1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số đặc điểm nhiễm khuẩn Catheter tĩnh mạch trung tâm tại khoa hồi sức tích cực bệnh viện Trung ương Quân Đội 108

5 54 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 306,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết với mục đích đánh giá tình trạng nhiễm khuẩn catheter tĩnh mạch trung tâm (TMTT), nghiên cứu được tiến hành trên 69 người bệnh (NB) có đặt catheter TMTT tại khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện Trung ương quân đội 108 từ 10/2011 đến 1/2012.

Trang 1

một số đặc điểm nhiễm khuẩn catheter tĩnh mạch trung tâm tại khoa hồi sức tích cực bệnh viện trung ương

Quân đội 108

TÓM TẮT

Với mục đích đánh giá tình trạng nhiễm khuẩn catheter tĩnh mạch trung tâm (TMTT), nghiên cứu được tiến hành trên 69 người bệnh (NB) có đặt catheter TMTT tại khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện Trung ương quân đội

108 từ 10/2011 đến 1/2012 Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm tỷ lệ nhiễm khuẩn các vị trí đầu ngoài (đầu bơm thuốc trên chạc 3), đầu trong và chân catheter; mối liên quan giữa tỷ lệ nhiễm khuẩn catheter với thời gian lưu và vị trí đặt catheter Kết quả: Tỷ lệ nhiễm khuẩn cao nhất tại chân catheter (15,9%), đầu ngoài (8,7%) và đầu trong (7,2%) Các tỷ lệ nhiễm khuẩn này đều tăng theo thời gian lưu catheter

Từ khóa: Catheter TMTT, nhiễm khuẩn tại catheter.

ABSTRACT

Study the bacterial colonization of central venous catheter (CVC) on 69 patients treated in the ICU of 108 Hospital based on some variables such as rates of bacterial colonization on the hub, local site and tip of catheter at the time of catheter removal as well as the realation between these rates with the duration of catheter and site of catheter placement The results were that, the highest rate of colonization was on catheter site (15,9%), an then on the hub (8,7%) and tip (7,2%) of catheter These rates were increasing as the duration

of catheter

Keywords: central venous catheter, bacterial colonization of catheter.

lương ngọc Quỳnh*,

ngô đình trung*

* Khoa Hồi sức tích cực, Bệnh

viện Trung ương quân đội 108

ĐẶT VẤN ĐỀ

Catheter TMTT là dụng cụ y tế được sử dụng rất

phổ biến tại các khoa Hồi sức tích cực (HSTC), chỉ

định bao gồm cả trong chẩn đoán (đo áp lực TMTT)

và điều trị (đặt điện cực tạo nhịp tim, dùng thuốc và

nuôi dưỡng qua tĩnh mạch)

Tuy nhiên, sử dụng catheter TMTT cũng đi

kèm với nhiều biến chứng, trong đó nhiễm khuẩn

bệnh viện (NKBV) liên quan đến catheter được

đề cập nhiều nhất Theo Maki (1991), NKBV liên quan đến catheter TMTT chiếm 90% các nhiễm khuẩn catheter mạch máu nói chung và khoảng 6-8% trong số NB có đặt catheter TMTT [4] Tại khoa HSTC Bệnh viện Trung ương quân đội 108 cũng như tại nhiều bệnh viện khác, NKBV nói chung và nhiễm khuẩn liên quan đến catheter TMTT nói riêng luôn là một vấn đề phức tạp Để góp phần tìm hiểu về vấn đề này, chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm mục tiêu:

Trang 2

1 Xác định một số đặc điểm về nhiễm khuẩn

trên catheter tĩnh mạch trung tâm tại khoa Hồi sức

tích cực bệnh viện 108.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu: Bao gồm 69 NB có đặt

catheter TMTT, điều trị tại khoa HSTC Bệnh viện

Trung ương quân đội 108, thời gian từ 10/2011 đến

tháng 1/2012

Tiêu chuẩn chọn: Người bệnh có đặt catheter

TMTT với thời gian lưu catheter ≥ 24h Loại trừ các

trường hợp lưu catheter < 24h hoặc có sử dụng các

miếng dán sát khuẩn chân catheter (Urgo, Biopatch )

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả

2.2 Chỉ tiêu nghiên cứu

- Tuổi, giới, bệnh lý nền.

- Vị trí đặt và thời gian lưu catheter.

