Cũng như các dạng toán khác, khi giải dạng toán này học sinh thường lúng túng một số em chưa biết phân tích bài toán, một số em kỹ năng đọc môn Tiếng Việt còn hạn chế từ đó dẫn đến việc
Trang 1MỤC LỤC
TÓM TẮT SÁNG KIẾN
Trang 2Trong nội dung chương trình môn học ở cấp Tiểu học, môn Toán chiếm số giờ rất lớn Việc nâng cao hiệu quả của dạy và học môn Toán là một chuyên đề được rất nhiều người quan tâm và tìm hiểu
Nội dung giải toán có lời văn ở Tiểu học được biên soạn dạy từ khối 1 đến khối 5 Đối với khối lớp 1 các em được làm quen từ tuần học thứ 7 bằng các bài toán biểu thị bằng tình huống tranh ảnh Từ đó các em quan sát tranh, nêu ra bài toán và điền phép tính thích hợp vào ô trống Các phương pháp dạy học cho phần giải toán có lời văn chủ yếu cho học sinh quan sát tranh sau đó trả lời câu hỏi và thực hành đi đến kết luận Cũng như các dạng toán khác, khi giải dạng toán này học sinh thường lúng túng một số em chưa biết phân tích bài toán, một
số em kỹ năng đọc môn Tiếng Việt còn hạn chế từ đó dẫn đến việc giải toán có lời văn đối với các em học sinh lớp 1 là khó khăn Với sự mong muốn giúp học sinh giải tốt dạng toán có lời văn ngay ở lớp 1 để làm nền móng cho các lớp tiếp
theo Do vậy tôi mạnh dạn lựa chọn và đi sâu vào nghiên cứu : Một số biện pháp
giúp học sinh học tốt giải toán có lời văn lớp 1.
Để đạt được mục tiêu mà chương trình đề ra, trước hết giáo viên phải nắm chắc mục tiêu, nội dung, những khả năng có thể khai thác trong từng bài Điều quan trọng là giáo viên phải xây dựng những phương pháp dạy và học giúp học sinh có hứng thú thích giải bài toán có lời văn góp phần phát triển năng lực tự trả lời được câu hỏi của đề bài và giải được bài toán Giáo viên sử dụng phương pháp vấn đáp bằng các câu hỏi gợi mở và có thể bóc tách nhỏ các câu hỏi để giúp tất cả các đối tượng học sinh có thể trả lời được Đồng thời phát triển được năng lực cho người học, ở đây là năng lực quan sát và trả lời câu hỏi giúp học sinh tự tin khi phát biểu và giao tiếp với cô giáo Bên cạnh đó cũng giúp học sinh rèn kỹ năng đọc phát triển năng lực đọc hiểu và tự tìm ra câu trả lời của bài qua đề toán và các câu hỏi của giáo viên
Giải toán có lời văn là một trong những vấn đề trọng tâm của phương pháp dạy học toán ở cấp học phổ thông Giải toán còn là thước đo việc nắm lí thuyết, trình độ tư duy, tính linh hoạt sáng tạo của học sinh Qua đó, các em học
Trang 3toán được làm quen với cách đặt vấn đề, biết cách trình bày lời giải rõ ràng, chính xác và logic
Kết quả cho thấy khi áp dụng triệt để các phương pháp dạy học tích cực kết hợp với dạy học truyền thống đã có chuyển biến rõ rệt đến kết quả học tập môn toán dạng giải toán có lời văn của các em Điều đó chứng minh rằng sử dụng phương pháp gây hứng thú, quan sát tranh kết hợp vấn đáp trả lời câu hỏi rèn cách phân tích đề toán và tự trả lời câu hỏi của bài toán trong giải toán có lời văn đã làm nâng cao kết quả học tập Các em chỉ cần nhìn tranh vẽ hoặc ảnh chụp có thể nêu thành một bài toán đầy đủ 2 phần - phần đã biết và phần cần tìm Các em biết phân tích bài toán và tìm cách giải và trình bày bài giải một cách khoa học hợp lí Phát triển được năng lực tư duy toán học cho các em ngay đầu cấp Tiểu học
I – MỞ ĐẦU
Trang 41 Lí do chọn sáng kiến.
