ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM, LUẬN VĂN THẠC SĨ MỚI NHẤT NĂM 2019, TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, KHOA LUẬT, CHƯA TỪNG ĐƯỢC CÔNG BỐ...................................ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM, LUẬN VĂN THẠC SĨ MỚI NHẤT NĂM 2019, TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, KHOA LUẬT, CHƯA TỪNG ĐƯỢC CÔNG BỐ...................................
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
LÊ XUÂN LÝ
ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH LUẬT DÂN SỰ
VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ
TRÀ VINH, NĂM 2019
ISO 9001:2015
Trang 2ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
LÊ XUÂN LÝ
ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã ngành: 8380103
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH LUẬT DÂN SỰ
VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ
Người hướng dẫn khoa học:
TS Nguyễn Văn Tiến
TRÀ VINH, NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo pháp luậtViệt Nam” là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn đảm bảo độ tin cậy,chính xác và trung thực, được cập nhật từ các nguồn công khai, hợp pháp, không saochép bất kỳ công trình nào khác Tôi chịu trách nhiệm trước pháp luật và người hướngdẫn về công trình nghiên cứu của mình
Trà Vinh, ngày 15 tháng 3 năm 2019
Học viên
LÊ XUÂN LÝ
i
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự nỗ lực
cố gắn của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy, Cô cũng như sựđộng viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập nghiên cứu vàthực hiện luận văn thạc sĩ Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy Tiến sĩNguyễn Văn Tiến người đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoànthành luận văn này Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến quý Thầy, Cô và PhòngĐào tạo sau Đại học - Trường Đại học Trà Vinh đã tận tình truyền đạt những kiến thứcquý báo và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiêncứu cho đến khi thực hiện đề tài luận văn Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Tòa
án nhân dân tỉnh Trà Vinh, Tòa án nhân dân các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàntỉnh Trà Vinh đã không ngừng hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốtthời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các bạn đồngnghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và thực hiện
đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh
Xin chân thành cảm ơn./
ii
Trang 5MỤC LỤC
Tra ng
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục ký hiệu, chữ viết tắt v
Tóm tắt vi
Phần mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
5 Phạm vi giới hạn đề tài 5
6 Phương pháp nghiên cứu 6
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm của đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 8
1.1.1 Khái niệm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 8
1.1.2 Đặc điểm của đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 11
1.1.3 Ý nghĩa của đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 13
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự từ 1945 đến nay 15
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989 15
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2004 18
1.2.3 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay 19
1.3 Quy định của pháp luật một số nước trên thế giới về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong tố tụng dân sự 21
1.3.1 Quy định về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong BLTTDS của Nước Cộng Hòa Pháp 21
iii
Trang 61.3.2 Quy định về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong BLTTDS Liên Bang Nga 22
1.3.3 Quy định về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong BLTTDS Nhật Bản 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ 27
2.1 Căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 27
2.1.1 Do các chủ thể tham gia tố tụng không thể tiếp tục tham gia tố tụng 27
2.1.2 Theo ý chí của đương sự 29
2.1.3 Các căn cứ khác theo quy định của Pháp luật 31
2.2 Thẩm quyền và hậu quả pháp lý của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 39
2.2.1 Thẩm quyền đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 39
2.2.2 Hậu quả pháp lý của đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 40
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 44
CHƯƠNG 3 BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ 45
3.1 Về căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại khoản 2 điều 217 45
3.2 Về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi tòa án đang tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 54
3.3 Về áp dụng một số căn cứ đình chỉ khác trong tố tụng dân sự 57
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 63
KẾT LUẬN 64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
iv
Trang 7DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
v
Trang 8đến hoạt động tố tụng của Tòa án, như ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợppháp của các đương sự
Thực tiễn thực hiện các quy định này đã cho thấy nhiều quy định đã bộc lộnhững bất cập, vướng mắc, chưa thực sự phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn Tố tụng dân
sự Chính thực trạng pháp luật còn nhiều vướng mắc, bất cập đã là nguyên nhân rất cơbản dẫn đến tình trạng đương sự kháng cáo, Viện kiểm sát, Tòa án cấp trên khángnghị Vì vậy, trong tình hình hiện nay việc nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về các quyđịnh của pháp luật tố tụng dân sự về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự để nhận biếtđược những thành công về lập pháp dẫn đến những kết quả đã đạt được như nhữngbất cập, hạn chế trong công tác lập pháp để từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện hơnnữa quy định về đình chỉ là vô cần thiết, cần được thực hiện ngay Từ những yêu cầutrên và với mong muốn được đóng góp xây dựng, hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự
Việt Nam về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, tác giả đã mạnh dạng chọn đề tài “Đình
chỉ giải quyết vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ của mình.
Để làm rõ chế định này luận văn của em cơ cấu gồm 3 chương:
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁNDÂN SỰ
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆNPHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
Trong chương 1: Tác giả nêu khái niệm, đặc điểm của đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về đìnhchỉ giải quyết vụ án dân sự từ 1945 đến nay Quy định của pháp luật một số nước trên
thế giới về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong tố tụng dân sự.
Trong chương 2: Tác giả nêu và làm rõ về căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự theo quy định tại khoản 2 Điều 217 Về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi Tòa ánđang tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Về áp dụng một số căn cứ đình chỉ kháctrong tố tụng dân sự
vi
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cùng với quá trình hội nhập phát triển kinh tế - xã hội như hiện nay thì các
tranh chấp và các yêu cầu về các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại, hôn nhân giađình ngày càng tăng nhanh, đa dạngg và phức tạp hơn Để đáp ứng nhu cầu thực tiễn
về sự phát triển của các quan hệ dân sự một cách bền vững đòi hỏi hệ thống pháp luật
tố tụng phải được đảm bảo với vai trò là cơ sở pháp lý vững chắc, hữu hiệu trong việcgiải quyết các tranh chấp dân sự Việc Toà án giải quyết vụ án dân sự là nhằm bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự cóthể sẽ xuất hiện những lý do làm cho Toà án không thể tiếp tục tiến hành tố tụng1, vìviệc tiếp tục giải quyết vụ án dân sự trong những trường hợp như vậy có thể sẽ khôngđảm bảo quyền tham gia tố tụng của các đương sự hoặc làm cho kết quả giải quyết vụviệc không chính xác Trong những trường hợp như trên, Toà án cần phải đình chỉ giảiquyết vụ án dân sự để giải phóng cho các bên đương sự, đồng thời tiết kiệm thời gian,công sức không chỉ cho đương sự mà còn cả phía bên Toà án, các cơ quan Nhà nướckhác Việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đúng đắn sẽ sớm chấm dứt được việc giảiquyết vụ án, tiết kiệm được thời gian, tiền của của đương sự, tổ chức và các cơ quanchức năng có liên quan
Vấn đề đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là một vấn đề được áp dụng khá phổbiến khi các Tòa án giải quyết vụ án dân sự Quyết định đình chỉ là một quyết định tốtụng có ý nghĩa và ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tố tụng của Tòa án, như ảnhhưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự Khi có quyết địnhđình chỉ đồng nghĩa với việc chấm dứt vụ việc dân sự về tố tụng, có nhiều khả năngđương sự không có quyền khởi kiện lại vụ án Tuy nhiên nếu việc pháp luật quy định
về đình chỉ vụ việc dân sự mà nhất là về căn cứ đình chỉ và hậu quả pháp lý của việcđình chỉ không phù hợp thì quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự sẽ không được đảmbảo, ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết án của Tòa án
Thực tiễn thực hiện các quy định này đã cho thấy nhiều quy định đã bộc lộnhững bất cập, vướng mắc, chưa thực sự phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn Tố tụng dân
sự Chính thực trạng pháp luật còn nhiều vướng mắc, bất cập đã là nguyên nhân rất cơbản dẫn đến tình trạng đương sự kháng cáo, Viện kiểm sát, Tòa án cấp trên kháng
1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
1
Trang 10nghị Nhiều trường hợp quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án các cấp bịhủy, vụ việc được thụ lý giải quyết lại từ đầu Rõ ràng, xét về mặt lý luận, quyết địnhđình chỉ vụ án dân sự có ý nghĩa rất thiết thực, rất cần được áp dụng để bảo vệ kịp thờiquyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, nhưng thực tiễn TTDS Việt Nam trong thờigian qua lại cho thấy chưa phát huy được hiệu quả như nó vốn có Vì vậy, trong tìnhhình hiện nay việc nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về các quy định của pháp luật tố tụngdân sự về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự để nhận biết được những thành công về lậppháp dẫn đến những kết quả đã đạt được như những bất cập, hạn chế trong công táclập pháp để từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện hơn nữa quy định về đình chỉ là vôcần thiết, cần được thực hiện ngay Từ những yêu cầu trên và với mong muốn đượcđóng góp xây dựng, hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự, tác giả đã mạnh dạng chọn đề tài “Đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự theo pháp luật Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ của mình.
