1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Vận hành hệ thống điện với độ xâm nhập cao của năng lượng tái tạo

9 62 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 2,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày thực tế này với các giải pháp cho các vấn đề đặt ra trong trạng thái xác lập, cũng như trong trạng thái quá độ khi vận hành hệ thống, trong đó các khía cạnh nhằm bảo đảm độ ổn định của lưới điện khi mức xâm nhập của các nguồn phát từ năng lượng tái tạo sẽ trở nên cao hay quá cao cần đặc biệt được lưu ý.

Trang 1

TÓM TẮT

Hiện nay các nguồn phát điện từ năng lượng tái tạo, đặc biệt năng lương mặt trời, năng lượng gió, đang được tích hợp ngày càng với tỉ lệ tăng dần vào hệ thống điện hiện hữu tại nhiều nước.

Xu thế với mức độ xâm nhập ngày càng cao của năng lượng tái tạo sẽ đặt ra các vấn đề, cũng như các thách thức lớn về mặt kĩ thuật, mang tính bản chất vật lí, tính hệ thống mà lưới điện tương lai buộc phải đối mặt và giải quyết Bài báo trình bày thực tế này với các giải pháp cho các vấn đề đặt ra trong trạng thái xác lập, cũng như trong trạng thái quá độ khi vận hành hệ thống, trong đó các khía cạnh nhằm bảo đảm độ ổn định của lưới điện khi mức xâm nhập của các nguồn phát từ năng lượng tái tạo sẽ trở nên cao hay quá cao cần đặc biệt được lưu ý

PGS TS NGUYỄN HỮU PHÚC

Trường ĐH Bách Khoa - Đại học Quốc gia TP HCM

VẬN HÀNH HỆ THỐNG ĐIỆN VỚI ĐỘ XÂM NHẬP CAO CỦA

NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO (PHẦN 1)

1 MỞ ĐẦU

Hiện nay, một số nước trên thế giới đã đạt đến mức độ xâm nhập cao của năng lượng

tái tạo (NLTT) trong hệ thống điện quốc gia, thậm chí ở mức rất cao đến 100% , như Iceland đang cung cấp 100% nhu cầu điện với nguồn địa nhiệt hoặc thủy điện Một

số quốc gia khác với lưới điện đang có mức độ xâm nhập cao của năng lượng tái tạo dựa trên thủy điện bao gồm Na Uy (97%), Costa Rica (93%), Brazil (76%), và Canada (62%) Trong nhiều thập kỷ các nhà máy thủy điện cung cấp nguồn điện từ năng lượng tái tạo tương đối rẻ tiền, tuy vậy các hệ thống này tùy thuộc nhiều vào lượng mưa tự nhiên và các yếu tố địa lý Thực tế, trên phạm vi thế giới đến nay đã khai thác gần hết các địa điểm với tiềm năng tốt về thủy điện Trong xu hướng các hệ thống điện (HTĐ) các nước dần đưa các nguồn năng lượng tái tạo vào làm việc, các hệ thống phát quang điện và điện gió sẽ có đóng góp to lớn, và cùng với chi phí đầu tư cho các công nghệ này trong các năm gần đây giảm nhanh, việc triển khai các nhà máy điện mặt trời và điện gió công suất lớn đang xảy ra trên khắp thế giới Điển hình, tại Ireland, Đan Mạch, Đức đều đang vận hành hệ thống điện quốc gia với mức độ xâm nhập hàng năm của NLTT trên 20%

Thường dùng thuật ngữ mức độ xâm nhập hàng năm (annual penetration level) trong

việc tính toán mức độ tham gia của NLTT vào hệ thống điện trên cơ sở năng lượng điện sản

xuất trong một năm, tuy vậy một thuật ngữ khác, mức độ xâm nhập tức thời (instantaneous

penetration level) là một yếu tố nhiều khi còn quan trọng hơn, được dùng để đánh giá độ ổn

định của HTĐ khi sự tham gia của NLTT tăng cao

Định nghĩa mức độ xâm nhập

% mức độ xâm nhập hàng năm = x 100%

% mức độ xâm nhập tức thời = x 100%, ở một thời điểm nhất định

(sản lượng hàng năm (MWh) từ nguồn NLTT)

(công suất tức thời (MW) từ nguồn NLTT)(sản lượng hàng năm (MWh)) (tổng công suất tức thời (MW))

1

10

15

Mục lục

23

28

30

Chịu trác nhiệm xuất bản:

ThS ĐOÀN ĐỨC HƯNG

Chủ tịch Hội Điện lực miền Nam (SEEA)

Trưởng Ban Biên tập:

TS TRẦN TRỌNG QUYẾT

Phó Chủ tịch Thường trực SEEA

Phó trưởng Ban Biên tập:

