1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở trường đại học kinh doanh và công nghệ hà nội development of high quality human resource at hanoi university of business and technology

177 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình đã công bố và những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết 23 Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở TRƯỜNG ĐẠI

Trang 1

cứu của riêng tác giả Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực Các tài liệu được trích dẫn đúng quy định và được ghi đầy đủ trong danh mục tài liệu tham khảo, không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

NGUYỄN ĐẠI LÂM

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN

1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến đề

1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề

1.3 Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình đã công bố

và những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết 23

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT

LƯỢNG CAO Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN 312.1 Một số vấn đề chung về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực

chất lượng cao và nguồn nhân lực chất lượng cao ở TrườngĐại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội 312.2 Quan niệm, nội dung và nhân tố tác động đến phát triển nguồn

nhân lực chất lượng cao ở Trường Đại học Kinh doanh và

2.3 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở một số

trường đại học trong, ngoài nước và bài học rút ra cho TrườngĐại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội 60

Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT

LƯỢNG CAO Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ

3.1 Tổng quan về Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà

3.2 Thành tựu, hạn chế trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng

cao ở Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội 863.3 Nguyên nhân và những vấn đề đặt ra từ thực trạng phát

triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Trường Đại học

Chương 4 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN

LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI THỜI GIAN TỚI 1324.1 Quan điểm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở

Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội thời gian tới 1324.2 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Trường

Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội thời gian tới 141

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

Trang 3

PHỤ LỤC 174

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH, HĐH

5 Nguồn nhân lực chất lượng cao NNLCLC

6 Khoa học và công nghệ KH&CN

7 Phó giáo sư, tiến sỹ PGS, TS

DANH MỤC CÁC BẢNG

01 Bảng 3.1: Số lượng nguồn nhân lực ở Trường Đại học Kinh 87

Trang 5

doanh và Công nghệ Hà Nội giai đoạn 2014 - 2019

02 Bảng 3.2: Số lượng giảng viên ở Trường Đại học Kinh doanh

và Công nghệ Hà Nội giai đoạn 2014 - 2019 88

03 Bảng 3.3: Số lượng cán bộ, nhân viên các phòng, ban, trung

tâm ở Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội giai

04 Bảng 3.4: Đánh giá tình trạng sức khỏe của NNLCLC ở

Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội năm 2019 92

05 Bảng 3.5 Kết quả đánh giá và phân loại NNLCLC ở Trường Đại

học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội giai đoạn 2014 - 2019 94

06 Bảng 3.6 Kết quả đánh giá xếp loại đảng viên là NLLCLC ở

Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội giai đoạn

07 Bảng 3.7: Trình độ bằng cấp, học hàm học vị của NNLCLC

của Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội giai

08 Bảng 3.8 Thống kê theo các chức danh NNLCLC ở Trường Đại

học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội giai đoạn 2014 - 2019 98

09 Bảng 3.9 Trình độ ngoại ngữ và tin học của NNLCLC ở

Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội tính hết

10 Bảng 3.10 Khối ngành, trình độ đội ngũ giảng viên Trường

Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội năm 2019 103

11 Bảng 3.11: Cơ cấu chia theo giới tính NNLCLC ở Trường Đại

học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội giai đoạn 2014 - 2019 106

1 Lý do lựa chọn đề tài luận án

Hiện nay NNL nói chung, NNLCLC nói riêng là “chìa khoá” chochiến lược cạnh tranh và phát triển của mỗi quốc gia Nhiều nước tuy hạn

Trang 6

chế về nguồn tài nguyên thiên nhiên song do biết khai thác, phát huy NNLnên đã có sự phát triển “thần kì” Đối với nước ta, trong quá trình CNH,HĐH gắn với đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế, NNLCLC được coi lànhân tố trung tâm, có vai trò quyết định đối với tăng trưởng và phát triểnkinh tế Nghị quyết Đại hội XII Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh:

"Thực hiện đồng bộ, cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhânlực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh

tế - xã hội…” [18, tr.296]

Đặc biệt, trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, phát triển NNLCLC càng cóvai trò đặc biệt quan trọng, là động lực để nâng cao chất lượng giáo dục, đàotạo và là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công hoặc thất bại của

sự nghiệp giáo dục ở mỗi quốc gia Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIkhẳng định quan điểm, chủ trương và quyết tâm phát triển sự nghiệp giáo dục,đào tạo là quốc sách hàng đầu, theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hộihóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáodục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt Đây là

tư tưởng chỉ đạo mang tầm chiến lược, thể hiện quan điểm toàn diện, kháchquan và khoa học của Đảng Cộng sản Việt Nam Để thực hiện quan điểm chỉđạo trên, Đại hội đã chỉ rõ: Phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lývững mạnh, toàn diện, vừa hồng, vừa chuyên, đủ về số lượng, đáp ứng yêucầu về chất lượng và cơ cấu, là yêu cầu cấp thiết, là khâu then chốt, là tiền đềtrong đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay

Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội là một tổ chức hợp tác củanhững người lao động trí óc, tự nguyện góp sức, góp vốn xây dựng và pháttriển một cơ sở đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài không vì mục tiêu lợinhuận Hơn hai mươi năm xây dựng và phát triển, Nhà trường đã khẳngđịnh được thương hiệu trong đào tạo đại học ở Việt Nam, cung cấpNNLCLC cho sự nghiệp phát triển đất nước Để thực hiện thắng lợi sứ

Trang 7

mệnh của mình, những năm qua Nhà trường chú trọng phát triển đội ngũcán bộ quản lý, giảng viên, nghiên cứu viên, nhân viên có chất lượng cao.Bao gồm những con người có đức, có tài, có trách nhiệm, ham học hỏi,thông minh sáng tạo, có kiến thức văn hóa, thành thạo về kỹ năng nghềnghiệp, về năng lực chuyên môn, có trình độ khoa học - kỹ thuật cao Tuynhiên, NNLCLC của nhà trường vẫn còn nhiều bất cập so với sự phát triển,lớn mạnh từng ngày của Trường Như, vấn đề phát hiện, thu hút, đào tạo và

sử dụng còn bộc lộ những vướng mắc, bất cập; vừa thiếu những chuyên giađầu ngành, nhất là đối với những ngành còn non trẻ của Trường, vừa mấtcân đối về cơ cấu Cho nên việc nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạngNNL, nhằm đề xuất những giải pháp phát triển NNLCLC đáp ứng yêu cầuđào tạo của nhà trường trong xu thế hội nhập, là nhiệm vụ cấp thiết trong

tình hình hiện nay Với ý nghĩa đó, tác giả chọn đề tài “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà

Nội” để xây dựng luận án tiến sĩ, chuyên ngành kinh tế chính trị

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích

Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về phát triển NNLCLC ở trường đại họcKinh doanh và Công nghệ Hà Nội; từ đó đề xuất quan điểm và giải pháp pháttriển NNL này trong thời gian tới

Nhiệm vụ

Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Làm rõ cơ sở lý luận phát triển NNLCLC ở Trường Đại học Kinhdoanh và Công nghệ Hà Nội

Khảo sát kinh nghiệm của một số trường đại học trên thế giới và ViệtNam - Rút ra bài học cho Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

Trang 8

Phân tích, đánh giá thành tựu, hạn chế phát triển NNLCLC ở trường đạihọc Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội; chỉ ra nguyên nhân thành tựu, hạn chế

và những vấn đề đặt ra cần giải quyết

Đề xuất quan điểm và giải pháp phát triển NNLCLC ở Trường Đại họcKinh doanh và Công nghệ Hà Nội thời gian tới

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở cơ sở giáo dục đại học

Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Luận án nghiên cứu phát triển NNLCLC cả về số lượng,

chất lượng và cơ cấu dưới góc nhìn của khoa học kinh tế chính trị

Về không gian: Luận án nghiên cứu ở trường đại học Kinh doanh và

Công nghệ Hà Nội

Về thời gian: Luận án khảo sát thực trạng từ năm 2014 đến 2019

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhànước về phát triển NNL, NNL CLC

Cơ sở thực tiễn: Thực tiễn phát triển NNLCLC ở trường đại học Kinh

doanh và Công nghệ Hà Nội và một số học viện, trường đại học trong vàngoài nước là cơ sở thực tiễn của Luận án

Phương pháp nghiên cứu

Luận án được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời sử dụng tổng hợpcác phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành như: trừu tượng hóakhoa học; thống kê - so sánh; phân tích - tổng hợp; logic kết hợp với lịch sử

Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: Luận án coi trọng sử dụng

phương pháp trừu tượng hoá khoa học để tạm gác bỏ khỏi khách thể nghiên

Trang 9

cứu những nội dung ít có ảnh hưởng đến quá trình phát triển NNLCLC, để đivào nghiên cứu những vấn đề mang tính cốt yếu, có ảnh hưởng quyết địnhđến quá trình phát triển NNLCLC ở Trường Đại học Kinh doanh và Côngnghệ Hà Nội Phương pháp này được áp dụng chủ yếu ở chương 2 khi hệthống những vấn đề lý luận, khảo cứu kinh nghiệm thực tiễn và ở chương 3khi khảo sát thực trạng.