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu chung:
Thông qua việc phân tích cụ thể nội dung các căn cứ đình chỉ và trình tự thủtục áp dụng các quyết định đình chỉ vụ án dân sự tại Tòa án để từ đó có đánh giá cụthể, rút ra nhận xét, đồng thời chỉ ra được những điểm hợp lý, những mặt tích cực cầnphải phát huy như những vướng mắc, bất cập của việc áp dụng quyết định đình chỉtrong thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân Qua đó, đề xuất một
số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong tốtụng dân sự
Mục tiêu cụ thể:
Đề tài nghiên cứu có nhiệm vụ làm sáng tỏ các vấn đề cơ bản sau:
- Hệ thống được cơ sở lí luận, quan điểm khoa học, nhận thức chung về đìnhchỉ giải quyết vụ án dân sự Trong đó, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án
có thẩm quyền quyết định ngừng hẳn quá trình giải quyết vụ án dân sự sau khi đã thụ
lý, dựa trên những căn cứ do pháp luật quy định và các đương sự có thể không đượcquyền khởi kiện lại
- Phân tích nội dung các quy định của pháp luật hiện hành về đình chỉ giảiquyết vụ án dân sự, trên cơ sở đó, chỉ ra những bất cập, hạn chế, vướng mắc trong thựcthi pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;
2
Trang 11- Hoàn thiện hệ thống pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong tốtụng dân sự Việt Nam Hiện nay BLTTDS 2015 vẫn còn một số bất cập cần phải hoànthiện
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu trong công trình gồm những vấn đề lý luận về đình chỉgiải quyết vụ án trong TTDS; các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về đình chỉ vụ
án, thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về quyết định đình chỉ
vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân Là các quy phạm pháp luật hiện hành liên quan trựctiếp đến đình chỉ giải quyết vụ án được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự năm2015
4 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Qua quá trình tìm hiểu và sưu tầm tài liệu cho thấy, đã có một số công trìnhnghiên cứu khoa học về vấn đề đình chỉ trong giải vụ án dân sự Có thể kể tên nhữngcông trình được thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến các quyết định đình chỉ
vụ án dân sự trong tố tụng dân sự như sau:
- Dương Tấn Thanh, (2018), “Tòa án có được đình chỉ giải quyết vụ án khi
đang Tạm đình chỉ không?” Tạp chí Tòa án nhân dân ngày 16.8.2018 Trong bài viết
này, tác giả đề cập việc Tòa án ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án khi có căn cứthuộc một trong các trường quy định tại khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 Tuynhiên thực tiễn có trường hợp Tòa án trong thời gian Tòa án đang tạm đình chỉ giảiquyết vụ án theo quy định tại Điều 214 BLTTDS năm 2015 nhưng nguyên đơn rúttoàn bộ đơn khởi kiện, bị đơn không có yêu cầu phản tố hoặc người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập thì Tòa án có được ra Quyết định tạmđình chỉ giải quyết vụ án không Vấn đề này hiện nay có quan điểm khác nhau và cần
có sự thống nhất trong nhận thức và áp dụng pháp luật
- Thái Chí Bình (2018), “Giải quyết vụ án dân sự khi người bị kiện, người liên
quan vắng mặt tại nơi cư trú” Tạp chí Tòa án nhân dân ngày 19.8.2018 Trong bài viết
này, tác giả đề cập việc Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có nhiều quy định mới, trong
đó có quy định liên quan đến việc Tòa án xem xét, xử lý đơn khởi kiện, giải quyết vụ
án dân sự mà người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có mặt tạinơi cư trú theo điểm e khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm
2015, Tòa án trả lại đơn khởi kiện (trong giai đoạn xử lý đơn khởi kiện) hoặc đình chỉ
3
Trang 12giải quyết vụ án (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử) trong trường hợp người khởi kiệnkhông sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán, trong đó, có yêucầu về việc sửa đổi, bổ sung nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định này và các quy định pháp luật về
cư trú tại các Tòa án trong thời gian qua còn chưa có sự thống nhất và có một sốvướng mắc trong thực tiễn liên quan đến việc áp dụng quy định pháp luật giải quyết vụ
án dân sự khi người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại nơi
cư trú trong thời gian qua
- Phạm Hải Tâm (2010), “Tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự theoquy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004”, Luận văn thạc sỹ Luật học, Trườngđại học luật Hà Nội (2010) Trong luận văn của mình tác giả này đã chú trọng nghiêncứu về một số vấn đề lý luận như khái niệm, ý nghĩa, căn cứu áp dụng, sơ lược quátrình phát triển của quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự trong pháp luật tốtụng dân sự Tuy nhiên, tính cho đến nay công trình nghiên cứu của tác giả này về đìnhchỉ giải quyết vụ việc dân sự đã được thực hiện cách đây nhiều năm, nội dung nghiêncứu dựa trên quy định Bộ luật tố tụng dân sự 2004 chưa được sửa đổi, bổ sung Mặc
dù luận văn này vẫn có giá trị tham khảo về một số vấn đề lý luận nhưng những phầntìm hiểu về các quy định của pháp luật tố tụng dân sự không còn phù hợp, một số kiếnnghị không còn tính thời sự, không còn khả năng đáp ứng đòi hỏi của thực tế;
- Phương Thảo (2006), Thủ tục xét xử các vụ án dân sự tại phiên tòa sơ thẩm,
Luận văn Thạc sĩ, trường Đại học Luật Hà Nội Ở đây tác giả nghiên cứu về thủ tụcxét xử sơ thẩm vụ án dân sự từ khi chuẩn bị phiên tòa cho đến sau khi phiên tòa kếtthúc Tác giả đề cập một cách tổng quát về phiên tòa theo quy định BLTTDS năm2004;
- Nguyễn Đức Mai (2012), Bình luận khoa học BLTTDS năm 2004 của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm 2011, Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia, Hà Nội Sách được viết dựa theo kết cấu của BLTTDS hiện hành, riêngChương XIV từ mục 1 đến mục 5 là phần dành hẳn để nói về phiên tòa sơ thẩm dân
sự Đó là trình tự tiến hành phiên tòa sơ thẩm và nội dung từng điều luật được tác giảtrình bày một cách cụ thể, trong đó có cả quyền và nghĩa vụ của HĐXX
- Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), “Giáo trình, Luật Tố
tụng dân sự Việt Nam”, NXB Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam Trong công trình
4
Trang 13này, nhóm tác giả đã trình bày quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, trong đóhoạt động đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là một nội dung quan trọng được quy địnhtại Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- Nguyễn Thị Hoài Phương (2016) “Bình Luận những điểm mới trong Bộ Luật
tố tụng dân sự năm 2015”, NXB Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam Trong công trìnhnày, các tác giả nhấn mạnh về ý nghĩa của đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do Tòa ánnhân dân ban hành và quyền của đương sự trong tố tụng dân sự
- Nguyễn Văn Cường, Trần Anh Tuấn, Đặng Thanh Hoa chủ biên (2012),
“Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi”, NXB Lao động – Xã hội, HàNội Trong cuốn sách này tác giả đã phân tích, so sánh các quy định mới được sửa đổi,
bổ sung tại luật sửa đổi, bổ sung năm 2011, đối chiếu với giải quyết các vụ việc dân
sự, giải thích một cách khoa học về trình tự thủ tục tố tụng dân sự, trong đó có đình chỉgiải quyết vụ án dân sự do Tòa án nhân dân ban hành Tuy nhiên, vì đây là sách bìnhluận nên các tác giả chưa đánh giá, tổng hợp những vướng mắc trên thực tiễn về đìnhchỉ giải quyết vụ án dân sự do Tòa án nhân dân ban hành;
- Bài viết của tác giả Tống Công Cường: “Quy định về đình chỉ trong Bộ luật