LÂM HOÀNG PHƯỚC Trưởng ban truyền thông SEEA

Chịu trách nhiệm về nội dung

ThS NGUYỄN TẤN NGHIỆP

Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký SEEA

Ban Biên tập PGS-TS Nguyễn Bội Khuê

PGS-TS Nguyễn Hữu Phúc

PGS-TS Nguyễn Văn Liêm

TS Phạm Đình Anh Khôi

KS Võ Thanh Đồng

KS Trịnh Phi Anh ThS Phan Thanh Đức

KS-CV Cao cấp Lê Hải Sơn

KS Nguyễn Thế Bảng

ThS Trần Thế Du

KS Trần Thị Mỹ Ngọc

Trụ sở toà soạn

Số 72 Hai Bà Trưng, Phường Bến Nghé, Quận 1, TP HCM

Điện thoại: 028-35210484

Giấy phép xuất bản số 105/GP-XBBT

ngày 2/10/2019 của Cục Báo chí

-Bộ Thông tin & Truyền thông

Ảnh bìa:

- Sóng hài trong hệ thống điện:

tác hại và giải pháp.

- Tác hại của sóng hài.

VẬN HÀNH HỆ THỐNG ĐIỆN VỚI ĐỘ XÂM NHẬP CAO CỦA NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO (PHẦN 1).

SÓNG HÀI TRONG HỆ THỐNG ĐIỆN: TÁC HẠI VÀ GIẢI PHÁP (Phần 1).

ẢNH HƯỞNG CỦA NGUỒN ĐIỆN PHÂN TÁN LÊN BẢO VỆ LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI VÀ GIẢI PHÁP

KHẮC PHỤC.

DÂY DẪN ĐIỆN CHỊU NHIỆT ĐỘ CAO & ĐỘ VÕNG THẤP.

TREO CÁP QUANG ADSS CẶP VỚI DÂY TRUNG HÒA TRÊN LƯỚI ĐIỆN TRUNG HẠ THẾ TRÊN

KHÔNG (Sáng kiến cấp Tổng công ty Điện lực miền Nam

năm 2018)

CHẾ TẠO DỤNG CỤ XỬ LÝ TÁCH CÁP ABC PHỤC

VỤ ĐẤU NỐI NHÁNH RẼ VÀ HỘP PHÂN PHỐI (Sáng kiến cấp Tổng công ty Điện lực miền Nam

năm 2019)

.

Trang 2

Ví dụ, Ireland hiện giới hạn mức xâm

nhập tức thời nhiều nhất đến 55%, và NLTT

đang cung cấp khoảng 13% sản lượng điện

hàng năm ở Châu Âu và 5% ở Hoa Kỳ Do

đó, trong bối cảnh các nhà máy điện (NMĐ)

công suất lớn với công nghệ năng lượng

tái tạo (NMĐ NLTT) phát triển ngày càng

nhanh, và tỉ lệ xâm nhập ngày càng cao một

vấn đề thời sự được đặt ra là trong tương lai

các hệ thống điện (HTĐ) sẽ phải có những

thay đổi và đặc điểm ra sao để có thể thích

ứng với hoàn cảnh mới

2 TÁC ĐỘNG CỦA MỨC XÂM NHẬP

NLTT CAO TRÊN LƯỚI

Ba vấn đề chính liên quan đến việc xâm

nhập cao của nguồn phát NLMT trong lưới

phân phối:

i/. Khả năng hướng chảy của dòng công

suất bị đảo chiều trong hệ thống phân phối:

tình hình phân bố công suất sẽ rất thay đổi

trong các hệ thống phân phối hiện hữu khi

tại điểm đấu nối công suất phát ra bởi NMĐ

NLTT vượt quá nhu cầu phụ tải, dòng công

suất chảy ngược sẽ xảy ra và điện áp có xu

hướng tăng cao tại các bus Điều này dẫn đến

việc vi phạm dãi điện áp cho phép ±10% điện

áp danh định, hay điện áp tại các bus vượt ra

ngoài dãi < 5% giá trị trung bình mười phút

của trị hiệu dụng điện áp, tính trong một

tuần (tiêu chuẩn chất lượng điện Châu Âu

EN 50160)

ii/. Phân bố dòng công suất có thể đảo

chiều trong hệ thống truyền tải: dòng công

suất chảy ngược trong hệ thống phân phối có

thể tác động đến phân bố công suất trong hệ

thống truyền tải khiến vi phạm khả năng tải

trên một số các đường dây

Hai vấn đề mang tính xác lập này đã được

trình bày trong [10], với các chi tiết trong bài

toán điển hình của mạch điện IEEE 9 bus,

với các nhận xét mang tính mở rộng và khái

quát hóa

áp): vấn đề này đã được giới thiệu trong [11],

và các nguồn gốc và bản chất vật lí với các đáp ứng động học của HTĐ trong trạng thái quá độ sẽ được phân tích đầy đủ hơn trong bài báo này