Được sự phân công của Ban giám hiệu nhà trường bản thân tôi cũng có mấy năm liền kề dạy lớp 1 Đặc biệt tôi thấy với chương trình Toán lớp 1 hiện hành không những yêu cầu học sinh biết viết, đếm, so sánh, làm tính cộng trừ trong phạm vi 100 mà còn yêu cầu học sinh biết giải toán có lời văn Đó là một trong những nội dung để đánh giá toàn diện các em theo chương trình giáo dục đạt chuẩn kiến thức – kỹ năng và đó cũng là một nội dung khó đối với các em nhất là các em nhận thực chậm
Theo chương trình hiện hành thì bộ môn Toán 1 được áp dụng chủ yêu theo các phương pháp sau:
1 Phương pháp dạy học bài mới: Quan sát tranh, trả lời câu hỏi.
Giúp học sinh tự phát hiện và giải quyết vần đề của bài học
Giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức mới
Giúp học sinh cách thức phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức mới
Hướng dẫn thiết lập mối quan hệ giữa kiến thức mới và kiến thức đã học Giúp học sinh thực hành, rèn luyện cách diễn đạt thông tin bằng lời, bằng
kí hiệu
2 Phương pháp dạy thực hành, luyện tập.
Giúp học sinh tự thực hành, luyện tập theo khả năng của học sinh
Tạo ra sự hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các đối tượng học sinh
Khuyến khích học sinh tự kiểm tra kết quả thực hành luyện tập
Điểm nổi bật của các phương pháp trên là chủ yếu giáo viên giảng giải, quan sát và vấn đáp để giúp các em chiếm lĩnh kiến thức mới và vận dụng thực hành làm bài tập Giáo viên trở thành trung tâm của các hoạt động dạy – học Sẽ mang lại hiệu quả đối với các em có ý thức, chú ý vào bài Trong khi đó việc dạy học giải toán có lời văn giúp học sinh biết cách vận dụng những kiến thức
về toán, được luyện kỹ năng thực hành với những yêu cầu được thể hiện một cách đa dạng, phong phú
Khi dạy môn Toán nhất là các em học sinh lớp 1 tôi cũng rất suy ngẫm là làm sao để học sinh hiểu được bản chất câu hỏi của bài toán và từ đó đưa ra
Trang 5hướng giải có đáp án đúng Vì với học sinh lớp 1, các em mới chỉ làm quen với trả lời miệng những câu có đủ ý, chứ các em chưa có khả năng tự phân tích một bài toán, tự viết được những câu có đủ nghĩa, đặc biệt là biết tự viết 1 câu lời giải đúng Mà toán có lời văn giúp học sinh phát triển tư duy, rèn luyện phương pháp giải toán và khả năng diễn đạt (phân tích vấn đề - bài toán), giải quyết vấn
đề, trình bày vấn đề bằng ngôn ngữ nói và viết) chính vì vậy, giải toán lời văn đối với học sinh lớp 1 là một yêu cầu rất khó đặc biệt là đối với những học sinh trung bình, yếu Khả năng áp dụng trong thực tiễn các em ít được thực hành
Để giúp các em học sinh giải tốt dạng toán có lời văn ngay ở lớp 1 thì sẽ giúp học sinh học toán và giải toán dễ dàng hơn ở những lớp tiếp theo Vì dạng toán có lời văn ở các lớp kế tiếp ngày càng phức tạp hơn, mỗi bài toán có nhiều
dữ liệu hơn và đòi hỏi học sinh phải dùng nhiều phép tính mới giải được Do vậy tôi mạnh dạn lựa chọn và đi sâu vào nghiên cứu, áp dụng từ năm học 2018 –