Tố tụng dân sự”, đăng trên Tạp chí khoa học pháp lý, (số 4/2007) Trong bài viết củamình tác giả nghiên cứu về phần thủ tục đình chỉ giải quyết vụ án theo từng cấp xét xử
từ đó đưa ra các nhận xét và đánh giá về việc vận dụng các quy định của Bộ luật tốtụng dân sự về vấn đề này trong thực tế Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này đã đượcthực hiện cách đây nhiều năm trên cơ sở là BLTTDS 2004 chưa sửa đổi bổ sung vì vậy
có nhiều quan điểm được đưa ra trong bài viết không còn phù hợp với thực tiễn xét xử;
- Bài viết của tác giả Nguyễn Thu Hà “Đình chỉ xét xử phúc thẩm và đình chỉgiải quyết vụ án dân sự ở Tòa án cấp phúc thẩm”, được đăng trên tạp chí Luật học số7/2010 Với công trình này, tác giả đi sâu vào việc so sánh, phân tích thủ tục đình chỉtại cấp phúc thẩm Đồng thời với việc phân tích khái niệm, tác giả đã làm rõ căn cứban hành và hậu quả pháp lý của quyết định đình chỉ giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm.Giới hạn của bài viết là dựa trên quy định của BLTTDS 2004 chưa sửa đổi, bổ sung dovậy những quy định mới về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự chưa được đề cập;
- Khưu Thanh Tâm (2014), “Căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự”, Luậnvăn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh Luận văn nghiêncứu các vấn đề lý luận về căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án trên cơ sở
5
Trang 14Bộ luật Tố tụng dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2011 Luận Văn tìm hiểu thực trạng
áp dụng các quy định pháp luật về các căn cứ đình chỉ giải quyết các vụ án dân sựtrong thực tiễn giải quyết vụ án dân sự của Tòa án nhân dân các cấp Từ đó nêu lênnhững vướng mắc, bất cập và đề các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của phápluật tố tụng dân sự Vấn đề thực hiện nghĩa vụ tống đạt văn bản tố tụng do Tòa án nhândân ban hành được đề cập khi áp dụng căn cứ đình chỉ là việc tống đạt văn bản tố tụngđúng chưa
Ngoài ra, còn có các sách chuyên ngành đã xuất bản như: Giáo trình Luật TTDScủa Học viện Tư pháp do nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản 2007, Giáo trình LuậtTTDS của Trường Đại học luật Hà Nội do nhà xuất bản Tư pháp xuất bản năm 2010 đều
có phần về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Vì là giáo trình nên các vấn đề như kháiniệm, đặc điểm, ý nghĩa và các quy định của đình chỉ giải quyết vụ án trong tố tụng dân sựchỉ dừng lại ở mức độ đại cương
Có thể nhận thấy, so với các vấn đề nghiên cứu khác, số bài viết về vấn đề đìnhchỉ giải quyết vụ án trong TTDS là khá ít ỏi Những công trình nghiên cứu nêu trênhoặc thời gian đã lâu hoặc nghiên cứu chuyên sâu dưới một phương diện, nội dung cụthể nhất định nên đây là căn cứ để tác giả triển khai nghiên cứu chuyên sâu và có tính
hệ thống về vấn đề đình chỉ giải quyết vụ án trong TTDS Việt Nam từ lý luận đến thựctiễn
5 PHẠM VI GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
Phạm vi nội dung:
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của PLTTDS Việt Nam hiện hành
về đình chỉ vụ án mà chủ yếu là các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vềđình chỉ vụ án và văn bản hướng dẫn thi hành các quy định của BLTTDS về đình chỉ
vụ án dân sự Đồng thời, trên cơ sở thực tiễn áp dụng các quy định về đình chỉ giảiquyết vụ án trong thực tiễn xét xử tại Tòa án, đề xuất các giải pháp hoàn thiện phápluật về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Phạm vi không gian:
Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiệnhành theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về đình chỉ giải quyết vụ ándân sự và văn bản hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật này Nội dung nghiêncứu tập trung chủ yếu vào pháp luật Việt Nam vì đình chỉ vụ án dân sự tại tòa án nhân
6
Trang 15dân chỉ áp dụng pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Tuy nhiên, trong quá trình nghiêncứu, tác giả cũng có so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới và rút ra một sốbài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Phạm vi thời gian:
Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng dân
sự Việt Nam hiện hành theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệulực pháp luật từ ngày 1 tháng 7 năm 2016 về đình chỉ vụ án và văn bản hướng dẫn thihành các quy định của Bộ luật về vấn đề này sau ngày 1 tháng 7 năm 2016 Đây lànhững quy định đang có hiệu lực điều chỉnh về đình chỉ vụ án dân sự tại tòa án nhândân trong việc giải quyết các vụ án dân sự Bên cạnh đó, các quy định của pháp luậtViệt Nam về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự từ năm 1945 đến trước ngày 1 tháng 7năm 2016 được nghiên cứu nhưng chủ yếu là nhận diện sự kế thừa và phát triển trongquy định của pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ án trong hệ thống pháp luật ViệtNam Các quy định từ trước năm 1945 công trình không nghiên cứu
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩatriết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chínhsách của Đảng, Nhà nước ta về phát triển kinh tế xã hội, về xây dựng và hoànthiện pháp luật trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các phương pháp nghiên cứukhác được áp dụng cho toàn luận văn hoặc các chương cụ thể
- Phương pháp phân tích để phân tích, làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò củađình chỉ vụ án dân sự và quá trình hình thành và phát triển của đình chỉ vụ án dân sựtại Việt Nam Trên cơ sở phân tích nêu trên, công trình đưa ra khái niệm đình chỉ giảiquyết vụ án dân sự Phương pháp phân tích được sử dụng trong cả hai chương của luậnvăn nhưng phần lý luận được sử dụng nhiều nhất
- Phương pháp lịch sử được sử dụng nghiên cứu về lịch sử các quy định củapháp luật về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự từ năm 1945 đến nay Phương pháp nàytrọng tâm được sử dụng chủ yếu trong chương 1 Phương pháp lịch sử cũng được sửdụng nghiên cứu về quy định của pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự củamột số quốc gia trên thế giới
- Phương pháp so sánh được sử dụng nhiều ở chương 1 và chương 2 để đốichiếu quy định của pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự và so sánh giữa các
7
Trang 16văn bản điều chỉnh về Phương pháp lịch sử được sử dụng nghiên cứu về lịch sử cácquy định của pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Phương pháp này cũngnhằm đối chiếu để chỉ ra những hạn chế, bất cập trong pháp luật về Phương pháp lịch
sử được sử dụng nghiên cứu về lịch sử các quy định của pháp luật về đình chỉ giảiquyết vụ án dân sự, từ đó đưa ra đề xuất, kiến nghị trong chương 2
- Phương pháp tổng hợp được sử dụng trong chương 2 để tổng hợp những bấtcập của luật thông qua thực tiễn thi hành pháp luật về Phương pháp lịch sử được sửdụng nghiên cứu về lịch sử các quy định của pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự và trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của Phương pháplịch sử được sử dụng nghiên cứu về lịch sử các quy định của pháp luật về đình chỉ giảiquyết vụ án dân sự trong tố tụng dân sự
7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, lời cam đoan, mục lục, danh mục tài liệu thamkhảo, luận văn gồm có 02 chương sau:
Chương 1 : Những vấn đề chung về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Chương 2: Thực trạng pháp luật và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về
đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
CHƯƠNG 1
8
Trang 17NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1.1 Khái niệm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Khái niệm vụ án dân sự.