Phần 01 của bài báo sẽ trình bày vấn đề chung về ổn định của lưới điện hiện hữu, chủ yếu về các thuộc tính vật lí khi vận hành hệ thống điện hiện hữu, và các thay đổi về các bản chất vật lí này khi đưa vào các công nghệ mới của nguồn phát năng lượng tái tạo dần chiếm ưu thế trong điều kiện độ xâm nhập cao của các nhà máy phát từ năng lượng tái tạo trong hệ thống điện tương lai, Phần 02

sẽ trình bày các chi tiết về khả năng ổn định trong điều kiện trên, các vấn đề về bảo vệ hệ thống, từ các giải pháp được đề nghị Bài viết chủ yếu dựa vào các tài liệu trong bài báo

“Achieving A 100% Renewable Grid-Operating Electric Power Systems with Extremely High Levels of Variable Renewable Energy”, IEEE

Power& Energy Magazine, Mar/Apr 2017 của các tác giả Benjamin Kroposki, Brian Johnson, Yingchen Zhang, Vahan Gevorgian, Paul Denholm, Bri-Mathias Hodge, Bryan Hannegan [2], cũng như [3]

3 TÍNH BIẾN THIÊN (VARIABILITY)

VÀ BẤT ĐỊNH (UNCERTAINTY) CỦA NLTT

Điểm khác biệt cơ bản giữa các NMĐ truyền thống (nhiệt điện, nguyên tử) với NMĐ NLTT (năng lượng gió và mặt trời) là NMĐ NLTT có công suất phát thay đổi và không chắc chắn, tùy rất lớn vào điều kiện thời tiết địa phương Về phương diện vận hành HTĐ, việc điều độ các

MĐ thông thường, như nhà máy chạy than và khí đốt, là khả thi do dễ dàng thay đổi công suất đầu ra (tăng, giảm) để đáp ứng nhu cầu phụ tải thay đổi Khi phần trăm (%) mức xâm nhập của NLTT tăng lên, điều này đòi hỏi HTĐ phải có tính linh động trong công suất phát, trong khi

đó công suất phát của các nhà máy điện mặt 

Trang 3

trời (NMĐMT) lại thay đổi rất

nhiều trong ngày và hoàn toàn

không còn vào buổi tối (đối

với NMĐ công nghệ quang

điện) Điều này làm cho công

suất phát các NMĐMT có liên

quan chặt chẻ với nhau, cùng

với sản lượng lớn năng lượng

phát ra trong một khung thời

gian tương đối hẹp, và việc này

dẫn đến sự thay đổi lớn của

công suất phát trong HTĐ vào

chiều tối

Năng lượng gió cũng có

tính thay đổi trong một chu

kì ngày đêm, mặc dù với mức

thay đổi ít hơn so với Năng

lượng mặt trời Tại nhiều địa

điểm của nhà máy điện gió

(NMĐG), nhiều năng lượng

gió hơn thường được sản xuất

vào ban đêm so với ban ngày

Khi điều kiện thời tiết trong

khu vực địa lý có sự thay đổi

lớn trên diện rộng cũng có

thể tạo ra mức tăng sản lượng

điện của năng lượng gió Nhìn

chung, các mức tăng sản lượng

này có xu hướng xảy ra trong

nhiều giờ khi điều kiện về

địa lý có sự đa dạng trong tài

nguyên năng lượng gió (NLG)

Ngoài ra, do các nguồn NLTT

có sự trùng hợp về thời gian,

có thể ở những thời điểm nhất

định sản lượng phát lại lớn

hơn nhiều so với nhu cầu, khi

đó việc cắt giảm sản lượng từ

các NMĐ NLTT là cần thiết

về mặt kinh tế và ổn đinh hệ

thống

Hình 1 về một nghiên cứu tương lai của các nguồn NLTT [2], cho thấy việc điều độ các nguồn phát khác nhau trong tuần trong điều kiện mức phụ tải thấp và mức 80% xâm nhập của NLTT Trong những thời điểm khi công suất phát của cả NLG

và NLMT tăng vọt, việc cắt giảm sản lượng phát là kinh tế, tuy vậy quyết định cắt giảm này phụ thuộc vào nhiều thông số, kể

cả khả năng đáp ứng của các NMĐ còn lại trong HTĐ Dầu rằng mức xâm nhập cao của NLTT đặt ra những thách thức lớn, hiện nay và tương lai có nhiều giải pháp có thể giải quyết những thách thức này Các giải pháp này bao gồm san phẳng sản lượng điện phát từ các NMĐ NLTT qua việc bố trí các NMĐ trên các vị trí địa lí khác nhau Một giải pháp khác là nâng cấp hệ thống truyền tải để có thể chuyển vận một lượng năng lượng lớn, từ các khu vực đặt các NMĐ NLTT đến các khu vực có nhu cầu lớn

Công nghệ tích trữ năng lượng là công nghệ cho phép dịch chuyển về mặt thời gian đối với sản lượng NLTT phát ra Công nghệ này giúp chuyển dịch NLG và NLMT ở những thời điểm,

mà lẽ ra cần phải cắt giảm khi đó, sang những thời điểm khi tải cần đến, khi nguồn phát NLTT thấp hơn nhu cầu Có thể thực hiện các giải pháp dịch chuyển thời gian này qua các công nghệ tích trữ năng lượng khác nhau, như các NMĐ tích năng,

hệ thống tích trữ dùng khí nến, hoặc hệ thống bình ắcqui dung lượng lớn Một công nghệ khác, công nghệ nhu cầu- đáp ứng