Phương pháp thống kê - so sánh: Được sử dụng chủ yếu ở chương 3 để

điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển NNLCLC ở Trường Đại họcKinh doanh và Công nghệ Hà Nội

Phương pháp phân tích - tổng hợp: Được sử dụng trong cả 4

chương của luận án, nhưng chủ yếu là chương 3 nhằm đưa ra những nhậnxét, đánh giá sát thực tình hình phát triển NNLCLC ở trường đại học Kinhdoanh và Công nghệ Hà Nội trong thời gian qua, chỉ rõ thành tựu, hạn chếcủa quá trình này

Phương pháp logic kết hợp với lịch sử: Sử dụng chủ yếu để tìm ra nguyên

nhân của thực trạng phát triển NNLCLC ở trường đại học Kinh doanh và Côngnghệ Hà Nội, đặc biệt chỉ ra những mâu thuẫn trong quá trình phát triển NNLCLC.Phương pháp này được tác giả sử dụng chủ yếu ở chương 2 và chương 3

5 Những đóng góp mới của luận án

Đã Làm rõ được quan niệm, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đếnphát triển NNLCLC ở trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội dướigóc độ kinh tế chính trị

Luận án đã đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân của thành tựu,hạn chế và những vấn đề đặt ra trong phát triển NNLCLC ở Trường Đại họcKinh doanh và Công nghệ Hà Nội

Đề xuất được 4 quan điểm và 6 giải pháp nhằm phát triển NNLCLC ởTrường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội trong thời gian tới

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

Luận án góp phần bổ sung, phát triển một số vấn đề lý luận về phát

Trang 10

triển NNLCLC.

Các giải pháp được xác định trong Luận án cung cấp cơ sở khoa học cóthể tham khảo cho Hội đồng quản trị, Đảng ủy, Ban giám hiệu Trường Địahọc Kinh doanh và Công Nghệ đề ra chính sách, biện pháp phát triểnNNLCLC trong thời gian tới

Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy, học tập,nghiên cứu kinh tế chính trị và ứng dụng thực tiễn hoạt động phát triểnNNLCLC ở các học viện, trường đại học trong cả nước

7 Kết cấu của luận án

Kết cấu của luận án gồm: phần mở đầu; 4 chương (11 tiết); kết luận;danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả có liên quan đến luận án;danh mục tài liệu tham khảo; phụ lục

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến đề tài luận án

1.1.1 Một số công trình nước ngoài tiêu biểu liên quan đến nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực

A.Dam.Smith (1776), An Inquiry into the Nature and Causes of the

Wealth of Nations - Điều tra về bản chất và nguyên nhân về sự giàu có của cácquốc gia [96] Theo tác giả, con người được giáo dục, đào tạo là nguyên nhâncăn bản làm tăng sự giàu có của quốc gia Từ sự phân tích các phạm trù kinh tế

cơ bản của chủ nghĩa tư bản, A.Dam.Smith khẳng định năng lực hữu ích và học được của tất cả mọi thành viên của xã hội là một bộ phận trong “vốn cố định”.

Schultz T.W và Gary S Becker (1961), Investment in Human Capital

-Đầu tư vào nguồn nhân lực [108] Đây là những người đầu tiên đưa ra khái

niệm về “vốn con người”, mở ra một hướng tiếp cận mới về con người.Schultz T.W cho rằng, ngày nay việc không coi NNL như một loại vốn, mộtphương tiện sản xuất là hoàn toàn sai lầm

Edward F Denison (1985), Trends in American Economic Growth,

1929 - 1982 - Xu hướng tăng trưởng kinh tế Mỹ 1929 - 1982 [100] Côngtrình đã chứng minh sự tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ trong hơn 50 năm phụthuộc một phần quan trọng vào NNL Theo tác giả, trong các yếu tố đầu vàoquá trình sản xuất của nền kinh tế Mỹ, đóng góp do lao động chiếm tới 47%

Kelly D.J (2001), Dual Perceptions of HRD: Issues for Policy: SME’s,Other Constituencies, and the Contested Definitions of Human ResourceDevelopment - Nhận thức kép của HRD: Các vấn đề đối với chính sách:DNVVN, các thể chế khác và các định nghĩa cạnh tranh về phát triển nguồn nhân

lực [106] Công trình đã đưa ra khái niệm về NNL và phát triển NNL Theo đó, phát triển nguồn nhân lực là một phạm trù nằm trong tổng thể quá trình thuộc về

sự nghiệp phát triển con người Vì vậy, cần phải có các cơ chế, chính sách tổngthể để phát triển con người một cách toàn diện

Trang 12

Trợ lý Bộ trưởng - Bộ Quốc phòng Canada (2003), Human Resources Military (Nhân sự quân sự) [98] Công trình tập trung nghiên cứu chuyên sâu về

NNL quân sự của Canada, từ đó đưa ra 12 mục tiêu chiến lược phát triển NNLtrong quân đội Canada, đó là: Lãnh đạo; Kế hoạch chiến lược; Văn hóa; Truyềnthông; Tư vấn; Duy trì; Tuyển dụng; Phát triển chuyên nghiệp; Chuyển tiếp; Ytế; Hạnh phúc và Nhân sự hệ thống Mỗi mục tiêu đều hướng tới sự phát triểncủa NNL quân sự và các hoạt động trong chiến lược quốc phòng

Greg G.Wang và Judy Y.Sun (2009), Perspectives on TheoryClarifying the Boundaries of Human Resource Development - Các quan điểm

về lý thuyết làm rõ ranh giới phát triển nguồn nhân lực [102] Công trình đãcông bố những kết quả nghiên cứu về khái niệm và phạm vi phát triển NNL ởgóc độ học thuật Kết quả nghiên cứu đã luận giải sự khác biệt giữa khái niệmphát triển NNL với phát triển con người

William J.Rothwell, Robert K.Prescott và Maria W.Taylor, Chuyển hoá nguồn nhân lực: Thể hiện tầm lãnh đạo chiến lược nhằm thích ứng với các xu hướng tương lai [94], giới thiệu những vấn đề về quá trình chuyển hoá

nguồn nhân lực, cung cấp thông tin quan trọng về các xu hướng và vấn đềthúc đẩy chuyển hoá nguồn nhân lực, ý nghĩa của chuyển hoá nguồn nhân lực,phác thảo kế hoạch hành động nhằm gắn chức năng nguồn nhân lực với cácmục tiêu chiến lược tổng thể và thành công của tổ chức

Phonesena Sommad (2011), Chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội tại Lào [56] Qua bài viết, tác giả đã phân tích sau hơn hai thập kỷ thực hiện chủ trương đổi

mới, đất nước Lào đang bước sang một giai đoạn phát triển mới, trong đó, vịthế kinh tế và năng lực không còn đơn thuần phụ thuộc vào sự sẵn có của cáclợi thế cạnh tranh truyền thống, dựa trên tài nguyên thiên nhiên và chi phí laođộng rẻ Trong giai đoạn mới, yếu tố nguồn nhân lực chất lượng cao, có đủ trithức và kỹ năng, sẽ giữ vai trò then chốt đảm bảo cho khả năng phát triển, hội

Trang 13

nhập thành công của nền kinh tế Để đạt được những mục tiêu này, đất nướcđối mặt với nhiều thách thức yếu tố địa lý, các mức độ phát triển chênh lệchkinh tế - xã hội, và đặc biệt hơn nữa là nâng cao chất lượng nguồn nhân lựccòn yếu kém Để làm được điều này, Nhà nước và nhân dân Lào phải cùngđồng tâm hiệp lực với sự giúp đỡ quốc tế thực hiện tốt các chính sách, đã đề

ra trong lĩnh vực giáo dục, y tế và dinh dưỡng để nâng cao chất lượng nguồnnhân lực đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới

Lưu Tiểu Bình (2011), Lý luận và phương pháp đánh giá nguồn nhân lực [3].

Tác giả cho rằng trong điều kiện kinh tế tri thức hiện nay, nguồn nhân lực đóng vaitrò vô cùng quan trọng; việc khơi nguồn, phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhânlực chất lượng cao có tầm quan trọng đặc biệt Vì thế, để khai thác và phát huy nguồnnhân lực các quốc gia cần phải có lý luận và phương pháp đánh giá đúng đắn; đồngthời nêu lên một số vấn đề lý luận và phương pháp đánh giá nguồn nhân lực

Tiona VanDevender (2015), Total Quality Human Resource Management (Quản trị tổng thể nguồn nhân lực chất lượng) [109] Tác giả đã

có cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu đặc thù và đã đưa ra quan điểmnghiên cứu của họ về NNLCLC, trong đó đã đề cập đến vấn đề như trình độhọc vấn, trình độ chuyên môn, năng lực làm việc, sự đam mê, cống hiến

1.1.2 Một số công trình nước ngoài liên quan đến nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Yasuhiro Okuhina (1994), Chính trị và kinh tế Nhật Bản [49] Cuốn

sách đã nêu rõ những vấn đề cơ bản về nhân tài; chính sách trong công táccán bộ, phát triển nhân tài; phân tích những kinh nghiệm trong việc đánhgiá và luân chuyển cán bộ, phát huy người tài của Nhật Bản trên cơ sở đặcđiểm xã hội Nhật Bản; nhấn mạnh việc cố gắng bảo tồn và phát huy yếu tốtruyền thống dân tộc; thực hiện chế độ đào tạo, quản lý cán bộ, công chứctrong các cơ quan công quyền, chú trọng xây dựng các phẩm chất, đặc biệt

là phẩm chất trung thành của cán bộ; bảo đảm chế độ chính sách và tiềnlương cho cán bộ yên tâm cống hiến