Nhu cầu thiết lập và thực hiện các quan hệ dân sự là nhu cầu tất yếu của đời
sống xã hội, nhất là với tình hình của nước ta hiện nay khi sự hội nhập quốc tế, pháttriển nền kinh tế thị trường đã bước vào một giai đoạn sâu sắc và toàn diện làm chocác quan hệ dân sự phát triển không ngừng Trong quá trình thực hiện các quan hệ dân
sự không thể tránh khỏi những mâu thuẫn, bất đồng giữa các bên dẫn đến quyền lợicủa công dân bị xâm phạm Khi các tranh chấp dân sự phát sinh các chủ thể có nhiềuphương thức để giải quyết như thương lượng, hòa giải, trọng tài, khởi kiện tại Tòa án.Trong số các phương thức nêu trên, khời kiện ra Tòa án là một trong những phươngthức giải quyết có sự cưỡng chế của Nhà nước, quyền lợi của các bên được bảo đảmthi hành
Theo Hiến pháp, Nhà nước luôn bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của mọicông dân Khi cá nhân, pháp nhân hay chủ thể khác có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâmphạm đều có quyền khởi kiện vụ án dân sự theo thủ tục do pháp luật quy định để yêucầu Tòa án bảo vệ Tòa án, với tư cách là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam, có nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủcủa nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự
do, danh dự và nhân phẩm của công dân Bằng các hoạt động của mình, Tòa án gópphần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật,tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh chống và phòng ngừatội phạm, các vi phạm pháp luật khác2 Do vậy, khi có chủ thể khởi kiện vụ án dân sựthì Tòa án có thẩm quyền phải thụ lý và giải quyết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp phápcủa họ Các vụ án phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinhdoanh, thương mại, lao động mà đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết được gọi là vụviệc dân sự Trong đó, tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các đương sự mà họkhông thể thương lượng được gọi là vụ án dân sự Theo Từ điển luật học, “Vụ án dân
sự là việc phát sinh tại Tòa án, thuộc thẩm quyền xét xử về dân sự của Tòa án, do cá
2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014
9
Trang 18nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức xã hội khởi kiện, Viện kiểm sát khởi
tố yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình, của Nhà nước, của tập thểhay của người khác”3
Thuật ngữ “vụ án” được sử dụng lần đầu tiên trong Luật tổ chức Tòa án nhândân năm 1960: “Các Tòa án nhân dân là những cơ quan xét xử của nước Việt NamDân Chủ Cộng Hòa Tòa án nhân dân xét xử những vụ án hình sự và dân sự…”4 Từ
cơ sở pháp lý này các văn bản pháp luật chính thức sử dụng thuật ngữ “vụ án dân sự”như: Thông tư số 01/UB ngày 03 tháng 3 năm 1969 của TAND tối cao hướng dẫn việcviết bản án sơ thẩm và phúc thẩm hình sự và dân sự; Thông tư liên tịch số 01/TTLTngày 01 tháng 02 năm 1982 của TAND tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướngdẫn về thủ tục tái thẩm Trước khi BLTTDS được ban hành và có hiệu lực pháp luật,việc giải quyết các vụ việc dân sự được dựa trên quy định của ba Pháp lệnh về thủ tục
tố tụng là: PLTTGQCVADS năm 1989; PLTTGQCTCLĐ năm 1996;PLTTGQCVAKT năm 1994 Cả ba Pháp lệnh này đều sử dụng thuật ngữ “Vụ án dânsự”, “vụ án kinh tế” và “vụ án lao động”
Từ khi BLTTDS Việt Nam ra đời, thủ tục tố tụng dân sự được chú ý hoànthiện hơn, trong đó có sự phân biệt về thủ tục giải quyết đối với những tranh chấp vànhững yêu cầu về dân sự5 Theo đó, thì tùy vào tính chất, nội dung cụ thể của vụ việc
là tranh chấp hay yêu cầu mà có thủ tục phù hợp Những loại việc mà Tòa án phảigiải quyết theo thủ tục tranh chấp được gọi là vụ án dân sự bao gồm: Những tranhchấp về dân sự, những tranh chấp về hôn nhân gia đình, những tranh chấp về kinhdoanh, thương mại, những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết củaTòa án6 Như vậy, vụ án dân sự là các tranh chấp xảy ra giữa các đương sự về dân sự,hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động7, mà theo quy định của BLTTDSthì cá nhân, cơ quan, tổ chức tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởikiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củamình
Khái niệm vụ án dân sự được hiểu như sau: “Vụ án dân sự là những tranh
chấp dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động phát sinh tại Tòa
3 Trường Đại học Luật Hà Nội (1990), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.219.
4 Điều 1 Luật tổ chức tòa án nhân dân, ban hành ngày 14/7/1960.
5 Trường Đại học luật TP.Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Hồng Đức, Hội
Luật gia Việt Nam, tr.13.
6 Theo quy định tại các Điều 26, 28, 30, 32 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
7 Trường Đại học luật TP.Hồ Chí Minh (2017), sđd, tr 18.
10
Trang 19án, do cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu và được tòa án thụ lý, giải quyết”.
Khái niệm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Theo Từ điển Tiếng Việt, đình chỉ là ngưng lại, không tiến hành nữa8 Theonghĩa này, đình chỉ là chấm dứt một hoặc một số hoạt động trong đời sống con người.Theo Từ điển Luật học “…Việc đình chỉ tố tụng có thể được thực hiện ở bất cứ giaiđoạn tố tụng nào khi có những căn cứ do pháp luật quy định….Trong tố tụng dân sự,thuật ngữ đình chỉ tố tụng có nghĩa là đình chỉ việc giải quyết vụ án”9
Về mặt tố tụng dân sự, sau khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự, tòa án cấp sơ thẩmphải giải quyết vụ án đúng theo trình tự phát luật quy định Tuy nhiên, trong quá trìnhgiải quyết vụ án, có thể phát sinh những căn cứ xuất phát từ những lý do khách quanhoặc chủ quan mà tòa án cấp sơ thẩm không thể giải quyết được vụ án Đối với nhữngtrường hợp đó, tòa án phải xem xét các căn cứ do pháp luật quy định để ban hành cácloại văn bản do pháp luật quy định nhằm tạm ngưng hoặc ngưng hẳn việc giải quyết vụán
Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau
trong khoa học pháp lý “Đình chỉ giải quyết vụ án là chấm dứt tố tụng dân sự khi có
những căn cứ nhất định mà không thông qua xét xử hay hòa giải”10 Theo quan điểmnày, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là hoạt động làm chấm dứt mọi hoạt động tốtụng Quan điểm này căn cứ vào sự chấm dứt của quan hệ tố tụng đưa trên căn cứ doluật định Tuy nhiên, quan điểm này chưa đề cập thẩm quyền và trình tự đình chỉ giảiquyết vụ án dân sự
Quan điểm thứ hai cho rằng “Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án ra
quyết định không tiếp tục giải quyết vụ án dân sự khi có những căn cứ đã được pháp luật quy định”11 Quan điểm này chỉ rõ chủ thể có thẩm quyền đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự và căn cứ để đình chỉ Tương tự như vậy, “Đình chỉ vụ án dân sự là việc
Tòa án quyết định chấm dứt vụ án dân sự nếu sau khi thụ lý vụ án mà phát hiện ra một trong những căn cứ pháp luật quy định”12 Trong các quan điểm này, chủ thể, căn cứ
và tính chất của đình chỉ giải quyết vụ án dân sự được nêu rõ ràng, chính xác Mở rộng
8 Từ điển Tiếng Việt (2007), NXB Từ điển Bách Khoa, tr 300.
9 Viện khoa học pháp lý- Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, NXB Tư pháp, tr.263.
10Tống Công Cường (2007), Luật tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh,
Trang 20hơn, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự được quan niệm “Đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự là hành vi tố tụng sau khi thụ lý vụ án của Tòa án có thẩm quyền chấm dứt quá trình giải quyết vụ án khi bị phát hiện có một trong các căn cứ do pháp luật quy định.
Vụ án sẽ chấm dứt quá trình tố tụng và các đương sự có thể không được quyền khởi kiện lại”13
Với các quan điểm nêu trên, tuy các tác giả có cách nhìn nhận đình chỉ giảiquyết vụ án dân sự dưới các lăng kính khác nhau nhưng đều thống nhất ở các nội dung
là đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc tòa án ngưng việc giải quyết vụ án dân sựkhi có căn cứ do luật định
Từ phân tích trên, theo tác giả, “Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là một hoạt
động trong tố tụng dân sự Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án nhân dân
có thẩm quyền ngừng hẳn hoạt động giải quyết vụ án dân sự khi có căn cứ do pháp luật tố tụng dân sự quy định Đình chỉ là hình thức giải quyết vụ án dân sự ở cấp sơ thẩm”.