(demand- response technology) đóng vai trò tương tự bằng cách

dịch chuyển nhu cầu của phụ tải sao cho trùng với thời điểm phát điện của nguồn NLTT, hay giảm thiểu các qui định về mức tăng của các nguồn phát Tương tự, một số loại phụ tải

Hình 1 Cắt giảm công suất phát (curtailment) từ các nguồn NLTT trong các ngày khi

HTĐ vận hành với 80% mức xâm nhập NLTT

Trang 4

mới, như tải sạc điện cho các xe hơi điện, cũng

đóng vai trò tương tự Một công nghệ tiên tiến

khác hỗ trợ việc sử dụng hiệu quả các nguồn

phát là dự báo nhu cầu phụ tải và dự báo sản

lượng phát từ NLTT Việc dự báo chính xác

giúp giảm thiểu tính không chắc chắn của sản

lượng phát từ các nguồn NLTT hay phụ tải, và

sẽ đảm bảo HTĐ (gồm các NMĐ truyền thống,

các trạm tích trữ năng lượng, và hạ tầng truyền

tải) vận hành một cách hiệu quả hơn

Một vấn đề khác xuất hiện khi ngày càng

có nhiều nguồn NLTT được huy động và tích

hợp vào HTĐ Khác với HTĐ hiện hữu với

các NMĐ làm việc chủ yếu với các máy phát

đồng bộ (MPĐB), lưới điện tương lai sẽ phân

tán hơn và bao gồm nhiều máy phát kiểu biến

tần (MPBT, inverter-based generator) Tổng

quát, các nguồn NLTT thường dùng biến tần

để đấu nối với lưới điện, thay vì MPĐB, và với

mức xâm nhập tức thời 50% trở lên của NLTT,

HTĐ lúc bấy giờ được xem như lưới điện biến

tần (inverter-dominated grid) Các nghiên cứu

[3,4 ] cho thấy các lưới điện tương lai sẽ có số

giờ vận hành trong năm với tỉ lệ nguồn phát sử

dụng MPBT nhiều hơn từ MPĐB Hình 2 biểu

diễn đường cong mức xâm nhập tức thời giữa

các vùng ở Hoa Kì với kịch bản 80% mức xâm

nhập NLTT theo điều kiện giới hạn công suất

truyền tải Trên Hình 2 cũng thấy HTĐ bang

Texas (ERCOT, Electric Reliability Council of

Texas) làm việc chủ yếu với các MPBT với tỉ lệ

59% của công suất phát đến từ NLTT Với cùng

kịch bản như trên, Hình 2 cũng cho thấy tỉ lệ

của công suất phát NLTT so với công suất phụ

tải Các đường nét đậm biểu diễn số giờ khi

HTĐ vận hành với tỉ lệ hơn 50% từ NLTT, và

trong vài trường hợp với tỉ lệ lên đến 100%, khi

xuất sản lượng thừa cho các bang khác Với các

kịch bản phát NLTT cao như trên, HTĐ vận

hành trong nhiều giờ chủ yếu với MPBT, và

trong các khung giờ khác trong ngày sẽ chuyển

qua lại, luân phiên giữa tình trạng vận hành

chủ yếu với MPBT (inverter-dominated system)

và vận hành chủ yếu với MPĐB (synchronous

generator-dominated system)

4 LƯỚI ĐIỆN LÀM VIỆC VỚI MPBT

Lưới điện làm việc chủ yếu với MPBT (inverter-dominated grids) là một khái niệm mới của HTĐ tương lai Thật vậy, có thể thấy HTĐ hiện tại với các NMĐ công suất lớn (NMĐ hạt nhân, NM nhiệt điện, NM thủy điện) chủ yếu dùng các MPĐB kết nối với lưới điện qua các đường dây truyền tải, phân phối cung cấp năng lượng điện đến phụ tải Điều khác biệt chính yếu giữa HTĐ truyền thống với HTĐ tương lai với mức xâm nhập cao của NLTT là sự hiện diện của MPBT (trừ trường hợp NMĐMT kiểu tập trung, concentrating solar power plants), là các thiết bị điện tử công suất chủ yếu sẽ đóng vai trò biến đổi điện năng

ở điện áp một chiều thành xoay chiều và đấu nối với lưới điện

Mặc dù một số NMĐ NLG sử dụng nhiều tầng chuyển đổi ac-dc và dc-ac trước khi đấu nối với lưới, cần tập trung vào tầng cuối cùng biến đổi dc thành ac tương thích lưới, vì đó

là mạch tương tác trực tiếp với hệ thống điện xoay chiều trong lưới điện tương lai, khi mà MPBT có thể chiếm hơn 50% công suất định mức phát ra của HTĐ ở một thời điểm bất kì,

Hình 2 Đường cong mức xâm nhập tức thời NLTT của HTĐ bang Texas (ERCOT) với kịch bản 80% mức xâm nhập NLTT theo điều kiện giới hạn công suất truyền tải.