- Tình trạng toàn thân và tại chân catheter vào

thời điểm cấy khuẩn

- Tỷ lệ nhiễm khuẩn tại đầu ngoài, chân và đầu

trong catheter và tỷ lệ nhiễm khuẩn theo thời gian

lưu và theo vị trí đặt catheter

2.3 Kỹ thuật thu thập số liệu: Chọn người bệnh

nghiên cứu theo tiêu chuẩn:

- Biện pháp chăm sóc catheter: Sát trùng bằng

dung dịch betadine 0,1% và thay băng vô khuẩn chân

catheter 1 lần/ngày Sát trùng các đầu 3 chạc trước

và sau mỗi lần tiêm truyền Rút và chuyển vị trí đặt

catheter nếu chân catheter có dấu hiệu viêm, nhiễm

khuẩn; hoặc nếu thời gian lưu catheter trên 14 ngày

- Bệnh phẩm nghiên cứu được lấy 1 lần vào thời

điểm rút catheter, tại 3 vị trí: Đầu trong, chân và đầu

ngoài (lấy tại nhánh bên của chạc 3 nối với catheter)

Bệnh phẩm được cấy khuẩn và kháng sinh đồ

* Kỹ thuật lấy bệnh phẩm: Điều dưỡng viên

tiến hành lấy bệnh phẩm

- Lấy bệnh phẩm tại chân và đầu ngoài catheter:

+ Bóc bỏ băng dính tại chân catheter, nhận xét

tình trạng chân catheter

+ Mở ống nghiệm 1, quét đầu tăm bông quanh chân catheter, cho tăm bông vào lọ

+ Mở ống nghiệm 2, quét đầu tăm bông quanh

lỗ bên của chạc 3 gần catheter nhất Ghi tên, tuổi, loại

và ngày lấy bệnh phẩm, chuyển bệnh phẩm lên Khoa

Vi sinh, làm xét nghiệm cấy khuẩn và kháng sinh đồ

- Lấy bệnh phẩm tại đầu trong catheter: + Người phụ lấy ống nghiệm và mở nắp đậy

ống nghiệm

+ Người rút đưa đầu catheter vào ống nghiệm,

dùng kéo vô khuẩn cắt đầu trong catheter với độ dài khoảng 2cm Chuyển bệnh phẩm lên Khoa Vi sinh

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Một số đặc điểm chung

Bảng 1 Phân bố tuổi và giới tính của người

bệnh nghiên cứu

Giới lượng Số Tỷ lệ (%) Tuổi trung bình(X ± SD)

45,3 ± 26,7 Tuổi nhỏ nhất: 18 Tuổi lớn nhất: 84

Nhận xét: Đối tượng nghiên cứu là nam giới chiếm 63,8%, nữ chiếm 36,2% Tuổi trung bình các đối tượng nghiên cứu là 45,3 ± 26,7

Bảng 2 Bệnh lý nền của người bệnh có đặt

catheter TMTƯ

Bệnh nền Số lượng NB Tỷ lệ %

Trang 3

Nhận xét: Bệnh lý nền chấn thương sọ não, đột

quỵ não, phẫu thuật u não, phẫu thuật tim mở và một

số bệnh lý khác Trong đó, chấn thương sọ não và

phẫu thuật tim mở là các nguyên nhân chiếm tỷ lệ

cao nhất, lần lượt là 18,8 % và 17,4% Các nguyên

nhân còn lại chiếm tỷ lệ thấp hơn, từ 5,8% đến 13%

Bảng 3 Vị trí đặt catheter TMTT

Vị trí Số lượng NB Tỷ lệ %

Nhận xét: Vị trí đặt catheter TMTT nhiều nhất

tại TM dưới đòn (59,4%); TM cảnh trong (30,4%)

và TM đùi (10,1%)