2019 và năm học 2019- 2020
2 Mục tiêu của sáng kiến
Nghiên cứu dạy giải toán có lời văn đối với chương trình lớp 1
Dạy cho học sinh nhận biết về cấu tạo của bài toán có lời văn
Đọc hiểu - phân tích - tóm tắt bài toán
Giải toán có lời văn bằng một phép tính cộng , trừ
Trình bày bài giải gồm: câu lời giải, phép tính, đáp số
Tìm lời giải phù hợp cho bài toán bằng nhiều cách khác nhau
3 Phạm vi của sáng kiến ( đối tượng, không gian, thời gian).
Đối với mạch kiến thức: "Giải toán có lời văn", là một trong những mạch kiến thức cơ bản xuyên suốt chương trình Toán cấp tiểu học Thông qua giải toán có lời văn, các em được phát triển trí tuệ, được rèn luyện kỹ năng tổng hợp: đọc, viết, diễn đạt, trình bày, tính toán Toán có lời văn là mạch kiến thức tổng hợp của các mạch kiến thức toán học, giải toán có lời văn các em sẽ được giải các loại toán về số học, các yếu tố đại số, các yếu tố hình học và đo đại lượng Toán có lời văn là chiếc cầu nối giữa toán học và thực tế đời sống, giữa toán học với các môn học khác
Trang 6Đối với đề tài “Giải toán có lời văn” tôi chỉ giới hạn ở chương trình lớp 1 Đối tượng áp dụng học sinh lớp 1 trường tiểu học xã Đồng Ý
II CƠ SỞ LÍ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN
1 Cơ sở lí luận:
Trong các mạch kiến thức toán ở chương trình toán Tiểu học thì mạch kiến thức “Giải toán có lời văn” là mạch kiến thức khó khăn nhất đối với học sinh, và càng khó khăn hơn đối với học sinh lớp 1 Bởi vì đối với lớp 1: Vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng tư duy lôgic của các em còn rất hạn chế, học sinh chưa biết cách tự học, chưa có ý thức học tập 1 cách tích cực Nhiều khi với 1 bài toán có lời văn các em có thể đặt và tính đúng phép tính của bài nhưng không thể trả lời hoặc lý giải là tại sao các em lại có được phép tính như vậy
2 Cơ sở thực tiễn:
Thực dạy thời gian qua cho thấy học sinh điểm ở trường Hiền Long trường Tiểu học xã Đồng Ý, việc đọc hiểu và phân tích đề toán tìm ra câu lời giải phép tính và đáp số không hề dễ dàng đối với các em nếu không được sự hướng dẫn tỉ mỉ và thực hành Các em thực sự lúng túng khi giải bài toán có lời văn, một số em chưa biết tóm tắt bài toán, chưa biết phân tích đề toán để tìm ra đường lối giải, chưa biết tổng hợp để trình bày bài giải, diễn đạt vụng về, thiếu lôgic Ngôn ngữ toán học còn rất hạn chế, kỹ năng tính toán, trình bày thiếu chính xác và giải toán một cách máy móc nặng về dập khuôn, bắt chước Từ việc bắt chước không hiểu bản chất câu hỏi của bài toán nên dẫn đến các em trình bày bài giải sai; sai câu lời giải; sai phép tính; đôi khi còn viết sai cả danh
số của bài toán
III NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1 Nội dung và những kết quả nghiên cứu của sáng kiến.
