Các loại sản phẩm tiêu thụ nội địa của Công ty được phân phối quamạng lưới đại lý, cửa hàng giới thiệu sản phẩm, cửa hàng thời trang.Quá trình sản xuất của Công ty Dệt kim Đông xuân được
Trang 1TÌNH HÌNH THỰC TẾ VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC KẾ TOÁN NGHIỆP VỤTIÊU THỤ THÀNH PHẨM TẠI CÔNG TY DỆT KIM ĐÔNG XUÂN HÀ NỘI
1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÔNG TY.
1.1 Quá trình hình thành và cơ sở vật chất của Công ty.
Công ty dệt Kim Đông Xuân Hà Nội, địa chỉ 67 Ngô Thì Nhậm - Hà Nội làmột Doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Bộ Công nghiệp Là một thành viên củaTổng Công ty Dệt - May Việt Nam, Công ty Dệt kim Đông Xuân có nhiệm vụ sảnxuất, xuất nhập khẩu trực tiếp các sản phẩm dệt kim hoặc gia công sản phẩm tuỳtheo yêu cầu của khách hàng
Được thành lập ngày 13/4/1959 với tên ban đầu là Nhà máy Dệt kim ĐôngXuân và là nhà máy dệt kim tròn đầu tiên ở nước ta, nhiệm vụ ban đầu của nhà máy
là sản xuất các sản phẩm dệt kim đáp ứng nhu cầu nội địa Lúc đó cơ sở vật chất củanhà máy còn nghèo nàn, địa chỉ chật hẹp, trang thiết bị dây chuyền sản xuất từ khâudệt, xử lý vải đến cắt may chỉ gồm 37 loại với 180 máy móc được chế tạo tại TrungQuốc, Anh, Tiệp Khắc Từ năm 1963 Nhà máy được giao thêm nhiệm vụ làm hàngxuất khẩu sang các nước thuộc khu vực I như: Liên xô (cũ), Hungari, Ba Lan, Mông
cổ, Lào nhưng với số lượng còn hạn chế Đến năm 1970 - 1980, trang thiết bị giàcỗi lại cộng thêm nhu cầu mở rộng xuất khẩu, Nhà nước quyết định đầu tư mở rộngnhà máy, cải tạo qui trình công nghệ - dệt - nhuộm may với số tiền 5 triệu Rúp Năm
1980, một số lớn thiết bị của Nhà máy được đổi mới theo phương án đầu tư mở rộngtại quyết định 213 ngày 01/7/1980 Lúc này thị trường tiêu thụ sản phẩm của nhàmáy đã thay đổi về cơ bản, từ chủ yếu tiêu thụ nội địa sang lấy thị trường nướcngoài làm thị trường chính Năm 1975 sản lượng xuất khẩu chiếm 30% giá trị tổngsản lượng của nhà máy, hiện nay là trên 90%, sản phẩm tiêu thụ nội địa chủ yếu
là sản phẩm xuống loại không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu hoặc theo những đơn đặt
Trang 2hàng nhỏ, đơn lẻ Từ năm 1987 trở lại đây việc cải tạo và mở rộng nhà máyđược tiến hành với tốc độ nhanh và trên quy mô rộng lớn Từ
chỗ chỉ có 5.620m2 đến nay tổng diện tích đất xây dựng đã lên tới 21.740 m2với trên 30.000 m2 nhà xưởng tại cơ sở 1 - số 67 Ngô Thì Nhậm, cơ sở 2 - số 250Minh Khai và cơ sở 3 - số 524 Minh Khai Hệ thống máy móc, thiết bị được nângcấp và cải tạo cùng với đầu tư đồng bộ hoá dây chuyền sản xuất, đầu tư thêm khuvực xử lý vải, lắp đặt mới hệ thống lò hơi dầu Nhật bản, hệ thống điện lạnh khuvực dệt và may, nâng cao công suất trạm biến áp điện, bổ sung, nâng cấp trên 600máy móc các loại trên các dây chuyền So sánh trong toàn nghành dệt - may ViệtNam trình độ công nghệ và tính đồng bộ của máy móc, trang thiết bị của nhà máythuộc loại trung bình khá
Thực hiện quyết định 338/HĐBT của Hội đồng bộ trưởng về việc đăng kýlại Doanh nghiệp Ngày 19/8/1992, Nhà máy Dệt kim Đông xuân được đổi tênthành Công ty Dệt kim Đông xuân với tên giao dịch là DOXIMEX