Bảng 4 Thời gian lưu catheter TMTT

Thời gian (ngày) Số lượng NB Tỷ lệ %

Thời gian lưu catheter trung bình: 6,4 ± 2,3

Nhận xét: 43,5% người bệnh được rút catheter

trong vòng 4 ngày; 26,1% lưu catheter trên 7 ngày

Thời gian lưu catheter trung bình là 6,4 ± 2,3 ngày

2 Đặc điểm nhiễm khuẩn tại catheter TMTT

Bảng 5 Phân bố tỷ lệ người bệnh sốt khi cấy

khuẩn

Nhiệt độ Số lượng NB Tỷ lệ %

Nhận xét: 71% NB không sốt, chỉ có 4,3% sốt

cao tại thời điểm cấy catheter

Bảng 6 Tình trạng chân catheter vào thời điểm cấy

Đặc điểm Số lượng NB Tỷ lệ %

Không viêm, không mủ 57 82,7

Nhận xét: 82,7% chân catheter không có viêm

và chảy mủ; 15,9% có dấu hiệu viêm đỏ

Bảng 7 Phân bố tỷ lệ người bệnh theo số lượng

bạch cầu

Số lượng BC (G/l) Số lượng NB Tỷ lệ %

Nhận xét: 66,7% người bệnh có BC từ 9-12G/ l; 21,7% có BC ≥ 12G/l

Bảng 8 Kết quả cấy khuẩn tại các vị trí trên catheter

Cấy khuẩn (+) / tổng số NB

(n=69)

Số NB có cấy khuẩn

Vị trí cấy khuẩn (+)

Số vị trí trên catheter cấy khuẩn (+)

1 vị trí 11 15,9

Nhận xét: 23,1% người bệnh có cấy khuẩn catheter(+), trong đó chiếm cao nhất là nhiễm khuẩn chân catheter (15,9% trong tổng số NB) Catheter có cấy khuẩn (+) tại 1 vị trí chiếm tỷ lệ cao hơn so với (+) tại 2 và cả 3 vị trí trên catheter (15,9% so với 5,7% và 1,4%)

Trang 4

28.5

33.3

0

5

10

15

20

25

30

35

Biểu đồ 1 Tỷ lệ cấy khuẩn (+) theo thời gian lưu catheter

Nhận xét: Tỷ lệ nhiễm khuẩn có xu hướng tăng lên theo thời gian lưu catheter

Bảng 10 Tỷ lệ cấy khuẩn (+) theo các vị trí đặt catheter

Tổng số

>0,05

Nhận xét: Không có sự khác biệt về tỷ lệ cấy khuẩn (+) tại các vị trí trên catheter giữa 2 nhóm dưới đòn và cảnh trong (p>0,05)

BÀN LUẬN

1 Một số đặc điểm về sử dụng catheter TMTT

Lựa chọn vị trí đặt catheter phụ thuộc nhiều

yếu tố như nguy cơ xảy ra các tai biến cơ học, nguy

cơ nhiễm khuẩn, huyết khối TM… và một yếu tố

rất quan trọng là kinh nghiệm của bác sỹ làm thủ

thuật Trong nghiên cứu, 59,4% được đặt catheter

TM dưới đòn, 30,4% đặt tại TM cảnh trong, TM

đùi (10,1%) (bảng 3) Về vị trí đặt catheter, nhiều

nghiên cứu trên thế giới đều cho thấy, tỷ lệ đặt cao

nhất là tại TM dưới đòn, tiếp đến là TM cảnh trong

và TM đùi Nghiên cứu của Dennis G Maki (1997),

tỷ lệ đặt TM dưới đòn là 61%, TM cảnh trong 19%,

TM đùi 20% [3] Nghiên cứu của Serkan Öncü

(2003), tỷ lệ đặt tại TM dưới đòn là 56%, TM cảnh

trong là 44% [6] Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của chúng tôi

Về thời gian lưu catheter, nhiều nghiên cứu

đã cho thấy nguy cơ nhiễm khuẩn tăng theo thời gian lưu catheter [2],[6] Trong nghiên cứu này, 43,5% catheter được rút trong vòng 4 ngày đầu, tuy nhiên vẫn có đến 26,1% lưu catheter trên 7 ngày, thời gian lưu catheter trung bình là 6,4 ngày Theo nghiên cứu của Serkan Öncü (2003), thời gian lưu catheter khoảng 7±2,8 ngày [6] Kết quả này tương đương với nghiên cứu của chúng tôi

2 Đặc điểm nhễm khuẩn tại catheter TMTT

Trong nghiên cứu của chúng tôi, theo bảng

7, trên 69 người bệnh với 217 bệnh phẩm, 16 NB

Trang 5

có cấy khuẩn (+) ở ít nhất 1 vị trí trên (23,1%)

Nhiễm khuẩn chân catheter có tỷ lệ cao nhất, chiếm

15,9% trên tổng số catheter Tỷ lệ nhiễm khuẩn

đầu ngoài và đầu trong là tương đương (8,7% và

7,2%) Theo một số nghiên cứu trên thế giới, tỷ lệ

nhiễm khuẩn tại catheter dao động khoảng 6-15%

[4] Trong nghiên cứu của Chamralambous (1998),

tỷ lệ nhiễm khuẩn tại chỗ là 17% [2] Một số nghiên

cứu trong những năm gần đây có tỷ lệ nhiễm khuẩn

thấp hơn, trong nghiên cứu của Leonardo Lorente

(2005), tỷ lệ nhiễm khuẩn catheter là 4,43% [5]