Trang 14

Lương Dụ Giai (2006), Quản lý nhân tài [23], tác giả đã tập trung phân

tích vào một số vấn đề cơ bản, như khái niệm về nhân tài, quản lý nhân tài,đặc trưng cơ bản của nguồn nhân tài, những yếu tố ảnh hưởng đến nhân tài,

hệ giá trị nguồn nhân tài, hệ thống động lực của nguồn nhân tài, việc bố trí và

sử dụng nhân tài, thể chế và pháp lý quản lý nhân tài

Thẩm Vĩnh Hoa và Ngô Quốc Triệu (2008), Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài, kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước [30] Đây là một công trình phân

tích một cách có hệ thống tư tưởng Đặng Tiểu Bình về trí thức, nhân tài, về tôntrọng và phát triển nhân tài, về giáo dục - đào tạo phát triển nguồn nhân lực chấtlượng cao trong quá trình cải cách, mở cửa Nhấn mạnh việc Trung Quốc luôn coigiáo dục - đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, công tác nhân tài làvấn đề có tầm quan trọng đặc biệt, coi đó là kế lớn trăm năm để chấn hưng đấtnước Một loạt vấn đề lý luận, thực tiễn cơ bản trong tư tưởng Đặng Tiểu Bình vềgiáo dục - đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và nhân tài đất nước

đã được làm rõ, làm cơ sở cho Đảng Cộng sản Trung Quốc thực hiện đường lối,chính sách cán bộ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thời kỳ xây dựng chủnghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc

Vương Huy Diệu (2010), Chiến lược quốc gia nhân tài biến đổi thế giới,

[13] Tác giả đã trình bày chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao(nhân tài) của Trung Quốc, phân tích những vấn đề cơ bản về nhân tài, đánhgiá tình hình nhân tài Trung Quốc hiện nay; đề xuất những chủ trương, nộidung, chính sách, đặc biệt là giáo dục và đào tạo phát triển nguồn nhân lựcchất lượng cao cho đất nước trong thời kỳ phát triển mới

1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài luận án

1.2.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực

Nguyễn Hữu Dũng (2004), Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam [15] Cuốn sách đã trình bày hệ thống một số vấn đề lý luận và thực

Trang 15

tiễn có liên quan đến phát triển, phân bố và sử dụng nguồn lực con ngườitrong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam; đánh giá thực trạng 15 năm đổi mới lĩnh vực nguồn nhân lực; giới thiệukinh nghiệm của Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc về vấn đề này; từ đó đề xuấtcác giải pháp nhằm phát triển, phân bố hợp lý và sử dụng hiệu quả nguồn lựccon người trong quá trình phát triển kinh tế ở nước ta tới năm 2010.

Nguyễn Tiệp (2007), “Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực Việt

Nam trong quá trình hội nhập WTO” [70] Tác giả nêu lên đặc điểm khichúng ta mở cửa tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như đòi hỏi phảiphát triển nguồn nhân lực sau khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO, trên

cơ sở đó tác giả đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhânlực cho Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và là thành viênchính thức của WTO

Phạm Công Nhất (2008), “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp

ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế” [48] Bài viết đã đánh giá sơ

lược về số lượng, chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam sau 20 năm đổimới Đặc biệt, bài viết đã đưa ra 4 giải pháp để phát triển nguồn nhân lựcViệt Nam, trong đó nhấn mạnh đến giải pháp cải cách mạnh mẽ hệ thốnggiáo dục quốc dân theo hướng hiện đại

Trần Khánh Đức (2010), Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI [21] Tác giả đã đưa ra những khái niệm cơ bản về NNL, phát triển NNL,

chất lượng NNL cùng những tiêu chí đánh giá Trên cơ sở đó đánh giá thành tựu,hạn chế phát triển NNL trong giai đạn qua, chỉ rõ nguyên nhân và những vấn đềđặt ra, làm cơ sở đề xuất giải pháp phát triển NNL trong thế kỷ XXI

Nguyễn Ngọc Phú (2010 ), Nguồn nhân lực và nhân tài cho phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới [50] Đề tài đã luận giải những vấn đề lý luận chung về NNL và đề xuất những quan

điểm, giải pháp phát triển NNL cho phát triển xã hội và quản lý phát triển xãhội ở Việt Nam trong thời gian tới

Trang 16

Vũ Văn Phúc, Nguyễn Duy Hùng (Đồng chủ biên) (2012), Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế [51] Các tác giả trình bày một số khái niệm cơ bản về nhân

lực, nguồn nhân lực, phân tích đặc điểm của nguồn nhân lực Việt Nam,những vấn đề cơ bản để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu côngnghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Đoàn Thị Thu Hương (2017), Phát triển nguồn nhân lực trong các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập Việt Nam hiện nay [36] Công trình

luận giải cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế trong phát triển đội ngũ giảngviên ở các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập Phân tích, đánh giá thựctrạng phát triển đội ngũ giảng viên trong các trường đại học, cao đẳng ngoàicông lập Việt Nam trong thời gian qua Đề xuất những giải pháp cơ bản nhằmphát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng ngoài công lậpViệt Nam đến năm 2025

Nguyễn Thị Quỳnh Trang (2017), “Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong thời kì hội nhập quốc tế” [74] Tác giả cho rằng, để xây

dựng đội ngũ nhân lực có chất lượng cao, Việt Nam cần thực hiện đồng bộ nhiềugiải pháp, cụ thể: cần phải xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực gắnliền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; đẩy mạnh công tác hướng nghiệp

từ bậc phổ thông đến bậc đại học, bảo đảm cho học sinh, sinh viên có địnhhướng đúng về ngành nghề đào tạo; nâng cao chất lượng và hiệu quả của giáodục-đào tạo; điều chỉnh chiến lược đào tạo nghề, cơ cấu lại hệ thống giáo dụcnghề nghiệp; Nhà nước cần triển khai nhiều hình thức liên kết đào tạo với cácnước trong khu vực để tạo ra một đội ngũ nhân lực chuyên môn cao có khả nănglàm việc trong môi trường quốc tế; cần có sự gắn kết chặt chẽ giữa xã hội - nhàtrường - gia đình trong phát triển nguồn nhân lực

Nguyễn Tử Hoài Sơn (2017), Chất lượng nguồn nhân lực quản lý nhà nước về kinh tế ở tỉnh Ninh Bình hiện nay [57] Tác giả khẳng định: Nguồn nhân

Trang 17

lực của một quốc gia (hay của một ngành, địa phương) là tổng thể số lượng vàchất lượng con người (bộ phận hiện có và bộ phận tiềm tàng) với tổng hoà cáctiêu chí về trí lực (trình độ, trí tuệ), thể lực (sự dẻo dai, khả năng chống lại bệnhtật ) và tâm lực (phẩm chất đạo đức, tinh thần thái độ) tạo nên năng lực màbản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao độngsáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội Trên bình diện kinh tế - xã hội nóichung, nguồn nhân lực có vai trò rất quan trọng đối với sự tăng trưởng, pháttriển kinh tế - xã hội: Là động lực của phát triển kinh tế - xã hội; là nhân tốquyết định đến quá trình sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội; là một trongnhững yếu tố “đầu vào” của quá trình sản xuất, quyết định tổ chức sử dụng, táitạo, phát triển các nguồn lực còn lại.

1.2.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Phạm Hồng Tung (2008), Lược khảo về kinh nghiệm phát hiện, đào tạo

và sử dụng nhân tài trong lịch sử Việt Nam [89] Cuốn sách đánh giá tương

đối toàn diện, súc tích về những mặt tốt và hạn chế của thực tiễn đào tạo và sửdụng nhân tài của ông cha ta trong các thời kỳ lịch sử Trên cơ sở đó, tác giả đãđúc rút ra bài học kinh nghiệm hữu ích, góp phần xây dựng luận cứ khoa họccho việc hoạch định chiến lược phát triển, sử dụng, trọng đãi, tôn vinh nhân tài -NNL chất lượng cao ở nước ta hiện nay

Đức Vượng (2008), Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn

2011-2020 [93] Tác giả cho rằng nguồn nhân lực Việt Nam khá dồi dào,

nhưng chưa được sự quan tâm đúng mức, dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữa lượng và chất Tác giả đã đề xuất 10 giải pháp phát triển nguồn nhân lực Việt Nam Tác giả cũng kiến nghị Chính phủ và các cơ quan chức năng phải có chính sách, biện pháp kết hợp thật tốt giữa đào tạo và

sử dụng trong tổng thể phát triển kinh tế của đất nước, đáp ứng có hiệu

Trang 18

quả nguồn lao động có chất lượng cao cho yêu cầu phát triển của nền kinh tế

Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Chủ

nghĩa xã hội khoa học (2010), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức

[32] Đề tài đã tập trung làm rõ lý luận về NNL chất lượng cao và côngnghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức; đồng thời tìm hiểu kinhnghiệm thế giới về phát triển NNL chất lượng cao và thực trạng NNL chấtlượng cao của Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra Trên cơ sở đó, đềtài chỉ ra xu hướng phát triển NNL chất lượng cao, đồng thời, đề xuất nhữnggiải pháp cơ bản để phát triển nguồn lực này đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức của Việt Nam

Lê Thị Hồng Điệp (2011), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam [19] Công trình bước đầu hệ

thống hóa và phát triển một số lý thuyết về phát triển NNL chất lượng cao,gắn với quá trình hình thành nền kinh tế tri thức: đưa ra nội dung, các tiêu chíđánh giá và các yếu tác động tới phát triển NNL chất lượng cao để hình thànhnền kinh tế tri thức; nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia và rút ra bàihọc đối với Việt Nam Trên cơ sở, đó đề xuất một số quan điểm và giải phápphát triển NNL chất lượng cao, để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam

Bùi Thị Ngọc Lan (2011), “Đại hội XI với vấn đề phát triển nguồn

nhân lực chất lượng cao gắn với kinh tế tri thức” [39] Tác giả tập trung phântích những điểm mới trong tư duy lãnh đạo của Đảng về phát triển nguồnnhân lực Theo tinh thần Đại hội XI của Đảng, để phát triển nhanh nguồnnhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, cần phải đi vào một số giảipháp căn bản như: xây dựng và hoàn thiện hệ thống giá trị của con người ViệtNam trong thời đại mới; đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân;nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội

Trang 19

Lê Quang Hùng (2011), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung [35], Viện Chiến lược phát triển Tiếp

cận dưới góc độ kinh tế, Luận án đã trình bày tầm quan trọng của việc pháttriển nguồn nhân lực chất lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung;đánh giá thực trạng gồm ưu điểm, nhược điểm, nguyên nhân của nguồn nhânlực chất lượng cao nơi đây; chỉ ra một số yêu cầu, giải pháp phát triển nguồnnhân lực chất lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, đặc biệt nhấnmạnh đến giáo dục - đào tạo

Đặng Hữu Toàn (2012), “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao một đột phá chiến lược trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Việt Nam

-giai đoạn 2011 - 2020” [72] Trong bài viết, tác giả nêu rõ: Phát triển

NNLCLC là định hướng mang tầm chiến lược; là khâu đột phá quyết định; làyếu tố hàng đầu để đẩy nhanh sự phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ;

là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất trong phát triển KT - XH nhanh và bềnvững; là đột phá chiến lược trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng và thựchiện tái cơ cấu lại nền kinh tế đất nước

Trần Văn Hùng (2012), “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho

các trường đại học” [34] Tác giả cho rằng, điều kiện để tạo được lợi thế cạnh

tranh trong thời đại ngày nay là đầu tư phát triển nguồn nhân lực có chấtlượng cao đi đôi với cấu trúc lại nền kinh tế Cạnh tranh kinh tế hiểu theonghĩa rộng chính là cạnh tranh về giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ.Tuy nhiên, để có được như vậy vấn đề cơ bản là phải có đầu tư xứng đáng vàogiáo dục đào tạo, tức là đầu tư vào nguồn tài nguyên con người, đào tạonguồn nhân lực có năng lực trí tuệ và tay nghề cao, có khả năng tiếp nhận vàsáng tạo tri thức và công nghệ mới

Đỗ Văn Dạo (2013), Phát triển nguồn nhân lực quân sự chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá Quân đội nhân dân Việt Nam [11] Công

trình tập trung nghiên cứu, xây dựng cơ sở khoa học của những giải pháp

Trang 20

nhằm phát triển NNL quân sự chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hiện đại hóaquân đội nhân dân Việt Nam Ở đây, NNL quân sự chất lượng cao được xácđịnh là những người có bằng đại học và tương đương trở lên, tập trung vàocác lực lượng là cán bộ các cấp; nhà khoa học, giảng viên, trí thức trongquân đội và đội ngũ cán bộ, chuyên môn kĩ thuật quân sự

Nguyễn Bách Thắng (2015), Phát triển đội ngũ giảng viên trường đại học

An Giang theo tiếp cận quản lí nhân lực [62] Trên cơ sở nghiên cứu lý luận,

thực tiễn về phát triển đội ngũ giảng viên đại học, Luận án đã đề xuất giải phápphát triển đội ngũ giảng viên trường đại học An Giang đáp ứng yêu cầu đào tạonhân lực cho tỉnh An Giang trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước hiện nay

Hoàng Xuân Lâm (2015), Nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực của các trường đại học - cao đẳng ngoài công lập giai đoạn 2015-2025, áp dụng cho Trường cao đẳng Hoan Châu - Nghệ An [40] Dưới

góc độ chuyên ngành Quản lý kinh tế, luận án đã hệ thống những vấn đề về lýluận liên quan đến xây dựng khung chiến lược nói chung và chiến lược pháttriển nhân lực nói riêng của các trường Đại học, cao đẳng ngoài công lập;Luận án đã phân tích, đánh giá làm rõ quá trình hình thành các trường Đạihọc, cao đẳng ngoài công lập và thực trạng NNL của các trường Đại học, caođẳng ngoài công lập của nước ta hiện nay, từ đó đề xuất định hướng làm căn

cứ xây dựng khung chiến lược phát triển NNL cho các trường đại học và caođẳng ngoài công lập ở nước ta nói chung và xây dựng chiến lược cụ thể vềphát triển NNL cho Trường Cao đẳng Hoan Châu giai đoạn 2015 - 2025

Nguyễn Phan Thu Hằng (2017), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đến năm 2025 [28] Công trình xác định,

đo lường tác động của phát triển NNL CLC đối với hiệu năng của Tập đoànDầu khí Việt Nam Xác định, đo lường các yếu tố bên trong tác động đến pháttriển NNL CLC tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Xác định các thành tố chấtlượng NNL CLC tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và chứng minh các thành tốnày là trung gian truyền dẫn tác động của các yếu tố bên trong đến phát triển

Trang 21

NNL CLC tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.Đề xuất quan điểm và giải phápphát triển NNL CLC tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.

Nguyễn Thị Quyết (2017) trong công trình nghiên cứu, Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Quảng Ngãi hiện nay [54] đã làm rõ thêm về nguồn

nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển nguồn nhân lực chất lượngcao, tầm quan trọng và những yếu tố tác động đến việc phát triển nguồn nhân lựcchất lượng cao ở Quảng Ngãi hiện nay; đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhânlực chất lượng cao, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triểnnguồn nhân lực chất lượng cao ở Quảng Ngãi

Nguyễn Ngọc Quỳnh (2017), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của lực lượng cảnh sát phòng cháy, chữa cháy ở Việt Nam hiện nay [55] Cuốn sách

đưa ra quan niệm về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cảnh sát phòng cháy,chữa cháy và phân tích vai trò của phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cảnhsát phòng cháy, chữa cháy ở Việt Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa gắn với toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay; Đánhgiá khách quan, khoa học về thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng caocảnh sát phòng cháy, chữa cháy ở Việt Nam những năm qua; Đề xuất các quanđiểm chủ yếu và giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy quá trình phát triển nguồn nhânlực chất lượng cao cảnh sát phòng cháy, chữa cháy ở Việt Nam hiện nay

Lê Văn Kỷ (2018), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành công nghiệp của tỉnh Thanh Hóa [38] Tác giả cho rằng: nguồn nhân lực ngành

công nghiệp được hiểu là toàn bộ lực lượng nhân lực đang làm việc trong ngànhcông nghiệp, được đặc trưng bởi số lượng (quy mô), chất lượng và cơ cấu nguồnnhân lực đang tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của ngành côngnghiệp Trong đó, chất lượng nguồn nhân lực ngành công nghiệp là một tiêu chítổng hợp có ý nghĩa quyết định tới nguồn nhân lực ngành công nghiệp và phụthuộc vào nhiều yếu tố, trong đó các yếu tố cơ bản gắn liền với người laođộng: Sức khỏe - thể lực; trí lực (trình độ học vấn; trình độ chuyên môn kỹ

Trang 22

thuật; trình độ ngoại ngữ, tin học); nhân cách của nguồn nhân lực ngành côngnghiệp; tính năng động và thích ứng; văn hóa nghề.

Hoàng Minh Lợi (2018), Chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

ở Nhật Bản và Hàn Quốc - Gợi ý cho Việt Nam [42] Cuốn sách trình bày về

chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trước năm 1990 ở Nhật Bản

và Hàn Quốc; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở Nhật Bản và Hàn Quốc từgiáo dục, đào tạo đại học, cao đẳng đến đào tạo nguồn nhân lực chất lượng caosau đại học và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tại các cơ quan công quyền

và doanh nghiệp; sử dụng và quản lý nguồn nhân lực chất lượng cao ở Nhật Bản

và Hàn Quốc tại các cơ quan công quyền, tại các doanh nghiệp, tại các cơ sở đàotạo, nghiên cứu; giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Nhật Bản vàHàn Quốc Từ những phần tích trên, tác giả tập trung đánh giá chung về nhữngđiểm tương đồng và khác biệt trong chính sách phát triển nguồn nhân lực chấtlượng cao của Nhật Bản và Hàn Quốc; một số bài học kinh nghiệm về phát triểnnguồn nhân lực chất lượng cao tại Nhật Bản, Hàn Quốc và một số gợi ý cho ViệtNam từ những kinh nghiệm của hai quốc gia này

Phạm Đức Tiến (2018), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

trong quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế [69] Trong công trình nghiêncứu của mình, tác giả đã đề cập vấn đề lý luận về phát triển nguồn nhân lựcchất lượng cao trong quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế dưới góc nhìnchính trị học Thực hiện việc khảo cứu, đánh giá tương đối toàn diện đườnglối, chính sách, thể chế, cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triểnnguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế từ

2006 đến nay Đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm bổ sung, hoànthiện đường lối, chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để ViệtNam hội nhập sâu, rộng và hiệu quả hơn nữa vào cộng đồng quốc tế

1.3 Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình đã công bố và những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết

1.3.1 Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình đã công bố

Qua khảo sát các công trình liên quan cho thấy, vấn đề NNL, NNLCLC,

Trang 23

phát triển NNL, NNLCLC được các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiêncứu một cách công phu, đã đóng góp quan trọng về mặt học thuật, chứa đựng giátrị khoa học lớn Điều đó cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của vai trò NNL,NNLCLC đối với sự phát triển của xã hội Hầu hết các công trình đều đã đạt đượcgiá trị cả về lý luận, thực tiễn, đây là những tư liệu quan trọng giúp cho tác giảtham khảo, chọn lọc, tiếp tục kế thừa trong nghiên cứu luận án và gợi mở ra nhữnghướng triển khai nghiên cứu đề tài Nội dung các công trình nghiên cứu đã công

bố có liên quan đến đề tài luận án có thể chia thành những vấn đề sau:

Một là, các công trình khoa học mà tác giả thu thập được đã đề cập đến

khá nhiều khía cạnh khác nhau về nguồn nhân lực nói chung Trong đó nhiềucông trình nghiên cứu khẳng định NNL là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệttrong chiến lược phát triển của các quốc gia, là động lực phát triển kinh tế - xãhội; mỗi giai đoạn khác nhau thì yêu cầu về phát triển NNL đặt ra có sự khácnhau Còn đối với phát triển NNL, nhiều công trình đã làm rõ được khái niệm,nội dung phát triển về số lượng, chất lượng và cơ cấu; các công trình đã làm

rõ được đặc điểm của NNL ở từng lĩnh vực đặc thù Đặc biệt, nhiều tác giả đãquan tâm nghiên cứu về thực trạng phát triển NNL, bao hàm cả những thànhcông, hạn chế, đánh giá nguyên nhân và bàn luận những giải pháp để pháttriển NNL của nước ta nói chung cho phù hợp với điều kiện, xu thế cả trong

và ngoài nước và đối với từng lĩnh vực đặc thù nói riêng Các công trình này

đã giúp cho nghiên cứu sinh có thể tham khảo, kế thừa phát triển để xây dựngkhung lý luận của luận án, đặc biệt là phần một số vấn đề chung về NNL

Hai là, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đều dùng những thuật

ngữ đa dạng để chỉ nguồn nhân lực chất lượng cao Đó là nguồn nhân lực trítuệ, nguồn nhân lực tài năng, đội ngũ tri thức, đội ngũ khoa học những thuậtngữ này hướng tới những nhóm đối tượng khác nhau trong nguồn nhân lựcchất lượng cao Điều đó giúp cho tác giả có cái nhìn tổng quát về NNLCLCtrong điều kiện hội nhập quốc tế, cũng như trong một nhà trường đào tạo cụ

Trang 24

thể Một số công trình đề cập và khẳng định vai trò quyết định của nguồnnhân lực chất lượng cao như một tài nguyên không bao giờ cạn kiệt (nếu được

sự quan tâm đúng mức) và là động lực chủ yếu đối với sự phát triển và tiến bộcủa nhân loại Đặc biệt, các công trình nghiên cứu trong nước đều khẳng địnhvai trò to lớn của nguồn nhân lực chất lượng cao đối với quá trình CNH, HĐH

và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Đó là chìa khoá chiếm lĩnh nhữngđỉnh cao của khoa học, kỹ thuật và công nghệ trên con đường phát triển,chống nguy cơ tụt hậu, là khâu đột phá nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêuchiến lược phát triển kinh tế - xã hội và tạo ra bước phát triển thần kỳ củaViệt Nam Khi bàn về nguồn nhân lực chất lượng cao trong nền kinh tế, tinhthần cơ bản toát lên từ những công trình kể trên là sự nhấn mạnh tới yêu cầu

về việc con người phải thay đổi tư duy để thích ứng và làm chủ những xuhướng phát triển rất mới và đầy bất ngờ trong thời đại ngày nay Bằng việcvận dụng phương pháp tiếp cận hệ thống và phương pháp tiếp cận thị trường,các bài viết đã góp phần bổ sung và phát triển lý luận về mối quan hệ biệnchứng giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế dịch chuyển nhu cầu nhân lực - vàđiều chỉnh nhu cầu đào tạo nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường

Những công trình này giúp nghiên cứu sinh có một cái nhìn tổng quát

về NNLCLC nói chung, từ đó hình thành phương pháp luận và hướng tiếp cận

để xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn của phát triển NNLCLC cho trường đạihọc Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

Ba là, với phạm vi nghiên cứu ở những góc độ khác nhau, các tác giả

đã làm rõ vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển xã hội Đặc biệt,những năm gần đây, sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học vàcông nghệ, của kinh tế thị trường đặt ra thách thức đối với Việt Nam vềNNLCLC, phục vụ sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế Các công trình đãnghiên cứu sâu, rộng về khái niệm, đặc điểm, tiêu chí đánh giá và vai trò củaNNLCLC Đó là cơ sở lí luận để các tác giả phân tích thực trạng và vai trò

Trang 25

của NNLCLC đối với sự phát triển KT-XH và đẩy mạnh CNH, HĐH ở ViệtNam Qua đó, các công trình đánh giá những thành tựu, chỉ ra những hạnchế, yếu kém của NNLCLC ở Việt Nam, đòi hỏi có sự vào cuộc và trách nhiệmcủa các cấp, bộ, ngành, trong đó vai trò chủ đạo là giáo dục bậc đại học, gópphần đào tạo và bồi dưỡng một cách hiệu quả lực lượng trí tuệ lớn mạnh này.Những công trình này đã gợi mở cho nghiên cứu sinh về những nội dung pháttriển NNLCLC ở trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội hiện nay.Một số công trình đã khái quát kinh nghiệm phát triển NNLCLC ở một số quốcgia, vùng lãnh thổ như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singgapo, Trung Quốc…từ đó rút

ra bài học cho Việt Nam: Phải xác định đúng vị trí, vai trò, tiềm năng thế mạnhcủa NNLCLC trong quá trình phát triển kinh - tế xã hội; phải làm tốt công tácquy hoạch, bảo đảm sự cân đối về số, chất lượng và cơ cấu NNLCLC, bảo đảmcho nhiệm vụ trước mắt, cũng như mục tiêu lâu dài; đặc biệt, cần tránh phát triểnNNLCLC một cách chủ quan, tự phát; cần có cơ chế, chính sách phù hợp để thuhút và sử dụng NNLCLC một cách hiệu quả như, chính sách về đời sống, môitrường, cơ hội, đào tạo… Những nội dung trên sẽ được luận án kế thừa có chọnlọc cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án, rút ra bài học chotrường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội một cách sát thực hơn

Bốn là, các tác giả đã phân tích ở những khía cạnh và góc độ khác nhau

về thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam Những thực trạng

đó liên quan tới số lượng, cơ cấu và khả năng đáp ứng yêu cầu của nhữngcông việc đòi hỏi trình độ cao Tất cả những nghiên cứu đều khẳng định rằngnguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu củaquá trình CNH, HĐH và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiệnnay Các công trình cho rằng để khắc phục hạn chế đó thì vấn đề cấp bách là

hệ thống giáo dục và đào tạo cần đổi mới hoàn thiện Các tác giả nghiên cứucũng đã đề xuất một số giải pháp về giáo dục - đào tạo nhằm phát triển nguồnnhân lực như: phát triển giáo dục đào tạo đáp ứng theo nhu cầu của thị

Trang 26

trường, đổi mới nội dung, chương trình và cách thức giảng dạy ở các bậc học.

Có chính sách ưu đãi trong việc trọng dụng nhân tài

Năm là, Đã có một số công trình đề cập đến vấn đề phát triển NNL,

phát triển đội ngũ nhà giáo ở các trường đại học và cao đẳng nhằm đáp ứngyêu cầu đổi mới sự nghiệp giáo dục đào tạo; khẳng định tính tất yếu củaviệc phát triển NNL, phát triển đội ngũ giáo viên các trường cao đẳng, đạihọc đáp ứng nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới, việc đổi mới công tácgiáo dục và đào tạo, phát triển NNL; chỉ rõ yêu cầu đẩy mạnh công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, đòi hỏi bức thiết phải cóNNL, đội ngũ nhà giáo đủ sức, đủ tầm thực hiện thắng lợi phát triển kinh tếtri thức ở Việt Nam

Tổng quan về tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài: “Phát triểnnguồn nhân lực chất lượng cao ở trường đại học Kinh doanh và Công nghệ

Hà Nội” có thể thấy, các tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về NNLCLC

đã xây dựng được hệ thống lý luận chung về NNL và phát triển NNL;NNLCLC và phát triển NNLCLC Bước đầu, các công trình chỉ ra các quanniệm khác nhau và từng bước làm rõ nội hàm khái niệm NNLCLC, phân tíchcấu trúc của NNLCLC Từ đó, làm rõ sự cần thiết và đặc điểm của phát triểnNNLCLC trong quá trình CNH, HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.Đồng thời, chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển này; tổng kết kinhnghiệm phát triển nhân lực chất lượng cao ở một số quốc gia; đề xuất nhiềugợi ý chính sách quan trọng để thúc đẩy phát triển NNLCLC ở nước ta Nhưvậy, các công trình nghiên cứu ở trên đã có nhiều đóng góp có ý nghĩa về mặtkhoa học, đây là những tài liệu quý cả về cơ sở lý luận và thực tiễn, mà trongquá trình nghiên cứu luận án có thể tham khảo và kế thừa

Tuy nhiên, vấn đề phát triển NNLCLC đối với ngành giáo dục nói chung

và đặc biệt ở trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, cho tới nay, theotác giả được biết, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, hệ thống

Trang 27

Như vậy, đề tài luận án “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở trường đạihọc Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội” mà tác giả nghiên cứu cũng như nội hàmnhững vấn đề mà luận án đề cập, phân tích, luận giải là sự kế thừa, tiếp tục làm rõthêm cũng như nghiên cứu đưa ra cách tiếp cận mới dưới góc độ khoa học kinh tếchính trị là không bị trùng lặp với bất cứ công trình khoa học nào đã được công

bố Vì vậy, nghiên cứu đề tài “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội” chắc chắn sẽ có giá trị nhất định cả lý

luận và thực tiễn đối với lĩnh vực giáo dục đại học nói chung, đối với trường đạihọc Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội nói riêng

1.3.2 Những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết

Từ kết quả khảo sát và khái quát kết quả các công trình khoa học đãcông bố, những vấn đề đặt ra mà luận án tiếp tục tập trung giải quyết như sau:

Một là, dưới góc độ kinh tế chính trị thì NNLCLC ở Trường Đại học

Kinh doanh và Công nghệ được quan niệm như thế nào? Phát triểnNNLCLC ở trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội bao gồmnhững nội dung gì và chịu ảnh hưởng bởi những nhân tố nào? Trường đạihọc Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội cần tham khảo những kinh nghiệmnào của các trường đại học trên thế giới và trong nước?

