sigma cung cấp
Trang 402.1.3 Trang thiết bị nghiên cứu
2.1.3.1 Trang thiết bị dùng trong nghiên cứu thực địa
Bao tải dứa, túi nilon, giấy báo, etyket, kéo cắt cây, bút chữ A, dây đay, dây
dứa, cồn, sổ ghi chép, tủ sấy mẫu, máy ảnh, máy định vị Garmin GPS V
-37087960
2.1.3.2 Hệ thống máy móc dùng trong phân tích thực nghiệm
Kính hiển vi soi ngược Olympus - CKX31 SN 4k06582, Nhật Bản; kính hiển
vi huỳnh quang ZOE Fluorescent Cell Imager Bio RadSN 742BR099, Mỹ;
Máy đo quang phổ SPECTROstar Nano - BMG Labtech SN601-0181, Đức;
Hệ thống phân tích dòng tế bào Flow cytometry BD FACSCanto II, 3 laser:
488 nm, 633 nm và 407 nm, BD science, Mỹ;
Tủ nuôi cấy tế bào CO2, Thermo Scientific, Heracell 150i SN41410446, Đức;
Box nuôi cấy an toàn sinh học cấp 2, Thermo Scientific Class
II Microbiological Safety Cabinets, 1200x780x465 mm, Đức
2.1.4 Địa điểm và thời gian điều tra nghiên cứu
Công tác điều tra được tiến hành ở 25 xã thuộc 7 huyện (Định Hóa, Phú
Lương, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ, Phổ Yên, Phú Bình) của tỉnh Thái Nguyên, nơi
cộng đồng dân tộc Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chay và Dao cư trú (Phụ lục 4 và Phụ
lục 5) Các điểm điều tra được lựa chọn sao cho thỏa mãn các yêu cầu sau:
- Ở mỗi dân tộc, địa điểm điều tra là nơi dân tộc đã định cư lâu đời, có cộng
đồng dân cư đủ lớn theo Địa chí Thái Nguyên - phần Dân cư, dân tộc (2009) [57]
- Các địa điểm điều tra là nơi có nhiều diện tích rừng che phủ dựa theo Bản đồ
tỉnh Thái Nguyên
Các nghiên cứu thực địa và nghiên cứu tại Bảo tàng Thực vật học, Khoa Sinh
học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội và phòng thí
nghiệm Sinh học, Khoa Khoa học Sự sống, Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái
Nguyên được tiến hành từ tháng 5 năm 2011 đến tháng 3 năm 2013
Nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành tại phòng thí nghiệm Helicobacter và
Ung thư - INSERM U853 thuộc Viện Y học Quốc gia, tại Đại học Bordeaux, cộng
hòa Pháp từ tháng 8 năm 2013 đến tháng 8 năm 2014