1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng xà lách và cải củ nhập nội tại gia lâm hà nội

136 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng khoảng cách trồng đến sinh trưởng và năng suất giống cải củ Song Jeong trong vụ Thu Đông 2013.... Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của mức bón đạm và

Trang 1

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG XÀ LÁCH

VÀ CẢI CỦ NHẬP NỘI TẠI GIA LÂM – HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI – 2014

Trang 2

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

= = = = = = = = = =

LÊ XUÂN THẢO

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG XÀ LÁCH

VÀ CẢI CỦ NHẬP NỘI TẠI GIA LÂM – HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 20 tháng 7 năm 2014

Tác giả luận văn

Lê Xuân Thảo

Trang 4

Trước hết tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS

Vũ Thanh Hải – Giảng viên bộ môn Rau, Hoa, Quả - Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, TS Tô Thị Thu Hà – Trưởng bộ môn Rau gia vị - Viện nghiên cứu Rau Quả, đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới dự án Nông nghiệp Quốc tế của Hàn Quốc tại Việt Nam (KOPIA) cũng như cám ơn các thành viên của dự án đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn các cán bộ công nhân viên thuộc Bộ môn Rau và Gia vị – Viện nghiên cứu Rau Quả, đã nhiệt tình giúp đỡ trong suốt quá trình tôi thực tập tại Viện

Đồng thời tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong

bộ môn Rau, Hoa, Quả - khoa Nông học, trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội đã nhiệt tình dạy dỗ, chỉ bảo, hướng dẫn cho tôi trong suốt thời gian tôi học tập tại trường cũng như thời gian thực hiện luận văn này

Cuối cùng tôi xin được chân thành cảm ơn những người thân, bạn bè đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và hết lòng giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành báo cáo

Hà Nội, ngày 20 tháng 7 năm 2014 Tác giả luận văn

Lê Xuân Thảo

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH ix

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT x

PHẦN THỨ NHẤT MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục đích của đề tài 2

1.2.2 Yêu cầu của đề tài 3

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

PHẦN THỨ HAI TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

2.1 Tình hình nghiên cứu, sản xuất, tiêu thụ rau trên thế giới và ở Việt Nam 4

2.1.1 Tình hình nghiên cứu, sản xuất, tiêu thụ rau trên thế giới 4

2.2.2 Tình hình nghiên cứu, sản xuất, tiêu thụ rau ở Việt Nam 10

2.2 Cây cải củ (Raphanus sativus L.) 17

2.2.1 Giới thiệu về cây cải củ 17

2.2.2 Một số nghiên cứu về cây cải củ 19

2.3 Cây xà lách ( Lactuca sativa L.) 23

2.3.1 Giới thiệu về cây xà lách 23

2.3.2 Một số nghiên cứu về cây xà lách 28

PHẦN THỨ BA VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

3.1 Đối tượng nghiên cứu 33

Trang 6

3.1.1 Cây trồng 33

3.1.2 Các loại phân khoáng dùng trong thí nghiệm 34

3.1.3 Giá thể, đất trồng, nước tưới 34

3.1.4 Dụng cụ thí nghiệm 34

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 34

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 34

3.2.2 Thời gian nghiên cứu 34

3.3 Nội dung nghiên cứu 35

3.4 Phương pháp nghiên cứu 35

3.4.1 Thí nghiệm 1: Khảo nghiệm một số giống cải củ trong vụ Xuân Hè 2013 35

3.4.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng khoảng cách trồng đến sinh trưởng và năng suất giống cải củ Song Jeong trong vụ Thu Đông 2013 36

3.4.3 Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của mức bón đạm và kali đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng giống cải củ Song Jeong trong vụ Thu Đông 2013 36

3.4.4 Thí nghiệm 4: Khảo nghiệm một số giống xà lách trong vụ Xuân Hè 2013 37

3.4.5 Thí nghiệm 5: Nghiên cứu ảnh hưởng khoảng cách trồng đến sinh trưởng và năng suất giống xà lách Ha Cheong trong vụ Thu Đông 2013 38

3.4.6 Thí nghiệm 6: Nghiên cứu ảnh hưởng của mức bón đạm và kali đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng giống xà lách Ha Cheong trong vụ Thu Đông 2013 38

3.4.7 Các chỉ tiêu theo dõi 39

3.4.8 Cơ sở thiết lập công thức khoảng cách và phân bón 42

3.4.9 Phương pháp xác định mức độ sâu bệnh hại xà lách và cải củ 42

3.4.10 Phương pháp phân tích mẫu và theo dõi thí nghiệm 43

3.4.11 Phương pháp phân tích số liệu 43

Trang 7

PHẦN THỨ TƯ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44 4.1 Thí nghiệm 1: Khảo nghiệm một số giống cải củ trong vụ Xuân Hè 2013 44 4.1.1 Thời gian sinh trưởng của các giống cải củ vụ Xuân Hè 2013 44 4.1.2 Đặc điểm hình thái của các giống cải củ vụ Xuân Hè 2013 45 4.1.3 Một số chỉ tiêu về sinh trưởng của cải củ vụ Xuân Hè 2013 48 4.1.4 Đặc điểm khối lượng củ và kích thước củ của các giống cải củ trong vụ Xuân Hè 2013 50 4.1.5 Năng suất lý thuyết và thực thu của các giống cải củ vụ Xuân Hè 2013 52 4.1.6 Chất lượng các giống cải củ vụ Xuân Hè 2013 53 4.1.7 Sâu bệnh hại cải củ vụ Xuân Hè 2013 55 4.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng khoảng cách trồng đến sinh trưởng

và năng suất giống cải củ Song Jeong trong vụ Thu Đông 2013 58 4.2.1 Ảnh hưởng của khoảng cách trồng khác nhau đến các chỉ tiêu sinh trưởng của cải củ Song Jeong vụ Thu Đông 2013 58 4.2.2 Ảnh hưởng của khoảng cách trồng khác nhau đến năng suất của cải củ Song Jeong vụ Thu Đông 2013 60 4.3 Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của mức bón đạm và kali đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng giống cải củ Song Jeong trong vụ Thu Đông 2013 62 4.3.1 Ảnh hưởng của mức bón đạm và kali đến các chỉ tiêu sinh trưởng của cải củ Song Jeong vụ Thu Đông 2013 62 4.3.2 Ảnh hưởng của các mức bón đạm và kali khác nhau tới năng suất và hàm lượng nitrat của cải củ Song Jeong vụ Thu Đông 2013 63 4.3.3 So sánh hiệu quả kinh tế với các mức bón đạm và kali khác nhau đối với cải củ Song Jeong vụ Thu Đông 2013 65 4.4 Thí nghiệm 4: Khảo nghiệm một số giống xà lách trong vụ Xuân Hè 2013 67 4.4.1 Đặc điểm cây con khi đưa ra trồng vụ Xuân Hè 2013 67 4.4.2 Thời gian sinh trưởng của các giống xà lách vụ Xuân Hè 2013 69 4.4.3 Đặc điểm hình thái của các giống xà lách vụ Xuân Hè 2013 70

Trang 8

4.4.4 Một số chỉ tiêu về sinh trưởng của xà lách vụ Xuân Hè 2013 73

4.4.5 Đặc điểm khối lượng lá và kích thước lá của các giống xà lách vụ Xuân Hè 2013 75

4.4.6 Năng suất lý thuyết và thực thu của các giống xà lách thí nghiệm vụ Xuân Hè 2013 76

4.4.7 Chất lượng các giống xà lách vụ Xuân Hè 2013 77

4.4.8 Sâu bệnh hại xà lách vụ Xuân Hè 2013 79

4.5 Thí nghiệm 5: Nghiên cứu ảnh hưởng khoảng cách trồng đến sinh trưởng và năng suất giống xà lách Ha Cheong trong vụ Thu Đông 2013 81

4.5.1 Ảnh hưởng của khoảng cách trồng khác nhau đến các chỉ tiêu sinh trưởng của xà lách Ha Cheong vụ Thu Đông 2013 81

4.5.2 Ảnh hưởng của khoảng cách trồng khác nhau đến năng suất của xà lách Ha Cheong vụ Thu Đông 2013 84

4.6 Thí nghiệm 6: Nghiên cứu ảnh hưởng của mức bón đạm và kali đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng giống xà lách Ha Cheong trong vụ Thu Đông 2013 85

4.6.1 Ảnh hưởng của mức bón đạm và kali đến các chỉ tiêu sinh trưởng của xà lách Ha Cheong trong vụ Thu Đông 2013 86

4.6.2 Ảnh hưởng của các mức bón đạm và kali khác nhau tới năng suất và hàm lượng nitrat của xà lách Ha Cheong vụ Thu Đông 2013 87