Trả lời các câu hỏi trên, nghiên cứu sinh cần xây dựng quan niệm, xácđịnh nội dung và phân tích làm rõ các nhân tố tác động đến phát triểnNNLCLC ở trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội Khảo cứu kinhnghiệm ở các trường đại học trong và ngoài nước có những điều kiện tươngđồng đã có những thành công nhất định về phát triển NNLCLC để rút ra bàihọc có thể vận dụng cho trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội.Những vấn đề nêu trên là những nội dung mới mà phần lý luận của luận án sẽtập trung nghiên cứu để làm cơ sở cho việc khảo sát và đánh giá thực trạngphát triển NNLCLC ở trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

Hai là, thực trạng phát triển NNLCLC ở trường đại học Kinh doanh và

Công nghệ trong giai đoạn 2014 - 2019 có những thành tựu, hạn chế nào vànguyên nhân của những thành tựu, hạn chế đó là gì? Đâu là những vấn đề cần

Trang 28

tập trung giải quyết để thúc đẩy sự phát triển NNLCLC của trường đại họcKinh doanh và Công nghệ trong thời gian tới?

Trả lời các câu hỏi trên, nghiên cứu sinh căn cứ vào khung lý luận đãđược xây dựng, để khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển NNLCLC ở trườngĐại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội Quá trình đánh giá thực trạngkhông chỉ dừng lại ở việc đưa ra những con số thống kê đơn thuần, mà đề tàiluận án sẽ đánh giá một cách toàn diện Đồng thời, luận án còn làm rõ nguyênnhân của những thành tựu, hạn chế và chỉ ra những rào cản, nút thắt cần phảitháo gỡ để thúc đẩy mạnh quá trình phát triển NNLCLC ở trường đại họcKinh doanh và Công nghệ Hà Nội trong thời gian tới

Ba là, phát triển NNLCLC ở trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà

Nội thời gian tới cần quán triệt các quan điểm và thực hiện những giải pháp nào?

Để trả lời câu hỏi trên, nghiên cứu sinh phải căn cứ vào Chiến lược

phát triển nguồn nhân lực, Chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo, xu thếhội nhập quốc tế và nguồn lực của Đại học Kinh doanh và Công nghệ HàNội để xác định các quan điểm phát triển NNLCLC cho phù hợp Trên cơ

sở hạn chế và nguyên nhân của thực trạng phát triển NNLCLC ở Đại họcKinh doanh và Công nghệ Hà Nội giai đoạn 2014-2019, nghiên cứu sinh sẽ

đề xuất các giải pháp đồng bộ, có tính khả thi nhằm phát triển NNLCLCcủa Nhà trường trong thời gian tới

Trang 29

Kết luận chương 1

Phát triển NNLCLC đã và đang trở thành một xu hướng tất yếu của nhiềutrường đại học trên thế giới nhằm đáp ứng với yêu cầu phát triển KT - XHtrong điều kiện các nguồn lực ngày càng khan hiếm Đảng ta đã xác định, pháttriển kinh tế tri thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chấtlượng cao làm động lực chủ yếu Chính vì vậy, đã có không ít các công trìnhkhoa học, các mô hình phát triển trong và ngoài nước nghiên cứu về sự pháttriển này, dưới các góc độ tiếp cận khác nhau

Trên cơ sở nghiên cứu, khái quát một số công trình khoa học nước ngoài

và trong nước liên quan đến đề tài luận án mà nghiên cứu sinh có điều kiệntham khảo thấy rằng: Những vấn lý luận, kinh nghiệm chung nhất về pháttriển NNLCLC đã được hoàn thiện về cơ bản; tuy nhiên, gắn với mỗi lĩnhvực, mỗi trường đại học cụ thể lại có sự nghiên cứu khác nhau Và đến nay,chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về phát triển NNLCLC ở trườngĐại học một cách cụ thể, hệ thống, dưới góc độ khoa học Kinh tế chính trị

Do đó, phát triển NNLCLC ở trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ

Hà Nội là gì? Sự phát triển này ở trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ

Hà Nội những năm qua ra sao? Làm thế nào để phát triển NNLCLC ở trườngĐại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội trong thời gian tới? - Là những vấn

đề có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn đặt ra cần được nghiên cứuphân tích, luận giải, làm rõ Đây cũng là những nội dung chính, những đónggóp khoa học của luận án khi nghiên cứu về phát triển NNLCLC ở trường Đạihọc Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội và sẽ được nghiên cứu sinh đi sâu làm

rõ trong từng chương, nội dung cụ thể của luận án

Trang 30

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO

Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI

VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN 2.1 Một số vấn đề chung về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao và nguồn nhân lực chất lượng cao ở Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

2.1.1 Quan niệm về nguồn nhân lực

Chủ nghĩa Mác - Lênin, với quan điểm duy vật về lịch sử, đã khẳngđịnh: Lịch sử phát triển của xã hội loài người là quá trình vận động, biến đổi

và thay thế kế tiếp nhau của các hình thái kinh tế - xã hội Trong tiến trìnhphát triển đó, con người luôn giữ vị trí trung tâm Bằng hoạt động thực tiễncủa mình, con người nhận thức và cải tạo giới tự nhiên, sáng tạo ra lịch sử vàtừng bước hoàn thiện bản thân mình Con người là chủ thể sáng tạo ra mọi giátrị, đồng thời là thước đo của chính những giá trị đó

Nguồn nhân lực (human resource) là một khái niệm thuộc khoa học

kinh tế và có tính liên ngành cao, ra đời vào thập niên 1980, muộn hơn so với

khái niệm “vốn con người” (Human Capital) Hiện nay, khái niệm nguồn nhân lực đang được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau:

Theo nghĩa rộng, NNL là tổng thể các tiềm năng (lao động) của con người,

của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương đã được chuẩn bị về thể lực,trí tuệ, năng lực chuyên môn, đạo đức ở mức độ cần thiết để có thể huy động vàoquá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước (hoặc một vùng, một địa phương

cụ thể) Với cách tiếp cận này, NNL như một bộ phận cấu thành các nguồn lựccủa một quốc gia, cùng với nguồn lực tài chính, tài nguyên, KH&CN… có thểđược huy động một cách tối đa để phát triển kinh tế - xã hội

Theo nghĩa hẹp, NNL là toàn bộ lực lượng lao động trong nền kinh tế

quốc dân (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế), nghĩa là những người

Trang 31

trong độ tuổi nhất định, có khả năng lao động, đang có việc làm và cả nhữngngười thất nghiệp Về độ tuổi, hiện nay có nhiều quy định khác nhau, đa sốcác quốc gia quy định tuổi tối thiểu bắt đầu lao động thường là 15 tuổi, tuổitối đa thường trùng với tuổi nghỉ hưu hoặc không giới hạn.

Ngân hàng thế giới (WB) cho rằng, NNL là toàn bộ "vốn người", baogồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… mà mỗi cá nhân sở hữu Ở đây,NNL được coi như là một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác nhưvốn tiền, vốn công nghệ, tài nguyên thiên nhiên… Trong đó, đầu tư cho conngười giữ một vị trí trung tâm trong các loại đầu tư và được coi là cơ sởkhông thể thiếu cho sự phát triển bền vững

Theo dẫn luận của tác giả Mai Quốc Chánh, Chương trình phát triểnLiên hiệp quốc (UNDP) định nghĩa: "Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, làkiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặcđang là tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng" [6, tr.9].Như vậy, NNL là tổng thể các tiềm năng lao động con người của một quốcgia, đã được chuẩn bị ở một mức độ nhất định, có khả năng huy động vào quátrình phát triển kinh tế - xã hội Tiềm năng đó bao hàm tổng hoà các năng lực

về thể lực, trí lực, nhân cách con người của một quốc gia, đáp ứng với một cơcấu nhất định của lao động do nền kinh tế đòi hỏi

Ở nước ta, một số nhà khoa học cho rằng: NNL là số dân và chất lượngcon người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực vàphẩm chất Đồng thời, là tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng, những lựclượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người trong việc cải tạo tựnhiên, cải tạo xã hội Giáo sư Phạm Minh Hạc có quan niệm:

Nguồn nhân lực cần được hiểu là dân số và trí tuệ, năng lực, phẩm chất

và đạo đức của người lao động Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện cóthực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh

tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó [26, tr.17]

Trang 32

Những quan điểm trên đều thống nhất NNL là một “nguồn vốn” tổnghợp với hệ thống các yếu tố hợp thành: số lượng cùng với các đặc trưng vềchất lượng lao động như: Sức lực, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹthuật, kinh nghiệm nghề nghiệp, thái độ và phong cách làm việc… Và, NNLđược xem xét với tư cách là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sảnxuất, là một nguồn lực chủ yếu để phát triển kinh tế - xã hội

Với cách tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị, tác giả cho rằng: Nguồn nhân lực của một quốc gia (hay ngành, địa phương, cơ sở) là tổng thể số lượng, chất lượng với một cơ cấu nhất định (cả hiện có và tiềm tàng) được huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội.