Năm học 2019 – 2020 bản thân được nhà trường phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp 1 Lớp gồm có 18 em học sinh trong đó có 9 nữ và 9 nam có 01
em học sinh nam yếu về thể lực, mắt kém khó nhìn được ở trên bảng lớp và khả năng tham gia các hoạt động học tập khó khăn, luôn hoàn thành bài chậm so với
Trang 7tiến độ bài học Có một số em khác nhận thức và thực hành cũng chậm so với các bạn trong lớp Sau khi tìm hiểu về nội dung chương trình và mức độ nhận thức của học sinh, để giúp các em lĩnh hội được kiến thức chuẩn kỹ năng môn Toán lớp 1 theo Quyết định số 16/2006/ QĐ- BGDĐT ban hành Chương trình giáo dục phổ thông - cấp tiểu học Bản thân tôi đã mạnh dạn áp dụng và xây dựng một số phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh của mình Qua nghiên cứu nội dung chương trình phần giải toán có lời văn bắt đầu từ tuần học 21 nhưng các em đã được làm quen từ tuần 7 với các tình huống của bài toán dạng bài toán nhìn tranh và viết phép tính thích hợp
Cụ thể nội dung giải toán có lời văn ở lớp 1 được chia làm 2 giai đoạn chính:
+ Giai đoạn 1 từ tuần 7 đến tuần 21: Giai đoạn “chuẩn bị học giải toán có
lời văn” Học sinh được làm quen với các tình huống của bài toán được diễn tả qua các tranh vẽ Yêu cầu chỉ ở mức độ học sinh quan sát tranh, phân tích nội dung tranh, từ đó nêu được bài toán (đề toán) rồi viết được phép tính giải (chưa đòi hỏi học sinh trình bày bài giải hoàn chỉnh)
+ Giai đoạn 2 từ tuần 21 đến hết tuần 35: Giai đoạn “chính thức học giải
toán có lời văn” Giai đoạn này, học sinh được biết thế nào là bài toán có lời văn (cấu tạo bài toán gồm 2 phần : Giả thiết (bài toán cho biết gì?) và kết luận (bài toán hỏi gì?)) Từ đó học sinh biết cách giải và trình bày bài giải bài toán ( gồm có: câu lời giải, phép tính giải và đáp số)
Từ việc xác định được nội dung chương trình, bản thân đã xây dựng kế hoạch dạy học và tìm một số biện pháp giúp học sinh nắm vững các yêu cầu sau:
- Học sinh nhìn tranh biết nêu tình huống – bài toán phù hợp để viết được phép toán theo yêu cầu của bài
- Học sinh nắm được cấu tạo bài toán có lời văn gồm 2 phần : Giả thiết (bài toán cho biết gì?) và kết luận (bài toán hỏi gì?)) Cần nhớ một số từ ngữ quan trọng hay có trong bài toán để sử dụng phép cộng, trừ phù hợp: “cho đi”,
“nhận thêm”, “ít hơn”, “nhiều hơn”,…
Trang 8- Các đơn vị thời gian, độ dài, cân nặng… trong bài toán cần thống nhất cùng một đơn vị
- Sau câu lời giải phải có dấu hai chấm, đơn vị phải nằm trong dấu ngoặc đơn (…), cuối bài phải ghi đáp số Học sinh có thể nêu nhiều câu lời giải khác nhau nhưng đúng với yêu cầu của bài toán
Để đạt được yêu cầu trọng tâm trên bản thân đã tìm hiểu và xây dựng lập
kế hoạch vận dụng các phương pháp vào trong suốt quá trình dạy học phần giải toán Trên cơ sở sách sách giáo viên và sách giáo khoa, sách bài tập tôi đã nghiên cứu tìm và áp dụng những biện pháp tối ưu nhất để hướng dẫn các em chiếm lĩnh kiến thức làm thế nào để cụ thể hoá vấn đề giúp các em dễ hiểu, dễ
áp dụng vào thực hành đồng thời góp phần tích tực hoá hoạt động học tập của học sinh
Trong quá trình áp dụng tôi thực hiện như sau:
a Quan sát tranh nêu được bài toán: Giáo viên có thể tạo hứng thú cho
học sinh bằng các câu hỏi dự đoán tình huống để các em thích thú và muốn khám phá yêu câu cô đưa ra Đây là bước rất quan trọng giúp học sinh bắt đầu làm quen với dạng toán có lời văn qua biểu thị tình huống bằng tranh ảnh minh họa Nên giáo viên phải giảng giải rất kỹ càng để học sinh hiểu đế đưa ra được phép tính phù hợp Đồng thời cũng lồng ghép phát triển năng lực nói cho học sinh
Ví dụ 1: (Bài 4: ý b) trang 63, Toán 1).