4.6.3 So sánh hiệu quả kinh tế với các mức bón đạm và kali khác nhau đối với xà lách Ha Cheong vụ Thu Đông 2013 88

PHẦN THỨ NĂM KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 90

5.1 Kết luận 90

5.2 Đề nghị 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng rau tươi trên thế giới 5

Bảng 2.2 10 quốc gia sản xuất rau xà lách lớn nhất thế giới (2010-2012) 8

Bảng 2.3 Diện tích trồng, thu hoạch, năng suất và giá trị xà lách tại Hoa Kỳ từ 2010-2012 9

Bảng 2.4 Diện tích, năng suất và sản lượng rau ở Việt Nam giai đoạn 2010-2012 11

Bảng 2.5 Kim ngạch xuất khẩu rau, hoa, quả của Việt Nam giai đoạn 2007-2013 13 Bảng 2.6 Thị trường xuất khẩu rau quả của Việt Nam tháng 11 và 11 tháng đầu năm 2013 15

Bảng 2.7 Thành phần dinh dưỡng của cải củ (trong 100gr phần ăn được) 18

Bảng 2.8 Thành phần dinh dưỡng của xà lách 27

Bảng 4.1 Thời gian sinh trưởng của các giống cải củ vụ Xuân Hè 2013 44

Bảng 4.2 Đặc điểm hình thái của các giống cải củ vụ Xuân Hè 2013 46

Bảng 4.3 Động thái ra lá các giống cải củ vụ Xuân Hè 2013 48

Bảng 4.4 Động thái tăng đường kính tán các giống cải củ vụ Xuân Hè 2013 49

Bảng 4.5 Đặc điểm khối lượng củ và kích thước củ của các giống cải củ vụ Xuân Hè 2013 51

Bảng 4.6 Năng suất lý thuyết và thực thu của các giống cải củ vụ Xuân Hè 2013 52

Bảng 4.7 Sâu bệnh hại cải củ vụ Xuân Hè 2013 56

Bảng 4.8 Ảnh hưởng của khoảng cách trồng khác nhau đến các chỉ tiêu sinh trưởng của cải củ Song Jeong vụ Thu Đông 2013 59

Bảng 4.9 Ảnh hưởng của mức bón đạm và kali đến các chỉ tiêu sinh trưởng của cải củ Song Jeong vụ Thu Đông 2013 62

Bảng 4.10 Ảnh hưởng của các mức bón đạm và kali khác nhau tới năng suất và hàm lượng nitrat của cải củ Song Jeong vụ Thu Đông 2013 64

Bảng 4.11 So sánh hiệu quả kinh tế với các mức bón đạm và kali khác nhau đối với cải củ Song Jeong vụ Thu Đông 2013 66

Trang 10

Bảng 4.12 Một số đặc điểm của cây con xà lách trước khi trồng ra nhà lưới

vụ Xuân Hè 2013 (32 ngày sau gieo) 68Bảng 4.13 Thời gian sinh trưởng của các giống xà lách vụ Xuân Hè 2013 69Bảng 4.14 Đặc điểm hình thái của các giống xà lách vụ Xuân Hè 2013 72Bảng 4.15 Động thái ra lá của các giống xà lách vụ Xuân Hè 2013 73Bảng 4.16 Động thái tăng đường kính tán của các giống xà lách vụ Xuân Hè 2013 74Bảng 4.17 Đặc điểm khối lượng lá và kích thước lá của các giống xà lách vụ Xuân Hè 2013 75Bảng 4.18 Năng suất lý thuyết và thực thu của các giống xà lách vụ Xuân Hè 2013 77Bảng 4.19 Sâu bệnh hại xà lách vụ Xuân Hè 2013 79Bảng 4.20 Ảnh hưởng của khoảng cách trồng khác nhau đến các chỉ tiêu sinh trưởng của xà lách Ha Cheong vụ Thu Đông 2013 83Bảng 4.21 Ảnh hưởng của các mức bón đạm và kali khác nhau tới các chỉ tiêu sinh trưởng của xà lách Ha Cheong vụ Thu Đông 2013 86Bảng 4.22 Ảnh hưởng của các mức bón đạm và kali khác nhau tới năng suất

và hàm lượng nitrat của xà lách Ha Cheong vụ Thu Đông 2013 87Bảng 4.23 So sánh hiệu quả kinh tế với các mức bón đạm và kali khác nhau đối với xà lách Ha Cheong vụ Thu Đông 2013 89

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1 Hình ảnh 8 giống cải củ khảo nghiệm vụ Xuân Hè 2013 47

Hình 4.2 Mặt cắt ngang các giống cải củ nghiên cứu 52

Hình 4.3 Hàm lượng chất khô, đường tổng số và vitamin C của các giống cải củ thí nghiệm vụ Xuân Hè 2013 54

Hình 4.4 Bọ nhảy sọc cong hại cải củ 57

Hình 4.5 Sâu khoang 57

Hình 4.6 Bệnh lở cổ rễ ở cây con 57

Hình 4.7 So sánh khối lượng cả cây và khối lượng củ của cải củ giữa các khoảng cách trồng khác nhau trong vụ Thu Đông 2013 60

Hình 4.8 So sánh năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của cải củ giữa các khoảng cách trồng khác nhau trong vụ Thu Đông 2013 61

Hình 4.9 Đo chiều dài rễ và đếm số rễ xà lách trước khi trồng ra nhà lưới vụ Xuân Hè 2013 (32 ngày sau nảy mầm) 68

Hình 4.10 Hình ảnh 8 giống xà lách khảo nghiệm vụ Xuân Hè 2013 71

Hình 4.11 Hàm lượng chất khô, đường tổng số và vitamin C của các giống xà lách thí nghiệm vụ Xuân Hè 2013 78

Hình 4.12 Sâu đo 80

Hình 4.13 Bệnh thối thân 80

Hình 4.14 Sâu khoang hại xà lách 80

Trang 12

MARD (NN-PTNT) : Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam

USDA : Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ

VNCRQ : Viện Nghiên cứu Rau Quả

WHO : Tổ chức Y tế Thế giới

WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 13

PHẦN THỨ NHẤT

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây rau có vị trí và tầm quan trọng hết sức to lớn đối với đời sống con người, bởi chúng cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết Rau tươi là nguồn vitamin và muối khoáng quan trọng, nhất là các chất khoáng có tính kiềm như kali, canxi, magie (trong 100gr phần ăn được rau xà lách có 238mg kali, 35mg canxi, 13mg magie; cải củ có 233mg kali, 25mg canxi, 10mg magie) (USDA nutrient database, 2013) Trong cơ thể những chất này cho những gốc tự

do cần thiết để trung hòa các sản phẩm axit do thức ăn hoặc do quá trình chuyên hóa tạo thành Đặc biệt rau có nhiều kali ở dưới dạng kali cacbonat, muối kali của các axit hữu cơ và nhiều chất khác dễ tan trong nước và dịch tiêu hóa Các muối kali làm giảm khả năng tích chứa nước của protid ở tổ chức, do đó có tác dụng lợi tiểu Các loại rau đậu, xà lách, cải củ là nguồn mangan rất tốt (xà lách chứa 0,179mg mangan/100gr,cải củ chứa 0,069mg mangan/100gr) (USDA nutrient database, 2013) Ngoài ra men trong rau tươi có ảnh hưởng tốt tới quá trình tiêu hóa, như các men của xà lách cũng có tác dụng tương tự trypsin của tuyến tụy

Trong những năm gần đây, nhu cầu của người dân về mặt hàng rau tươi ngày càng tăng lên, nhưng số lượng cung ứng cũng như chất lượng sản phẩm không được ổn định và đảm bảo Nguyên nhân chủ yếu do bộ giống rau năng suất cao, phẩm chất tốt, của nước ta còn ít, các giống sử dụng trong một thời gian dài, không tiến hành phục tráng hay lai tạo dẫn đến chất lượng giống bị thoái hóa Theo Nguyễn Quốc Vọng (2010), lượng hạt giống rau quả sử dụng tại Việt Nam năm 2009 khoảng 8000 tấn/năm Trong số này có khoảng 4160 tấn (52%) là hạt giống nhập khẩu, 3280 tấn (41%) nông dân tự giữ giống và khoảng 560 tấn (7%) do các công ty hạt giống trong nước cung cấp Chiếm gần một nửa lượng hạt giống rau sử dụng tại Việt Nam (41%) nhưng hạt