Như vậy, nguồn nhân lực có thể hiểu là toàn bộ khả năng lao động, nó chính

là số lượng lao động (hiện có và tiềm tàng), chất lượng lao động (thể lực, trí lực,tâm lực) và cơ cấu (độ tuổi, sức khỏe, giới tính, trình độ chuyên môn nghiệp vụ).C.Mác cho rằng: “Chúng tôi hiểu sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộnhững năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con ngườiđang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sửdụng nào đó.”[46, tr.251] Trong nền kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường, nguồnnhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng nhất, sử dụng các nguồn lựckhác không những tạo ra của cải vật chất cho xã hội mà còn là mục tiêu, là động lựccho sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước nhanh, bền vững

2.1.2 Quan niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao

Mặc dù thuật ngữ “Nguồn nhân lực chất lượng cao” chưa được sử dụngnhưng khi đề cập về vấn đề này, C.Mác cho rằng, đó là "…những con người

có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông toàn bộ hệ thống sản xuất”[45, tr.474] và “Sức sản xuất của lao động được quyết định bởi rất nhiều tìnhhình, trong đó có: trình độ khéo léo trung bình của người công nhân…” [46,tr.69] Như vậy, Các Mác đã nhấn mạnh đến những đặc trưng tiêu biểu và vaitrò của con người có trình độ, kĩ năng và phẩm chất cao trong hệ thống sản

Trang 33

xuất xã hội Đồng thời, C.Mác đã luận giải mối quan hệ giữa “lao động phứctạp” với “lao động giản đơn”, cho rằng “lao động phức tạp” là “bội số” của

“lao động giản đơn” một vấn đề mà trước đó cả W.Petty, A.D.Smith,D.Ricardo đặt ra song không giải quyết thành công

Sau này, thuật ngữ “Nguồn nhân lực chất lượng cao” xuất hiện phổ biếnkhi nền kinh tế tri thức được hình thành và trở thành xu hướng tất yếu Ở ViệtNam, tại Đại hội Đảng lần thứ X thuật ngữ “Nguồn nhân lực chất lượng cao”được sử dụng, đến Đại hội lần thứ XI được xác định là một trong ba khâu độtphá chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đến Đại hội lầnthứ XII, Đảng ta xác định: “Tiếp tục thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiếnlược… phát triển NNL, nhất là NNLCLC” [18, tr.218]

Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực chất lượngcao Theo tác giả Trần Mai Ước thì: “Nguồn nhân lực chất lượng cao được hiểu

là bộ phận lao động xã hội có trình độ học vấn và chuyên môn kĩ thuật cao; có kĩnăng lao động giỏi và có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanhchóng của công nghệ sản xuất; có sức khỏe và phẩm chất tốt, có khả năng vậndụng sáng tạo những tri thức, những kĩ năng đã được đào tạo vào quá trình laođộng sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao” [92, tr.4]

Theo bài viết của tác giả Bùi Thị Ngọc Lan cho rằng:

Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ lực lượng lao động

cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với mộtngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn,

kỹ thuật nhất định (trên đại học, đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuậtlành nghề); có kỹ năng lao động giỏi và có khả năng thích ứng nhanhvới những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất; có sức khỏe

và phẩm chất tốt, có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, những

kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm đem lạinăng suất, chất lượng và hiệu quả cao [39, tr.6]

Trang 34

Theo tác giả Nguyễn Hữu Dũng, “Nguồn nhân lực trình độ cao là bộ phậnlao động phức tạp, phải trải qua một quá trình đào tạo, rèn luyện công phu” [15].Tác giả phân chia trình độ đào tạo nhân lực của một quốc gia thành 7 nhóm:

Nhóm 1: nhân lực được đào tạo ở cấp trình độ sau đại học

Nhóm 2: nhân lực cán bộ công chức quản lý hành chính Nhà nướcNhóm 3: nhân lực khoa học - công nghệ và đội ngũ giảng viên

Nhóm 4: nhân lực doanh nhân và các chuyên gia quản trị doanh nghiệp.Nhóm 5: nhân lực tốt nghiệp cao đẳng, đại học trở lên

Nhóm 6: nhân lực tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp

Nhóm 7: lực lượng công nhân kỹ thuật

Từ cách phân chia trên, tác giả Nguyễn Hữu Dũng cho rằng, xét theotrình độ đào tạo thì nguồn nhân lực chất lượng cao phải ở 5 nhóm nhân lựcđầu tiên theo thứ tự nêu trên

Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao bao gồm những người phảitrải qua hai quá trình được đào tạo một cách cơ bản có hệ thống, có bằng cấp

và quá trình rèn luyện qua thực tế sản xuất kinh doanh, (một lao động đượccoi là cao hơn, phức tạp hơn so với lao động trung bình, đòi hỏi phải qua quátrình đào tạo cơ bản và cao hơn, phải tốn nhiều công sức để tạo ra nó, vì vậy

nó có một giá trị cao hơn so với sức lao động giản đơn Nếu giá trị của sức laođộng đó cao hơn thì giá trị đó cũng biểu hiện ra một lao động cao hơn và vìvậy, trong những khoảng thời gian bằng nhau nó sẽ được vật hóa trong cácgiá trị tương đối lớn hơn) Tuy nhiên, trên thực tế không phải tất cả nhữngngười có bằng cấp cao đều trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao Nguồnnhân lực chất lượng cao không chỉ biểu hiện ở bằng cấp cao mà quan trọnghơn là sức lao động, trình độ lành nghề đó được vận dụng vào thực tế sảnxuất, quản lý… phải đem lại một hiệu quả cao nhất định Thông qua nhữngcông việc cụ thể, biểu hiện hành vi, phương pháp tư duy vượt qua mức kỹnăng trở thành kỹ xảo, điêu luyện và thuần thục

Trang 35

Từ cách tiếp cận trên, tác giả cho rằng: Nguồn nhân lực chất lượng cao

là bộ phận của nguồn nhân lực đã qua đào tạo, có trình độ học vấn hay chuyên môn kĩ thuật cao, có sức khỏe và phẩm chất xã hội cần thiết, đáp ứng yêu cầu, tính chất phức tạp của từng ngành, lĩnh vực hoạt động.

Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao được nhận biết như sau:

Về thể lực, NNLCLC phải là một bộ phận có sức khỏe tốt và hiệu quả

làm việc cao trên từng công việc mà họ đảm nhiệm

Thể lực là sức mạnh của con người, là khả năng khắc phục lực đốikháng bên ngoài bằng nỗ lực tự thân NNLCLC phải là một bộ phận tiêubiểu về sức khỏe, có thể hình, vóc dáng (chiều cao, cân nặng), thể trạngcân đối, phù hợp với ngành nghề, có khả năng đáp ứng điều kiện làmviệc với cường độ và áp lực cao, thích ứng nhanh nhạy với những thayđổi của môi trường làm việc, chống chọi với bệnh tật Đây là cơ sở quantrọng cho hoạt động thực tiễn của con người, có thể đáp ứng được nhữngđòi hỏi về hao phí sức lao động trong quá trình sản xuất với những côngviệc cụ thể khác nhau và đảm bảo cho con người có khả năng học tập vàlao động lâu dài

Về tâm lực, NNLCLC phải có những giá trị chuẩn mực chính trị, đạo

đức, phẩm chất tốt đẹp và sự hoàn thiện nhân cách của con người

NNLCLC là những người ý thức chính trị vững vàng, kiên định, đứngvững trên lập trường giai cấp, tuân thủ hiến pháp, pháp luật; thực sự tiêu biểu

về phẩm chất đạo đức: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; có lối sốngtrong sạch, giản dị, đoàn kết, thương yêu giúp đỡ mọi người, được mọi ngườiquý mến, tin tưởng NNLCLC có ý chí quyết tâm cao để hoàn thành tốt mọinhiệm vụ được giao, luôn mong muốn đóng góp tài năng, công sức của mìnhvào sự phát triển chung của dân tộc

NNLCLC có lòng yêu nghề, tận tụy, trách nhiệm với công việc; ýthức kỷ luật tự giác trong thực hiện nhiệm vụ; tinh thần hợp tác, ứng xử có

Trang 36

văn hóa, nhiệt tình, say mê và niềm tin trong công việc, luôn ham học hỏi,cầu tiến bộ, khiêm tốn, thật thà, không ngừng hoàn thiện nhân cách tốt; cóquan điểm khách quan trong nhìn nhận, đánh giá và ứng xử với thực tiễn.Tâm lực của NNLCLC góp phần vào việc phát huy vai trò của các yếu tốthể lực và trí lực của con người với tư cách nguồn nhân lực của xã hội.