1.1.2 Đặc điểm của đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Mỗi cơ quan Nhà nước đều có thẩm quyền trong một lĩnh vực để thực hiện chứcnăng, nhiệm vụ mà pháp luật quy định Phạm vi hoạt động và quyền năng pháp lý củacác cơ quan Nhà nước do pháp luật quy định được hiểu là thẩm quyền của các cơ quanNhà nước đó Sự phân định thẩm quyền là một điều kiện cần thiết bảo đảm cho bộmáy Nhà nước hoạt động bình thường, không chồng chéo, dẫm chân lên nhau Trong
hệ thống cơ quan tư pháp của Việt Nam, Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư phápvới chức năng, thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành chính và các vụ việckhác mà pháp luật quy định để bảo vệ pháp luật và sự công bằng của xã hội Quyềnxem xét giải quyết các vụ việc hình sự, dân sự, hành chính và quyền ra các quyết địnhkhi giải quyết vụ việc đó chỉ được thực hiện sau khi có hoạt động thụ lý Đình chỉ giảiquyết vụ án dân sự có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, là hoạt động tố tụng của Tòa án có thẩm quyền Khi một tranh chấpphát sinh trong xã hội, các bên liên quan có nhiều cách để giải quyết trong đó có cáchkhởi kiện ra Tòa án Khi các bên lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Tòa án thì phát sinhhoạt động thụ lý và các hoạt động khác Tòa án áp dụng trong quá trình giải quyết vụ
án Tòa án là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi có
13 Trường Đại học luật tp.Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Hồng Đức, Hội
Luật gia Việt Nam, tr.267 (chủ biên Nguyễn Thị Hoài Phương).
12
Trang 21căn cứ do luật định.
Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân,bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân Tuy nhiên, khôngphải mọi tranh chấp hay yêu cầu đều đưa đến hoạt động thụ lý, giải quyết thông quacon đường tố tụng dân sự mà chỉ những tranh chấp, yêu cầu về dân sự được quy địnhtrong Bộ luật Tố tụng dân sự14 Mặt khác, để bảo đảm cho hoạt động tố tụng đúng theotrình tự do luật định, trong một số trường hợp, căn cứ theo thẩm quyền Tòa án đình chỉgiải quyết vụ án dân sự15
Thứ hai, việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự phải dựa trên những căn cứ dopháp luật quy định Trong quá trình giải quyết VADS, nếu Tòa án phát hiện có một
trong những căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân theo quy định của pháp luật TTDS
thì Tòa án ra quyết định chấm dứt hoạt động tố tụng và về nguyên tắc, đương sự không
có quyền khởi kiện lại vụ án đó một lần nữa Căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án bao gồm
cả các lý do khách quan như đương sự là cá nhân chết, tổ chức giải thể mà quyền,nghĩa vụ tố tụng của họ không được thừa kế và những lý do chủ quan như tự hòa giải,không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết, rút yêu cầu16 Đây là những căn cứ do phápluật quy định Để đảm bảo việc giải quyết vụ án một cách khách quan, đúng đắn vàbảo đảm quyền, lợi ích của đương sự, Tòa án phải dựa vào những căn cứ do pháp luậtquy định và việc áp dụng đó phải theo đúng nội dung và hình thức của việc đình chỉgiải quyết vụ án dân sự
Thứ ba, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự làm chấm dứt hoạt động tố tụng dân
sự Đình chỉ giải quyết vụ án là cơ sở pháp lý chấm dứt việc giải quyết vụ án màkhông phải xét xử hay công nhận sự thỏa thuận của đương sự Đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự là một trong những phương thức kết thúc vụ án dân sự Vụ án không đượcxem xét giải quyết lại sau khi đã ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.Trong việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Tòa án ban hành quyết định đình chỉ giảiquyết vụ án dân sự mà không công nhận như bác yêu cầu của đương sự
Cùng với công nhận sự thỏa thuận17, xét xử, đình chỉ giải quyết VADS là mộttrong ba phương thức mà Tòa án giải quyết vụ án dân sự Về nguyên tắc, đương sựkhông được khởi kiện lại vụ án trừ một số ngoại lệ được pháp luật quy định như nếu
Trang 22có căn cứ và còn trong thời hiệu khởi kiện Lúc này, Tòa án thụ lý và giải quyết vụ ánnhư một vụ án mới, không phụ thuộc vào vụ án đã bị đình chỉ, không phải khôi phục
hồ sơ để tiếp tục giải quyết lại vụ án
Thứ tư, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự chỉ được áp dụng sau khi Tòa án thụ lý
vụ án Trước khi thụ lý, Tòa án chỉ có thể trả đơn hoặc chuyển đơn khởi kiện theo quyđịnh của luật tố tụng dân sự Sau khi thụ lý vụ án và trong giai đoạn chuẩn bị xét xử,xét xử vụ án, Tòa án mới có thẩm quyền ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ ándân sự
Thứ năm, quyết định đình chỉ giải quyết VADS chỉ giải quyết vụ án về mặthình thức Khác với việc xét xử, Tòa án áp dụng luật nội dung để phân định đúng sai
và xác định trách nhiệm của các đương sự trong vụ án và kết luận việc giải quyết một
vụ án dân sự, Tòa án sẽ tổ chức phiên tòa xét xử, ra bản án công nhận hoặc bác yêucầu của đương sự Trước hoặc tại phiên tòa sơ thẩm, thông qua hoạt động hòa giải, nếucác đương sự thỏa thuận được với nhau thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏathuận Trong khi đó, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự chỉ đơn thuần là một quyết định
tố tụng làm chấm dứt việc giải quyết VADS mà Tòa án đã thụ lý Khi ban hành quyếtđịnh đình chỉ giải quyết vụ án Tòa án không xem xét yêu cầu của đương sự mặc dùquyền và lợi ích của các bên chưa được giải quyết
1.1.3 Ý nghĩa của đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là một quyết định tố tụng có ý nghĩa và ảnhhưởng rất lớn đến hoạt động tố tụng của Tòa án, như ảnh hưởng trực tiếp đến việc bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự18 Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự cónhững ý nghĩa sau:
Thứ nhất, xác định trách nhiệm của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp dân
sự thuộc thẩm quyền do pháp luật quy định
Khi đương sự khởi kiện, Tòa án phải xem xét, xử lý yêu cầu trong thời hạn dopháp luật tố tụng quy định Trách nhiệm của Tòa án phát sinh từ thời điểm thụ lý vàtrong quá trình giải quyết vụ án dân sự Tùy từng trường hợp, Tòa án chuyển đơn choTòa án có thẩm quyền hoặc trả lại đơn khởi kiện hoặc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.Sau khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự, xác định trách nhiệm giải quyết thuộc vềchính Tòa án đã thụ lý thì Tòa án phải tiến hành các hoạt động tố tụng theo đúng quy
18 Trường Đại học luật Tp.Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Hồng Đức, Hà
Nội
14
Trang 23định của luật Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thuộc trách nhiệm của Tòa án do phápluật quy định Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyềncông dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợiích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.19
Thứ hai, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là một trong các phương thức bảođảm quyền tự định đoạt của các đương sự Xuất phát từ quyền tự quyết định và tự địnhđoạt của đương sự, trong quá trình giải quyết VADS đương sự có quyền chấm dứt,thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, khôngtrái pháp luật và đạo đức xã hội20 Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản về quyền
tự quyết định và định đoạt của đương sự thể hiện sự tôn trọng ý chí, nguyện vọng củacác đương sự trong tố tụng dân sự Tôn trọng nguyên tắc này, khi xây dựng các quyđịnh về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, các nhà làm luật đề cao sự tự quyết và địnhđoạt của đương sự bằng việc quy định cho họ có quyền rút đơn khởi kiện hoặc khôngyêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết và Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi cóyêu cầu hợp pháp của đương sự
Thứ ba, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là một trong các phương thức Tòa ánsửa chữa những sai lầm trong việc áp dụng pháp luật Theo quy định, Tòa án có nghĩa