1.2 Sản phẩm, qui trình công nghệ sản xuất và thị trường tiêu thụ.
Ở buổi ban đầu sản phẩm của Công ty là các loại áo vệ sinh, áo xuân thu,may ô, dây đai thắt lưng, dây chun, màn tuyn, bít tất tiêu thụ trong nước Đếnnay, Công ty đã có đủ khả năng để đáp ứng được nhu cầu của khách hàng với cácloại sản phẩm như áo may ô, áo T-shirt, Polo- shirt, quần áo lót các loại, phongphú về chủng loại, kiểu dáng, mẫu mã đẹp, chất lượng tốt Trên 80% giá trị hàngxuất khẩu của Công ty được xuất sang thị trường Nhật bản, phần còn lai xuất sangthị trường EU theo đơn đặt hàng Cho đến nay, Công ty đã thiết lập được quan
hệ buôn bán truyền thống với các hãng Sanshin/Katakura, Ryo/Marubeni,Daiei/Sanyo (Nhật Bản), Stummer/Beau (Áo / Đức) Đặc biệt vớiSanshin/Katakura Công ty đã ký hợp đồng hợp tác sản xuất trong vòng 20 năm
Trang 3(1989 - 2009) Các loại sản phẩm tiêu thụ nội địa của Công ty được phân phối quamạng lưới đại lý, cửa hàng giới thiệu sản phẩm, cửa hàng thời trang.
Quá trình sản xuất của Công ty Dệt kim Đông xuân được tổ chức theo quytrình công nghệ phức tạp kiểu chế biến liên tục, sản phẩm cho đến khi được hoànthành phải trải qua 3 giai đoạn chế biến ở 5 xí nghiệp khác nhau, đó là:
- Xí nghiệp dệt
- Xí nghiệp xử lý hoàn tất
- Các xí nghiệp may: 1, 2, 3
* Xí nghiệp dệt: Là đơn vị đầu tiên trong dây chuyền sản xuất, có nhiệm vụ
dệt ra các loại vải phù hợp với yêu cầu thị trường hoặc của người đặt hàng về sốlượng, chủng loại Sản phẩm của xí nghiệp dệt là nguyên liệu của xí nghiệp xử lýhoàn tất
* Xí nghiệp xử lý hoàn tất: Là đơn vị kế tiếp trong dây chuyền, có nhiệm vụ
xử lý vải như tẩy trắng, nhuộm màu, in hoa theo các yêu cầu khác nhau củakhách hàng Giữ vai trò trọng yếu trong toàn bộ dây chuyền
* Ba xí nghiệp may: Là khâu cuối cùng của dây chuyền có nhiệm vụ cắt,
may các loại sản phẩm, đóng gói sản phẩm theo đúng quy cách cũng như chấtlượng mà khách hàng yêu cầu
Tuy sản phẩm của Công ty được chế biến chủ yếu tại các xí nghiệp trênnhưng để duy trì được tính hiệu quả và liên tục được quá trình sản xuất có sự đónggóp không thể thiếu của xí nghiệp cơ khí sửa chữa Là xí nghiệp phụ trợ nhưng nóđóng góp phần đảm bảo các điều kiện sản xuất cho các xí nghiệp sản xuất chínhbao gồm các bộ phận: Lò hơi, cấp nước, làm lạnh, nén khí, tổ nguội - tiện - phay-bào để sửa chữa, gia công chế tạo các phụ tùng cho dây chuyền
Quy trình công nghệ sản xuất của Công ty được khái quát theo sơ đồ sau:
Trang 41 3 Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý.