Trang 14

giống do nông dân tự giữ giống chủ yếu là các giống thụ phấn tự do (OP), không được chọn lọc, hay thoái hóa, năng suất thấp và do đó không có sức cạnh trạnh trên thị trường Trong khi hạt giống nhập nội chủ yếu là giống lai F1, kháng bệnh tốt, năng suất cao, chất lượng cao nhưng giá thành rất cao Các giống do các công ty trong nước cung ứng hiện nay còn đơn điệu, hơn 70% là giống lai F1, chỉ gồm một số chủng loại rau phổ biến như cà chua, dưa chuột, mướp đắng, ớt cay và cải xanh Giống rau Việt Nam chưa có chất lượng cao, đặc biệt chống sâu bệnh hại kém, do đó dẫn tới sự cạnh tranh với các giống ngoại càng thêm khó khăn

Từ những thách thức trên, trong khuôn khổ hợp tác nghiên cứu phát triển nông nghiệp giữa Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) và Tổng Cục Phát triển Nông thôn Hàn Quốc (RDA), việc xác định chủng loại rau và các giống rau có khả năng thích ứng cao với điều kiện Việt Nam là rất cần thiết Không những giải quyết vấn đề cung cấp một khối lượng lớn rau để xuất khẩu thu ngoại tệ, việc sản xuất rau nói chung và cải củ, xà lách nói riêng còn giúp tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người nông dân Việt Nam Góp phần giúp các cơ quan quản lý cũng như nông dân tổ chức sản xuất theo quy mô hàng hoá, đạt giá trị kinh tế cao Nhằm góp phần thêm vào việc tìm ra một số giống rau triển vọng, có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt và cho năng suất cũng như chất lượng thương phẩm cao, thích hợp với điều kiện canh tác chính vụ cũng như trái vụ ở Việt Nam, do đó chúng tôi tiến hành đề

tài: “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng xà lách và cải củ nhập nội tại Gia Lâm - Hà Nội”

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích của đề tài

Xác định được giống xà lách và cải củ triển vọng trồng với mật độ và liều lượng phân bón thích hợp trong điều kiện vụ Xuân Hè và Thu Đông tại

Trang 15

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

Đánh giá đặc điểm nông sinh học, năng suất, chất lượng của các giống

xà lách và cải củ trong vụ Xuân Hè 2013, tại Gia Lâm – Hà Nội

Xác định mật độ trồng thích hợp đối với giống xà lách và cải củ triển vọng trong vụ Thu Đông 2013, tại Gia Lâm – Hà Nội

Nghiên cứu ảnh hưởng của mức bón đạm và kali khác nhau đến năng suất và chất lượng các giống xà lách và cải củ triển vọng trong vụ Thu Đông

2013, tại Gia Lâm – Hà Nội

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

Công tác tuyển chọn giống cải củ và xà lách mới phù hợp trồng trên điều kiện Gia Lâm – Hà Nội với biện pháp kỹ thuật bón phân và mật độ trồng hợp lý đồng bộ là cần thiết trước khi triển khai trên diện tích rộng hơn

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Kết quả thực hiện đề tài góp phần tìm ra giống rau cải củ và xà lách triển vọng, đạt năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt nhằm đáp ứng yêu cầu của sản xuất rau

Trang 16

PHẦN THỨ HAI TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Tình hình nghiên cứu, sản xuất, tiêu thụ rau trên thế giới và ở Việt Nam 2.1.1 Tình hình nghiên cứu, sản xuất, tiêu thụ rau trên thế giới

* Sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới

Nhu cầu tiêu thụ rau của người dân ngày càng cao, do dó diện tích cũng như sản lượng rau ngày càng tăng Trên toàn cầu, sản xuất rau đã phát triển mạnh mẽ đặc biệt trên cơ sở bình quân đầu người, đã tăng 60 % trong vòng

20 năm qua Lượng tiêu thụ rau bình quân theo đầu người là 110 kg/người/năm (250-300g/người/ngày), FAO (2012), cao hơn rất nhiều so với những năm trước, mỗi người chỉ tiêu thụ 63kg/người/năm (154-172g/người/ngày), FAO (2006)

Số liệu thống kê năm 2014 của Tổ chức Nông lương Thế giới cho thấy: Châu Á vẫn là châu lục đứng đầu về diện tích trồng rau trên toàn thế giới, diện tích này không ngừng gia tăng trong những năm gần đây, từ 13,97 triệu

ha năm 2008 đã tăng thêm 1,17 triệu ha năm 2012, năm 2012 diện tích trồng rau đạt 15,14 triệu ha Châu Phi là châu lục có diện tích trồng rau nhỏ nhất thế giới, năm 2012 diện tích mới chỉ đạt 0,04 triệu ha

Năng suất rau tươi các châu lục cũng không có sự khác nhau đáng kể, Châu Phi có năng suất rau thấp nhất, nguyên nhân chủ yếu do điều kiện khí hậu không thuận lợi, năng suất chỉ đạt 79,41 tạ/ha, bằng 0,43 lần so với Châu

Âu, châu lục có năng suất rau tươi cao nhất thế giới (186,99 tạ/ha năm 2012) Các Châu lục khác năng suất rau trung bình đạt từ 15-17 tấn/ha

Trang 17

Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng rau tươi trên thế giới

Dương 0,03 0,03 0,03 0,03 0,04 Thế giới 17,49 18,06 18,87 18,84 18,96

Năng

suất

(tạ/ha)

Châu Á 169,55 164,49 166,34 167,12 168,85 Châu Âu 180,74 183,49 178,46 187,82 186,99 Châu Phi 75,82 70,47 72,48 77,81 79,42 Châu Mỹ 135,23 125,26 128,06 147,32 147,87 Châu Đại

Dương 176,54 179,21 172,05 164,52 164,57 Thế giới 156,85 151,88 152,55 155,33 156,89

Sản

lượng

(triệu tấn)

Châu Á 214,96 215,17 225,37 228,16 231,96 Châu Âu 11,09 11,43 10,96 11,70 11,49 Châu Phi 15,47 147,75 17,18 17,82 18,29 Châu Mỹ 6,79 6,96 7,10 7,27 7,54 Châu Đại

Dương 0,55 0,58 0,56 0,55 0,56 Thế giới 248,87 248,92 261,18 265,52 269,85

Nguồn: FAOSTAT, 2014

Trong những năm gần đây, cùng với việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, các loại rau năng suất cao, phẩm chất tốt, kháng bệnh được đưa vào sản xuất phổ biến Với việc áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất đã làm cho

Trang 18

năng suất rau của nhiều nước trên thế giới tăng đáng kể Một số nước có diện tích trồng rau năm 2012 không lớn nhưng lại tạo ra một tiềm năng năng suất rau rất cao như Hoa kỳ với 11000 ha (năng suất 851,79 tạ/ha), Hàn Quốc

72000 ha (năng suất 505,23 tạ/ha), Tajikistan 5700 ha (năng suất 498,17 tạ/ha), Jordan 2550 ha (năng suất 389,05 tạ/ha), New Zealand 4000 ha (năng suất 385,81 tạ/ha), Đức với 12683 ha (năng suất 341,61 tạ/ha) ở Việt Nam năng suất rau cũng tương đối cao so với các nước trên thế giới, 126,44 tạ/ha (FAOSTAT, 2014)

Hình 2.1 10 quốc gia sản xuất rau tươi lớn nhất thế giới năm 2012

Trang 19

tấn so với năm 2010 và tăng 1,8 triệu tấn so với năm 2011 Trong đó, sản lượng chủ yếu do Trung Quốc sản xuất ra (57%), Mỹ (17%) và Ấn Độ (4%) Trung Quốc là nước dẫn đầu về sản xuất rau xà lách, năm 2010 là 13004,9 nghìn tấn, năm 2011 là 13434,5 nghìn tấn, tăng 429,6 nghìn tấn so với năm

2010 Mặc dù Trung Quốc là nước dẫn đầu thế giới về sản xuất xà lách, nhưng phần lớn sản phẩm sản phẩm sản xuất ra chỉ phục vụ nhu cầu tiêu thụ nội địa Mặt khác Tây Ban Nha, một nước trong Liên minh Châu Âu, là nước đứng thứ tư về sản xuất rau xà lách, năm 2010 chỉ đạt 809,4 nghìn tấn (tổng sản lượng xà lách sản xuất của Liên minh Châu Âu đạt gần 3 triệu tấn năm 2010), đến năm 2011 đạt 868,4 nghìn tấn, tăng 59,0 nghìn tấn so với năm

2010, nhưng lại là nước xuất khẩu xà lách lớn nhất thế giới Tiếp sau là Mỹ, đứng thứ hai về sản lượng xà lách xuất khẩu (Usue và cộng sự, 2013)

Tây Âu và Bắc Mỹ là những thị trường chính ban đầu cho sản xuất rau

xà lách quy mô lớn Vào cuối năm 1900, châu Á, Nam Mỹ, Úc và châu Phi đã trở thành những thị trường tiềm năng hơn Các nước khác nhau có xu hướng