vụ thụ lý vụ án dân sự đúng đắn, chính xác Tuy nhiên, có những trường hợp, sau khithụ lý, Tòa án mới phát hiện ra những sai sót trong quá trình thụ lý Như: Người khởikiện không có quyền khởi kiện; chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của phápluật; sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật củaTòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, trừtrường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thayđổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản,thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tàisản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ởnhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyềnkhởi kiện lại; vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (khoản 1 Điều 192BLTTDS) Trong trường hợp này, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự sẽ khắc phục được những sai lầm từ việc thụ lý vụ án không đúng Đồng thời, đảmbảo cho các bên đương sự không phải tham gia tố tụng, thực hiện các nghĩa vụ do luật
19 Khoản 2 Điều 13 BLTTDS 2015
20 Điều 5 BLTTDS năm 2015
15
Trang 24Thứ tư, là cơ sở loại trừ những vụ việc không thuộc thẩm quyền của Tòa án.Thực hiện đúng các quy định về việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, sẽ loại trừ việcthụ lý những vụ việc không thuộc thẩm quyền Việc thụ lý vụ việc dân sự “giúp choTòa án không những xác định đúng trách nhiệm của mình mà còn hạn chế việc phải xử
lý hậu quả của việc thụ lý không đúng thẩm quyền Việc thụ lý đúng thẩm quyền, giúpcho Tòa án tiết kiệm được thời gian, giảm bớt những thủ tục tố tụng, thực hiện đúngthời hạn do luật định Đây là hoạt động có ý nghĩa quan trọng của việc thực hiện tốtcác kỹ năng thụ lý đối với toàn bộ tiến trình tố tụng giải quyết vụ việc dân sự” Hoạtđộng đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là hình thức theo dõi, kiểm tra, giám sát sốlượng vụ việc đã tiếp nhận và kết quả giải quyết Căn cứ vào tỉ lệ giữa số lượng vụviệc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự và số lượng vụ việc đã giải quyết sẽ đánh giáđược hiệu quả của hoạt động giải quyết vụ án dân sự của TAND Từ đó phát hiện ranhững sai sót trong quá trình áp dụng pháp luật và đưa ra những giải pháp cải thiệnchất lượng hoạt động của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết vụ án dân sự
1.2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ TỪ
1945 ĐẾN NAY
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989
Trước cách mạng tháng Tám, dưới sự thống trị của thực dân Pháp, Việt Namchia thành ba kỳ với ba hệ thống pháp luật riêng biệt: ở Bắc Kỳ chịu sự điều chỉnh của
Bộ luật tố tụng dân sự Bắc Kỳ, ở Trung Kỳ theo Bộ luật Tố tụng dân sự Trung Kỳ, còn
ở Nam Kỳ thì theo Bộ luật tố tụng dân sự của Pháp Sau cách mạng tháng Tám năm
1945 Ngày 02 tháng 9 năm 1945 Lãnh tụ Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lậpkhai sinh ra Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đây là Nhà nước dân chủ đầu tiên ởkhu vực Đông Nam Á được thành lập Đánh dấu sự thay đổi toàn diện về mọi mặttrong đời sống xã hội, trong lĩnh vực tư pháp, tố tụng Trong tình hình đó để mauchóng ổn định và xây dựng hệ thống tư pháp mới, Chính phủ lâm thời ra sắc lệnh số47/SL ngày 10 tháng 10 năm 1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành cho phéptạm thời giữ các luật lệ hiện hành của chế độ cũ ở Bắc, Trung, Nam bộ mà không tráivới bản chất của Nhà nước, không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam chođến khi ban hành những bộ pháp luật duy nhất của nước Việt Nam Tuy nhiên, sắc
16
Trang 25lệnh trên chỉ đề cập đến việc cho áp dụng các quy phạm pháp luật nội dung của chế độ
cũ mà không đề cập đến việc cho tiếp tục áp dụng các quy định về hoạt động tố tụnghay không Tiếp theo đó, Nhà nước ban hành nhiều quy định khác nhau liên quan đếnhoạt động tố tụng dân sự ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau như: Sau đó các Sắclệnh về TTDS đã được ban hành như Sắc lệnh số 13/SL ngày 24 tháng 1 năm 1946 về
tổ chức Tòa án và các ngạch Thẩm phán, Sắc lệnh số 51/SL ngày 17 tháng 4 năm 1946
về ấn định thẩm quyền các Tòa án và sự phân công giữa các nhân viên trong ngànhTòa án Sau khi có Hiến pháp năm 1946, Nhà nước Việt Nam non trẻ đã ban hànhnhiều văn bản pháp luật nhằm tiến hành cải cách bộ máy Tư pháp và thủ tục tố tụngnhư Sắc lệnh số 185/SL ngày 26 tháng 5 năm 1948 về ấn định thẩm quyền các tòa án
sơ cấp và đệ nhị cấp; Sắc lệnh số 85/SL ngày 25 tháng 5 năm 1950 về cải cách bộ máy
tư pháp và luật tố tụng Vấn đề đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong giai đoạn nàykhông có quy định riêng nào Tuy nhiên, chỉ được đề cập đến trong Thông lệnh số 12-NV-CT ngày 29 tháng 12 năm 1946 của Bộ tư pháp về tổ chức tư pháp, theo đó: “Nếu
vì một lẽ gì, Tòa án thường không thể tiếp tục công việc xử án được, việc xét xửnhững phạm pháp sẽ do quyết định của Ủy ban bảo vệ khu và giao cho Tòa án quân
sự Còn xử các việc hộ hoặc thương mại sẽ đình chỉ, trừ những việc cấp tốc thì sẽ doHội thẩm chuyên môn Tòa án quân sự xét xử bằng mệnh lệnh ”
Sau năm 1954, đất nước ta bị chia cắt thành hai miền, cả nước một mặt đấutranh thống nhất đất nước, một mặt củng cố chính quyền, một mặt đấu tranh chống cácthế lực thù địch nên pháp luật thời kỳ này chủ yếu tập trung vào hình luật hơn là dânluật Pháp luật tố tụng dân sự được quy định tập trung trong một số văn bản điều chỉnh
tố tụng hình sự Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và tiến lên xây dựng xã hội,miền Nam vẫn chịu sự thống trị của chính quyền Ngụy Sài Gòn và đế quốc Mỹ Vìvậy, hai miền Nam, Bắc có hai hệ thống pháp luật khác nhau Ở miền Nam chínhquyền Sài Gòn vẫn áp dụng các văn bản pháp luật cũ thời Pháp thuộc như Nghị Định
16 tháng 3 năm 1910; Sắc lệnh 27 tháng 1 năm 1957 Ở miền Bắc, các văn bản phápluật TTDS được ban hành chủ yếu là các văn bản pháp luật về hành chính, hình sự.Thời kỳ này có rất ít các văn bản quy định về thủ tục tố tụng dân sự, chỉ có một sốhướng dẫn về thủ tục giải quyết việc ly hôn, nên đối với vấn đề đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự không có quy định riêng nào
Hiến pháp năm 1959 ra đời, đánh dấu một bước chuyển biến lớn trong hệ thống
17
Trang 26văn bản pháp luật Đồng thời, các Sắc lệnh được ban hành trước đó không còn hiệulực Thay vào đó Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật có ý nghĩa quan trọng như:Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 1960, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm1960; Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 Tuy nhiên, văn bản đầu tiên, làm tiền đềcho việc xây dựng các quy định về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự phải kể đến làThông tư số 39/NCLP ngày 21 tháng 1 năm 1972 của TANDTC hướng dẫn việc thụ
lý, di lý, xếp và tạm xếp vụ kiện về Hôn nhân và gia đình và những tranh chấp về dân
sự Các vấn đề về căn cứ, thẩm quyền, hậu quả pháp lý của việc tạm xếp, xếp vụ kiệndân sự được quy định rất cụ thể Có thể nói những quy định trong thông tư này là tiền
đề cho việc xây dựng các quy định về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự giai đoạn saunày Ngoài ra, Bộ luật dân sự và thương sự tố tụng năm 1972 của chính thể Việt NamCộng Hòa cũng có quy định trường hợp Tòa án chấm dứt việc giải quyết vụ kiện donguyên đơn chết mà không có người thừa kế tiếp tục tham gia tố tụng thì vụ kiện sẽ bịđình chỉ: Nếu nguyên đơn từ trần sau khi nộp đơn khởi tố, vụ kiện sẽ được bãi bỏ,ngoại trừ trường hợp có thừa kế của người quá cố tự ý dự sự để tiếp tục vụ kiện, hoặc
có bị đơn phản tố ra dự sự21 Những quy định này là cơ sở cho việc xây dựng các quyđịnh về đình chỉ giải quyết VADS sau này
Sau khi Hiến pháp 1980 ra đời, Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật có ýnghĩa quan trọng như: Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 1982, Luật tổ chức Viện kiểmsát nhân dân năm 1981 ra đời, các văn bản pháp luật hướng dẫn nhằm cụ thể hóa thủtục TTDS tiếp tục được ban hành Tuy nhiên, không hề có văn bản nào quy định thêm
về vấn đề đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Như vậy, có thể thấy rằng giai đoạn nàymặc dù các quy định thủ tục TTDS đã được quy tương đối đầy đủ nhưng vấn đề đìnhchỉ giải quyết vụ án dân sự mới chỉ được đề cập rất hạn chế
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2004
Năm 1989 là thời điểm quan trọng đối với lịch sử Việt Nam từ sau ngày 30tháng 4 năm 1975 Tháng 12 năm 1986, đường lối “đổi mới” do Đại hội lần thứ VI củaĐảng cộng sản Việt Nam phát khởi đã tạo ra một bước ngoặt mà ba năm sau đó22 đãchuyển hẳn nền kinh tế Việt Nam từ chế độ “quan liêu bao cấp” sang cơ chế thịtrường, mở cửa giao lưu và hợp tác kinh tế với các nước trên thế giới Chính sách kinh