Trang 5

khi đó HTĐ được xem như một HT làm việc

chủ yếu với MPBT

Các máy phát đồng bộ trong NMĐ thông

thường là các thiết bị quay cơ-điện với phần

đứng yên (stato) và phần quay (rôto) tạo ra từ

trường quay cảm ứng một điện áp trong dây

quấn stato, quá trình biến đổi năng lượng

cơ-điện này tạo ra cơ-điện áp xoay chiều với tần số

công nghiệp (50 Hz hoặc 60 Hz) Trong hơn

một thế kỷ cho đến nay, chính các MPĐB đã

quyết định các đặc điểm cho việc qui hoạch,

vận hành HTĐ hiện tại Trong hệ thống này,

một khi các MPĐB được đồng bộ với lưới

công suất tác dụng của máy được điều khiển

qua việc điều khiển moment trên trục máy,

và công suất phản kháng được điều khiển qua

việc điều khiển dòng kích từ Nhằm đảm bảo

độ tin cậy của HTĐ nối kết, tần số và điện

áp hệ thống được điều chỉnh chặt chẽ thông

qua kết hợp các bộ điều khiển vòng kín hoạt

động nhanh tại mỗi máy (bộ điều khiển điều

tốc- speed governor control- đảm bảo giữ

tần số trong qui định) và bộ điều khiển máy

phát (automatic generator control, AGC) tác

động chậm hơn, điều khiển kiểu tập trung,

mà nhân viên vận hành hệ thống sử dụng

để khôi phục tần số hệ thống về giá trị danh

định Tần số và điện áp là các thông số chính

yếu được quy định trong hệ thống và là các

mục tiêu điều khiển của HTĐ

Từ quan điểm vật lý, hệ thống tuabin và

các bộ phận quay bên trong mỗi MPĐB đều

có quán tính cơ học, và như vậy có khả năng

tích trữ động năng trong các khối quay Khi

xuất hiện sự cố và nhiễu loạn trong HTĐ, các

khối quay này có thể hoặc hấp thu hoặc cung

cấp năng lượng, điều này giúp hệ thống nối

kết có thể vượt qua các dao động khi có khác

biệt giữa công suất phát và công suất phụ tải

Cụ thể, tần số hệ thống sẽ tăng (hay giảm)

khi công suất phát lớn hơn (hay nhỏ hơn)

công suất đưa vào (hay lấy ra) từ khối quay;

điều này cũng có nghĩa mức tăng (giảm)

của tần số khỏi tần số định mức phản ánh

mức dư thừa hay thiếu hụt năng lượng trong HTĐ Mặt khác, tổng lượng quán tính trong

hệ thống (tổng khối lượng của tất cả máy quay nối kết) tỷ lệ thuận với khả năng của một hệ thống hấp thụ các biến thiên trên các tải và của nguồn NLTT, và giá trị của độ lệch tần số tỷ lệ nghịch với tổng quán tính trong

hệ thống Vì lẽ đó, dễ dàng có nhận xét là một

hệ thống với tổng lượng quán tính quay thấp bản chất sẽ đồng nghĩa với việc dễ dàng bị ảnh hưởng nhiều hơn do các nhiễu loạn, và khi đó độ lệch tần số sẽ có biên độ lớn hơn Một yếu tố quan trọng khác quyết định hành vi động học của các HTĐ hiện hữu là moment đồng bộ hóa hình thành bởi các MPĐB Moment đồng bộ hóa cùng với quán tính quay có vai trò quyết định trong việc xác định đáp ứng ban đầu của tốc độ rôto MPĐB, ngay sau một sự cố xảy ra trên lưới điện Thông qua thành phần moment đồng bộ hóa TSYN (synchronizing torque) (tỉ lệ với góc rôto δb của MPĐB) và thành phần moment cản dịu TD (damping torque) (tỉ lệ với vận tốc góc rôto dδb/dt của MPĐB) của moment điện từ TE, công suất tác dụng bơm vào HTĐ bởi MPĐB sẽ có tác dụng duy trì tính đồng

bộ và làm tắt dần các dao dộng cơ học trong

hệ thống

Hình 3 trình bày mô hình đơn giản của MPĐB G tại bus điện áp Vs nối kết qua đường dây với điện kháng jXe với bus điện áp Vb của lưới điện công suất vô cùng lớn Phương trình vi phân mô tả hành vi động học của góc rôto δb, trong điều kiện ổn định góc nhỏ cho bởi [1] phương trình vi phân như sau:

Hình 3 MPĐB G nối kết qua đường dây với lưới điện vô cùng

lớn

Trang 6

Từ quan hệ gia tốc và tổng moment

(TM+ TE) tác động vào khối quay,

với TE= TSYNC+TD (1)

Trong điều kiện các dao động nhỏ góc

rôto Δδ b quanh điểm cân bằng δ bo , phương

trình trên thành:

(2)

(3)