ưa thích các loại rau xà lách khác nhau, với loại xà lách bắp cuộn phổ biến ở các nước Bắc Âu và Vương quốc Anh, loại xà lách lá dài ở Địa Trung Hải và

xà lách cho thu hoạch thân tiêu thụ nhiều ở Trung Quốc và Ai Cập Vào cuối thế kỷ 20, nhu cầu về các loại rau xà lách này bắt đầu có sự thay đổi, giống xà lách bắp cuộn chiếm ưu thế ở Bắc Âu và Vương quốc Anh và phổ biến hơn ở Tây Âu Sau những năm 1940, với sự phát triển của giống xà lách bắp cuộn, chúng dần dần chiếm tới 95% rau xà lách trồng và tiêu thụ ở Mỹ Đến cuối thế kỷ này, nhu cầu về các loại xà lách khác bắt đầu phổ biến và cuối cùng chiếm hơn 30% các giống trong sản xuất (Daniel và William, 2012), loại xà lách cho thu hoạch thân vẫn chủ yếu được trồng và tiêu thụ ở Trung Quốc (Simoons và Frederick , 1991)

Trang 20

Bảng 2.2 10 quốc gia sản xuất rau xà lách lớn nhất thế giới (2010-2012)

STT Quốc gia

2010 2011 2012 Diện

tích (nghìn ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

Diện tích (nghìn ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

Diện tích (nghìn ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

2012 tăng thêm 12,5 nghìn ha Mỹ là quốc gia giữ ổn định về diện tích gieo trồng xà lách Ấn Độ cũng gia tăng về diện tích trồng xà lách, từ 160,4 nghìn

ha đã tăng thêm 7 nghìn ha năm 2011 và đến năm 2012 đã tăng thêm 9,6 nghìn ha nữa Duy nhất có Ý là quốc gia tính đến năm 2012 diện tích trồng rau đã giảm đi 25,8 nghìn ha (so với năm 2011), chỉ còn có 15,5 nghìn ha năm

2012 (năm 2011 là 41,3 nghìn ha)

Đến năm 2012, 75 % sản lượng xà lách được sản xuất ở Hoa Kỳ đến từ

Trang 21

Bảng 2.3 Diện tích trồng, thu hoạch, năng suất và giá trị xà lách tại Hoa

Kỳ từ 2010-2012

Bang Năm

Diện tích trồng (ha)

Diện tích thu hoạch (ha)

Năng suất (nghìn tấn)

Tổng giá trị (triệu $)

Arizona

2011 655,0 646,0 1053,3 826,8

2012 643,0 640,0 1109,6 423,6 California

2010 2065,0 2025,0 3600,9 1605,3

2011 1971,0 1952,0 3506,1 1615,3

2012 2028,0 1997,0 3231,0 1448,0 Hoa Kỳ

ăn sa lát 3 lần/tuần, có nghĩa là rau xà lách rất có tiềm năng để tăng lượng tiêu thụ ở các nước Châu Âu và Mỹ

Các phương pháp sản xuất rau xà lách khác nhau như sản xuất thủy canh, sản xuất trong nhà có mái che, sản xuất đại trà ngoài đồng ruộng ngày càng được áp dụng một cách rộng rãi trong thế kỷ 20 Phần lớn các phương pháp sản xuất nông nghiệp thời kỳ này được thực hiện với việc áp dụng một lượng lớn hóa chất, trong đó có phân bón và thuốc trừ cỏ, thuốc trừ sâu, nhưng sản xuất nông nghiệp hữu cơ cũng dần dần chiếm một tỷ lệ ngày càng lớn trên thị trường - một xu hướng mới nhưng lúc này chỉ một số người trồng

Trang 22

với quy mô nhỏ, và cũng từ đó dần hình thành nên một phương pháp sản xuất nông nghiệp hữu cơ phổ biến Trong những năm đầu của thế kỷ 21, sản xuất đóng gói sản phẩm xà lách bắt đầu hình thành và ngày càng tăng trên thị trường rau xà lách, đặc biệt là ở Mỹ Sản phẩm xà lách sản xuất không đảm bảo an toàn về chất lượng trước đây không được chấp nhận được cho các thị trường mới, các sản phẩm được đóng gói dần chiếm ưu thế không những về chất lượng đảm bảo mà còn kéo dài hơn tuổi thọ của xà lách sau khi thu hoạch (Fulmer và Melinda, 2002)

- Cải củ:

Không có nhiều số liệu về sản xuất cải củ trên thế giới và ở Việt Nam trong những năm qua Theo số liệu thu thập, sản lượng cải củ hàng năm của thế giới khoảng 7 triệu tấn/năm, chiếm 2% sản lượng rau toàn thế giới Cải củ đóng vai trò quan trọng trong các loại rau ở Nhật bản, Hàn quốc và Đài Loan Năm 2002, các nước vùng Đông nam Á như Indonexia sản lượng cải củ là 27.800 tấn/năm, Malaixia 1.250 tấn/năm, Philipin 9.000 tấn/năm, Thái lan 32.000 tấn/năm

Ở Việt Nam cải củ được thống kê kết hợp với các cây họ cải khác như cải bắp, su hào, su lơ, cải canh… Diện tích rau cải các loại mỗi năm trên 60.000 ha, với năng suất trung bình đạt 15-17 tấn/ha, sản lượng rau cải các loại của cả nước đạt khoảng 900.000 tấn (Tổng cục Thống kê, 2008-2010)

2.2.2 Tình hình nghiên cứu, sản xuất, tiêu thụ rau ở Việt Nam

* Sản xuất và tiêu thụ rau ở Việt Nam:

Việt Nam có vị trí địa lý trải dài qua nhiều vĩ độ, khí hậu nhiệt đới gió mùa và có một số vùng tiểu khí hậu đặc biệt như Sa Pa, Tam Đảo, Đà Lạt…,

có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho sản xuất rau Việt Nam có thể trồng được trên 120 loại rau có nguồn gốc nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và cùng với các tiến bộ khoa học công nghệ, các loại rau trái vụ được sản xuất nhằm đáp

Trang 23

ứng nhu cầu tiêu dùng và phục vụ chế biến xuất khẩu Sản xuất rau có xu hướng ngày càng mở rộng về diện tích và sản lượng tăng đồng thuận

Bảng 2.4 Diện tích, năng suất và sản lượng rau ở Việt Nam

giai đoạn 2010-2012

Năm Các vùng Diện tích

(nghìn ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam, 2013

Từ bảng số liệu 2.4 cho thấy: trong những năm gần đây diện tích rau của Việt Nam phát triển nhanh chóng và ngày càng có tính chuyên canh cao Năm 2010 cả nước trồng được 782,4 nghìn ha, năm 2011 là 805,6 nghìn ha, tăng 23,2 nghìn ha Năm 2012 diện dích trồng rau của nước ta tăng lên rất nhiều, đạt 829,9 nghìn ha, tăng 47,5 nghìn ha so với năm 2010, tăng 24,3 nghìn ha so với năm 2011

Sản lượng rau của nước ta tăng lên đánh kể qua các giai đoạn Năm

2010 cả nước thu hoạch được từ 12967,6 nghìn tấn, năm 2011 là 13416,5 nghìn tấn, tăng 448,9 nghìn tấn so với năm 2010, và đến năm 2012, sản lượng

Trang 24

rau đã đạt 13992,4 nghìn tấn, tăng 1024,8 tấn so với năm 2010 và tăng 575,9 nghìn tấn so với 2011

Hiện nay rau được sản xuất theo 2 phương thức: tự cung tự cấp và sản xuất hàng hoá, trong đó rau hàng hoá tập trung chính ở 2 khu vực:

- Vùng rau chuyên canh tập trung ven thành phố, khu tập trung đông dân cư Sản phẩm chủ yếu cung cấp cho dân phi nông nghiệp, với nhiều chủng loại rau phong phú (gần 80 loài với 15 loài chủ lực), hệ số sử dụng đất cao (4,3 vụ/năm), trình độ thâm canh của nông dân khá, song mức độ không

an toàn sản phẩm rau xanh và ô nhiễm môi trường canh tác rất cao

- Vùng rau luân canh: đây là vùng có diện tích, sản lượng lớn, cây rau được trồng luân canh với cây lúa hoặc một số cây màu Tiêu thụ sản phẩm rất

đa dạng: phục vụ ăn tươi cho cư dân trong vùng, ngoài vùng, cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu

- Sản xuất rau theo hướng nông nghiệp công nghệ cao đã bước đầu được hình thành như: sản xuất trong nhà màn, nhà lưới chống côn trùng, sản xuất trong nhà mái che nilon không cố định để hạn chế tác hại của các yếu tố môi trường bất lợi, trồng rau bằng kỹ thuật thuỷ canh, màng dinh dưỡng, nhân giống và sản xuất các loại cây quí hiếm, năng suất cao bằng công nghệ nhà kính của Israel có điều khiển kiểm soát các yếu tố môi trường

Theo số liệu Tổng cục Thống kê năm 2010, bình quân sản lượng rau trên đầu người thu ở đất nông nghiệp ở Việt Nam khá cao so với các nước trong khu vực, năm 2009 đạt 141,49 kg/người/năm Tuy nhiên, phân bố không đều có những tỉnh như Lâm Đồng bình quân sản lượng rau trên đầu người đạt từ 800-1100 kg/người/năm Đây là vùng sản xuất rau hàng hoá lớn nhất cả nước, cung cấp rau cho cả nội tiêu và xuất khẩu Sơn La bình quân rau trên đầu người thấp chỉ khoảng 40-55 kg/người/năm đáp ứng nhu cầu nội tỉnh

và 1 phần cung cấp rau trái vụ cho thị trường Hà Nội

Trang 25

Rau được coi là nhóm cây trồng cấu thành thành phần quan trọng với chế độ ăn uống của con người, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Tuy nhiên, mức thiêu thụ rau trên đầu người ở các nước phát triển có chiều hướng cao hơn các nước đang phát triển, có thể là bởi vì họ có sự đánh giá cao hơn

về giá trị dinh dưỡng của cây trồng này (Trần Văn Lài, 2002)

* Xuất khẩu rau quả:

- Kim ngạch xuất khẩu rau quả:

Cùng với việc gia tăng diện tích và sản lượng mặt hàng rau quả, kim ngạch xuất khẩu rau quả giai đoạn 2007-2013 đã có những chuyển biến tương đối tích cực Đặc biệt là từ khi trở thành thành viên chính thức thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO

Bảng 2.5 Kim ngạch xuất khẩu rau, hoa, quả của Việt Nam giai đoạn

2007-2013

Năm Tổng kim ngạch Kim ngạch rau Tỷ trọng rau/ rau

Nguồn: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2013

Theo nhận định của Bộ Công Thương, mặt hàng rau quả phải đến năm

2015 mới có khả năng đạt kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ USD/năm Nguyên nhân

là trong một thời gian khá dài, từ cuối thập niên 1990, đầu thập niên 2000, việc xuất khẩu mặt hàng rau quả tăng trưởng rất chậm Từ năm 2007 trở lại

Trang 26

đây, việc xuất khẩu mặt hàng này bắt đầu khởi sắc khi tốc độ tăng trưởng nhanh hơn bình quân 20- 25%/năm Nếu như năm 2007 kim ngạch xuất khẩu rau quả chỉ đạt 400 triệu USD, thì đến năm 2012 tăng lên 805 triệu USD Và hết năm 2013, kim nghạch xuất khẩu rau quả đạt được 965 triệu USD

- Thị trường xuất khẩu rau quả:

Dưới tác động của hội nhập, xuất khẩu rau quả của Việt Nam đã có những bước phát triển mới Xu hướng hội nhập đã mở ra những cơ hội, điều kiện mở rộng thị trường và là điều kiện tốt cho sản xuất phát triển Trong những năm vừa qua, thị trường rau quả có xu hướng phát triển nhanh Trước năm 1991, rau quả của Việt Nam xuất khẩu chủ yếu là ở Liên Xô cũ, các nước Đông Âu và thị trường các nước Xã hội chủ nghĩa (chiếm 98% sản lượng xuất khẩu) Tuy nhiên ngay sau đó, khi mà các nước này thay đổi chế

độ thì việc xuất khẩu của chúng ta rơi vào thế bế tắc, gặp nhiều khó khăn Từ giai đoạn 2000 trở lại đây, cùng với sự gia tăng kim ngạch đáng kể, chúng ta cũng từng bước chuyển hướng và tìm được các bạn hàng lớn

Đến nay rau quả Việt Nam đã có mặt ở 40 thị trường trên thế giới Nhờ vậy hoạt động sản xuất và xuất khẩu rau nước ta ngày càng phát triển, với các sản phẩm xuất khẩu tập trung ở dạng tươi và đã qua chế biến: ở dạng tươi, gồm các loại rau như: bắp cải, hành tỏi, khoai tây, rau gia vị, đậu các loại, củ quả… còn rau chế biến chủng loại phong phú hơn bao gồm: sấy khô, đóng hộp, muối chua… Xuất khẩu sang một số thị trường đạt kim ngạch tương đối lớn nhưng số thị trường cho kim ngạch xuất khẩu trên 20 triệu USD trở lên trong năm 2013 còn ít, chỉ có 10 thị trường thường xuyên đạt mức kim ngạch này gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Nga, Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc, Đài Loan, Hà Lan, Singapore

Trang 27

Bảng 2.6 Thị trường xuất khẩu rau quả của Việt Nam tháng 11 và

11 tháng đầu năm 2013

(ĐVT: Triệu USD)

Thị trường 11/2013

11 tháng năm /2013

11/2013 so với 10/2013 (%)

So sánh 11 tháng 2013 và

Trang 28

Trung Quốc hiện là thị trường xuất khẩu rau quả lớn nhất của Châu Á đồng thời cũng là thị trường xuất khẩu rau quả lớn nhất của Việt Nam Thị trường này có nhiều thuận lợi cho xuất khẩu rau quả tươi do một phần do gần với nước ta về địa lý, một phần do các nước EU, Nhật Bản, Mỹ kiểm soát rất chặt về chất lượng từ trồng, thu hái đến bảo quản sản phẩm khiến người trồng rau quả của Việt Nam gặp không ít khó khăn Nhưng để phát triển lâu dài, việc nâng cao chất lượng là bắt buộc, càng làm nhiều với thị trường khó tính, chất lượng sản phẩm và tính chuyên nghiệp của các nhà sản xuất và xuất khẩu Việt Nam mới càng được nâng cao Trong tháng 11/2013 với kim ngạch đạt hơn 24 triệu USD, tăng 17,57% so với tháng trước đó, và so với cùng kỳ tăng hẳn 39,37%

Thị trường Nhật bản là thị trường xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam Đây là thị trường có mức sống của người dân cao nên nhu cầu của người dân

về hàng hóa rất cao và đa dạng Thị trường rau quả tươi của Nhật Bản hầu như có truyền thống tự cung cấp các sản phẩm từ địa phương Tuy nhiên, sản xuất trong nước cũng chỉ đáp ứng được khoảng 60% nhu cầu trái cây do thời tiết xấu, việc sản xuất nông nghiệp dù rất tiên tiến nhưng vẫn khó cạnh tranh

so với trái cây nhập khẩu do giá thành rất cao Mặt khác, ngành nông nghiệp nước này đang phải đối đầu với nhiều khó khăn do người Nhật ngày càng già

đi và thanh niên ít có xu hướng muốn làm việc trong ngành nông nghiệp, nên đối với mặt hàng rau quả Nhật Bản vẫn phải tăng khối lượng nhập khẩu Đây

là cơ hội lớn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam bởi vì có sự khác biệt giữa các mùa vụ, khác biệt về chủng loại rau quả do khác biệt về vùng khí hậu và giá xuất khẩu rau quả của Việt Nam khá cạnh tranh

Thị trường Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu rau quả lớn thứ ba của Việt Nam Từ khi bắt đầu xuất khẩu rau quả sang thị trường này (năm 2005) đến nay, kim ngạch xuất khẩu rau quả liên tục tăng từ 15 – 20% Thống kê cho

Trang 29

thấy kim ngạch xuất khẩu rau quả sang thị trường Hoa Kỳ đạt 46,9 triệu USD,

tăng 30,33% so với cùng kỳ 2012

Ngoài ba thị trường hàng đầu về xuất khẩu rau quả của Việt Nam là Trung Quốc, Nhật Bản và Hoa Kỳ, thị trường các nước ASEAN, EU cũng đang ngày càng được quan tâm và nâng cao kim ngạch xuất khẩu

2.2 Cây cải củ (Raphanus sativus L.)

2.2.1 Giới thiệu về cây cải củ

Cải củ thuộc họ Thập tự Brassicacea, chi Raphanus, loài R Sativus là

loại rau ăn củ được trồng phổ biến cả vùng nhiệt đới và ôn đới, cả trong nhà

kính và ngoài đồng Việc tìm ra một số loài hoang dại Raphanus spp giữa

vùng Đông Địa Trung Hải và vùng biển Caspian đã minh chứng rằng cải củ được phát sinh trong khu vực thuộc Châu Âu và tiểu Châu Á Panetsos và