Bộ máy quản lý của Công ty được áp dụng theo hình thức trực tuyến chứcnăng nhằm đáp ứng kịp thời thông tin, số liệu cho các cấp lãnh đạo và ngược lạicác chỉ thị mệnh lệnh từ lãnh đạo sẽ được truyền đạt trực tiếp và nhanh chóng đếnnhững người tổ chức thực hiện
Đứng đầu bộ máy là Ban lãnh đạo gồm 3 người, Tổng giám đốc và 2 Phótổng giám đốc
- Tổng giám đốc: Là người có quyền cao nhất, quyết định và chỉ đạo mọi
hoạt động sản xuất - kinh doanh của Công ty và trực tiếp chịu trách nhiệm trướcCông ty, Bộ công nghiệp và Nhà nước
- Phó tổng giám đốc điều hành kỹ thuật - thương mại: Phụ trách kỹ thuật
công nghệ sản xuất và thị trường tiêu thụ, đàm phán với khách hàng và nắm bắtmọi diễn biến xảy ra trong quá trình hoạt động của Công ty
- Phó tổng giám đốc điều hành kỹ thuật - sản xuất: phụ trách về vấn đề thực
hiện sản xuất, thiết bị máy móc và đời sống của công nhân viên trong Công ty
Ngoài ra Công ty còn có các trợ lý trực tiếp tham mưu giúp việc cho lãnhđạo về công tác tổ chức đào tạo, thi đua và công tác đầu tư phát triển cùng với một
số lĩnh vực khác
* Các phòng ban trực thuộc Công ty có các chức năng sau:
- Phòng Kỹ thuật: Quản lý về kỹ thuật bao gồm các quy trình công nghệ của
toàn bộ dây chuyền: Từ khâu dệt, xử lý hoàn tất cho đến các khâu may và bao góisản phẩm Quản lý về thiết bị máy móc, thiết kế các kiểu mẫu dệt, may theo mụcđích đa dạng hoá mặt hàng và cũng nhằm đáp ứng mọi yêu cầu về mẫu mã, kiểucách, về chất lượng sản phẩm của khách hàng, tham gia đàm phán với khách hàng
Trang 5về phương diện kỹ thuật và cũng từ đó xây dựng các quy trình sản xuất theo từngloại sản phẩm.
- Phòng Nghiệp vụ: Quản lý tổng hợp một số mặt hoạt động bao gồm: xây
dựng giá thành, lên kế hoạch hàng tháng, điều độ tiến trình thực hiện, quản lý vật
tư và tiêu thụ sản phẩm, quản lý kho tàng, theo dõi và tập hợp các hợp đồng, quản
lý lao động, xây dựng chế độ lao động tiền lương
- Phòng Quản lý chất lượng: Kiểm tra việc thực hiện tiêu chuẩn về mọi mặt
của sản phẩm, nghiên cứu đề ra các biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm đồngthời là nơi kiểm nghiệm các tiêu chuẩn của khách hàng đặt ra từ nguyên liệu là sợicho đến sản phẩm về kích cỡ, màu sắc, độ bền màu
- Phòng Tài chính - Kế toán: Có trách nhiệm điều hoà, phân phối, tổ chức sử
dụng vốn và nguồn vốn, tính toán, theo dõi tình hình hoạt động sản xuất kinhdoanh của Công ty, đánh giá kết quả và hiệu quả của quá trình lao động sản xuất,hạch toán lỗ lãi và phân phối theo lao động đồng thời thực hiện các chế độ vànghĩa vụ của Công ty đối với Nhà nước
- Văn phòng Công ty: Bao gồm các bộ phận văn thư, đánh máy, phục vụ tiếp
khách, hội nghị, bảo vệ trị an, góp phần giữ nghiêm kỷ luật lao động trong Côngty
- Đảng uỷ, Công đoàn, đoàn thanh niên: Giáo dục công tác tư tưởng của
quần chúng, phát động phong trào thi đua để đẩy mạnh sản xuất, thực hiện hoànthành sản xuất kinh doanh, bảo vệ quyền lợi mà công nhân viên được hưởng đồngthời duy trì nghĩa vụ của các thành viên
Ngoài ra Công ty còn có một số bộ phận khác như: y tế, nhà ăn, nhà trẻ đểduy trì các hoạt động thường xuyên, góp phần phát triển sản xuất
Sơ đồ bộ máy tổ chức của Công ty đuợc khái quát ở trang sau:
Trang 61.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán
1.4.1 Tổ chức bộ máy kế toán.
Bộ máy kế toán tại Công ty dệt kim Đông Xuân Hà Nội được tổ chức theohình thức tập trung với phòng kế toán là trung tâm thực hiện toàn bộ công tác kếtoán từ khâu thu nhận, xử lý và luân chuyển chứng từ đến khâu lập báo cáo, phântích hoạt động kinh tế và hướng dẫn kiểm tra kế toán trong toàn bộ đơn vị
Trang 7* Nhiệm vụ cụ thể của từng phần hành kế toán như sau:
- Kế toán trưởng: Là người chịu trách nhiệm chung về toàn bộ công tác kếtoán tài chính của Công ty, là người theo dõi quản lý và tổ chức điều hành bộ máyCông ty trước Tổng giám đốc Kế toán trưởng phân công nhiệm vụ cho từng phầnhành và có trách nhiệm cao đối với nhiệm vụ của mình mà điều lệ tổ chức kế toán
và ngoài nước đồng thời theo dõi chi tiết công nợ
- Kế toán nguyên vật liệu: Hạch toán chi tiết, tổng hợp nguyên vật liệu, công
cụ, dụng cụ, theo dõi sự biến động, xuất, nhập, tồn sai hỏng vật tư trong Công ty
- Kế toán tiền lương và bảo hiểm xã hội (BHXH): Thanh toán tiền lương,BHXH cho cán bộ công nhân viên trong Công ty
- Kế toán giá thành: Tập hợp các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất
và lên giá thành cho từng mặt hàng
- Kế toán tiêu thụ: Theo dõi tình hình nhập, xuất, tồn kho thành phẩm, hạchtoán doanh thu bán hàng và xác định kết quả của hoạt động tiêu thụ tại Công ty
- Kế toán thuế: Tính trích các mức thuế cho mỗi chủng loại vật tư, hàng hóa
từ đó xác định được số thuế phải nộp cho ngân sách nhà nước
- Kế toán tổng hợp và tài sản cố định (TSCĐ): Theo dõi tình hình tăng, giảmTSCĐ và trích khấu hao TSCĐ tại đơn vị, lên sổ sách có liên quan Đồng thời làngười thực hiện các nghiệp vụ hạch toán cuối cùng xác định kết quả kinh doanhcủa Công ty để vào sổ kế toán tổng hợp, lập sổ cái, bảng cân đối tài khoản, bảng
Trang 8cân đối kế toán, báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh và lên bảng công khai tàichính
- Thủ quỹ: Quản lý quỹ tiền mặt của Công ty và thực hiện việc thu, chi tiềnmặt theo các phiếu thu, phiếu chi
Các nhân viên thống kê ở các Xí nghiệp thành viên có nhiệm vụ thống kê vàhạch toán ban đầu, thu nhận, kiểm tra, tổng hợp phân loại chứng từ phát sinh ở đơn
vị mình sau đó gửi về phòng kế toán - tài chính
* Chế độ kế toán mà Công ty Dệt kim Đông Xuân áp dụng như sau:
- Niên độ kế toán bắt đầu từ 1/ 1/ n và kết thúc vào ngày 31/12/ n
- Đơn vị tiền tệ sử dụng trong ghi chép kế toán: Việt Nam đồng
- Hình thức sổ kế toán áp dụng: Nhật ký chứng từ
+ Phương pháp khấu hao tài sản cố định: Theo QĐ 1061 của Nhà nước
- Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: Phương pháp kê khai thường xuyên
- Nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ
Cuối niên độ kế toán lập báo cáo quyết toán theo chế độ hiện hành bao gồm:bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyểntiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính
Sơ đồ bộ máy kế toán được khái quát tổng quát ở trang sau
1.4.2 Tổ chức sổ sách, chứng từ kế toán áp dụng tại Công ty.
Xuất phát từ đặc điểm về loại hình sản xuất của Công ty là phức tạp, sốlượng các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đa dạng, số lượng tài khoản sử dụng nhiềucùng yêu cầu về trình độ quản lý và kế toán cao, nên việc áp dụng hình thức sổ kếtoán Nhật ký - chứng từ là phù hợp Bao gồm:
Trang 9- Sổ kế toán chi tiết: Sổ chi tiết về TSCĐ, vật liệu, chi phí kinh doanh, thanhtoán với người mua, người bán, sổ chi tiết doanh thu bán hàng, bảng tính và phân
bổ khấu hao, bảng phân bổ NVL- CCDC, bảng tính lương và BHXH
- Sổ kế toán tổng hợp:
+ NK-CT số: 1,2,4,5,7,8,9,10
+ Bảng kê số: 1,2,4,5,7,8,9,10,11
+ Sổ cái các tài khoản mà Doanh nghiệp đã đăng ký sử dụng
* Trình tự luân chuyển, ghi sổ kế toán tại Công ty.
Chú thích:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng Đối chiếu kiểm tra
Sổ cái
Báo cáo tài chính
Trang 102 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ TIÊU THỤ THÀNH PHẨM TẠI CÔNG TY.