21 Phạm Hải Tâm (2010), Tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự 2004, Hà Nội, tr.25.
22 Hội nghị trung ương 6, khóa VI, tháng 9 năm 1989.
18
Trang 27tế của Nhà nước thay đổi tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ dân sự.Bên cạnh đó, Nhà nước tiến hành thực hiện những cải cách tư pháp, xây dựng và hoànthiện hệ thống pháp luật làm hành lang pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củacác chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự Trên tinh thần đó, Pháp lệnh ngày 29 tháng
11 năm 1989 về Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự đã được ban hành và áp dụngthống nhất trên cả nước, sau đó Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm
1994 và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 Cùng với cácvăn bản tố tụng này, các quy định về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các vănbản đã có các quy định khá cụ thể và các quy định này đối với từng vụ việc cụ thể hơn
so với giai đoạn trước
Trong thời kỳ này có 3 pháp lệnh điều chỉnh về thủ tục TTDS Đó là,PLTTGQCVADS ngày 29 tháng 11 năm 1989, PLTTGQCVAKT năm 1994 vàPLTTGQCTCLĐ năm 1996 PLTTGQCVADS năm 1989 đã có một bước tiến mớitrong việc quy định các vấn đề về đình chỉ giải quyết các vụ án dân sự Vấn đề đìnhchỉ giải quyết VADS được quy định tại Điều 46, quy định tương đối đầy đủ các căn cứ
để Tòa án có thể ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Nhằm cụ thể hóa cácquy định về đình chỉ giải quyết các vụ án dân sự trong PLTTGQCVADS nhiều vănbản hướng dẫn cụ thể đã được ban hành Cụ thể là Nghị quyết số 03/NQ-HĐTP ngày
19 tháng 10 năm 1990 của HĐTPTANDTC và Công văn số 124/NCPL ngày 13 tháng
12 năm 1991 của Tòa án nhân dân tối cao giải thích một số vấn đề về thủ tục tố tụngdân sự
Trong PLTTGQCVAKT năm 1994 vấn đề đình chỉ giải quyết các vụ án kinh tếđược quy định tại Điều 39 Trong các vụ án về tranh chấp lao động, vấn đề đình chỉcũng được quy định tại các Điều 41 của PLTTGQCTCLĐ năm 1996 Hầu hết, các quyđịnh về căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án kinh tế, lao động không có sự khác biệt nhiều
so với những quy định trong PLTTGQCVADS Về cơ bản thì quy định về đình chỉ vụ
án kinh tế và đình chỉ giải quyết các tranh chấp lao động được dựa trên quy định vềđình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại Điều 46 PLTTGQVADS năm 1989 Chỉ có một sự
bổ sung thêm của Điều 39 và Điều 41 là “đã có quyết định của tòa án mở thủ tục giảiquyết đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp mà doanh nghiệp đó là đương sựtrong vụ án”
Tuy nhiên, các vấn đề về đình chỉ quy định trong nhiều văn bản pháp luật
19
Trang 28nhưng vẫn chưa quy định cụ thể các trường hợp, trong điều kiện nào Tòa án sẽ phải ápdụng căn cứ để đình chỉ, điều này đã gây khó khăn trong việc áp dụng các quy định vềđình chỉ Mặt khác, trong giai đoạn này pháp luật tố tụng dân sự chưa có quy định vềvấn đề bảo về quyền lợi cho người có liên quan đến đình chỉ vụ án và trong quá trình
áp dụng các căn cứ để đình chỉ phát sinh nhiều bất cập cần được khắc phục và hoànthiện
1.2.3 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay
Cùng với sự phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật tốtụng dân sự đã có quá trình phát triển từ năm 1945 sau khi Nhà nước Việt Nam dânchủ cộng hòa được thành lập Đặc biệt là việc ban hành ba Pháp lệnh23 Tuy nhiên, cácPháp lệnh này mới chỉ quy định những nguyên tắc chung của pháp luật tố tụng dân sự,còn thiếu nhiều quy định về các nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự nhưthiếu các quy định cụ thể về trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa ánnhân dân; mặt khác, nhiều quy định của các Pháp lệnh này không còn phù hợp, thiếuđồng bộ với các văn bản quy phạm pháp luật khác như Bộ luật dân sự năm 1995, Bộluật lao động năm 1994…
Theo Nghị quyết số 52/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội
về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2002 và Nghị quyết số UBTVQH10 ngày 20 tháng 01 năm 2002 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc triểnkhai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnhnăm 2002, Tòa án nhân dân tối cao được giao là cơ quan chủ trì soạn thảo phối hợpvới Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam,Văn phòng Chính phủ xây dựng Dự án Bộ luật tố tụng dân sự Ngày 15 tháng 6 năm
286/2002/NQ-2004, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 5 đãthông qua Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng
01 năm 2005
Bộ luật này ra đời đã đánh dấu một bước phát triển mới của pháp luật TTDSViệt Nam trong thời kỳ đổi mới Các quy định về vấn đề đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự đã được điều chỉnh bằng một văn bản thống nhất và có hiệu lực pháp lý cao Căn
cứ, thẩm quyền, hiệu lực và hậu quả pháp lý của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
ở các cấp xét xử được quy định khá đầy đủ và cụ thể Những vấn đề về đình chỉ giải
23 PLTTGQCVADS năm 1989, PLTTGQCVAKT năm 1994, PLTTGQCTCLĐ năm 1996
20
Trang 29quyết VADS quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành là cơ sở pháp lý quantrọng để Tòa án áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Tiếp đó,HĐTPTANDTC đã ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết việc áp dụng các quyđịnh về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong BLTTDS Cụ thể là Nghị quyết số01/2005/NQ-HĐTP ngày 31 tháng 3 năm 2005, Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTPngày 12 tháng 5 năm 2006, Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP ngày 4 tháng 8 năm
bổ sung một số điểm, mà sự sửa đổi bổ sung này về cơ bản phù hợp với thực tiễn giảiquyết vụ án so với các quy định về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự quy định trước đó
Ngày 25 tháng 11 năm 2015, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua BLTTDS năm 2015 và có hiệu lực ngàyngày 1 tháng 7 năm 2016, trừ các quy định liên quan đến quy định của Bộ luật dân sự
số 91/2015/QH13 thì có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017: Quy địnhliên quan đến việc Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa
có điều luật để áp dụng; quy định liên quan đến người có khó khăn trong nhận thức,làm chủ hành vi; quy định liên quan đến áp dụng thời hiệu tại khoản 2 Điều 184 vàđiểm e khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này; quy định liên quan đến pháp nhân là ngườiđại diện, người giám hộ Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự quy định tại Điều 217, 218
và Điều 219 BLTTDS năm 2015
1.3 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
1.3.1 Quy định về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong BLTTDS của nước Cộng hòa Pháp
Nước Cộng hòa Pháp là một nước có nền kinh tế phát triển và lịch sử lập pháplâu đời Có thể nói pháp luật Pháp là nền tảng của pháp luật Châu âu lục địa với kỹ
21
Trang 30thuật lập pháp tiến bộ và nội dung chặt chẽ Về pháp luật tố tụng dân sự ở Pháp pháttriển thống nhất và tương đối hoàn chỉnh mà biểu hiện cụ thể là Bộ luật tố tụng dân sựcủa nước Công hòa Pháp Tại Chương II thiên XI BLTTDS Pháp quy định về “Đìnhchỉ vụ án”.