Baker (1967), suy đoán rằng chúng có thể phát nguyên từ một loài của R Sativus, loài Niger Giả thuyết này cũng tương đồng với ý kiến của Aleksandar và cộng sự (2012), cải củ được thuần hóa sớm nhất ở Châu Âu trong thời kỳ tiền La Mã

Cải củ là loại cây một năm hay hàng năm, tùy thuộc vào giống, mục đích sử dụng cũng như đặc điểm hình thái của chúng Loại củ nhỏ phù hợp ăn salat thường ngắn ngày, ưa điều kiện khí hậu mát mẻ; loại củ lớn hơn có dải

nhiệt độ thích ứng rộng hơn R Sativus L Có bộ nhiễm sắc thể 2n = 18, có bốn loài cải củ R Sativus L đã được công nhận, đó là các loài: Radicula, Niger, Mougri và Oleifera, hai loài đầu được trồng chủ yếu để thu củ, còn loài Oleifera được trồng chủ yếu để lấy hạt sản xuất dầu Các giống này có thể

giao phấn tự do cũng như lai tạo được với các giống Raphanus spp hoang dại Cải củ của giống Niger là một thực phẩm quan trọng của người Ai Cập,

có lẽ là sớm nhất khoảng 2000 năm trước Công nguyên và đã di thực tới Trung Quốc khoảng 500 năm trước Công nguyên, tới Nhật Bản 700 năm sau Công nguyên (Kay, 1987)

Trang 30

Củ có thể tròn, ovan hoặc dài Củ ăn nổi trên mặt đất, lá thưa, dọc nhỏ

và ngắn Độ dài trung bình củ 18-20 cm, đường kính củ 3-5 cm Ngày nay có nhiều giống mới được chọn tạo ra với kích thước củ rất lớn Các rễ dinh dưỡng kém phát triển, do đó chịu hạn, chịu úng kém

• Giá trị kinh tế và sử dụng của cây cải củ

Cải củ (Raphanus sativus L.) là cây ngắn ngày, dễ trồng nên góp phần

giải quyết rau giáp vụ và rải vụ rau trong năm, tạo công ăn việc làm cho nông dân Cung cấp nguyên liệu cho công nghệ chế biến thực phẩm

Thành phần dinh dưỡng của cải củ (trong 100 gram phần ăn được) được thể hiện trong bảng 2.7

Bảng 2.7 Thành phần dinh dưỡng của cải củ (trong 100gr phần ăn được)

Nguồn: USDA database, 2013

Cải củ được sử dụng đa dạng như nấu, muối chua, nấu súp, dùng làm sa lát, một số nơi có thể ăn sống, phơi khô để chế biến Ngoài ra cải củ còn được xếp vào nhóm cây dược liệu để chữa các bệnh về đường tiêu hoá (đau vùng thượng vị, ợ chua, ăn không tiêu, chướng bụng, táo bón) Tập trung nhất vào

Trang 31

nhóm chữa bệnh đường hô hấp (ho, hen, đờm, xuyễn, tức ngực, khản tiếng, mất tiếng, ho ra máu, lao) Ngoài ra còn chữa một số bệnh đường tiết niệu, bệnh về máu, còn có công dụng đặc biệt là giải độc do ngộ độc than, ga, rượu, hàn the và ngộ độc nhân sâm (Trần Khắc Thi và cộng sự, 2008)

Yêu cầu ngoại cảnh của cây cải củ

Cây cải củ có vụ chính thường được gieo trồng trong tháng 10 Do là cây ưa nhiệt độ lạnh và lạnh vừa phải nên có thể chịu được lạnh hoăc sương

mù Nhiệt độ thích hợp cho cải củ sinh trưởng 18-20oC Cải củ có khả năng chịu rét, giới hạn chịu nhiệt độ thấp là 4oC Nhiệt độ thích hợp cho cải củ năng suất cao và phẩm chất tốt là 16- 18oC, và nhiệt độ đất là 18-23oC (Joe Masabni, 2011) Độ ẩm đất thích hợp nhất là 60-80% Thời kỳ bộ phận trên mặt đất sinh trưởng mạnh, rễ củ phình to cây cần nhiều nước, nếu đất bị khô hạn rễ củ nhỏ, vỏ dầy, chất lượng củ sẽ giảm

Cây cải củ yêu cầu cường độ ánh sáng trung bình để sinh trưởng phát triển Cải củ cần ít nhất 6 tiếng chiếu sáng mỗi ngày để sinh trưởng tốt, tuy nhiên một số giống ngày nay có thể chịu đựng được số giờ chiếu sáng thấp hơn Các giống cải củ dùng cho lấy hạt phản ứng với ánh sáng ngày dài, do cần phân hóa ngồng hoa, còn lại các giống cải củ ăn củ phản ứng với ánh sáng ngày ngắn Tuy nhiên có nhiều giống ít phản ứng với thời gian chiếu sáng như các giống cải củ Hàn Quốc, nên có thể trồng nhiều vụ quanh năm

Đất thích hợp cho việc gieo trồng cải củ là đất thịt nhẹ, hay cát pha sét nhẹ, đất sét nặng làm củ bị biến dạng (Kay, 1987), đất có tầng canh tác dày, tưới tiêu thuận tiện, độ pH khoảng 6,5 - 6,7, đất có pH thấp hơn 6,5 thì cần bón bổ sung vôi (Joe Masabni, 2011)

2.2.2 Một số nghiên cứu về cây cải củ

Trên thế giới:

- Nghiên cứu chọn tạo giống và sản xuất giống:

Trang 32

Nghiên cứu chọn tạo cải củ được tập trung chủ yếu vào các giống có củ tròn màu đỏ, củ ovan màu đỏ hay củ trắng bằng phương pháp chọn lọc tổng hợp, kết hợp chọn lọc phả hệ, do đó dẫn tới một mức độ không đồng nhất tồn tại trong tất cả các giống, được thể hiện ra trong hình dạng củ, và ít thể hiện trong mầu sắc củ (George và Evans, 1981)

Phương pháp để giống thông thường là cho thụ phấn tự do Từ những năm 1980 của thế kỷ trước, các nhà khoa học đã sử dụng các dòng cải củ tự bất hợp hoặc bất dục đực nhân (hoặc tế bào chất) để làm vật liệu cho lai tạo Nội dung của công tác lai tạo là tạo giống năng suất cao, đồng đều, chín sớm, chống chịu với một số bệnh chủ yếu, chịu được những bất thuận của môi trường như chịu nhiệt, có chất lượng tốt như hàm lượng vitamin C, vitamin B, mầu sắc, dạng hình Nghiên cứu của Zaki và cộng sự (2011) về đặc điểm hình thái và giải phẫu của 3 dòng cải củ: cải củ dạng củ dài, dạng củ tròn và dạng

củ nhỏ đã đưa ra kết luận rằng ở giai đoạn 4 tuần sau trồng, 2 dạng củ dài và tròn rất nhanh phát triển về đường kính củ, còn dạng củ nhỏ hầu như không phát triển về cả đường kính lẫn chiều dài củ

Cùng với sự phát triển ngành công nghệ sinh học, việc nghiên cứu nuôi cấy bào tử và sử dụng dòng đơn bội kép (double haploid) trong chọn giống cải cho sinh trưởng, năng suất thương phẩm và năng suất hạt, hàm lượng dầu cao hơn hẳn so với các dòng bố mẹ

- Về nghiên cứu các biện pháp canh tác:

Xác định điều kiện thích hợp cho sự nảy mầm của hạt cải được kết luận như sau: tỷ lệ nảy mầm và sức sống cây con tăng dần từ 15-35oC, thích hợp nhất là 25-30oC Chế độ ánh sáng không ảnh hưởng nhiều đến nảy mầm của hạt (Tossi, 2007) Nghiên cứu của Chen và cộng sự (2009), cho thấy cường

độ ánh sáng, liều lượng phân bón và giống đều ảnh hưởng đến hàm lượng nitrate, đạm tổng số, hàm lượng lưu huỳnh và năng suất cải củ Trung tâm

Trang 33

(IPM) bằng phương pháp sinh học, cơ học và các biện pháp canh tác để hạn chế sâu bệnh hại, bảo vệ sức khoẻ cộng đồng và giảm ô nhiễm môi trường

Nghiên cứu của Asil và cộng sự (2009) về ảnh hưởng của mật độ hạt giống và khoảng cách cây trồng đến năng suất và sinh trưởng của giống cải củ

Longipinatus tại Iran đã xác định được lượng hạt giống 5kg/ha, và khoảng cách cây 20x20cm cho năng suất cao nhất 45,4 tấn/ha