Về trí lực, NNLCLC là những người có năng lực trí tuệ, khả năng nhận

thức và tư duy mang tính sáng tạo thích ứng với xã hội của con người

Nguồn nhân lực chất lượng cao trước hết là những người lao độngphải trải qua quá trình đào tạo, bồi dưỡng ở các cấp đào tạo đáp ứng vớiyêu cầu công việc mà người lao động trực tiếp tham gia hoạt động.NNLCLC về cơ bản phải được đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện cơ bảntrong các nhà trường hoặc đơn vị; có trình độ đại học trở lên đến sau đạihọc, có học vị tiến sĩ, học hàm phó giáo sư, giáo sư; có trình độ chuyênmôn tốt, chuyên sâu về một chuyên ngành, am hiểu nhiều chuyên ngành,phương pháp kỹ năng, kỹ xảo chính xác, mang lại hiệu quả cao đáp ứngtốt yêu cầu cao của từng nhóm ngành, nghề nhất định; là những người cóchuyên môn giỏi, lành nghề, hạt nhân nòng cốt trong các hoạt động, luônthể hiện vai trò là động lực quan trọng quyết định đến hiệu quả hoạt độngtrên các lĩnh vực

NNLCLC có khả năng tư duy, lao động sáng tạo và thích ứng nhanh,ứng dụng hiệu quả những thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến vào lĩnhvực hoạt động, có tư duy đột phá, tầm nhìn xa, trông rộng dự báo xu hướngvận động phát triển của sự vật; có tài tổ chức, lãnh đạo, quản lý, nghiệp vụgiỏi, luôn nghiêm túc và gương mẫu trong chấp hành pháp luật, quy chế, quyđịnh, có tác phong làm việc khoa học, dám nghĩ, dám làm, dám chịu tráchnhiệm; kết quả và hiệu suất làm việc cao Trí lực là yếu tố quyết định phầnlớn khả năng sáng tạo của con người, là yếu tố đóng vai trò quan trọng vàquyết định của chất lượng NNLCLC

Trang 37

2.1.3 Nguồn nhân lực chất lượng cao ở trường Đại học Kinh doanh

là đào tạo các nhà kinh tế thực hành, các nhà kỹ thuật- công nghệ thực

hành; bác sỹ, dược sĩ, cử nhân điều dưỡng giỏi Y thuật và giầu Y đức tạonguồn nhân lực trình độ cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước Nhà trường đặt dưới sự lãnh đạo, quản lý của Hội đồng quản trị, Hộiđồng nhà trường, mà thường xuyên, trực tiếp là Ban giám hiệu Nhà trường;hoạt động theo cơ chế tự chủ tài chính, là một trong ít những trường đại họcngoài công lập có cơ sở đào tạo riêng đầu tư nghiêm túc cho cơ sở vật chất, làmột trong những thế mạnh của trường so với các trường đại học ngoài cônglập khác trên địa bàn Hà Nội nói riêng và toàn quốc nói chung Để phát triển,Nhà trường luôn coi trọng giá trị văn hóa của Trường là: Đoàn kết - dân chủ -

kỷ cương - tình thương - trách nhiệm - văn minh

Trên cơ sở quan niệm và dấu hiệu nhận biết về nguồn NLCLC vận dụngvào đặc thù của một trường đại học, tác giả quan niệm về nguồn nhân lực chấtlượng cao ở trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội như sau:

Nguồn nhân lực chất lượng cao ở trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội là một bộ phận NNL có đủ điều kiện về thể lực, có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có trình độ đào tạo và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cao đáp ứng yêu cầu lao động phức tạp theo từng ngành nghề, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và sự phát triển của Nhà trường trong từng giai đoạn nhất định.

Trang 38

NNLCLC trong trường đại học là một loại lao động đặc biệt, với ngànhnghề khác nhau như: lao động quản lý, lao động sư phạm, lao động nghiêncứu khoa học, lao động chuyên môn phục vụ NNLCLC ở trường Đại họcKinh doanh và Công nghệ Hà Nội cũng bao gồm các loại lao động đó và đượcbiểu hiện thông qua các tiêu chí về thể lực, tâm lực và trí lực Cụ thể là:

Tiêu chí, biểu hiện về thể lực: Thể lực của NNLCLC ở trường Đại học

Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội được biểu hiện chung nhất trước hết ở vócdáng, ở trạng thái sức khỏe và sức bền của đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhânviên đáp ứng với yêu cầu từng cương vị, chức trách, nhiệm vụ đảm nhiệm;trước hết phải đủ điều kiện theo quy định của Luật cán bộ, công chức và Luậtviên chức hiện hành quy định cán bộ, công chức và viên chức ở các trườngđại học để thực hiện chức trách, nhiệm vụ theo từng ngành nghề; thích ứng tốttrước tính chất phức tạp, sáng tạo, cường độ lao động cao, căng thẳng về thầnkinh, trí óc, với yêu cầu cao lao động luôn đạt và vượt chỉ tiêu ngày công,định mức lao động theo từng loại ngành nghề và vị trí công tác và thường xếploại I, II về sức khỏe theo quy định của Bộ Y tế; không có bệnh mãn tính

Tiêu chí, biểu hiện về tâm lực: Đây là dấu hiệu, biểu hiện quan trọng

đối với NNLCLC ngành giáo dục Sinh thời, Hồ Chí Minh đã nhắc nhở: “Cótài mà không có đức thì vô dụng; có đức mà không có tài làm việc gì cũngkhó” Yêu cầu chung về tâm lực của NNLCLC ở trường Đại học Kinh doanh

và Công nghệ Hà Nội có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với mụctiêu lý tưởng, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật củaNhà nước, đứng vững trên quan điểm của Đảng, có tâm huyết, trách nhiệmvới nghề nghiệp; có phẩm chất đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính,chí công vô tư; có lối sống trong sạnh, giản dị, tác phong khoa học đáp ứngtiêu chuẩn quy định đối với cán bộ, công chức, viên chức ở các trường đại họctheo các Nghị quyết của Đảng và các quy định pháp luật của Nhà nước Cólòng yêu nghề, tận tụy, trách nhiệm cao hết lòng với công việc vì sự tiến bộ củasinh viên và được các tổ chức trong Nhà trường tín nhiệm, đánh giá cao

Trang 39

Ngoài tiêu chí trên, đối với lao động quản lý Nhà trường cần có phẩmchất trị kiên định, vững vàng; có tâm của người cán bộ lãnh đạo, quản lý; tâmhuyết với nghề nghiệp, phải dân chủ, khách quan, công bằng; quan tâm tớiđời sống vật chất, tinh thần; tiến bộ của các lực lượng; có lối sống trong sạch,lành mạnh; không tham ô, tham nhũng, lãng phí; đoàn kết thống nhất nội bộ

cơ quan, đơn vị, vì mục tiêu phát triển chung của Nhà trường, của xã hội Đối với lao động sư phạm, nghiên cứu khoa học cần chấp hành đầy đủ chủtrương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; tuân thủ các quy trình,quy định về chuyên môn, nghiệp vụ và quy tắc ứng xử; không ngừng học tập,rèn luyện, nâng cao đạo đức chính trị, lối sống lành mạnh; phải tâm huyết vớinghề, có ý thức giữ gìn danh dự của nhà giáo, có lòng nhân ái, bao dung, độlượng, ứng xử với học viên, đồng nghiệp hòa nhã, hòa đồng, có tinh thần bảo vệ

lẽ phải, công bằng trước lợi ích của học viên, của đồng nghiệp và cộng đồng.Đối với lao động phục vụ phải hết lòng phục vụ cho nhiệm vụ, cho các lựclượng, các hoạt động của Nhà trường, có tinh thần hòa đồng, ứng xử văn hóa;bảo quản và giữ gìn cơ sở vật chất được trang bị phục vụ chuyên môn nghiệp vụ

Tiêu chí, biểu hiện về trí lực: Đây là một trong những dấu hiệu đặc trưng

nhất của NNLCLC ở một trường đại học, được biểu hiện tập trung ở trình độhọc vấn (trình độ đào tạo) và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ Cụ thể:

Về trình độ học vấn (trình độ đào tạo): NNLCLC ở trường Đại học Kinh

doanh và Công nghệ Hà Nội trước hết phải đạt quy định tiêu chuẩn về trình độđào tạo của cán bộ, công chức, viên chức nói chung, cán bộ, công chức, giảngviên ở các trường đại học nói riêng, trong đó, cụ thể như sau: Có bằng tốt nghiệpđại học trở lên, nhất là các tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư, nhà giáo ưu tú, nhà giáonhân dân, nhân viên chuyên môn trình độ cao, làm việc hiệu quả đúng vớichuyên ngành đào tạo phù hợp với ngành, lĩnh vực công tác; có đủ chứng chỉ bồidưỡng nghiệp vụ đúng với chuyên môn công tác; có chứng chỉ ngoại ngữ với

Trang 40

trình độ từ bậc 2 khung năng lực ngoại ngữ trở lên theo quy định tại Thông tư số01/2014/TT-BGDĐT ngày 24/01/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về khungngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt nam; có chứng chỉ tin học với trình độ đạt chuẩn

kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản theo quy định tại Thông tư số03/2014/TT-BTTTT ngày 11/3/2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông quyđịnh chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin

Về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ: Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ

trong NNLCLC ở trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội trước hếtphải phù hợp và đáp ứng tốt với sự phát triển từng ngành nghề của Nhàtrường Trong đó:

Nguồn nhân lực chất lượng cao ở ngành quản lý, cần đạt tiêu chuẩn quyđịnh đối với ngạch chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp vàtương đương phù hợp với cương vị lãnh đạo, quản lý, có trình độ, chuyênmôn, kinh nghiệm, phương pháp, kỹ năng quản lý; có tính chuyên nghiệptrong việc thực thi công vụ, khả năng tham mưu, xây dựng chính sách, chỉđạo, tổ chức thực hiện, đặc biệt là trong việc ứng dụng triển khai các phươngpháp quản lý giáo dục theo xu thế phát triển của thời đại; có khả năng pháthiện và giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra, dự báo, xây dựng chiến lược, kếhoạch vào thực tiễn có kiến thức về pháp luật, tổ chức bộ máy, quản lý nhân

sự và tài chính, trình độ ngoại ngữ, kỹ năng tin học thu thập và xử lý thông tintrong và ngoài nước về giáo dục và những yếu tố tác động khác

Nguồn nhân lực chất lượng cao ở ngành sư phạm, giảng dạy và nghiêncứu khoa học đạt tiêu chuẩn quy định của Bộ giáo dục và Đào tạo về giảngviên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp và tương đương; có học vị tiến sĩ,học hàm phó giáo sư, giáo sư; có hiểu biết rộng, kiến thức nhiều môn khoa học;uyên bác, chuyên sâu về ngành đào tạo, nhạy bén, sáng tạo trước những biếnđổi của môi trường, có phương pháp, kỹ năng sư phạm, nghiên cứu khoa họcđáp ứng tốt yêu cầu giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học của Nhà trường

Ngày đăng: 10/03/2021, 05:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w