So sánh mối liên quan với thời gian lưu catheter,

chúng tôi nhận thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn tăng lên theo

thời gian đặt catheter Tỷ lệ nhiễm khuẩn trên tổng

số người bệnh từ 13,3% ở nhóm đặt £ 4 ngày, tăng

lên 28,5% ở nhóm từ 4-7 ngày và 33,3% ở nhóm

lưu catheter trên 7 ngày Theo Serkan Öncü (2003),

tỷ lệ nhiễm khuẩn tăng cao ở các trường hợp lưu

catheter > 7 ngày [6] Do vậy, cần thường xuyên

đánh giá để có chỉ định rút catheter sớm

Về liên quan giữa tỷ lệ nhiễm khuẩn và vị trí

đặt catheter, theo kết quả trong bảng 10, tỷ lệ nhiễm

khuẩn ở catheter TM dưới đòn cao hơn so với TM

cảnh trong (11,3% so với 11,1%); tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê Kết quả của các nghiên cứu trên thế giới cho thấy, nguy cơ nhiễm khuẩn cao hơn ở catheter TM đùi, tiếp đến là TM cảnh trong và thấp nhất ở TM dưới đòn [4],[5] Do vậy, về phương diện dự phòng nhiễm khuẩn, catheter

TM dưới đòn được ưa dùng hơn, tuy nhiên lại có các biến chứng cơ học cao hơn (tràn khí màng phổi) TM đùi chỉ nên sử dụng để đặt catheter cho lọc máu [5]

KẾT LUẬN

Nghiên cứu trên 69 người bệnh đặt catheter TMTT tại khoa Hồi sức Bệnh viện TƯ Quân đội 108

từ 11/2011 đến 1/2012, chúng tôi rút ra các kết luận sau:

- Catheter TMTT đặt cao nhất tại TM dưới đòn (59,4%), tiếp đến là TM cảnh trong (30,4%) và TM đùi (10,1%) Thời gian lưu catheter trung bình tại khoa Hồi sức bệnh viện TƯQĐ 108 là 6,4 ngày

- Tỷ lệ nhiễm khuẩn catheter là 32,1%, trong đó nhiễm khuẩn tại chân catheter chiếm tỷ lệ cao nhất (15,9%), sau đó là đầu ngoài (8,7%) và đầu trong (7,2%) Nhiễm khuẩn tăng theo thời gian lưu catheter

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Vũ Thị Hằng, Chu Mạnh Khoa (2005), “Nghiên cứu về nhiễm trùng catheter tĩnh mạch trung ương

tại khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện Việt Đức”, Kỷ yếu Hội nghị khoa học điều dưỡng nâng cao chất

lượng chăm sóc người bệnh trong ngoại khoa lần thứ nhất – Bệnh viện Việt Đức, tr 67-76.

2 Charalambos Charalambous; Sandra M Swoboda, James Dick, Trish Perl; Pamela A Lipsett (1998),

“Risk Factors and Clinical Impact of Central Line Infections in the Surgical Intensive Care Unit”, Arch

Surg;133, pp 1241-1246.

3 Dennis G Maki, Suan M Stolz (1997), “Prevention of Central Venous Catheter-Related Bloodstream

Infection by Use of an Antiseptic-Impregnated Catheter”, Annals of Internal Medicine • Volume

127(4), pp 67-69

4 Maki DG, Ringer M, Alvarado CJ (1991), “Prospective randomised trial of povidone-iodine, alcohol,

and chlorhexidine for prevention of infection associated with central venous and arterial catheters”,

Lancet, 338, pp 339-343.

5 Leonardo Lorente, Christophe Henry, María M Martín, Alejandro Jiménez and María L Mora (2005),

“Central venous catheter-related infection in a prospective and observational study of 2,595 catheters”,

Critical Care, 9, pp 631-635.

6 Serkan Öncü, Halit Özsüt, Pinar Ay, Nahit Çakar (2003),“Central venous catheter related infections:

Risk factors and the effect of glycopeptide antibiotics”, Annals of Clinical Microbiology and

Antimicrobials, 2,pp.66-71.

Ngày đăng: 10/03/2021, 10:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w