Nghiên cứu của Pervez và cộng sự (2002) về khoảng cách trồng và lượng nitơ bón cho cải củ ở Pakistan xác định được với khoảng cách trồng 10x10cm và lượng phân bón 100kgN/ha, cải củ ở Pakistan cho đường kính củ 3,9cm, chiều dài củ 26,3cm, tổng số lá 12,2 lá/cây, thu được năng suất cao nhất 24,6 tấn/ha

Nghiên cứu của Jilani và cộng sự (2007), về ảnh hưởng của nitơ đến sinh trưởng và năng suất của cải củ trồng vụ Đông tại Pakistan đã kết luận rằng lượng phân bón ở mức 200kgN + 65kgP2O5 + 100kgK2O/ha cho năng suất cải củ cao nhất đạt 99,8 tấn/ha Khi bón 100kgN + 65kgP2O5 + 100kgK2O/ha, cải củ ở Pakistan, các chỉ tiêu sinh trưởng của cải củ lần lượt là 16,7 lá/cây, khối lượng lá 92,8g/cây, chiều dài lá 27,9cm, khối lượng củ 118,9g/củ, chiều dài củ 19,6cm, đường kính củ 2,6cm/củ, tỷ lệ củ/lá 1,3, năng suất đạt 70,5 tấn/ha

Tại Việt Nam:

- Về nghiên cứu chọn tạo giống:

Ở Việt Nam các giống cải củ chủ yếu là các giống địa phương hoặc giống được chọn lọc từ các giống nhập nội Các đề tài nghiên cứu và chọn lọc phục tráng ở trong nước còn hạn chế và nhỏ lẻ tại một số công ty để giải quyết hạt

giống lẫn tạp

Dưới đây là một số giống tiêu biểu

- Cải củ Tứ Liên: Là giống địa phương được trồng lâu đời tại xã Tứ Liên, Từ Liêm, Hà Nội Củ trắng thuôn dài, lá có màu xanh nhạt, lá hơi gợn

Trang 34

sóng, lá xẻ thùy nông, tỷ lệ củ/lá cao Thời gian sinh trưởng 45-50 ngày Thời

vụ gieo trồng từ tháng 8 đến tháng 10 hàng năm, củ ít xơ, năng suất đạt 35-40 tấn/ha

- Cải củ số 8: Do Viện Cây Lương Thực và Cây Thực Phẩm chọn tạo từ giống cải củ có nguồn gốc từ Thái Lan Củ trắng thuôn dài, củ ít xơ không bị lục hóa và hóa bấc muộn, vì vậy thời gian thu hoạch kéo dài, lá có màu xanh nhạt, lá hơi gợn sóng, xẻ thùy nông, tỷ lệ củ/lá cao Thời gian sinh trưởng 45-

50 ngày Thời vụ gieo trồng từ tháng 8 đến tháng 10 hàng năm, năng suất đạt 35-40 tấn/ha

- Cải củ Thái Bình: Là giống địa phương được trồng lâu đời tại xã Vũ

Lễ, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, hiện nay giống cải củ này đang được trồng trong vụ sớm từ tháng 6 tới tháng 9 Củ trắng ngà, củ ngắn, lá có màu xanh vàng, xẻ thùy nông, thời gian sinh trưởng từ 40-45 ngày Năng suất đạt 30-35 tấn/ha Giống đã được Viện Nghiên cứu Rau quả phục tráng giống từ 2009-

2012 và đưa lại cho sản xuất (Tô Thị Thu Hà và cộng sự, 2012)

- Cải củ Đầm Hà: Củ cải Đầm Hà là giống đặc sản địa phương, được

trồng từ bao đời nay ở các xã Đầm Hà, Đại Bình, Quảng Lợi, Tân Lập, Tân Bình Do sự phù hợp của giống với điều kiện tiểu sinh thái của vùng nên cải

củ Đầm Hà sinh trưởng phát triển tốt cho năng suất cao, củ to, màu trắng, có hương vị đặc biệt cay dịu, cải củ chứa nhiều nước, hàm lượng đường cao, ăn mát Cải củ Đầm Hà đã được Viện Nghiên cứu Rau quả phục tráng giống Trong giai đoạn 2013-2014, UBND huyện Đầm Hà đang đề xuất Dự án tạo lập, quản lý và phát triển nhãn hiệu tập thể cải củ sơ chế Đầm Hà (Viện NCRQ, 2012)

- Một số giống nhập nội như cải củ TN45 có nguồn gốc Ấn Độ do Công ty Trang Nông phân phối, Long White của Trung Quốc cũng được sử dụng rộng rãi

Trang 35

- Về nghiên cứu các biện pháp canh tác:

Ngày nay, trong xu hướng sản xuất thâm canh, cùng với việc gia tăng

về diện tích cũng như sản lượng rau thì việc ứng dụng ồ ạt hóa chất, thuốc BVTV và phân bón hóa học thiếu chọn lọc đã dẫn đến những lo ngại về sự an toàn của sản phẩm rau cũng ngày càng gia tăng Do vậy, việc nghiên cứu và

áp dụng quy trình sản xuất rau thương phẩm an toàn theo hướng VietGAP là rất cần thiết Nghiên cứu của Tô Thị Thu Hà và cộng sự (2012) đã xác định các yếu tố thời vụ, mật độ, phân bón thích hợp cho giống cải củ Thái Bình phục tráng

Tóm lại, mặc dù cải củ có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao nhưng việc nghiên cứu chọn tạo giống và nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác cải củ ở nước ta còn chưa được quan tâm nhiều Việc đánh giá, lựa chọn các giống nhập nội cũng là hướng đi nhanh, hiệu quả cho việc phát triển sản xuất cải củ quy mô hàng hoá, phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu

2.3 Cây xà lách ( Lactuca sativa L )

2.3.1 Giới thiệu về cây xà lách

Xà lách thuộc họ Cúc (Asteraceae), chi Lactuca, loài L Sativa (Lebeda

và cộng sự, 2004) Các loài này đã được Carl Linnaeus mô tả lần đầu tiên

năm 1753 trong tác phẩm “phân loại thực vật” của ông Loài Lactuca có loài

mang 8 hoặc 9 cặp nhiễm sắc thể, có loài mang 17 cặp nhiễm sắc thể, tên

khoa học là Lactuca sativa, thuộc ngành thực vật bậc cao, lớp 2 lá mầm, có

loài là cây 1 năm, có loài là cây 2 năm Loài xà lách xoăn, cuộn, mang tên

khoa học là L Sativa var Capitata, còn loài rau diếp, không cuộn, mang tên khoa học là L Sativa var Longifolia

Theo Jonathan (1993), bằng chứng đầu tiên chứng minh loài L Sativa

đã được trồng từ rất xa xưa thông qua các hình khắc trên bia mộ của những người Ai Cập cổ đại, bắt đầu khoảng 4500 trước Công nguyên, sau đó tiếp tục phát triển rộng rãi Những ghi chép lịch sử về xà lách cho thấy chúng

Trang 36

được bắt đầu trồng ở Hy Lạp khoảng năm 450 trước Công nguyên Tại Rome, nhiều giống xà lách khác nhau đã được trồng từ thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên, và các cây trồng này đã rất phổ biến, vì nó vẫn tồn tại ở khu

vực Địa Trung Hải Sau đó loài L sativa lan rộng về phía Đông Xà lách

được truyền bá đến Trung Quốc vào thế kỷ thứ 5 và thứ 7 sau Công nguyên Sau đó Trung Quốc đã chọn ra một giống đặc biệt – Xà lách cho thu hoạch thân và giống này phát triển cũng như được tiêu thụ chủ yếu đến tận bây giờ Người La Mã có lẽ giới thiệu giống cây này tới miền bắc châu Âu, nơi chúng được trồng chủ yếu hàng năm vào mùa hè Jonathan (1993) đề cập đến

xà lách ở Anh, và nó cũng là đối tượng được đề cập trong các tài liệu thảo dược thế kỷ 16 và 17 ở số nước châu Âu Trong thế kỷ 17 và 18, việc lựa chọn đột biến trong các khu vườn châu Âu, đặc biệt là ở Pháp, Hà Lan, và Anh, diễn ra mạnh mẽ dẫn đến sự tăng nhanh các giống, chọn ra nhiều giống

đa dạng như rau diếp, xà lách cuộn hay xà lách xoăn Trong khi đó, L sativa

đã được giới thiệu rộng rãi đến các vùng nhiệt đới trên thế giới Người Tây Ban Nha đã phát triển nó trong vùng Hispaniola năm 1994 và ngay sau đó những nơi khác ở Tây Ấn và trên đất liền Bồ Đào Nha, Pháp và Châu Âu giới thiệu nó với thuộc địa người Mỹ của họ rất sớm trong thời kỳ thuộc địa Tại đây, chúng được phát triển và thường được trồng để sản xuất hạt giống

do thích hợp với cả khí hậu đồng bằng và khí hậu nhiệt đới vùng cao ở đây Tuy nhiên, xà lách dường như không được quan tâm bởi hầu hết các nhóm người Mỹ Ấn Một số người trong dãy núi Andes trồng nó chủ yếu làm thức