Với toán tử p= d/dt, δ b = δ bo + Δδ b ,

TE= TE+ ΔTE, TM= TM+ ΔTM

M = 2H

ω b = 2πf b

ΔTE = K1Δδ b +

ΔTM = K1Δδ b

δ b , góc rôto, là góc lệch giữa trục dọc d của

cực từ rôto và trục dọc d của cực từ trường

quay của dây quấn stato

fb, tần số lưới điện

t, thời gian

TM, moment cơ học (đơn vị tương đối)

TE, moment điện từ (đơn vị tương đối)

H, quán tính của khối quay, bao gồm

quán tính quay của rôto MPĐB và của rôto

động cơ sơ cấp

K1, hệ số moment đồng bộ hóa

D, hệ số moment cản dịu

Hình 4 mô tả quá trình dao động nhỏ của

góc rôto MPĐB sau tác động của nhiễu loạn

biên độ nhỏ do sự cố trên lưới điện Trong

tình huống hệ thống ổn định, góc rôto quay

về giá trị góc của rôto trước sự cố, và trong

tình huống hệ thống mất ổn định góc rôto

tăng dần

Hình 5 mô tả tình huống hệ thống không

ổn định, góc rôto dao động với biên độ tăng dần và cuối cùng rôto rơi vào trạng thái mất

bước (machine looses step), nói cách khác MPĐB mất đồng bộ hoàn toàn (pull out of

synchronism).

Hình 6 cho thấy quá trình dao động của góc rôto MPĐB sau tác động nhiễu loạn khi

có sự cố nghiêm trọng trên lưới điện Trong tình huống hệ thống ổn định Hình 6.(a), góc rôto sẽ có giá trị ổn định mới, sau các dao động khá lớn với biên độ tắt dần, và trong một tình huống tồi tệ khác trên Hình 6.(b) góc rôto có dao động biên độ giảm sau vài dao động, nhưng rồi lại tăng mạnh sau đó, khiến

hệ thống rơi vào trạng thái mất ổn định

d2 δ b dt2

D (d(Δδ b ))

ωb dt

Hình 4 Dao động nhỏ của góc rôto MPĐB trong điều kiện làm việc ổn định và mất ổn định sau nhiễu loạn trên hệ thống

Hình 5 Hệ thống không ổn định, góc rôto dao động với biên độ

tăng dần và MPĐB mất đồng bộ

Trang 7

Có thể nói rằng trong HTĐ hiện hữu, chính

là nhờ vào quán tính quay lớn, cùng khả năng

moment đồng bộ hóa cao, cùng các bộ điều

khiển tác động nhanh đã giúp giảm thiểu các

tác động tiêu cực bất cứ khi nào trong hệ thống

xuất hiện sự mất cân bằng về công suất phát và

công suất phụ tải (công suất tác dụng và phản

kháng) Rõ ràng, đặc tính quan trọng và là bản

chất của các HTĐ hiện hữu sẽ bị ảnh hưởng rất

lớn và thay đổi nghiêm trọng một khi mức xâm

nhập của NLTT với công nghệ MPBT vào HTĐ

tăng dần

Ngược lại, công nghệ sản xuất điện năng từ

NLTT về cơ bản sử dụng các công nghệ hoàn

toàn khác biệt, trong việc biến đổi năng lượng

và đấu nối với lưới điện Qua trung gian MPBT

các nguồn NLTT được đấu nối với vào HTĐ

Rất khác với các MPĐB truyền thống, MPBT

với công nghệ vật liệu bán dẫn, hoàn toàn không

có các cơ phận quay, biến đổi dòng dc thành ac

và quản lí dòng công suất qua việc điều khiển

các khóa đóng cắt bán dẫn theo thời gian Do

đó, dễ thấy về bản chất vật lí MPBT hoàn toàn

khác với các hiện tượng vật lí mô tả ở máy điện

quay như trên

Trong công nghệ MPĐ NLG kiểu nguồn kép

DFIG (Doubly Fed Induction Generator) loại

Hình 6 Quá trình dao động của góc rôto MPĐB sau tác động

nhiễu loạn khi có sự cố nghiêm trọng trên lưới điện.

III, với dây quấn roto nối với lưới qua các vành

trượt và MPBT MPĐ NLG kiểu MPĐB

(Full-Size Synchronous Generator) loại IV biến đổi

toàn bộ công suất phát từ ac thành dc, và sau đó

từ dc thành ac với điện áp và tần số phù hợp để đấu nối với lưới điện Năng lượng điện dc sản xuất từ NMĐ MT thông qua MPBT để chuyển đổi dc thành ac với điện áp và tần số phù hợp để đấu nối với lưới điện Trong lưới điện tương lai với mức xâm nhập NLTT cao, các nhà máy tích trữ năng lượng (với công nghệ acqui, pin nhiên liệu), với vai trò cân bằng năng lượng trong HTĐ, cũng sử dụng MPBT để đấu nối với lưới điện Vì thế, trong bất cứ hệ thống NMĐ NLTT nào có sử dụng MPBT, luôn cần đến bộ điều khiển vòng kín để điều chỉnh dòng công suất từ nguồn phát dc, thông qua kĩ thuật biến đổi điện