2.1 Đặc điểm của nghiệp vụ tiêu thụ thành phẩm.
Công ty Dệt kim Đông Xuân là một trong những Doanh nghiệp làm ăntương đối có hiệu quả của ngành Dệt - May Việt Nam Sản phẩm của Công tykhông chỉ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước, mà còn đáp ứng nhu cầu củanhiều khách hàng nước ngoài
Điều đó đã khẳng định phần nào chất lượng sản phẩm của Công ty trong sựcạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường Cùng với các đơn vị khác trong ngànhnhư Dệt Minh Khai, Dệt 8-3 cùng các sản phẩm dệt - may nhâp khẩu khác,nhưng Công ty vẫn vươn lên khẳng định mình bằng chính chất lượng sản phẩm
Do đặc điểm thành phẩm của Công ty chủ yếu là hàng tiêu dùng nên nóđược tiêu thụ trực tiếp tới tay người tiêu dùng cuối cùng Do vậy chất lượng cũngnhư mẫu mã thành phẩm đóng vai trò quyết định tới số lượng hàng bán ra trên thịtrường Thành phẩm của Công ty trước khi đưa ra thị trường được kiểm tra rất chặtchẽ từ chất lượng cho tới khâu bao gói sản phẩm cho nên sản phẩm của Công ty đãđược nhiều bạn hàng nước ngoài tín nhiệm
Công ty sản xuất với quy mô lớn, chủng loại thành phẩm đa dạng, phongphú song Công ty lại sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước (chủ yếu là bông) đểsản xuất, như vậy giá bán sản phẩm của Công ty thấp hơn so với sản phẩm nhậpkhẩu trong khi chất lượng vẫn đảm bảo Đây là điều kiện thuận lợi cho việc tiêuthụ thành phẩm
Với chất lượng ngày càng được nâng cao, sản phẩm của Công ty không chỉ tiêuthụ trên thị trường nội địa mà còn được xuất khẩu với số lượng khá lớn
- Với sản phẩm xuất khẩu: khách hàng sẽ đến giao dịch trực tiếp tại Công tyhoặc qua các đơn đặt hàng để thoả thuận về phương thức thanh toán và vận
Trang 11chuyển Việc xác định giá bán do 2 phòng: nghiệp vụ và kế toán quyết định và chủyếu Công ty bán hàng xuất khẩu theo giá FOB Khi việc mua, bán đã được thoảthuận, Công ty sẽ chuyển hàng đi và sau một thời gian nhất định khách hàng sẽchuyển trả tiền hàng cho Công ty bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản củaCông ty tại ngân hàng Ngoại thương.
- Với sản phẩm tiêu thụ nội địa thì các thu tục giao dịch mua bán thực hiệntại phòng kế toán Sau khi hợp đồng mua bán kết thúc hàng hoá có thể đượcchuyển đi theo đúng thời gian và địa điểm đã thoả thuận hoặc được giao nhận trựctiếp tại kho của Công ty
Thành phẩm của Công ty đươc tiêu thụ thông qua các hình thức sau:
- Bán buôn qua kho bao gồm bán buôn theo hình thức gửi hàng và bán buôntheo hình thức nhận hàng trực tiếp Hình thức bán hàng này thường áp dụng chocác hợp đồng xuất khẩu hoặc các đơn đặt hàng lớn, số lượng hàng bán nhiều
- Bán lẻ thông qua cửa hàng giới thiệu sản phẩm, cửa hàng thời trang hoặcbán trực tiếp cho khách hàng đến mua sản phẩm tại Công ty
- Công ty còn có hình thức bán hàng gửi đại lý và nhận đại lý
Với các phương thức tiêu thụ phong phú sẽ giúp công ty mở rộng thị trườngtiêu thụ đẩy mạnh lượng hàng bán ra, nâng cao doanh thu và thị phần của Công tytrên thị trường
* Về phương thức thanh toán:
Công ty Dệt kim Đông Xuân cho phép hàng có thể thanh toán theo nhữngphương thức khác nhau sau đây:
- Thanh toán trực tiếp: Khách hàng nhận đủ số hàng cần mua và thanh toánđầy đủ, trực tiếp số tiền hàng Phương thức này chủ yếu áp dụng với các kháchhàng mua trực tiếp với số lượng ít và không thường xuyên
Trang 12- Khách hàng mua chịu: thường xảy ra với những khách hàng truyền thống,