Cụ thể, căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự được Bộ luật Tố tụng dân sựCộng hòa Pháp quy định là: do một bên đương sự đã thành niên; Luật sư bào chữahoặc đại diện của một trong các bên không còn hành nghề luật sư nếu luật sự đại diện
là bắt buộc; Hiệu lực của bản án tuyên bố phá sản hoặc thanh toán tài sản trong những
vụ kiện bắt buộc phải có sự tham gia tố tụng hoặc không tham gia tố tụng của con nợ.Ngoài ra, vụ án còn bị đình chỉ do: Một bên đương sự chết trong trường hợp quyềntham gia tố tụng có thể chuyển nhượng được cho người khác; Người đại diện hợp phápcủa người mất năng lực hành vi chấm dứt việc đại diện; Một bên đương sự được khôiphục lại hoặc mất năng lực tham gia tố tụng Căn cứ một bên đương sự chết, rút đơnkhởi kiện và hết thời hiệu khởi kiện là những căn cứ được quy định trong BLTTDSViệt Nam Tuy nhiên, BLTTDS Pháp có các quy định rõ ràng hơn về các trường hợpcăn cứ chủ yếu làm chấm dứt tố tụng, trong khi đó BLTTDS Việt Nam không cónhững điều khoản nào quy định chi tiết về căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự màgiao trách nhiệm đó cho Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối caohướng dẫn
Về hậu quả pháp lý, việc áp dụng căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án làm cho vụ
án chấm dứt “Các hành vi tố tụng đã được thực hiện và các bản án cho dù đã có hiệulực pháp luật, nhận được sau khi đình chỉ vụ án, được coi như không có, trừ khi bênđương sự được lợi do việc đình chỉ vụ án đã rõ ràng hoặc mặc nhiên công nhận cáchành vi tố tụng hoặc bản án đó”24
Ngoài ra, Bộ luật tố tụng dân sự Pháp quy định việc đình chỉ vụ án không làmchấm dứt thẩm quyền của Thẩm phán và vụ án có thể được khôi phục lai nguyên trạngtại thời điểm bị đình chỉ25 Việc khôi phục vụ án có thể được các bên đương sự tựnguyện tiến hành26: do các bên tự nguyên khôi phục theo thể thức quy định đối vớiviệc xuất trình các căn cứ để bảo vệ quyền lợi của mình Trong trường hợp vụ ánkhông được các bên tự nguyên khôi phục thì vụ án có thể được khôi phục theo phương
24 Điều 372, Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa Pháp (1998), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
25 Điều 374, Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa Pháp (1998), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
26 373, 375, Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa Pháp (1998), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
22
Trang 31thức gửi giấy triệu ra Tòa; Nếu đương sự được triệu ra Tòa khi vụ án được khôi phụckhông có mặt, thì Tòa án áp dụng các quy định tại Điều 471 và các điều tiếp theo của
Bộ luật dân sự Ngoài ra “Thẩm phán có thể triệu tập các đương sự để yêu cầu họ chobiết kiến nghị về việc khôi phục vụ án và xóa sổ thụ lý vụ án trong trường hợp khônghành động trong thời hạn do thẩm phán ấn định Thẩm phán có thể yêu cầu Viện công
tố thu thập những thông tin cần thiết cho việc khôi phục vụ án”27
1.3.2 Quy định về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong BLTTDS Liên Bang Nga
Bộ luật tố tụng dân sự của Cộng hòa Liên Bang Nga được Xô Viết tối cao LiênBang Nga thông qua tại kỳ họp thứ 3 khóa 6 ngày 11 tháng 6 năm 1964, cho đến nay
đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần cho hợp với xu thế phát triển của xã hội BLTTDSLiên Bang Nga năm 2003 ra đời thay thế cho BLTTDS năm 1964 đã đánh dấu bướcphát triển quan trọng về pháp luật tố tụng dân sự của Liên Bang Nga Trong BLTTDSLiên Bang Nga đình chỉ giải quyết vụ án được quy định tại Chương XVIII của phầnthứ hai quy định về thực tục tố tụng Tòa án cấp sơ thẩm
Pháp luật Liên Bang Nga có quy định chi tiết về các căn cứ đình chỉ giải quyết
vụ án trong các trường hợp như sau: Vụ án không được xem xét và giải quyết ở Tòa ántheo thủ tục tố tụng dân sự trong trường hợp quy định tại điểm 1 khoản 1 Điều 134 Bộluật này; Đã có bản án có hiệu lực pháp luật đối với chính vụ án đó hoặc đã có quyếtđịnh của Tòa án về đình chỉ giải quyết vụ án do nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc dohòa giải giữa các bên đã được Tòa án công nhận; Nguyên đơn rút đơn khởi kiện vàđược Tòa án chấp nhận; Các bên hòa giải với nhau và được Tòa án chấp nhận; Đã cóphán quyết của Trọng tài có hiệu lực bắt buộc đối với các bên về chính vụ án đó, trừtrường hợp Tòa án từ chối đưa phán quyết của Trọng tài ra cưỡng chế thi hành; Saukhi công dân là nguyên đơn hoặc bị đơn bị chết mà quan hệ pháp luật tranh chấpkhông cho phép được kế thừa quyền, nghĩa vụ hoặc việc giải thể tổ chức đã được hoànthành nếu tổ chức đó là nguyên đơn hoặc bị đơn trong vụ án28
Tuy nhiên, trong các căn cứ đình chỉ thì BLTTDS Nga có 03 trường hợp quyđịnh tương đối khác với BLTTDS Việt Nam Thứ nhất, việc can thiệp nhiều hơn vàoquyền tự định đoạt của đương sự trong trường hợp các bên hòa giải với nhau nhưngTòa án được quyền chấp nhận hay không chấp nhận việc hòa giải của các bên để xem
27 Điều 376, Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa Pháp (1998), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
28 Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự Liên Bang Nga (2005), NXB Tư pháp, Hà Nội.
23
Trang 32xét đình chỉ vụ án - trong khi pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam quy định thành haitrường hợp là nếu các bên tự thỏa thuận được với nhau và không yêu cầu Tòa án giảiquyết nữa, Tòa án sẽ ban hành quyết định đình chỉ vụ án, còn trong trường hợp cácđương sự thỏa thuận được với nhau và yêu cầu Tòa án công nhận thì Tòa án ra quyếtđịnh công nhận sự thỏa thuận của đương sự để giải quyết vụ án Thứ hai, đối vớitrường hợp giải thể tổ chức thì BLTTDS Liên Bang Nga quy định hợp lý là chỉ đìnhchỉ giải quyết vụ án khi việc giải thể đó đã được hoàn thành Còn BLTTDS Việt Namkhi có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản thì Tòa án đang thụ lý giải quyết đã
ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ kiện Thứ ba, BLTTDS Liên Bang Nga quy địnhthêm trường hợp đã có phán quyết của trọng tài có hiệu lực bắt buộc đối với các bêntrong chính vụ án đó làm căn cứ đình chỉ Nhưng Tòa án có quyền từ chối đưa phánquyết của trọng tài ra thi hành, khi đó Tòa án sẽ không đình chỉ mà vẫn tiếp tục giảiquyết vụ án dân sự Căn cứ này không được BLTTDS Việt Nam quy định
BLTTDS Liên Bang Nga quy định căn cứ việc khởi kiện không đáp ứng yêucầu theo quy định pháp luật để được Tòa án thụ lý, nguyên đơn rút đơn khởi kiện, cácbên hòa giải được với nhau, khi nguyên đơn hoặc bị đơn chết hay là tổ chức giải thể làcăn cứ để Tòa án xem xét đình chỉ giải quyết vụ án29 Các quy định này tương tự vớiquy định về căn cứ đình chỉ tại Điều 192 BLTTDS Việt Nam
Về hậu quả pháp lý của việc đình chỉ BLTTDS Liên Bang Nga quy định việckhởi kiện lại đúng vụ án đó không được cho phép30 Như vậy, quyết định đình chỉ củaTòa án có hiệu lực làm chấm dứt hẳn việc giải quyết vụ án đó và các đương sự không
có quyền khởi kiện lại đúng vụ án đó Đối với trường hợp sau khi Tòa án thụ lý màphát hiện ra trường hợp vụ án đó nguyên đơn đã rút đơn hoặc các bên đã hòa giải vàđược Tòa án chấp nhận thì Tòa án sẽ áp dụng căn cứ tại Điều 220 để ra quyết địnhđình chỉ giải quyết Còn trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong một số trườnghợp cho phép khởi kiện lại như là các trường hợp quy định như: Người khởi kiện rútđơn khởi kiện và được Tòa án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởikiện; nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trườnghợp người đó có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng; đã cóquyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên
29 Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Tố tụng dân sự Liên Bang Nga (2005), NXB Tư pháp, Hà Nội.
30 Quy định tại Điều 221 Bộ luật Tố tụng dân sự Liên Bang Nga: “Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Trong quyết định phải chỉ rõ việc khởi kiện lại đúng vụ án đó là không được phép”.
24