tử công suất để đấu nối với lưới điện

Trong các bộ điều khiển số các đo lường theo thời gian thực được xử lí và các chương trình điều khiển được lập trình và thực thi theo yêu cầu của người vận hành Điều quan trọng nhất trong các bộ điều khiển này là đặc tính các chiến lược điều khiển, chứ không phải bản chất vật lí của MPBT, sẽ quyết định tính chất động học của MPBT khi có sự cố và cách thức MPBT sẽ đáp ứng với lưới điện ac Nói một cách khác, đáp ứng vật lí của MPBT hoàn toàn được quyết định bởi chương trình điều khiển được lập trình Điều này vô cùng khác biệt với các MPĐB, trong đó bản chất vật lí của máy, như quán tính của các bộ phận quay, các thông

số điện từ sẽ quyết định các đặc tính quá độ của chúng Để làm rõ sự khác biệt cơ bản giữa MPĐB và MPBT, thường dùng thuật ngữ thiết

bị không quán tính (zero-inertia machine) cho

MPBT, do đáp ứng của chúng hoàn toàn phụ thuộc vào chiến lược của chương trình điều khiển và không có bất kì bộ phận quay nào Nhìn chung, phân loại bộ điều khiển MPBT theo: bộ điều khiển bám theo lưới (grid following inverter controller) hoặc bộ điều khiển tạo lưới (grid forming inverter controller)

Các bộ điều khiển bám theo lưới hiện là loại

Trang 8

phổ biến nhất hiện nay, phổ

biến trong các MPBT quang

điện và MBT điện gió Các bộ

điều khiển chủ yếu dùng mạch

vòng khóa pha (phase-locked

loop) để ước lượng góc pha tức

thời của điện lưới hình sin tại

điểm đấu nối của MPBT với lưới

điện Sau đó, mạch sẽ tạo ra và

bơm một dòngđược điều khiển

vào lưới, với tính chất dòng này

bám theo điện áp lưới Bản chất

của MPBT với bộ điều khiển

bám theo lưới là làm việc như

một nguồn dòng và “bám theo”

điện áp tại đểm đấu nối

Hạn chế của MPBT với bộ

điều khiển kiểu này là dựa trên

giả định điện áp ac tại điểm đấu

nối có biên độ và tần số không

đổi (cứng, stiff ac voltage) Trong

thực tế, điều này cũng có nghĩa

xem toàn bộ đáp ứng của hệ

thống, các MPĐB, các bộ điều

khiển đi kèm, các thiết bị điều

chỉnh trên lưới làm việc trong

điều kiện điện áp và tần số

thương đối ổn định tại bất kí

điểm nút nào trong lưới Trên

Hình 7 có thể thấy giả thiết này

tương đối hợp lí đến nay, vì thực

tế các công suất các NMĐ NLTT

với MPBT theo kiểu điều khiển

bám theo vẫn còn tương đối nhỏ

so với công suất của các MPĐB,

mà hiện nay đang đóng vai trò

chính trong điều khiển điện áp

và tần số của HTĐ hiện hữu

Tuy nhiên, tình hình sẽ thay

đổi ra sao khi trong HTĐ mức

xâm nhập của NMĐ NLTT ngày

càng cao, với số lượng MPBT

ngày càng nhiều trong lưới điện

tương lai?

Khi đó, HTĐ tương lai làm việc chủ yếu với MPBT với đặc tính không quán tính và sử dụng bộ điều khiển bám theo lưới, và MPBT này làm việc như nguồn dòng và bám theo điện áp lưới Rõ ràng, lưới điện tương lai khó có thể làm việc bình thường được trong điều kiện với các MPBT kiểu điều khiển bám theo lưới

Nhằm khắc phục nhược điểm trên, một thế hệ biến tần mới loại điều khiển tạo lưới dần được phát triển để thích ứng làm việc với hạ tầng điện sử dụng MBT, với khả năng điều chỉnh điện áp và tần số qua việc điều khiển phi tập

trung và tại chỗ (local de-centralized control) Trước khi

xem xét các đặc tính cần có của thế hệ biến tần mới này, cần xem xét các thách thức kĩ thuật phải giải quyết Đầu tiên , MBT thế hệ mới này sẽ dần được đưa vào làm việc trên lưới điện, cùng với việc tỉ lệ NLTT xâm nhập ngày càng cao vào lưới điện trong nhiều năm, nhiều thập kỉ tới, song song với việc thay thế dần các MPĐB Ngoài ra, do các MPBT

có phạm vi công suất định mức nhỏ hơn nhiều lần so với các MPĐB, điều này có nghĩa phụ tải trong hạ tầng mới của lưới điện làm việc với MBT cần làm việc với số lượng MPBT rất lớn trong lưới điện Đối với các lưới điện lớn,