có quan hệ mua bán lâu dài với Công ty Thông thường thời gian chậm trả từ 10-15ngày sau khi giao hàng Đến khi khách hàng trả hết nợ cho Công ty thì quá trìnhtiêu thụ mới coi là kết thúc
- Khách hàng ứng trước tiền hàng: thường áp dụng với những khách hànglần đầu mua sản phẩm của Công ty
- Phương thức hàng đổi hàng: sản phẩm của Công ty được tiêu thụ để đổi vềcác sản phẩm khác của đơn vị mua, có thể là NVL, MMTB có giá trị tươngđương đã thoả thuận giữa Công ty và đơn vị đó
Ngoài ra để mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao hiệu quả kinh doanh Công
ty chấp nhận cho khách hàng trả lại hàng đã tiêu thụ do kém phẩm chất, khôngđúng quy cách, chủng loại đã ghi trong hợp đồng Công ty còn thực hiện các biệnpháp khác như: giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại
Tóm lại, bằng các phương thức thanh toán nhanh gọn, các chính sách giá cảmềm dẻo, linh hoạt cùng những phương thức tiêu thụ hợp lý, Công ty Dệt kimĐông Xuân đã thu hút được một số lượng lớn khách hàng trong và ngoài nước,đứng vững và phát triển trong nền kinh tế thị trường hiện nay với doanh số bánhàng không ngừng tăng lên, đủ bù đắp các chi phí và có lãi, nâng cao thu nhập choCông ty , cải thiện đời sống cán bộ công nhân viên trong đơn vị
* Phương pháp tính giá vốn hàng bán ở Công ty.
Công ty áp dụng phương pháp tính giá thực tế bình quân gia quyền Căn cứvào giá thực tế thành phẩm tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ, kế toán tiêu thụ xác địnhgiá bình quân của một đơn vị thành phẩm để từ đó xác định giá thực tế thànhphẩm xuất trong kỳ
Trang 13Ví dụ: Tính giá thành thực tế áo 203 GHERUNING XL quý IV năm 2000
- Số lượng thành phẩm xuất trong kỳ : 32.155
Đơn giá bình quân 1
đơn vị thành phẩm =
229.586.700+98.394.300
= 10.200(đ/áo)24.540+9.615
Giá thực tế của áo GHERUNING
XL xuất trong kỳ = 32.155x10.200 = 327.981.000
2.2 HẠCH TOÁN TIÊU THỤ THÀNH PHẨM TẠI CÔNG TY.
2.2.1 Hạch toán ban đầu.
Trong công tác hạch toán tiêu thụ thành phẩm, Công ty Dệt kim Đông Xuân
sử dụng các loại chứng từ sau:
* Phiếu xuất kho:
Trang 14Hiện nay Công ty đang sử dụng 3 mẫu chứng từ sau dùng cho nghiệp vụxuất kho thành phẩm đó là: "Phiếu xuất kho" được lập trong trường hợp xuất thànhphẩm để bán, "Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ" được lập trong trường hợpxuất thành phẩm để bán, "Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ" được lập trongtrường hợp Công ty chuyển thành phẩm vào kho cửa hàng giới thiệu sản phẩm, cửahàng thời trang chờ tiêu thụ và "Phiếu xuất kho hàng gửi bán đại lý" được lập trongtrường hợp thành phẩm của Công ty được chuyển vào kho của đại lý chờ tiêu thụ.
Cả 3 chứng từ trên đều do thủ kho ở các xí nghiệp lập khi phát sinh nghiệp
vụ xuất kho
- Phiếu xuất kho được lập làm 3 liên:
Liên 1: Lưu tại quyển gốcLiên 2: Thủ kho giữ để ghi thẻ khoLiên 3: Người nhận giữ để ghi sổ kế toán bộ phận sử dụng
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ được lập làm 3 liên:
Liên 1: Lưu tại quyển Liên 2: Giao cho người vận chuyểnLiên 3: Dùng thanh toán nội bộ
- Phiếu xuất kho hàng gửi bán đại lý được lập làm 3 liên:
Liên 1: Lưu tại quyển Liên 2: Giao cho khách hàngLiên 3: Dùng để thanh toán
Trường hợp khách hàng thanh toán bằng séc thì chứng từ ban đầu mà kếtoán phải lập là bảng kê nộp séc, thông thường khách hàng thanh toán bằng séc bảochi hay séc chuyển khoản
Trang 15Bảng kê nộp séc được thành 2 liên.