Gắn hình minh họa trên bảng lớp cho học sinh quan sát rồi hỏi
Trang 9Em hãy dự đoán xem lúc đầu có tất mấy con chim? ( có 5 con chim) Đã bay đi mấy con chim? ( đã bay đi 2 con chim)
Cho học sinh nêu bài toán phù hợp với tình huống tranh minh họa Chẳng hạn: Lúc đầu có 5 con chim đã bay đi 2 con chim Hỏi trên cành còn mấy con chim?
- Bài toán cho biết gì? Có: 5 con chim đã bay đi 2con chim
- Bài toán hỏi gì? Hỏi trên cành còn mấy con chim?
cành cây có tất cả bao nhiêu con chim đang đậu?)
- Muốn biết trên cành cây còn bao nhiêu con chim đang đậu, ta làm như thế
nào? (Thực hiện phép tính 5 – 2 = 3)
Chỉ yêu cầu học sinh điền vào ô trống bên dưới bài toán như sau:
Ví dụ 2: (Bài 4 trang 65, Toán 1).
Gắn hình minh họa trên bảng lớp cho học sinh quan sát rồi hỏi
- Trên cành cây có mấy con chim đang đậu? (Có 4 con chim)
- Có mấy con chim đang bay đến đậu cùng ? (Có 2 con chim đang bay đến đậu cùng)
- Vậy bài toán này đã được thêm vào 2 con chim hay đã được bớt đi 2 con chim? (Bài toán này đã được thêm vào 2 con chim)
Trang 10- Cho học sinh nêu lại đề bài theo hình minh họa (Trên cành cây có 4 con chim đang đậu, sau đó có 2 con bay đến đậu cùng Hỏi trên cành cây có tất cả bao nhiêu con chim đang đậu?)
- Bài toán cho biết gì? (Có: 4 con chim đang đậu, Thêm: 2con chim bay đến đậu cùng)
- Bài toán hỏi gì? (Trên cành cây có tất cả bao nhiêu con chim đang đậu?)
- Muốn biết trên cành cây có tất cả bao nhiêu con chim đang đậu, ta làm như thế nào? (Thực hiện phép tính 4 + 2)
Chỉ yêu cầu học sinh điền vào ô trống bên dưới bài toán như sau:
Bài đầu tiên rất quan trọng nên tôi cho học sinh quan sát kĩ tranh để học sinh nêu bài toán theo ý hiểu của mình, không bắt buộc phải giống y nguyên bài toán mẫu của cô nhưng phải phù hợp với tình huống tranh Tôi nhấn mạnh vào từ: “có, thêm, có tất cả” để học sinh dần hiểu được: “ thêm” có nghĩa là: “cộng”
và cụm từ: “ có tất cả” để chắc chắn rằng chúng ta sẽ thực hiện viết phép tính cộng vào ô trống đó Và cụm từ còn lại bao nhiêu thì phải thực hiện phép tính trừ.Tôi cũng không áp đặt học sinh cứ phải nêu phép tính theo ý giáo viên mà có thể tùy theo tình huống mà các em dựa vào tranh nêu miệng
b Hướng dẫn học sinh giải bài toán theo tóm tắt
Việc giúp học sinh đọc tóm tắt từ đó đưa ra câu lời giải, phép tính và đáp
số cũng rất quan trọng Yêu cầu học sinh có kỹ năng phân tích bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì? Cách xác định câu lời giải như thế nào? Để giúp các em giải được dạng bài toán chỉ có phần tóm tắt nhất là các em nhận thức ở mức trung bình thì cần giảng giải thật kỹ để học sinh xác định được cần làm phép tính cộng hay phép tính trừ
Ví dụ: Bài 3 trang 87 sách Toán 1
b) Có: 19 quả bóng
Cho: 3 quả bóng
Còn: ?quả bóng