Hình 7 Tình hình của lưới điện hiện nay (bên trái) chủ yếu làm việc với MPĐB với quán tính quay trong hệ thống rất lớn, và lưới điện tương lai (bên phải) khi mức xâm nhập của NLTT ngày càng cao, khi đó các MPĐB dần được thay thế và HTĐ sẽ chủ

yếu làm việc với MPBT

Trang 9

điều này cũng có nghĩa số lượng có thể lên

đến hàng triệu các MPBT sẽ được vận hành

trong một phạm vi địa lí rộng lớn

Xét đến các đặc điểm trên, các bộ điều

khiển tạo lưới phải có các đặc tính sau:

- Khả năng tương thích với HTĐ hiện

hữu và liền mạch với HTĐ phát triển dần

trong tương lai theo Hình 2

- Do hệ thống vận hành với tập hợp

từ rất nhiều MPBT được phân bố phân tán

trên các địa lí rộng lớn cần sử dụng phương

án điều khiển phân tán, và việc điều khiển

nhanh theo thời gian không cần đến kĩ thuật

truyền thông

- Khả năng làm việc tin cậy, lâu dài

trong một tương lai mà MPĐB có thể sẽ

không còn hiện diện trong HTĐ

- Khả năng bảo đảm chất lượng điện, ngoài việc điều khiển công suất tác dụng và phản kháng

Để thực hiện được các mục tiêu trên một phương cách khả thi là điều khiển dộ

dốc (droop control) tương tự như điều khiển

MPĐB bằng cách lập trình mối quan hệ tuyến tính giữa công suất tác dụng, công suất phản kháng theo giá trị tần số và điện áp Tuy vậy,

do việc tính toán tương đối chậm các giá trị công suất tác dụng, công suất phản kháng, các

MPBT điều khiển độ dốc (droop-controlled

inverters) có nhược điểm là đáp ứng chậm

trong các quá độ Hiện nay, đang phát triển các phương pháp điều khiển với tên gọi máy

đồng bộ ảo hay máy quán tính ảo (virtual

synchronous, virtual inertia machines) với

khả năng mô phỏng các hiện tượng vật lí của các MPĐB./

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] T.A Lipo,” Analysis of Synchronous Machines”, CRC Press, Second Edition 2012, ISBN-13: 978-1439880678, ISBN-10: 1439880670.

[2] Benjamin Kroposki, Brian Johnson, Yingchen Zhang, Vahan Gevorgian, Paul Denholm, Bri-Mathias Hodge, and Bryan Hannegan, “Achieving A 100% Renewable Grid- Operating Electric

Power Systems with Extremely High Levels of Variable Renewable Energy”, IEEE Power& Energy Magazine, Mar/

Ar 2017, pp 61- 73.

[3] Jan von Appen, Martin Braun, Thomas Stetz, Konrad Diwold, and Dominik Geibel, “Time in the Sun The Challenge of High PV Penetration in the German Electric Grid”, IEEE Power& Energy Magazine, Mar/Apr 2013,

pp 55- 64.

[4] M M Hand, S Baldwin, E DeMeo, J Reilly, T Mai, D Arent, G Porro, M Meshek, and D Sandor, “Renewable Electricity Futures Study”, NREL, Golden, CO, Tech Rep., NREL/TP-6A20-52409, June 2012.

[5] P Denholm and R Margolis, “Energy Storage Requirements for Achieving 50% Solar Photovoltaic Energy Penetration in California” , NREL, Golden, CO, NREL/TP-6A20-66595, Aug 2016.

[6] J Taylor, S Dhople, and D Calloway, “Power Systems without Fuel,” Renew Sustain Energy Rev., vol 57, pp 1322–1336, May 2016.

[7] J O’Sullivan, Y Coughlan, S Rourke, and N Kamaluddin, “Achieving The Highest Levels of Wind Integration:

A System Operators Perspective”, IEEE Trans Sustain Energy, vol 3, no 4, pp 819–825, Oct 2012.

[8] V Gevorgian, Y Zhang, and E Ela, “Investigating The Impacts of Wind Generation Participation in Interconnection Frequency Response”, IEEE Trans Sustain Energy, vol 6, no 3, pp 1004–1012, July 2015.

[9] D Ramasubramanian, V Vittal, and J Undrill, “Transient Stability Analysis of An All Converter Interfaced Generation WECC System” , Proc Power System Computation Conf., Genoa, Italy, 2016

[10] Nguyễn Hữu Phúc, “Tác Động của Mức Xâm Nhập Cao của các Nhà Máy Điện Mặt Trời Kĩ Thuật Quang Điện lên Lưới Điện- Phần 01”, Bản Tin Hội Điện Lực Miền Nam SEEA, Số 26 (10.2019), pp 01-07.

[11] Nguyễn Hữu Phúc, “Tác Động của Mức Xâm Nhập Cao của các Nhà Máy Điện Mặt Trời Kĩ Thuật Quang Điện lên Lưới Điện- Phần 02”, Bản Tin Hội Điện Lực Miền Nam SEEA, Số 27 (01.2020), pp 08-15.

Ngày đăng: 10/03/2021, 09:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w