Liên 2: Lưu tại Công ty
Liên 2: Ngân hàng giữ
Khi Ngân hàng nhận tiền, quyết định chuyển vào tài khoản của Công ty,Ngân hàng sẽ gửi giấy báo có về cho Công ty
Trang 16BIẾU SỐ 11 BẢNG KÊ NỘP SÉC
Tên người hưởng thụ: Công ty Dệt kim Đông Xuân Số bảng kê:
00022 Công ty Dệt vải công nghiệp 710A-00052 Ngân hàng CT2-HBT-HN 200.000.000
Số tiền bằng chữ: Hai trăm triệu đồng chẵn Số tiền: 200.000.000 Đơn vị nộp séc
Trang 172.2.2 Tài khoản sử dụng và trình tự kế toán
- Tài khoản 511: Doanh thu bán hàng
Trong đó TK 511 được mở cho 4 TK cấp 2 như sau:
+ TK 5111: Doanh thu bán sản phẩm
+ TK 5112: Doanh thu bán phế liệu
+ TK 5113: Doanh thu bán vải
+ TK 5114: Doanh thu bán đại lý
Trang 18- TK 138: Phải thu khác
- TK 333: Thuế và các khoản phải nộp ngân sách
- TK 721: Các khoản thu thập bất thường
- TK 711: Thu nhập hoạt động tài chính
2.2.2.2 Trình tự kế toán
a Kế toán nghiệp vụ bán buôn qua kho
* Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp
Khi xuất kho thành phẩm giao cho bên mua, đại diện bên mua ký nhận đủhàng và thanh toán tiền hoặc chấp nhận nợ Căn cứ vào hoá đơn GTGT kế toánghi:
BT1: Phản ánh doanh thu của lô hàng đã xác định tiêu thụ:
Nợ TK 111: Tiền mặt
Nợ TK 112: Tiền gửi ngân hàng
Nợ TK 131: Phải thu của khách hàng
Có TK 511: Doanh thu bán hàng
Có TK 3331: Thuế GTGT đầu ra phải nộp
BT2: Phản ánh giá vốn của lô hàng
Nợ TK 632: Giá vốn hàng bán
Có TK 155: Thành phẩm+ Nếu khách hàng chấp nhận nợ:
Nợ TK 131: Phải thu của khách hàng
Có TK 511: Doanh thu bán hàng
Có TK 3331: Thuế GTGT đầu ra
Trang 19+ Khi nhận được tiền do khách hàng thanh toán
Nợ TK 111: Tiền mặt
Nợ TK 112: Tiền gửi ngân hàng
Có TK 131: Phải thu của khách hàng
Ví dụ: Ngày 13/1/2001 Công ty xuất bán cho Crown Vinalimex (Văn Điển)
1 lô hàng theo hoá đơn GTGT số 009550 Công ty Crown đã thanh toán bằng tiềnmặt Kế toán tiến hành ghi số như sau:
* Bán buôn qua kho theo hình thức gửi hàng:
Kế toán hạch toán như sau:
Trang 20+ Chi phí vận chuyển, bốc vác phát sinh trong quá trình gửi hàng.
Nợ TK 641: Chí phí bán hàng
Nợ TK 133: Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ (của chi phí)
Có TK 111: Tiền mặt
Có TK 112: Tiền gửi Ngân hàng
Có TK 311: Phải trả cho người bán+ Khi khách hàng thanh toán
Nợ TK 111: Tiền mặt
Nợ TK 112: Tiền gửi ngân hàng
Có TK 131: Phải thu của khách hàng
Ví dụ: Ngày 5/1/2001 Công ty xuất bán cho Sanshin Trading Co, Ltđ 1 lô hàng theo hoá đơn số 000264, với tổng giá trị là 3202,27 USD (quy đổi theo tiền VNĐ là 47.937.981,9 đồng) Giá vốn của lô hàng là 45.763.290 đồng Kế toán tiếnhành ghi sổ như sau:
Nợ TK 112 : 47.937.981,9
Có TK 131 : 47.937.981,9
Trang 21* Bán hàng gửi đại lý:
Khi Công ty có hàng gửi đại lý bán thì cơ sở đại lý đó phải bán đúng giá doCông ty quy định và được hưởng phần hoa hồng là 5% trên doanh số bán ra