ăn cho lợn Guinea của họ Ở phía bắc Mỹ, xà lách là một loại cây trồng không phổ biến cho đến thế kỷ 19 khi chúng bắt đầu xuất hiện nhiều trong những khu vườn nhà và trang trại phục vụ nhu cầu tiêu thụ tại địa phương

Và cũng từ đó, các loài xà lách khác nhau được trồng và phát triển mạnh cho tới bây giờ

Trang 37

Có rất nhiều loài hoang dại được sử dụng như nguồn chống chịu sâu

bệnh Xà lách (Lactuca sativa L.) có khoảng 300 loài, có 7 cấp độ nhiễm sắc

thể như 2n = 10, 16, 18, 32, 34, 36, 48, vv Nhưng chỉ có 4 loài được công nhận từ việc thành lập nhóm nhân giống hữu ích bởi các phương pháp đã có

ở giai đoạn 1940 - 1960 Các loài đó là:

+ Lactuca sativa: là loài rất đa dạng, có một số dạng không có tính bất dục, có một số loài được chọn từ giống lai F1 giữa L Serriola và L Virosa + Lactuca serriola: có hạt nhỏ, hoa tổng bao, mầm hình thành trên thân

chính, lá hẹp có răng cưa ở mép lá như cánh hoa hồng Loài dại này được trồng sớm nhất

+ Lactuca saligna: tương tự như L serriola, có vài dạng khác, bản lá

hẹp, có răng cưa, hoa không có cuống mọc thành chùm như bông lúa

+ Lactuca virosa: có hình thái riêng biệt, hạt to dẹt, lá xanh nhạt, có

răng cưa cứng, có loại cây 2 năm, có loại cây 1 năm

Bốn loài này có thể lai được với nhau, chúng thuộc nhóm có 9 cặp

nhiễm sắc thể Loài L.sativa và L.serriola có quan hệ họ hàng gần và khó lai với các loài khác Loài L.sativa dùng làm bố khi lai với loài L.saligna Theo Thompson và Ryder thì L.sativa-virosa là hai dòng bất dục Giữa loài L.sativa và loài mang 17 cặp nhiễm sắc thể có sự không tương hợp

• Giá trị kinh tế và sử dụng của cây xà lách

Xà lách chiếm một vị trí quan trọng trong cơ cấu cây lương thực, thực phẩm nói chung và các loại rau nói riêng Với tổng thời gian sinh trưởng ngắn, xà lách thường được trồng gối vụ, trồng xen giữa 2 vụ, hay trồng lẫn các cây lương thực khác, nhờ vậy nó góp phần tăng thu nhập cho nông dân, tạo thêm việc làm cho người lao động ở khu vực nông thôn Xà lách ít bị sâu bệnh phá hại nên khi trồng luân canh sẽ giảm đáng kể sâu bệnh phá hại do sâu bệnh bị gián đoạn vòng đời Ngoài ra tán lá của xà lách xòe rộng nên hạn chế tốt cỏ dại, giảm chi phí, công làm cỏ, tăng thu nhập cho người dân

Trang 38

Xà lách được sử dụng làm rau sống quan trọng và phổ biến ở vùng ôn đới trước đây Tuy nhiên ngày nay nó cũng có vai trò lớn trong hỗn hợp rau

ở vùng nhiệt đới Ở các nước Châu Á, chủ yếu là Trung Quốc, xà lách còn được trồng để lấy thân, họ sử dụng thân trong các món nấu, hầm, các món kem (Fine Cooking Magazine, 2011)

Rau xà lách có giá trị dinh dưỡng cao Trước hết nó cung cấp chất tươi, chất xơ cho cơ thể để cân bằng và tiêu thụ lượng đạm, mỡ từ thịt cá trong thức ăn Phần lớn các loại thực phẩm, được nấu chín vì vậy enzim, vitamin không còn nhiều, chỉ có các loại rau sống chuyên dùng tươi là hàm lượng các chất này còn giữ được nhiều trong đó có xà lách

Tùy thuộc vào sự đa dạng của các giống, xà lách là một nguồn cung cấp vitamin A, vitamin K và kali Nó cũng cung cấp một số carbohydrate, protein

và một lượng nhỏ chất béo Với loại xà lách bắp cuộn thì ngoại lệ, chúng cung cấp một số vitamin C, canxi, sắt, đồng, vitamin và khoáng chất chủ yếu được tìm thấy trong lá (http://urbanext.illinois.edu/veggies/lettuce.cfm) Xà lách tự nhiên hấp thụ và tập trung lithium (Hullin và cộng sự, 2007)

Xà lách là một trong những cây rau chủ lực mùa đông, cũng như cà chua, xà lách là một loại rau phục vụ nhu cầu ăn sa lát rất phổ biến của con người, chúng luôn được biết đến như là thực phẩm giàu vitamin, carotenoids

và các chất chống oxi hóa khác (Kang và Salveit, 2002)

Xà lách là cây trồng duy nhất của chi Lactuca được trồng thương mại

(Koike và cộng sự, 2006) Chất lượng của xà lách phụ thuộc nhiều vào đặc điểm di truyền của giống (Use và cộng sự, 2013), ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của điều kiện thời tiết, canh tác Thành phần dinh dưỡng của xà lách (trong 100 gram phần ăn được) được thể hiện trong bảng 2.8

Trang 39

Bảng 2.8 Thành phần dinh dưỡng của xà lách

(trong 100gr phần ăn được)

Nguồn: USDA nutrient database, 2013

• Yêu cầu ngoại cảnh của cây xà lách

Xà lách là cây rau vụ Đông, nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng sinh dưỡng của xà lách là 16-18oC nếu trồng ngoài đồng, ở các nước ôn đới nhiệt

độ xuống thấp hơn nữa nên phải trồng xà lách trong nhà kính có điều khiển nhiệt độ thích hợp cho cây phát triển Độ ẩm thích hợp nhất là 70- 85% độ ẩm đồng ruộng, độ ẩm không khí là 65-75% Độ ẩm 85%, cây xà lách sẽ cho số

lá, kích thước lá và khối lượng lá tươi thu hoạch lớn nhất (Tibbitts và

Bottenberg, 1976)

Ở các nước nhiệt đới, ánh sáng tự nhiên vừa đủ cho cây phát triển lại có hiệu quả kinh tế cho sản xuất xà lách, các nước ôn đới phải thắp sáng cho cây trong nhà kính Thường giai đoạn đầu của cây cần ánh sáng nhiều hơn giai đoạn sau Tăng ánh sáng cho xà lách cũng làm tăng hàm lượng diệp lục và vitamin C trong lá cây Quang chu kỳ gây ảnh hưởng đến sự phát triển và

Trang 40

phân hóa mầm hoa của cây Một số giống ngắn ngày đòi hỏi quang chu kỳ dài để phân hóa mầm hoa Ánh sáng ngày dài ảnh hưởng đến diện tích lá, sinh trưởng của cây và sự hình thành bắp, nhưng không ảnh hưởng đến hình thành lá (Dennis và Dullforce, 1974)

Xà lách có thể trồng được ở loại đất thoát nước tốt, ưa cát pha đến thịt nhẹ, giàu dinh dưỡng và nhiều chất hữu cơ, đất chai cứng, nghèo dinh dưỡng không thích hợp cho xà lách vì bộ rễ kém phát triển, ăn nông Đặc biệt xà lách mẫn cảm với đất chua, độ pH thích hợp nhất cho xà lách là 6 - 6,7 (Douglas, 2003)

Cũng như các cây trồng khác, phân bón là rất cần thiết cho sự phát triển của xà lách Phân đạm có tác dụng thúc đẩy lá và rễ sinh trưởng và phát triển,

có tác dụng trong suốt quá trính sinh trưởng sinh dưỡng, bón đạm NH4 cho

xà lách tốt hơn bón đạm NO3 Nhiều kết quả cho thấy khi hình thành bắp cần đạm hơn cả (Zink và Yamaguchi, 1962) Phân lân giúp cho cây sinh trưởng tốt giai đoạn cây con, cứng cây chống bệnh xâm nhập, tốt cho sự hình thành bắp, tăng độ chắc của bắp Phân kali giúp cây sinh trưởng khỏe, chống bệnh thối đen, thối nhũn Bón kali không làm tăng năng suất cây xà lách nhưng làm tăng chất lượng thương phẩm

2.3.2 Một số nghiên cứu về cây xà lách

Ngày đăng: 09/03/2021, 23:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w